VƯỢT QUA ÁI DỤC, LÀM LẠI CUỘC ĐỜI

Đạo Phật dạy rằng, trên đời này có 2 hạng người mạnh mẽ. Một là người không bao giờ phạm lỗi lầm, Hai là người đã phạm lỗi lầm, nhưng có thể sám hối, và sừa mình không còn lầm lỗi nữa. Tôi chắc chắn không phải hạng người thứ nhất. Nhưng, tôi may mắn vẫn có thể được xếp vào hạng thứ hai. Tôi tên Thiện Hoa, năm nay 28 tuổi (2019), đang công tác tại một ngôi trường ở miền núi tỉnh Lạng Sơn. Tôi đã từng đi vào con đường lầm lạc, rồi gục ngã trong đau khổ. Nhưng nhờ Phật Pháp, tôi đã tìm lại được ánh sáng cho cuộc đời mình. Giờ tôi đã quay đầu hướng Phật, tu tâm tích đức làm một người tốt, một lòng tin sâu Tam Bảo, cuộc sống của tôi đã thay đổi tích cực. Tôi muốn kể lại câu chuyện về tuổi trẻ của mình, những ngày tháng sống lầm lạc, vô minh, đầy tội lỗi. Coi như đây là bài học cho những bạn trẻ còn mê lầm mau mau thức tỉnh, và cũng là lời sám hối chân thành tha thiết của tôi. Tôi sinh ra là một đứa trẻ sống ở nông thôn, gia đình thuần nông. Không phải quá túng thiếu, nhưng cũng không khá giả gì. Tôi học tiểu học và trung học ở trong quê. Những ngày tháng ấy tôi vẫn là đứa trẻ chăm chỉ học hành, năm nào cũng đạt được những thành tích tốt được thầy cô quý mến. .cuối cấp ba tôi thi trượt đại học, rồi chỉ đủ điểm vào trường Cao Đẳng. Tôi bắt đầu ra thành phố học. Do xa nhà, không có sự quản lí của gia đình nên tôi bị nhiễm những thói hư tật xấu bắt đầu từ đây. Khoảng giữa năm thứ nhất một người cùng phòng kí túc xá đã giới thiệu tôi quen một người bạn trai. Được một thời gian hai người có cảm tình, nhưng do người đấy học đại học ở khác tỉnh nên cũng ít gặp nhau, và chưa có gì xảy ra. Nhưng từ đó tôi bỏ bê học hành, suốt ngày chỉ điện thoại, nhắn tin, tâm trí tôi không tự chủ được. Rồi năm thứ hai, thứ ba tôi vẫn giữ mối quan hệ này, dành khá nhiều thời gian và tiền bạc bố mẹ gửi ăn học để đi ăn chơi, hẹn hò mà không biết rằng đó là tội lỗi. Dù hai người ở xa nhau, ít gặp, nhưng rồi thì chúng tôi cũng đã “đi quá giới hạn” mấy lần, chỉ là chưa đến nỗi gây hậu quả như có thai, phá thai mà thôi. Trong suốt thời gian ấy, tôi và đám bạn thường xuyên đi ăn nhậu, hát hò, bỏ bê học hành. Những người bạn của tôi có lúc còn đi qua đêm ở ngoài, mà người ta thường gọi là “đi với trai” đó. Tôi cũng bị những người đàn ông khác rủ tôi đi khách sạn, nhưng vì e ngại lễ giáo, nề nếp gia đình nên tôi chưa dám đi quá giới hạn. Lúc đó tôi may còn chút tỉnh táo nên cự tuyệt được. Mỗi lần chơi bời nhậu nhẹt về muộn, tôi cũng chẳng thấy niềm vui đâu, chỉ là một tấm thân tàn ma dại, mệt mỏi những cơn đau đầu của rượu bủa vây, nhưng vẫn không dừng lại được như ma xui quỷ khiến cứ thế là có cơ hội tôi lại tiếp tục con đường cũ. Nhưng về quê tôi vẫn là người con gái thùy mị, nết na vẫn có tiếng ngoan hiền, học giỏi. Vì tôi luôn tạo được một cái vỏ bọc bên ngoài, còn cho đó là thông minh mà không biết là tội lỗi. Cứ như thế trôi qua hết hai năm học mà không biết phước báo của mình đã bị phá hủy đi, nghiệp chướng tăng thêm rất nhiều. Vốn dĩ tôi đã có lá số Tử Vi không tốt, nay lại tạo thêm nghiệp thì đúng là khổ không kể siết. Rồi từ đây các quả báo bắt đầu hiện ra : điểm số toàn khóa không cao, đi thực tập thì bị các giáo viên đánh giá thấp kém. Mặc dù tôi không phải là có trí tuệ quá kém. Tôi ra trường, không xin được việc theo đúng ngành, tôi đành đi làm ở một công ty trái ngành ở xa nhà. Được vài tháng sau, bạn trai lạnh nhạt dần với tôi, và cuối cùng đi với người khác. Lúc đó, tôi thống khổ khôn xiết, xong rồi tôi cũng vượt qua được. Nhưng kể từ lúc đó, tôi đã thay đổi cách sống kiểu như “muốn trả thù đời “. Dù tôi không phải quá khả ái, nhưng có được vóc dáng khá cân đối nên tôi nghĩ mình còn trẻ, mà tuổi trẻ thì phải chơi, phải đi quyến rũ cái đám đàn ông kia. Tôi bắt đầu ngả vào tay những người đàn ông khác, lên giường với họ. Trong đó có cả những người đàn ông đã có gia đình, và tôi trở thành kẻ thứ ba, đi phá hoại hạnh phúc gia đình người khác. Đó là thời kì tội lỗi nhất của tôi. Dù chưa bị phát hiện hay bị đánh ghen, nhưng thế cũng đủ cho tôi xuống địa ngục, và đó mới là thứ đáng sợ nhất . Một thời gian dài, tôi cùng với mấy đứa bạn gái nữa hay đi karaoke, ăn uống… giao du với nhiều người, “thả thính”, “giăng lưới” này nọ. Nhưng kết quả toàn gặp những người đàn ông sở khanh, dối gạt, nặng dâm dục, mặc dù, tôi có khi cũng thật lòng với họ. Tôi chỉ biết than trời trách đất. Vì tôi ưa quyến rũ người khác, trong lòng toàn tà tư, tà dâm nên đã chiêu cảm họ đến. Đàn ông tốt, chân thành, tôi không thấy hợp. Cứ lao vào những người toàn đa dâm, đa dục. Nghĩ cũng đúng thôi, “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” mà. Không những thế, trong mơ, tôi thường thấy những bóng hình đàn ông lạ đến ân ái với tôi. Có lẽ do tư tưởng của tôi bất chính, nên đã chiêu cảm những hồn ma, những quỷ quái có dâm dục kéo đến. Bị chúng ám như thế một thời gian dài, khiến tôi không thể làm chủ được suy nghĩ và hành vi của mình cả những khi thức. Điều ấy xảy ra thường xuyên khiến thân thể tôi suy nhược, thần kinh bất ổn, bị bóng đè liên tục, sắc mặt tôi u ám, nổi rất nhiều mụn, có thể nói nhìn thấy dung mạo lúc đó không thể ưa nổi. Tôi bắt đầu lên mạng tìm đến những trang tâm linh bói toán, tôi có đi tới ba chỗ của những thầy làm tâm linh, nhưng kết quả toàn gặp thầy lừa đảo, tà đạo. Bao nhiêu tiền tôi tích cóp đều ra đi hết, mà không hiểu sao ma xui quỷ khiến kiểu gì mà mấy ông thầy bói, thầy cúng lừa đảo ấy nói gì tôi cũng nghe. Nào là do duyên âm, tiền duyên, tiễn căn, trình đồng ,đảo cung mệnh… và bao nhiêu tiền trong khả năng của tôi, đều mang đi cúng lễ hết. Cuối cùng, tiền mất tật mang, vẫn chả thay đổi gì. Về công việc, tôi đi thi viên chức nhà nước cũng bị trượt liên tục, dù điểm số tôi có lần rất cao và cũng có người giúp đỡ. Xin vào làm những chỗ tốt thi nhiều lần bị từ chối. Cuối cùng được một việc bình thường, thì cũng bị xếp, đồng nghiệp đánh giá năng lực thấp kém, và bị chê trách rất nhiều. Rồi tôi mắc bệnh phụ khoa. Thuốc men chữa chạy tốn bao nhiêu tiền chữa bệnh, mà nó lúc ngưng, lúc phát, tái đi tái lại khiến tôi đau đớn khốn khổ. Cuộc sống bế tắc trầm trọng. Khi ấy tôi vẫn không biết đó chính là quả báo của tà dâm. Chỉ biết than trời trách đất, mà có một người đáng phải trách nhất thì tôi lại chừa ra, đó là trách chính mình. Từ những nỗi thống khổ ấy, tôi bắt đầu lang thang trên mạng vô tình gặp những trang web Phật Giáo, những câu chuyện nhân quả. Nhất là khi nghe đến những câu chuyện trong tập Báo Ứng Hiện Đời do sư cô Hạnh Đoan sưu tầm, biên dịch, những câu chuện trong đó như những gáo nước lạnh tạt vào mặt tôi, giúp tôi bắt đầu tỉnh cơn mê. Tôi bắt đầu thay đổi chấn chỉnh những hành vi suy nghĩ của mình, mỗi ngày hễ rảnh là tôi vào nghe các bài pháp thoại của các giảng sư đại đức. Trong đó có những bài giảng của các tổ sư, cao tăng thạc đức mà tôi rất tâm đắc như Ấn Quang đại sư, Hòa thượng Tuyên Hóa, Tịnh Không và một số vị giảng sư đại đức khác nữa. Tôi tìm nghe hết những mẩu chuyện trong Báo Ứng Hiện Đời, Nhân Quả Phụ Giải Lương Hoàng Sám, Dục Hải Hồi Cuồng, bài giảng của bác sĩ Bành Tân trên YouTube… nghe nhiều, rồi ngẫm nghĩ nhiều, đối chiếu bản thân mình với đạo lí, tôi nhận ra mình đã sai lầm rất nhiều. Phải thay đổi thôi! Tôi bắt đầu thực hành sống hiếu hạnh, làm việc thiện, dứt chuyện tà dâm, chiến đấu với những thói quen xấu của bản thân, ép mình phải sống đúng với Đạo lý. Tôi tập làm những việc thiện, thực hành phóng sinh, cúng dường Tam Bảo, niệm Phật nghe pháp.v.v…Ban đầu làm một chút ít, rồi dần dần quen rồi, thì siêng năng làm nhiều hơn, thường xuyên hơn. Kết quả, chỉ qua một thời gian ngắn, cuộc đời tôi đã nhìn thấy vầng thái dương. Tôi xin được một công việc mới tốt hơn, luôn được các đồng nghiệp yêu quý và giúp đỡ. Dung nhan tôi cũng thay đổi, sắc mặt rạng rỡ trông thấy, không còn u ám như trước đây. Do tôi không tà tư tà niệm, nên trí óc minh mẫn thấy rõ, làm việc gì cũng được tập trung, hiệu quả cao. Tôi luôn gặp các thiện tri thức giúp đỡ trên con đường tu tập chính pháp. Gia đình tôi bắt đầu ổn định, cả nhà hòa thuận hơn trước kia rất nhiều. Sức khỏe của tôi cũng tốt dần lên, bệnh phụ khoa gần như hết hẳn. Thân tâm tôi lúc nào cũng cảm thấy an lạc, dù cho ngoại cảnh cũng không phải là được mỹ mãn. Phật pháp quả là vi diệu không thể nghĩ bàn. May tôi còn chút phước đời trước, biết quay đầu lại tìm về bến giác, nếu không, giờ này có lẽ tôi đã thân tàn ma dại. Hết kiếp này còn phải xuống địa ngục chịu tội khổ không nói hết. Hi vọng qua câu chuyện của tôi, mọi người, nhất là các bạn trẻ hãy mau thức tỉnh, đừng vì những lạc thú nhất thời mà sầu khổ thiên thu. Tu học Phật Pháp là sự hưởng thụ tối cao nhất của đời người. Hãy tự mình thắp lên ngọn nến nhỏ, còn hơn cùng nhau chìm trong bóng tối. Nguyện cho những ai nghe thấy sẽ được ánh sáng trí tuệ phật pháp soi sáng tâm hồn. Nam Mô A Di Đà Phật ! Lạng Sơn ngày 29/9/2019 Phật tử Thiện Hoa hổ thẹn kính ghi.

TỔNG HỢP CÁC NGHI THỨC CẦU SIÊU

VÌ SAO CẦN ĐẾN NHỮNG NGHI THỨC NÀY ?

  1. Mục đích của Nghi Thức Sám Hối – Cầu Siêu Oan Gia Trái Chủ

Những vong hồn của những người đã khuất vẫn luôn tồn tại xung quanh chúng ta. Trong khi nhiều người ngây ngô, thiếu hiểu biết cứ bảo đó là mê tín, lạc hậu, phủ nhận sự tồn tại của các vong hồn. Thì chính Nhà Nước lại lập ra hẳn Trung Tâm Nghiên Cứu Tiềm Năng Con Người, trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học Và Kỹ Thuật Việt Nam (có 2 cơ sở ở Hà Nội, lần lượt là số 1 Đông Tác, quận Đống Đa và số 10 Đào Tấn, quận Ba Đình) nghiêm túc nghiên cứu về thế giới tâm linh, tổ chức cầu siêu, áp vong… với sự góp mặt của những nhà ngoại cảm nổi tiếng như Phan Thị Bích Hằng, Nguyễn Văn Nhã…Không biết ai mới thật sự mê tín, lạc hậu?! Khác với người sống, các vong linh thường bị đói khổ, u uất, khổ sở vì nhiều lí do, như do tâm lý còn bám chấp vào điều gì đó ở dương gian, luyến tiếc tài sản, vợ con, quyến thuộc… không buông xuống được, một số khác thì do căm hận người nào đó chưa báo thù được, mà bản thân chính họ rất khó mà tự thoát ra khỏi những bám chấp này. Thế nên, trong khi đa số các vong linh đã nhanh chóng luân hồi kiếp khác ở những cảnh giới khác nhau trong lục đạo, thì vẫn còn có những vong hồn đã vất vưởng dương gian cả mấy trăm năm, thậm chí mấy nghìn năm, không siêu thoát, không đầu thai đi đâu được, chỉ vì không buông được những bám chấp, những oán hận trong lòng. Trong số đó, đáng sợ nhất, chính là các vong linh Oan gia trái chủ.  Họ là vong hồn của người hay súc sinh… trong kiếp này và vô số kiếp qua đã từng cùng chúng ta kết nhiều mối thâm thù. Có khi làm súc sinh bị chúng ta bắt giết ăn thịt, có khi làm người bị chúng ta đánh đập, hành hạ, cướp đoạt, lừa đảo, giết hại…. Khi thì là những thai nhi bị cha mẹ phá bỏ…tạo ra vô số mối căm hận, oán thù chằng chịt. Khi các vong hồn oan gia trái chủ tìm được người đã hại mình, dù kẻ đó đã luân hồi chuyển kiếp, xong các vong hồn oan gia vẫn có thể nhận ra được. Điều đương nhiên phải xảy ra, là họ sẽ bám theo, tìm cách trả thù. Vậy họ trả thù bằng cách những cách nào ? Các vong linh có một số thần lực nhất định, không nhiều thì ít. Và họ cũng rất thông minh, nên nghĩ ra được nhiều cách thức phong phú khác nhau để trả thù. Như khiến chúng ta lâm bệnh, nặng thì ung thư, nhẹ thì đau nhức, đủ loại bệnh tật. Hoặc làm cho gia đình xào xáo, cãi vã, hành hạ nhau. Hoặc “ma dẫn lối, quỷ đưa đường” khiến ta gặp thất bại trong việc làm ăn, thậm chí họ có thể xô đẩy, che mắt khi ta đang chạy xe trên đường khiến ta tai nạn bị thương, hoặc bỏ mạng.v.v… Không phải tất cả mọi tai họa, khổ đau trong đời đều do Oan gia trái chủ gây ra, vì nhiều khi, tai họa đơn thuần là tự Nghiệp Báo chiêu cảm ra đau khổ, không hề có sự góp mặt của vong hồn nào. Xong sự báo oán của các vong linh Oan gia gây ra bệnh tật, tai họa cũng chiếm một tỉ lệ rất lớn, thực chất, đó cũng là một loại quả báo, chứ không hề nằm ngoài Nhân quả. Vậy nếu bạn nhận thấy cuộc sống có nhiều khó khăn, đau khổ, bệnh tật, xui xẻo bao vây, bạn hãy thử sám hối và cầu siêu cho oan gia trái chủ, nếu qua một vài lần mà mọi chuyện chuyển biến tốt, vậy bạn đã đi đúng hướng. Còn nếu không, bạn cũng không mất mát gì nhiều, không có ai thu tiền hay đánh thuế bạn trong việc này cả. Thực sự mà nói, ai đang có mặt trên cõi đời này, hầu hết đều luôn có các vong linh Oan gia trái chủ đeo theo báo thù. Vì đa số mọi người ai chẳng từng giết con vật này, con vật kia, không trực tiếp giết thì cũng ăn thịt, uống máu rất nhiều sinh mạng, những con vật đó chết rồi đa số đều đeo theo người đã sát hại, ăn thịt mình, chờ cơ hội báo oán, kết thành oan gia trái chủ. Rồi có rất nhiều người trải qua chiến tranh giết chóc, những người từng phá thai, những người từng trải qua những ân oán, nợ máu trong cuộc sống mà kết thành oan gia với các vong hồn. Mà nếu như có ai khăng khăng mình tử nhỏ đến giờ hoàn toàn vô tội, thì vẫn còn rất nhiều oan gia từ nhiều kiếp xưa tìm đến. Như trường hợp Ngộ Đạt Quốc Sư – người soạn cuốn Từ Bi Thủy Sám nổi tiếng thời vua Đường Y Tôn. Kiếp xưa vào thời Hán, ông tên là Viên Án, từng vu hại khiến một người tên Triệu Thố chết oan, bị hành hình chém ngang lưng mà chết. Vong hồn Triệu Thố đeo theo Ngộ Đạt Quốc Sư 10 kiếp liên tiếp không báo thù được, vì cả 10 kiếp ấy Ngộ Đạt Quốc Sư tinh tấn tu hành, các vị Hộ pháp bảo vệ chặt chẽ không lại gần được. Xong đến kiếp thứ 10, khi đã làm đến chức Quốc Sư, vinh quang tột đỉnh, do ông khởi tâm kiêu ngạo, các vị Hộ Pháp bỏ đi, vong linh oan gia Triệu Thố tranh thủ cơ hội, nhập vào khiến ông bị một căn bệnh quái ác : ung nhọt  hình mặt người ở nơi đầu gối. Nói như hiện nay thì là Ung thư ác tính, đau đớn ghê gớm mà mọi ngự y đều không chữa được. Vậy, nếu như ngay đến một vị đạo cao đức trọng như Ngộ Đạt Quốc Sư, 10 kiếp tu hành chuẩn mực, mà vẫn có thể bị oan gia báo thù như thế, thì phàm nhân như chúng ta, đừng ai nên nghĩ rằng, mình không có bất kì oan gia nào. Chẳng qua, chỉ là chưa đến lúc họ ra tay báo thù thôi. Vậy làm như thế nào để hóa giải mối oán hận của những oan gia trái chủ đó ? Chỉ có sám hối, và bù đắp lỗi lầm bằng cách hồi hướng công đức cho họ, cho đến khi họ chịu buông tha, ta mới thoát được. Và đó là mục đích của  “Nghi Thức Sám Hối – Cầu Siêu Oan Gia Trái Chủ”. (trang 36) Rất nhiều người đã khỏi bệnh nhanh chóng, sau khi đã sám hối với các oan gia trái chủ, vì đơn giản, những người đó bị bệnh là do các vong linh oan gia tạo ra, nay họ chịu buông tha, thì bệnh sẽ biến mất. Thậm chí có người đang rất xui xẻo, nhưng chỉ cần sám hối với oan gia trái chủ, xui xẻo cũng tan biến. Điều này giống như ta đang đi xe đạp trên đường, thì bánh xe bị vướng phải túi nilon, hay bùi nhùi, kẹt cứng lại không thể chạy. Lúc này, dù ta cố sức đạp mạnh thế nào thì xe cũng chỉ nằm ì một chỗ. Nhưng chỉ cần ta xuống gỡ đống bùi nhùi ra khỏi bánh xe, là xe lại chạy được bình thường. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng thấy kết quả tốt đẹp đến nhanh. Vì số lượng oan gia trái chủ của mỗi người khác nhau, như người hiền lành, ít sát sinh, thì oan gia ít, sám hối oan gia sẽ nhanh thấy kết quả. Một số khác do nhiều kiếp qua sát sinh nhiều thì số Oan gia đông hơn, sám hối một hai lần là chưa đủ. Rồi tâm lý của các vong linh oan gia cũng khác nhau, có vong thì dễ tha thứ, nghe sám hối một lần là buông tha, có vong thì thù dai, sám hối vài lần vẫn chưa hết căm hận, cần sám hối thêm nhiều lần nữa. Thế nên sự kiên trì là rất quan trọng khi cầu siêu oan gia. Cầu siêu một hai buổi chưa thấy thay đổi được gì nhiều, chúng ta hãy kiên trì cầu siêu thêm 10 – 20 buổi nữa (không cần liên tiếp mỗi ngày, cách vài ngày sám hối một buổi cũng được), thường thì đa số mọi người sẽ thấy những hiệu nghiệm, những chuyển biến rõ rệt trong khoảng này. Một số ít trường hợp do oan gia quá nhiều (biểu hiện là nhiều bệnh, nhiều xui xẻo, nhiều loại đau khổ khác nhau trong cuộc sống), cần sám hối đến cả trăm lần mới thấy những thay đổi theo chiều hướng tốt. Và tốt nhất là nếu có thể, mỗi người nên duy trì sám hối với oan gia trái chủ mỗi tháng một vài lần trong nhiều năm.
  1. Mục đích của Nghi Thức Sám Hối – Cầu Siêu Cho Thai Nhi

Hiện nay trong xã hội có khá nhiều người đã từng nạo phá thai, vấn nạn này ngày càng phổ biến trên thế giới, và đặc biệt phát triển ở Việt Nam, tạo nên một lực lượng đông đảo các vong hồn thai nhi ngập đầy uất hận ở khắp nơi. Vong linh thai nhi cũng là một loại Oan gia trái chủ, xong có một số đặc thù tâm lí nhất định, nên có riêng một Nghi thức cầu siêu dành cho thai nhi. Sự báo oán của các thai nhi, cũng đặc biệt nguy hiểm đối vơi sức khỏe, sự nghiệp… và tính mạng của những cặp nam nữ đã phá thai, mà không phải ai cũng nhận ra. Nhiều người sau khi phá bỏ thai nhi, hay nghĩ gửi tên vào chùa là xong. Thực tế không đơn giản như vậy, oan có đầu, nợ có chủ, thai nhi đa số vẫn cứ đi theo những người đã phá bỏ nó để báo thù, kể cả đã gửi tên lên chùa. Nên bắt buộc cha – hoặc mẹ , hoặc cả hai phải lo sám hối siêu độ cho thai nhi. Con mình, mình đã không đẻ, không nuôi, thì ít nhất cũng phải tự mình làm lễ sám hối- tụng kinh niệm Phật, tạo công đức cầu siêu cho thai nhi, chứ đâu thể dựa vào các sư được. Những vong thai đó không phải của các sư, mà là của mình, mình là cha mẹ, có duyên nợ sâu với thai nhi, có một mối liên hệ chặt chẽ với thai nhi, mà người ngoài không thể có. Nên khi siêu độ thai nhi, cha, hoặc mẹ mới là người quan trọng nhất, cầu siêu có công hiệu nhất, vì “dây cột ở đâu phải mở ở đấy”. Vậy nên, bất kể là cha, hay mẹ của thai nhi, đều cần phải đặt cho những thai nhi của mình một cái tên, thành tâm sám hối, siêu độ cho các thai nhi, vì lương tâm, và cũng vì tương lai của chính mình. Và đó là mục đích ra đời của “Nghi thức Sám Hối – Cầu Siêu Cho Thai Nhi” (trang 67). Các vong thai nhi tính tình khác nhau, có thai nhi dễ tha thứ, cũng có thai nhi cố chấp không buông tha… nên khi cầu siêu, có người nhanh chóng thấy cảm ứng, như thai nhi về báo mộng tha thứ, hay thấy bệnh tật tiêu trừ, tâm lý thanh thản… có người mãi chưa thấy gì. Vì buông tha hay tiếp tục báo thù, siêu thoát nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào ý muốn của thai nhi,  xong kiểu nào thì mình cũng phải tận lực trước đã.  Với mỗi thai nhi cha, hoặc mẹ nên cầu siêu ít nhất 7 lần.
  1. Mục đích của Nghi Thức Cầu Siêu Gia Tiên – Chúng sinh

Ngoài các Oan gia trái chủ, các vong thai nhi bị phá bỏ, chúng ta nhất thiết phải siêu độ cho họ vì những lí do đã trình bày ở trên. Trong vô hình còn có rất nhiều vong hồn vất vưởng rất đáng thương khác, nhiều trường hợp họ lại chính là cửu huyền thất tổ (ông bà tổ tiên) của chúng ta, hoặc cũng là họ hàng, thân quyến kiếp này, kiếp xưa của chúng ta. Bằng cách này hay cách kia, báo mộng hoặc gây ra những hiện tượng ma quái, họ luôn cố báo cho người sống biết rằng họ đang ở đó, và đang rất cần sự giúp đỡ của người sống. Vậy họ cần giúp như thế nào ? Có rất nhiều điều, nhưng có hai điều là thiết yếu nhất : được no đủ và được siêu thoát. Cả hai điều này đều có thể được giải quyết thông qua “Nghi Thức Cầu Siêu Gia Tiên – Chúng sinh” (trang 96) Đây là cách tạo công đức vi diệu dành cho tất cả những ai có tâm từ bi, thương xót những cô hồn, ngạ quỷ đói khổ mà chẳng hề tốn kém chi nhiều. Không chỉ giới hạn vào những ngày như Lễ Vu Lan, mùng 2, 16 hàng tháng, mà bất cứ ngày nào bạn cũng có thể cúng. Phương pháp này được Đức Phật tuyên thuyết trong kinh “Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỉ Đà La Ni Kinh” là bảo bối giúp cho các hàng Đệ Tử tăng trưởng lòng từ bi, đồng thời tạo lập vô lượng công đức, gieo duyên Bồ Đề với vô số chúng sinh trong siêu hình. Âm có siêu thì Dương mới thái, các hương hồn, ngạ quỷ trong vô hình được no đủ, được siêu thoát thì họ cũng sẽ thôi các trò quấy phá, ám hại con người, ngược lại họ sẽ gắng sức phù hộ cho gia chủ cuộc sống bình an, gặp nhiều may mắn để báo đáp công ơn cúng thí, cầu siêu. Không chỉ siêu độ cho vong linh xa lạ, mà trong Nghi thức này còn đồng thời siêu độ cho các vong linh ông bà tổ tiên, các vong linh trong gia tộc, các oan gia trái chủ của chính mình. Nguyên tắc trong vô hình là chỉ vong linh nào được gia chủ mời, mới có thể vào dự lễ. Các vong linh không được mời, tuyệt không thể tham dự. Thế nên, Nghi thức này không nhất thiết chỉ dùng để siêu độ vong linh mười phương, mà người cúng có thể tùy biến, chỉ thỉnh mời một vong linh người quá cố nào đó trong gia đình để cầu siêu trong tang lễ, 49 ngày, 100 ngày, cúng giỗ .v.v … Hoặc người cúng cũng có thể tùy biến, thỉnh mời một số vong linh nhất định nào đó, chẳng hạn nếu bị duyên âm theo đuổi, muốn cắt duyên âm thì ta đổi câu  thỉnh mời  thành “Xin thỉnh những vong linh có duyên ái luyến thường theo tôi về dự lễ. Thỉnh mời chư vị về đây, trước…” Hay nếu nghi trong nhà mình có ma, muốn siêu độ cho họ để họ đừng quấy phá, thì người cúng đổi câu thỉnh mời thành: “Xin thỉnh mời những vong linh trong mảnh đất này (hoặc căn nhà này) về dự lễ. Thỉnh mời chư vị về đây, trước…” Thậm chí, nếu trong nhà bị thầy bùa phái âm binh tới ám hại. Thì gia chủ cũng có thể theo Nghi thức này siêu độ cho âm binh để hóa giải, chỉ cần đổi câu Thỉnh mời thành: “ Xin thỉnh mời các vị âm binh, âm tướng do thầy bùa sai khiến mà thường theo tôi về dự lễ. Thỉnh mời chư vị về đây, trước…” Dù có những đặc thù khác nhau, xong các vong linh đều tuân theo một quy luật, đó là khi gặp cơ duyên khai thị, được người sống tụng kinh, niệm Phật, trì chú… hồi hướng công đức cho thì đều có thể được siêu thoát. Tất nhiên, giống như siêu độ cho oan gia, không phải một buổi lễ là xong tất cả, ta cần kiên trì cầu siêu nhiều lần, nhất là với trường hợp siêu độ âm binh , hoặc duyên âm … phải kiến trì nhiều lần mới thấy kết quả. “Âm siêu dương thái”, các vong linh được siêu rồi, thì người sống sẽ thấy cuộc sống tốt lên nhiều mặt. Người thì cảm thấy yên lòng vì người thân của mình nhờ mình cầu siêu mà ra đi thanh thản, sinh về nơi an lành. Người thì nhẹ nhõm vì hóa giải được những hiện tượng phần âm quấy phá như duyên âm, âm binh.v.v… Bản thân những người cầu siêu, thông qua quá trình tụng kinh, niệm Phật, trì chú thì chính họ công đức cũng tăng trưởng vô hạn, gieo duyên sâu dày trong Phật Pháp, chính mình cùng vô số chúng sinh, cả cõi Âm lẫn cõi Dương đều được vô số lợi ích, lại chẳng tốn kém tiền bạc gì nhiều, vậy nên đây là một Đại thiện nghiệp mà bạn không nên khước từ.
  1. Nghi thức Sám hối – Phát nguyện

Đây là một tập hợp những bài kinh chú ngắn nhưng oai lực vô cùng vĩ đại, nổi tiếng trong Đạo Phật như Sám hối trích từ kinh Kim Quang Minh, chú Đại Bi, Bát Nhã Tâm Kinh, Phát Nguyện theo Phổ Hiền Bồ Tát…được sắp xếp theo một trình tự nhất định để phát huy tối đa công năng, giúp người đọc tụng diệt tội, tiêu nghiệp, thanh lọc thân tâm, làm suy giảm những tính xấu như nóng giận, dâm dục, tham lam… tăng trưởng công đức vô biên vô lượng, kết duyên lành sâu dày với chư Phật, Bồ Tát, trồng nhân Bồ Đề để chứng thành Phật Quả Vô Thượng trong tương lai. Nghi thức này (trang 119) không mất nhiều thời gian, nhưng lợi ích cực kỳ siêu việt, hiện tại giúp tâm được an ổn, hóa giải vận hạn xấu, tương lai lợi ích còn gấp bội không thể tính đếm… chúng ta bất kể là Phật tử hay không, đều nên thường xuyên đọc tụng, tốt nhất nên duy trì hàng ngày.
  1. Nghi thức Phóng Sinh

Phóng sinh là một cách tạo phước hết sức phổ biến, đem lại công đức lớn lao với nhiều linh ứng vi diệu. Để thực hiện phóng sinh, bạn cần tìm mua những con vật sắp bị giết, dễ dàng gặp được ở ngoài chợ, mua chúng rồi thả vào môi trường an toàn. Một số lưu ý bạn cần nhớ khi phóng sinh :
  • Chọn những con vật khỏe mạnh, vì có nhiều con vật yếu, dù có thả về tự nhiên cũng sẽ nhanh chóng bị chết. Ưu tiên thả những loài sống dai như lươn, ốc, cá trê, rùa, ba ba…
  • Chọn môi trường thả phù hợp, an toàn, nếu không chúng cũng bị chết, hoặc bị bắt lại.
  • Không cần phóng sinh theo lịch cố định nào, ngày nào phóng sinh cũng tốt cả.
  • Tránh mua ‘chim phóng sinh’ bán sẵn ở cổng chùa, vì chúng vốn tự do, vì có người mua phóng sinh nên chúng mới bị bắt. Việc mua chúng càng thúc đẩy người ta đi bắt nhiều hơn, lợi bất cập hại.
Trước khi thả, đọc “Nghi Thức Phóng Sinh”  cho những con vật được cứu nghe, công đức của bạn sẽ tăng gấp bội lần. Nhờ được nghe tụng niệm, hồi hướng công đức tụng niệm trong Nghi thức, mà những con vật đó sẽ mau thoát kiếp súc sinh, tăng trưởng phước duyên với Phật Pháp, tương lai sẽ bén duyên, tiến tu giải thoát, viên thành Phật Đạo. Chính vì vậy, công đức người phóng sinh trở nên vô biên vô lượng, sự linh ứng cũng rõ rệt hơn nhiều.

NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý TRƯỚC KHI TIẾN HÀNH NGHI THỨC CẦU SIÊU

  1. ĐỊA ĐIỂM

Các “Nghi Thức Sám Hối – Cầu Siêu Oan Gia Trái Chủ”, “Sám Hối –Cầu Siêu Cho Thai Nhi”, có thể tiến hành ngay trong nhà người cần sám hối, và đó là nơi tốt nhất, vì các vong oan gia vốn đã ở sẵn đó, dễ dàng tiếp nhận sự sám hối, siêu độ. Nếu không tiện, ta tùy hoàn cảnh tìm một nơi khác, như nhà người quen, hoặc một nơi yên tĩnh nào đó không ai làm phiền. Còn ở chùa, đền, miếu, ngay cả nghĩa trang Liệt Sĩ, thường có các vị thần Hộ Pháp, có khi các vong được cho vào, cũng có khi không vào được. Nếu chọn tổ chức ở chùa, tốt nhất cần được sư trụ trì chấp thuận, thỉnh Hộ Pháp cho phép các vong vào. Còn tổ chức ở nhà, mà trong nhà nếu có bàn thờ Phật, thì ta tiến hành trước bàn thờ Phật ( sắp lễ cúng oan gia, cúng thai nhi trên một cái bàn riêng, đặt bên cạnh trái hoặc phải bàn thờ Phật) Nếu không có, thì ta sắp xếp một chỗ nào sạch sẽ (kể cả phòng ngủ) không bị ai hay vấn đề gì gây ảnh hưởng đến buổi cúng là được. Còn “Nghi Thức Cầu Siêu Gia Tiên – Chúng sinh”, cần tiến hành tại nơi công cộng, như ngoài cổng, ngoài đường, nghĩa trang, các chùa, miếu, nơi hay có người chết… (Lưu ý, cầu siêu ở Nghĩa trang lớn, hay những chỗ nhiều người tử nạn… yêu cầu người đứng ra tổ chức phải có Đạo lực, có bề dày tu hành dù là tại gia hay xuất gia) Nếu cúng trong nhà cũng được, xong gia chủ cần chấp nhận là các vong có thể vào sống chung trong nhà. Với những người có bề dày tu hành trong Phật Pháp, có tâm từ bi lớn, thì điều này cũng không có gì nguy hại lắm, chỉ là thỉnh thoảng có một vài phiền toái, nếu gia chủ rộng lượng từ bi, thì cũng không sao. Các vong được gia chủ nhiều lần cúng thí thức ăn, siệu độ, dần sẽ chuyển hóa trở nên thiện lương, hoặc siêu thăng lên cảnh giới cao hơn, và thường gia hộ cho gia chủ.
  1. THỜI GIAN

Thời gian tiến hành, tốt nhất nên chọn buổi tối, khi không còn mặt trời, các vong linh dễ dàng đến dự lễ. Cho dù ban ngày, một số vong linh vẫn có thể đi lại, nhưng không phải vong linh nào cũng làm được vậy. Vào tháng 7, các vong linh từ Âm phủ được tự do đi lại lên dương gian, nên cúng Thí Thực, cầu siêu… trong tháng 7 thì đông vong linh về dự lễ nhất. Xong những ngày tháng bình thường khác trong năm cũng vẫn đều có thể tiến hành các Nghi thức cầu siêu, không cần câu nệ phải chọn ngày nào cả. Làm việc thiện, ngày nào cũng là ngày tốt. Làm việc bất thiện, ngày nào cũng là ngày xấu. Tùy hoàn cảnh, ta thu xếp được ngày nào thuận lợi là tiến hành thôi.
  1. SỐ NGƯỜI THAM GIA

Các Nghi thức trong quyển này, tất cả mọi người đều có thể tổ chức, bất luận tại gia hay xuất gia, Phật tử hay không phải Phật tử, nếu có thể mời thêm nhiều người cùng hỗ trợ tụng niệm thì tuyệt vời, còn không được thì ta hoàn toàn có thể tự tiến hành một mình. Nhất là sám hối với oan gia, thì chính mình – “người cần sám hối” là quan trọng nhất, sám hối với thai nhi thì cha mẹ là những người quan trọng nhất. Vì oan có đầu, nợ có chủ, lời sám hối chân thành của kẻ có lỗi mới là cái các vong linh muốn nghe nhất – là điều then chốt khiến các vong linh oan gia, các thai nhi chịu đồng ý tha thứ, buông xuống hận thù để tiếp nhận cầu siêu.
  1. NHỮNG ĐIỀU CẦN CHUẨN BỊ

Khi ta sắp mâm lễ cúng, bất kể Nghi thức nào, nhất thiết phải dùng đồ chay, không được cúng thịt, cá, đồ mặn, rượu… Không cần thiết phải mâm cao cỗ đầy, cũng chẳng cần vàng mã, vì âm thanh tụng kinh niệm Phật còn trân quý hơn vô số lần so với tất cả đồ cúng thế gian. Đây là điều mà nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã cùng hàng loạt nhà ngoại cảm nổi tiếng Việt Nam, đồng loạt chứng kiến tại nghĩa trang Trường Sơn. Khi đó nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã đứng giữa nghĩa trang, chắp tay thành kính niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” 108 lần, lập tức các anh linh liệt sĩ bất luận khi sống có tôn giáo hay không, đều đồng chắp tay niệm Phật theo tha thiết. Và các anh linh liệt sĩ phản hồi lại cho ông Nguyễn Văn Nhã và những nhà ngoại cảm có mặt tại đó rằng, chính tiếng tụng kinh niệm Phật, mới là thứ quý giá nhất mà người sống có thể gửi cho họ. Thế nên sắp đồ cúng nhiều hay ít tùy tâm gia chủ, không cần quá câu nệ, nếu không có nhiều điều kiện, thì một ít trái cây, một ít bánh, một ít cháo, một ly nước, một nén nhang… là cũng được. Dù sao đi nữa, trong khi tiến Nghi thức, ta sẽ đọc những thần chú vi diệu của chư Phật như chú Biến Thực, chú Cam Lồ, chú Như Ý Bảo Luân Vương có năng lực biến phẩm vật ra thật nhiều trong vô hình, khiến tất cả đều được no đủ. Trong khi tiến hành Nghi thức, nếu có chuông, khánh thì thì tốt, nhưng không có cũng được. Nếu có thể quỳ suốt buổi thì rất tốt, nhưng nếu không thì đổi tư thế đứng, hay ngồi cũng được. Trong các Nghi thức, những câu chữ trong dấu (…) chính là phần hướng dẫn, ta không đọc, chỉ chú ý làm đúng theo những hướng dẫn đó. Tuy nhiên, một số hoàn cảnh không làm theo được, thì có thể linh động bỏ qua, không cần máy móc. Hình thức chỉ là những yếu tố hỗ trợ, còn cái cốt lõi, quyết định thành công của buổi lễ cầu siêu vẫn là lòng thành. Bởi vậy nhiều người bỏ rất nhiều tiền ra rước thầy cúng, sư sãi… về làm các lễ cầu siêu đình đám cực kỳ tốn kém, vàng mã đốt rực trời xong không thấy cảm ứng gì mấy, cuộc sống không chuyển biến gì cả. Đó là vì cõi tâm linh chỉ coi trọng thành tâm, chứ không coi trọng hình thức. Một ông thầy cúng chỉ vì tiền mà đến, bất kể hình thức có vẻ chuyên nghiệp đến mức nào, trong tâm sẽ chứa đầy tham lam, ích kỉ, vụ lợi… lấy đâu ra thành tâm mà chư Phật, chư Bồ Tát gia hộ ? Lấy đâu ra uy lực mà siêu độ được vong ? Chẳng bằng gia chủ tự mình bày mâm lễ chay tịnh giản dị, lấy tâm thành mà cầu siêu, hiệu lực còn mạnh gấp ngàn vạn lần. Trong “Nghi Thức Sám Hối – Cầu Siêu Oan Gia Trái Chủ”,  “Nghi thức Sám Hối –Cầu Siêu Cho Thai Nhi”, thì lòng thành chính là sự ăn năn, hối hận thật sự vì những sai trái, những tội lỗi mình đã gây ra cho các oan gia trái chủ, cho các thai nhi bị phá bỏ. Đọc từng câu sám hối mà lòng thấy day dứt, hổ thẹn, muốn nói lên lời xin lỗi từ tận đáy lòng, đến nỗi một số người phải bật khóc, muốn bù đắp cho họ, giúp họ được siêu thoát, được Vãng Sinh, đó là thành tâm. Trong “Nghi Thức Cầu Siêu Gia Tiên – Chúng sinh”, thì lòng thành chính là tâm từ bi, tâm yêu thương, thực lòng  muốn giúp cho cửu huyền thất tổ, cho oan gia, cho các hương vong linh đói khổ, bị dày vò nhiều cách trong vô hình… tất cả đều nhờ sức tụng niệm kinh chú, khai thị của mình mà được no đủ, được thoát khổ, được siêu thăng lên những cảnh giới an lành, được Vãng Sinh Tịnh Độ, đó là thành tâm. Trong lúc đọc khai thị, đọc kinh văn thì tâm tập trung hiểu nghĩa, nương theo những nghĩa lí trong đó mà khởi tác ý. Trong lúc đọc các thần chú, thì không cần hiểu nghĩa (vì nghĩa của các thần chú- đà ra ni như chú Đại Bi, chú Như ý Bảo Luân Vương, chú Vãng Sinh… người thường không thể hiểu), mà chỉ cần tin tưởng mạnh mẽ vào năng lực vi diệu của âm thanh những thần chú đó đang chuyển hóa các vong linh trong vô hình là được. Trong lúc niệm Phật, thì miệng niệm, tâm khởi lên lòng tôn kính Phật, mắt không thấy nhưng ý luôn tưởng như trong vô hình Phật A Di Đà cùng các vị Bồ Tát, theo câu niệm tha thiết của mình mà hiện đến tiếp rước các hương vong linh Vãng Sinh, đó chính là thành tâm. Tâm có thành ắt có cảm ứng, dù mâm cúng đơn sơ, không chuông mõ, ngân nga… mà tâm tha thiết tụng niệm, vẫn có công hiệu bạt khổ ban vui một cách vô cùng mạnh mẽ, hơn hẳn những buổi lễ bên ngoài linh đình, mà trong tâm sáo rỗng. ( Nếu bạn muốn thỉnh bản sách in giấy của cuốn NGHI THỨC CẦU SIÊU này, bạn có thể gọi điện cho Ban ấn tống theo số :0376309077 để xin thỉnh. Khi gọi Ban Ấn Tống, bạn báo họ tên, địa chỉ, số điện thoại. Ban ấn tống sẽ gửi tặng bạn như yêu cầu, PHÍ VẬN CHUYỂN (SHIP) NGƯỜI NHẬN TRẢ. Ngoài sách NGHI THỨC CẦU SIÊU, còn có một số sách khác như sách “Bệnh viện trả về, Phật Pháp cứu sống”, sách “Báo ứng hiện đời” tập 1-7, sách Niệm Phật Thập Yếu, kinh Địa Tạng, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Dược Sư, kinh Diệt Tội Trường Thọ, từ Bi Thủy Sám… mỗi người được thỉnh tối đa 5 cuốn. )  

NGHI THỨC SÁM HỐI – CẦU SIÊU OAN GIA TRÁI CHỦ

*Chuẩn bị : vui lòng xem kĩ lại “Những Điều Cần Lưu Ý Trước Khi Tiến Hành Nghi Thức Cầu Siêu” trang 25.   ( Tất cả đồng thanh) Cúi đầu lạy Đức Như Lai Mười phương Pháp giới  không ai sánh bằng. Pháp thân thường trụ vĩnh hằng. Hóa thân vô lượng  nhọc nhằn độ sinh. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! (3 lạy) Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư  A Di Đà Phật! (1 lạy) Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật! (1 lạy) Nam Mô Kim Quang Sư Tử Du Hí Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Đa Bảo Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Ly Bố Úy Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Diệu Sắc Thân Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Quảng Bác Thân Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đương Lai Thế Tôn Di Lặc Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tam Bảo ! (1 lạy) Tịnh Khẩu Nghiệp Chân Ngôn: TU RỊ, TU RỊ, MA HA TU RỊ, TU TU RỊ, TA BÀ HA. (3 lần) Tịnh Tam Nghiệp Chân Ngôn: ÁN TA PHẠ BÀ PHẠ, THUẬT ĐÀ TA PHẠ, ĐẠT MA TA PHẠ, BÀ PHẠ THUẬT ĐỘ HÁM (3 lần) Tốc Tật Thành Tựu Nhất Thế Chân Ngôn ÁN, TRA TRA TRA Ô, TRÍ TRÍ TRÍ TRÍ, TRA Ô, TRA Ô TRA Ô TRA Ô, PHẠ NHỰT RA TÁT ĐÁT PHẠ, NHÃ HỒNG VÃM HỘC HẬT RỊ HẠC HỒNG PHẤN TRA, HỒNG (3 lần)   Phổ Cúng Dường Chân Ngôn: ÁN NGA NGA NÃNG, TAM BÀ PHẠ , PHIỆT NHẬT RA HỒNG. (3 lần) Phổ Triệu Thỉnh Chân Ngôn: NAM MÔ BỘ BỘ ĐẾ LỊ, GIÀ RỊ ĐA LỊ, ĐÁT ĐÁ NGA ĐÁ DA. (3 lần) Phá Địa Ngục Chân Ngôn: ÁN GIÀ LA, ĐẾ GIA SA BÀ HA (3 lần) Giải Oán Kết Chân Ngôn: ÁN TAM ĐÀ LA, GIÀ ĐÀ , SA BÀ HA (3 lần) Diệt Định Nghiệp Chân Ngôn: ÁN BÁT RA MẠT LÂN, ĐÀ NẢNH, TA BÀ HA (3 lần) Tịnh Pháp Giới Chân Ngôn: ÁN LAM TOÁ HA  (3 lần)  (Chỉ người cần sám hối đọc) Ngày hôm nay, con tên … , (thêm pháp danh nếu có) sắp mâm lễ đơn sơ, của ít lòng nhiều, kính thỉnh chư vị oan gia trái chủ: thân người , thân quỷ,  thân súc sinh… khắp trong sáu nẻo, hoặc ở trong thân, hoặc ở ngoài thân, kiếp này hay kiếp xưa từng bị con gây bao đau khổ, kết mối thâm thù. Xin các vị về đây, trước nhận mâm lễ mọn và sự ăn năn, sám hối chân thành của con, sau là để nương nơi Phật lực từ bi, nương câu kinh tiếng kệ, thoát khỏi mọi đau đớn, khổ sở, siêu thăng Tịnh Độ hưởng an lạc vĩnh hằng. (1 lạy) (lặp lại 3 lần ) (Tất cả đồng thanh) Tôn Pháp, chư Bồ Tát Thinh Văn và Duyên Giác Cùng các bậc Thánh Hiền Duyên khởi đài sáng chói Khắp xông mười phương cõi Tỏa ngát các chúng sanh Đều phát tâm Bồ Đề Xa lìa các vọng nghiệp Trọn nên Đạo Vô Thượng (1 tiếng chuông, xá 1 xá) Nam Mô Hương Cúng Dường Tiêu Diện Đại Sĩ Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá) Xin quý vị cùng trì tụng: Khai Yết Hầu Chân Ngôn: ÁN, BA BỘ ĐẾ RỊ GIÀ ĐA RỊ ĐÁC ĐA NGA ĐA DA (3 lần) Quán Thế Âm Bồ Tát Diệt Nghiệp Chướng Chân Ngôn: ÁN, A LỔ LẶC KẾ TA BÀ HA (3 lần) Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát! (7 lần) Như Ý Bảo Luân Vương Đà Ra Ni NAM MÔ PHẬT ĐÀ DA, NAM MÔ ÐẠT MA DA, NAM MÔ TĂNG DÀ DA. NAM MÔ QUÁN TỰ TẠI BỒ TÁT MA HA TÁT, CỤ ĐẠI BI TÂM GIẢ. ÐÁT ĐIỆT THA. ÁN, CHƯỚC YẾT RA PHẠT ĐỂ, CHẤN ĐA MẠC NI, MA HA BÁT ĐẮNG MẾ. RÔ RÔ RÔ RÔ, ĐỂ SẮC TRA THƯỚC RA A YẾT LỴ, SA DẠ HỒNG, PHẤN TÓA HA. ÁN, BÁT ĐẠT MA, CHẤN ĐA MẠC NI, THƯỚC RA HỒNG. ÁN, BÁT LẬT ĐÀ. BÁT ĐẲNG MÊ HỒNG.  (3 lần) Kính lạy Đấng Đại Từ Đại Bi- Quán Thế Âm Bồ Tát, xin nương nhờ nơi công đức  của Đà Ra Ni này, xin nương nhờ Phật lực vô biên gia hộ, tùy tâm biến hiện theo sở thích của các vị oan gia trái chủ đây, biến các phẩm vật này theo đúng ý từng vị, nhiều đến vô lượng, đầy đủ không thiếu chi. (1 lạy) Biến Thực Chân Ngôn NAM MÔ TÁT PHẠ ĐÁC THA NGA ĐA, PHẠ LỒ CHỈ ĐẾ. ÁN, TAM BẠT RA, TAM BẠT RA HỒNG. (7 lần) Cam Lồ Thủy Chân Ngôn NAM MÔ TÔ RÔ BÀ DA, ĐÁT THA NGA ĐA DA, ĐÁT ĐIỆT THA. ÁN, TÔ RÔ TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, TA BÀ HA.   SÁM HỐI VỚI OAN GIA TRÁI CHỦ (Chỉ người cần sám hối đọc) Từ vô thủy kiếp đến nay, con do ngu si, không biết Đạo lí, u mê không thuận theo lời Phật, chẳng có lương tri, bằng thân, khẩu, ý mà đã gieo rắc bao nỗi đau khổ, kinh hoàng cho quý vị, khiến quý vị ôm nỗi uất hận ngút trời, tội lỗi thật muôn phần đáng chết. (1 lạy) Hoặc vì bữa ăn của bản thân, của thân quyến, của khách khứa.v.v… mà nhẫn tâm xuống tay tàn sát mạng sống của quý vị, hoặc bảo người giết, hoặc trả tiền để người ta giết, hoặc mua về ăn v.v… chẳng đoái hoài đến nỗi đau của quý vị, hoặc của thân quyến quý vị. Ngày nay biết Đạo rồi, con hết sức hổ thẹn, thành khẩn ăn năn sám hối, đối trước Tam Bảo thiêng liêng, xin dập đầu tạ tội với quý vị. (1 lạy) Hoặc vì ác tâm, lòng lang dạ sói, thủ đoạn tàn nhẫn, tra tấn đánh đập, hành hạ nhiều cách, khiến cho quý vị hoặc thân thể đau đớn, hoặc tâm can thống khổ, hoặc bỏ mạng oan ức .v.v… chẳng nghĩ đến nỗi đau của quý vị, hoặc của thân quyến quý vị. Ngày nay biết Đạo rồi, con hết sức hổ thẹn, thành khẩn ăn năn sám hối, đối trước Tam Bảo thiêng liêng, xin dập đầu tạ tội với quý vị. (1 lạy) Hoặc dùng mưu mô thâm độc, lừa lọc gạt gẫm, tráo trở thất tín, bùa ngải ma quái, độc dược thuốc mê, máy móc phương tiện v.v…thủ đoạn tinh vi, cách thức đa dạng hại cho quý vị mất tài sản, mất danh dự, mất thân quyến, mất tiết hạnh.v.v… cho đến mất mạng trong nỗi căm tức, chẳng nghĩ đến nỗi đau của quý vị, hoặc của thân quyến quý vị.. Ngày nay biết Đạo rồi, con hết sức hổ thẹn, thành khẩn ăn năn sám hối, đối trước Tam Bảo thiêng liêng, xin dập đầu tạ tội với quý vị. (1 lạy) Hoặc lạnh lùng vô tâm, phụ tình bạc nghĩa, vong ơn tráo trở, dứt tình ruột thịt, khiến cho quý vị lòng tan dạ nát, thương tổn thân tâm, oán khí ngập trời, đẩy quý vị đến chỗ hoặc chết chẳng cam tâm, hoặc u uất sinh bệnh, hoặc bỏ mạng quyên sinh.v.v… chẳng nghĩ đến nỗi đau của quý vị, hoặc của thân quyến quý vị. Ngày nay biết Đạo rồi, con hết sức hổ thẹn, thành khẩn ăn năn sám hối, đối trước Tam Bảo thiêng liêng, xin dập đầu tạ tội với quý vị. (1 lạy) Hoặc cậy quyền cậy thế, cậy tiền cậy sức, kéo bè kết lũ, vây cánh bè đảng, ỷ mạnh hiếp yếu, làm càn làm bậy.v.v… khiến cho quý vị mất tài sản, mất danh dự, mất thân quyến, mất trinh tiết phẩm hạnh.v.v… cho đến mất mạng trong nỗi căm tức, chẳng nghĩ đến nỗi đau của quý vị, hoặc của thân quyến quý vị. Ngày nay biết Đạo rồi, con hết sức hổ thẹn, thành khẩn ăn năn sám hối, đối trước Tam Bảo thiêng liêng, xin dập đầu tạ tội với quý vị. (1 lạy) Hoặc vô tình, hoặc cố ý, hoặc trực tiếp tự mình làm, hoặc gián tiếp đứng đằng sau, hoặc xúi giục, sai bảo, hoặc chỉ vẽ, chế tác…tạo nhân duyên khiến người khác làm, hoặc cổ vũ, thấy người ta làm mà hùa theo vui thích, hoặc vô tâm bỏ mặc.v.v… đủ mọi cách thức , trong kiếp này, hoặc kiếp xưa khiến cho quý vị mất tài sản, mất danh dự, mất thân quyến, mất trinh tiết phẩm hạnh.v.v… cho đến mất mạng trong nỗi căm tức, thân tâm thống khổ, ai oán tang thương, hận thấu xương tủy, chẳng màng đến nỗi đau của quý vị, hoặc của thân quyến quý vị. Ngày nay biết Đạo rồi, con hết sức hổ thẹn, thành khẩn ăn năn sám hối, đối trước Tam Bảo thiêng liêng, xin dập đầu tạ tội với quý vị. (1 lạy) Kính thưa quý vị oan gia trái chủ, tội lỗi con đã gây ra cho quý vị, nhiều không tả xiết, bây nhiêu lời lẽ chẳng thấm vào đâu, bây nhiêu hối hận chẳng nghĩa lí gì đối với đau khổ mà quý vị đã chịu đựng. Nhưng cũng xin quý vị mở lượng khoan dung, tha thứ cho tội lỗi con trót dại gây ra cho quý vị, bởi vì “ oán nên cởi, không nên cột”, ôm giữ căm hận, tìm cách trả thù…cũng không khiến quý vị thêm lợi lộc gì, mà chỉ khiến quý vị thêm sự dày vò. Oán khí kết tụ, dễ khiến quý vị bị đọa lạc vào những nẻo đau khổ, chẳng thể siêu thoát lên cõi lành. Nay con xin mạn phép (thỉnh đại chúng) tụng kinh niệm Phật, hồi hướng công đức cầu cho quý vị được tiêu trừ nghiệp chướng, buông bỏ hiềm hận, thân tâm an lạc, tăng trưởng Bồ Đề tâm, nương nhờ Phật lực mà được siêu sinh Tịnh Độ, vĩnh viễn thoát khỏi mọi cảnh khổ của thế gian này. Vậy xin quý vị oan gia trái chủ, cùng đại chúng đồng thanh đọc tụng thần chú Đại Bi của Quán Thế Âm Bồ Tát, có công năng tiêu trừ nghiệp chướng, khiến thân tâm an lạc, thư thái, xa lìa mọi sự đau khổ. (Tất cả đồng thanh) Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau biết tất cả pháp. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được mắt trí huệ. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau độ các chúng sanh, Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được phương tiện khéo. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau lên thuyền bát nhã. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được qua biển khổ, Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau được đạo giới định. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm lên non Niết Bàn. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau về nhà vô vi. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm đồng thân pháp tánh. Nếu con hướng về nơi non đao, non đao tức thời liền sụp đổ. Nếu con hướng về lửa, nước sôi, nước sôi, lửa cháy tự khô tắt. Nếu con hướng về cõi địa ngục, địa ngục liền mau tự tiêu diệt, Nếu con hướng về loài ngạ quỷ. Ngạ quỷ liền được tự no đủ, Nếu con hướng về chúng Tu La, Tu la tâm ác tự điều phục, Nếu con hướng về các súc sanh, súc sanh tự được trí huệ lớn. Nếu con hướng về các nhân loại Nhân loại liền khai phát tâm Bồ Đề Nếu con hướng về chúng thiên nhân Thiên nhân xả dục siêng tu Phật. Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát! (7 lần) Nam Mô A Di Đà Phật! (7 lần) ******************* Nam-mô Ðại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần) THIÊN THỦ THIÊN NHÃN VÔ NGẠI ĐẠI BI TÂM ĐÀ RA NI NAM-MÔ HẮC RA ĐÁT NA, ĐA RA DẠ DA. NAM-MÔ A RỊ DA, BÀ LÔ YẾT ĐẾ, THƯỚC BÁT RA DA, BỒ-ĐỀ TÁT ĐỎA BÀ DA, MA HA TÁT ĐỎA BÀ DA, MA HA CA LÔ NI CA DA. ÁN, TÁT BÀN RA PHẠT DUỆ SỐ ĐÁT NA ĐÁT TỎA. NAM-MÔ TẤT KIẾT LẬT ĐỎA Y MÔNG A RỊ DA, BÀ LÔ KIẾT ĐẾ THẤT PHẬT RA LĂNG ĐÀ BÀ. NAM-MÔ NA RA CẨN TRÌ HÊ RỊ MA HA BÀN ĐA SA MẾ, TÁT BÀ A THA ĐẬU DU BẰNG, A THỆ DỰNG, TÁT BÀ TÁT ĐA. NA MA BÀ TÁT ĐA ,NA MA BÀ GIÀ, MA PHẠT ĐẠT ĐẬU, ĐÁT ĐIỆT THA. ÁN A BÀ LÔ HÊ, LÔ CA ĐẾ, CA RA ĐẾ, DI HÊ RỊ, MA HA BỒ-ĐỀ TÁT ĐỎA, TÁT BÀ TÁT BÀ, MA RA MA RA, MA HÊ MA HÊ, RỊ ĐÀ DỰNG, CU LÔ CU LÔ KIẾT MÔNG, ĐỘ LÔ ĐỘ LÔ, PHẠT XÀ DA ĐẾ, MA HA PHẠT XÀ DA ĐẾ, ĐÀ RA ĐÀ RA, ĐỊA RỊ NI, THẤT PHẬT RA DA, DÁ RA DÁ RA. MẠ MẠ PHẠT MA RA, MỤC ĐẾ LỆ, Y HÊ Y HÊ, THẤT NA THẤT NA. A RA SÂM PHẬT RA XÁ-LỢI, PHẠT SA PHẠT SÂM, PHẬT RA XÁ DA. HÔ LÔ HÔ LÔ MA RA, HÔ LÔ HÔ LÔ HÊ RỊ, TA RA TA RA, TẤT RỊ TẤT RỊ, TÔ RÔ TÔ RÔ, BỒ-ĐỀ DẠ, BỒ-ĐỀ DẠ, BỒ-ĐÀ DẠ, BỒ-ĐÀ DẠ, DI ĐẾ RỊ DẠ, NA RA CẨN TRÌ ĐỊA RỊ SẮC NI NA, BA DẠ MA NA, TA BÀ HA. TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. MA HA TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. TẤT ĐÀ DU NGHỆ THẤT BÀN RA DẠ, TA BÀ HA. NA RA CẨN TRÌ, TA BÀ HA. MA RA NA RA, TA BÀ HA. TẤT RA TĂNG A MỤC KHÊ DA, TA BÀ HA. TA BÀ MA HA, A TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. GIẢ KIẾT RA A TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. BA ĐÀ MA KIẾT TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. NA RA CẨN TRÌ BÀN ĐÀ RA DẠ, TA BÀ HA. MA BÀ RỊ THẮNG YẾT RA DẠ, TA BÀ HA. NAM-MÔ HẮC RA ĐÁT NA, ĐA RA DẠ DA. NAM-MÔ A RỊ DA, BÀ LÔ YẾT ĐẾ, THƯỚC BÀN RA DẠ, TA BÀ HA. ÁN TẤT ĐIỆN ĐÔ, MẠN ĐA RA, BẠT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. (3 lần) Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát! (Đọc chú Đại Bi ít nhất 7 lần, hoặc 21, 49… lần hoặc nhiều hơn tùy tâm) Con nguyện hồi hướng công đức trì tụng Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni này đến các vị oan gia trái chủ của…, nguyện nhờ công đức này, các vị ấy được tiêu trừ nghiệp chướng, thân tâm được an lạc, lòng tin kính Tam Bảo tăng trưởng vô tận, buông bỏ mọi chấp trước, dốc lòng trì niệm Nam Mô A Di Đà Phật mà được vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc. SÁM HỐI PHỔ QUÁT (Trích kinh Kim Quang Minh, phẩm Diệt Trừ Nghiệp Chướng – Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ bày phương thức sám hối) “…Con xin quy mạng kính lạy chư vị Thế Tôn hiện tại mười phương, những đấng đã chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề, chuyển đẩy bánh xe chánh pháp nhiệm mầu, bánh xe chánh  pháp chói sáng, mưa nước Pháp vĩ Đại, gióng trống Pháp vĩ Đại, thổi loa Pháp vĩ Đại, dựng cờ Pháp vĩ Đại, cầm đuốc Pháp vĩ Đại, vì lợi ích yên vui cho chúng sinh mà thường thực thi pháp thí, dạy dỗ cho những kẻ mê mờ bước tới, làm cho họ được quả báo vĩ đại, thường lạc. Chư vị Thế Tôn như vậy, con xin đem cả thân miệng ý mà cúi đầu quy mạng kính lạy. Chư vị Thế Tôn như vậy đem tuệ giác chân thật, con mắt chân thật, sự chứng minh chân thật, sự bình đẳng chân thật, mà biết hết, thấy hết thiện nghiệp ác nghiệp của chúng sinh. Từ vô thủy đến giờ, con xuôi theo dòng nước tội ác mà cùng chúng sinh tạo ra nghiệp chướng, bị tham sân si buộc chặt. Khi chưa biết Phật, khi chưa biết Pháp, khi chưa biết Tăng, khi chưa biết thiện – ác, thì con do thân miệng ý mà làm năm tội vô gián: là ác tâm làm chảy máu thân Phật, phỉ báng Phật Pháp,  phá Tăng hòa hợp, hại A la hán, hại cha hại mẹ. Con do thân ba (sát sinh, trộm cắp, tà dâm), miệng bốn (nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác), ý ba (tham, sân, si) mà làm mười ác nghiệp, bằng cách tự làm, bảo người làm, thấy người làm mà mừng theo. Đối với người hiền, con phỉ báng ngang ngược, dụng cụ cân lường thì dối trá, cho tà là chánh, đem ẩm thực phẩm xấu mà cho người; đối với cha mẹ nhiều đời ở trong sáu đường thì con tàn hại; đối với tài vật của Tháp, của Tăng bốn phương, của Tăng hiện diện, con trộm cướp, tự do sử dụng; đối với giới pháp và giáo pháp của đức Thế Tôn, con không thích tuân thủ phụng hành, sư trưởng huấn dụ cũng không thuận theo, thấy ai đi theo cỗ xe Thanh Văn, cỗ xe Độc Giác, cỗ xe Đại Thừa, thì con nhục mạ, quấy phá. Thấy ai hơn mình, con liền ganh ghét, pháp thí, tài thí con tiếc lẫn cả, con để vô minh ngăn che, tà kiến mê hoặc, con không tu nhân lành mà lại tăng thêm nhân ác. Con phỉ báng đến cả chư vị Thế Tôn, pháp thì con nói là phi pháp, phi pháp thì con nói là pháp .v.v… Bao nhiêu tội lỗi như vậy, chư vị Thế Tôn đem tuệ giác chân thật, con mắt chân thật, sự chứng minh chân thật, sự bình đẳng chân thật, mà biết hết, thấy hết, nên ngày nay con xin quy mạng kính lạy. Đối trước chư vị Thế Tôn, con không dám che giấu. Tội chưa làm thì con không dám làm, tội đã làm thì con xin sám hối. Những nghiệp chướng đáng sa vào sáu đường tám nạn mà con đã làm, những nghiệp chướng mà hiện con đang làm, con nguyện được tiêu diệt cả. Những báo chướng của những nghiệp chướng ấy, con nguyện vị lai khỏi phải lãnh chịu. Tựa như các vị Đại Bồ Tát quá khứ tu hành Bồ Đề hạnh thì bao nhiêu nghiệp chướng đều đã sám hối, nghiệp chướng của con cũng vậy, ngày nay con xin sám hối cả. Con phát lộ hết, không dám che giấu. Tội đã làm, con nguyện được tiêu diệt, tội chưa làm, con nguyện không dám làm nữa. Tựa như các vị Đại Bồ Tát vị lai tu hành Bồ Đề hạnh thì bao nhiêu nghiệp chướng đều sám hối cả, nghiệp chướng của con cũng vậy, ngày nay con xin sám hối cả. Con phát lộ hết, không dám che giấu. Tội đã làm, con nguyện được tiêu diệt cả, tội chưa làm, con nguyện không dám làm nữa. Tựa như các vị Đại Bồ Tát hiện tại tu hành Bồ Đề hạnh thì bao nhiêu nghiệp chướng đều đã sám hối, nghiệp chướng của con cũng vậy, ngày nay con xin sám hối cả. Con phát lộ hết, không dám che giấu. Tội đã làm, con nguyện được tiêu diệt cả, tội chưa làm, con nguyện không dám làm nữa…”  (1 lạy) (Chỉ người cần sám hối đọc) Ngày hôm nay, con tên…, (thêm pháp danh nếu có)… sắp mâm lễ đơn sơ, của ít lòng nhiều, kính thỉnh chư vị oan gia trái chủ: thân người , thân quỷ,  thân súc sinh… khắp trong sáu nẻo, hoặc ở trong thân, hoặc ở ngoài thân, kiếp này hay kiếp xưa từng bị con gây bao đau khổ, kết mối thâm thù. Xin các vị về đây,  nương nơi Phật lực từ bi, nương câu niệm Phật vi diệu mà thoát khỏi mọi đau đớn, khổ sở, siêu thăng Tịnh Độ hưởng an lạc vĩnh hằng. (1 lạy- lặp lại 3 lần) KHAI THỊ CẦU VÃNG SINH (Tất cả đồng thanh) Kính thưa quý vị, khi còn tại thế, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng dạy trong kinh rằng, từ thế giới này hướng về phương tây quá mười vạn ức cõi nước chư Phật, có một thế giới gọi là Cực Lạc, mà cõi ấy có đức Phật hiệu là A-Di-Đà-Phật và nay ngài đang thuyết pháp tại đó. Cõi thế giới ấy đủ mọi sự đẹp đẽ, lộng lẫy, y phục , ẩm thực ăn uống thượng diệu, vô cùng sung sướng, vui thích, không hề có các thứ đau khổ như đói khát, bệnh hoạn, thương tật, hận thù…Người được sinh về Cực Lạc rồi tuổi thọ vô lượng, nương nơi Phật lực, thẳng tiến tu hành cho đến khi đạt đến Đại Niết Bàn, chứng được Thánh quả. Người muốn được sinh về thế giới ấy chỉ cần đem hết lòng thành, không ngừng  trì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật!” và nguyện được sinh về cõi Tây Phương Cực Lạc. Khi mãn kiếp người, Đức Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật sẽ hóa thân đón về thế giới của Ngài. Thân tôi là người trần mắt thịt, dương số chưa tận, chưa thể nhìn thấy Phật A Di Đà, nhưng quý vị là thân siêu hình, chỉ cần chân thành trì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”  và xin nguyện sinh về Tây Phương Cực Lạc, quý vị sẽ thấy ngay Phật A Di Đà phóng quang đến tiếp độ. Vậy nay xin quý vị cùng tôi, dốc hết lòng thành, xưng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” và phát nguyện Vãng Sinh: “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật! Chúng con xin đem hết căn lành, dốc lòng niệm Phật, nguyện được sinh về cõi Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà ! Xin Phật từ bi phóng quang tiếp dẫn !” (1 lạy) BÀI TÁN LỄ CẦU VÃNG SINH A Di Đà Phật thân sắc vàng, Tướng tốt rực rỡ hào quang sáng ngời, Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển, Mắt trong ngần bốn biển long lanh, Ánh hào quang hóa vô số Phật, Vô số Bồ Tát hiện ở trong, Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh, Chín phẩm sen vàng lên giải thoát, Qui mạng lễ A Di Đà Phật, Ở Phương Tây thế giới an lành Con nay xin phát nguyện vãng sanh, Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ. Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. (1 tiếng chuông)   NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT ! (ít nhất 108 câu) Chú Vãng Sinh NAM  MÔ A DI ĐA BÀ DẠ ÐA THA DÀ ĐA DẠ ÐA ĐỊA DẠ THA. A DI RỊ ĐÔ BÀ TỲ A DI RỊ ĐA TẤT ĐAM BÀ TỲ A DI RỊ ĐA TÌ CA LAN ĐẾ A DI RỊ ĐA, TÌ CA LAN ĐA DÀ DI NỊ DÀ DÀ NA CHỈ ĐA CA LỆ TA BÀ HA. (3 lần) Bổ Khuyết Chân Ngôn ÁN, HÔ LÔ HÔ LÔ, XẢ DUỆ MỤC KHẾ, TÁ HA. (7 lần) Con nguyện hồi hướng công đức này, xin cho các vị oan gia trái chủ của…, được tiêu trừ nghiệp chướng, đều được sinh lên Tây Phương Cực Lạc, nhanh chóng viên thành Đạo Quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, quảng độ chúng sinh. Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tam Bảo! (3 lần)   TAM TỰ QUY Y Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sinh, thể giải đại đạo, phát Vô thượng tâm. Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như hải. Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sinh, thống lý đại-chúng, nhất thiết vô ngại.

NGHI THỨC SÁM HỐI –CẦU SIÊU CHO THAI NHI

*Chuẩn bị : vui lòng xem kĩ lại “Những Điều Cần Lưu Ý Trước Khi Tiến Hành Nghi Thức Cầu Siêu” trang 25. ( Tất cả đồng thanh) Cúi đầu lạy Đức Như Lai Mười phương Pháp giới  không ai sánh bằng. Pháp thân thường trụ vĩnh hằng. Hóa thân vô lượng  nhọc nhằn độ sinh. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! (3 lạy) Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư  A Di Đà Phật! (1 lạy) Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật! (1 lạy) Nam Mô Kim Quang Sư Tử Du Hí Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Đa Bảo Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Ly Bố Úy Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Diệu Sắc Thân Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Quảng Bác Thân Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đương Lai Thế Tôn Di Lặc Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tam Bảo ! (1 lạy) Tịnh Khẩu Nghiệp Chân Ngôn: TU RỊ, TU RỊ, MA HA TU RỊ, TU TU RỊ, TA BÀ HA. (3 lần) Tịnh Tam Nghiệp Chân Ngôn: ÁN TA PHẠ BÀ PHẠ, THUẬT ĐÀ TA PHẠ, ĐẠT MA TA PHẠ, BÀ PHẠ THUẬT ĐỘ HÁM (3 lần) Tốc Tật Thành Tựu Nhất Thế Chân Ngôn ÁN, TRA TRA TRA Ô, TRÍ TRÍ TRÍ TRÍ, TRA Ô, TRA Ô TRA Ô TRA Ô, PHẠ NHỰT RA TÁT ĐÁT PHẠ, NHÃ HỒNG VÃM HỘC HẬT RỊ HẠC HỒNG PHẤN TRA, HỒNG (3 lần)   Phổ Cúng Dường Chân Ngôn: ÁN NGA NGA NÃNG, TAM BÀ PHẠ , PHIỆT NHẬT RA HỒNG. (3 lần) Phổ Triệu Thỉnh Chân Ngôn: NAM MÔ BỘ BỘ ĐẾ LỊ, GIÀ RỊ ĐA LỊ, ĐÁT ĐÁ NGA ĐÁ DA. (3 lần) Phá Địa Ngục Chân Ngôn: ÁN GIÀ LA, ĐẾ GIA SA BÀ HA (3 lần) Giải Oán Kết Chân Ngôn: ÁN TAM ĐÀ LA, GIÀ ĐÀ , SA BÀ HA (3 lần) Diệt Định Nghiệp Chân Ngôn: ÁN BÁT RA MẠT LÂN, ĐÀ NẢNH, TA BÀ HA (3 lần) Tịnh Pháp Giới Chân Ngôn: ÁN LAM TOÁ HA  (3 lần) (Chỉ cha/mẹ thai nhi đọc) Ngày hôm nay, tôi  tên…, (thêm pháp danh nếu có)… sắp mâm lễ đơn sơ, của ít lòng nhiều, xin thỉnh hương linh thai nhi: … (họ tên, ngày/năm bỏ) về dự lễ (1 tiếng chuông) Xin hương linh (các) con về đây, trước nhận mâm lễ mọn và sự ăn năn, sám hối chân thành của cha mẹ , sau là để nương nơi Phật lực từ bi, nương câu kinh tiếng kệ, thoát khỏi mọi đau đớn, khổ sở, siêu thăng Tịnh Độ hưởng an lạc vĩnh hằng. (Tất cả đồng thanh) Tôn Pháp, chư Bồ Tát Thinh Văn và Duyên Giác Cùng các bậc Thánh Hiền Duyên khởi đài sáng chói Khắp xông mười phương cõi Tỏa ngát các chúng sanh Đều phát tâm Bồ Đề Xa lìa các vọng nghiệp Trọn nên Đạo Vô Thượng (1 tiếng chuông, xá 1 xá) Nam Mô Hương Cúng Dường Tiêu Diện Đại Sĩ Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá) Xin quý vị cùng trì tụng: Khai Yết Hầu Chân Ngôn: ÁN, BA BỘ ĐẾ RỊ GIÀ ĐA RỊ ĐÁC ĐA NGA ĐA DA (3 lần) Quán Thế Âm Bồ Tát Diệt Nghiệp Chướng Chân Ngôn: ÁN, A LỔ LẶC KẾ TA BÀ HA (3 lần) Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát! (7 lần) Như Ý Bảo Luân Vương Đà Ra Ni NAM MÔ PHẬT ĐÀ DA, NAM MÔ ÐẠT MA DA, NAM MÔ TĂNG DÀ DA. NAM MÔ QUÁN TỰ TẠI BỒ TÁT MA HA TÁT, CỤ ĐẠI BI TÂM GIẢ. ÐÁT ĐIỆT THA. ÁN, CHƯỚC YẾT RA PHẠT ĐỂ, CHẤN ĐA MẠC NI, MA HA BÁT ĐẮNG MẾ. RÔ RÔ RÔ RÔ, ĐỂ SẮC TRA THƯỚC RA A YẾT LỴ, SA DẠ HỒNG, PHẤN TÓA HA. ÁN, BÁT ĐẠT MA, CHẤN ĐA MẠC NI, THƯỚC RA HỒNG. ÁN, BÁT LẬT ĐÀ. BÁT ĐẲNG MÊ HỒNG.  (3 lần) Kính lạy Đấng Đại Từ Đại Bi- Quán Thế Âm Bồ Tát, xin nương nhờ nơi công đức  của Đà Ra Ni này, xin nương nhờ Phật lực vô biên gia hộ, tùy tâm biến hiện theo sở thích của các hương linh thai nhi đây, biến các phẩm vật này theo đúng như  ý muốn, nhiều đến vô lượng, đầy đủ không thiếu chi. Biến Thực Chân Ngôn NAM MÔ TÁT PHẠ ĐÁC THA NGA ĐA, PHẠ LỒ CHỈ ĐẾ. ÁN, TAM BẠT RA, TAM BẠT RA HỒNG. (7 lần) Cam Lồ Thủy Chân Ngôn NAM MÔ TÔ RÔ BÀ DA, ĐÁT THA NGA ĐA DA, ĐÁT ĐIỆT THA. ÁN, TÔ RÔ TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, TA BÀ HA. SÁM HỐI VƠI HƯƠNG LINH THAI NHI (Chỉ cha/ mẹ thai nhi sám hối, nếu chỉ cầu siêu cho một thai nhi, có thể bỏ những từ “các” trong dấu ngoặc) (Các) con thương mến! Cha (mẹ) là kẻ có lỗi với (các)  con, vì sự bồng bột, ngu si đã khiến (các) con không được sinh ra làm người như bao đứa trẻ khác. Cha (mẹ) thật lòng rất ân hận, day dứt khi không làm tròn bổn phận sinh thành, cho (các) con được cơ hội làm người , tất cả là do sự ngu muội, nhẫn tâm của kẻ làm cha (làm mẹ) này, cũng là do phước duyên của cha (mẹ) với (các) con không đủ. Nay mọi sự đã đành, phải rời xa (các) con cha (mẹ) chỉ còn biết thành tâm ăn năn sám hối tất cả tội lỗi, tội chướng kiếp này, và cả kiếp xưa cho dù là hữu ý hay vô ý, cho dù là tư tưởng hay hành động mà cha (mẹ) đã tạo những ác nghiệp với (các) con, khiến (các) con phải chịu nhiều thống khổ, đau đớn. Cha (mẹ) xin thành tâm, đối trước Tam Bảo thiêng liêng, dập đầu tạ tội với (các) con.  (1 lạy) Cha (mẹ) nguyện (các) con hiểu được tấm lòng của cha (mẹ) và nguyện (các) con buông bỏ mọi oán thù, duyên nợ với cõi trần này, cùng cha (mẹ) nhiếp tâm niệm Phật, nguyện cho (các) con vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Nay (các) con đã bước sang thế giới siêu hình, nếu (các) con tiếp tục ở lại trong cõi u minh ấy, sẽ có biết bao nhiêu đau khổ, nguy hiểm rình rập (các) con. Hoặc bị đói khát dày vò, bị cô đơn lạnh lẽo, phiêu dạt, vất vưởng chẳng biết phải về đâu. Hoặc bị những ma quỷ hung dữ hành hạ đánh đập, uống máu ăn thịt, hoặc bị tà sư bắt nhốt tra tấn, luyện bùa chấn yểm, đau đớn vô cùng. Dù được chuyển sinh kiếp khác, thì luân hồi cũng đầy những nỗi khổ, đầy những sinh, già, bệnh, chết, hoặc yêu thích mà phải xa lìa, hay ghét bỏ mà phải hứng chịu, hoặc cầu mong mà không toại nguyện, hoặc thân tâm ngũ ấm đòi hỏi, bức bách mà khổ. Tám thứ khổ ấy cứ luân phiên dày vò chúng ta không ngừng nghỉ, khi thì kiếp người, khi qua kiếp thú, khi trong địa ngục, khi làm ngạ quỷ, ngay cả khi làm thần tiên, chư Thiên, phước hết rồi cũng phải trở lại các ác đạo, tiếp tục chuỗi đau khổ bất tận, cho đến nay cũng đã vô số kiếp rồi. Chung quy cũng chỉ vì ta cứ mãi luyến ái, bám chấp vào các hình tướng ảo giả của thế gian, nhưng chúng đâu thể trường tồn mãi. Bao nhiêu thứ thân xác, ái luyến, quyền thế, danh tiếng, hay mọi trò vui khác … thoáng chốc thời gian vụt đến cướp đi hết, chẳng có gì níu giữ được cả, vì bản chất của chúng là vô thường, là không thể tồn tại mãi. Bao nhiêu vương vấn thế gian chỉ khiến (các) con nặng nề, khổ sở, trói buộc không thể siêu thoát lên hưởng an lành trên các cõi tiên, cõi Thánh. Xin hương linh (các) con hãy buông bỏ những thứ mong manh, huyễn hóa ấy đi, để lo tìm một con đường siêu thoát cho chính mình, vĩnh viễn thoát khỏi mọi sự dày vò, đầy đọa của luân hồi sinh tử này ! Nếu vì nghiệp lực chi phối, khiến (các) con khổ đau nhiều cách chẳng tự thoát ra được , nay xin (các) con cùng thành tâm đọc tụng thần chú Đại Bi của Quán Thế Âm Bồ Tát, có công năng tiêu trừ nghiệp chướng, khiến thân tâm an lạc, thư thái, xa lìa sự đau khổ. Nay Cha (mẹ) xin mạn phép ( thỉnh đại chúng) tụng kinh niệm Phật, hồi hướng công đức cầu cho (các) con được tiêu trừ nghiệp chướng, buông bỏ hiềm hận, thân tâm an lạc, tăng trưởng Bồ Đề tâm, nương nhờ Phật lực mà được siêu sinh Tịnh Độ, vĩnh viễn thoát khỏi mọi cảnh khổ của thế gian này. Vậy xin (các) con, cùng đại chúng đồng thanh đọc tụng thần chú Đại Bi của Quán Thế Âm Bồ Tát, có công năng tiêu trừ nghiệp chướng, khiến thân tâm an lạc, thư thái, xa lìa mọi sự đau khổ. (Tất cả đồng thanh) Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau biết tất cả pháp. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được mắt trí huệ. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau độ các chúng sanh, Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được phương tiện khéo. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau lên thuyền bát nhã. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được qua biển khổ, Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau được đạo giới định. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm lên non Niết Bàn. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau về nhà vô vi. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm đồng thân pháp tánh. Nếu con hướng về nơi non đao, non đao tức thời liền sụp đổ. Nếu con hướng về lửa, nước sôi, nước sôi, lửa cháy tự khô tắt. Nếu con hướng về cõi địa ngục, địa ngục liền mau tự tiêu diệt, Nếu con hướng về loài ngạ quỷ. Ngạ quỷ liền được tự no đủ, Nếu con hướng về chúng Tu La, Tu la tâm ác tự điều phục, Nếu con hướng về các súc sanh, súc sanh tự được trí huệ lớn. Nếu con hướng về các nhân loại Nhân loại liền khai phát tâm Bồ Đề Nếu con hướng về chúng thiên nhân Thiên nhân xả dục siêng tu Phật. Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát! (7 lần) Nam Mô A Di Đà Phật! (7 lần) ******************* Nam-mô Ðại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần) THIÊN THỦ THIÊN NHÃN VÔ NGẠI ĐẠI BI TÂM ĐÀ RA NI NAM-MÔ HẮC RA ĐÁT NA, ĐA RA DẠ DA. NAM-MÔ A RỊ DA, BÀ LÔ YẾT ĐẾ, THƯỚC BÁT RA DA, BỒ-ĐỀ TÁT ĐỎA BÀ DA, MA HA TÁT ĐỎA BÀ DA, MA HA CA LÔ NI CA DA. ÁN, TÁT BÀN RA PHẠT DUỆ SỐ ĐÁT NA ĐÁT TỎA. NAM-MÔ TẤT KIẾT LẬT ĐỎA Y MÔNG A RỊ DA, BÀ LÔ KIẾT ĐẾ THẤT PHẬT RA LĂNG ĐÀ BÀ. NAM-MÔ NA RA CẨN TRÌ HÊ RỊ MA HA BÀN ĐA SA MẾ, TÁT BÀ A THA ĐẬU DU BẰNG, A THỆ DỰNG, TÁT BÀ TÁT ĐA. NA MA BÀ TÁT ĐA ,NA MA BÀ GIÀ, MA PHẠT ĐẠT ĐẬU, ĐÁT ĐIỆT THA. ÁN A BÀ LÔ HÊ, LÔ CA ĐẾ, CA RA ĐẾ, DI HÊ RỊ, MA HA BỒ-ĐỀ TÁT ĐỎA, TÁT BÀ TÁT BÀ, MA RA MA RA, MA HÊ MA HÊ, RỊ ĐÀ DỰNG, CU LÔ CU LÔ KIẾT MÔNG, ĐỘ LÔ ĐỘ LÔ, PHẠT XÀ DA ĐẾ, MA HA PHẠT XÀ DA ĐẾ, ĐÀ RA ĐÀ RA, ĐỊA RỊ NI, THẤT PHẬT RA DA, DÁ RA DÁ RA. MẠ MẠ PHẠT MA RA, MỤC ĐẾ LỆ, Y HÊ Y HÊ, THẤT NA THẤT NA. A RA SÂM PHẬT RA XÁ-LỢI, PHẠT SA PHẠT SÂM, PHẬT RA XÁ DA. HÔ LÔ HÔ LÔ MA RA, HÔ LÔ HÔ LÔ HÊ RỊ, TA RA TA RA, TẤT RỊ TẤT RỊ, TÔ RÔ TÔ RÔ, BỒ-ĐỀ DẠ, BỒ-ĐỀ DẠ, BỒ-ĐÀ DẠ, BỒ-ĐÀ DẠ, DI ĐẾ RỊ DẠ, NA RA CẨN TRÌ ĐỊA RỊ SẮC NI NA, BA DẠ MA NA, TA BÀ HA. TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. MA HA TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. TẤT ĐÀ DU NGHỆ THẤT BÀN RA DẠ, TA BÀ HA. NA RA CẨN TRÌ, TA BÀ HA. MA RA NA RA, TA BÀ HA. TẤT RA TĂNG A MỤC KHÊ DA, TA BÀ HA. TA BÀ MA HA, A TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. GIẢ KIẾT RA A TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. BA ĐÀ MA KIẾT TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. NA RA CẨN TRÌ BÀN ĐÀ RA DẠ, TA BÀ HA. MA BÀ RỊ THẮNG YẾT RA DẠ, TA BÀ HA. NAM-MÔ HẮC RA ĐÁT NA, ĐA RA DẠ DA. NAM-MÔ A RỊ DA, BÀ LÔ YẾT ĐẾ, THƯỚC BÀN RA DẠ, TA BÀ HA. ÁN TẤT ĐIỆN ĐÔ, MẠN ĐA RA, BẠT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. (3 lần) Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát! (Đọc chú Đại Bi ít nhất 7 lần, hoặc 21, 49… lần hoặc nhiều hơn tùy tâm) Con nguyện hồi hướng công đức trì tụng Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni này đến (các) hương linh thai nhi tên …, nguyện nhờ công đức này, (các) hương linh  ấy được tiêu trừ nghiệp chướng, thân tâm được an lạc, lòng tin kính Tam Bảo tăng trưởng vô tận, buông bỏ mọi chấp trước, dốc lòng trì niệm Nam Mô A Di Đà Phật mà được vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc. SÁM HỐI PHỔ QUÁT (Trích kinh Kim Quang Minh, phẩm Diệt Trừ Nghiệp Chướng – Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ bày phương thức sám hối) “…Con xin quy mạng kính lạy chư vị Thế Tôn hiện tại mười phương, những đấng đã chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề, chuyển đẩy bánh xe chánh pháp nhiệm mầu, bánh xe chánh  pháp chói sáng, mưa nước Pháp vĩ Đại, gióng trống Pháp vĩ Đại, thổi loa Pháp vĩ Đại, dựng cờ Pháp vĩ Đại, cầm đuốc Pháp vĩ Đại, vì lợi ích yên vui cho chúng sinh mà thường thực thi pháp thí, dạy dỗ cho những kẻ mê mờ bước tới, làm cho họ được quả báo vĩ đại, thường lạc. Chư vị Thế Tôn như vậy, con xin đem cả thân miệng ý mà cúi đầu quy mạng kính lạy. Chư vị Thế Tôn như vậy đem tuệ giác chân thật, con mắt chân thật, sự chứng minh chân thật, sự bình đẳng chân thật, mà biết hết, thấy hết thiện nghiệp, ác nghiệp của chúng sinh. Từ vô thủy đến giờ, con xuôi theo dòng nước tội ác mà cùng chúng sinh tạo ra nghiệp chướng, bị tham sân si buộc chặt. Khi chưa biết Phật, khi chưa biết Pháp, khi chưa biết Tăng, khi chưa biết thiện – ác, thì con do thân miệng ý mà làm năm tội vô gián: là ác tâm làm chảy máu thân Phật, phỉ báng Phật Pháp, phá Tăng hòa hợp, hại A la hán, hại cha hại mẹ. Con do thân ba (sát sinh, trộm cắp, tà dâm), miệng bốn (nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác), ý ba (tham, sân, si) mà làm mười ác nghiệp, bằng cách tự làm, bảo người làm, thấy người làm mà mừng theo. Đối với người hiền, con phỉ báng ngang ngược, dụng cụ cân lường thì dối trá, cho tà là chánh, đem ẩm thực phẩm xấu mà cho người; đối với cha mẹ nhiều đời ở trong sáu đường thì con tàn hại; đối với tài vật của Tháp, của Tăng bốn phương, của Tăng hiện diện, con trộm cướp, tự do sử dụng; đối với giới pháp và giáo pháp của đức Thế Tôn, con không thích tuân thủ phụng hành, sư trưởng huấn dụ cũng không thuận theo, thấy ai đi theo cỗ xe Thanh Văn, cỗ xe Độc Giác, cỗ xe Đại Thừa, thì con nhục mạ, quấy phá. Thấy ai hơn mình, con liền ganh ghét, pháp thí, tài thí con tiếc lẫn cả, con để vô minh ngăn che, tà kiến mê hoặc, con không tu nhân lành mà lại tăng thêm nhân ác. Con phỉ báng đến cả chư vị Thế Tôn, pháp thì con nói là phi pháp, phi pháp thì con nói là pháp .v.v… Bao nhiêu tội lỗi như vậy, chư vị Thế Tôn đem tuệ giác chân thật, con mắt chân thật, sự chứng minh chân thật, sự bình đẳng chân thật, mà biết hết, thấy hết, nên ngày nay con xin quy mạng kính lạy. Đối trước chư vị Thế Tôn, con không dám che giấu. Tội chưa làm thì con không dám làm, tội đã làm thì con xin sám hối. Những nghiệp chướng đáng sa vào sáu đường tám nạn mà con đã làm, những nghiệp chướng mà hiện con đang làm, con nguyện được tiêu diệt cả. Những báo chướng của những nghiệp chướng ấy, con nguyện vị lai khỏi phải lãnh chịu. Tựa như các vị Đại Bồ Tát quá khứ tu hành Bồ Đề hạnh thì bao nhiêu nghiệp chướng đều đã sám hối, nghiệp chướng của con cũng vậy, ngày nay con xin sám hối cả. Con phát lộ hết, không dám che giấu. Tội đã làm, con nguyện được tiêu diệt, tội chưa làm, con nguyện không dám làm nữa. Tựa như các vị Đại Bồ Tát vị lai tu hành Bồ Đề hạnh thì bao nhiêu nghiệp chướng đều sám hối cả, nghiệp chướng của con cũng vậy, ngày nay con xin sám hối cả. Con phát lộ hết, không dám che giấu. Tội đã làm, con nguyện được tiêu diệt cả, tội chưa làm, con nguyện không dám làm nữa. Tựa như các vị Đại Bồ Tát hiện tại tu hành Bồ Đề hạnh thì bao nhiêu nghiệp chướng đều đã sám hối, nghiệp chướng của con cũng vậy, ngày nay con xin sám hối cả. Con phát lộ hết, không dám che giấu. Tội đã làm, con nguyện được tiêu diệt cả, tội chưa làm, con nguyện không dám làm nữa…” (1 lạy)   KHAI THỊ CẦU VÃNG SINH (Các) con thương mến, giờ phút này mong (các) con hãy lắng lòng tập trung, nghe lời khai thị quan trọng này mà tìm thấy được con đường dẫn đến chốn an vui, sung sướng vượt xa mọi trò vui mà (các) con từng biết . Khi còn tại thế, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng dạy trong kinh rằng, từ thế giới này hướng về phương tây quá mười vạn ức cõi nước chư Phật, có một thế giới gọi là Cực Lạc, mà cõi ấy có đức Phật hiệu là A-Di-Đà-Phật và nay ngài đang giáo hóa tại đó. Cõi thế giới ấy đủ mọi sự đẹp đẽ, lộng lẫy, y phục,  ẩm thực ăn uống thượng diệu, vô cùng sung sướng, vui thích. Ở nơi cõi Cực Lạc ấy cảnh vật tùy tâm biến hóa, (các) con có thể thỏa sức vui chơi, nghĩ đến gì liện ra thứ đó, chẳng bao giờ biết chán. Ở nơi cõi Cực Lạc ấy không hề có các thứ đau khổ như đói khát, bệnh hoạn, thương tật, hận thù. Lại có đức Phật A Di Đà , Quán Thế Âm Bồ Tát và vô số Bồ Tát khác hết mực thương yêu (các) con, chăm sóc cho (các) con còn hơn cha mẹ… (Các) con được đến cõi Cực Lạc rồi thi tuổi thọ vô lượng, nương nơi Phật lực, thẳng tiến tu hành cho đến khi đạt đến Đại Niết Bàn, chứng được Thánh quả, hưởng an lạc vĩnh hằng. (Các) Con muốn được đến thế giới ấy chỉ cần đem hết lòng thành, cùng cha mẹ và mọi người  trì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật !” và nguyện được theo Phật A Di Đà đến cõi Tây Phương Cực Lạc, Đức Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật sẽ hóa thân đón (các) con đến thế giới của Ngài, khi con muốn quay lại thăm cha mẹ, tùy thời (các) con vẫn có thể nương thần lực của Phật quay về. Mẹ (cha) và mọi người là người trần mắt thịt, dương số chưa tận, chưa thể nhìn thấy Phật A Di Đà, nhưng hương linh (các)  con là thân siêu hình, chỉ cần chân thành trì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” và xin được theo Ngài về Tây Phương Cực Lạc, (các)  con sẽ thấy ngay Phật A Di Đà phóng quang đến tiếp độ. Vậy nay xin hương linh (các) con (cùng đại chúng) dốc hết lòng thành, xưng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” và phát nguyện Vãng Sinh: “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật! Chúng con xin đem hết căn lành, dốc lòng niệm Phật, nguyện được sinh về cõi Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà ! Xin Phật từ bi phóng quang tiếp dẫn !” (1 lạy) BÀI TÁN LỄ CẦU VÃNG SINH A Di Đà Phật thân sắc vàng, Tướng tốt rực rỡ hào quang sáng ngời, Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển, Mắt trong ngần bốn biển long lanh, Ánh hào quang hóa vô số Phật, Vô số Bồ Tát hiện ở trong, Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh, Chín phẩm sen vàng lên giải thoát, Qui mạng lễ A Di Đà Phật, Ở Phương Tây thế giới an lành Con nay xin phát nguyện vãng sanh, Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ. Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. (1 tiếng chuông)   NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT ! (ít nhất 108 câu) Chú Vãng Sinh NAM  MÔ A DI ĐA BÀ DẠ ÐA THA DÀ ĐA DẠ ÐA ĐỊA DẠ THA. A DI RỊ ĐÔ BÀ TỲ A DI RỊ ĐA TẤT ĐAM BÀ TỲ A DI RỊ ĐA TÌ CA LAN ĐẾ A DI RỊ ĐA, TÌ CA LAN ĐA DÀ DI NỊ DÀ DÀ NA CHỈ ĐA CA LỆ TA BÀ HA. (3 lần) Bổ Khuyết Chân Ngôn ÁN, HÔ LÔ HÔ LÔ, XẢ DUỆ MỤC KHẾ, TÁ HA. (7 lần) Con nguyện hồi hướng công đức này, xin cho các hương linh thai nhi đây mau tiêu trừ nghiệp chướng, đều được sinh lên Tây Phương Cực Lạc, nhanh chóng viên thành Đạo Quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, quảng độ chúng sinh. Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tam Bảo! (3 lần) TAM TỰ QUY Y Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sinh, thể giải đại đạo, phát Vô thượng tâm. Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như hải. Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sinh, thống lý đại-chúng, nhất thiết vô ngại.

NGHI THỨC CẦU SIÊU GIA TIÊN – CHÚNG SINH

*Chuẩn bị : vui lòng xem kỹ lại “Những Điều Cần Lưu Ý Trước Khi Tiến Hành Nghi Thức Cầu Siêu” trang 25. ( Tất cả đồng thanh) Cúi đầu lạy Đức Như Lai Mười phương Pháp giới  không ai sánh bằng. Pháp thân thường trụ vĩnh hằng. Hóa thân vô lượng  nhọc nhằn độ sinh. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! (3 lạy) Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư  A Di Đà Phật! (1 lạy) Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật! (1 lạy) Nam Mô Kim Quang Sư Tử Du Hí Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Đa Bảo Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Ly Bố Úy Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Diệu Sắc Thân Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Quảng Bác Thân Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đương Lai Thế Tôn Di Lặc Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tam Bảo ! (1 lạy) Tịnh Khẩu Nghiệp Chân Ngôn: TU RỊ, TU RỊ, MA HA TU RỊ, TU TU RỊ, TA BÀ HA. (3 lần) Tịnh Tam Nghiệp Chân Ngôn: ÁN TA PHẠ BÀ PHẠ, THUẬT ĐÀ TA PHẠ, ĐẠT MA TA PHẠ, BÀ PHẠ THUẬT ĐỘ HÁM (3 lần) Tốc Tật Thành Tựu Nhất Thế Chân Ngôn ÁN, TRA TRA TRA Ô, TRÍ TRÍ TRÍ TRÍ, TRA Ô, TRA Ô TRA Ô TRA Ô, PHẠ NHỰT RA TÁT ĐÁT PHẠ, NHÃ HỒNG VÃM HỘC HẬT RỊ HẠC HỒNG PHẤN TRA, HỒNG (3 lần)   Phổ Cúng Dường Chân Ngôn: ÁN NGA NGA NÃNG, TAM BÀ PHẠ , PHIỆT NHẬT RA HỒNG. (3 lần) Phổ Triệu Thỉnh Chân Ngôn: NAM MÔ BỘ BỘ ĐẾ LỊ, GIÀ RỊ ĐA LỊ, ĐÁT ĐÁ NGA ĐÁ DA. (3 lần) Phá Địa Ngục Chân Ngôn: ÁN GIÀ LA, ĐẾ GIA SA BÀ HA (3 lần) Giải Oán Kết Chân Ngôn: ÁN TAM ĐÀ LA, GIÀ ĐÀ , SA BÀ HA (3 lần) Diệt Định Nghiệp Chân Ngôn: ÁN BÁT RA MẠT LÂN, ĐÀ NẢNH, TA BÀ HA (3 lần) Tịnh Pháp Giới Chân Ngôn: ÁN LAM TOÁ HA  (3 lần) THỈNH MỜI (Người chủ lễ có thể đọc thỉnh mời như dưới đây để cầu siêu khắp hết mọi loại vong linh, hoặc tùy ý thay đổi, chỉ thỉnh mời một vong linh, hay một số vong linh nhất định tùy hoàn cảnh, cụ thể xem lại trang 96-97) Xin cung thỉnh chư vị Thiên – long bát bộ, hương linh quỷ thần khắp mười phương! (1 tiếng chuông) Xin cung thỉnh chư vị cửu huyền thất tổ, các hương linh khắp dòng tộc nội ngoại ! (1 tiếng chuông) Xin cung thỉnh chư vị oan gia trái chủ, kiếp này hay kiếp xưa từng bị con gây bao đau khổ, kết mối thâm thù! (1 tiếng chuông) *************** Thỉnh mời … ( chư vị) về đây, trước hưởng đàn thí thực, sau dự lễ cầu siêu, nương nhờ Phật lực, nương nhờ Kinh Pháp mà được siêu thăng Tịnh Độ. (lặp lại 3 lần) NGHI THỨC CÚNG THÍ THỰC (Tất cả đồng thanh) Tôn Pháp, chư Bồ Tát Thinh Văn và Duyên Giác Cùng các bậc Thánh Hiền Duyên khởi đài sáng chói Khắp xông mười phương cõi Tỏa ngát các chúng sanh Đều phát tâm Bồ Đề Xa lìa các vọng nghiệp Trọn nên Đạo Vô Thượng (1 tiếng chuông, xá 1 xá) Nam Mô Hương Cúng Dường Tiêu Diện Đại Sĩ Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá) Xin quý vị cùng trì tụng: Khai Yết Hầu Chân Ngôn: ÁN, BA BỘ ĐẾ RỊ GIÀ ĐA RỊ ĐÁC ĐA NGA ĐA DA (3 lần) Quán Thế Âm Bồ Tát Diệt Nghiệp Chướng Chân Ngôn: ÁN, A LỔ LẶC KẾ TA BÀ HA (3 lần) Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát! (7 lần) Như Ý Bảo Luân Vương Đà Ra Ni NAM MÔ PHẬT ĐÀ DA, NAM MÔ ÐẠT MA DA, NAM MÔ TĂNG DÀ DA. NAM MÔ QUÁN TỰ TẠI BỒ TÁT MA HA TÁT, CỤ ĐẠI BI TÂM GIẢ. ÐÁT ĐIỆT THA. ÁN, CHƯỚC YẾT RA PHẠT ĐỂ, CHẤN ĐA MẠC NI, MA HA BÁT ĐẮNG MẾ. RÔ RÔ RÔ RÔ, ĐỂ SẮC TRA THƯỚC RA A YẾT LỴ, SA DẠ HỒNG, PHẤN TÓA HA. ÁN, BÁT ĐẠT MA, CHẤN ĐA MẠC NI, THƯỚC RA HỒNG. ÁN, BÁT LẬT ĐÀ. BÁT ĐẲNG MÊ HỒNG.  (3 lần) Kính lạy Đấng Đại Từ Đại Bi- Quán Thế Âm Bồ Tát, xin nương nhờ nơi công đức  của Đà Ra Ni này, xin nương nhờ Phật lực vô biên gia hộ, tùy tâm biến hiện theo sở thích của các vị trong Pháp hội đây, biến các phẩm vật này theo đúng ý từng vị, đầy đủ không thiếu chi. Biến Thực Chân Ngôn NAM MÔ TÁT PHẠ ĐÁC THA NGA ĐA, PHẠ LỒ CHỈ ĐẾ. ÁN, TAM BẠT RA, TAM BẠT RA HỒNG. (7 lần) Cam Lồ Thủy Chân Ngôn NAM MÔ TÔ RÔ BÀ DA, ĐÁT THA NGA ĐA DA, ĐÁT ĐIỆT THA. ÁN, TÔ RÔ TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, TA BÀ HA. CẦU SIÊU Kính thưa … (quý vị) đang hiện hữu trong Pháp hội đây ! Thế giới chúng ta đang sống đây bản chất là đau khổ, đầy những sinh, già, bệnh, chết, hoặc yêu thích mà phải xa lìa, hay ghét bỏ mà phải hứng chịu, hoặc cầu mong mà không toại nguyện, hoặc thân tâm ngũ ấm đòi hỏi, bức bách mà khổ. Tám thứ khổ ấy cứ luân phiên dày vò chúng ta không ngừng nghỉ, khi thì kiếp người, khi qua kiếp thú, khi trong địa ngục, khi làm ngạ quỷ, ngay cả khi làm thần tiên, chư Thiên, phước hết rồi cũng phải trở lại các ác đạo, tiếp tục chuỗi đau khổ bất tận, cho đến nay cũng đã vô số kiếp rồi. Chung quy cũng chỉ vì ta cứ mãi luyến ái, bám chấp vào các hình tướng ảo giả của thế gian, nhưng chúng đâu thể trường tồn mãi. Bao nhiêu thứ thân xác, tài sản, vợ chồng, con cái, quyền thế, danh tiếng… thoáng chốc thời gian vụt đến cướp đi hết, chẳng có gì níu giữ được cả, vì bản chất của chúng là vô thường, là không thể tồn tại mãi. Ai rồi cũng phải giã từ trần thế, khi đã qua bên kia thế giới rồi,  ta đâu còn mang theo được gì ? Tài sản thì thất tán, quyền thế thì không còn. Thân thể thì dần hoại mục tan vào đất. Thân quyến thì dần đưa ta vào quên lãng. Tất cả đều phải tan biến, tất cả đều không thể níu giữ, đó là quy luật không thể khác. Bao nhiêu vương vấn thế gian chỉ khiến quý vị nặng nề, trói buộc quý vị không thể siêu thoát lên hưởng an lành trên các cõi tiên, cõi Thánh. Bao nhiêu hận thù, oán chấp chỉ khiến quý vị thêm sự dày vò, khổ sở, bức bách. Xin quý vị hãy buông bỏ những thứ mong manh, huyễn hóa ấy đi, để lo tìm một con đường siêu thoát cho chính mình, vĩnh viễn thoát khỏi mọi sự dày vò, đầy đọa của luân hồi sinh tử này! Nếu vì nghiệp lực chi phối, khiến quý vị khổ đau nhiều cách chẳng tự thoát ra được , nay xin quý vị cùng thành tâm đọc tụng thần chú Đại Bi của Quán Thế Âm Bồ Tát, có công năng tiêu trừ nghiệp chướng, khiến thân tâm an lạc, thư thái, xa lìa sự đau khổ.   Xin quý vị đồng tụng theo : Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau biết tất cả pháp. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được mắt trí huệ. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau độ các chúng sanh, Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được phương tiện khéo. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau lên thuyền bát nhã. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được qua biển khổ, Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau được đạo giới định. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm lên non Niết Bàn. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau về nhà vô vi. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm đồng thân pháp tánh. Nếu con hướng về nơi non đao, non đao tức thời liền sụp đổ. Nếu con hướng về lửa, nước sôi, nước sôi, lửa cháy tự khô tắt. Nếu con hướng về cõi địa ngục, địa ngục liền mau tự tiêu diệt, Nếu con hướng về loài ngạ quỷ. Ngạ quỷ liền được tự no đủ, Nếu con hướng về chúng Tu La, Tu la tâm ác tự điều phục, Nếu con hướng về các súc sanh, súc sanh tự được trí huệ lớn. Nếu con hướng về các nhân loại Nhân loại liền khai phát tâm Bồ Đề Nếu con hướng về chúng thiên nhân Thiên nhân xả dục siêng tu Phật. Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát! (7 lần) Nam Mô A Di Đà Phật! (7 lần) ******************* Nam-mô Ðại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần) THIÊN THỦ THIÊN NHÃN VÔ NGẠI ĐẠI BI TÂM ĐÀ RA NI NAM-MÔ HẮC RA ĐÁT NA, ĐA RA DẠ DA. NAM-MÔ A RỊ DA, BÀ LÔ YẾT ĐẾ, THƯỚC BÁT RA DA, BỒ-ĐỀ TÁT ĐỎA BÀ DA, MA HA TÁT ĐỎA BÀ DA, MA HA CA LÔ NI CA DA. ÁN, TÁT BÀN RA PHẠT DUỆ SỐ ĐÁT NA ĐÁT TỎA. NAM-MÔ TẤT KIẾT LẬT ĐỎA Y MÔNG A RỊ DA, BÀ LÔ KIẾT ĐẾ THẤT PHẬT RA LĂNG ĐÀ BÀ. NAM-MÔ NA RA CẨN TRÌ HÊ RỊ MA HA BÀN ĐA SA MẾ, TÁT BÀ A THA ĐẬU DU BẰNG, A THỆ DỰNG, TÁT BÀ TÁT ĐA. NA MA BÀ TÁT ĐA ,NA MA BÀ GIÀ, MA PHẠT ĐẠT ĐẬU, ĐÁT ĐIỆT THA. ÁN A BÀ LÔ HÊ, LÔ CA ĐẾ, CA RA ĐẾ, DI HÊ RỊ, MA HA BỒ-ĐỀ TÁT ĐỎA, TÁT BÀ TÁT BÀ, MA RA MA RA, MA HÊ MA HÊ, RỊ ĐÀ DỰNG, CU LÔ CU LÔ KIẾT MÔNG, ĐỘ LÔ ĐỘ LÔ, PHẠT XÀ DA ĐẾ, MA HA PHẠT XÀ DA ĐẾ, ĐÀ RA ĐÀ RA, ĐỊA RỊ NI, THẤT PHẬT RA DA, DÁ RA DÁ RA. MẠ MẠ PHẠT MA RA, MỤC ĐẾ LỆ, Y HÊ Y HÊ, THẤT NA THẤT NA. A RA SÂM PHẬT RA XÁ-LỢI, PHẠT SA PHẠT SÂM, PHẬT RA XÁ DA. HÔ LÔ HÔ LÔ MA RA, HÔ LÔ HÔ LÔ HÊ RỊ, TA RA TA RA, TẤT RỊ TẤT RỊ, TÔ RÔ TÔ RÔ, BỒ-ĐỀ DẠ, BỒ-ĐỀ DẠ, BỒ-ĐÀ DẠ, BỒ-ĐÀ DẠ, DI ĐẾ RỊ DẠ, NA RA CẨN TRÌ ĐỊA RỊ SẮC NI NA, BA DẠ MA NA, TA BÀ HA. TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. MA HA TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. TẤT ĐÀ DU NGHỆ THẤT BÀN RA DẠ, TA BÀ HA. NA RA CẨN TRÌ, TA BÀ HA. MA RA NA RA, TA BÀ HA. TẤT RA TĂNG A MỤC KHÊ DA, TA BÀ HA. TA BÀ MA HA, A TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. GIẢ KIẾT RA A TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. BA ĐÀ MA KIẾT TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. NA RA CẨN TRÌ BÀN ĐÀ RA DẠ, TA BÀ HA. MA BÀ RỊ THẮNG YẾT RA DẠ, TA BÀ HA. NAM-MÔ HẮC RA ĐÁT NA, ĐA RA DẠ DA. NAM-MÔ A RỊ DA, BÀ LÔ YẾT ĐẾ, THƯỚC BÀN RA DẠ, TA BÀ HA. ÁN TẤT ĐIỆN ĐÔ, MẠN ĐA RA, BẠT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. (3 lần) Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát! (Đọc chú Đại Bi ít nhất 7 lần, hoặc 21, 49… lần hoặc nhiều hơn tùy tâm) Con nguyện hồi hướng công đức trì tụng Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni này đến … (các vị) trong vô hình đã về trong pháp hội đây, nguyện nhờ công đức này, (các vị) ấy được tiêu trừ nghiệp chướng, thân tâm được an lạc, lòng tin kính Tam Bảo tăng trưởng vô tận, buông bỏ mọi chấp trước, dốc lòng trì niệm Nam Mô A Di Đà Phật mà được vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc. KHAI THỊ CẦU VÃNG SINH Kính thưa quý vị, khi còn tại thế, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng dạy trong kinh rằng, từ thế giới này hướng về phương tây quá mười vạn ức cõi nước chư Phật, có một thế giới gọi là Cực Lạc, mà cõi ấy có đức Phật hiệu là A-Di-Đà-Phật và nay ngài đang thuyết pháp tại đó. Cõi thế giới ấy đủ mọi sự đẹp đẽ, lộng lẫy, y phục , ẩm thực ăn uống thượng diệu, vô cùng sung sướng, vui thích, không hề có các thứ đau khổ như đói khát, bệnh hoạn, thương tật, hận thù…Người được sinh về Cực Lạc rồi tuổi thọ vô lượng, nương nơi Phật lực, thẳng tiến tu hành cho đến khi đạt đến Đại Niết Bàn, chứng được Thánh quả. Người muốn được sinh về thế giới ấy chỉ cần đem hết lòng thành, không ngừng  trì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật !” và nguyện được sinh về cõi Tây Phương Cực Lạc. Khi mãn kiếp người, Đức Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật sẽ hóa thân đón về thế giới của Ngài. Thân tôi là người trần mắt thịt, dương số chưa tận, chưa thể nhìn thấy Phật A Di Đà, nhưng quý vị là thân siêu hình, chỉ cần chân thành trì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”  và xin nguyện sinh về Tây Phương Cực Lạc, quý vị sẽ thấy ngay Phật A Di Đà phóng quang đến tiếp độ. Vậy nay xin quý vị cùng tôi, dốc hết lòng thành, xưng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” và phát nguyện Vãng Sinh: “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật! Chúng con xin đem hết căn lành, dốc lòng niệm Phật, nguyện được sinh về cõi Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà ! Xin Phật từ bi phóng quang tiếp dẫn !” (1 lạy) BÀI TÁN LỄ CẦU VÃNG SINH A Di Đà Phật thân sắc vàng, Tướng tốt rực rỡ hào quang sáng ngời, Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển, Mắt trong ngần bốn biển long lanh, Ánh hào quang hóa vô số Phật, Vô số Bồ Tát hiện ở trong, Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh, Chín phẩm sen vàng lên giải thoát, Qui mạng lễ A Di Đà Phật, Ở Phương Tây thế giới an lành Con nay xin phát nguyện vãng sanh, Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ. Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. (1 tiếng chuông)   NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT ! (ít nhất 108 câu) Chú Vãng Sinh NAM  MÔ A DI ĐA BÀ DẠ ÐA THA DÀ ĐA DẠ ÐA ĐỊA DẠ THA. A DI RỊ ĐÔ BÀ TỲ A DI RỊ ĐA TẤT ĐAM BÀ TỲ A DI RỊ ĐA TÌ CA LAN ĐẾ A DI RỊ ĐA, TÌ CA LAN ĐA DÀ DI NỊ DÀ DÀ NA CHỈ ĐA CA LỆ TA BÀ HA. (3 lần) Bổ Khuyết Chân Ngôn ÁN, HÔ LÔ HÔ LÔ, XẢ DUỆ MỤC KHẾ, TÁ HA. (7 lần) Con nguyện hồi hướng công đức này, xin cho … (các vị) đã về trong Pháp hội đây, được tiêu trừ nghiệp chướng, được sinh lên Tây Phương Cực Lạc, nhanh chóng viên thành Đạo Quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, quảng độ chúng sinh. Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tam Bảo! (3 lần)   TAM TỰ QUY Y Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sinh, thể giải đại đạo, phát Vô thượng tâm. Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như hải. Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sinh, thống lý đại-chúng, nhất thiết vô ngại.

NGHI THỨC SÁM HỐI – PHÁT NGUYỆN

Cúi đầu lạy Đức Như Lai Mười phương Pháp giới  không ai sánh bằng. Pháp thân thường trụ vĩnh hằng. Hóa thân vô lượng  nhọc nhằn độ sinh. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! (3 lạy) Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư  A Di Đà Phật! (1 lạy) Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật! (1 lạy) Nam Mô Kim Quang Sư Tử Du Hí Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Đa Bảo Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Ly Bố Úy Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Diệu Sắc Thân Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Quảng Bác Thân Như Lai ! (1 lạy) Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Đương Lai Thế Tôn Di Lặc Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tam Bảo ! (1 lạy) Tịnh Khẩu Nghiệp Chân Ngôn: TU RỊ, TU RỊ, MA HA TU RỊ, TU TU RỊ, TA BÀ HA. (3 lần) Tịnh Tam Nghiệp Chân Ngôn: ÁN TA PHẠ BÀ PHẠ, THUẬT ĐÀ TA PHẠ, ĐẠT MA TA PHẠ, BÀ PHẠ THUẬT ĐỘ HÁM (3 lần) Tốc Tật Thành Tựu Nhất Thế Chân Ngôn ÁN, TRA TRA TRA Ô, TRÍ TRÍ TRÍ TRÍ, TRA Ô, TRA Ô TRA Ô TRA Ô, PHẠ NHỰT RA TÁT ĐÁT PHẠ, NHÃ HỒNG VÃM HỘC HẬT RỊ HẠC HỒNG PHẤN TRA, HỒNG (3 lần)   Phổ Cúng Dường Chân Ngôn: ÁN NGA NGA NÃNG, TAM BÀ PHẠ , PHIỆT NHẬT RA HỒNG. (3 lần) Phổ Triệu Thỉnh Chân Ngôn: NAM MÔ BỘ BỘ ĐẾ LỊ, GIÀ RỊ ĐA LỊ, ĐÁT ĐÁ NGA ĐÁ DA. (3 lần) Phá Địa Ngục Chân Ngôn: ÁN GIÀ LA, ĐẾ GIA SA BÀ HA (3 lần) Giải Oán Kết Chân Ngôn: ÁN TAM ĐÀ LA, GIÀ ĐÀ , SA BÀ HA (3 lần) Diệt Định Nghiệp Chân Ngôn: ÁN BÁT RA MẠT LÂN, ĐÀ NẢNH, TA BÀ HA (3 lần) Tịnh Pháp Giới Chân Ngôn: ÁN LAM TOÁ HA  (3 lần)   Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau biết tất cả pháp. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được mắt trí huệ. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau độ các chúng sanh, Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được phương tiện khéo. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau lên thuyền bát nhã. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được qua biển khổ, Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau được đạo giới định. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm lên non Niết Bàn. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau về nhà vô vi. Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm đồng thân pháp tánh. Nếu con hướng về nơi non đao, non đao tức thời liền sụp đổ. Nếu con hướng về lửa, nước sôi, nước sôi, lửa cháy tự khô tắt. Nếu con hướng về cõi địa ngục, địa ngục liền mau tự tiêu diệt, Nếu con hướng về loài ngạ quỷ. Ngạ quỷ liền được tự no đủ, Nếu con hướng về chúng Tu La, Tu la tâm ác tự điều phục, Nếu con hướng về các súc sanh, súc sanh tự được trí huệ lớn. Nếu con hướng về các nhân loại Nhân loại liền khai phát tâm Bồ Đề Nếu con hướng về chúng thiên nhân Thiên nhân xả dục siêng tu Phật. Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát! (7 lần) Nam Mô A Di Đà Phật! (7 lần) ******************* Nam-mô Ðại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần) THIÊN THỦ THIÊN NHÃN VÔ NGẠI ĐẠI BI TÂM ĐÀ RA NI NAM-MÔ HẮC RA ĐÁT NA, ĐA RA DẠ DA. NAM-MÔ A RỊ DA, BÀ LÔ YẾT ĐẾ, THƯỚC BÁT RA DA, BỒ-ĐỀ TÁT ĐỎA BÀ DA, MA HA TÁT ĐỎA BÀ DA, MA HA CA LÔ NI CA DA. ÁN, TÁT BÀN RA PHẠT DUỆ SỐ ĐÁT NA ĐÁT TỎA. NAM-MÔ TẤT KIẾT LẬT ĐỎA Y MÔNG A RỊ DA, BÀ LÔ KIẾT ĐẾ THẤT PHẬT RA LĂNG ĐÀ BÀ. NAM-MÔ NA RA CẨN TRÌ HÊ RỊ MA HA BÀN ĐA SA MẾ, TÁT BÀ A THA ĐẬU DU BẰNG, A THỆ DỰNG, TÁT BÀ TÁT ĐA. NA MA BÀ TÁT ĐA ,NA MA BÀ GIÀ, MA PHẠT ĐẠT ĐẬU, ĐÁT ĐIỆT THA. ÁN A BÀ LÔ HÊ, LÔ CA ĐẾ, CA RA ĐẾ, DI HÊ RỊ, MA HA BỒ-ĐỀ TÁT ĐỎA, TÁT BÀ TÁT BÀ, MA RA MA RA, MA HÊ MA HÊ, RỊ ĐÀ DỰNG, CU LÔ CU LÔ KIẾT MÔNG, ĐỘ LÔ ĐỘ LÔ, PHẠT XÀ DA ĐẾ, MA HA PHẠT XÀ DA ĐẾ, ĐÀ RA ĐÀ RA, ĐỊA RỊ NI, THẤT PHẬT RA DA, DÁ RA DÁ RA. MẠ MẠ PHẠT MA RA, MỤC ĐẾ LỆ, Y HÊ Y HÊ, THẤT NA THẤT NA. A RA SÂM PHẬT RA XÁ-LỢI, PHẠT SA PHẠT SÂM, PHẬT RA XÁ DA. HÔ LÔ HÔ LÔ MA RA, HÔ LÔ HÔ LÔ HÊ RỊ, TA RA TA RA, TẤT RỊ TẤT RỊ, TÔ RÔ TÔ RÔ, BỒ-ĐỀ DẠ, BỒ-ĐỀ DẠ, BỒ-ĐÀ DẠ, BỒ-ĐÀ DẠ, DI ĐẾ RỊ DẠ, NA RA CẨN TRÌ ĐỊA RỊ SẮC NI NA, BA DẠ MA NA, TA BÀ HA. TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. MA HA TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. TẤT ĐÀ DU NGHỆ THẤT BÀN RA DẠ, TA BÀ HA. NA RA CẨN TRÌ, TA BÀ HA. MA RA NA RA, TA BÀ HA. TẤT RA TĂNG A MỤC KHÊ DA, TA BÀ HA. TA BÀ MA HA, A TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. GIẢ KIẾT RA A TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. BA ĐÀ MA KIẾT TẤT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. NA RA CẨN TRÌ BÀN ĐÀ RA DẠ, TA BÀ HA. MA BÀ RỊ THẮNG YẾT RA DẠ, TA BÀ HA. NAM-MÔ HẮC RA ĐÁT NA, ĐA RA DẠ DA. NAM-MÔ A RỊ DA, BÀ LÔ YẾT ĐẾ, THƯỚC BÀN RA DẠ, TA BÀ HA. ÁN TẤT ĐIỆN ĐÔ, MẠN ĐA RA, BẠT ĐÀ DẠ, TA BÀ HA. (3 lần) Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát! (Đọc chú Đại Bi ít nhất 7 lần, hoặc 21, 49… lần hoặc nhiều hơn tùy tâm) SÁM HỐI PHỔ QUÁT (Trích kinh Kim Quang Minh, phẩm Diệt Trừ Nghiệp Chướng – Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ bày phương thức sám hối) “…Con xin quy mạng kính lạy chư vị Thế Tôn hiện tại mười phương, những đấng đã chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề, chuyển đẩy bánh xe chánh pháp nhiệm mầu, bánh xe chánh  pháp chói sáng, mưa nước Pháp vĩ Đại, gióng trống Pháp vĩ Đại, thổi loa Pháp vĩ Đại, dựng cờ Pháp vĩ Đại, cầm đuốc Pháp vĩ Đại, vì lợi ích yên vui cho chúng sinh mà thường thực thi pháp thí, dạy dỗ cho những kẻ mê mờ bước tới, làm cho họ được quả báo vĩ đại, thường lạc. Chư vị Thế Tôn như vậy, con xin đem cả thân miệng ý mà cúi đầu quy mạng kính lạy. Chư vị Thế Tôn như vậy đem tuệ giác chân thật, con mắt chân thật, sự chứng minh chân thật, sự bình đẳng chân thật, mà biết hết, thấy hết thiện nghiệp, ác nghiệp của chúng sinh. Từ vô thủy đến giờ, con xuôi theo dòng nước tội ác mà cùng chúng sinh tạo ra nghiệp chướng, bị tham sân si buộc chặt. Khi chưa biết Phật, khi chưa biết Pháp, khi chưa biết Tăng, khi chưa biết thiện – ác, thì con do thân miệng ý mà làm năm tội vô gián: là ác tâm làm chảy máu thân Phật, phỉ báng Phật Pháp, phá Tăng hòa hợp, hại A la hán, hại cha hại mẹ. Con do thân ba (sát sinh, trộm cắp, tà dâm), miệng bốn (nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác), ý ba (tham, sân, si) mà làm mười ác nghiệp, bằng cách tự làm, bảo người làm, thấy người làm mà mừng theo. Đối với người hiền, con phỉ báng ngang ngược, dụng cụ cân lường thì dối trá, cho tà là chánh, đem ẩm thực phẩm xấu mà cho người; đối với cha mẹ nhiều đời ở trong sáu đường thì con tàn hại; đối với tài vật của Tháp, của Tăng bốn phương, của Tăng hiện diện, con trộm cướp, tự do sử dụng; đối với giới pháp và giáo pháp của đức Thế Tôn, con không thích tuân thủ phụng hành, sư trưởng huấn dụ cũng không thuận theo, thấy ai đi theo cỗ xe Thanh Văn, cỗ xe Độc Giác, cỗ xe Đại Thừa, thì con nhục mạ, quấy phá. Thấy ai hơn mình, con liền ganh ghét, pháp thí, tài thí con tiếc lẫn cả, con để vô minh ngăn che, tà kiến mê hoặc, con không tu nhân lành mà lại tăng thêm nhân ác. Con phỉ báng đến cả chư vị Thế Tôn, pháp thì con nói là phi pháp, phi pháp thì con nói là pháp .v.v… Bao nhiêu tội lỗi như vậy, chư vị Thế Tôn đem tuệ giác chân thật, con mắt chân thật, sự chứng minh chân thật, sự bình đẳng chân thật, mà biết hết, thấy hết, nên ngày nay con xin quy mạng kính lạy. Đối trước chư vị Thế Tôn, con không dám che giấu. Tội chưa làm thì con không dám làm, tội đã làm thì con xin sám hối. Những nghiệp chướng đáng sa vào sáu đường tám nạn mà con đã làm, những nghiệp chướng mà hiện con đang làm, con nguyện được tiêu diệt cả. Những báo chướng của những nghiệp chướng ấy, con nguyện vị lai khỏi phải lãnh chịu. Tựa như các vị Đại Bồ Tát quá khứ tu hành Bồ Đề hạnh thì bao nhiêu nghiệp chướng đều đã sám hối, nghiệp chướng của con cũng vậy, ngày nay con xin sám hối cả. Con phát lộ hết, không dám che giấu. Tội đã làm, con nguyện được tiêu diệt, tội chưa làm, con nguyện không dám làm nữa. Tựa như các vị Đại Bồ Tát vị lai tu hành Bồ Đề hạnh thì bao nhiêu nghiệp chướng đều sám hối cả, nghiệp chướng của con cũng vậy, ngày nay con xin sám hối cả. Con phát lộ hết, không dám che giấu. Tội đã làm, con nguyện được tiêu diệt cả, tội chưa làm, con nguyện không dám làm nữa. Tựa như các vị Đại Bồ Tát hiện tại tu hành Bồ Đề hạnh thì bao nhiêu nghiệp chướng đều đã sám hối, nghiệp chướng của con cũng vậy, ngày nay con xin sám hối cả. Con phát lộ hết, không dám che giấu. Tội đã làm, con nguyện được tiêu diệt cả, tội chưa làm, con nguyện không dám làm nữa…”  (Quỳ lạy sám hối)   BÁT NHÃ TÂM KINH Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba- la- mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ – tưởng – hành – thức diệc phục như thị. Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức. Vô nhãn- nhĩ – tỷ -thiệt- thân -ý, vô sắc- thanh –hương-  vị- xúc – pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới. Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát đỏa y Bát nhã Ba- la -mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba- la -mật đa cố, đắc A -nậu –đa- la –Tam- miệu- Tam- bồ- đề. Cố tri Bát nhã Ba- la -mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thiệt bất hư. Cố thuyết Bát nhã Ba-la- mật đa chú, tức thuyết chú viết: Yết Đế, Yết Đế, Ba La Yết Đế, Ba La Tăng Yết Đế, Bồ Đề Tát Bà Ha (3 lần)   VĂN PHÁT NGUYỆN PHỔ HIỀN THẬP HẠNH   Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ! (1 lạy) Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát! (1 lạy) Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tam Bảo! (1 lạy) Con xin đem tấm lòng thành Vô biên tha thiết, trời xanh thấu cùng Dưới chân Từ Phụ bao dung Phát lên lời nguyện vô cùng vô biên (1 lạy) Nguyện rằng Chư Phật thiêng liêng Mười phương quá khứ, hiện tiền, vị lai Con xin lễ kính các Ngài Trọn tâm tha thiết, chẳng phai nhạt lòng (1 lạy) Nguyện con ngữ ý sạch trong Ngợi ca cùng tột Đức – Công sâu dày Mười phương Đức Phật xưa nay Vô biên Trí – Hạnh , lớn thay không cùng. (1 lạy) Nguyện đem bảo vật cúng dường Tòa sen , đèn lọng, hoa hương ..v.v… vô vàn Con dâng cúng Phật hân hoan Dù cho thịt nát, xương tan cũng đành Pháp cúng dường – không gì sánh: Y theo Chánh Đạo, thực hành thâm sâu. Trọn nên Phật Quả nhiệm màu Độ sinh vô lượng, vẹn câu “cúng dường”. (1 lạy) Nguyện bao lầm lỗi còn vương Đem ra sám hối , triệt đường si mê Vô biên tội – chướng nặng nề Quyết tâm trừ diệt, trăm bề sạch trong. (1 lạy) Nguyện trong khắp cõi hư không Thấy nghe công đức, khởi lòng hân hoan Trên của Phật – Thánh, dưới phàm Trọn tâm tùy hỉ, vô vàn vô biên. (1 lạy) Nguyện khi thời khắc thiêng liêng Thế Tôn thành Đạo, con liền thiết tha Quỳ dâng muôn vạn thiên hoa Khẩn xin Phật thuyết bao la Pháp màu. (1 lạy) Nguyện khi Phật trụ đã lâu Người toan thị hiện vào sâu Niết Bàn. Con liền khẩn thiết xin van Thỉnh Phật trụ thế muôn ngàn lâu xa. (1 lạy) Nguyện bao Hạnh – Trí mênh mang Của mười phương Phật, vô vàn kiếp tu Con xin học tập, cho dù Nát thân, bỏ mạng, quyết tu cho thành. (1 lạy) Nguyện khắp tất thảy chúng sanh Muôn sai vạn khác, quẩn quanh luân hồi Vô biên kiếp cũng không thôi Con xin cung phụng, đắp bồi Đạo tâm Độ tất cả thóat trầm luân Thành ngôi Chánh Giác, muôn phần an nhiên. (1 lạy) Nguyện bao công đức kể trên Con đem phước báu vô biên xin dành Hồi hướng khắp nẻo chúng sanh Trọn nên Phật Quả, trọn thành Pháp thân. (1 lạy) Phổ Hiền mười nguyện Thánh nhân Xin vô lượng kiếp quyết tâm phụng trì. Hư không cùng tận, có khi Còn mười nguyện đó chẳng khi nào dừng. Thân – khẩu – ý nghiệp chẳng ngưng Nối nhau không hở trong từng phút giây. Vĩnh viễn chẳng thể lung lay Xin trên Tam Bảo chứng ngay lòng thành. (1 lạy) Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ! (1 lạy) Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát ! (1 lạy) Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tam Bảo !  (1 lạy) Bổ Khuyết Chân Ngôn ÁN, HÔ LÔ HÔ LÔ, XẢ DUỆ MỤC KHẾ, TÁ HA. (7 lần)

NGHI THỨC PHÓNG SINH

(Nên đọc Nghi thức Sám hối – Phát nguyện trang 119 trước, rồi mới đọc tiếp phần dưới đây) Dương chi tịnh thủy, Biến sai tam-thiên, Tánh không bát-đức lợi nhơn thiên, Pháp-giới quảng tăng diên, Diệt tội tiêu khiên, Hỏa-diệm hóa hồng-liên. Nam-mô Thanh-Lương-Ðịa Bồ-tát. (3 lần, 1 lạy) Nam-mô Thường Trụ Thập Phương Phật. (1 lạy) Nam-mô Thường Trụ Thập Phương Pháp. (1 lạy) Nam-mô Thường Trụ Thập Phương Tăng. (1 lạy) KỆ GIẢI NGHIỆP Chúng sinh đây có bấy nhiêu Lắng tai nghe lấy những điều dạy răn Các ngươi trước lòng trần tục lắm Nên kiếp nầy chìm đắm sông mê Bấy lâu chẳng biết tu trì Gây bao tội ác lại về mình mang Sống đọa đầy chết thường đau khổ Lông, da, sừng có đỡ được đâu Dù là bay trước, lặn sau Lưới, dây, tên bắn, lưỡi câu thả mồi Tát cạn bắt  cùng hơi hun độc Lúc đó dù kêu khóc ai thương Nằm trên dao thớt là thường Hồn còn phảng phất nấu rang xoong rồi Muôn phần chết nay ngươi cầm chắc May sao nhờ các bậc thiện nhân Cứu cho ngươi được thoát thân Ðến đây lại được nhờ ân Pháp mầu. Vậy ngươi kíp hồi đầu quy Phật Cùng dốc lòng quy Pháp quy Tăng: Chúng sanh Quy Y Phật Chúng sanh Quy Y Pháp Chúng sanh Quy Y Tăng Chúng sanh Quy Y Phật không đọa địa ngục Chúng sanh Quy Y Pháp không đọa ngạ quỷ Chúng sanh Quy Y Tăng không đọa bàng sanh Chúng sanh Quy Y Phật rồi Chúng sanh Quy Y Pháp rồi Chúng sanh Quy Y Tăng rồi Quy rồi tội chướng sạch băng Trí khôn sáng tỏ tưng bừng khắp nơi Phát tâm tu sau rồi được hưởng Về Phương Tây sung sướng đời đời Lên tòa sen hưởng thảnh thơi Không hề luân chuyển yên vui tháng ngày Xin đại chúng ra tay cứu khổ Phát tâm cầu Phật độ chúng sanh Cùng nhau dốc một lòng thành Cầu cho thoát khỏi trong vòng trầm luân. BÀI TÁN LỄ CẦU VÃNG SINH A Di Đà Phật thân sắc vàng, Tướng tốt rực rỡ hào quang sáng ngời, Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển, Mắt trong ngần bốn biển long lanh, Ánh hào quang hóa vô số Phật, Vô số Bồ Tát hiện ở trong, Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh, Chín phẩm sen vàng lên giải thoát, Qui mạng lễ A Di Đà Phật, Ở Phương Tây thế giới an lành Con nay xin phát nguyện vãng sanh, Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ. Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. (1 lạy) NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT !  (ít nhất 48 câu) Chú Vãng Sinh NAM  MÔ A DI ĐA BÀ DẠ ÐA THA DÀ ĐA DẠ ÐA ĐỊA DẠ THA. A DI RỊ ĐÔ BÀ TỲ A DI RỊ ĐA TẤT ĐAM BÀ TỲ A DI RỊ ĐA TÌ CA LAN ĐẾ A DI RỊ ĐA, TÌ CA LAN ĐA DÀ DI NỊ DÀ DÀ NA CHỈ ĐA CA LỆ TA BÀ HA. (3 lần) Bổ Khuyết Chân Ngôn ÁN, HÔ LÔ HÔ LÔ, XẢ DUỆ MỤC KHẾ, TÁ HA. (7 lần) Con nguyện hồi hướng công đức tụng niệm này đến tất cả chúng sinh đây, nguyện cho chúng sinh đây được tiêu trừ nghiệp chướng, thanh tịnh các phiền não, tăng trưởng Bồ Đề Tâm, thân tâm thường an lạc, mau thoát kiếp súc sinh, mau sinh Tịnh Độ, mau viên thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, quảng độ chúng sinh. TAM TỰ QUY Y Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sinh, thể giải đại đạo, phát Vô thượng tâm. Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như hải. Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sinh, thống lý đại-chúng, nhất thiết vô ngại.

NHỮNG CHUYỆN LINH ỨNG

NHỜ CẦU SIÊU

____________________   CẦU SIÊU THAI NHI & SỰ LINH ỨNG KÌ DIỆU Khoảng tháng 6/2017, có một người phụ nữ trẻ nhắn tin facebook cho tôi, cô kể rằng từ mấy năm nay, người cô bị đau nhiều chỗ nhưng khi đi khám thì không tìm ra nguyên nhân bệnh. Hai vai và gáy thường bị nhức và cảm giác như có gì đó rất nặng đè lên, lại thường xuyên bị đau đầu. Cô thừa nhận trước kia cô đã từng phá thai một lần, đi xem vài nơi người ta nói có một vong linh em bé luôn đeo theo. Cô kể thêm rằng, thỉnh thoảng cô hay nằm mơ thấy một đứa bé nhìn cô đầy oán hận, nó thường khóc bằng một giọng đầy ai oán, trong cơn mơ ấy, hễ cô cứ lại gần đứa bé để dỗ nó thì đứa bé lại biến mất, điều đó khiến cô hết sức lo lắng và day dứt. Cô tên Kim Yến ( cô yêu cầu tôi dùng tên này thay cho tên thật, vì ngại mọi người xung quanh biết) sinh năm 1986, hiện sống tại TP.HCM. Tôi khuyên cô nếu sắp xếp được thời gian thì xuống Vũng Tàu, cùng với đạo tràng chúng tôi làm lễ Sám hối- cầu siêu cho thai nhi cùng các oan gia trái chủ khác. Cô liền nhận lời. Không lâu sau, cô xuống Vũng Tàu tham gia cùng chúng tôi làm công quả tại tháp thờ Xá Lợi Phật ở Thích Ca Phật Đài, và cúng Sám hối oan gia với chúng tôi một buổi. Có lẽ cô thấy hợp, nên mấy hôm sau, cô quyết định xuống cúng Sám hối – cầu siêu cho thai nhi và oan gia liên tục hẳn một tuần. Buổi tối hôm đó, sau khi sám hối với oan gia xong, cô bắt đầu thấy đau bụng, đến đêm thì cơn đau càng dữ dội, mọi người chuẩn bị định chở đi cấp cứu. Xong trước khi đi, cô nhắn tin hỏi tôi. Tôi liền khuyên cô nên trì tụng Diệt Định Nghiệp Đà Ra Ni : “ÔM PRA MA NI ĐA NI XOA HA” xem như thế nào. Rất may bên cạnh cô có một Phật tử đã lớn tuổi, cũng tụng thần chú này cùng với cô, gia tăng thêm hiệu lực. Thật kì lạ, chỉ vài phút sau, cơn đau êm dần rồi biến mất, cô vừa tụng thần chú, vừa chìm vào giấc ngủ an lành. Sáng hôm sau dậy, cô cảm thấy khỏe mạnh như chưa có chuyện gì cả. Lí giải về chuyện này, tôi giải thích với cô rằng, khi sám hối với oan gia, một số vong linh oan gia ôm giữ lòng thù hận sâu nặng, họ muốn hành hạ lần cuối cho hả giận trước khi buông bỏ hẳn mối thù với mình để siêu thoát. Cứ tiếp tục kiên trì sám hối, cầu siêu cho họ, mọi chuyện sẽ êm thôi. Cứ thế, cô kiên trì cúng sám hối- cầu siêu cho thai nhi và oan gia trái chủ, ngày 2-3 lần, liên tục một tuần. Đến ngày thứ sáu, cô nằm mơ và lại thấy đứa bé hiện về, khác với những lần trước, nó không khóc lóc ai oán nữa, mà nó mỉm cười với cô. Cô ôm nó vào lòng trong niềm hạnh phúc… Tỉnh dậy, cô cảm thấy lòng mình nhẹ nhõm, thanh thản và an lành hơn rất nhiều. Cô tin rằng, vong linh thai nhi của cô cuối cùng đã tha thứ cho cô và được siêu thoát an lành. Cô kể lại cho anh chị em chúng tôi với một giọng rất phấn khởi. Bệnh của cô cũng đã tiêu tan, gần như hết hẳn chỉ trong thời gian ngắn. Cô từ biệt chúng tôi, trở về với cuộc sống nhộn nhịp vốn có của Sài Gòn, mang theo về sự bình an trên thân thể, lẫn trong tâm hồn.

SÁM HỐI & CẦU SIÊU OAN GIA, HẾT UNG THƯ TRONG CHƯA ĐẦY 1 THÁNG

Tôi có một cô em gái, rất dễ thương và ngoan hiền, năm nay em gái tôi 24 tuổi, sớm đã quy y Tam Bảo với pháp danh Hạnh Nhuần. Còn tôi tên Tiến, pháp danh Chân Tuệ, quê tôi là mảnh đất trung du Phú Thọ, hiện tôi công tác tại Viện Kiểm Soát Tối Cao. Anh em chúng tôi tôi lớn lên trong một gia đình gia giáo, mọi người sống bên nhau hòa thuận, cuộc sống cứ thế êm đềm trôi qua cho đến một ngày kia… Khoảng tháng 6 năm 2019, em tôi bị đau bụng dữ dội, gia đình liền đưa em xuống Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương (Hà Nội), phải khám đến hai lần, các bác sĩ mới tìm ra nguyên nhân. Và họ báo cho gia đình tôi một tin như sét đánh: em tôi bị ung thư buồng trứng, và khối u lớn đến 8,5 cm. Vốn gia đình tôi rất chu đáo về vấn đề sức khỏe, nên mọi người định kỳ đều đi khám tổng quát ở bệnh viện lớn. Em gái tôi cũng không ngoại lệ, vậy mà cũng không tìm ra bệnh sớm hơn. Vì khối u quá lớn, bệnh viện lập tức tiến hành phẫu thuật cắt bỏ khối u. Nếu như bạn có một một chút kiến thức về ung thư, hẳn bạn cũng biết, khối ung thư một khi đã đụng đến dao kéo, mổ xẻ, thì chắc chắn sẽ xuất hiện di căn. Nghĩa là bất kỳ đâu trong cơ thể sẽ mọc ra những khối ung thư mới, còn nguy hiểm hơn, khó trị hơn khối ung thư ban đầu. Trong giới y học có một cách nói hình tượng: “ Một khi động dao phẫu thuật, tế bào ung thư sẽ bùng phát như một trận bão lửa, bùng nổ mạnh như mìn vậy.” Bởi phẫu thuật sẽ để lại vết thương, miệng vết thương sẽ phá vỡ ranh giới của các tế bào bình thường, các tế bào ung thư trong máu sẽ nhân cơ hội lan rộng, nhanh chóng thâm nhập vào các mô lành mạnh xung quanh, cuối cùng bùng phát nặng hơn. Vậy nên sau khi bác sĩ phẫu thuật xong, thì yêu cầu gia đình chúng tôi, sau 2 tuần phải đưa em tôi xuống tiến hành hóa trị. Bác sĩ giải thích, nếu sau 2 tuần không tiêm hóa chất, 100% sẽ di căn, mọc ra những khối ung thư mới còn nguy hiểm hơn, em tôi coi như cầm chắc cái chết. Bố tôi thương con gái, chắc chắn chẳng tiếc gì, dù có bán hết nhà cửa, ruộng vườn để cứu con, bố tôi chắc chắn sẽ làm. Tuy nhiên, ông rất tỉnh táo. Bố tôi lên mạng tìm hiểu kỹ mọi thông tin về bệnh ung thư, về các cách điều trị hóa trị, xạ trị, thì nhận ra rằng, thực chất đó chỉ là là những phương pháp cầm cự, nếu may mắn, thì bệnh nhân sống thêm được vài năm, nhưng vài năm này là những tháng ngày đầy đọa. Vì hóa chất, hay những tia xạ trị bên cạnh việc diệt ung thư, cũng sẽ tàn phá cơ thể khiến bệnh nhân đau đớn quằn quại, vô cùng thống khổ. Còn nếu không may mắn, bệnh nhân có thể chết ngay trong vòng 30 ngày sau khi hóa trị, kể cả là ở những nước công nghệ y học tiên tiến như Mỹ, Nhật … Bác sĩ Makoto Kondo, là bác sĩ xạ trị bệnh viện đại học Keio, với 40 năm điều trị ung thư, từng được giải thưởng “Kikuchi Kan lần thứ 60” năm 2012 ( giải thưởng cho các giới nhân sĩ có đóng góp to lớn cho nền văn hóa Nhật Bản) đã thành thật mà nói với thế giới rằng, điều đáng sợ không phải ung thư mà là “điều trị ung thư”. Ông khuyên bằng tất cả lương tâm nghề nghiệp của mình rằng, khi chẳng may bị ung thư, bệnh nhân không cần điều trị bởi vì điều trị hóa trị liệu rất độc hại, nó khiến cho người bệnh đau đớn, nhưng lại sẽ vẫn bị tử vong, thậm chí còn nhanh hơn không điều trị. Thay vào đó hãy giữ cho mình được trạng thái tinh thần tỉnh táo, cho đến thời khắc cuối cùng của cuộc đời còn tốt hơn. Có bệnh thì vái tứ phương, trong 2 tuần đó, cả nhà tôi ai nấy đều hoang mang, rầu lo khôn xiết, loay hoay tìm kiếm mọi nơi phương thuốc hữu hiệu cứu em tôi. Và tôi cũng vậy, tôi cố gắng tìm kiếm trên internet mọi cách hiệu quả có thể chữa bệnh ung thư. Lần đó lên youtube tìm kiếm , may sao tôi tìm được một video phóng sự, kể về trường hợp cô Hà Thị Dém, bị ung thư tử cung giai đoạn cuối, khi ấy đang điều trị ở bệnh viện ung bướu. Cô may mắn được một người tặng cho cuốn sách “Bệnh viện trả về, Phật Pháp cứu sống”. Ban đầu cô cũng chẳng tin, nhưng sau tiền hết, lại chứng kiến rất nhiều người bán nhà bán cửa, chạy tiền để hóa trị, xạ trị… Để rồi cũng chết. Cô nghĩ lại, không chạy chữa nữa, trở về quê, theo hướng dẫn trong sách, mỗi ngày trì chú Vãng Sinh liên tục không tính đếm số lượng. Vậy mà cuối cùng lại khỏi, bác sĩ kiểm tra kỹ càng rồi chứng nhận cô khỏi bệnh ung thư, ngạc nhiên không hiểu vì sao. Một hy vọng lóe lên trong tôi. Lập tức tôi lên mạng tìm kiếm file cuốn sách “Bệnh viện trả về, Phật Pháp cứu sống” đó, in ra cho gia đình cùng đọc. Đọc xong, bố tôi – người nắm giữ quyết định chính, cũng như mọi người trong gia đình đã trải qua một cuộc chiến đấu tư tưởng kịch liệt, một bên là nghe theo lời bác sĩ bệnh viện K, tiến hành bằng hóa trị kéo dài mạng sống cho em tôi. Một bên là tin tưởng Phật Pháp, dùng những các môn của Phật mà cứu em tôi. Tôi tin đây là lựa chọn khó khăn nhất trong cuộc đời của bố tôi, vì nó là sống chết, là tính mạng của con gái ông. Cuối cùng, bố tôi chọn Phật Pháp. Cả nhà đưa em gái tôi về Phú Thọ, theo những hướng dẫn trong sách, dốc sức làm theo. Đầu tiên là sám hối và cầu siêu cho oan gia trái chủ. Hiểu Phật Pháp rồi, chúng tôi biết hầu hết những bệnh tật nói chung, và bệnh ung thư nói riêng, chính là do những vong hồn những chúng sinh bị ta hại trong kiếp này, và cả những kiếp xưa, gọi là oan gia trái chủ. Họ kéo đến báo thù, tác động âm thầm trong vô hình mà tạo ra bệnh tật, cũng như đủ loại khổ đau khác. Vậy muốn hết bệnh, không thể không sám hối với họ. Một khi oan gia chịu tha thứ, buông bỏ hận thù, đồng ý tiếp nhận siêu độ, thế thì mới có cơ may khỏi bệnh. Suốt hơn 20 ngày liên tiếp, gia đình chúng tôi ngày nào cũng tổ chức Nghi thức Sám Hối Và & Cầu Siêu Oan Gia (trang 38) Nội dung của nghi thức này là đem hết tâm thành mà dãy bày sám hối với các vong linh oan gia, khẩn khoản xin họ tha thứ. Lại tụng kinh – niệm Phật – trì chú, hồi hướng công đức đó giúp các vong linh oan gia trái chủ được siêu thoát. Sau hơn 20 ngày, thì giảm bớt tần suất, một tuần tổ chức 3 – 4 buổi. Ngoài ra, em gái tôi còn tụng kinh Địa Tạng, (tổng cộng khoảng được mười mấy quyển), và đọc chú vãng sinh 108 biến mỗi ngày. Cả nhà có bao nhiêu tiền, liền xuất ra tổ chức phóng sinh liên tục. Chúng tôi ra chợ mua các loài cá chạch, ốc, cua… sắp bị đem giết mà thả cho chúng được tự do. Trước khi thả không quên đọc Nghi Thức Phóng Sinh (trang 166) để công đức phóng sinh được viên mãn. Bố tôi còn xuất tiền để tạo tượng Phật nữa, được bao nhiêu công đức, đều hồi hướng cho oan gia trái chủ, và cầu hóa giải nghiệp chướng của em gái tôi. Nói chung là cứ trong sách đề cập đến cách thức nào, là em tôi và cả nhà thực hiện đầy đủ, nhiệt tình hết mức có thể, không có nề hà, không có ngại khó, ngại khổ gì cả. Kỳ diệu thay, em tôi cứ thế mà đỡ đau dần, sức khỏe tốt lên trông thấy. Để cho chắc ăn, ngày 7/8/2019, gia đình lại đưa em xuống Bệnh viện K Hà Nội khám lại. Kết quả: không di căn, không còn một tế bào ung thư nào, em tôi hoàn toàn khỏi bệnh. Bác sĩ cũng ngỡ ngàng với kết quả xét nghiệm của chính họ. Còn cả gia đình tôi thì vỡ òa trong hạnh phúc. Vi diệu thay những liều thuốc của Phật Pháp ! Tuyệt vời thay quyết định của bố tôi. Đứng trước ngã rẽ khó khăn trong đời, bố đã sáng suốt chọn được hướng đi đúng, để em gái tôi có thể bình phục, sống tiếp những tháng ngày thanh xuân phơi phới, lại còn hóa giải được bao nhiêu mối oán thù với các oan gia trái chủ, nhiều kiếp sau không còn phải gặp lại họ trong cảnh báo thù rửa hận, mạng đền mạng nữa. Theo số điện thoại trong sách, tôi gọi điện cho Quang Tử – chủ biên cuốn sách “bệnh viện trả về, Phật Pháp cứu sống” để cảm ơn, và cũng để kể lại câu chuyện kỳ diệu của gia đình mình, góp thêm một minh chứng người thật việc thật, để cuộc đời hiểu rõ được oai lực phi thường của Phật Pháp. Phật Pháp không phải chỉ là những phép lạ đẫm màu huyền thoại trong truyện cổ tích với những lời cầu xin được ông Bụt đáp ứng. Không, chúng ta không nên hiểu Phật Pháp một cách thụ động như vậy, chỉ biết ỷ lại vào sự cứu độ của chư Phật, còn chính mình thì chẳng làm cái gì ngoài những lời cầu xin. Phật Pháp chân chính là những đường lối tu hành rõ ràng được đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng dạy chi tiết từ cách đây hơn 2.500 năm, được lưu lại trong kinh điển, có quy mô, có hệ thống, phương pháp cụ thể, rạch ròi. Chỉ cần chúng ta hiểu rõ và dốc lòng, tận lực làm theo một cách chính xác, thì sẽ có kết quả. Và câu chuyện có thật 100% của gia đình tôi đây là minh chứng hùng hồn cho điều đó ( tôi có gửi kèm 2 bản kết quả xét nghiệm của Bệnh viện để mọi người có thể xác thực) Số điện thoại của tôi là 033 3693476 – nếu bạn muốn kiểm chứng. Em gái tôi, cả nhà tôi có được kết quả này, không phải là nhờ sự cầu xin, mà là nhờ quá trình nỗ lực thực hành theo chỉ dẫn của Phật Pháp, sám hối nghiệp chướng, hóa giải oan gia, tạo nhiều công đức lành, và nỗ lực ấy đã tạo nên kì tích. Đây chính xác là khoa học. Chỉ là môn “khoa học này” vượt quá xa với kiến thức của những nhà khoa học hiện tại. Nhà bác học lỗi lạc nhất mọi thời đại – Albert Einstein, sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng mọi tôn giáo trên thế giới, cuối cùng ông đưa ra tuyên bố: “Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng những nhu cầu của khoa học hiện đại, thì đó là Phật Giáo. Phật Giáo không đòi hỏi phải xét lại mình để cập nhật với những khám phá gần đây của khoa học. Phật Giáo không cần từ bỏ quan điểm của mình để đi theo khoa học, vì Phật Giáo bao gồm khoa học cũng như vượt qua cả khoa học.” Einstein đã hiểu ra điều ấy. Gia đình chúng tôi giờ cũng đã hiểu ra điều ấy. Hi vọng tất cả mọi người đều cùng sớm hiểu ra, để không đánh mất cơ hội quý giá trong cuộc đời mỗi con người, đó là được học hỏi & thực hành theo Phật Pháp.

10 BỨC TRANH của một họa sĩ HÀN QUỐC

10 BỨC TRANH của một họa sĩ HÀN QUỐC vẽ lại NHỮNG GÌ CÔ ĐÃ THẤY trong ĐỊA NGỤC ( Đâu phải chỉ Phật Giáo mới có khái niệm Địa Ngục) Vào một buổi tối năm 2009, một nữ họa sĩ trẻ tuổi người Hàn Quốc, một tín đồ Cơ Đốc giáo đang thành tín cầu nguyện, thì cô chợt thấy Chúa Giê-su bất ngờ hiện ra, Ngài dùng thần lực mang cô đi trải nghiệm địa ngục. Ngài yêu cầu cô hãy đem những cảnh tượng mà mình nhìn thấy vẽ ra, để cho toàn thế giới đều biết. Cô kể lại : “Chúa yêu cầu tôi vẽ lại cảnh tượng địa ngục. Khi ấy tôi nhìn thấy những người đang sống trong xã hội ngày nay, chính là đang trong vô tri mà bước trên con đường hướng xuống địa ngục, một người sau khi chết đi tới thế giới diệt vong cuối cùng, tất cả đều là đày đọa khủng khiếp. Khi con người ta rơi xuống hoàn cảnh này thì mới ý thức được!” Nữ họa sĩ cho biết rằng, ở dưới địa ngục, người ta không phải là một người rồi đến một người, mà là một nhóm theo sát một nhóm, số lượng khổng lồ cuồn cuộn không dứt, bọn họ vừa gào thét vừa rơi xuống ngọn lửa cao gần 10m, khắp nơi khắp chốn đều chìm trong biển lửa, người người bị thiêu hủy mà thống khổ gào thét, vặn vẹo thân thể, ở nơi đó mà bị hủy diệt hoàn toàn. Nữ họa sĩ theo Chúa Giê-su đi xuống địa ngục, tại đây cô đã nhìn thấy cảnh tượng tra tấn một cách vô cùng chân thực. Dưới đây là những lời mà cô thuật lại sau khi trở về nhân gian: Những người này đều đã qua đời, bởi vì linh hồn là bất diệt, căn cứ vào những việc bọn họ từng làm khi còn sống, mà đều đang phải ở trong vực thẳm mà chịu đựng các dạng các loại hành hạ. Đây chính là hành trình sởn gai ốc nhất, bi thảm nhất từ khi tôi sinh ra tới nay, đi theo bên cạnh Chúa, tôi đã khóc nấc mấy tiếng đồng hồ, bất luận là ai đã từng có bao nhiêu công trạng vĩ đại, giàu có cỡ nào, hoặc là danh gia vọng tộc trong xã hội hiển hách ra sao, nếu như cuộc đời của họ không sạch sẽ, thì đều sẽ phải hạ địa ngục. Bất kể vì nguyên nhân gì, có nhiều người đã lựa chọn tự sát với hi vọng sẽ kết thúc tai nạn, xong hết mọi chuyện. Thế nhưng sau khi tự sát, thì đều sẽ tới vực thẳm địa ngục. Vậy nên tôi muốn nói rằng, những ai còn đang sống, thà rằng nhẫn chịu khổ nạn trên đời, hướng tới Thần Thánh cầu xin cứu giúp, may ra còn lối thoát. Bởi vì ở trong địa ngục, thủ đoạn giết người của ma quỷ là cực kỳ tàn nhẫn, tôi vĩnh viễn đều không muốn nhớ lại những kí ức này. Có một người phụ nữ nằm ngửa, một lượng lớn sâu bọ màu đen bao phủ khắp thân người này, chỉ để lộ ra gương mặt. Những sâu bọ này đều có lớp vỏ cứng rắn, chui từ trong miệng vào trong thân thể, bà nhìn thấy tôi liền liều mạng vươn tay ra cầu cứu, tôi cũng muốn cứu bà, đem bà kéo ra, thế nhưng vẫn là không thể. Những người ở chốn địa ngục này vẫn có thể nhớ rõ cuộc sống ngày trước, kể cả thân nhân của mình là những ai, tên gọi của mình là gì. Năng lực nhận biết, tâm tư, cảm giác của thân thể cũng không hề suy giảm chút nào. Chúa Giê-su ban cho tôi khả năng có thể cảm nhận được tư tưởng của những người này, tôi nhận thấy rằng bọn họ đều đang vô cùng lo sợ cho người nhà và bạn bè của mình cũng sẽ phải vào địa ngục. Khi trở lại , tôi đã cố gắng vẽ lại một cách chân thự cnhất những gì tôi đã thấy, và đây là thành quả : Khi Chúa ở bên cạnh tôi, Ngài còn cho tôi thấy cảnh tượng sa đọa chân thực chốn nhân gian. Tôi nhìn thấy mọi người đều thích xem ti vi, bây giờ giải trí và văn hóa đều tràn ngập bạo lực, tình dục cùng với những quan điểm tà ác được tuyên truyền trên điện ảnh, thậm chí cả phim hoạt hình, từ người trưởng thành cho tới trẻ nhỏ đều bị nhấn chìm trong đó, bị tà độc dụ dỗ và khống chế, linh hồn của con người bởi vậy đã bị ô nhiễm và hủy hoại một cách nghiêm trọng. Tôi cũng nhận được lời dạy từ Chúa, nhân loại nếu như tuân thủ quy phạm đạo đức, lựa chọn xem những chương trình ti vi bổ ích, nghe âm nhạc lành mạnh, cũng giúp đỡ con cái của mình xây dựng năng lực phân biệt chương trình ti vi tốt xấu ngay từ khi còn nhỏ, chỉ xem phim hoạt hình tốt, chỉ tham gia những hoạt động văn hóa giải trí lành mạnh, những điều này đều sẽ góp phần ngăn cản trẻ em sau này hướng tới con đường đi xuống địa ngục. Bởi vì hành vi của con người ta đều là do tư tưởng chi phối, vậy nên những ai mang trong mình những tư tưởng truyền thống tốt đẹp thì sẽ nhất định trở thành một người tốt, dù cho họ có thể hiện ra bên ngoài hay không. ( Nguồn : songdep.tv)

Bản chất của BÓI TOÁN là gì ?

Mạn Đà La : – Anh Quang Tử thân mến. Em học Phật nhưng chưa hiểu sâu. Em thắc mắc về vấn đề nhân quả nghiệp báo có ảnh hưởng tới lá số Tử Vi của mỗi người hay không ? Em có được người ta xem Tử Vi và em biết lá số mình không tốt. Và em thấy đúng là có vài điều ứng nghiệm như lá số đã thể hiện. Vậy thì tất cả những điều này có phải do nhân quả của tiền kiếp quá khứ tạo ra không ? Và khi mình làm những điều phúc thiện, nó có thể thay đổi số mệnh được hết không ? hay chỉ là một phần rất nhỏ. Theo sự hiểu biết của anh, mong anh hoan hỉ chia sẻ cho em hiểu thêm về vấn đề này. Cảm ơn anh nhiều. Quang Tử : Tôi sẽ kể lại cho bạn một câu chuyện, câu chuyện ấy sẽ giúp bạn nhanh chóng hiểu vấn đề. “Thời vua Hán Cảnh Đế tại Trung Quốc, có một vị được mệnh danh là thần tướng. Ông chỉ cần một cái nhìn thoáng qua là biết được tỏng tòng tong tính tình, vận hạn, số phận cả đời của người trước mặt. Sự chính xác trong lời đoán của ông thật là kì lạ, trăm lần không sai lấy một. Một bữa kia, ông đang đi dạo trên phố, chợt thấy cậu thanh niên nọ có một tướng lạ: Hai đường chỉ chạy từ cằm lên khóe miệng. Ông tiến lại và nói với cậu: _ Này chàng trai, trên mặt cậu có tướng chết đói. Trong vòng mươi năm nữa, họa này sẽ xảy đến với cậu. Thanh niên ấy tên Bùi Độ, là một người bán dầu nghèo khổ. Vì danh tiếng của lão thần tướng quá lớn, Bùi Độ có muốn nghi ngờ cũng không được. Anh buồn rầu ra về với cái án tử hình treo lơ lửng trong vô hình. Anh không còn tha thiết với điều gì nữa, ngày ngày buồn rầu ủ rủ. Một ngày kia, trên đường đi anh thấy một cô gái vừa khóc lóc thảm thiết, vừa định nhảy xuống giếng sâu. Bùi Độ chặn lại hỏi, thì biết được cô gái kia tên Ngọc Hà, đang trên đường đem vàng đi để chuộc tội cho cha, xong đến đây lỡ tay làm rơi túi vàng xuống giếng. Mọi người cho biết rằng dưới giếng có một con trăn rất dữ, rất nguy hiểm, đã xuống rồi coi như cầm chắc cái chết, nên cũng không ai dám giúp. Thế nhưng cô gái cứ chăm chăm nhảy xuống, định không lấy được vàng thì sẽ chết ở đây luôn. Bất chợt mắt Bùi Độ sáng lên, nghĩ thầm trong đầu: “Đúng rồi, đằng nào cũng chết, sao ta không đem cái chết của mình để làm một việc nghĩa? Như vậy không hay hơn sao?” Nghĩ là làm. Dù tim đập loạn xạ, chân tay run lẩy bẩy, anh vẫn liều mạng leo xuống. Không hiểu vì sao nhưng anh không bị trăn ăn thịt. Lặn ngụp hồi lâu anh cũng lấy được túi vàng đem lên cho Ngọc Hà. Nhờ đó, Ngọc Hà được toàn mạng, cha cô được giải oan, danh dự, quyền thế được phục hồi. Cảm kích ơn cứu mạng của Bùi Độ, Ngọc Hà đem anh về cho anh ăn học đàng hoàng. Rồi sau xin cha được theo anh “nâng khăn sửa túi” suốt đời. Hôn lễ được cử hành không lâu sau đó trong niềm hân hoan của tất cả thân quyến xóm làng. Sau đó, cha vợ Bùi Độ nhờ một người quen có chức có quyền tiến cử anh làm chức quan ở vùng khác. Từ đó, anh không ngừng thăng quan tiến chức. Cuộc đời anh giờ ngập trong sung sướng, quyền quý vinh hoa, nhà cửa gia nhân không thiếu thứ gì. Nhưng anh vẫn mang một nỗi lo sợ mình sắp chết. Cho đến một hôm kia anh tình cờ gặp lại vị thần tướng. Sau một cái nhìn sắc bén, đôi mắt của thần tướng lộ vẻ ngạc nhiên vì tướng chết đói trên mặt anh không còn nữa. – Này chàng trai – thần tướng nói – tướng chết yểu trên mặt anh đã mất, chẳng hay gần đây anh có làm điều gì phúc đức lắm? Chàng trai kể lại mọi chuyện. Vị thần tướng gật gù, từ giã ra đi sau khi đã chúc lành cho anh. Còn anh trở về với nỗi vui sướng khôn siết. Anh đã vụt thoát khỏi bàn tay nghiệt ngã của định mệnh. Từ nay anh có thể yên tâm, làm gì thỏa thích. Và anh làm thật! Kể từ đó, anh bắt đầu sống hưởng thụ sa đọa, với những trò vui hoang tàn, vô độ. Nắm quyền chức trong tay, anh biến thành một tên tham quan bạo ngược. Vơ vét của dân, cưỡng bức con gái nhà lành, tiếng oán thán thấu tận trời xanh. Ngày tháng cứ trôi đi, cảnh oan ức cứ thế kéo dài. Đến một ngày kia, lần thứ ba anh gặp lại vị thần tướng. Vị thần tướng nheo mắt nhìn anh. Với con mắt tinh anh và thâm thúy, ông hiểu ngay mọi chuyện, đồng thời cũng thấy luôn tướng chết đói đã quay trở lại. Thần tướng nghiêm giọng: _ Này kẻ vô đức, cậu đã một lần thoát khỏi cái chết vì biết quên thân cứu người. Nay lại không biết tu thân tích đức thêm cho sâu dày, lại đổ đốn, sa đọa, hoang tàn hống hách, làm những chuyện đồi bại  tàn ác. Tướng chết đói lại hiện ra rồi đó, lo về tính chuyện hậu sự đi. Tên quan Bùi Độ tức giận bỏ đi. Vì đã quen thói ngông cuồng, nên giờ thần tướng hay không cũng bất chấp. Cứ tiếp tục sống cuộc sống tội lỗi không chút áy này. Lương tâm hắn giờ đã bị danh lợi dục vọng nuốt chửng. Quả nhiên không lâu sau đó, dân kiện lên đến triều đình. Quan khâm sai được phái xuống điều tra, rồi bắt hắn về kinh xét xử. Trên đường áp giải, hắn bỏ trốn, chạy thoát được vào rừng. Một thời gian sau, người ta tìm thấy xác hắn chết đói bên cạnh một mỏm đá. Lần này, tử thần đã chụp được hắn với bản án bi thảm: chết đói – đúng như lời thần tướng nói.” _______________ Như bạn thấy, các môn bói toán, xem tướng, phong thủy nói chung, thực sự có thể tính ra được số phận con người, người ta thường gọi là tiên tri, xong bản chất là các môn này tính toán ra được Nhân quả tội phước trong quá khứ của một người. Nếu các môn này chỉ là mê tín, thầy nào phán cũng sai bét, thế thì chắc chắn không thể tồn tại mấy nghìn năm qua, lại còn phát triển vô cùng phong phú, tinh vi và chuyên nghiệp đến vậy. Tuy nhiên, chúng ta cần phải hiểu nguyên lí của chúng, nếu không sẽ tạo ra rất nhiều hiểu lầm tai hại, kiểu như “ Số phận đã định trước không thể thay đổi” , hay “Có một thần linh, thượng đế nào đó an bài, định đoạt sướng khổ đời người” .v.v… Số phận của bất kì người nào, đều chính là do Nghiệp lực, còn gọi là “Nhân quả tội phước” của người đó tạo ra bằng những việc thiện hoặc bất thiện trong các kiếp trước, và cả kiếp này. Số Nghiệp lực này, số “Nhân quả tội phước” này không phải bí mật hoàn toàn, mà nó được thể hiện ra, hay nói cách khác, là được ra “Thông báo” bằng những mật mã ẩn trong ngày giờ sinh, trong những yếu tố thiên thời, địa lợi, điềm báo .v.v… Các thuật sĩ, chiêm tinh gia, thầy bói, thầy phong thủy … là những người biết cách giải các mật mã này để xem được bản “Thông báo” để biết được ít nhiều nội dung trong đó. Và thực ra, mỗi một môn chỉ giải mã được một phần của bản “Thông báo” này, chứ không môn nào giải mã được hết 100%. Thế nên, bạn để ý sẽ thấy, thầy bói, thầy phong thủy, thầy tướng… nói có khi khác nhau, xong đều không sai, vì rằng mỗi người nói đúng được một phần của Số phận. Kiểu như trong chuyện “Thầy bói xem voi”, mỗi ông nói con voi một kiểu, xong không ông nào nói sai hẳn, và cũng không ông nào nói đúng một cách tổng thể được. Đầu tiên ta cần chia ra 2 trường phái bói toán, một là các môn bói toán dựa trên ngày- giờ- tháng- năm sinh của một người ( hay một vật), hai là các môn bói toán dựa trên những yếu tố biến đổi liên tục, như thuật xem Tướng, các môn Chiêm bốc gieo quẻ, quan sát phong thủy, địa lý, giải điềm báo… trong đó, các yếu tố: tướng mạo của một người, hay nhà cửa, nơi sinh sống, các điềm báo, thiên tượng … đều không ngừng biến động, hễ nhân quả thay đổi, là chúng cũng sẽ thay đổi theo. Lá số Tử Vi nói riêng, cũng như kết quả tính toán của các môn bói toán dựa theo ngày giờ sinh nói chung, là một bản tổng kết đơn giản về phước tội quá khứ nhiều kiếp qua. Các môn này diễn giải nhân quả tội phước quá khứ theo kiểu công thức âm dương , ngũ hành, cung mệnh …. thôi, chứ cũng không được như những người có Túc Mạng Thông như Đức Phật, hay các đệ tử Phật, như Edgar Cayce…, nói rõ ra là tiền kiếp tạo nghiệp gì, làm phước gì mà kiếp này ra như thế. Tức là nhiều kiếp qua, tổng số phước & tội của người đó, đan xen nhau, hay bù trừ cho nhau xong, thành ra Nghiệp báo như thế nào, quyết định trong kiếp này người đó sẽ được hưởng những phước gì, chịu những nghiệp gì, tiền tài, danh vọng, hôn nhân, tính cách ra sao v.v… thì bói toán tính ra được phần kết quả, xong lại không biết được phần nguyên nhân. Vì sao, vì nghiệp gì, phước gì mà ra kết quả như thế, bói toán không biết được. Và thêm điểm mấu chốt là, Tử Vi – và các cách bói toán dựa theo ngày giờ sinh, không tính ra được là nếu kiếp này, nếu người đó tiếp tục tạo thêm phước – hoặc gây thêm tội, thì cuộc sống sẽ thay đổi như thế nào. Vì khi một người trong hiện tại, tạo phước lớn, hay gây ra tội nặng, thì nhân quả Nhân quả tội phước lập tức sẽ thay đổi. Hoặc tạo thật nhiều việc thiện lành, tạo nhiều công đức lớn, thì nghiệp chướng sẽ được tiêu trừ, không còn bị tai ách như trong Tử Vi đã tiên đoán, và mọc thêm ra những phước báo tốt lành như giàu sang, thành đạt, may mắn… Chẳng hạn, Tử Vi cho biết rằng người này cả đời không thể có con. Tuy nhiên, anh ta gặp một vị cao tăng, khuyên thường xuyên phải phóng sinh. Anh ta nghe theo, nhiệt tình thực hành phóng sinh liên tục vài năm. Cuối cùng vẫn sinh được quý tử. Không phải Từ Vi tính sai, mà do anh ta tạo phước, khiến nghiệp cũ tiêu trừ, phước mới tăng thêm, số mệnh đã được sửa lại, mà Tử Vi – và các cách bói toán dựa theo ngày giờ  sinh chỉ tính được quá khứ, chứ không tính được sự sửa chữa số mệnh trong hiện tại & tương lai. Ngược lại, hiện tại nếu một người tạo thật nhiều việc bất thiện, sẽ khiến cái vốn liếng Phước – Tội của quá khứ thay đổi : phước bị tổn giảm, và nghiệp khổ tăng lên. Chẳng hạn, Tử Vi phán rằng người này thọ 70 tuổi, nhưng vào năm 30 tuổi anh ta tạo nghiệp sát sinh nặng, giết trâu, giết chó quá nhiều, tuổi thọ sẽ bị giảm xuống, tới 45 tuổi đã mắc bệnh chết. Cái này không phải do Tử Vi tính sai, mà là do nhân quả nghiệp báo của người này đã thay đổi. Lưu ý, phải là tạo tội, hoặc tạo phước ‘THẬT NHIỀU’ mới có thể khiến cho nhân quả thay đổi một cách rõ ràng, có thể nhận ra ngay trong hiện tại. Như trong chuyện Bùi Độ trên, việc thiện anh ta làm là liều mạng cứu người, phước rất lớn, lập tức số mạng chuyển từ chết đói thành vinh hiển. Và khi anh ta tạo tội, cũng là những tội nghiêm trọng, hà hiếp bao nhiêu dân lành khiến tiếng tiếng oán thán thấu tận trời xanh. Số mạng lại xoay chuyển lập tức, từ vinh hiển thành chết đói. Nếu chỉ là những tội nhỏ, phước nhỏ lặt vặt thì phải lâu xa nhiều kiếp sau mới thấy nhân quả diễn ra, chứ không nhanh như vậy. Tóm lại, Tử Vi – bói toán dựa theo ngày giờ sinh chỉ tính được phần vốn liếng tội phước quá khứ, chứ không tính được sự thay đổi Tội – Phước mà người đó tạo ra trong kiếp hiện tại. Còn các môn như Tướng thuật, các môn Chiêm bốc gieo quẻ, quan sát phong thủy, địa lý, giải điềm báo… do dựa vào những tham số có thể biến đổi theo Nhân quả, như hình tướng của một người; thế cục, phương hướng nhà cửa đất đai nơi người đó ở, các hiện tượng thiên thời, địa lợi khác nhau .v.v… thì vẫn có thể tính được “Số phận mới”  khi một người đã tạo thêm tội – phước trong hiện tại. Giống như câu chuyện về Bùi Độ trên, tướng mạo của Bùi Độ thay đổi liên tục theo những việc làm thiện ác anh ta làm. Thầy tướng theo dõi tướng mạo anh ta là biết được tương lai sẽ thế nào. Lưu ý, những môn này thực ra cũng chỉ tính ra được thôi, chứ không có quyền thay đổi gì cả. Thế nên có đi phẫu thuật sửa tướng cũng không có tác dụng gì cả. Giống như ở trước một con đường đèo nguy hiểm, nhà nước thường cắm một cái biển báo hình tam giác, màu vàng để mọi người lái xe biết phía trước có đèo. Giờ một kẻ nào đó đến nhổ cái biển báo lên, vứt đi, với ảo tưởng “ không còn biển báo là không còn đèo” thì thật là hài hước. Cái đèo vẫn còn nguyên, bất chấp có biển báo hay không. Cũng như vậy, Nghiệp của một người vẫn còn nguyên, bất chấp mọi hình thức sửa tướng. Cái đèo chỉ thực sự biến mất, khi có người khổ công san bằng quả núi, tạo một con đường khác an toàn hơn để đi. Cũng như vậy, Nghiệp chỉ thay đổi, khi một người bỏ công ra tu tập, sám hối, tạo phước…tạo ra một số phận mới. Chung quy lại, số phận sướng khổ của một con người, chính là do Nhân quả tội phước của chính người đó tạo ra từ kiếp xưa, hay trong kiếp này quyết định. Mọi thế lực khác như Số phận, định mệnh, hay thần linh cai quản, ban phước giáng họa, thậm chỉ cả đến sổ sinh tử của Diêm Vương, cùng với mọi phương thuật khác như bói toán, phong thủy, tướng thuật .v.v… đều phải tuân theo quyền lực tối thượng mang tên “Nhân quả tội phước” của từng người. Mà Nhân quả tội phước lại do chính ý nghĩ – lời nói – hành động thiện ác của mỗi người quyết định. Vậy, số phận thực sự vẫn nằm trong tay mỗi người tự định đoạt, nhưng không phải muốn làm gì thì làm, theo kiểu “ Cố là được “ nhưng nhiều kẻ không biết trời cao đất dày lầm tưởng, mà là cần làm đúng theo quy luật NHÂN QUẢ mới làm chủ số phận được. Không có bất kì thế lực nào dù là Ngọc Hoàng tối cao với thần thông quảng đại, hay trận đồ phong thủy của cao nhân nào có thể bẻ gãy được Nghiệp lực, có thể vẽ ra lối tắt hòng qua mặt được Nhân quả tội phước được. Nếu có kẻ dại đột nào cố tình dùng thần thông, dùng bùa chú, hay phong thủy… cố gắng bẻ gãy Nghiệp lực của người khác ( như các thầy bùa, thầy phong thủy hay làm) thì sau một thời gian ngắn, chính kẻ đó sẽ phải gánh lấy những hậu quả nghiêm trọng do lực phản vệ của Nghiệp. Vậy, việc giúp đỡ một người khác, nếu không dùng thần thông, hay phương thuật gì cả, chỉ là giúp đỡ bình thường như tặng tiền, cho thuốc, giúp đỡ công sức… có phải là chống lại Nghiệp lực không ? Xin thưa là KHÔNG ! Luật nhân quả không hề cứng ngắc. Luật nhân quả không hề cấm mọi người xung quanh giúp đỡ người có đang chịu quả báo khổ, cũng không phải là không có cách gì hóa giải các nghiệp xấu. Như người bị bệnh, chắc chắn là do nghiệp, nhưng ta hoàn toàn có thể dùng phước của mình , ví dụ như dùng tiền bạc, ta cầm tiền ra mua thuốc tặng cho người đó, và thế là người đó uống vào liền được khỏi bệnh. PHƯỚC CỦA NGƯỜI NÀY CÓ THỂ BÙ ĐẮP CHO NGHIỆP XẤU CỦA NGƯỜI KHÁC. Có nghĩa là phước của mình như tiền bạc, sức lực, quyền lực… có thể đem ra giúp người khác thoát quả báo đau khổ, đây là một thực tế mà ta dễ dàng nhận thấy trong cuộc sống. Vậy thế nghiệp xấu của người đó biến đi đâu mất ? Nghiệp không tự nhiên sinh ra, cũng không tự dưng biến mất, chỉ là Nghiệp đó đã được chuyển hóa thành một dạng khác, đó là DUYÊN NỢ. Hiện tại, hoặc tương lai, luật Nhân quả sẽ sắp xếp cho người được giúp phải làm cách này hay cách khác để đền ơn cho ân nhân đã giúp mình. Người được giúp không phải chịu quả báo đau khổ nữa, nhưng sẽ phải đem thân mạng, tài sản, sức lực, phước báo… của mình để trả ơn cho ân nhân. Giống như trong chuyện trên, cha con cô gái Ngọc Hà, đáng lí theo nghiệp cũ phải chịu nạn. Nhưng nhờ Bùi Độ liều mạng cứu mà được thoát tai ách. Sau đó, Ngọc Hà thì đem cả cuộc đời theo “nâng khăn sửa túi”, cha Ngọc Hà thì đem gia sản, các mối quen biết… báo đáp cho Bùi Độ khiến anh ta một bước lên mây. Đó là một ví dụ điển hình về sự chuyển hóa từ Nghiệp sang Nợ. Như thế, Nhân quả vẫn luôn là công bằng. Tuy nhiên, sự cứu giúp như thế chỉ ảnh hưởng trong một chừng mực nào đó mà thôi, chứ không luôn luôn giải quyết hết được vấn đề. Bằng chứng là đến cả thần y Võ Hoàng Yên, hay bệnh viện hiện đại nhất cũng đâu thể cứu chữa được cho mọi bệnh nhân thoát khỏi mọi bệnh tật đâu. Muốn giải quyết hết vấn đề, thì phải làm sao cho người cần được giúp, hiểu ra quy luật Nhân quả, bắt tay vào tu hành, sám hối để làm tiêu trừ được nghiệp quá khứ, tạo thêm nhiều việc thiện để tăng trưởng phước báo. Chỉ khi một người dứt trừ được các nghiệp xấu quá khứ, bằng cách tu tập sám hối, và tạo được nhiều phước báu mới, thì tự nhiên Nhân quả sẽ sắp xếp cho họ một “số phận mới”. Nói cách khác, phương pháp hay nhất vẫn là giúp cho mọi người tự mình điều khiển Nhân quả của chính mình, tự an bài Lá số Tử Vi của chính mình, bằng cách tu hành, tạo phước dựa trên sự hiểu biết đúng đắn về Nhân quả nghiệp báo. Và đó là một trong những cách mà Phật Pháp cứu giúp cho nhân loại, cho chúng sinh hàng ngàn năm qua. Nói chung , luật nhân quả là quyền lực tối thượng, may mắn cho chúng ta là quyền lực tối thượng ấy lại có thể điều khiển được. Luật nhân quả dù phức tạp, bí ẩn, xong lại rất linh hoạt, nếu ta nắm rõ nhân quả, hiểu sâu nhân quả, và biết can thiệp một cách khéo léo thì có thể giải quyết trọn vẹn mọi vấn đề , dù là vấn đề của thế gian hay xuất thế gian.

NGỰA TRẮNG BÁO OÁN CẢ GIA ĐÌNH ĐỒ TỂ TUYỆT DIỆT

(Trích ” Những chuyện có thật về Nhân Quả và Phật Pháp nhiệm màu” – Hoàng Anh Sướng) Làng Phú Thành ( tên địa danh đã được thay đổi) có nhiều người hành nghề đồ tể. Nhưng nổi đình nổi đám nhất vẫn là gia đình anh Trung ( tên nhân vật đã được thay đổi vì lí do tế nhị) có truyền thống ba đời làm nghề sát sinh. Ông nội Trung vốn là người chuyên giết mổ gia súc, chế biến thức ăn cho binh lính Pháp tại các doanh trại thời Pháp thuộc. Thừa hưởng nét tài hoa của ông nội, bố Trung nấu nướng rất ngon. Quán lòng lợn tiết canh của ông trên con đê đầu làng lúc nào khách cũng đông nườm nượp. Nổi tiếng thế nhưng phải đến đời Trung cơ nghiệp của gia đình đồ tể giàu truyền thống ấy mới thực sự phất. Sáu tuổi đầu, Trung đã được bố tẩm bổ mỗi sáng một bát tiết tươi và quả mật lợn nóng hổi. Không biết có phải nhờ công dụng của cả núi mặt lợn khổng lồ ấy không mà Trung lớn nhanh như thổi ,khỏe như trâu. Và nghiễm nhiên, Trung trở thành người kế thừa nghiệp đồ tể của tổ tiên. Kỹ năng giết mổ lợn của Trung đạt đến trình độ thượng thừa. Nhanh như chớp, một nhát chày ngang gáy, con lợn quay lơ, không kịp kêu một tiếng ( đốp). Con thứ hai đổ gục. Cứ thế chỉ trong vài tích tắc cả đàn lợn nằm lăn quay. Mười chín tuổi, Trung đã đòi cưới vợ. Vợ Trung tên Hương 18 tuổi, đảm đang, tháo vát, con ông chủ tiệm thịt chó nổi tiếng làng bên. Lấy Hương, Trung như hổ mọc thêm cánh. Kinh doanh càng phát đạt. Dịp gần Tết, mỗi ngày thịt cả chục con, Trung kiếm tiền như nước. Năm 2000, vợ chồng Trung xây cất ngôi biệt thự ba tầng rộng rãi, với lối kiến trúc nửa tây nửa tàu vênh váo vươn khỏi lũy tre làng. Ở một làng thuần nông như Phú Thành, ngôi biệt thự đó hoành tráng, rực rỡ, xa xỉ như cung vua phủ chúa. Có điều, trầm trồ với vẻ lạ mắt của ngôi biệt thự hoành tráng thế thôi, chứ nói về gia đình Trung, người dân Phú Thành nổi tiếng về truyền thống hiếu học, trọng chữ nghĩa, nhiều người thành danh trong xã hội, vẫn có gì đó khinh miệt: – Ối dào! Dân đồ tể ý mà, nhiều tiền thật đấy nhưng thất học thì cũng chẳng vẻ vang gì! Các bậc cao niên trong làng thì ngồi uống trà với nhau rủ rỉ: – Cái nghề sát sinh là bạc phúc lắm. Tôi cứ ngấm ngầm theo dõi suốt mấy chục năm nay, ở cái làng này, phần lớn gia đình làm nghề đồ tể đều có hậu vận không tốt, gặp họa cho đời sau. Như vợ chồng ông Long mổ lợn ở đầu thôn. Hai vợ chồng ở với nhau suốt mấy chục năm mà không có nổi mụn con. Về già, cả hai vợ chồng đều bị tai biến nằm liệt giường liệt chiếu, thối tha thối thịt. Đến lúc chết, chính quyền xã phải đứng ra lo tổ chức ma chay. Rồi anh Trí, chủ cửa hàng thịt chó gần chùa làng, 39 tuổi đã mắc bệnh ung thư gan. Bộ xương to như cái trống. Nằm kêu rên ư ử suốt ngày đêm. Đau đớn vật vã đến tận lúc chết. Mà nói đâu xa, ông nội tay Trung kia, sáng sớm tinh mơ nồi đun chảo nước sôi làm lợn. Chả biết trúng phong hay ngủ gật, ngã vật xuống đất, đầu vùi vào chảo lửa. Đến lúc vợ con phát hiện, nhấc dậy thì cả cái mặt bị lột da, trắng bệch như phủ lợn vừa cạo lông. Cả nhà chết khiếp. Ông bố Trung, khi đó mới ngoài 50 tuổi. Buổi trưa, ra đình làng uống nước với cụ thủ từ. Vừa rít điếu thuốc lào, ông kêu tức ngực, khó chịu trong người. Ông lững thững đi về nhà nằm nghỉ. Lát sau, nghe tiếng kêu cứu thất thanh của bà vợ: ”Ôi làng nước ơi! ông nhà tôi bị làm sao thế này”. Hàng xóm chạy đến, thấy ông nằm bất động trên giường, lay không cựa, gọi chẳng thưa. Khi bác sĩ đến kiểm tra mạch, đo huyết áp, bỗng dưng toàn thân ông co giật đùng đùng, rồi học ra một đống máu. Ông chết một lúc rồi mà dòng máu tươi vẫn rỉ ra từ miệng. Nhìn cảnh ấy, ai cũng hãi. Cho nên, mọi thứ trên đời đều rất vô thường và đều có nhân có quả. Sung túc như vợ chồng tay Trung đấy nhưng chẳng biết hiểm họa ập đến lúc nào đâu. Trung thất học từ bé, lại sớm tiếp xúc với máu me, giết chóc nên ăn nói lỗ mãng. Trung chẳng có thú vui gì ngoài thú bia rượu và đàn bà. Đam mê nhục dục, Trung không tiếc tiền cho việc bồi bổ sức khỏe. Sau này, kết thân với mấy tay lái buôn ngựa ở Bắc Giang, Sơn La, nghe họ quảng cáo về công dụng của cao ngựa bạch, Trung đâm mê, chuyển sang sưu tầm loại cao này. Cứ chủ nhật cuối cùng của tháng, Trung mua cả con về, giết mổ tại nhà. Thịt đem ra chợ bán. Xương nấu cao, một phần để dùng, một phần bán. Một hôm, tay lái buôn từ Sơn La đem xuống cho Trung một con ngựa trắng. Mắt thau đồng, móng trắng, môi trắng hồng, không có đốm đen, buổi tối soi trước bóng đèn thì thấy hai mắt ngựa đỏ rực như than lửa. Bộ phận sinh dục, mũi, mõm có màu hồng đỏ, bốn chân có móng sừng, màu cước ánh bạc. Đây là giống ngựa rất quý hiếm. Trung sướng rơn như bắt được vàng. Tay lái buôn dặn: – Con này đang có chửa. Nếu bác sợ thì hãy chờ khi nó đẻ xong hãy thịt. Ngót 30 năm làm nghề giết mổ, lại vốn vô thần vô thánh, Trung không biết sợ là gì. Tối hôm đó, vợ Trung đi xuống nhà dưới, cạnh chuồng nhốt ngựa. Nghe qua cửa sổ, bỗng chị hét toáng lên. Trung hớt hải chạy xuống, quát lớn: – Cái gì thế? Có sao không? Chị vợ mặt cắt không còn giọt máu, nói hổn hển qua hơi thở đứt quãng: – Mình ơi! Tôi vừa nhìn xuống chuồng, thấy có người đàn bà đang nằm ôm con khóc. Rướn mắt nhìn kỹ lần nữa, tôi vẫn thấy họ. Người mẹ ấy nhìn tôi ánh mắt như van lơn,trông tội nghiệp lắm. Sợ quá, tôi mới hét lên.Tôi nghĩ đó là điềm xấu. Mình đừng giết con ngựa bạch ấy nhé! Trung ngửa cổ cười ha hả: – Bà xem phim ma cho lắm vào rồi nhìn người tưởng ngựa, nhìn ngựa tưởng người. Chưa biết chừng, có ngày, bà nhìn tôi lại tưởng là chó, cho một nhát dao là toi đời. Thôi, lên giường đi ngủ. Bà bị điên đến nơi rồi! Tờ mờ sáng, mọi người đã tụ tập đông đủ ở sân nhà Trung. Dụng cụ giết mổ đã chuẩn bị xong. Chảo nước sôi reo ùng ục. Thằng Kiên, con trai út của Trung ,16 tuổi, lực lưỡng như bố, hăm hở vào chuồng dắt ngựa. Nó kéo mũi, rồi đánh, chửi, con ngựa vẫn nằm im, không chịu đứng lên. Thấy vậy ,Trung và mấy người bạn huỳnh huỵch vội chạy vào. Vừa nhìn thấy Trung, con ngựa bỗng nhổm dậy, hai chân trước quỵ xuống như van xin. Từ trong đôi mắt màu thau đồng của nó, hai dòng nước mắt ứa ra. Anh Chiến, bạn của Trung thấy vậy liền khuyên Trung không nên thịt nhưng Trung phủi tay, không tin vào chuyện nhảm nhí ( đốp). Cánh tay lực sĩ buồn cuộn cơ bắp của Trung vung chiếc vồ thép nhanh như một tia chớp giáng thẳng xuống đầu ngựa. Con ngựa ngã khụy xuống nền gạch. Nhanh như cắt, Trung rút con dao nhỏ xíu, cỡ hai đầu ngón tay, xiên một nhát thật ngọt ở cổ. Tính ra mất 15 phút, con ngựa to tướng chỉ còn lại đống bầy nhầy lòng phèo nằm giữa sân, thịt xương đã thành đống riêng biệt. Tội nghiệp chú ngựa con chưa thành hình, Trung sai vợ đem rửa sạch với nước gừng rồi cho vào chiếc bình ngâm rượu. Buổi chiều hôm ấy, như thường lệ, vợ Trung sai thằng con thứ chở xe máy đi đến các đại lý thu gom tiền. Trung ở nhà mở tiệc linh đình, rượu cao ngựa bạch, uống với thịt bắp ngựa bạch. Bỗng nghe tiếng ngoài ngõ lao xao. Tiếng ai đó gào to: – Ông Trung ra ngoài đường quốc lộ mà nhận xác vợ con về. Trung vội vã buông bát, leo lên xe phóng như điên. Ra đến đầu làng, giáp đường quốc lộ, đã thấy đám đông xúm đen xúm đỏ. Cố hết sức chen, lách, vừa vào đến bờ mương, Trung đứng chết lặng. Dưới lòng mương, xác hai mẹ con nằm bẹp. Hai bánh trước xe ô tô tải đè ngang ngực. Máu mũi ,máu mồm,máu tai chảy lênh láng. Giữa lòng xe tải chiếc xe Honda Lead vỡ vụn. Sau này, người tài xế xe tải trình báo với công an huyện: “Đang lái xe với tốc độ 50km/giờ, đột nhiên, anh nhìn thấy con ngựa trắng cao lớn đứng ngay đầu xe. Anh hốt hoảng đánh vô lăng sang trái, đúng lúc chiếc xe Lead chở vợ con Trung vừa tới. Xe lao đầu xuống mương”. Lái xe may mắn thoát chết. Run run mở cửa xe bước xuống, tài xế rợn người khi nhìn thấy xác hai người bị bánh trước của xe ô tô đè lên. Hắn vội vã bỏ chạy. Vụ tai nạn rùng rợn với cái chết thương tâm của hai vợ con Trung xảy ra vào cuối tháng 9 thì đến đầu tháng 11, người con trai cả của Trung sinh năm 1974 tự dưng lăn đùng ra chết. Cậu này không làm nghề mổ. Được ăn học tử tế, làm giám đốc một doanh nghiệp ở Quảng Ninh. Đang tuổi sung sức làm ăn, người vâm váp, khỏe mạnh, không bệnh tật gì. Thế mà một đêm, đang ngồi xem ti vi anh đột nhiên kêu mệt, đau đầu nên vào buồng ngủ. Nửa đêm, anh lên cơn co giật. Máu mũi, máu mồm ộc ra. Gia đình vội vàng đưa đến bệnh viện nhưng anh đã chết trên đường đi cấp cứu. Cái chết của cậu con trai cả khiến Trung hoang mang. Trung đi xem bói. Thầy phán rằng gia đình bị một oan hồn báo oán. Trung kể lại việc giết con ngựa bạch mang thai cho thầy nghe. Thầy bảo, đó là do linh hồn con ngựa báo oán. Từ hôm đó, Trung bắt đầu sì sụp cúng bái. Sắm đủ lễ lạt, rước các thầy chùa về lập đàn giải nghiệp oán, cầu siêu cho linh hồn con ngựa, tốn kém hàng trăm triệu đồng. Mọi thứ tạm yên được một thời gian. Ăn tết xong, người con trai thứ ba của Trung lăn đùng ra ốm. Cậu này đô con như lực sĩ, mổ lợn nhanh thoăn thoắt, tương lai kế thừa ngôi vị đồ tể của Trung. Đêm cậu kêu mất ngủ. Ngày chán ăn, người cứ mệt rũ ra. Thỉnh thoảng, chợp mắt được một tí thì nằm mơ toàn ác mộng, ngựa đá, chó cắn, xe đâm, la hét ầm ĩ. Gia đình đưa đi khắp các bệnh viện Đông y , Tây y điều trị nhưng các bác sĩ chẳng phát hiện ra bệnh gì. Người càng gầy yếu. Mùa hè năm đó, cậu trút hơi thở cuối cùng. Cái chết của cậu khiến Trung sợ hãi. Trung bắt đầu nghĩ đến những lời đồn thổi của dân làng về hậu vận của mình, bắt đầu tin vào luật nhân quả. Chỉ trong vòng chưa đầy 1 năm mà gia đình Trung mất 4 mạng người : Vợ và ba thằng con trai. Bây giờ, chỉ còn mỗi thằng con trai út, 17 tuổi, đang học lớp 11 trường huyện. Tạm gác lại chuyện mổ xẻ, giết thịt, Trung chăm sóc con từng bước. Đích thân ngày 2 buổi đưa đón con đi học. Về nhà, Trung giữ rịt nó ở nhà. Không bóng đá, không đi bơi. Thế rồi, buổi trưa nọ, trong lúc Trung ngủ say, cậu út lẻn ra ngoài , đi bơi cùng đám bạn. Trước cửa đình làng có hồ ba mẫu rất rộng, nước trong. Mùa hè, đám thanh niên và trẻ con trong làng ra hồ bơi ì ùm suốt ngày. Cậu út của Trung bơi rất giỏi. Vậy mà hôm ấy chẳng hiểu sao, nó lại bị chết đuối. Mãi chiều muộn mới vớt được xác nó lên bờ. Vừa nhìn thấy xác con bụng trương phềnh, da trắng bợt như con lợn vừa bị cạo lông, Trung hộc lên một tiếng : “Ối con ơi!”. Đột nhiên, máu đen từ mũi, từ miệng xác con ộc ra như tháo cống. Ai chứng kiến cảnh đó cũng phải khiếp đảm. Cái chết tang thương của đứa con cuối cùng khiến Trung hoàn toàn suy sụp. Trung suốt ngày ngập chìm trong rượu. Rượu vào là khóc, là chửi, là than. Cho đến một ngày không thấy tiếng khóc, tiếng chửi, tiếng than của Trung, hàng xóm kế bên chạy qua nhòm qua khe cửa. Họ hốt hoảng khi nhìn thấy Trung nằm sõng soài trên nền gạch, máu chảy lênh láng. Phá của vào, mọi người rùng mình khi nhìn thấy trên yết hầu Trung một vết cắt ngọt, sâu, máu vẫn còn đang đùn ra. Tay phải Trung vẫn nắm chặt con dao nhỏ, sắc nhọn bằng hai ngón tay, con dao mà chủ nhật cuối tháng ấy, Trung đã dùng để xỉa một nhát thật ngọt vào yết hầu con ngựa bạch.

CHỦ NHÀ HÀNG TƯƠI SỐNG & NHỮNG BÁO ỨNG KINH DỊ

(Trích Nhân quả & Phật Pháp Nhiệm màu. Tác giả: Hoàng Anh Sướng ) Cuối năm 2015, sau bài chia sẻ với mấy ngàn Phật tử tại chùa Hoằng Pháp (Thành phố Hồ Chí Minh). Tôi được một người đàn ông trung niên, tóc hoa râm, mặc áo tràng màu lam, dúi vào tay tôi một mẩu giấy. Về đến khách sạn, tôi mở ra đọc: “Thưa nhà báo Hoàng Anh Sướng! Tôi rất tâm đắc với những gì nhà báo chia sẻ sáng nay tại chùa Hoằng Pháp. Giá như tôi được gặp nhà báo sớm hơn thì cuộc đời tôi hạnh phúc biết bao. Tôi biết công việc nhà báo rất bận nhưng tôi mạo muội xin phép được gặp nhà báo để được kể câu chuyện của đời tôi, một cuộc đời nhiều tội lỗi, khổ đau, u mê, lầm lạc… Tôi tin, qua ngòi bút của nhà báo, nó sẽ giúp ích cho bạn đọc nhiều lắm. (Điện thoại của tôi: 097.856….) Nóng lòng chờ hồi âm của anh. Kính thư: Nguyễn Nhật Trung”. Tôi quyết định đổi chuyến bay về Hà Nội. Tối hôm đó, tôi hẹn gặp người đàn ông bí ẩn đó tại một quán trà đạo ở Sài Gòn. Gặp tôi, anh mừng rơi nước mắt. Vừa nhấp ngụm trà đầu tiên, anh đã vội xin phép được kể câu chuyện đời mình. Vì như anh nói, nó dài lắm… “Tôi tên là Nguyễn Nhật Trung, quê gốc ở Đồng Nai nhưng sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Trung. Vào cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, nhận thấy đời sống kinh tế dân mình bắt đầu dư dả, nhiều người có thú sưu tầm ăn uống những của ngon vật lạ, tôi dốc toàn bộ vốn liếng, mở một nhà hàng thịt thú rừngđặc sản với 3 tiêu chí: Ngon, độc, lạ… Nhà hàng bày trí sang trọng, đẹp mắt. Dàn nhân viên chân dài, da dẻ nõn nà. Thức ăn thì toàn hàng “độc” với những công dụng “chết người” mà hễ vừa nghe quảng cáo qua, ẩm khách phải sôi sùng sục đòi ăn cho kỳ được như: Ăn bào thai rắn để “ông khỏe, bà vui”. Ăn chuột bao tử sống để “đêm bảy ngày ba vào ra không kể”… Tôi muốn nói thêm với anh, bào thai rắn thực chất là trứng rắn. Bề ngoài giống trứng chim cút nhưng có giá cắt cổ, mỗi quả lên đến vài trăm nghìn đồng. Khi đập vỡ quả trứng sẽ thấy một con rắn bé tí như đầu đũa ngo ngoe như con giun đất. Thiên hạ đồn rằng bào thai rắn là một bài thuốc bí truyền của người Trung Quốc, ăn một lần thì nam giới sẽ có sức khỏe gấp đôi. Món này làm cho thân thể thấy rạo rực, làm “chuyện ấy” thì miễn chê. Đặc biệt, muốn phát huy hết tác dụng “cường dương” thì khi đập vỡ quả trứng, người dùng phải nuốt tươi ngay. Nhiều người đồn đại rằng, chuột đồng bao tử (chuột con mới đẻ còn đỏ hỏn, chưa mở mắt) là món ăn “độc nhất vô nhị”, là vị thuốc bổ thận có một không hai của Từ Hy Thái hậu xứ Trung Hoa. Theo lời đồn này, nếu mổ bụng con chuột cái đang mang thai, moi chuột con đỏ hỏn bên trong ra, nhúng qua nước sôi đưa vào miệng ăn tươi nuốt sống thì sẽ mang đến công dụng kỳ diệu cho đàn ông. Sở dĩ có thể ăn tươi nuốt sống bởi chuột bao tử nằm trong bụng mẹ nên đảm bảo vệ sinh an toàn tuyệt đối, mùi vị cũng dễ ăn vì nó rất ngọt và béo ngậy. Ngoài món chuột chao nước sôi ở trên, tôi còn rửa sạch chuột bao tử bằng rượu, cồn hoặc nước muối, mổ bỏ lòng ruột, đem ngâm rượu với một số vị thuốc bắc như ba kích, kỷ tử, đẳng sâm… trong 2 – 3 tháng. Uống loại rượu này rất tốt cho sinh lực đàn ông. Nhưng món ăn độc nhất, quý nhất, tạo nên thương hiệu nhà hàng của tôi chính là món óc khỉ, thịt khỉ. Chẳng biết tự bao giờ rộ lên lời đồn rằng đây là món đại bổ, có tác dụng tuyệt vời để kích âm, cường dương… và sức mạnh dược tính càng phát huy mạnh mẽ nếu mổ xẻ thú khi đang còn sống. Để tránh ăn phải óc khỉ dởm, khách đều yêu cầu nhà hàng phải giết mổ tại bàn để ăn óc tươi. Cho nên, giữa mỗi bàn ăn tôi đều khoét một lỗ vừa đủ cho chỏm đầu con khỉ nhô lên. Khỉ trước khi lên đầu đài đều được trói chặt, nhét dưới gầm bàn, đầu nhô lên khỏi lỗ khoét khoảng 1/3. “Phập”… Một nhát dao thật sắc, thật ngọt như tia chớp lia qua. Chỏm đầu con khỉ bay vèo, rơi xuống mặt bàn. Một tiếng rú man dại như tiếng đứa trẻ thét lên. Chanh tươi vắt, hạt tiêu bỏ vào, thực khách tranh nhau dùng muỗng múc óc tươi lẫn máu đỏ tứa ra, nuốt ngồm ngoàm cùng rau răm, húng. Tiếng kêu rên thảm thiết của con khỉ càng kích thích đám thực khách. Cho đến lúc nó lịm đi, chết trong tột cùng đau đớn, óc khỉ cũng sạch banh. Trên khóe miệng nhiều người còn vương máu. Để thỏa mãn sự hiếu kỳ của khách, tôi còn nghĩ ra đủ trò tra tấn, hành hạ, giết thịt các con vật khác tại bàn ăn… Càng dã man, rùng rợn, khách càng thích thú: – Cắt tiết canh vịt tại bàn. – Chặt đuôi bò hầm khi nó còn sống. – Nhốt mèo vào lồng chật hẹp, dùng nước sôi nóng già rót từ từ như rót trà cho lớp lông tự bung. – Xẻ từng lát thịt khi cá còn giãy đành đạch… Tôi chưa từng biết ghê tay trước cảnh giết mổ nào. Khách hàng càng phê, hú hét, tôi càng hứng, những nhát dao xẻ thịt càng diệu nghệ. Năm 2000, tôi cưới vợ, một cô chân dài đẹp nức tiếng thành phố biển. Một năm sau, vợ tôi mang thai. Nghe thiên hạ đồn thổi về công dụng của thịt chó đối với việc nuôi dưỡng thai nhi, mỗi tuần, tôi ép vợ ăn 3 bữa. Đích thân tôi tuyển lựa những chú chó tơ ngon nhất, tự tay tôi giết mổ, làm thịt, sào xáo rồi dâng lên tận miệng cho vợ xơi. Ăn được vài tháng, vợ tôi kêu: – Anh ơi! Em sợ lắm rồi… Thịt chó rất nóng, ăn vào con sẽ đầy mụn nhọt, lắm lông và nhiều bớt xanh, đen nữa. Vả lại, em cứ thấy ác ác thế nào ấy. Con chó thân thiết với người là thế mà nỡ ăn thịt nó. Bữa trước, bạn em còn bảo, ăn thịt chó nhiều khi mang bầu sau này con dễ bị động kinh. Tôi gắt: – Vớ vẩn! Đứa nào bảo thế để anh vả vỡ mõm nó ra. Thịt chó ngon, bổ, nhiều đạm. Đấy, em cứ nhìn bác Lực hàng xóm nhà mình kia kìa. Chẳng ngày nào bác ấy không ăn thịt chó. Ngoài 60 mà bác ấy khỏe như vâm, người đô con như lực sĩ. Thôi! Ráng ăn đi em cho con khỏe. Mang thai tròn 9 tháng 10 ngày, vợ tôi sinh hạ được một bé gái bụ bẫm, kháu khỉnh. Tôi mừng rơi nước mắt. Có điều, lúc tôi chìa tay ra bế, đứa trẻ bỗng khóc thét như vừa bị ai đánh rơi. Tôi càng vỗ về, ru nín, con bé càng khóc ngằn ngặt, khóc đến tím tái mặt mày. Kỳ lạ là đưa con lại cho vợ, chỉ ít phút, con bé đã nín. Chuyển tay tôi, nó lại khóc ré lên. Vợ tôi bảo: – Chắc tại mình giết mổ nhiều, sát khí nặng nên con mới sợ. Trẻ sơ sinh, năng lượng còn mỏng manh, yếu ớt. Thôi! Thương con, mình chịu khó kiêng gần con một thời gian. Từ bấy, những lúc nhớ con, tôi chỉ dám đứng từ xa ngắm con. Được hai tháng tuổi, một hôm, con bé bỗng lên cơn co giật, sùi bọt mép, da vàng ệch. Vội vã đưa cháu đến bệnh viện thành phố cấp cứu. Sau khi xem hình ảnh siêu âm, bác sĩ kết luận: “Cháu bị tắc ống mật. Mật ngấm vào máu, gây vàng da và niêm mạc. Vi khuẩn phát triển trong đường mật gây nhiễm khuẩn đường mật, xâm nhập vào máu gây nhiễm khuẩn máu. Đây là giai đoạn rất nặng của tắc mật, nguy cơ tử vong cao”. Nghe bác sĩ nói vậy, vợ tôi khóc ầm lên. Còn tôi choáng váng như sét đánh ngang tai. Rất may, bệnh viện đã mời được vị bác sĩ giỏi tu nghiệp từ Úc về, con tôi được cứu sống. Đến tháng thứ 5, một hôm tắm cho con, vợ tôi phát hiện lưng con bé mọc rất nhiều lông. Lúc đầu chỉ lún phún. Mười ngày sau, lông mọc càng dài, khoảng 3 – 4cm, cứng, có màu vàng, mềm mượt như lông khỉ. Lông mọc lan cả xuống hai mông. Lo sợ, vợ chồng tôi ôm con đi khắp các bệnh viên trong Nam, ngoài Bắc. Nhưng các bác sĩ đều lắc đầu từ chối vì không biết rõ nguyên nhân của căn bệnh lạ… Nghe một sư cô giới thiệu ở trên đỉnh núi Cấm (xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang) có một vị đạo sĩ dùng thuốc Nam chữa bệnh như thần, tôi tức tốc lên đường. Tôi vẫn nhớ, đó là một buổi sáng khí trời lạnh buốt, sương giăng mịt mù. Chỉnh đốn hành trang, cẩn thận đem theo tấm bản đồ, một mình bắt đầu cuộc hành trình leo núi. Dọc đường, ngước nhìn lên chỉ thấy đỉnh núi cao vòi vọi, cây cối thâm u, khói sương bảng lảng. Đường càng lúc càng gập ghềnh. Miết mải trèo đèo lội suối, trời đã gần trưa mà vẫn chưa thấy hình bóng của vị đạo sĩ khổ hạnh kia, lòng không khỏi băn khoăn. Đưa mắt nhìn quanh, bỗng nghe đâu đây tiếng mõ vọng đến chậm rãi, khoan thai: “Cốc! Cốc! Cốc!”… Tinh thần phấn chấn trở lại, tôi hăm hở nhắm hướng sơn cốc tiến tới. Rẽ vào con đường hun hút sâu, trên cao bồng bềnh mây phủ, cây cối xanh mướt giống như chốn bồng lai. Tiếng mõ chậm dần rồi ngưng hẳn. Một dòng suối trong xanh uốn khúc hiện ra trước mặt. Tôi khom mình vốc nước uống, hương vị mát lạnh thanh lương đến thơm cả miệng. Ngẩng đầu lên, tôi bỗng giật mình phát hiện có người đứng bên bờ suối. Nhìn kỹ, thấy một cụ già tóc búi củ hành, râu bạc như cước, vận bộ quần áo lụa màu trắng. Một cơn gió thoảng qua. Râu tóc, tà áo ông phơ phất. Ánh mắt hiền từ. Thần thái, cốt cách như một tiên ông. Bỗng dưng tôi có cảm giác ông gần gũi quá, quen thuộc quá, cứ như là ông bà, cha mẹ tiền kiếp của mình. – Xin cụ làm ơn chỉ đường cho con đến nhà thầy Th. – Tôi đây! Anh đến để nhờ chữa bệnh cho con gái anh chứ gì? Tôi ra đón anh đây. Tôi giật mình. Quái lạ! Đây là lần đầu tiên tôi lên chốn thâm sơn cùng cốc này, cũng là lần đầu tiên gặp cụ. Sao cụ lại biết tôi lên đây tìm cụ chữa bệnh cho con? Đang vân vi suy nghĩ, cụ tiến lại gần, nhìn sâu vào mắt tôi rồi hỏi: – Trước đây, anh có giết thịt con khỉ lông vàng, trên lưng có đốm đen nào không? Chính con khỉ đó đã đầu thai làm con anh, tìm anh mà báo oán đó. Tôi lại giật mình, mồ hôi túa ra như tắm. Đúng là cách đây 3 năm, tôi có làm thịt con khỉ lông vàng trên lưng có đốm đen cho nhóm khách quen là các quan chức của huyện. Lúc lôi nó từ trong lồng ra làm thịt, con khỉ cứ chắp tay lạy tôi, lạy cả đám quan chức đang háo hức ngồi chờ ăn món óc khỉ đại bổ. – Nhưng như thế thì vô lý quá! Trước tiên con khỉ phải tìm kẻ bắt nó mà báo oán chứ, là đám quan chức lắm tiền nhiều của. Bọn họ ăn thịt khỉ nhiều hơn con mà. Tại sao con khỉ đó lại chỉ nhằm vào mỗi mình con mà báo oán?. Vị đạo sĩ già ôn tồn giải thích: – Có lẽ nó đã tìm tới những người kia báo thù rồi. Nhưng không nhất định là phải đầu thai làm con họ. Phàm những kẻ tham dự việc bắt khỉ giết, ăn, sớm muộn gì đều bị quả báo hết. Bởi vì nghiệp lực và phúc đức mỗi người khác nhau nên thời gian chịu quả báo cũng sớm muộn khác nhau. Hôm nay anh có đủ duyên đến với ta cho nên ta mới giảng về nhân quả cho anh nghe. Còn số mệnh anh, số mệnh gia đình, đều nằm trong tay của chính anh. Tất cả đều có thể chuyển đổi được. Nói đoạn, ông cụ đưa cho tôi 3 thang thuốc, dặn vừa nấu cho cháu uống, vừa tắm cho cháu hàng ngày: – Nếu như anh thực lòng sám hối tội giết con khỉ, hằng ngày chịu khó tụng kinh “Phổ Môn Quan Thế Âm Bồ Tát”, hồi hướng công đức cho con khỉ đó, thì con anh mới hết bệnh. Tâm càng chân thành thì bệnh con anh chuyển biến càng nhanh. Tôi về nhà, tinh tấn thực hiện đúng những gì vị đạo sư căn dặn. Kỳ lạ thay, 10 ngày sau, con tôi rụng hết lông. Da dẻ nhẵn nhụi như trước… Nhà hàng mở cửa lại, khách đến ăn lại đông nườm nượp. Tiền lại vào như nước. Ngày ngày, tôi lại quay cuồng trong những trò chém giết, mổ thịt, lột da… mua vui cho khách. Cho đến năm 2004, quả báo dồn dập ập đến với tôi. Mở đầu là cái chết tức tưởi của ông ngoại vợ tôi: “Hôm ấy, nghe tin ông ngoại lên cơn hen xuyễn, vợ chồng tôi về thăm, mang theo cạp lồng cháo nấu với món óc khỉ. Tôi tự tay đút cho ông. Ai dè, xúc đến thìa thứ 3, ông cụ bị nghẹn, mắt trợn ngược, mặt tím tái, nước mắt giàn giụa, người co cứng. Vài phút sau, ông chết trên tay tôi”. Cả nhà vợ oán hận, vì tôi mà ông chết. Cơn hận chưa nguôi, ít lâu sau, nhờ mối quan hệ với các sếp của tỉnh, là khách hàng thường xuyên của nhà hàng, tôi có chắp nối cho ông cậu ruột bên nhà vợ là chủ thầu xây dựng, nhận một công trình lớn. Một lần, cậu tôi đến khảo sát, dàn giáo bất ngờ sập trong lúc công nhân đang đổ bê tông, chính ông bị khối bê tông đè trúng người, đầu vỡ toác… Chưa hết, hơn 3 tháng sau, mẹ vợ tôi bị cảm sốt phải nhập viện. Chính tay tôi lái xe chở bà đến vì tôi quen thân khá nhiều các bác sĩ ở đây. Bệnh bà không nặng. Thế mà vừa vào viện buổi sáng, buổi chiều, bà bị sốc thuốc, lên cơn nhồi máu cơ tim, chết trên giường bệnh. Đến tháng 10, cô ruột tôi bị tai biến mạch máu não, vào nằm viện. Mọi người trong gia đình thay phiên nhau trực tại bệnh viện. Chả hiểu sao, đến đúng phiên trực của tôi thì cô mất. Ngẫm ra, cả bốn cái chết đều ít nhiều liên quan đến tôi. Từ bấy, cả hai bên gia đình nội ngoại đều tìm cách tránh xa tôi như tránh hủi. Họ bảo: “Thằng T. giết chóc thú rừng, súc vật nhiều quá nên sát khí nặng lắm. Gần nó, toi có ngày”. Cũng từ bấy, không hiểu sao, nhà hàng thưa khách dần. Chuyện làm ăn ngày càng sa sút… Tháng 02/2006, 3 đêm liền tôi nằm mơ thấy ác mộng. Tôi mơ thấy mình vác cuốc ra đồng đào huyệt. Huỳnh huỵch, mướt mải. Đào xong, nhìn xuống dưới huyệt, tôi tá hỏa thấy em trai tôi nằm dưới đó, máu me be bét. Tỉnh dậy, mồ hôi ướt đầm, tôi hoảng sợ báo cho mẹ tôi biết và nhắc nhở chú em đi lại giữ gìn cẩn thận. 6 ngày sau giấc mộng kinh hoàng ấy. Mẹ tôi gào khóc trong điện thoại: – Em con bị tai nạn chết rồi! Tôi vội vã chạy ra hiện trường. Dưới gầm xe khách, em tôi nằm bẹp dí. Tôi ngất đi… Ba ngày sau cái chết của chú em, tôi thỉnh mời một sư thầy ở Đà Nẵng đến nhà làm lễ. Thầy bảo: – Gia đình anh đang vướng vào một nghiệp lớn. Yêu cầu mọi người phát tâm ăn chay trường để xin gỡ tội. Tôi liền phát tâm ăn chay trong 49 ngày những mong gia đình thoát nạn, nhưng phát tâm ăn chay thì dễ mà thực hiện thì khó lắm sao… Ăn được vài ngày, tôi đã lên cơn thèm thịt rượu. Hễ hàng xóm sào xáo món gì, mùi thơm bốc sang là nước miếng tôi tứa ra, nuốt nước bọt ừng ực. Nhưng ngẫm nghĩ về những quả báo kinh hoàng dồn dập giáng xuống gia đình mình, tôi gắng quyết tâm. Tôi lên chùa đốt nhang xin Phật, Bồ-Tát phù hộ cho tôi có thể ăn chay được đủ 49 ngày. Buổi sáng cầu nguyện, buổi chiều, tôi ra nghĩa địa thắp nhang cho chú em. Bất chợt, tôi nhìn thấy một cảnh tượng kinh hoàng: “Một đám thanh niên đang đè ngửa một cụ ông bị lột trần truồng. Dao bầu nhọn hoắt, sáng loáng đang kề cổ cụ chuẩn bị chọc tiết”. Quá kinh hãi, tôi quăng xe chạy đến cứu cụ già. Nhưng khi đến nơi thì hóa ra đó là một con heo bị giết cúng giỗ. Tôi thất thần quay ra. Đi được một đoạn lại thấy cụ già đó…. Biết là vong linh người mất, tôi sởn hết cả da gà, tóc dựng ngược. Cụ già kể: “Ngày xưa, do giết mổ heo nhiều quá nên khi mất, phải trả nghiệp bằng cách hàng năm đều phải biến thành heo để bị con cháu giết mổ cho chính ngày giỗ mình”. Ông cụ nhờ tôi đến nói với con cháu đừng giết mổ heo nữa kẻo nghiệp chồng chất nghiệp, nặng lắm… Kể từ hôm ấy, nhìn con vật nào tôi cũng thấy là người. Tôi đoạn tuyệt với thịt, cá, rượu bia, phát tâm ăn chay trường từ đó. Cũng kể từ hôm ấy, thân thể tôi xuất hiện nhiều căn bệnh lạ. Đầu đau như búa bổ. Các bó cơ ở vai, lưng, cổ nổi u cục, cứng ngắc như đá. Người lúc nào cũng vã mồ hôi, da thịt nổi những mẩn đỏ hình con vật, ngứa sôi ngứa sục, gãi cào toạc cả da, chảy cả máu. Đêm tôi không tài nào ngủ được, cứ nhắm mặt là lại nhìn thấy cảnh chết chóc, máu me… Tôi hiểu, nghiệp ác bao năm tôi reo rắc, bây giờ mới trổ. Đã là báo ứng nhân quả thì không nên sợ hãi, buồn rầu, khóc lóc, chỉ cần bình thản đối diện, tin sâu Phật pháp, chí tâm tu hành, nhất định sẽ chuyển xoay ác cảnh thành thiện cảnh. Tôi tin: “Ác hữu ác báo, thiện hữu thiện báo”. Những gì chúng ta tạo tác hành động, từng cử chỉ, từng niệm khởi, theo sau đều có quả báo. Tôi bắt đầu tỉnh ngộ ra rằng: “Tất cả mọi nỗi thống khổ của con người chẳng phải do ông Trời làm ra mà chính là do những tư tưởng xấu, hành động ác do chính con người đã tạo trong đời này hay đời trước. Muốn cải đổi vận mệnh chỉ có một con đường duy nhất là năng làm việc lành, tích chứa âm đức mà thôi”. Tôi luôn luôn sám hối trong tâm, có lúc sám hối cho đến khi chịu không nổi khóc rống lên… Ngày 19/02/2006, tôi lên chùa Linh Ứng Non Nước, Đà Nẵng quỳ, xin phát nguyện ăn chay trường và quy y Tam Bảo. Tôi thường ra chợ mua động vật để phóng sinh, chuộc lại lỗi lầm. Hằng ngày, gặp những cơ hội phóng sinh, tôi đều thực hiện cho kỳ được. Tôi cũng dùng hết khả năng tài vật của mình để giúp đỡ người bệnh tật, nghèo đói. Và thật kỳ lạ, các bệnh quái đản của tôi khỏi lúc nào không hay. Từ đó, niềm tin của tôi vào Nhân – Quả Báo Ứng càng thêm kiên cố. Tôi đã thấm thía được một bài học của cuộc đời. Một bài học sâu sắc rằng: “Cái đích rốt ráo của đời người, chẳng phải là rừng tiền biển bạc, biệt thự xe sang, danh cao chức trọng.Siêng năng làm thiện, tích chứa âm đức, không sát sinh, làm lợi cho người. Cửu huyền thất tổ nhờ đó mà được rạng rỡ thì ta sẽ không thấy hổ thẹn một đời. Còn nếu có duyên hơn nữa, đắc được Phật Pháp thì sẽ tìm thấy con đường thoát khổ siêu sinh”. Kể lại chi tiết câu chuyện đời mình, tôi hy vọng quý bạn đọc sẽ lấy đó làm gương, đừng đi theo vết xe đổ như tôi. Như ông Đặng Lê Nguyên Vũ nói đấy: “Tiền nhiều để làm gì ?” Thú thực, nếu không đích thân trải qua những trải nghiệm đau đớn khắc cốt ghi tâm này, tôi cũng khó mà tin vào thuyết báo ứng nhân quả, về tội nghiệp sát sinh. Đúng là nhân quả báo ứng rất rõ ràng, như bóng tùy theo hình, không mảy may sai lệch. ____________________ NAM MÔ CẦU SÁM HỐI BỒ TÁT MA HA TÁT __()__ Nguyện cho những ai đã từng phạm phải sai lầm này có thể hồi đầu sám hối. Những người chưa từng gây lỗi, đọc được bài viết này có thể nhân cơ hội mà tránh không phạm vào những ác nghiệp như thế này.

VÌ ĐÂU TA YÊU MỘT NGƯỜI ?

( Chuyện tình nhiều kiếp của cư sĩ Nguyên Trí – TP Huế) Là một đệ tử Phật, nghe giảng giáo lý nhiều, tu tập nhiều, tôi biết yêu là khổ. Nhưng là một con người bình thường, tu chưa chứng gì cả, nên tôi chẳng cưỡng lại được sự rủ rê của tình ái. Ngay lần đầu gặp mặt, nhìn vào đôi mắt cô ấy, tôi thấy như một tia sét đánh thẳng vào tim mình. . . Thế là, tôi đã yêu !!! Đó là một ngày đẹp trời năm 32 tuổi, số phận nghiệt ngã đã đưa tôi đến với nàng. Làm quen với nàng một thời gian, tim tôi như bị sét đánh lần thứ hai, khi biết rằng cô ấy đã đính hôn với người khác. Nhọ thật ! “Nếu biết một mai em lấy chồng. Anh về đóng cửa, vận nội công. Quyết tâm thiền định, rửa tâm trí Xóa tên người ấy cho nhẹ lòng.” Bị sét đánh mấy lần như vậy, thành ra con tim tôi rất khổ sở, nó cứ nhói đau từng cơn khi nghĩ về nàng, chẳng kìm chế được. Thử nhiều cách giảm đau khác nhau, như Panadol, Efferalgan 500… nhưng thất bại, tôi đành cứ để mặc cho nó hành hạ tâm can mình. Đến khi không chịu được nữa, tôi đổi chiến thuật. Tôi quỳ trước tượng Quán Thế Âm Bồ Tát, tụng kinh lạy Phật, cầu xin chư Phật gia hộ cho tôi biết, kiếp trước nguyên nhân gì mà ai nay tôi lại đau khổ như thế này, mong chư Phật gia hộ cho tôi biết cách hóa giải. Quỳ được một lúc, chịu không nổi, thành ra tôi nằm ra đó mà niệm Phật, trông rất là vật vã. Nhưng tâm vẫn rất chí thành chứ không phải dạng hời hợt. Bỗng, lạ chưa, tôi thấy một luồng ánh sáng phóng đến. Tâm vẫn tỉnh táo, chứ không phải ngủ mê, tôi thấy Phật hiện ra, không phải một vị, mà là ba vị. Ở giữa là Đức Phật Thích Ca, bên trái là Quán Thế Âm Bồ Tát, bên phải là Đại Thế Chí Bồ Tát. Được một lát thì các ngài biến mất. Hôm sau nữa, khi tụng kinh xong, tôi bắt đầu ngồi thiền như thường lệ. Nhưng hôm ấy, lại một hiện tượng kỳ diệu đã diễn ra, hẳn là chư Phật đã đáp ứng lời cầu nguyện của tôi : thấy tiền kiếp ! Tôi vẫn đang thức, xong những hình ảnh rõ mồn một vẫn hiện ra trước mắt như một cuốn phim trình chiếu trong tâm. Từng cảnh từng cảnh nối nhau sống động, chân thực về những tiền kiếp của tôi. Sau này tìm hiểu, tôi được biết cũng có khá nhiều người có trải nghiệm tiền kiếp trong lúc thức giống như tôi. Kiếp đầu tiên tôi nhớ lại, tôi thấy mình là một con bướm hồ điệp rất đẹp, lượn bay tung tăng trong rừng hoa cùng với một con bướm xinh xắn khác. Hai con bướm ân ái, khăng khít bên nhau. Nhưng chẳng bao lâu chúng đều chết, vì tuổi thọ của bướm rất ngắn. Một kiếp khác lại hiện ra, hai con bướm đã đầu thai thành người. Tôi đầu thai thành một công tử hào hoa, chú bướm còn lại đầu thai thành tiểu thư đài các. (Đùa tí thôi, thực ra gia cảnh tôi khi ấy cùng bình thường) Thời gian trôi qua, chúng tôi trưởng thành, gặp gỡ nhau và yêu nhau. Nhưng trớ trêu thay, hai gia đình tôi khi ấy đã phản đối cuộc tình này. Họ ép tôi cưới một cô gái khác. Đó là vào thời phong kiến nên lễ giáo rất nặng, hôn nhân của con cái là do cha mẹ quyết định. Tôi đành ngậm ngùi kết hôn với cô gái mà cha mẹ tôi ấn định. Ngày cử hành hôn lễ, họ hàng hai bên có đến hơn trăm người đến dự vui vẻ tưng bừng. Và cô người yêu của tôi cũng đến,vẻ mặt nàng u buồn, nhưng ánh mắt lại toát lên một tia lạnh lùng. Tôi thoáng giật mình, vì tôi biết tính nàng rất liều lĩnh, nàng lại luyện võ từ nhỏ, và kiếm pháp của nàng cực kì lợi hại. Tôi biết điều đó, nên tôi bắt đầu lo lắng, không biết nàng dự tính làm điều gì. Quả nhiên, điều tồi tệ nhất đã xảy ra. Nàng bất chợt đứng dậy, rút ra thanh kiếm nãy giờ vẫn giấu trong người. Nhanh như chớp, nàng vọt tới bên cạnh cô dâu. Không nói lời nào, nàng vung một nhát kiếm, ánh kiếm lóe lên như chớp lòa, một dòng máu đỏ thắm phun ra, và cô dâu chết ngay tại chỗ. Tất cả những người có mặt sửng sốt tột độ, chết lặng trong giây lát. Rồi ào ào như một dòng thác, với tốc độ nhanh nhất có thể, họ nhất loạt ào ào vùng dậy, bỏ chạy thục mạng, chạy trối chết . Đám cưới chỉ vài giây đã như bầy ong vỡ tổ. Xui thay cho họ, cô bạn gái oan nghiệt của tôi thân thủ quá nhanh, quá nguy hiểm. Chỉ trong nháy mắt đã đuổi kịp. Từng nhát, từng nhát kiếm lóe lên loang loáng. Theo sau đó là khắp nơi máu tuôn xối xả, những tiếng la hét thất thanh, những gương mặt hoảng hốt tột độ… Loáng một cái, cả trăm xác người đã nằm xuống. Một đám cưới đang vui vẻ, bỗng chốc biến thành biển máu. Người duy nhất còn đứng lại là chính tôi. Quá sức bàng hoàng, tôi cứng đờ người, run rẩy nhìn cảnh tượng hãi hùng. Thảm kịch này là do tôi mà ra. Vì tôi mà cha mẹ, họ hàng thân quyến cả hai bên gia đình đều chết thảm. Tôi biết phải làm sao đây ? Oán hận nàng ư? Nhưng như thế cũng không thể khiến mọi người sống lại. Tôi phải làm thế nào để đối diện với những người đã nằm xuống ? Cứ thê tôi nằm vật vã, tâm can dày vò, sống mà còn khổ hơn chết. Tôi chỉ còn biết bám víu vào câu niệm Phật. “Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát ! Nam Mô A Di Đà Phật ! …” nhưng cơn đau vẫn không dứt. Cuối cùng, tôi nghĩ quẩn, quyết định tự sát để đi cùng với mọi người. Tôi đi đến trước một bờ vực sâu, định sẽ nhảy xuống. Nhưng đúng lúc tôi định bước chân, thì trên hư không hiện ra một vị mặc áo trắng. Tôi giật mình nhận ra, đó là Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngài từ ái nhìn tôi, và bắt đầu giảng giải những đạo lý về khổ, về vô thường. Liền đó ngài biến mất, nhưng những lời dạy của ngài vẫn còn văng vẳng trong tâm, giúp tôi lấy lại được dũng khí để sống tiếp, để đối mặt với thực tại. Tôi quyết định không tự sát nữa. Hình ảnh tan biến, kiếp đó ra sao nữa tôi không biết. Và rồi tôi thấy một kiếp khác hiện ra. Ở kiếp sống đó, tôi với cô người tình bạo lực ấy lại gặp nhau, rồi yêu nhau. Sau vụ thảm sát ở hôn lễ, cô ấy có vào địa ngục hay chịu quả báo gì không, thì tôi cũng không biết, có thể là có, chỉ là tôi không thấy mà thôi. Khá hơn kiếp trước, chúng tôi không bị cha mẹ ngăn cản, cuối cùng vẫn lấy được nhau. Khi đó, cô ấy có nuôi một con heo, thường ngày cô ấy rất thương nó, luôn tự tay cho nó ăn, tắm rửa, chăm sóc chu đáo cho nó từ nhỏ đến lớn. Thế nên con heo rất quý mến cô chủ. Ấy thế mà đến ngày cưới, con heo yêu quý của cô vẫn bị lôi ra để làm thịt đãi khách, phũ phàng thay ! Ngay khi nhìn thấy cảnh tượng con heo bị làm thịt. Một tri giác xuất hiện, cho tôi biết luôn : con heo đó chính là chồng sắp cưới của nàng trong kiếp hiện tại. Mọi chuyện ngay đây rõ ràng, tôi đã hiểu được nguyên nhân vấn đề. Tôi và nàng nhiều kiếp đã có duyên làm vợ chồng, làm người yêu, nên bây giờ vừa gặp mặt, duyên xưa thúc đẩy khiến tôi yêu nàng ngay cái nhìn đầu tiên. Nhưng con heo kiếp xưa, nay đã đầu thai thành người, mới chính là chú rể, mới là người kết duyên trăm năm với nàng, vì rằng có một món nợ rất lớn giữa nàng với anh ta. Còn tôi, tôi chỉ có duyên chứ không có nợ, nên chỉ dừng lại ở một tình yêu đơn phương mà thôi. Nhưng giả sử tôi với nàng đến được với nhau, thì sẽ ra sao ? Chuyện tình này đã đi qua nhiều kiếp, lúc hợp lúc tan. Dù được ở bên nhau, nhưng rồi chẳng phải cũng vẫn phải chết, chịu cái khổ của sinh ly tử biệt đó sao ? Đã vậy còn gây thêm bao nhiêu nợ máu, bao nhiêu nghiệp chướng với những người khác, dù là hàng trăm người bị nàng giết thảm vì một cơn ghen, hay là con heo cùng những những sinh vật khác bị giết trong bữa tiệc cưới để làm vui lòng thực khách, thì cũng đều là nghiệp chướng. Chính nghiệp chướng này tạo ra vô biên đau khổ cho chính tôi, mà nỗi đau thất tình tôi đang gánh chịu, chỉ là một phần nhỏ trong đó. Hiểu ra rồi, nỗi buồn trong tôi cũng nguôi ngoai dần. Tôi bừng tỉnh, nhận thấy lời Phật dạy chẳng sai chút nào. Đời là biển khổ ! Còn quanh quẩn trong cái biển khổ này, thì chắc chắn sẽ bị nó dày vò dài hạn, không bằng cách này thì cách khác. Vừa sinh ra là đã cầm chắc cái chết, vì đã có ai sống mãi không chết bao giờ đâu ? Ở khoảng giữa sinh ra với chết đi, cuộc đời nó giăng sẵn đủ thứ loại khổ khác, giống y hệt một trận đồ Bát Quái của lão Khổng MInh, có vào không có ra. Nào bệnh tật, nào thất bại, nào mất mát… Nay thất nghiệp, mai thất tình, rồi lâu lâu thất điên bát đảo. Bao mệt mỏi vì đua chen, giành giật miếng cơm manh áo với đời, rồi thì một ngày nào đó cũng suy tàn. Chứ thành công có ở mãi với ai đâu, cùng lắm đến lúc chết cũng sẽ tan biến hết thôi. Chung quy lại, sắc màu chủ đạo của kiếp sống, đó là màu u buồn của những nối khổ. Ấy vậy mà đại đa số vẫn cứ thích đi loanh quanh trong biển khổ này. Vì sao vậy ? Vì cuộc đời còn những niềm vui: Mua sắm, du lịch, yêu đương, tình dục, danh, lợi, tiền tài, quyền lực… Chúng có mặt ở đó, đúng, đời có những niềm vui, nhưng ít hơn nhiều so với đau khổ. Đã vậy lại rất nhanh tan biến, vì một cái gọi là chán. Vất vả lắm mới tạo ra được những niềm vui, ấy vậy mà khi tận hưởng niềm vui, con người ta lại rất nhanh chán. Mà nếu không chán, thì cuộc đời vốn luôn thay đổi không ngừng, có đó, rồi mất đó, không gì còn mãi cả. Niềm vui khi có được cái gì đó, sẽ được thay thế bằng nối khổ khi mất nó đi. Oái oăm thay! Cái từng làm mình vui, sẽ biến thành nỗi khổ khi nó không còn nữa. Và dường như, niềm vui, chúng đóng vai trò giống hệt như những như những con giun móc lưỡi câu bên trong. Rất khéo léo, chúng dụ ta cắn câu. Mà như cá đã cắn câu rồi, biết đâu mà gỡ ? Bẫy nhau đây mà. Chúng khiến người ta tạm thời quên đi cả một biển khổ trùng điệp, đầy rẫy mà lao mình vào hưởng thụ vui thú. Cái hưởng thụ vui thú này, kinh Phật gọi là Ái, nó khiến cho con người ta muốn ở lâu trên cuộc đời. Mà đời là bể khổ, nghĩa là nó khiến con người ta muốn ở lâu trong đau khổ. Thì ra là thế. Đức Phật thật trí tuệ, ngài đã chỉ rõ điều này từ lâu lắm rồi, Ngài nói: “ Các dục lạc thế gian, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm lại càng nhiều hơn” Vậy nên Phật dạy cần phải tu để giải thoát luân hồi đau khổ. Tiếc là không phải ai cũng đủ trí tuệ để hiểu ra vấn đề mà Đức Phật dạy. Không ! Phải tìm cách thoát ra thôi ! Tôi không muốn kép dài thêm những đau khổ của luân hồi này. __________________ Khi tâm lý đã ổn định, tôi tiếp tục hành trì tụng kinh, duy trì thời khóa. Điều kỳ lạ là những hình ảnh về tiền kiếp không dừng lại. Trong lúc hành trì tụng kinh niệm Phật, tôi tiếp tục lại thấy những cảnh tiền kiếp hiện ra. Sẽ có người cho rằng tôi đơn giản là bị ảo giác. Nhưng nếu là ảo giác, thì chúng sẽ chẳng có quy luật gì cả. Còn những gì tôi thấy luôn bám sát với luật Nhân quả. Nhờ thế tôi hiểu ra những uẩn khúc trong cuộc sống của mình, nguyên nhân là do đâu. Một lần đó, thấy lại kiếp quá khứ, khi ấy, tôi là một con chim đại bàng đang bay lượn trong pháp hội thuyết pháp của đức Phật Thích Ca. Không phải đại bàng thường, mà là Kim Xí Điểu, một trong Thiên Long Bát Bộ, luôn theo hộ trì Phật Pháp. Tôi cảm nhận được lòng từ bi và uy lực vô biên của Phật, nên tôi muốn bay đến để hộ trì cho pháp hội của ngài, không cho kẻ nào phá hoại. Bất chợt khi ấy, có một con dơi bay ngang qua đầu đức Phật, không hiểu nó nghĩ thế nào mà nó lại phóng uế một bãi lên người đức Phật. To gan ! Sự vô lễ ấy khiến tôi điên tiết, lập tức tôi đập cánh phi đến. Phập ! Một cú mổ nhanh như chớp, và con dơi chết ngay lập tức. Haizz… thế là phạm tội sát sinh rồi. Thiện tai ! Thiện tai ! Hình ảnh thay đổi qua một kiếp sống khác, chim đại bàng – tức là tôi, đã đầu thai thành người, là một vị tướng quân ở Trung Quốc. Còn con dơi, cũng đã đầu thai thành người, làm quan văn, cùng trong một triều đình với tôi – tướng quân. Do kiếp trước tôi giết hắn ( vụ đại bàng mổ chết dơi đó) oan gia gặp lại, tên quan văn kia luôn xem tôi như cái gai trong mắt, lúc nào cũng muốn đối đầu với tôi. Theo lệnh vua, tôi thống lĩnh ba quân, chinh chiến khắp nơi. Năm này qua tháng khác, lập nhiều chiến công, mà như ai cũng biết “nhất tướng công thành, vạn cốt khô”, đằng sau những chiến công hiển hách lưu danh của một vị tướng, là hàng vạn xương cốt khô của binh lính chết trận. Nghiệp chướng chất chồng, oan oan tương báo, những cảnh “đâm qua giết lại” từ đó sinh ra không biết đến khi nào dứt. Quả nhiên… Một thời gian sau, tên quan văn ở nhà dèm pha với vua, vu cáo tôi đủ điều. Thế nào mà vua lại tin lời hắn, cuối cùng lại đem tôi ra xử tử. Oan uổng quá, Bao đại nhân ! ( Đùa thôi, thời đó không có Bao Công) Thế là hết một kiếp người… Ngay đây, tôi chợt sững sờ, tôi đã nhận ra con dơi bị tôi mổ chết đó, cũng là tên quan văn kiếp trước hại chết tôi là người nào trong hiện tại. Hóa ra, đó là một bà cư sĩ công quả trong ngôi chùa mà trước kia tôi Quy Y. Đó là hồi tôi 25 tuổi, sau một thời gian tìm hiểu Phật Pháp, tôi làm lễ Quy Y ở một ngôi chùa ở Huế. Trong bảy năm sau đó, tôi cố gắng tinh tấn tu hành, sám hối tụng kinh Phổ Môn, kinh Cứu Khổ… Ở chùa ấy, có một bà cư sĩ công quả đã nhiều năm. Mới vừa gặp thôi là bà ấy đã ghét tôi ra mặt. Có lẽ bà ấy không biết kiếp trước bà ấy từng làm dơi bị tôi mổ chết, nhưng nhân quả là thế, có oan có nợ, nhìn nhau thôi là cũng gai mắt rồi. Ngày này qua tháng khác, bà ấy luôn tìm cách cản trở tôi đến chùa tu học. Khi thì bà ấy nói xấu sau lưng tôi, khi thì chửi bóng chửi gió, khi thì đóng sầm cửa chùa lại khi thấy tôi đến, khi thì lấy chổi quét đuổi tôi ra. Mâu thuẫn giữa tôi với bà ấy ngày càng tăng, gây gổ cãi nhau, chửi bới nhau. Cuối cùng tôi chịu hết nổi, đành bỏ chùa không tới lui nữa. Bây giờ thì tôi đã hiểu, nguyên nhân thực sự của chuyện này. Trên đời này, không vô duyên vô cớ mà người này ghét người kia đâu các bạn, thể nào cũng có oan trái gì đó trong kiếp quá khứ, chỉ là vì đầu thai không nhớ được mà thôi. ________________ Bạn thấy mệt mỏi vì những tình tiết dài dòng này chưa ? Luân hồi là vậy đó bạn, rất lê thê và luẩn quẩn. Hãy cố kiên nhẫn đọc tiếp, vì tôi còn nhớ lại nhiều kiếp, mỗi kiếp đều liên hệ với những người tôi gặp trong kiếp hiện tại này. Lời Phật dạy thật chí lí, tất cả chúng sinh đều từng là bà con thân quyến nhiều kiếp của ta trong vô lượng kiếp. Hễ đã gặp gỡ thì át hẳn có có duyên nợ gì trong tiền kiếp. Như vợ tôi bây giờ, chắc chắn không thể không duyên, không nợ mà tôi có thể kết hôn với cô ấy. Để tôi kể cho bạn nghe, câu chuyện thế này… Hồi đó, sau mối tình đơn phương như đã kể trên, buồn và chán nản, tôi bỏ về quê. “Vợ con là cái nợ nần Thà rằng ở vậy, nuôi thân béo mầm” Tôi tính ở vậy sống độc thân luôn, lo phụng dưỡng, báo hiếu cha mẹ tới già. Nhưng rồi tôi lại gặp một cô gái… Không biết duyên kiếp đưa đẩy thế nào, xong kế hoạch “ở vậy nuôi thân béo mầm” của tôi đã bị cô gái ấy tịch thu. Đám cưới được tổ chức sau đó không lâu. Một lần, trong khi công phu tụng kinh niệm Phật, tôi nhớ lại, một kiếp xưa, tại vùng núi hẻo lánh, chắc là thời phong kiến, vì tôi thấy trang phục như trong phim cổ trang vậy. Tôi và người vợ hiện tại, khi ấy cũng kết duyên phu thê, sống những tháng êm đềm bên mái tranh đơn sơ ven núi vắng. Thì ra là vậy, có duyên từng làm vợ chồng từ quá khứ, thì nay, rất có thể lại tiếp tục kiếp phu thê. (Thực ra, tôi nhớ được 6-7 kiếp nữa, chúng tôi cũng đều là vợ chồng cả, xong khá là dài dòng, nên thôi, hẹn các bạn ở phần khác tôi sẽ kể.) Thủa đó chúng tôi ngày ngày kiếm củi, bắt cá nuôi thân, đạm bạc qua năm tháng… Một hôm, tôi bắt được một con cá bống. Nó trông sáng láng hơn những con cá bình thường, không biết do nó có tu, hay do người ta phóng sinh, tụng kinh trì chú cho nó, mà nhìn nó rất đẹp, và quan trọng là nó có thần thái. Tâm linh của nó hẳn mạnh hơn những con cá bình thường. “Mà thôi ! – khi ấy tôi nghĩ – Cũng chỉ là con cá, đem kho là no một bữa” Chắc là con cá bống ấy nó hận tôi lắm. Ngay đó, một tri giác xuất hiện, cho tôi biết con cá ấy đã đầu thai về đâu. Ôi không, nó đã theo tôi luân hồi đến tận kiếp này, đó chính là bà chị thứ ba của tôi. Tôi sinh ra ở một gia đình mình làm nông ở nông thôn xứ Huế. Nhà tôi có bốn anh chị em, mọi người hòa thuận với nhau, chỉ trừ tôi với bà chị thứ ba. Hồi nhỏ tôi nghĩ mãi không thông, thế quái nào, tôi cứ đụng mặt bà ấy là gây lộn, cứ như nước với lửa, như Tôm với Jerry vậy, không vì chuyện này thì chuyện khác. Cả đến tận bây giờ sắp già rồi, chị ấy vẫn liên tục dày vò tôi, gây hấn với tôi không thôi, không nghỉ. Haizzz…chỉ vì một miếng cá kho, giờ thì oan nghiệt to như cái đình. ________________ Vậy, thế còn những người có thiện cảm mà chúng ta gặp trong đời ? Xin thưa, cũng đều có nhân duyên ân nghĩa hết. Tôi nhớ thời sinh viên học ở Đà Nẵng, một lần tôi bị tai nạn giao thông, thương tích đầy người. Khi ấy ở xa nhà, chốn ‘đất khách quê người’ mà lại bị tai nạn, tình hình rất căng. May sao, bà chủ quán cơm chay mà tôi thường tới ăn rất quý tôi. Biết tôi bị tai nạn, lại không có người thân ở bên, nên bà thường ghé đến chăm sóc thuốc thang cho tôi rất tận tình. Một lần tôi nhớ lại tiền kiếp ( trong lúc công phu như mọi khi), hóa ra kiếp xưa, bà chủ quán cơm chay ấy từng là mẹ tôi. Và tôi hiểu ra một điều, những tình cảm ta dành cho nhau trong cuộc sống, nó không hề ngẫu nhiên. Gặp nhau thấy thương, ắt phải có duyên. Không duyên, thì người ta đã bước qua nhau trong hờ hững rồi… ______________ Hồi đó sau khi tốt nghiệp phổ thông, tôi thi ba năm liền không đậu đại học. Chẳng biết phải đi về đâu, cuối cùng tôi quyết định vào Đà Nẵng học trường Dân Lập. Mượn cớ để đi chơi thôi chứ thực tâm cũng chẳng muốn học. Duyên lành đưa đẩy, đến năm tôi 24 tuổi thì gặp một cô cư sĩ làm nghề bốc thuốc đông y. Cô ấy khoảng 60 tuổi, dù mới gặp nhưng cảm giác như đã quen thân từ lâu. Cô ấy rất quý mến tôi, và không lâu sau thì tôi trở thành đệ tử của cô ấy, theo học nghề bắt mạch, bốc thuốc . Ngoài ra, tôi còn gặp một chú cũng là thầy thuốc, và cũng rất quý tôi, và dạy tôi rất nhiều về y thuật. Nhờ hai vị sư phụ ấy tận tình chỉ bảo, đến giờ, thì tôi cũng đã có thâm niên trong nghề, có Phòng khám Đông Y riêng. Một lần, tôi nhớ ra chuyện kiếp xưa. Khi đó tôi là một lão lang y già sống ẩn cư trong một ngọn núi, chuyên bốc thuốc nam và châm cứu chữa bệnh cho dân quanh vùng. Lão đã già, râu tóc để dài nhìn có vẻ “tiên phong đạo cốt” lắm. Lão có nhận hai đồ đệ, một nam, một nữ, và ân cần dạy dỗ cho đến khi thành tài. Nhiều kiếp sau, người đồ đệ nữ, còn “vấn vương” theo tôi, làm người thân của tôi đến tận 7 kiếp, khi thì làm mẹ, khi thì làm em gái, khi thì làm bạn học, khi thì làm bạn đạo, làm học trò, rồi có kiếp cùng xuất gia là sư huynh đệ trong chùa… Đến kiếp này, tôi đã gặp lại hai đồ đệ thủa xưa, không những thế lại còn trở thành hai sư phụ dạy y thuật cho tôi. Thú vị thay luật nhân quả, mình đem gì đến cho người, thì người sẽ đem những điều ấy trả lại cho mình. Sống hết kiếp này, qua kiếp nọ, chúng ta như đang đóng những vai diễn khác nhau trong một vở kịch bất tận. Khi làm cha, khi xuống làm con. Khi làm thầy, khi xuống thành đệ tử. Khi làm người, làm quan, làm tướng, khi thì chỉ là một loài sinh vật bé nhỏ vô danh… Những kiếp tôi nhớ được trên đây, chỉ là một vài hạt bụi nhỏ trong sa mạc vô lượng kiếp mà tôi đã trải qua. Và bạn cũng như tôi, cùng tất cả chúng sinh cũng đều như thế. Kiếp kiếp nối nhau, khi sinh làm kiếp người, xưng ta là người tên như thế. Khi sinh làm thần, xưng ta đây là thần linh, tên như thế. Rồi chết đi sinh làm kiếp súc sinh, một con bướm, một con đại bàng, nghĩ ta đây nay là loài súc sinh, chẳng tên chẳng họ… cứ thế luân hồi, nếm đủ mọi loại đau khổ, sống , rồi lại chết, bệnh tật, già nua, tiếc thương những gì yêu thích đã không còn, bực bội với những thứ đáng ghét cứ đeo bám, buồn vì những điều cầu mong không toại nguyện, và đủ thứ khổ khác dày vò…Địa ngục, quỷ đói, súc sinh, người , thần, thiên nhân, kiếp gì cũng từng làm qua. Vậy rốt cục thì TA LÀ AI ? Nếu cho rằng ta là người tên như thế, được cha mẹ tên như thế sinh ra, vậy chứ trước khi sinh ra, TA LÀ AI ? Khi chưa sinh, ta là ảo ảnh mang tên kiếp trước Sinh ra rồi, ta tiếp bước cảnh ảo gọi kiếp này. Chết rồi ảo ảnh luân hồi qua kiếp khác, Lại đem cuộc đời ấy, kiếp ấy gọi là ta. Những ảo ảnh nối nhau liên tiếp Ta là cái nào trong vô tận kiếp liên miên ? Nhân quả tuần hoàn rồi Vô thường tan biến Chung quy chỉ như các giấc mộng nối liền Vô biên kiếp hãi hùng và khổ sở Sinh ra liền diệt mất, có gì sở hữu được ? Vì tất cả vốn là ảo ảnh hóa hiện Sao lại nhận ảo ảnh thiên biến để làm Ta ??? Buông hết đi, không ta, không người, không thọ giả… Không cầu được gì thì sẽ là chẳng mất CHÂN TÂM thật tướng dần hiển hiện Không sinh chẳng diệt, Tâm bất biến vĩnh hằng Bình an vô tận không gợn chút lăn tăn Là Niết Bàn – tạm đặt tên như vậy Hết Ta, hết khổ, hết lằng nhằng. ________________ Cũng vào thời kì học y ở Đà Nẵng, tôi biết đến Phật Pháp. Rồi dần dần theo Phật, ăn chay trường, tu hành, cầu thoát ly sinh tử. Tôi thường tụng kinh Kim Cang, kinh Dược Sư, kinh Cứu Khổ, những kinh Đại Thừa khác… và nhiều nhất là kinh Pháp Hoa. Song song đó, tôi niệm danh hiệu đức Phật Thích Ca, đức Phật Tỳ Lô Giá Na, Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát. Đến khi nhớ lại rất nhiều tiền kiếp, tôi biết mình thực ra đã có duyên với Phật Pháp từ vô số kiếp, nhất là có duyên với ngài Quán Thế Âm Bồ Tát, chính ngài đã gieo duyên, hóa độ cho tôi từ những kiếp còn làm những chúng sinh sơ khai, nhỏ bé như hạt bụi, lần lần tiến lên được thân người mà tu tập. Rồi có nhiều đời tôi xuất gia làm tăng, rồi cũng từng dự những pháp hội của đức Phật thuyết pháp, dù khi ấy chỉ là một con chim đại bàng. Những kiếp khác, đa số cũng đều là cư sĩ, một lòng hướng tâm thoát ly khỏi luân hồi, phát lời thệ nguyện, nguyện độ chúng sinh thoát biển trầm luân, nếu còn chúng sinh chịu khổ, thề chưa thành Phật. Nhờ túc duyên ấy, tôi thường được chư Phật – Bồ Tát gia hộ, gặp nhiều chuyện linh ứng kì lạ, được Bồ Tát dẫn đi thấy nhiều cảnh giới khác như địa ngục, cõi trời… Nhưng mà đến đây chuyện tôi kể cũng đã dài lắm rồi, phải để dành ở phần tiếp theo thôi ( mà nếu các bạn hưởng ứng, tôi mới kể tiếp nghe). Xin chào và hẹn gặp lại ! (Quang Tử, viết lại từ lời kể sư huynh Nguyên Trí)

Cách phân biệt NGƯỜI CHÂN TU với KẺ LỪA ĐẢO

Nguyễn Hào: – Anh nghĩ như thế nào về những câu nói này thưa anh? “ Phật nào chấp hình với thức Mà chúng tăng bày vẽ liên miên Từ ngàn xưa, thành tâm ý nguyện Phật liền chứng cho lòng thành ( Đạo là tâm, thành tâm ắt đạo thành) Quang Tử : – Bạn thân mến, bài thơ trên khá đúng, xong không phải đúng tất cả trường hợp. Nếu bài này là để cảnh giác mọi người trước những trò bày vẽ bịp bợm của những kẻ giả sư tăng, kiếm tiền từ tín chủ, thì đúng. Vì vốn tín chủ chẳng cần những nghi thức vẽ vời sáo rỗng, cứ vào chùa lạy Phật là được công đức rồi, học thẳng trong kinh điển Phật dạy là hiểu đạo lý được rồi, có thể thực hành theo lời kinh là tu hành được rồi… Xong nếu bám vào đó, tạo thành một định kiến đối với hình thức, rồi cứ thế bài bác mọi thứ hình thức trong Đạo Phật, lại trở thành một dạng sai lầm khác Đó là vì, rất nhiều hình thức trong Đạo Phật, mục đích là để hóa độ chúng sinh, hóa độ những con người đang u mê dần được giác ngộ. Người mới tìm hiểu Phật Pháp, đâu đã phải thánh nhân mà có thể buông bỏ hình thức, hình tướng dễ dàng được ? Thế nên, ban đầu chư Phật – Bồ Tát, những vị đạo sư, những thiện tri thức vẫn luôn phải dùng các hình thức để dẫn dụ chúng sinh tu tập : Không chùa chúng sinh biết đến đâu nương tựa ? Không kinh sách lấy gì chúng sinh có thể học đạo lý ? Không tượng Phật chúng sinh biết đặt lòng tín kính vào đâu ? Mà ngôi chùa – quyển kinh – tượng Phật đều là hình thức vật chất đó thôi. Với người căn cơ, trình độ cao, không có chùa – kinh sách – tượng Phật, họ vãn có thể vẫn tu hành tốt, không sao. Vì họ hiểu, Như Lai thật sự chính là Chân Tâm Phật Tánh không hề có hình tướng. Như kinh Kim Cang, Phật dạy : ” Nếu nhận thấy các tướng đều chẳng phải tướng, chính là thấy Như Lai”. Nhưng thử hỏi trên đời mấy người đủ căn cơ lĩnh hội nổi ? Đại đa số những người mới tìm đến Phật Pháp đâu có thể có trình độ như thế được, họ bắt buộc phải dựa vào hình thức, hình tướng mà dần dần tu học lên, từng bước hiểu ra Đạo. Nếu ngay từ đầu giáo hóa họ, các nhà sư lại cứ lấy không hình tướng ra mà nói, khác nào mời họ đi chỗ khác ? Vì đa số tu đến hết kiếp cũng còn chẳng hiểu nổi ý nghĩa chữ ” Không” trong Phật Pháp. Giống như một đứa bé mới đi học ngày đầu tiên của lớp 1, giáo viên lại đem tích phân, lượng tử, thuyết Tương Đối của Einstein ra mà dạy, thế thì chẳng quá vô lí & buồn cười sao ? Vậy nên chư Phật – Bồ Tát, những đại sư, những thiện tri thức có trí tuệ, từ bi không bỏ rơi chúng sinh căn cơ thấp kém, không “đánh đố” chúng sinh trong buổi đầu tìm đến Đạo bằng những giáo lý cao siêu. Khi dạy chúng sinh, biết họ chưa hiểu Đạo lý nhiều, vẫn luôn dùng những “hình thức” như dung mạo đẹp đẽ trang nghiêm, hay cảnh chùa lầu các tráng lệ, hay lễ hội đông vui, rực rỡ ánh đèn, hay kinh văn, sách – chuyện, thậm chí là video, phim ảnh lôi cuốn, hấp dẫn… để làm con đường dẫn những người sơ cơ từng bước về với Đạo lý. Họ ban đầu vì ưa thích những hình thức đẹp đẽ, thú vị, lôi cuốn mà đi theo, dần dần tu học. Nhiều năm, nhiều tháng, họ tích lũy công đức, tiến bộ dần lên, đến một trình độ nhất định rồi, khi đó mới có thể nâng cấp giáo lý lên. Từ nhân quả, tu nhân tích đức, hiếu thuận cha mẹ ở bước đầu, rồi tiếp đến giáo lý về luân hồi và Giải thoát khỏi luân hồi, về Bản Ngã và cách tiêu diệt Bản Ngã, người học nắm chắc rồi mới hướng dẫn tiếp lên KHÔNG, VÔ TƯỚNG, lục độ Ba La Mật… Giống như học sinh bắt đầu đi học, ban đầu lớp 1 ta dạy đánh vần, đếm que tính. Lên lớp 2 thì tập đọc câu, đoạn dài, cộng trừ phức tạp… lên 12 mới học tích phân, lượng giác, văn nghị luận… Đại học, Cao học lại học những kiến thức chuyên sâu hơn nữa… Vậy nên, như bài thơ trên viết ” Phật nào chấp hình với thức…” Đúng, xong vì chúng sinh chấp hình thức nên Phật và những đệ tử Phật chân chính vẫn dùng các hình thức để giáo hóa chúng sinh, chứ không bỏ hẳn hình thức. Chỉ có điều trong Đạo Phật luôn tồn tại một lực lượng đông đúc những kẻ lừa đảo. Giả cạo đầu đi tu, cốt tìm đường trục lợi từ đàn na tín thí, bày vẽ hình thức, lập ra nhiều trò cúng kiếng lừa tiền thiên hạ, chuyện như vậy xưa hay nay đều rất nhiều. Vậy LÀM THẾ NÀO PHÂN BIỆT thật giả ? Không đơn giản chút nào. Đến cảnh sát có đầy đủ nghiệp vụ, thẩm quyền bắt tay vào điều tra cũng mất bao nhiêu ngày mới có thể tra ra, người này thật, kẻ kia giả, rồi có khi còn kết án oan. Huống chi ta không nghiệp vụ, không điều tra, lại có thể một câu mà phán định thật giả sao ? Tuy nhiên, ta có thể dựa vào điều nay, tinh ý mà quan sát, thì sẽ bớt đi được rất nhiều khả năng bị lừa bởi các loại sư giả danh, bày trò trục lợi. Mục đích chính mà ” đa số” những kẻ giả tu nhắm đến là gì ? ( đa số thôi, chứ không phải tất cả) Đó là tiền. Rào trước, đón sau, ra vẻ “tiên phong đạo cốt”, “trách trời thương dân”… đủ trò nghệ thuật, cuối cùng cũng sẽ vẫn lòi ra cái đuôi cáo là VÒI TIỀN. Nếu gặp những người không tiền, chẳng kiếm chác được gì, chúng sẽ bỏ rơi họ. Gặp người có tiền, chúng sẽ rào đón. Gặp người không tiền, chúng sẽ quay lưng. Còn người tu chân chính, mục đích của họ là cầu Đạo, là đem Đạo đến giúp đời, cứu người. Thế nên, gặp người có tiền hay không tiền, người tu chân chính vẫn bình đẳng đối xử, cốt sao đem đạo lý đến giúp mọi người thoát cảnh khổ, thoát u mê, tăm tối. Cái mà người tu chân chính coi trọng là tâm Đạo, là cứu khổ chúng sinh, không liên quan đến tiền bạc, nên cách suy nghĩ của họ khi có người tìm đến là ” Người này tâm Đạo nhiều, nên dạy Đạo lý gì ? Người kia tâm Đạo ít, nên hóa độ ra sao ? nên nhiệt tình chỉ dạy hay ra vẻ lạnh lùng ? Người này khổ kiểu này, cứu họ thế nào? Kẻ kia khổ thế khác, phải làm sao ?” Tất nhiên, những nhà tu hành chân chính cũng không thể hít không khí sống qua ngày được, họ vẫn cần sự ủng hộ của đàn na tín thí, nên không phải cứ sư tăng nào không bao giờ nhận cúng dường mới là thật tu. Xong trong tâm họ bình đẳng đối xử với người sang kẻ hèn, không vồ vập với người giầu mà hắt hủi kẻ nghèo hèn. Lối suy nghĩ ấy khác hẳn với kẻ giả tu, trong đầu toàn những suy nghĩ ” Nhà này giàu, tính tiền bao nhiêu ? Kẻ kia khờ khạo, dùng chiêu nào để gạt ?” .v.v… Nếu ta tinh ý xoáy sâu vào đó mà quan sát, cử chỉ, hành vi, thậm chí phải quan sát thời gian dài trong nhiều trường hợp một cách hết sức khách quan, ta có thể sẽ nhận ra chân tướng thật giả. ______________ *Lưu ý : Đây là những chia sẻ kinh nghiệm – quan điểm cá nhân của Quang Tử trong quá trình nghiên cứu kinh điển của Đức Phật, không đại diện cho tông môn nào. Các bạn có thể xem đây là một lời khuyên chân thành từ một đồng đạo. Nếu có gì thiếu sót, Quang Tử mong nhận được sự đóng góp của các bậc thiện tri thức mọi nơi. Xin chân thành cảm tạ !

ĂN CHAY có được ăn TRỨNG không? Vì sao có người nói ĐƯỢC ĂN TAM TỊNH NHỤC ?

Bằng Chung Kim:
– Chào Quang Tử, hiện tại cũng có nhiều ý kiến trái chiều về việc ăn chay có được ăn trứng và uống sữa không. Quang Tử có thể phân tích giúp vấn đề này. Xin cảm ơn nhiều.
Quang Tử : – Bạn thân mến, để hiểu được toàn bộ vấn đề một cách chính xác, liệu đúng theo lời Phật dạy có cho ăn trứng, uống sữa hay không, hoặc mở rộng ra là có cho phép ăn tam tịnh nhục ( như Nam Tông, các sư vẫn ăn các loại thịt từ những động vật không do mình giết, khi bị giết mình không biết, không thấy, không phải vì mình mà người ta giết), trước tiên bạn phải thoát ra sự “cứng ngắc” chỉ có 2 lựa chọn : Được / Không được, mà phải nhìn tổng thể quá trình giáo hóa của Đức Phật trong suốt 45 năm của Ngài để thấy được sự linh động của Phật Pháp khi giáo hóa chúng sinh. Khi mới thành lập tăng đoàn, Phật chưa có ra quy chế phải ăn chay, mà có thể ăn tam tịnh nhục ( ba loại thịt: không thấy, không nghe khi chúng bị giết và không nghi vì mình mà người ta giết) Ngay đến nhiều năm sau, khi Đề Bà Đạt Đa làm phản, đòi Phật phải đưa ra luật cấm ăn mặn mà ăn chay hoàn toàn, Đức Phật vẫn không đồng ý, mà vẫn cho duy trì ăn tam tịnh nhục. Phải đến mấy chục năm sau, khi Đức Phật thuyết những kinh như Lăng Nghiêm, Lăng Già… Đức Phật mới ra quy chế cấm ăn mặn, ăn chay hoàn toàn. Nguyên văn trong kinh Lăng Nghiêm như sau : “…Hàng tì kheo thanh tịnh và các vị Bồ-tát, đi trên đường mòn còn không dẫm cỏ non, huống nữa là lấy tay nhổ cỏ! Làm sao người có tâm đại bi mà lại lấy máu thịt của chúng sinh làm thức ăn? Nếu các thầy tì kheo không mặc các thứ vải bằng tơ lụa lượt là, không dùng các thứ giày da áo lông của phương Đông, cũng như không ăn các thứ sữa, bơ, pho-mát, những thầy tì kheo ấy đối với thế gian thật là giải thoát, đã trả hết oan trái đời trước, không còn trở lại trong ba cõi nữa. Vì sao thế? Dùng các bộ phận của thân thể chúng sinh thì phải kết duyên nợ với chúng sinh; như con người ăn trăm thứ mễ cốc lấy từ đất, thì chân không rời khỏi đất. Những người nhất quyết làm cho cả thân và tâm mình, không ăn các thứ làm từ xương thịt chúng sinh, không dùng các thứ làm bằng các bộ phận của thân thể chúng sinh, Như Lai nói đó là những người chân thật giải thoát.” Bạn nhìn tổng thể cả quá trình sẽ thấy, Đức Phật không phải là cho phép ăn mặn, mà là vì chúng sinh không thể một bước mà chuyển ngay sang ăn thuần chay, Đức Phật phải khéo léo từng bước, trước cho ăn tam tịnh nhục, giới hạn dần, khi mọi người đã quen, Ngài mới ra quy chế ăn chay hoàn toàn. Mà chay hoàn toàn ở đây, nghĩa là ngay cả trứng ( trứng không trống cũng vậy, mà trứng có trống thì đương nhiên là sát sinh, càng không được ), và sữa, lông, da, sừng … tất cả mọi thứ liên quan đến động vật như giày da, chổi lông gà, vỏ sò, bánh có thành phần sữa, trứng… đều không dùng. Hiểu được điều này, bạn sẽ thấy rằng không thể nói chắc là ĐƯỢC, hay KHÔNG ĐƯỢC với mọi đối tượng. Mà phải linh động với trình độ, hoàn cảnh của từng người, vì giúp chúng sinh tu tiến dần lên, đó mới là mục đích cốt lõi của Phật Pháp. Như với người ít duyên với Phật Pháp, đạo tâm còn yếu, hoàn cảnh chưa thuận lợi, vừa bước vào Đạo Phật mà bắt họ chuyển phát một từ ăn mặn sang ăn chay 100 % không dính dáng tới động vật nữa, trong thực tế mấy ai làm được ? Việc tu hành đâu thể như cái công tắc đèn, chỉ có 2 chế độ on/off ( bật/ tắt) đâu, việc tu hành giống như sự tăng trưởng của một hạt giống thành một cái cây, cần phải qua nhiều giai đoạn : nảy mầm, mọc rễ, nhú lên khỏi mặt đất, ra lá, đâm chồi, thành cây… Thế nên, việc ăn chay cần chia ra làm nhiều bước để mọi người tùy sức, tùy hoàn cảnh của mình mà thay đổi dần dần, giới hạn dần dần: – Bước thấp nhất, là ngừng việc sát sinh, chuyển từ giết chúng sinh lấy thịt ăn, sang chỉ ăn những chúng sinh đã chết chứ mình không trực tiếp giết. ( Ăn trứng có trống, sẽ nở thành con như trứng vịt lộn, trứng cút lộn… thì rõ ràng là không được) – Bước thứ hai, là ăn tam tịnh nhục ( ăn các loại thịt chúng sinh mà mình không thấy, không nghe khi chúng bị giết và không nghi vì mình mà người ta giết. Ngoài ra, còn có thuyết Ngũ tịnh nhục, tức là tam tịnh nhục vừa kể trên cùng với thịt của các con thú tự chết và thịt mà các loai thú khác ăn còn dư.) – Bước thứ ba, là ăn chay, xong vẫn dùng các chế phẩm từ động vật nhưng không liên quan đến giết hại, như sữa, trứng không trống… – Bước thứ tư, là ăn chay thuần thực vật, không dính dáng chút gì đến động vật, như trong đoạn kinh Lăng Nghiêm miêu tả phía trên. – Bước thứ năm, là ăn thuần chay, kiêng luôn cả ngũ vị tân : hành , tỏi, hẹ, củ kiệu, củ nén. Lí do không phải vì chúng liên quan gì đến phạm năm giới cấm, mà vì các loại này gây chướng ngại cho những người tu tập thiền định. Kinh Lăng Nghiêm viết : “ Các chúng sinh CẦU THIỀN ĐỊNH không nên ăn năm món cay nồng của thế gian. Vì năm món cay nồng đó nếu ăn chín thì phát dâm, ăn sống thì sinh nóng giận…” Như vậy, chúng ta mỗi người cần xem xét khả năng, hoàn cảnh của bản thân mình, mà tự quyết định việc ăn chay như thế nào cho phù hợp trong mỗi giai đoạn. Tất nhiên, việc ăn mặn, tam tịnh nhục, hay trứng, sữa, ngũ vị tân … ít nhiều đều là không nên, ít nhiều đều có quả báo hay những tác dụng không tốt. Xong vì thực tế, vì lí do này, lí do khác, không ăn chay hoàn toàn ngay được thì, ta cố gắng giới hạn lại, chuyển đổi, tiến dần lên từng bước từ một đến năm như trên. Hễ cứ giới hạn được cái nào thì tốt cái đó. Mỗi một bước chuyển đổi, sẽ giúp ta bớt phải chịu những quả báo, những hậu quả không tốt. Còn nếu những ai đủ khả năng, điều kiện thuận lợi, có thể ngay lập tức chuyển sang bước bốn, bước năm, ăn thuần chay, bỏ luôn ngũ vị tân thì càng tuyệt vời. Cái quan trọng cốt lõi vẫn là sự tiến bộ của chúng ta trong tu tập, cứ tiến được một chút, dù ít, cũng đã là tốt hơn so với không tiến chút nào. Người ăn tam tịnh nhục, dù là chưa rốt ráo, xong vẫn cứ là tốt hơn so với khi họ tự tay mình giết động vật mà ăn thịt. Người ăn chay mà ăn trứng ( không trống), uống sữa, vẫn cứ là tốt hơn so với trước kia, khi họ ăn thịt cá… Chúng ta không nên quá đắm chìm vào việc tranh biện phải trái, đúng sai, mà gạt bỏ sự cố gắng tiến tu từng bước của những người đang bắt đầu tu tập. Không ai nhảy một bước là lên tới đỉnh núi, không có hạt giống nào thành đại thụ sau một đêm, không ai tu một ngày là thành Phật, mà đều phải trải qua một quá trình lâu dài bỏ dần các thói xấu, chuyển hóa dần lên, thánh thiện dần lên, rất lâu mới đến được đích cuối cùng. Vì vậy chúng ta cần phải mở rộng tư duy thoáng ra, nhìn từng sự việc trên tổng thể quá trình lâu dài, chúng ta sẽ có được sự bao dung & trí tuệ biết phải làm gì tốt nhất trong từng trường hợp, thay vì rơi vào ngõ hẹp của sự bảo thủ, tranh cãi. ______________ *Lưu ý : Đây là những chia sẻ kinh nghiệm – quan điểm cá nhân của Quang Tử trong quá trình nghiên cứu kinh điển của Đức Phật, không đại diện cho tông môn nào. Các bạn có thể xem đây là một lời khuyên chân thành từ một đồng đạo. Nếu có gì thiếu sót, Quang Tử mong nhận được sự đóng góp của các bậc thiện tri thức mọi nơi. Xin chân thành cảm tạ !

VÌ SAO QUẢ BÁO KHI ĐẾN NHANH, KHI ĐẾN CHẬM ?

Bảo Bình :

– Quang Tử ơi, cho con mình và mong sẽ nhận được giải đáp để mình được rõ ạ.
Ví dụ như bạn A và bạn B cùng phạm một lỗi, một tội như nhau. Nhưng A đã nhanh chóng nhận quả báo và dừng lại. Còn B mãi không thấy bị sao cả, vẫn tiếp tục và thản nhiên tạo lỗi, gây tội. Việc như thế rất thường gặp trong cuộc sống. Cớ vì sao B chưa nhận quả báo và dừng lại việc ác đó như A , mong Quang tử giúp mình sáng tỏ, xin cảm ơn ạ.

Quang Tử :
– Chào bạn !
Bạn thân mến, thời gian từ khi tạo nhân đến khi nhận quả báo của mỗi người là nhanh chậm khác nhau do nhiều yếu tố :

1. Người trong quá khứ tạo nhiều phước, qua kiếp sau tạo tội, quả báo không đến ngay được, vì phải chờ người đó hưởng hết phước cũ. Như vậy, có những người tạo phước quá lớn, phước đó quy định anh ta 10 kiếp không bao giờ bị bệnh, bị đói khổ, tai nạn… Thế thì nếu trong 10 kiếp sau đó, anh ta có giết người, tạo đủ thứ tội lỗi nặng nề , cũng không thấy bị quả báo gì cả. Phải qua 10 kiếp, phước cũ hết rồi, cộng dồn tất cả tội lại, quả báo sẽ đổ ụp xuống vô cùng khủng khiếp. Đây là lí do phổ biến nhất khiến người tạo nghiệp mãi không bị quả báo. Cuối bài, Quang Tử sẽ đăng kèm hai câu chuyện, là ví dụ inh họa điển hình cho điều này.

2. Ngược lại, là với người trong quá khứ ít tạo phước, vì không có phước bảo vệ, chỉ cần hơi tạo nghiệp là sẽ nhanh chóng thấy xui xẻo, báo ứng kéo đến hành cho đau khổ. Đây vừa là bất lợi, vì người đó sẽ thấy cuộc đời thật lắm đau khổ. Xong lại vừa chính là một điều may mắn, vì nó khiến anh ta nhanh chóng tỉnh ngộ, sớm biết dừng tay tạo nghiệp.

3. Một số người được sự gia hộ của chư Phật – Bồ Tát , hoặc thần linh, hoặc các vong linh trong vô hình…, nên khi tạo nghiệp gì đó, sẽ được nhắc nhở bằng những tai họa nhỏ, kiểu như “một lời cảnh cáo”, để người đó tỉnh ngộ, biết dừng tay lại.
Có người tính xách mã tấu đi chém người, ra cửa là đã bị té xe. Có người vào chùa ngênh ngang, bất kính trước tượng Phật, đêm về liền thấy ác mộng có quỷ thần đuổi đánh, qua ngày sau bị bệnh, nên từ đó chừa bỏ không dám nữa.v.v… Đây chưa phải quả báo chính thức, mà chỉ là sự nhắc nhở của thế giới vô hình, để giúp người đó nhanh chóng quay đầu sửa đổi.

4. Trường hợp đặc biệt, nếu một người nào đó có trí tuệ nhìn xa, sợ nhiều kiếp sau mình sa ngã, gây tội tạo nghiệp, sẽ phải nhận quả báo đau khổ lâu dài. Người đó lập một lời nguyện, nhằm chặn chính mình sau này không thể làm việc xấu ác, đại khái như sau :

” Con nguyện vô lượng kiếp sau, hễ trong ý nghĩ con khởi lên điều bất thiện, miệng định nói lời bất thiện, thân định tạo điều bát thiện, trái với giới hạnh Phật dạy, liền đó thân con sẽ đau nhức, thống khổ, cho đến khi con buông xả được những thân – khẩu – ý bất thiện đó, không khởi nữa, không làm nữa thì thân con mới an ổn trở lại “

Phát lời nguyện đó nhiều lần rồi, thì các kiếp sau, cứ đúng như lời đã nguyện, hễ cứ làm việc xấu ác, bất thiện, thân sẽ đau đớn, buộc phải dừng tay tạo nghiệp. Đây không phải là quả báo tới ngay, mà là do NGUYỆN LỰC từ kiếp trước của chính mình, khóa mình lại, không cho sa ngã vào những điều bất thiện.

Quang Tử đã từng biết những người, ngay từ nhỏ mới sinh, hễ cha mẹ cứ cho ăn thức ăn mặn, có máu thịt của chúng sinh, là nôn thốc nôn tháo ra bằng sạch, quằn quại, gào khóc… buộc cha mẹ, người nhà phải cho ăn chay.
Đây không phải quả báo, mà hẳn là do lời nguyện của chính đứa bé trong kiếp trước. Và như thế, không cần cố gắng gì, mặc định đứa bé đó sẽ ăn chay trường, có thể cả đời không phạm giới sát sinh.

Trong kinh Phật có ghi lại một số trường hợp, một người do kiếp trước nguyện không bao giờ gần gũi nữ sắc để phạm dâm dục. Qua những kiếp sau, khi sinh ra, hễ mẹ hay vú nuôi cho bú là gào khóc, không chịu, chỉ có thể uống gián tiếp sữa được đựng trong ly, trong cốc.

Trong khi bao nhiêu người tu hành, muốn giữ giới không sát sinh, không tà dâm…  vật lộn mãi mà vẫn bị phạm, còn những đứa bé đó bẩm sinh đã giữ được giới, cho ta thấy lời nguyện quả là lợi hại !

___________________ 

VÍ DỤ VỀ TẠO NGHIỆP MÃI KHÔNG THẤY QUẢ BÁO

Câu chuyện thứ nhất:

https://nhanqua.com.vn/ly-ki-nguoi-tu-sat-xuong-am-phu-xem-nhan-qua-co-that-khong/

________________ 

Câu chuyện thứ hai :

https://nhanqua.com.vn/giet-de-duoc-sinh-coi-troi-ta-kien-ve-nhan-qua/