LY KÌ: NGƯỜI TỰ SÁT XUỐNG ÂM PHỦ – XEM NHÂN QUẢ CÓ CÔNG BẰNG KHÔNG.

Vào năm Thuận Trị thời nhà Thanh, tại huyện Thuận Nghĩa, Bắc Kinh có một đại gia đình họ Cung, nhà có ruộng đất cả trăm mẫu, lừa ngựa cả đàn. Lúc trung niên, họ sanh được một cậu con trai, đặt tên cúng cơm là Khánh Hữu.
Trong lúc này, ông Lý làm quản gia quản lý việc tá điền cho nhà họ Cung cũng sanh được một thằng con trai, đặt tên là Lý Phúc.
Đợi Cung Khánh được 7 tuổi, ông Cung mời một gia sư đến dạy học cho con trai. Lý quản gia thấy con trai của ông chủ Cung được học sách, nên cầu xin ông Cung cho con mình học cùng với Cung Khánh, được ông Cung đồng ý.
 
Tháng ngày qua mau, lúc Lý Phúc đến 14 tuổi thì cùng Cung Khánh tá túc tại học viện, tức ngày thì học chung, đêm thì ngủ chung.
Có một đêm, Lý Phúc đang ngủ, mơ thấy trên trời mở một cổng lớn, từ trên trời hạ xuống hai ông thần, hạ đúng trong học viện, có một ông thần chỉ ngón tay đến Cung Khánh Hữu, còn ông thần kia nói:
– Anh ta ra sao?
Ông thần kia nói:
– Anh ta là người toàn phước, năm 17 tuổi đậu tú tài, 19 tuổi đậu cử nhân, tương lai sẽ thăng quan đến cấp nhị phẩm, suốt đời hưởng vinh hoa phú quý.
Ông thần nọ lại chỉ vào Lý Phúc, hỏi ông thần kia:
– Còn anh kia?
Ông thần kia nói:
– Người này thuộc mạng khổ vô công danh, vô phận nghèo suốt đời.
Nói xong, hai ông thần bay về trời. Sau khi hai ông thần đi vào cửa trời, cửa trời đóng lại như trước. Lý Phúc tỉnh dậy, cảm thấy kỳ lạ liền kể hết chuyện trong mơ cho cha mẹ và những người khác nghe.
Đợi đến khi Khánh Hữu năm 17 tuổi, quả nhiên thi đậu tú tài, lúc này Lý Phúc không còn học nữa. Nhà có ruộng đất, Lý Phúc tuy canh tác nhưng luôn để ý đến hành vi của Khánh Hữu, anh ta thấy Khánh Hữu có tính độc đoán, luôn làm chuyện ác, tàn nhẫn bạo hành, không làm việc tốt.
 
Sau khi Khánh Hữu thi đậu tú tài và tiếp tục thăng tiến, đúng là thăng chức đến làm đại quan nhị phẩm. Nhưng Khánh Hữu làm quan thì tham nhũng, tàn độc với bá tánh, đánh đập người trung lương.
Hành vi của Khánh Hữu, trong lòng của Lý Phúc xem đó là tội ác, cảm thấy Khánh Hữu sau này phải chịu quả báo. Ai ngờ, Khánh Hữu sống thọ đến năm 71 tuổi vẫn phú quý, khỏe mạnh, con cháu đầy nhà.
Không chỉ có vậy, Khánh Hữu còn có thể biết được mình lúc nào chết, lúc ông chưa chết, ông nói với con trai làm sao lo hậu sự cho ông. Nhưng hành vi của Lý Phúc lại khác biệt hoàn toàn so với Khánh Hựu, Lý Phúc sống rất cần kiệm, đối xử với người dân rất chu toàn, hướng thiện mà đi, không làm chuyện độc ác.
Đối với loại người ác độc như Khánh Hữu lại được hưởng phước trọn đời, còn biết trước ngày mình mất. Trong lòng ông ta cảm thấy bất bình, cảm thấy dưới âm phủ cũng có chuyện mua chuộc hối lộ, quyết tâm cùng Khánh Hữu đến Diêm Phủ hỏi cho ra lẽ.
 
Nên ông nói với con trai của ông là sẽ chết vào ngày tháng đó, chuẩn bị lo cho hậu sự của ông. Ông Lý Phúc muốn đi cùng Khánh Hữu đến âm phủ xem như thế nào, nhất thiết phải xem rõ ràng cho bằng được. Lý Phúc nói với con trai là mình chết vào lúc nào, không phải vì ông ta tự biết ngày giờ chết mà là ông ta mua sẵn một gói thuốc độc.
Nếu như Khánh Hữu thật sự chết vào ngày ông ta nói thì ông sẽ uống thuốc độc để chết theo Khánh Hữu để đi xuống âm phủ gặp Diêm Vương.
Không ngờ, Khánh Hữu đến ngày đó thật sự chết đi, ông Lý Phúc cũng uống thuốc độc chết theo.
Xuống đến Âm Phủ, Diêm Vương xử lý xong công việc của Khánh Hữu mới ra gặp Lý Phúc, nói:
– Sao ngươi cũng đến vậy?
Lý Phúc trả lời:
– Tôi vì Khánh Hữu mà đi xuống đây. Trên trần gian, người người sợ quyền thế, trọng giàu sang, tại sao Diêm Vương dưới âm phủ cũng phải sợ như thế sao? Tôi nghĩ ông Khánh Hữu sống trên trần gian, tàn nhẫn độc ác, làm việc ác vạn lần, ông ta lúc trên trần gian không phải chịu ác báo, đến âm phủ, chắc phải chịu hình phạt, không ngờ trần gian với âm phủ cũng như nhau.
Diêm Vương nói:
– Ông ráng chờ một lát thì sẽ hiểu.
Diêm Vương ra lệnh cho phán quan mở ra cuốn sổ sanh tử thiện ác để xem, trên tên của Cung Khánh Hữu có một hàng chữ. Diêm Vương nói:
– Vì kiếp trước Khánh Hữu làm rất nhiều việc thiện to lớn, kiếp này tuy làm ác, đã tiêu hao không ít công thiện của kiếp trước. Nhưng vẫn còn dư rất nhiều phước báo của những việc thiện to lớn từ kiếp trước.
Vậy nên chuyển đến kiếp sau vẫn được hưởng phước, nhưng không có phước lớn như kiếp vừa rồi nữa.
Với những chuyện ác mà ông ta đã làm, vẫn chưa đến thời kỳ quả báo chín muồi. Lý Phúc nhà ngươi vì kiếp trước không có siêng làm việc thiện nên kiếp này phải chịu khổ.
Nhưng vì do ông giác ngộ, một lòng làm việc tốt, cho nên ông sống trên đời tuy không hưởng phước nhưng ăn mặc không thiếu thốn gì, khi ông chuyển kiếp sau, ông sẽ hưởng phước thật là lớn.
Lý Phúc cầu xin Diêm Vương lúc chuyển kiếp đừng cho ông ta uống nước canh Mạnh Bà, để kiếp sau có thể xem được kết quả hành vi của Khánh Hữu. Diêm Vương đồng ý lời cầu xin của Lý Phúc.
 
Lý Phúc lại đi theo Khánh Hữu đi chuyển kiếp luân hồi. Vì ông ta chưa uống nước canh Mạnh Bà biết hết sự việc, biết được Khánh Hữu lại đầu thai đến một gia đình phú quý. Ông thì đầu thai đến một gia đình trung bình, vẫn tu hành giữ thiện.
 
Khánh Hữu sau này trưởng thành, làm quan huyện trưởng, vẫn tàn ác với bá tánh, hoàn toàn không có một chút hối hận, dựa vào quyền thế tham nhũng, hãm hại dân lành.
Vì ép buộc khẩu cung, đã móc đi hai con mắt của người ta; vì một vụ án oan, chém mất đôi chân của người khác, Khánh Hữu sống thọ đến hơn bảy mươi mấy tuổi, bị bệnh và qua đời. Lý Phúc do có trí tu hành tinh tấn. Sau nhiều năm khổ tu đã đạt đến trình độ có thể đến xuất hồn có thể đi xuống âm phủ.
Lý Phúc biết Khánh Hữu chết, liền ngồi thiền nhập định, linh hồn thoát xác đi theo Khánh Hữu xuống gặp Diêm Vương. Lúc này khác với lúc trước, Diêm Vương tiếp đến Lý Phúc trước rồi mới xử Khánh Hữu sau.
Khi thấy dưới tên của Khánh Hữu trong sổ, phần phước đã hoàn toàn tiêu hao hết.
Lúc làm quan, móc mắt người ta, chém đôi chân người khác, hai sự việc này, chỉ có thể lấy thân mà trả nợ, phán quyết Khánh Hữu kiếp sau đầu thai đến một gia đình nghèo khổ, đôi mắt mù lòa, tàn tật hai chân, mỗi ngày ra mặt đường ăn xin, khổ hết biết.
Khi Lý Phúc nhìn thấy nhân quả của Khánh Hữu trong ba kiếp, nhất nhất đều có nguyên do và cực kì công bằng. Hơn nữa lại nhận ra một điều còn quan trọng hơn, ấy là luân hồi sinh tử nhiều kiếp thực ra rất đáng sợ.
Kiếp này làm người tốt, tạo nhiều phước, cũng không hề đảm bảo kiếp sau lại làm người tốt. Ngược lại, khi phước báo đến, hưởng thụ nhiều sẽ khiến con người ta đổi tính, tham lam hơn, độc ác hơn, rồi làm nhiều việc tội lỗi. Thế rồi kiếp sau nữa sẽ chịu quả báo thê thảm…
 
Trong lòng sợ mất đi bản tính mà phải tọa lạc sự luân hồi, nên ông kiên trì tu hành, phát tâm dũng mãnh độ mình độ người, quyết tâm tinh tấn cho đến khi viên mãn công đức, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi sinh tử khổ đau này.
 
(Trích Ngọc Lịch Bửu Phiêu)
 

GIẾT DÊ ĐƯỢC SINH CÕI TRỜI ?! – TÀ KIẾN VỀ NHÂN QUẢ

Thời Đức Phật, có một người đồ tể đi đến gặp vua A-xà-thế cầu xin một ước nguyện. Vua bảo: –Ngươi cầu xin điều gì? Anh ta thưa: – Khi ngài mở hội cúng tế, cần mổ giết súc vật, nếu vua chấp nhận tôi sẽ tận tâm làm việc ấy. Vua nói: – Mổ giết là việc ít ai ưa, vì sao ngươi lại muốn làm? Thưa: – Tôi kiếp xưa vốn là người nghèo, chuyên nghề giết dê bán để tự sinh sống. Nhờ việc làm đó, sau khi chết được sinh cõi trời Tứ Thiên vương. Hết tuổi thọ ở cõi trời, sinh trở lại làm người, tiếp tục làm nghề giết dê. Khi chết lại được sinh lên cõi trời lần thứ hai. Như vậy sáu đời ở dương gian làm nghề giết dê, nhờ đó mà sáu lần được sinh lên cõi trời, thọ phước không thể lường được. Vì lý do như vậy nên tôi đến đây xin vua làm việc mổ giết ấy. Vua nói: – Ngươi đặt bày nói dối như vậy, chứ ngươi làm sao biết được? Anh ta thưa: –Tôi biết được việc kiếp trước. Vua nghe không thể tin, cho là nói dối, vua suy nghĩ: “Kẻ hạ tiện như vậy làm sao có thể biết được tiền kiếp?”. Sau đó, vua được gặp Đức Phật, liền đem việc ấy thưa hỏi. Đức Phật dạy: –Thật như lời anh ấy nói, không phải hư dối. Vị này đời trước đã từng gặp được Bích-chi-phật. Anh ta thấy vị Bích-chi-phật lòng hoan hỷ, chí tâm quán sát kỹ, chiêm ngưỡng từ đầu cho đến chân, rồi liền phát sinh tâm lành. Do nhân duyên đó mà được phước sáu lần sinh lên cõi trời, sáu lần trở lại nhân gian, tự biết được túc mạng. Do phước đức đã thuần thục nên chưa đến lúc phải thọ quả khổ. Khi hết thân này, mới đọa vào địa ngục chịu tội đã giết dê. Tội ở địa ngục mãn, sẽ phải sinh làm dê nhiều lần để thường mạng. Tên đồ tể ấy chỉ biết một ít đời trước, thấy sáu lần được sinh lên trời mà không biết được đời thứ bảy: Khi thọ thân người thì phước đã tạo trước đó rồi, nên mới hiểu lầm rằng: “Nhờ giết dê mà được sinh lên cõi trời.” Như vậy chỉ biết được đời trước, chẳng phải thần thông mà cũng chẳng phải là người sáng suốt đâu! Vì thế nên người tu hành khi tạo công đức phải phát nguyện, chớ có buông thả, khiến quả báo không rõ ràng. Lấy chuyện thí dụ này để có thể chiêm nghiệm vậy. ( Trích : CHÚNG KINH TUYỂN TẠP THÍ DỤ Sưu tập: Tỳ-kheo Đạo Lược. Hán dịch: Đời Diêu Tần, Tam tạng Pháp sư Cưu-ma-la-thập.) _________________ Lạm bàn : Nhân quả luân hồi là một vấn đề cực kì sâu xa, cần phải có trí tuệ của Đức Phật mới thấy hết được ngọn ngành, vì Ngài thấu suốt vô biên vô lượng kiếp sinh tử của mọi chúng sinh. Còn thỉnh thoảng cũng có một số người có khả năng thấy một vài kiếp trước, hay thậm chí như Ma vương Ba Tuần cũng có thể biết đến hàng ngàn kiếp sinh tử của chúng sinh, xong như thế chưa đủ để thông đạt được ngọn ngành của Đạo lí, vẫn còn mang nhiều tà kiến. Nếu như chấp vào việc biết được vài kiếp quá khứ, mà đưa ra nhận định này, kết luận kia, thì sẽ thật phiến diện và nguy hiểm. Giống như trong truyện trên, người đồ tể mới nhìn được 6 kiếp trước, kiếp nào cũng giết dê, kiếp nào cũng sinh cõi trời, mà vội kết luận ” giết dê sẽ được sinh cõi trời”, chứ đâu biết được việc 7 kiếp trước, từng cung kính một vị Bích Chi Phật nên mới được sinh cõi trời, chứ đâu phải do giết dê ?! Thời nay, thỉnh thoảng cũng có một số người bằng cách nào đó thấy được tiền kiếp, xong không phải thấy được vô lượng kiếp như Đức Phật, mà chỉ là vài kiếp, hay vài chục kiếp là cùng. Dựa vào đó mà cũng đưa ra kết luận này kia, ngược với lời Phật dạy, giống anh chàng đồ tể trên, thật hết sức nguy hại cho những ai nghe theo, sẽ rơi vào tà kiến mà tạo ra tội lỗi chất chồng. Cả người gieo rắc tà kiến và những người nghe theo đều sẽ phải kết thúc trong những quả báo khủng khiếp. Thế nên người có trí tuệ, không nên đặt niềm tin của mình một cách dễ dãi, mà nên nương theo lời Đức Phật dạy, vì chỉ có Đức Phật mới đủ trí tuệ thấu suốt vô biên vô lượng kiếp luân hồi, đồng thời thông đạt mọi Đạo lí trong đó. ( Quang Tử)

6 BÍ QUYẾT THOÁT KHỎI TÌNH THẾ NGUY KỊCH

( Quang Tử ) Sống trong đời, không ai tránh khỏi những lúc nguy kịch. Có những nguy kịch ta cố gắng sẽ vượt qua được. Nhưng cũng không ít tình huống mà ngoài việc ‘bó tay’ ngồi chờ ‘bó chiếu’, ta không biết phải làm gì hơn. Thế nhưng có rất nhiều người vẫn vượt qua được những cơn tai ương tưởng như tuyệt vọng, chuyển nguy thành an nhờ áp dụng những bí quyết sau : 1- NIỆM PHẬT – BỒ TÁT KHÔNG NGỪNG ” NAM MÔ ĐẠI BI QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT “, đó là bí quyết gần như là phổ biến nhất để thoát nạn, ngay cả với những trường hợp tưởng như không còn chút hi vọng nào, với số lượng chuyện linh ứng có thể nói là đứng đầu danh sách. Rất đơn giản, khi gặp bất kì khó khăn, hoạn nạn, nguy cấp gì, bạn cứ thành tâm niệm không ngưng nghỉ câu “Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát ” liên tục, hoặc niệm thầm, hoặc niệm thành tiếng. Phương pháp này đặc biệt được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhấn mạnh , giảng rộng chi tiết trong phẩm Phổ Môn của kinh Pháp Hoa, chứ không phải đơn thuần là chỉ kinh nghiệm dân gian truyền tụng. Ngoài ra, bạn cũng có thể niệm danh hiệu các vị Phật – Bồ Tát khác : “Nam Mô A Di Đà Phật ” – “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật “, “Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát “… tùy duyên mỗi người với các Ngài, mà người thì thích niệm danh hiệu vị này, người thì thích danh hiệu vị kia, xong dù bạn niệm danh hiệu của vị, đủ duyên các Ngài cũng đều sẽ giúp bạn được “tai qua nạn khỏi”. Những người nhờ niệm Phật – Bồ Tát mà được thoát nạn thật sự nhiều đếm không xuể. (Bạn muốn tìm hiểu những câu chuyện linh ứng thoát nạn nhờ niệm Phật, xin vào link sau: https://thuvienhoasen.org/…/nhung-truyen-niem-phat-cam-ung-…) 2- PHÁT NGUYỆN LÀM LÀNH Đây giống như một “hiệp ước”, bạn hứa sẽ làm điều thiện như thế này, như thế kia… để được thoát nạn. Nếu thành tâm, chư Phật – Bồ Tát … sẽ giúp bạn thoát cơn hoạn nạn. Giống như cho bạn tạm ứng trước một số ” phước đức” để bạn qua được nguy kịch. Nhưng điều quan trọng là sau đó bạn phải giữ đúng lời hứa ban đầu, nếu không mọi thứ sẽ tồi tệ trở lại. Thất hứa với người thường đã là đáng trách, huống chi thất hứa với Phật, sao có thể thoát được báo ứng xấu ? Dù Phật thừa bao dung để tha thứ sự thất hứa của chúng sinh, nhưng những vị thần linh, những Thiên Long- Hộ Pháp … sẽ không bỏ qua. 3- TỤNG THẦN CHÚ Trong Đạo Phật, Đức Thế Tôn cùng các Đại Bồ Tát đã từng tuyên thuyết rất nhiều thần chú , còn gọi là Đà Ra Ni, là một phép tổng trì vô biên nghĩa lí sâu xa vào trong những câu chữ rất ngắn, chúng sinh cứ tụng đọc mà không cần hiểu ( vì rằng với trí tuệ phàm phu không thể hiểu được ) cũng được những cảm ứng vi diệu, có thể thoát nạn hiểm nguy, có thể tiêu trừ nghiệp chướng, và rất nhiều công năng khác nhau, tùy vào đó là thần chú gì. Thần chú nổi tiếng nhất mọi thời đại, được sử dụng rộng rãi khắp các nước Phật Giáo như Tây Tạng, Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản… với vô số chuyện linh ứng, đó chính là chú Đại Bi của đức Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát . (Chuyện linh ứng chú Đại Bi rất nhiều, bạn có thể tìm hiểu ở link sau: https://www.facebook.com/groups/1469257653347565/?fref=ts) Với những Phật tử thuần thành, thì tụng chú Đại Bi không có khó khăn gì, vì họ đa số đã dày công học thuộc từ lâu. Nhưng với những ai không chuyên sâu như thế, thì việc trong lúc dầu sôi lửa bỏng, có thể tìm đâu chú Đại Bi để đọc mà mong thoát nạn, không phải dễ. Nay tôi xin giới thiệu một thần chú rất ngắn, có khả năng làm tiêu trừ ác nghiệp từ nhẹ cho đến cực nặng, giúp chúng ta thoát được nguy kịch trong lúc không biết bấu víu vào đâu. Thần chú này là của đức Địa Tạng Vương Bồ Tát, tên là DIỆT ĐỊNH NGHIỆP ĐÀ RA NI , thần chú này chỉ có 8 chữ: ” ÔM PRA MA NI ĐA NI XOA HA” ( đọc trại đi theo tiếng Hán Việt là: “Án Bát Ra Mạt Lân, Đà Nảnh, Ta Bà Ha”) Bạn nên cố gắng học thuộc, thường xuyên đọc tụng, sẽ diệt được rất -rất nhiều ác nghiệp quá khứ lẫn hiện tại, dù nặng hay nhẹ. Gặp lúc bệnh tật, nguy hiểm, hay bế tắc cuộc sống, hay tình thế nguy cấp v.v.., bạn liên tục đọc tụng, sẽ nhanh chóng chuyển nguy thành an. 4- TỤNG KINH Phương pháp này, bạn có thể áp dụng khi còn nhiều thời gian để xoay sở. Những quyển kinh thường được đọc tụng để cầu tiêu tai giải nạn, thường là những kinh Đại Thừa, nổi tiếng như kinh Địa Tạng, phẩm Phổ Môn của kinh Pháp Hoa ( người ta hay gọi là kinh Phổ Môn), kinh Kim Cang … Bạn ít nhất cần phải trang phục chỉnh tề, ngồi ngay ngắn, hai tay cầm kinh, tập trung tâm ý đọc rõ ràng. Nếu quỳ trước bàn thờ Phật, đọc thành tiếng, tâm ý giữ tập trung vào từng câu kinh, thì càng linh ứng hơn. Sau khi đọc tụng xong , khấn hồi hướng như thế này: ” Con nguyện hồi hướng công đức này, cầu cho con… ( hoặc tên người nào khác mà mình muốn cầu) được tiêu trừ nghiệp chướng, tiêu tai giải nạn, tăng trưởng Bồ Đề Tâm…( hoặc cầu điều gì khác thì bạn cứ khấn) 5- PHÓNG SINH Nếu không phải người đã hiểu rõ luật Nhân quả, bạn hẳn sẽ chẳng thấy liên quan gì giữa việc thả các con vật sắp bị giết được về với tự do, với việc bạn được thoát nạn cả. Một số người còn cười khẩy khi thấy người ta bỏ rất nhiều tiền đi mua các con vật để phóng sinh, cứ như đem tiền đổ xuống sông vậy. Ấy thế mà đã rất nhiều người khỏi bệnh, thoát được tai ương nhờ phương pháp này. Đó là vì ” gieo nhân nào thì hưởng quả nấy”, bạn giúp cho chúng sinh, dù chỉ là những loài vật bậc thấp như lươn, ốc,… được thoát chết, thoát khỏi cơn nguy kịch, thì bạn cũng sẽ thoát được cơn nguy kịch của chính mình. (Bạn có thể tìm hiểu thêm ở đây : https://rongmotamhon.net/xem-sach_Cong-duc-phong-sinh_dpkqt…) 6- SÁM HỐI VỚI OAN GIA TRÁI CHỦ Rất -rất nhiều những bệnh tật, nguy hiểm, bế tác… trong cuộc sống chúng ta, là do các linh hồn tìm đến đòi nợ, gọi chung là oan gia trái chủ. Do vì nhiều kiếp trước, hoặc kiếp này ta nợ họ, hoặc nợ tiền, hoặc nợ máu, nợ mạng… nên các linh hồn của người và cả các loài súc sinh bị ta ăn thịt, thường bao vây quanh ta, chỉ chờ đến dịp thuận tiện, khi phước ta suy yếu, họ lập tức ập vào, tạo ra đủ chuyện. Hoặc bệnh tật, hoặc bất hòa gia đình, hoặc tai bay vạ gió, hoặc làm ăn thất bại, xui xẻo đủ cách… Vì thế nếu ta hóa giải được những mối thù truyền kiếp này, các oan gia trái chủ chịu buông tha, thì mọi chuyện sẽ yên bình trở lại, đó là một điều rất dễ hiểu. Sau đây là nghi thức Cúng sám hối – cầu siêu cho oan gia: https://nhanqua.com.vn/http-nhanqua-com-vn-nghi-thuc-sam-hoi-oan-gia-trai-chu/ _________________ Trong thực tế có rất nhiều trường hợp nhờ làm theo 6 bí quyết trên đây mà thoát được những bi kịch trong cuộc sống ( thực ra cũng không phải chỉ có 6 cách trên) Trong khuôn khổ bài viết này, tôi không thể liệt kê ra hết. Chỉ xin kể với các bạn một câu chuyện sau, một người nhờ sử dụng bí quyết thứ 1: trì niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát mà thoát nạn cưỡng hiếp một cách kì lạ. Câu chuyện có thật tại bến xe Mỹ Đình – Hà Nội, do chị Thanh Thanh kể lại câu chuyện của chính mình : ______________ “Tôi có duyên với Bồ Tát Quán Thế Âm. Bồ Tát đã cứu tôi rất nhiều lần, và lần thót tim nhất, li kì nhất, là một lần tôi bị lọt vào bẫy của một gã bặm trợn, âm hiểm. Bồ tát đã cứu tôi ra khỏi tay hắn một cách khó tin. Đó là ngày 12/1/2016, tôi theo chân những người cùng quê đến cửa khẩu Lạng Sơn. Chắc ai ở Hà Tây đều biết bao nhiêu năm nay mọi người đều qua Trung Quốc làm rất đông, tôi thấy nhiều người đi cũng đã đổi đời, kinh tế khấm khá. Tôi cũng đi với niềm mong ước đó, nhưng chỉ còn vài bước chân nữa qua biên giới, thì tôi bỗng đau bụng dữ dội, quặn thắt từng cơn. Mọi người bảo thôi về đi chứ đau thế này mà sang đấy mà có chuyện gì thì nguy hiểm. Thế là tôi đành ngậm ngùi bắt xe về Hà Nội. Đến bến xe Mỹ Đình lúc 8h tối thì không còn xe nào về Hà Tây. Buồn vì bị lỡ việc thì ít, mà lo lắng không biết đêm này mình ra sao thì nhiều, bởi lúc đi chủ đoàn nói sang Trung Quốc họ lo cho đầy đủ nên không cần mang nhiều tiền. Nên sau khi bắt xe về đến Hà Nội thì trong túi tôi chỉ còn đúng 80.000đ. Thấm mệt và say xe vì đi đường dài, nghĩ không thể bơ vơ thế này cả đêm ở bến xe được, tôi đành bấm bụng ghé vào một nhà nghỉ ở gần đó , mong họ cho một chút cảm thông để tá túc nhờ đêm nay. Tôi nói với ông chủ nhà nghỉ: – Em bị lỡ việc, giờ lại không còn xe về quê, anh có thể cho em ở nhờ được không ạ? Ông chủ đầu trọc lóc, mặt bặm trợn, dáng người cao to, nhìn tôi từ đầu đến chân rồi nói: – Thôi được rồi, cho vào ngủ với bà giúp việc. Tôi đồng ý và cảm ơn ông ta. Ánh mắt ông ta hắt ra một tia nhìn âm hiểm khiến tôi thoáng sợ hãi, nhưng khi nghe ngủ chung với bà giúp việc thì tôi cũng yên tâm được phần nào. Khoảng 9h tối, bà giúp việc bảo tôi qua phòng bên kia ngủ. Họ bảo thì tôi qua thôi, nghĩ chắc họ dư phòng nên để cho tôi một phòng chăng? Tôi vừa bước vào phòng thì cánh cửa bỗng đóng lại. Tôi giật mình, vội quay lại, thì ra đó là ông chủ nhà nghỉ. Hắn khóa trái cửa phòng lại, dắt một con dao to ngay trước cửa. Tôi bàng hoàng không nói được gì, thì bỗng hắn lên tiếng với một giọng đê tiện: – Anh em mình ngủ với nhau tí nhé! Tôi lắp bắp trong sợ hãi: – Không… không… anh ạ! Hắn bắt đầu nịnh nọt tôi: – Anh em mình làm tí không việc gì đâu. Mai em xem công việc thế nào, không được thì ở đây làm với anh! Tôi cố gắng lấy bình tĩnh, giả vờ nói: – Thôi…thôi được rồi, mai em chiều anh. Giờ anh để em nghỉ hôm nay cho đỡ mệt cái đã. Rồi anh xem mai có việc thì anh cho em làm. Hắn đâu có dễ bị lừa, liền gạt đi, nhanh nhảu đáp: – Không, giờ anh em mình làm tí đã! Như con thú hoang háu đói, hắn cởi phăng hết quần áo ra, rồi tiến lại gần tôi. Tôi hoảng sợ đến tột độ, tôi đã rơi vào cái bẫy của hắn, không còn lối thoát nào. Đừng nói đến thanh danh, ngay cả mạng tôi cũng không chắc giữ được. Trong lúc nguy cấp cùng cực, tôi bỗng nhớ đến một đoạn trong Kinh Phổ Môn có dạy rằng : “Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sanh chịu các khổ não, nghe Quán-Thế-Âm Bồ-Tát này một lòng xưng danh. Quán-Thế-Âm Bồ-Tát tức thì xem xét tiếng tăm kia, đều được giải thoát.” Vậy là tôi ra sức niệm thầm trong tâm : “Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát! Mẹ Quán Âm Bồ Tát cứu con! Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát cứu con !…” rồi nhắm mắt chờ bàn tay số phận định đoạt. Một phút… hai phút… rồi mười phút trôi qua ! Thật kì lạ, hắn vẫn chưa làm gì được tôi. Chân tay hắn chẳng biết thế nào mà chỉ quờ quạng một cách yết ớt, đôi mắt hắn lộ vẻ mệt mỏi và đờ đẫn. Thấy vậy, tôi càng tha thiết niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, đồng thời kiên cường thủ thế. Phải nói rằng câu niệm hồng danh “Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát” linh ứng không thể tưởng tượng nổi. Hắn – một gã đàn ông lực lưỡng, hung bạo, với thú tính đang bạo phát hừng hực, còn tôi, một phụ nữ chân yếu tay mềm, toàn thân đang run rẩy, không còn giữ được chút bình tĩnh nào. Vậy mà hắn loay hoay mãi không thể làm gì được tôi. Không biết thần thông của Quán Thế Âm Bồ Tát tác động như thế nào đó, khiến hắn đột nhiên trở nên yếu xìu. Càng lúc càng chậm chạp dần. Mặt hắn cứ đờ ra, mắt díp lại dần dần. Không lẽ hắn buồn ngủ ? Vào lúc tưng bừng như thế này mà hắn lại buồn ngủ được sao ? Ấy thế mà hắn ngủ thật. Cố gắng thêm một chút với những động tác đờ đẫn, mang tính chất minh họa là chính, hắn lăn ra ngủ một cách ngon lành. Cứ như bị người ta chụp thuốc mê vậy. Thấy vậy tôi vui mừng không sao mà tả hết được, nhưng vẫn còn sợ, toàn thân run lập cập. Nên tôi chỉ còn biết ngồi một góc, ra sức niệm liên tục : “Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát ! Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát”, cầu xin Người cứu tôi, cứ thế niệm suốt đêm. Thỉnh thoảng hắn thức giấc, rồi quay qua nhìn tôi, có lẽ dục tính của hắn đang cố gắng chiến đấu kịch liệt với cơn buồn ngủ… cuối cùng ánh mắt hắn lộ vẻ bất lực, rồi lại lăn ra ngủ. Đến 5h sáng, hắn thức dậy, xem đồng hồ rồi uể oải bảo tôi: -Thôi… cho em về ! Hắn lờ đờ bước đến cánh cửa, rút con dao và mở cửa ra, tôi chạy đi thẳng, không dám quay đầu lại. Chuyện này trước giờ tôi không dám kể với ai, bởi nói ra , nếu một người không có tín tâm vào Phật pháp có lẽ họ cho rằng tôi bị thần kinh, bởi làm gì có chuyện nam nữ ở chung phòng cả đêm mà tôi lại không việc gì? Các bạn biết đấy, ở bến xe dân tình rất phức tạp, nhất lại là chủ nhà nghỉ thì không phải dạng vừa. Tôi như con cá nằm trên thớt, hắn thì to con bặm trợn, lại trên địa bàn của hắn, số phận tôi khi ấy 10 phần thì 9 phần nguy nan. Đến giờ tôi vẫn còn ám ảnh bởi hình ảnh con dao chắn ngang ở cửa. Đêm ấy, nếu chẳng phải nhờ phép màu của Bồ Tát, biết đâu tôi đã được ghi tên trong hồ sơ một vụ án cưỡng hiếp- giết người nào đó. Thậm chí, nếu hắn phi tang một cách khéo léo, có khi tôi còn bị chết mất xác không ai tìm ra. Chuyện đó vẫn thường xảy ra mà, biết đâu được… Nhờ niệm danh hiệu Bồ Tát mà xuất hiện một thần lực vô hình cản trở hắn, khóa hắn lại bằng cơn buồn ngủ bất chợt, khiến tôi vẫn bình an, chẳng mất cọng lông nào. Phật Pháp quá vi diệu phải không các bạn? Lời Đức Phật dạy trong Kinh điển là chân lý vĩnh hằng, dù chỉ là một câu, một từ thôi, đều chẳng phải hư dối. Ngày ấy làm gì tôi đã biết đến Chú Đại Bi và siêng năng trì tụng như bây giờ, vậy mà nhờ may mắn nhớ được một câu trong Kinh Phổ Môn mà tôi được thoát nạn. Tận thâm tâm tôi luôn biết ơn Bồ Tát đã cứu tôi rất nhiều lần. Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát! Người là bến bờ giải thoát, cứu vớt chúng sinh ra khỏi trầm luân, khổ đau, tăm tối! Con xin đem hết lòng thành kính xin quy y Người! Con xin đem vô lượng kiếp lễ kính Người ! (Trịnh Thanh Thanh)

SIÊU ĐỘ MẸ TỪ ĐỊA NGỤC LÊN THIÊN GIỚI

Sư Quảng Hóa là đệ tử của hòa thượng Từ Hàng (một vị cao tăng nổi tiếng ở Đài Loan, sau khi viên tịch ngài đã lưu lại” Nhục thân bất hoại”).
Sư Quảng Hóa lúc chưa xuất gia từng sát sinh rất nhiều. Nhưng sau khi xuất gia, nhờ giữ giới nghiêm ngặt, hành pháp chân chính mà sư đã khai mở thiên nhãn, đạt được nhiều lợi ích không thể nghĩ bàn, và đã mang những câu truyện thực tế của mình kể lại.
Ngay sau đây là một trong những câu truyện li kì của Sư Quảng Hóa:
_____________
“Mẹ tôi mất ở Đại Lục, tôi liền mang công đức xuất gia hồi hướng cho bà rồi tận mắt chứng kiến mẹ sinh Thiên, đây là việc muôn ngàn chân thật (chuyện xảy ra tại Tháp Thất Bảo Điện Địa Tạng, thuộc chùa Đại Giác ở Cơ Long, Đài Loan).
Sau ngày mẹ mất, một tối nọ, tôi mơ thấy mẹ đang bị giam trong ngục, sau đó bà từ địa ngục bước ra, níu lấy tôi cất giọng sầu thảm:
– Con ơi, hãy mau cứu mẹ!
Tôi hỏi:
– Vì sao mẹ lại ở trong đây?
Mẹ tôi kể: Bà bị người ta đem nhốt vào ngục như thế nào, khổ sở ra sao, rồi bà hối thúc tôi hãy mau mau cứu bà ra. Tôi nói với mẹ:
– Được rồi, xin mẹ hãy chờ, nhất định con sẽ cứu mẹ ra.
Tôi giật mình tỉnh giấc, ngồi bật dậy… Trời vừa sáng, tôi lập ngay một bài vị để cầu siêu cho mẹ.
Cách thức tôi lập bài vị cho mẹ như sau: Trước tiên tôi chắp tay lại, tụng một quyển kinh A Di Đà và 21 biến Chú Vãng Sanh.
Tụng xong thì viết bài vị, khi viết mỗi một nét chữ tôi niệm Phật một câu. Viết xong tôi tiếp tục tụng thêm 21 biến chú Vãng Sanh nữa, rồi hồi hướng và cung thỉnh chư Bồ Tát gia hộ cho mẹ được siêu thăng, ly khổ đắc lạc.
Sau đó, vì tôi phải đi làm nhiệm vụ dẫn lễ ngay, nên cầm bài vị mẹ đưa cho một chú tiểu nhờ đặt ở bàn thờ vong nơi “Công Đức Đường” hộ, cũng chẳng rõ chú tiểu ấy sẽ an trí bài vị mẹ tôi ở chỗ nào nữa?
Tối đến tôi nằm mơ, thấy mình tay giữ chặt kéo mẹ thoát ra khỏi địa ngục, rồi bay thẳng lên không trung về Đài Loan.
Tôi nhớ được là từ trên không trung ở Kim Môn, chỉ trong một bước là tôi nhảy thẳng qua eo biển Đài Loan, khi đến chùa Đại Giác thì tôi liền hạ xuống trước cổng Niệm Phật Đường.
Rồi tôi dẫn mẹ lên lầu, mời bà ngồi một góc phía bên phải bàn thờ vong nơi “Công Đức Đường” ,và nói:
– Mẹ hãy ngồi ở đây đợi con nha! Con sẽ siêu độ cho mẹ!…
Nói xong tôi thức giấc.
Hôm sau vì quá bận truyền giới, nên cả ngày tôi chưa thể rảnh để đi xem linh vị của mẹ được chú tiểu kia an vị như thế nào.
Đến chiều, khi mọi người đi dùng bữa, tôi do quá ngọ nên không ăn, tôi tranh thủ thời gian này đi đến “Niệm Phật Đường” thì …Ôi chao!
Linh vị của mẹ tôi được đặt đúng như chỗ tôi từng mời mẹ ngồi trong giấc mơ.
Đối diện với linh vị mẹ mình, cảm giác buồn thương bất giác khởi lên, tôi không kiềm được mà lệ rơi sụt sùi.
Thế là tôi liền tụng một quyển kinh A Di Đà và 21 biến chú Vãng Sanh hồi hướng cho mẹ, chí thành cầu Phật siêu độ cho bà.
Tụng xong thì đi ra, trong lòng bùi ngùi không vui, tôi quay đầu lại nhìn Thất Bảo Tháp, những lần trước tôi chỉ xá rồi đi ra, nhưng lần này thì tôi bước đến sân Điện Quan Âm quỳ bái, trong lòng chỉ có một ý nghĩ: “Cầu xin Bồ Tát từ bi siêu độ cho mẹ con”
Tôi tiếp tục đi đến Điện Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật… Điện nào tôi cũng lần lượt quỳ lạy, cầu Phật lực gia hộ cho mẹ tôi mau được siêu thoát…
Quay trở lại Điện Quan Âm, khi đó trời đã tối, tôi định đi ra, thì bỗng nhiên phát hiện nơi góc tường bên kia có ánh sáng, và từ trong đó thổi ra một luồng âm phong lạnh lẽo thê lương, tôi cảm thấy rờn rợn, suy nghĩ: “Lẽ nào đó là âm phong của oan quỷ không siêu thoát?”
Vì muốn biết đó có phải là oan quỷ hay không? Tôi liền tiến đến xem thử, tới nơi tôi lớn tiếng hỏi:
– Này! Có phải là hồn oan quỷ nào đó chăng? Nếu có thì hãy đến tìm tôi, tôi có thể giải oan giúp các vị.( Vì trước đây tôi từng làm ở Bộ Tư Pháp, hiện giờ cũng vẫn có rất nhiều bạn bè làm Pháp Quan, Kiểm Sát Quan, tôi có thể thưa kiện để giải oan giúp)
Dứt lời, âm phong kia không còn nữa, tôi cúi đầu nhìn xuống thì thấy bên dưới là một tầng hầm. Thế là tôi đi xuống, phải đi một cái cầu thang hình trôn ốc mới vào được.
Thì ra đây là một gian thờ tro cốt, bên trong có thờ Bồ Tát Địa Tạng. Vừa nhìn thấy ngài tôi liền nhớ đến xưa kia Bồ Tát cũng từng cứu giúp mẫu thân, thế là tôi liền thỉnh cầu Bồ Tát siêu độ cho mẹ.
Tôi khấn:
– Con chẳng cầu chi khác, bởi có câu: “Một người con xuất gia tu hành chân chính, có thể độ cửu huyền thất tổ siêu thăng.” Đây là lời Phật nói, mà Phật thì không hề vọng ngữ! Vì thế con khẩn cầu Bồ Tát Địa Tạng, tối nay xin hãy hiển linh cho con thấy, con muốn được tận mắt chứng kiến mẹ con thăng thiên, nếu bà không thăng thiên, con xin quỳ mãi ở đây không đứng dậy!

Nói xong, tôi quỳ trước Địa Tạng Bồ Tát, tay trái kết ấn Kim Cang tỳ vào eo, tay phải bắt Hoa Ấn, miệng niệm chú triệu thỉnh linh hồn mẹ. Thần chú Phổ Triệu Thỉnh rất linh, trước đây tôi niệm luôn có cảm ứng, cho nên tôi tin khi tôi niệm chú, mẹ sẽ tới… Sau đó tôi lại tụng Diệt Định Nghiệp Chơn Ngôn của Bồ Tát Địa Tạng, lúc niệm tôi chắp tay, dùng tâm quán tưởng câu chú chữ Phạn.
Cứ như vậy, tôi tụng chú Diệt Định Nghiệp tiêu trừ tội chướng cho mẹ, tiếp đến lại niệm” Diệt Nghiệp Chướng Chân Ngôn” của Quán Thế Âm Bồ Tát, tôi kết thủ ấn, quán tưởng chữ Phạn trong tay phóng quang, ánh sáng sắc trắng, cầu cho mẹ tiêu trừ nghiệp chướng. Niệm xong chú, tôi thưa với Bồ Tát:
– Thưa Bồ Tát! Việc con đã làm xong, tiếp đến kính mong Ngài, nhất định hãy siêu độ cho mẹ con, một ngày mẹ con chưa được siêu thì con sẽ quỳ đây một ngày, hai ngày chẳng siêu thì con sẽ quỳ đây hai ngày, bảy ngày chẳng siêu thì con sẽ quỳ bảy ngày không đứng dậy… Con mong muốn tận mắt chứng kiến cảnh mẹ sinh thiên, chứ không phải thấy qua giấc mộng.
Thưa xong, tôi lại quỳ xuống niệm: “ Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát!”
Tôi cầu nguyện tha thiết, mắt lệ tuôn trào, chẳng biết niệm đến bao lâu, thì bỗng nhiên trên nền đất, bên dưới tòa Bồ Tát Địa Tạng có một làn khói xanh bay lên, mới đầu chỉ như làn khói nhang thật lớn.
– Chà! Có khói hiện? Chẳng lẽ đã được cảm ứng?
Trong lòng tôi vừa nghĩ vậy vừa gia sức niệm: “Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát!”
Lúc này, vầng khói xanh dần dần bay lên cao, ra khỏi mái ngói, kết thành hình vòm hang và bay lên từng tầng, từng tầng,…
Khi bay đến tầng thứ tư, làn khói xanh hóa thành hình hoa sen, lên tầng thứ năm, thì trên hoa sen có một người đang ngồi, hình dáng hơi giống như mẹ tôi khi ở nhà.
Đến tầng thứ sáu, mẹ tôi biến thành người cõi trời thanh khiết, đẹp đẽ. Lên đến tầng thứ bảy, trông bà càng trang nghiêm, đẹp dịu dàng như hình ảnh Tổ Mẫu nương nương mà nhân gian thường thờ phụng. Bà đội mũ phượng, mặc trang phục cõi trời, trên tay cầm viên ngọc.
Trong chớp mắt, toà sen bay vút lên cao. Tôi vội hướng Bồ Tát Địa Tạng van cầu:
– Thưa Bồ Tát! Xin Ngài hãy cho con được thấy rõ, chứng thực được người ngồi trên tòa sen là mẹ của con!
Tôi vừa dứt lời, ôi chao! Người ngồi trong hoa sen lập tức quay đầu lại, nhìn xuống gọi:
– Nguyên ơi!
Tôi liền đáp ngay:
– Dạ! Con nghe thưa mẹ!
Mẹ tôi mỉm cười, vẻ rất hoan hỷ, rồi bà hóa thành làn khói xanh bay thẳng lên rồi biến mất giữa trời cao.
Tôi quay lại nhìn tượng Địa Tạng Bồ Tát, cảm kích rơi lệ nói:
– Thưa Bồ Tát! Cảm tạ Ngài đã siêu độ cho mẹ con thăng thiên.
Cuối cùng, sau những nỗ lực của tôi, ngay tại đây tôi đã tận mắt chứng kiến mẹ thăng thiên. Quả thực không thể nào diễn tả hết nỗi vui mừng khôn siết trong lòng tôi khi ấy.

Có rất nhiều người sẽ nghĩ rằng: Khi xuất gia rồi, không thể phụng dưỡng cha mẹ… Nhưng quý vị có thể dùng tâm cầu nguyện để báo hiếu, phải nghiêm trì giữ giới, nỗ lực tu hành, để dùng những công đức này hồi hướng cho cha mẹ hoặc cửu huyền thất tổ… Việc làm này mới chính là quý nhất, và đúng với câu:
“ Đệ tử Phật là đại hiếu, vì báo được ân cha mẹ nhiều đời. Đây mới chính là chân chính báo đền đại ân đại đức của cha mẹ”.

(Trích” Báo Ứng Hiện Đời 7” – Tác giả: Sư Quảng Hóa – Biên dịch: Hạnh Đoan – Hiệu đính: Thiện Như)

BÁO ỨNG NGÂM RẮN LÀM RƯỢU THUỐC

(Trích” Báo Ứng Hiện Đời 7″- – Tác giả: Phúc Trạch Miên Trường – Biên dịch: Hạnh Đoan – Hiệu đính: Thiện Như ) Tôi có một người bạn đồng tu, cô ấy kể: – Mẹ mình đang bị căn bệnh tiểu đường thời kì cuối giờ đang nằm viện. Cô cầm theo một bức ảnh của bà cho tôi xem, rồi nhờ tôi quán sát Nhân Quả giúp bà. Vốn là tôi có cơ duyên khai mở mắt âm dương, thấy được vong linh cùng nhân quả tiền kiếp của mọi người, nên khi tôi vừa nhìn vào bức ảnh, thì phát hiện có một con vật đang “đóng đô” nơi bàng quang của bà, nhìn rất giống con rắn, nhưng thân nó mập, phình to, màu sắc thì giống con lươn to bị nuôi bằng thuốc tăng trưởng, tôi suy đoán mãi mà không biết nó là lươn hay rắn? Bèn dùng tâm linh hỏi nó: – Này! Sao mà nhào vào trong bụng của người ta ở vậy? Nằm trong bàng quang như thế đâu có thoải mái gì? Bà này có quan hệ chi với ngươi? Con vật mập phình này động đậy một chút rồi bắt đầu khóc lóc kể: – Bọn họ bắt tôi đem ngâm rượu đấy! (Thì ra không phải nó mập,mà do bị ngâm trong rượu lâu ngày nên thân nó phình ra) Tôi kể lại câu truyện này cho cô bạn tôi nghe. Cô ban đầu chưa rõ thực hư, nhưng sau về hỏi lại người nhà, quả đúng là gia đình cô có dùng rắn để ngâm rượu. Chính vì vậy, nên linh hồn con rắn này hận, báo oán khiến cho mẹ cô bị tiểu đường nghiêm trọng. Tôi khuyên cô ấy nên phóng sinh, tụng chú “Khổng Tước Minh Vương” để siêu độ cho linh xà. Cô bạn tôi trước giờ vốn tin hiểu nhân quả, nên vội vàng thực hành theo. Xong xuôi mọi việc, cô còn đem toàn bộ câu truyện siêu độ linh xà do chính mẹ mình trải qua viết thành bài văn “Sự Thực Trước Mắt Không Thể Không Tin” như sau: “Mẹ tôi vào viện, bao người lo lắng, nhưng trong lòng tôi hiểu rõ đây là nghiệp chướng hiện ra trước mắt, chắc chắn bị oan gia trái chủ hành hạ rồi.Tôi liền cầm ảnh của bà đến nhờ Miên Trường – một người bạn đồng tu cao minh quán sát nhân quả dùm. Hóa ra có một linh hồn con rắn đang báo oán trên thân bà. Tôi vô cùng ngạc nhiên, vì mẹ tôi chưa tiếp xúc với rắn bao giờ. Sau đó tôi được Miên Trường quán sát nhân quả kể lại là: Chính người nhà chúng tôi đã đem nó đi ngâm rượu. Giật mình nhớ lại, nhà mình vốn có một bình rượu to, nhìn sơ thấy trong bình toàn là thảo dược, chưa từng nhìn thấy trong đó có rắn bao giờ. Về nhà, tôi liền đem chuyện này hỏi cha : – Bình rượu nhà mình có ngâm rắn ở trong không cha? Cha tôi đáp: – Có! Chuyện là mấy năm trước, ông được bạn bè tặng cho một con rắn to, không biết làm gì nên ông đem nó ngâm rượu, nhưng bình rượu đó không ai đụng đến, để lâu ông cũng quên hẳn luôn. Mang bình rượu ra để quan sát, tôi thấy toàn thảo dược… bèn lấy một đôi đũa dài, thò vào trong bình mò tìm và gắp ra được một con rắn. Thiện tai, thiện tai ! Nó rất to dài, lại còn có thêm cả tắc kè, cá ngựa và mấy con gì tôi không biết tên. Tổng cộng có đến bảy con vật trong bình rượu, gắp hết chúng ra ngoài thì tôi đặt ra trước mặt rồi chú nguyện và quy y cho chúng, tiếp theo tôi trì tụng 21 biến Chú Vãng Sanh, rồi đem chúng chôn gần phía sau chùa. Hôm sau linh hồn con rắn có đến cảm tạ Miên Trường, và kể rằng: Nó đã được siêu độ, được sinh về cõi trời. Tiếp đến tôi tới chùa cúng dường, in kinh, phóng sinh, làm từ thiện… rồi lấy công đức đó hồi hướng cho các con vật. Mỗi tối thì tôi lại tụng kinh Kim Cang cầu siêu cho chúng. Mẹ tôi cuối cùng được xuất viện, bác sĩ tuyên bố là bà đã hoàn toàn hồi phục, trong khi gia đình làm giấy ra viện thì bà đột nhiên phát bệnh tiểu không ngừng. Anh Miên Trường bạn tôi vừa nghe tin này, vì đã có kinh nghiệm trải qua mấy vụ tương tự nên trong lòng đã hiểu ra vấn đề: Chắc chắn là mẹ tôi lại bị các vong linh phá. Tối hôm đó, khoảng 3h khuya, anh ấy bắt đầu quan sát phòng của bà, đúng như anh suy đoán: Có bốn vong linh đang nắm tay nhau múa may.  Miên Trường định thỉnh Bồ Tát Vi Đà đến bắt chúng đi, nhưng anh nghĩ lại: Dùng lực tụng niệm của mình trước xem sao? Tôi cùng anh ráng thức hộ vệ cho bà, sau khi trời sáng, Miên Trường nói với tôi: – Trên thân bà có vong linh phá, nên cô hãy gáng xử lý. Ban đêm khi đến bệnh viện trông coi mẹ, cô nhớ tụng chú Lăng Nghiêm, đặc biệt vào thời điểm mẹ cô phát bệnh, thì phải tụng liên tục, không được ngưng. Tôi hiểu rõ, và vâng lời làm theo. Tối đó tôi tụng chú hộ vệ cho mẹ, đêm trôi qua bình yên, hôm sau mẹ tôi được xuất viện”. Mặc dù đây là việc sảy ra rất lâu rồi, nhưng tôi vẫn cảm thấy hổ thẹn, áy náy vì quá có lỗi với những chúng sinh này. Các bạn thử nghĩ xem, khi người thân mình có chút bệnh khổ , thì chúng ta đều lo lắng, ruột gan như thiêu như đốt, vậy những thống khổ mà các chúng sinh kia phải nếm chịu thì sao? Chúng phải gánh chịu nỗi đau vô tận vượt xa hẳn chúng ta. Nhân loại, cây cối, động vật… , tất cả chúng sinh, đều cần được bảo vệ che chở. Mong mọi người hãy yêu thương, từ bi, cảm thông, quý trọng sinh mạng của vạn vật trên thế gian này.”

CÚNG CÔ HỒN THỰC SỰ CÓ CẢM ỨNG KHÔNG ?

Trước đây ở Vancouver – Canada, mọi người tin vào Phật không nhiều, nên ở đây số lượng nghe Phật Pháp chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Nhưng bây giờ tiến triển rất khả quan, lần đầu tiên trong lễ Vía Mẹ Quan Âm ở Vancouver đã có hơn 1.800 người đến lễ Phật nghe Pháp, vốn là điều chưa từng có ở đây và đa số là người Hoa, còn lại là người Tây phương cũng tham dự không ít. Cách mấy ngày, lần đầu tiên Giáo Hội Phật Giáo tổ chức đại lễ” Mông Sơn thí thực” suốt ba ngày, do lão pháp sư Trúc Ma chủ trì, và các cư sĩ giàu đạo tâm cùng góp công sức phụ siêu độ các vong linh đói lạnh, cô hồn ngạ quỷ bơ vơ khốn khổ lang thang ở khắp mọi miền Canada. Đây là một việc làm có công đức rất lớn. Đại lễ cầu siêu này đã làm chấn động toàn Vancouver và được đăng lên báo của Anh, khiến độc giả Tây phương bắt đầu hiểu được Phật Pháp có thể siêu độ vong linh, rất nhiều người tò mò hiếu kì đến xem rồi sinh lòng kính ngưỡng, đối với cộng đồng xã hội Canada đã có ý nghĩa giáo dục rất lớn trong tương lai. Khi đại lễ” cầu siêu cứu độ vong linh Mông Sơn” tiến hành ngày đầu tiên, hằng đêm phải có hàng chục ngàn cô hồn, ngạ quỷ, các vong linh tổ tiên thuộc thổ dân da đỏ trước đây, các vong linh da trắng, vong linh người Hoa, và cả những vong linh mới mất gần đây …tìm đến tụ hội xung quanh đại điện nhận thọ và dự lễ cầu siêu của Phật Giáo. Tôi ở tại nhà nhìn xa xa cũng có thể thấy được các vong linh họ vô cùng đông đúc kéo đến, hoan hỷ rời đi ( Vốn là tôi đã khai mở mắt âm dương, thấy được các vong linh cõi âm). Điều kì lạ sau đại lễ là các trường hợp tai nạn giao thông và số người chết ở Vancouver đột nhiên giảm hẳn. Trước đây, thông thường vào mùa hè, người dân thường lái xe đi chơi, nên tai nạn phát sinh rất nhiều. Nhưng mùa hè năm nay, tai nạn rất ít xảy ra. Ngay cả cơ quan địa phương sau khi kiểm tra tình hình và tra xét dữ liệu hồ sơ tai nạn xong cũng phải ngạc nhiên công bố: Năm nay tai nạn giao thông đã giảm hơn năm ngoái đến 52% ! Nếu nói là nhờ “đại lễ cầu siêu vong linh Mông Sơn” cũng được, hay đổ cho sự trùng hợp ngẫu nhiên cũng tùy vào các bạn, nhưng tai nạn giao thông giảm tới hơn một nửa so với năm trước là có thật. Rồi đến lễ Vu Lan, Phật Giáo lại tổ chức lễ “Cầu siêu vong linh Mông Sơn” lần nữa, kéo dài ba ngày. Lần này, sư Trúc Ma đã quay về chùa của mình ở Malaysia, nên đại lễ được một cao tăng khác đảm nhiệm thay, cùng với sự trợ giúp của nhiều cư sĩ. Đại lễ lần hai, người dân Canada bất kể có đạo hay không, có theo Phật hay không, dù là người Tây phương hay người Hoa, họ đều hoan hỷ tới tham dự lễ, mọi người nhiệt tình lập bài vị để cầu siêu cho vong linh tổ tiên, thân nhân quá cố, thậm chí có những người vì quá yêu thương thú cưng của mình cũng xin lập bài vị cầu siêu cho chúng như: Mèo Mi Mi, chó Bốp Bi .v.v… Đông tới mức không còn chỗ để đặt bài vị. Vong linh đến thọ pháp vẫn rất đông, lần này tôi còn thấy cả vong linh ở rất xa cũng tìm đến. Để tôi kể cho các bạn nghe về tình hình cô hồn ngạ quỷ ở đây: Trước cổng vào đại học British Columbia là một đại lộ dài, âm u, rợp bóng cây, chỉ có xe chạy qua lại chứ khách đi bộ rất ít. Những người lái xe qua đây thường thấy có một cô gái Tây đứng bên lề đường, đưa tay ngoắc người lái xe xin đi nhờ, nhưng khi cô lên xe rồi, thì tài xế quay lại không thấy cô đâu nữa. Đây là ” Ma nữ đại học” nổi tiếng nhất mà báo chí Vancouver thường nhắc đến, vì tên cô có trong danh sách mất tích thuộc hồ sơ của trường. Nhưng gần đây các lái xe không còn thấy cô nữa, có thể cô đã được siêu độ tại “đại lễ Mông sơn”. Trước năm 1980, thành phố Vancouver địa thế rất nhỏ hẹp, chỉ khoảng vài km, sau đó khu đô thị này không ngừng mở rộng nên đến nay những nghĩa trang trước đây thuộc vùng ngoại ô, giờ đã nằm gọn trong thành phố. Ở đây có hai nghĩa trang lớn và một nghĩa trang dành cho quân đội đó là: + Nghĩa trang Cảnh Núi: Tọa lạc ở phía nam vùng ngoại ô, là khu nghĩa trang cũ xưa xây theo lối cổ, các ngôi mộ nằm chen chúc, mộ bia bằng đá có khắc cây thánh giá và hình thiên thần, vườn hoa, cả chữ Anh lẫn Hoa. Cảnh tượng cũ kĩ, rêu phong ở đây khiến người nhìn vào (dù là ban ngày) vẫn có cảm giác rờn rợn vì âm khí bao phủ dày đặc. Ban đêm thì khỏi nói, đáng sợ hơn nhiều. Hàng ngàn ngôi mộ của người Hoa nằm tại đây, vào mấy thập kỉ đầu do chịu ảnh hưởng từ phong trào “bài Hoa” của Canada, nên đa số mộ của người Hoa bị người da trắng ác ý ra tay phá hủy, hoặc ác ý đào lên, ném thây cốt quăng ra đất, mặc cho chó hoang gặm nhấm, thú vật phóng uế lên… vì vậy các vong linh không con cháu, thân nhân, họ vẫn quyến luyến bên mộ của mình, bi ai, than khóc. Người đi đường ở đây thường xuyên nghe được những âm thanh này, những tài xế vào đêm khuya lái xe đi ngang nghĩa trang, họ còn thấy có người từ trong mộ đi ra, băng qua đường, tài xế phải vội vã đạp thắng tránh tông người, nhưng khi định thần lại nhìn trên đường không hề có ai. Những vong linh ở khu nghĩa trang này, mấy thập kỉ trước họ từng vượt biển đến đây để kiếm sống. Lúc đó người Hoa chưa được nhập quốc tịch, nên không được phép đón thân nhân sang Canada. Những lao công này, lại không thể kết hôn, bằng mồ hôi nước mắt của mình họ gian khổ làm việc kiếm tiền, dành dụm gửi về quê hương cho cha mẹ, vợ con, còn bản thân họ thì ở Canada sầu não đến cuối đời, nên thường ôm mối hận khó tiêu. Do vậy mà mấy chục năm nay họ vẫn ôm mộ khóc than, không chấp nhận siêu thoát… Chuyện vong linh ở ” Nghĩa trang Cảnh Núi” thường xuyên có bóng ma hiện ra ngáng đường là tin nóng nổi tiếng vùng này, nhưng khoảng vài tháng nay, sau đại lễ “Mông Sơn thí thực” thì tình trạng này ít xuất hiện nữa. + Đối diện với “Nghĩa trang Cảnh Núi” chính là “Nghĩa trang Quân Đội”: Xung quanh giờ những dãy nhà mọc lên san sát, dày đặc. Đây là nơi chôn cất của những quân nhân bị chết trong thời kỳ đại chiến. Người dân xung quanh nơi đây kể: Vào nửa đêm mùa đông, mưa gió thê thảm, họ còn nghe có những tiếng nói, nhìn thấy binh sĩ không đầu, không tay chân, toàn thân bê bết máu, xếp hàng tập trận trong nghĩa trang, có lúc còn nghe được âm thanh hỏa pháo bắn ầm ầm, đạn bay vun vút. Thế nhưng năm nay họ không còn nghe hoặc nhìn thấy những cảnh như thế nữa. + Cuối cùng là” Nghĩa trang Cảnh Biển”, ở đây có chôn hai người bạn thân của tôi: Người đầu tiên là Bác sĩ Nguyên: Hơn 15 năm trước, anh 31 tuổi, là một cô nhi, vì thời chiến tranh Trung Quốc đại lục, ba mẹ anh mất, anh lưu lạc sang Đài Loan vừa làm vừa học rồi tốt nghiệp trường Y loại giỏi và được xuất ngoại du học. Tại Vancouver anh hoàn tất việc học, rồi thuê một tòa nhà làm văn phòng. Đêm đó là Giáng Sinh, anh được bạn bè mời đến dự lễ hội khiêu vũ, ngay trong đêm anh trở về thì gặp tai nạn. Trước đêm anh mất, anh có kể tôi nghe tối qua anh thực tập tại Bệnh viện St. Paulo, do bài vở gấp, nên tối anh ráng ở lại một mình trong phòng giải phẫu xác. Đến khoảng 3h đêm, đột nhiên các thi thể bỗng xúm lại ngồi dậy hết, làm anh kinh hoảng xô cửa mà chạy ra ngoài. Anh hỏi tôi: – Việc này có điềm gì không? Lúc này tôi vẫn chưa khai mở khả năng thiên nhãn thấy tiền kiếp, nên chưa nhìn ra được nhân quả. Tôi chỉ biết khuyên anh đó không phải là điềm lành, lễ hội khiêu vũ đêm mai tốt nhất anh đừng đi. Anh hỏi tiếp: – Một người sau khi chết rồi, có linh hồn không? Tôi đáp: – Có ! Anh ngồi trên ghế trầm ngâm rất lâu không nói gì, tôi bắt đầu khuyên anh nên tin Nhân Quả Phật Pháp, anh phát biểu một câu: – Tôi cảm thấy Phật giáo quá mê tín… Tôi thấy không tiện nên không bàn luận với anh nữa. Sau khi anh chết, hoàn toàn không có ai đến thăm. Chỉ có tôi hằng năm mang hoa đến thăm viếng, mỗi lần tôi đến đặt bó hoa lên bia mộ bằng đồng của anh, thì luôn có một lực vô hình tỏa ra từ bia đồng hút tay tôi để lên bia mộ (giống như có người dùng tay kéo tôi vậy), tôi khóc, nước mắt tôi lăn dài và bảo: – Bác sĩ Nguyên! Nguyên đại ca ơi! anh thật là khổ mà! Sau này, có một năm tôi bị bệnh phải nhập viện không thể đến thăm anh nữa. Nửa đêm tôi đang nằm, bỗng nhìn thấy anh đi lên lầu đến thăm tôi, ân cần chào hỏi, an ủi tôi: – Em sẽ nhanh chóng khỏe lại, đừng có buồn! Tôi giật mình tỉnh dậy, nhìn xung quanh mà không thấy anh đâu… Xuất viện tôi lại mang hoa đến thăm anh, bia mộ đồng vẫn hút chặt tay tôi như những lần trước. Đại lễ ” Cầu siêu cứu độ vong linh Mông sơn” lần hai này, tôi mong ngóng anh đến lãnh thọ, nhưng không hề thấy anh đến. Vì quá tham luyến xương cốt của mình mà anh không chịu dời đi chăng ? Tôi hy vọng trong tương lai, sẽ có một ngày anh giác ngộ hết quyến luyến thân xác mà chấp nhận siêu thoát đầu thai. Người bạn thân thứ hai nằm tại nghĩa trang này nữa là một người Tây phương. Em tên Stephen, là con trai cưng của một bác sĩ quen biết với tôi. Gia đình em theo đạo Ki Tô giáo. Anh em của em rất đông nhưng em lại rất thích tôi, cha mẹ em thì xem tôi như con của họ và muốn tôi dọn về ở chung. Nhưng tôi không muốn làm phiền họ nhiều, vì vậy tôi ra ngoài thuê phòng để sống với mẹ. Stephen lúc này đang học đại học năm thứ tư ngành Địa Lý, rảnh là em lại đến thăm tôi, em kể là nghỉ hè muốn lên miền Bắc để kiếm việc làm tự lo cho bản thân, không muốn lấy tiền chu cấp của cha nữa. Tôi khuyên em đừng đi, nên chuyên tâm học hành thành tài, thì tương lai mới có thể tự lập được, nhưng em đã không chịu nghe tôi khuyên, mà cứ đi lên miền Bắc, làm công tác đo đạc đường lộ. Vào một ngày sẩm tối, có một chiếc xe lu đang chạy, tài xế vì không nhìn thấy em nên đã cán nhẹp em dưới trọng tải mấy tấn của chiếc xe, chưa đầy mấy phút em tắt thở. Đáng thương hơn là toàn thân em bị nghiền nát! Từ một người vô cùng anh tuấn, mặt mũi anh tú, cao to, đẹp trai mà giờ đây thi thể em đã biến thành một đống thịt nát. Quan tài em được chuyển về Vancouver. Phong tục của người Phương Tây họ thường nhờ bạn thân khiêng quan tài, em có năm anh em, mà di quan cần tới sáu người, còn thiếu một người nữa, nên mẹ em đã mời tôi với danh nghĩa anh kết nghĩa để tham gia khiêng quan tài. Năm người anh em của Stephen thuộc hạng hùng tráng, có sức khỏe kết hợp với tôi gia sức khiêng linh cữu của em đến trước cổng giáo đường. Nhưng bất ngờ là linh cữu trở nên quá nặng, chúng tôi cố gắng dốc sức khiêng đặt lên xe tang. Sau khi xe chạy đến ” Nghĩa trang Cảnh Biển”, thì sáu người chúng tôi cùng khiêng quan tài xuống để hạ huyệt, nhưng thật bất ngờ, quan tài trở nên cực kì nặng, không một chút nhúc nhích, làm thế nào cũng không khiêng lên được. Tôi nhìn quanh thì thấy mẹ của em lúc này lệ rơi đầy mặt, bà khóc đến ngã quỵ trên đất. Tôi cảm thấy là Stephen không muốn rời xa mẹ của mình, tôi liền nói: – Thưa bác, Stephen đang rất bịn rịn không muốn rời xa bác, bác hãy đến khuyên cậu ấy đi, như vậy mới hạ huyệt được. Mẹ của em nghẹn ngào nói: – Cậu hãy thay tôi khuyên giùm, tôi… tôi…bà lại khóc nấc lên. Tôi quay lại, vỗ nhẹ tay lên quan tài nói: – Stephen! tất cả chúng tôi đều yêu em, không muốn xa em, nhưng cuối cùng em phải được hạ huyệt mới ổn, hãy làm một đứa con ngoan, đừng khiến mẹ em quá thương tâm nữa! Tôi sẽ tụng Kinh niệm Phật cho em… Ngay sau đó, tôi và cả năm người anh em của em đều nghe thấy có một tiếng thở dài, nức nở trong quan tài. Anh cả của em bật khóc nức nở, bốn người còn lại đều sợ hãi bỏ chạy. Sau đó tôi phải điều khiển năm người quay lại để cùng nhau nâng quan tài. Lần này, quan tài di chuyển vô cùng nhẹ nhàng để hạ huyệt. Sau đám tang, toàn thể gia đình em chuyển đến Hoa Kì sinh sống, vì vậy mà mỗi năm tôi cũng một mình mang hoa đến thăm em. Mộ em và bác sĩ Nguyên nằm gần kề nhau, nên mỗi lần đến là tôi thăm mộ cả hai. Điều kì lạ là mộ của Stephen cũng toát ra một lực hút giữ lấy tay tôi giống như mộ của anh Nguyên. Đọc đến đây, có thể có bạn nghĩ tôi bị điên, hoặc cho rằng tôi viết xằng viết bậy…Nhưng các bạn nên biết rằng, người chết rồi họ vẫn biết, vẫn cảm nhận được tất cả… California có hai nhà khoa học nổi tiếng: Một là nhà Vật Lí học, một là nhà Tâm Lí học. Cả hai đã từng tuyên bố rằng: Họ hoàn toàn không tin là có vong linh tồn tại vì vậy họ đã mang theo máy ghi âm vào nghĩa trang để xác nhận xem vong linh có thật hay không. Họ đặt máy ghi âm vào ban ngày, sau 15 phút kết quả thu được: Đủ loại âm thanh ma quỷ. Những âm thanh xào xạc, tiếng thở dài, khóc rên , có một giọng nói yếu ớt của người đàn ông than rằng” Nơi này rất buồn”. Lúc này hai đài truyền hình nổi tiếng của Hoa Kì và Canada cũng phái người đến quay phim, chụp ảnh và cho chiếu trực tiếp. Hàng triệu khán giả của cả hai nước khi xem phát trực tiếp đều vô cùng kinh ngạc, còn hai nhà khoa học đã phải thốt lên: – Quả thật vô phương giải thích tình huống bất thường này… Đoạn phim khó tin ấy đã được nhiều nước trên thế giới công chiếu, đông đảo khán giả đón xem . Tin tức này từng làm chấn động một thời, tôi không hề bịa đặt. Theo tôi, việc thổ táng không hay bằng hỏa táng của đạo Phật, vì khi thổ táng dễ khiến cho linh hồn bám chấp, luyến tiếc thân xác mà không chịu đi siêu thoát đầu thai. Còn hỏa táng thì rất sạch sẽ, linh hồn sẽ không còn gì để bám chấp, luyến tiếc nên dễ giải thoát mà nương nhờ vào Phật Pháp hỗ trợ vãng sanh. Hiện nay, chư tăng khắp nơi trong các chùa đều tổ chức ” Đại lễ siêu độ vong linh”, việc này tạo được công đức vô lượng. Từ những sự thật đã kể ở trên, có thể thấy Phật Giáo siêu độ vong linh rất kì diệu, việc này rất cần thiết, vô cùng thực tế và càng không thể cho là MÊ TÍN. Tác giả: Phùng Phùng /1983 . (Trích” Báo Ứng Hiện Đời 7″ -Người dịch : Hạnh Đoan – hiệu đính: Thiện Như )

GIÁ TRỊ CỦA BÀN TAY

Một thanh niên chán nản cuộc sống, anh đi lang thang ngoài đường. Đến một khúc quanh nơi ngã ba, anh thấy một ông lão đang cặm cụi trồng một cây cam. Anh ngạc nhiên : – Này bác, cháu thấy bác già lắm rồi, còn sống không bao lâu nữa. Sao bác còn trồng cây cam làm gì? Ông lão nhìn chàng trai, rồi nở một nụ cười tươi tắn: – Cho dù ngày mai tôi chết, ngày hôm nay tôi phải trồng xong cây cam này. Nhìn vào đôi mắt ngập đầy niềm vui của ông lão, chàng trai chợt hiểu ra điều gì đó. Anh mừng rỡ cảm ơn ông lão, rồi hăng hái bước đi. * * * Rõ ràng, ông lão không trồng cây cam cho ông, ông đâu sống nổi đến ngày ra trái. Cũng không phải trồng cho con cháu hưởng, cây cam nằm ngay lối đi, bất kỳ ai cũng có thể hái. Thật lạ lùng, vậy mà ông làm một cách rất vui sướng. Đến mức cái chết có đến ngay ngày mai, ông cũng sẽ không dừng việc đó lại. Rất lạ nhưng đó là một sự thật. Khi ta cống hiến, ta vui. Khi ta đưa tay ra để giúp đỡ người khác, để cống hiến cho cuộc đời. Một niềm vui kì lạ sẽ xuất hiện. Đó là đẳng cấp tột cùng của sự giải trí. Bạn không tin ư? Hãy xem người phụ nữ này, chị tên là Nguyễn Hướng Dương. Sinh năm 1969 tại Sài Gòn. Lớn lên như bao người con gái khác, đầy ước mơ, đầy sức sống. Bỗng một ngày, cái ngày khủng khiếp của cuộc đời Hướng Dương khi chị 25 tuổi. Trong lúc băng qua đường ray, chị bị vấp ngã. Đoàn tàu vụt đến trong nỗi kinh hoàng… Khi tỉnh dậy, chị thấy mình máu me đầm đìa trên giường bệnh, đôi chân không còn nữa. Nỗi đau tàn phá cơ thể chị, giày xéo tâm can chị khi người yêu cũng bỏ đi luôn. Cuộc đời chị tưởng như xong. Cho đến một ngày, chị đến thăm trường mù Nguyễn Đình Chiểu- TP.Hồ Chí Minh. Hóa ra ở đây, người ta còn khốn khổ hơn chị. Đối với họ, thế giới đã vĩnh viễn chìm trong màn đêm tăm tối vô tận. Chị lấy một quyển sách đọc cho các em nhỏ khiến thị nghe. Không ngờ, các em lại mê đến thế, tất cả như say sưa trong giọng đọc êm ái của chị. Còn chị, chị thấy một niềm vui đang nảy mầm trong tim mình. Và từ đó, đọc sách cho người mù là cuộc sống của chị. Thư viện sách nói được thành lập. Suốt nhiều năm, từ năm 1998, chị miệt mài trong phòng thu âm. Cùng với sự góp sức của nhiều tổ chức, hàng vạn cuốn sách được thu vào băng đĩa, hàng vạn niềm phấn khởi được đến với thế giới người mù. Không rõ từ bao giờ, nhưng nỗi đau khổ của chị đã biến mất. Cuộc sống của chị giờ ngập trong một nguồn vui bất tận. Bây giờ, bất kì người lành lặn nào cũng phải ngạc nhiên khi gặp chị. Họ thấy mình không sao vui được như người phụ nữ tật nguyền này. Mùa xuân dường như không tắt trên gương mặt, cũng như trong trái tim chị. Cuộc sống của chúng ta cần có niềm vui. Thiếu nó, ta không sống nổi. Vì thế các trò giải trí xuất hiện. Nhưng có gì khác biệt giữa các trò giải trí thông thường với loại niềm vui ta đang nói đến? Đó là, các trò giải trí thông thường luôn đào xới vào cái xấu của ta. Ta nhìn thấy gì ở những đấu thủ đang giành phần thắng với nhau? Đó là sự hơn thua, háo thắng! Ta nhìn thấy gì ở những cuộc nhậu nhẹt chè chén, tình ài lăng nhăng, hay ăn chơi đua đòi? Đó là sự hưởng thụ ích kỷ! Ta nhìn thấy gì ở những con nghiện cờ bạc, nghiện game online, hay nghiện hàng trắng? Đó là sự trụy lạc , sa đọa! Háo thắng – ích kỷ – sa đọa. Chính vì chúng cứ cày xới vào cái xấu của ta, nên càng chơi nhiều bao nhiêu, khổ sở lại có mặt nhiều bấy nhiêu. Đây là công thức, hãy nhớ: Cái xấu thì luôn dễ dãi, và luôn luôn tạo ra đau khổ. Nó kéo theo một seri những cảm giác chẳng dễ chịu chút nào: sự dày vò của cơn nghiện, sự cay đắng của người thất bại, nỗi nhục của người thua cuộc, nỗi cay cú khi bị thiệt thòi, cái nhìn khinh bỉ của những người xung quanh… Và quan trọng nhất, đó là sự vô nghĩa của một cuộc chơi. Còn bây giờ, ta hãy xem cách giải trí bằng những việc làm có ích. Hãy nhìn vào họ, những người giống như chị Hướng Dương , hay như ông lão trồng cam, họ cảm thấy gì? Một niềm vui. Rất lặng lẽ, nó chảy trong họ như một mạch nước ngầm. Âm thầm nuôi dưỡng tâm hồn họ trong một cảm giác hân hoan bất tận. Và cứ thế, khi mà đôi tay họ cứ miệt mài cống hiến, từng chút một, từng ngày một. Niềm vui ấy lớn dần lên, nó trở thành một nỗi đam mê. Thứ đam mê này rất khác biệt, người ta càng say sưa trong nó, thì càng trở nên sáng suốt. Nó có một sức cuốn hút vô hình nào đó, khiến cho mọi trò chơi khác hóa ra nhạt nhẽo, vô vị. Giống như những ngôi sao phải lu mờ, tan biến đi khi mặt trời thức giấc. Vượt trên mọi đam mê nghệ thuật , nó là một niềm đam mê thánh thiện. Họ đẹp dần lên trong con mắt nể phục của mọi người. Nhưng, điều đó không quan trọng lắm đối với họ. Sự đam mê cống hiến còn cho họ những điều tuyệt vời hơn. Nếu bạn là một trong số họ, bạn sẽ hiểu. Lần đầu tiên bạn biết được ý nghĩa của cuộc sống này là gì. Bạn tự tin. Vì rằng bạn đã sống không vô nghĩa. Sự có mặt của bạn không thừa thãi. Một cách vô hình, nỗi sợ chết biến mất trong bạn. Khi một người đã sống rất ý nghĩa, người đó không còn sợ gì cả. Hãy đọc câu chuyện sau: CON ĐƯỜNG HẦM Zenkai, con trai một samurai, du hành đến Edo và trở thành hầu cận của một viên chức cấp cao ở đó. Zenkai yêu người thiếp của viên chức này, và việc đó bị phát giác. Để tự vệ, Zenkai giết người chồng rồi dắt người vợ tẩu thoát. Sau đó, cả hai trở thành những tên ăn cắp. Nhưng người đàn bà quá tham lam khiến Zenkai trở nên khinh bỉ. Cuối cùng, Zenkai bỏ người đàn bà đó và đến một tỉnh xa tên là Buzen. Ở Buzen, Zenkai trở thành một tên ăn mày lang thang. Để chuộc lại dĩ vãng, Zenkai quyết định làm một vài việc tốt trong đời. Biết trên sườn núi đá có một con đường nguy hiểm đã làm nhiều người bị thương và thiệt mạng. Zenkai quyết định đào một con đường hầm xuyên qua núi đá. Ban ngày xin ăn, ban đêm đào núi, ngày này qua tháng khác, Zenkai đào. Đào say sưa và mải miết . Khi Zenkai hơn ba mươi tuổi thì đường hầm đã đào được dài 695 thước, cao 6 thước và rộng 9 thước. Hai năm trước khi công việc hoàn thành, một người con trai của viên chức bị Zenkai giết, là một người giỏi kiếm thuật tìm được Zenkai, và muốn giết Zenkai để báo thù cha. Zenkai vẻ mặt tỉnh bơ, chậm rãi nói: – Tôi sẽ dâng mạng tôi cho anh. Nhưng hãy cho tôi làm xong việc này. Khi công việc hoàn thành, rồi anh có thể giết tôi cũng được. Như thế, người con trai của viên chức đợi đến ngày xong việc. Nhiều tháng liền trôi qua và Zenkai cứ vui thú đào tiếp con đường. Người con trai trở nên chán nản vì không có việc gì làm, nên anh ta bắt đầu giúp Zenkai. Sau khi gúp Zenkai đào đường hơn một năm, anh ta quay ra kính phục Zenkai, con người mạnh mẽ, đầy dũng chí. Cuối cùng, con đường hầm đã hoàn thành và người ta có thể qua lại an toàn.Zenkai bảo: – Bây giờ việc đã xong, hãy chém đầu tôi đi. Người thanh niên hỏi qua làn nước mắt: – Làm sao con có thể chém đầu thầy được? * * * Ban đầu, Zenkai đào hầm để chuộc lỗi. Nhưng không ngờ, công việc ấy lại tuyệt đến thế. Zenkai bị cuốn hút vào một cảm giác say sưa, một đam mê không cưỡng lại được. Khi người con trai viên chức xách kiếm đến lấy đầu Zenkai, rất ngược đời, Zenkai không tiếc cái đầu nữa, anh chỉ tiếc con đường hầm. Anh đề nghị người con trai chờ tới lúc đào xong đường, anh sẽ dâng mạng sống. Chẳng có vấn đề gì cả, ở đây không còn chỗ cho nỗi sợ chết. Nhưng, một điều còn lạ lùng hơn nữa. Chúng ta biết rằng, lòng thù hận là một mãnh lực khủng khiếp. Nó có thể biến một người hiền lành thành một sát thủ không gớm tay. Nó đã thổi bùng lên không biết bao nhiêu cuộc tàn sát đẫm máu trong lịch sử. Thế mà ở đây, từ trong Zenkai, một sức mạnh còn ghê gớm hơn nhiều lần. Lòng thù hận tan chảy trong nó. Người thanh niên kia phải cúi đầu trước nó. Nó khiến anh ta cảm kích cực độ. Anh ta thốt lên: “ Làm sao con có thể chém đầu thầy được? ” Như thế, sự cống hiến không chỉ là đam mê. Nó còn là một sức mạnh. Con người ta vẫn ham muốn trở thành người mạnh mẽ , nhưng lại hay bị ngộ nhận. Một số người trở nên cá tính. Họ cố tạo ra cái tôi khác người. Bằng cách xử xự theo phong cách “ riêng một kiểu”, hay sắm những món đồ “ không đụng hàng”. Họ cứ tưởng thế là mạnh mẽ. Nhưng họ đã lầm. Đó chỉ là một cách tô vẽ lố lăng cho sự ngang ngược, bướng bỉnh. Mục đích nhằm che đậy cái rỗng tuếch bên trong. Thực chất, đó chỉ là sự ngạo mạn và hợm hĩnh. Một số khác thì cố gắng nâng những quả tạ, hoặc cố luyện những môn võ công. Nhưng đó mới chỉ là cơ bắp. Rất nhiều kẻ có cơ bắp,có võ nghệ cao cường. Nhưng rồi chỉ để ăn hiếp người khác. Hoặc tệ hơn, để ăn cướp. Như vậy, hắn trở thành một con quỷ. Vậy người mạnh mẽ đích thực phải như thế nào? Đây, chỉ khi nào một người đem đôi tay mình gánh vác nỗi nhọc nhằn, khổ sở của mọi người, của cuộc đời, đó mới là người mạnh mẽ đích thực. Chỉ cần có đôi bàn tay cống hiến, bất kì ai trong chúng ta đều trở thành người mạnh mẽ. Một chú bé đang dìu một bà lão qua đường cao tốc nguy hiểm. Hay một cô gái chợt dừng xe để nhặt một cái đinh nằm giữa lối đi. Họ đều mạnh mẽ, sức mạnh của họ nằm trong tim. Người mạnh mẽ chiến thắng được cái ích kỷ, hẹp hòi, lười biếng trong lòng để lo cho tha nhân. Họ không tiếc rẻ công sức mình. Họ không phân bì đây là việc của ai, trách nhiệm thuộc về ai. Họ cũng không kén chọn việc sang hay hèn. Miễn có ích cho mọi người, họ sẽ làm dù là việc nhỏ nhất. Có thể tạm chia cuộc đời này làm hai hạng người. Một, là những kẻ ươn hèn. Chỉ muốn sống dựa dẫm trên thành quả cống hiến của người khác. Hai, là người mạnh mẽ. Không tiếc mồ hôi, không tiếc sức lực, họ cống hiến cho cuộc đời không mệt mỏi. Họ không bỏ lỡ dù là việc vụn vặt nhất. Bạn sẽ chọn làm hạng người nào? Thật chẳng thú vị gì khi bị xếp vào loại ươn hèn. Vì thế, hãy trở thành người mạnh mẽ. Hãy đưa tay ra và cống hiến. Để cảm nhận sự sung mãn của tâm hồn, cảm nhận nỗi đam mê của lí tưởng. Một khi giọt mồ hôi bạn đã đổ ra để giúp đỡ con người, để cống hiến cuộc đời, nó lấp lánh kì lạ. Trong mắt các vị thần thánh, nó quý hơn bất kì viên kim cương bảo ngọc nào. Tài sản đích thực của đời người chính là nó . Bởi vì, giá trị của mỗi con người được khẳng định bởi những gì người đó cống hiến, chứ không phải những thứ người đó đeo bên ngoài. Hãy xem người thanh niên này. Anh sống ở tỉnh Thái Bình. Câu chuyện có thật của anh từng được đăng trên báo Thanh Niên. Hơn chục năm trước, khi cơn sốt vàng rộ lên ở các vùng núi phía Bắc, anh rời làng ra đi xây mộng làm giàu. Suốt mấy năm sống cùng dân thổ phỉ chuyên đào vàng, vàng tuy có kiếm được, nhưng đều nướng hết vào các trò ăn chơi truy lạc. Vàng hết, anh trở về làng, tay trắng, nghiện heroin, và bị SIDA. Cha mẹ đuổi anh ra khỏi nhà. Cả làng nhìn anh khinh bỉ. Anh đành ra bờ sông, dựng tạm cái lều, bắt cá sống qua ngày. May phước còn sót lại, có một cô gái thầm yêu anh từ trước. Dù biết anh như thế, nhưng vẫn chấp nhận lấy anh, về sống với anh. Vợ anh hàng ngày ra chợ buôn bán, nghe thiên hạ sỉ vả. Còn anh, hàng ngày ở bờ sông, vật vã với cơn nghiện thuốc. Những lúc tỉnh, anh nhìn dòng sông, lòng buồn vô hạn. Trong một lần như thế, anh để ý đến một đoạn sông uốn khúc đâm vào làng. Mỗi lần lũ về, chính tại khúc sông này bao lần đê vỡ . Người chết, nhà cửa bị cuốn trôi, ruộng đồng tan nát, thiệt hại không thể kể hết. Anh tính toán, nếu chịu khó nắn bờ cho dòng chảy chuyển sang hướng khác, đê sẽ không vỡ nữa. Anh vào làng vận động mọi người cùng làm việc đó. Không ngờ, dân làng chửi anh : “ Đồ SIDA sắp chết, bày đặt tính chuyện đội đá vá trời” Không nản, một mình anh vác cuốc đi nắn dòng sông. Mỗi lần cơn nghiện bùng phát, ,anh lại phi ra bờ sông. Đào. Đào mải miết. Đào quên sống chết. Mồ hôi vã ra, cơn nghiện cũng theo đó ra dần, càng ngày nó càng nhẹ đi. Trong lúc đào như thế, vô tình anh tìm được một mỏ sỏi. Thế là, anh có thêm công việc nữa: đãi sỏi. Mỗi tháng cũng có thêm thu nhập phụ với vợ. Suốt nhiều năm tháng ròng rã, nắng cũng như mưa, anh vẫn cặm cụi đào bới, đội đất, vác đá. Một sức mạnh nào đó cuồn cuộn chảy trong máu anh, giúp anh thắng lướt mọi sự khó nhọc, gian khổ. Và cuối cùng, khi cơn lũ tràn về, cả làng nơm nớp sợ hãi, chờ đợi cơn lũ càn quét, tàn phá khắp nơi. Nhưng mãi không thấy gì. Dân làng kéo nhau ra bờ sông, dòng chảy cuồn cuộn đục ngầu, nhưng nó đã chảy theo hướng khác. Họ sung sướng. Họ reo hò. Rồi lũ lượt kéo đến túp lều ven sông. Không còn một chút kinh bỉ nào nữa. Họ cảm ơn anh, tung hô anh trong sự biết ơn vô kể. Cơn nghiện trong anh tan biến. Cuộc sống khấm khá lên nhờ mỏ sỏi. Vợ anh có thai. Thật kỳ lạ, khi đi khám, bác sĩ cho biết cả chị lẫn thai nhi đều không nhiễm HIV. Họ giải thích rằng cơ thể chị có một loại kháng chất đặc biệt nào đó, chống lại được vi rút HIV. Dù thế nào đi nữa, câu chuyện của anh vẫn được mọi người kể cho nhau nghe như một phép màu. * * * Từ một vị trí đáy cùng của xã hội: tay trắng – nghiện – SIDA. Anh như một món phế thải của cuộc đời. Nhưng một vài năm sau, người ta phải tung hô anh trong sự biết ơn sâu sắc. Anh trở thành người hùng của dân làng, trở thành tấm gương sáng của xã hội. Vì sao vậy? Là vì mồ hôi anh đã đổ. Vì đôi tay anh đã miệt mài. Vì con tim anh đã cống hiến. Sự cống hiến ấy cứu biết bao nhiêu mạng sống, ruộng vườn, tài sản. Anh xứng đáng với sự kính trọng của mọi người, bất chấp quá khứ của anh như thế nào. Anh khiến cho bất cứ ai trong chúng ta phải vắt tay lên trán, để tự hỏi lại chính mình: “ Một người từng bị cuộc đời phỉ nhổ, sa thải, còn làm được một việc ý nghĩa như vậy. Còn ta, ta được cuộc đời che chở, thế nhưng ta đã làm được cái gì?” Hãy trả lời câu hỏi ấy bằng hành động! Tôi và bạn, đã đến lúc chúng ta phải khẳng định giá trị con người mình. Hãy làm tất cả những gì đôi tay bạn có thể. Dừng xe lại, nhặt một cục đá hay cái đinh nằm giữa lối đi. Lấp bằng một cái hố trên đường mà bạn biết. Sửa lại mái nhà cho người hàng xóm. Hay chăm sóc một cụ già bệnh tật neo đơn. Dạy chữ cho các em nhỏ lang thang. Hay dựng dậy một cái cây đã bị ngã đổ. Quét sạch một đoạn đường trước cửa nhà bạn mỗi ngày. Hay tham gia các hoạt động lao động công ích của phường, xã. Đăng kí tham gia chiến dịch “Mùa hè xanh”. Hay tình nguyện đi nghĩa vụ quân sự .v.v… và .v.v… Bạn có thể bắt đầu bằng những việc nho nhỏ, nhưng đừng để trái tim bạn nhỏ bé mãi . Hãy mở toang cửa sổ tâm hồn bạn nhìn ra cuộc sống. Luôn luôn có những chỗ khiếm khuyết cần một bàn tay sửa chữa. Luôn luôn có những con người đang mong chờ một tấm lòng hào hiệp giúp đỡ. Vấn đề là, ta có chịu để ý hay không mà thôi. Bạn phải sáng tạo. Như thế sẽ rất cực. Nhưng chính cái cực làm nên sự quý giá cho đôi tay bạn. Tầm mức những việc làm của bạn sẽ lớn dần lên khi trái tim bạn vĩ đại dần lên. Đó là những ngôi sao đích thực của thế gian này. Những con người vượt lên sự tầm thường của cuộc sống cơm áo gạo tiền, để sống một cuộc sống đầy giá trị. “ Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng , gian khổ sẽ giành phần ai?” Như thế, bạn đừng nên bỏ lỡ một việc thiện nào dù nặng nhọc, khó khăn hay vì đó là một việc tầm thường, hèn kém. Trong bữa tiệc cuối cùng trước khi bị dân Do Thái đem đi đóng đinh, Chúa Jesus bảo các môn đệ của mình đưa chân ra. Đích thân Người đổ nước vào chậu, rồi bắt đầu rửa chân cho từng người. Sau đó, Người lấy khăn quàng nơi thắt lưng mà lau khô. Có môn đệ không chịu, nhưng rồi Chúa khiến người đó phải nghe lời. Làm xong, Chúa nói: – Ngày hôm nay, Thầy là thầy, là Chúa của mọi người, đã cúi xuống rửa chân cho các anh em. Thì ngày mai, các anh em phải cúi xuống rửa chân cho tất cả mọi người.Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em. * * * Khi một vị Thánh cao cả đã cúi mình làm những việc thấp hèn. Thế thì, chẳng có lí do gì để ta có thể từ chối những công việc hèn kém nhất. Trong một gia đình, hãy là người tình nguyện rửa bát, lau nhà, chùi tolet, giặt giũ… thay cho mọi người. Trong một tập thể, hãy là người đầu tiên xung phong đi đổ rác, dọn dẹp vệ sinh… Không có sự cống hiến nào hèn kém, chỉ có những con người hèn kém vì không chịu cống hiến. Đó là những kẻ ăn bám, vô tích sự, những cái móc áo và túi đựng cơm. Còn bạn và tôi, chúng ta không thể sống một cách thừa thãi như thế. Vì vậy, hãy để đôi tay bạn cống hiến không mệt mỏi, bằng tất cả nỗi đam mê của tâm hồn, bằng tất cả sức mạnh ghê gớm của con tim. Chỉ như thế, bạn mới tìm được ý nghĩa cho cuộc đời mình. Chỉ như thế, giá trị con người bạn mới được khẳng định. Hãy bước ra và cống hiến. Thiên đường đang chờ đón bạn.

TÂM HỒN GIÀU CÓ

( Quang Tử) Một phụ nữ trẻ,  quý phái và giàu có bước vào một cửa hàng thức ăn nhanh. Ở đây cô chọn cho mình món súp làm bữa điểm tâm. Cô bưng chén súp ra một chiếc bàn,  rồi quay lại quầy thanh toán tiền. Đến khi trở về bàn thì cô sững sờ: một bà già luộm thuộm với chiếc áo khoác cũ mèm đang ngang nhiên ăn chén súp của cô. Cô định bước tới mắng cho bà ta một trận,  nhưng chợt nghĩ: “Người lịch sự không nên làm như  thế. Nhưng không lẽ cứ để bà ta ăn hết bữa điểm tâm của mình?” Như vậy,  cô ngồi vào bàn,  lấy muỗng và ăn cùng bà lão. Bà ta ngẩng đầu lên nhìn cô,  rồi nhoẻn miệng cười. Hai người cứ thế ăn súp trong yên lặng. Ăn xong,  bà lão rút trong túi ra một chiếc bánh,  bẻ đôi và đưa một nửa cho cô gái. Cô mỉm cười,  nghĩ thầm : “Vậy là chúng ta hòa nhé!”  Và hai người tiếp tục ăn hết chiếc bánh. Khi ăn xong,  bà lão đứng dậy,  chào cô rồi bước đi với vẻ mặt rạng rỡ. Bà lão nghĩ: “ Ngày hôm nay thật có ý nghĩa,  lâu rồi ta mới có dịp giúp cho người khác một bữa ăn tử tế. Thật hạnh phúc khi con người ta biết chia sẻ cho nhau.” Còn cô gái cũng đứng dậy sau đó. Chợt cô giật mình khi nhìn sang bàn bên cạnh: chén súp của cô vẫn còn nguyên. Thì ra nãy giờ cô đã ngồi nhầm bàn. Sự việc này khiến cô cảm thấy xấu hổ,  và cả ngày hôm đó,  cô không thể nào nở được một nụ cười với ai cả. * *      * Một phút để suy ngẫm trong ngày: Đâu mới là niềm vui thật sự? Một thân phận giàu có hay một tâm hồn giàu có? Tạo hóa đưa chúng ta đến với cuộc sống này,  với vô số hình hài và thân phận khác nhau. Nhưng với một mục đích như nhau. Đó là, rời xa đau khổ để đi tìm hạnh phúc. Một điều hiển nhiên,  hiển nhiên đến mức chẳng cần chứng minh. Cho dù bạn sống ở bất cứ đâu trên hành tinh này. Cho dù bạn già hay trẻ,  là nam hay là nữ,  thì hạnh phúc luôn nằm trong mong muốn và khát khao của mỗi chúng ta. Bạn có thể nhìn thấy nó trong sự nỗ lực học tập. Để làm gì? Để có được bằng cấp,  để được mọi người nể trọng… Như thế,  bạn sẽ rất vui. Ta có thể gọi là đó hạnh phúc. Hoặc bạn sẽ thấy nó trong sự cặm cụi làm việc. Để làm gì? Để có tiền,  để có một sự nghiệp… Từ đó,  bạn có thể mua rất nhiều thứ: nhà đẹp,  xe sang trọng,  quần áo thời trang… Và,  đó cũng có thể coi là hạnh phúc. Tuy nhiên,  có rất nhiều cảm giác hạnh phúc khác nhau. Một số người thích thú với việc ăn nhậu. Với một số khác thì họ thấy vui khi có quyền lực… Mỗi một chọn lựa của bạn sẽ đưa đến những hạnh phúc khác nhau,  thậm chí khác xa nhau đến mức một trời một vực. Thế nên,  chúng ta có một câu hỏi cực kỳ quan trọng:  Phương trâm nào? Con đường nào sẽ đưa ta đến với hạnh phúc đích thực? Câu trả lời thứ nhất được đưa ra: “ Hãy cố gắng thu về cho mình thật nhiều,  hưởng thụ cho mình càng nhiều thì càng hạnh phúc.” Nghe rất có lí. Có thể nó không lí tưởng lắm,  nhưng nó thực tế. Và đa số chúng ta đã chọn câu trả lời này làm lẽ sống cho mình. Vậy thực tế ra sao? Ta hãy cùng quan sát. Hãy nhìn một đứa bé mới được cha mẹ mua cho một  món đồ chơi: một chiếc ô tô điều khiển từ xa mới toanh. Đồng thời,  hãy nhìn một người đàn ông mới trúng mánh,  anh ta liền mua cho mình một chiếc Messedes bóng loáng,  đầy vẻ sang trọng. Giá trị hai chiếc xe khác xa nhau. Nhưng tâm lí lại giống hệt nhau. Đầu tiên họ sung sướng. Cả đứa bé lẫn người đàn ông,  một cảm giác vui thú tràn ngập,  bủa vây lấy họ. Rồi,  họ cảm thấy cần thiết phải bảo vệ cái mà họ đang có. Họ bắt đầu lo sợ: sợ bị mất. Họ trở nên khó chịu,  bực bội khi có ai đó muốn “chia chác một chút”  với họ cái mà họ đang sở hữu,  mượn chơi vài ngày chẳng hạn. Nhưng rồi chẳng bao lâu,  cái cảm giác đó trở nên bão hòa,  họ thấy cái xe giờ đây cũng bình thường. Và lâu hơn chút nữa,  họ bắt đầu chán. Hưởng thụ luôn đi đến cảm giác chán. Đây là một quy luật. Bây giờ,  họ lại khát khao,  thèm muốn một cái đẹp hơn,  mới hơn,  lớn hơn nữa… Cái thèm muốn ấy ngày càng gay gắt. Nó giày vò họ. Nó thúc đẩy họ phải làm mọi cách: năn nỉ,  vòi vĩnh,  hay nai lưng ra cày,  cày cật lực,  cày cho có tiền để mua cái mới. Đấy  là vẫn chưa kể đến những thủ đoạn đen tối,  những âm mưu tàn bạo khác. Nếu vẫn không được,  họ đau khổ. Nhưng nếu họ có được cái xe mới,  thì kịch bản cũ lại được lập lại. Vui sướng – rồi sợ mất – rồi khó chịu,  bực bội – xong rồi chán. Và tiếp tục thèm muốn cái mới hơn,  lớn hơn. Rồi lại cày… Một vòng luẩn quẩn. Ở nước Nga có một câu chuyện nổi tiếng: Ông lão đánh cá và con cá vàng Một ông lão ngư dân ra biển kéo cá. Ông chỉ bắt được một con cá vàng,  nhưng thấy nó tội nghiệp,  ông lại thả nó ra. Không ngờ,  nó lại là một con cá thần. Nó nói với ông: – Tôi vô cùng biết ơn ông. Từ nay hễ ông yêu cầu điều gì,  tôi sẽ biến nó thành hiện thực. Nhưng ông lão thì chẳng mong muốn cái gì. Ông về kể cho mụ vợ nghe. Trái ngược với ông lão,  mắt bà ta rực lên cái nhìn đòi hỏi của tham vọng. Đầu tiên,  mụ bắt ông lão ra đòi cái máng lợn. Cá thần cho mụ cái máng lợn. Được máng rồi,  mụ đòi cái nhà. Cá thần hóa phép một ngôi nhà. Được nhà rồi,  mụ đòi làm nhất phẩm phu nhân. Cá vàng đồng ý. Được nhất phẩm phu nhân rồi,  mụ lập tức đòi ngai nữ hoàng. Cá vàng lặng lẽ gật đầu.  Được ngai rồi,  mụ chẳng dừng lại. Mụ muốn làm chúa tể các cõi mà cá vàng làm nô lệ. Giống như một định luật – “hai với hai là bốn” : tột cùng của tham vọng luôn là con số không. Cá vàng tức giận,  quẫy đuôi. Và mụ vợ mất hết tất cả. * *      * Chúng ta đọc câu chuyện,  rồi chúng ta phê phán mụ vợ. Mụ ta không ngừng đòi hỏi,  mụ ta thật là tệ. Nhưng không ngờ,  đây không phải câu chuyện của một mụ đàn bà xa xôi nào đó ở bên nước Nga. Không. Đây là câu chuyện của chính mỗi người chúng ta. Hoặc là tôi,  hoặc bạn,  sẽ trở thành nhân vật chính của câu chuyện này. Một khi chúng ta đã chọn cái kịch bản sống “ Càng hưởng thụ,  càng hạnh phúc” Hãy sáng suốt. Bạn sẽ nhận ra đó là một cái bẫy. Nó nhử ta bằng một cảm giác vui sướng,  thỏa thích lúc đầu. Và khi ta cắn câu,  nó lập tức lôi tuột ta vào một guồng quay,  một chuỗi tâm lí khổ sở : thèm thuồng,  giành giật,  lo sợ,  bực bội,  tức tối,  vất vả,  chán ngán,  mệt mỏi… Rồi bất chợt,  ta nhận ra ta đã bị biến thành nô lệ của cái tham muốn. Nó thiêu đốt. Nó dày vò tâm hồn ta. Nó lừa phỉnh ta với những mục tiêu luôn ở trước mắt. Nó hối thúc ta bằng nỗi thèm khát nhức nhối trong tim. Như thế,  ta bị đẩy vào một cuộc đua,  của giành giật hơn thua,  của quay cuồng và mệt mỏi. Một cuộc đua bất tận. Bạn nghĩ rằng bạn có thể dừng lại ở một chừng mực nào đó,  một định mức khuây khỏa. Như cất một ngôi biệt thự,  mua một cái xe thể thao… thế là đủ. Nhưng,  như vậy bạn chưa hiểu được cái tham muốn.  Nó xảo quyệt và mạnh mẽ hơn bạn tưởng nhiều lần. Nó không bao giờ để bạn dừng lại dễ dàng. Tham muốn không bao giờ là một chiếc xe đạp. Bạn không thể dừng nó lại đơn giản chỉ bằng một cái bóp phanh. Tham vọng là cả một đoàn tàu. Một khi đã khi đã khởi động,  bạn phải nghiến răng,  phải toát mồ hôi hột,  phải gồng mình với hết sức bình sinh nếu muốn chặn nó lại. Vậy mà  chưa chắc gì nó đã dừng lại. Hãy lặng yên. Hãy nhìn sâu vào trong tâm trí,  bạn sẽ thấy: Nếu bạn đang là nhân viên. Bạn sẽ khát khao để trở thành ông chủ. Một tâm lí bình thường,  một ước mơ chính đáng. Bạn nghĩ vậy và phấn đấu. Nhưng,  nếu bạn đã là ông chủ… Thế thì,  bạn lại thèm khát một ông chủ lớn hơn,  một chủ tịch tập đoàn. Tham vọng trở nên rõ rệt hơn. Rồi,  giả sử nỗi thèm khát đó thành hiện thực,  bạn là một chủ tịch tập đoàn. Và có lẽ ta dừng ở đây được rồi. Nhưng khổ nỗi cái tham vọng đã nở ra rất nhiều lần. Bạn chưa thấy thỏa mãn. Bạn cảm thấy mình phải quyền lực hơn nữa . Bạn phải trở thành chủ tịch tỉnh hay thống đốc… Câu chuyện cứ thế nối tiếp,  cho đến một ngày kia,  kể cả ngôi vị thủ tướng,  kể cả ngai vàng của một ông vua cũng không làm bạn thỏa mãn. Bởi vì tham vọng của bạn là thống trị toàn địa cầu. Bạn là người thông minh. Có lẽ bạn sẽ đoán ra được phần tiếp theo. Đó là,  khi chiếm được cả trái đất rồi,  con người ta sẽ tiếp tục đòi cho được mặt trăng. Tham vọng là vô tận. Nó không có đáy. Nếu cứ mãi đi theo nó,  con người ta sẽ phải chết trong sự mệt mỏi tột cùng. Chết vì kiệt sức. Có lẽ bạn chưa hình dung ra. Vậy,   hãy đễ con người này làm bạn thấy rõ hơn: Alexander Đại Đế. Là vua của vương quốc Maxedom hùng mạnh,  là học trò của Aristole,  Alexander quá sung sướng. Không ai trong chúng ta sung sướng đến thế. Nhưng Alexander lại chẳng thấy gì là thỏa mãn. Ông không thể ngồi yên mà học với Aristole được. Tham vọng cứ sôi sùng sục trong ông. Và như thế,  Alexander đem theo quân đội hùng hậu quyết đi tìm ngôi vị bá chủ thế giới. Cũng may,  Alexander có tài,  dường như ông luôn thắng trận. Đế chế của ông cứ lớn dần ra về châu Á,  chiếm sạch khối Ả Rập,  tiến về phía Ấn Độ. Nhưng bạn biết kịch bản rồi đấy,  tham vọng chẳng dừng ở đâu cả. Alexander vẫn cứ phải lao vào trận . Một lần,  ông nghe nói về một con người đặc biệt : một người chẳng cần gì hết. Bao nhiêu của cải ông cho hết thiên hạ,  còn ông thì sống trong một cái thùng gỗ ven đường với một cái bát đựng nước. Có lần,  ông thấy người ta có thể dùng hai tay múc nước uống,  thế là,  ông bỏ luôn cái bát để uống nước bằng tay. Một vô sản đích thực: hiền triết Diogenes. Quá lạ lùng,  Alexander dẫn đại quân tới gặp Diogenes. Vị chúa tể đặt một số câu hỏi hóc búa về triết học,  chính trị, về tương lai với vị hiền triết. Và những câu trả lời của Diogenes khiến Alexander vô cùng kính phục. Alexander hỏi câu cuối cùng: – Thưa hiền triết đáng kính,  ngài có cần điều gì không? Alexander sẵn sàng tặng cả một vương quốc nếu Diogenes muốn,  thế mà Diogenes lại trả lời rất hóm hỉnh. – Có,  có đấy. Xin Ngài hãy đứng xích sang một bên. Nãy giờ ngài đứng che mất ánh nắng tôi đang sưởi ấm. Alexander ngỡ ngàng. Trước mặt ông,  một con người chẳng có gì,  nhưng lại đầy đủ hơn ai hết,  hơn cả ông – một chúa tể. Con người ấy không cần tìm một hạnh phúc gì thêm,  vì ông ta chính là hạnh phúc rồi. Alexander thấy mình thật nghèo nàn trước ông ta. Alex quay lại nói với binh sĩ: – Nếu ta không lỡ làm một Alexander Đại Đế,  thì ta sẽ làm một triết nhân Diogenes. Thật đáng tiếc Alexander đã không làm theo câu nói đó. Ông đã bỏ lỡ. Tham vọng tiếp tục lôi ông  vào những cuộc hành quân. Và,  điều gì phải đến đã đến. Sau nhiều năm trinh chiến bất tận,  nhưng vẫn không thấy đâu là tận cùng trái đất. Toàn quân sôi lên vì chán ngán và mỏi mệt. Rồi thua trận,  rồi đồng đội bị tử thương,  Alexander trỡ nên quẫn trí,  lên cơn sốt,  rồi chết. Chết trong tột cùng của sự mỏi mệt. Đế chế của ông tan vỡ ngay sau đó. * *      * Tham vọng đã nâng Alexander lên cao vút,  rồi cuối cùng thả ông rơi tự do suống đáy cùng của thảm bại. Alexander tưởng mình là bá chủ. Nhưng ông đã bị lừa. Ông chỉ là con ngựa chiến. Tham vọng mới là ông chủ đích thực. Khi không có lòng tham,  con người ta mới được làm chủ chính mình,  làm một Diogenes. Còn khi có lòng tham,  nó lập tức biến ta thành nô lệ. Nó sẽ vắt kiệt ta cho đến hơi thở cuối cùng. Đó là một công thức. Điều đó đúng với Alexander,  đúng với bất kì ai đi tới tận cùng với lòng tham muốn: Ceasar Đại Đế,  Thành Cát Tư Hãn,  Napoleon Bonapac,  hay Hitle… Tất cả đều chết trong kiệt quệ và tức tưởi. Chưa một ai biết thế nào là thỏa mãn. Hãy tỉnh táo. Đừng để mình trở thành nô lệ cho lòng tham muốn. Hãy chống lại nó và chiến thắng nó như người đàn ông này: John Davison Rockerfeller. Sinh năm 1839,  mất năm 1937,  Rockerfeller lớn lên với một tham vọng sẽ thống trị nước Mỹ. Với một bộ óc cực kỳ khôn khéo,  điều đó không phải viễn tưởng với Rockerfeller. Suốt nhiều thập kỷ,  ông đã sử dụng đến mọi thủ đoạn,  khôn ngoan có,  tàn bạo có để thôn tính hàng trăm công ty lớn nhỏ,  gom lại thành một tài sản khủng khiếp. Nó tương đương với 190 tỷ USD hiện nay,  hơn tất cả các tài sản của 10 tỉ phú lớn nhất bây giờ. Dựa vào đó Rockerfeller bắt đầu thao túng cả nền kinh tế – chính trị – văn hóa Mỹ. Ông trở thành nỗi ám ảnh của cả một thế hệ lúc bấy giờ. Thế rồi,  một ngày đẹp trời khi đã sáu mươi tuổi,  người giàu nhất lịch sử bỗng nhận ra mình đã bị lừa. Tiền của ông có thể xếp thành một tòa cao ốc. Chẳng ai đọ nổi với tiền bạc và thế lực của ông được nữa. Thế nhưng Rockerfeller luôn thấy cuộc sống thật trống rỗng và vô cảm. Thật kỳ lạ,  chẳng có một chút nào gọi là hạnh phúc cả. Rockerfeller quyết định phải thay đổi. Bốn mươi năm sau đó,  người ta thấy Rockerfeller khét tiếng một thời đem gần hết số tiền khổng lồ của ông ra làm việc thiện. Nó không dùng để làm chao đảo nước Mĩ nữa. Điều đó thật vô bổ. Thay vì thế,  nó có thể đem lại nụ cười cho nhân loại. Hàng chục quỹ vì người nghèo,  phòng chống bệnh tật,  thiên tai,  quỹ bảo trợ đào tạo,  viện nghiên cứu,  trường học mọc lên khắp nơi trên thế giới nhằm xoa dịu nổi khổ cho con người. Mọi sự sai lầm của ông đã được đền chuộc. Rockerfeller đã tống được cái cục nợ “ tham vọng ” ra khỏi tâm trí. Thật nhẹ nhõm. Thật sáng suốt. Thế là,  ông hiểu được một chân lí giản dị,  một chân lí vĩnh hằng: Hạnh phúc chân thật là một nụ cười thanh thản khi ta biết cho đi. Nói cách khác,  sự cho đi chính là chìa khóa của hạnh phúc. Giờ đây,  Rockerfeller có thể mỉm cười mãn nguyện với chiếc chìa khóa trong tay. Ông không phải người đầu tiên,  cũng không phải người cuối cùng tìm ra chân lí ấy. Bởi vì bất kỳ ai trong số chúng ta đều có thể tìm ra nó. Hóa ra,  hạnh phúc không nằm ở chân trời xa xăm nào cả. Nó rất gần. Hạnh phúc nằm ngay trong chính bạn, trong chính mỗi chúng ta. Có điều,  nó  đã ngủ quên khi ta cứ mải chạy theo tham muốn. Vì thế,  hãy đánh thức nó dậy. Hãy để đôi bàn tay mở rộng ra cuộc sống. Hãy để tâm hồn chan hòa trong những niềm chia sẻ. Và,  hãy cho đi bằng tất cả sự giàu có của con tim. Hạnh phúc sẽ bừng tỉnh trong bạn. Điều này có thể rất lạ đối với bạn. “ Chẳng phải thế gian vẫn sục sôi lên vì kiếm tiền sao? Chẳng phải người đời vẫn xô đẩy nhau để với tới sự thành đạt sao?” Bạn có lí. Nhưng đây là vấn đề của sự từng trải. Số đông không có nghĩa là chân lí. Cả thế gian tưởng như thế là đúng, không có nghĩa họ đã tìm ra sự thật.Trong vấn đề này, chúng ta phải lắng nghe lời của những con người từng trải.Những người đã sống qua cả hai niềm hạnh phúc: niềm hạnh phúc của vật chất, của giàu sang , của quyền thế ,  và , niềm hạnh phúc của tâm hồn, của cuộc sống vị tha không ngừng chia sẻ. Chỉ có họ mới đánh giá được sự thật,  đâu là hạnh phúc đích thực. Vậy ai là người như thế? Đây,  Andrew Canegie! (1835 – 1919) Ông sống cùng thời với Rockerfeller,  Andrew kinh doanh rất thành công trong ngành thép. Ông nhanh chóng trở thành người giàu thứ hai trong lịch sử sau Rockerfeller. Andrew đã có sự thành đạt,  có giàu sang,  có quyền thế,  vậy ông rất từng trải. Vậy ông nói gì? “ Con người ta phải phụng sự điều gì đó. Nếu ai đó chọn phụng sự cho của cải,  thì đó là hành vi tồi tệ nhất.” Và thế là ông phụng sự cho việc từ thiện. Sự nghiệp từ thiện của Andrew Canegie còn vĩ đại hơn cả Rockerfeller. Ông hạnh phúc vì ông tìm được “kho báu thật.” Hiện nay Bill Gates cũng làm như vậy. 99% tài sản kếch xù của người giàu có nhất thế giới đương đại đã dâng hiến cho các quỹ từ thiện. Đối với tỉ phú Yu Pengman của Trung Quốc con số là 100%. Tất cả tài sản 1, 2 tỉ USD ông đã bán sạch và làm từ thiện sạch. Thế nhưng Trung Quốc vẫn có truyền thống để lại gia tài cho con cái,  vậy ông nói sao? “ Nếu con cái tôi là người tài giỏi,  chúng sẽ không cần khoản thừa kế để làm vốn. Còn nếu chúng bất tài,  một đống tiền chỉ tổ làm hại chúng mà thôi.” Một triệu phú khác tên là Karl Rabeder ở nước Áo. Lời tâm sự của ông chứa đầy sự từng trải : “Trước kia tôi luôn tin giàu có đồng nghĩa với hạnh phúc. Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo,  phương trâm của chúng tôi là: ai làm nhiều,  người đó phải được hưởng nhiều. Tôi đã sống bằng phương trâm ấy nhiều năm. Nhưng dần dần,  tôi thấy ngược lại. Tôi cảm thấy mình làm việc như một nô lệ để đạt đươc những thứ không cần thiết: giàu sang,  của cải… Trong một chuyến đi nghỉ ở Hawaii,  vợ chồng tôi đã xài tiền nhiều nhất có thể. Nhưng nhanh chóng chúng tôi nhận ra xung quanh không có ai thật lòng,  tất cả đều giả dối. Cuộc sống xa hoa thật khủng khiếp,  nhạt nhẽo và vô cảm. Tiền làm phản tác dụng. Nó không mang lại hạnh phúc.” Và Karl đã bán sạch sành sanh từ bất động sản đến cái ví da,  tất cả là 5 triệu USD,  tất cả đều đi làm từ thiện. Rồi ông nói: “ Giờ đây tôi thấy mình tự do. Không một chút gánh nặng.” Họ hạnh phúc đến như thế,  bởi vì họ biết vứt đi cái hòm tiền giả để đổi lấy một kho báu thật. Và nếu tâm trí bạn vẫn tiếp tục thắc mắc: Cái kho báu thật ấy,  bên trong chứa những gì? Thế thì,  sự thực,  đó là một sự bình an không lời nói. Bạn sẽ thấy thất vọng nếu muốn tóm nó trong tay để thấy cho rõ ràng. Bởi vì,  nó không rõ ràng. Không giống sự tưng bừng của một buổi tiệc rượu,  không giống cái cuồng nhiệt của một lần thắng trận đá bóng… Chúng rõ ràng,  nhưng thật mau hết. Chúng sẽ nhanh chóng tan biến rồi để lại trong ta một lỗ hổng,  một sự trống vắng dày vò. Niềm hạnh phúc thì ngược lại. Nó là một mặt trăng. Nó lấp đầy tâm hồn bạn như ánh trăng lấp đầy bầu trời: êm đềm và trường cửu. Bạn không thể hốt ánh trăng để cất đầy vào túi. Nhưng bạn có thể tan hòa vào ánh sáng bàng bạc,  kỳ diệu của nó. Bạn sẽ thấy một cảm giác hân hoan,  nhẹ nhàng len lỏi vào tâm hồn bạn. Một cái gì đó rất sâu lắng,  thanh cao và bền bỉ luôn hiện hữu trong bạn,  luôn đi theo bạn. Không cần đến một casino hay một vũ trường nào để tìm vui thú nữa,  vì vui thú luôn ở ngay trước mắt. Khi đó,  nỗi buồn chán và trống trải,  sự bất an và dằn vặt đã vắng bóng. Chúng lặng lẽ cuốn gói từ lúc nào không rõ… Thay vào đó  là một sự tự do vô hạn,  một sự an lành vô hạn. Chúng nâng dần bạn lên một tầm mức khác: tầm mức của những tâm hồn cao thượng. Bạn hãy tự hỏi: hình tượng nào trên thế giới là vui vẻ nhất? Nếu ở phương tây,  thì đó là ông già Noel. Còn ở phương đông,  là hình tượng Di Lặc Bồ Tát. Họ luôn tươi cười. Nụ cười của họ tuôn trào hạnh phúc ra thế gian. Nhưng vì sao vậy? Bởi vì cả hai vị đều có một cái túi thật to với đầy quà bên trong. Cả hai vị đều cho đi không ngừng nghỉ. Với họ,  cho đi là sự nghiệp,  cho đi là cuộc sống. Thế nên,  niềm hạnh phúc trong họ trở thành một kinh điển. Ta thấy,  ở phương đông cũng như phương tây chân lí vẫn là một: Cổng hạnh phúc sẽ rộng mở khi bàn tay ta rộng mở. Vậy,  tại sao ta không mở toang cánh cổng đó ra? Hãy làm điều đó ngay từ hôm nay. Hãy sắm cho mình một cái túi chứa đầy sự hào phóng của tâm hồn,  một cái túi căng phồng những món quà của lòng trân trọng. Và cho đi! Tôi và bạn,  chúng ta hãy cho đi trong tất cả năm tháng cuộc đời. Hãy cứ cho đi và chẳng cần sự đền đáp trở lại. Như thế,  sự cho đi mới là đích thực. Nếu không,  ta sẽ trở thành một kẻ buôn bán. Kẻ buôn bán thì chỉ thu về được lợi nhuận,  nhưng hắn chẳng bao giờ biết hạnh phúc là gì. Hóa ra,  hắn mới là chính người thiệt thòi. Bạn hỏi: “ Tôi cho đi thế nào đây khi cuộc sống còn nhiều thiếu thốn? Tôi đâu phải Bill Gates?” Vậy,  này bạn thân mến. Cốt tủy của sự cho đi không nằm ở số tiền của,  mà nằm ở tấm lòng. Chẳng phải cứ quăng tiền vô tội vạ vào quỹ từ thiện nào đó,  hay thẩy mấy đồng lẻ vào nón kẻ ăn mày mà làm nên ý nghĩa của việc cho đi. Không. Đó chỉ là sự bố thí vô nghĩa lí. Và còn tệ hơn nếu ta khinh thường người được cho. Như vậy,  ta cho họ một chút tiền của,  nhưng lại lấy mất danh dự của họ. Đó là một hành vi rẻ mạt. Còn sự cho đi thì đòi hỏi thành tâm và lòng trân trọng. Hãy đọc câu chuyện này: Ở Ấn Độ thời xa xưa,  mọi người dân đều tôn thờ Đức Phật. Ngài là bậc thánh của sự tuyệt đối,  là ánh sáng của mọi chân lí,  là biển cả của lòng từ bi vô hạn. Một lần đó,  quốc vương Ấn Độ muốn tổ chức một đêm hoa đăng rực rỡ để cúng dường lên Đức Phật. Tất cả dân chúng nô nức sắm sửa đèn nến. Những nhà quan lại,  những nhà giàu có đua nhau trưng bày những chiếc đèn lộng lẫy,  tẩm hương thơm ngào ngạt. Cả một kinh thành lung linh trong ánh sáng. Một bà lão ăn xin thấy thế lòng buồn rười rượi. Bà tôn thờ Đức Phật. Nhưng bà thì quá vô sản,  lấy đâu tiền mua đèn bây giờ. Bà lục túi trong,  rồi túi ngoài,  chẳng có gì. Bà chỉ có một bát cơm xin được lúc chiều. Bà đánh liều tới tiệm bán dầu,  khẩn khoản đổi bát cơm lấy một muỗng dầu thắp. Chủ tiệm thấy tội nghiệp,  múc cho bà một chén dầu miễn phí. Nhưng bà kiên quyết đổi bằng bát cơm. Chủ tiệm miễn cưỡng đồng ý. Bà lão thắp chén dầu ấy lên bằng tất cả trái tim thành kính. Rồi bà tiến vào trong thành. Nhưng đến cổng thành,  bà bị lính canh chận lại. Họ không cho ăn mày vào dự hội hoa đăng,  đó là chiếu chỉ của vua. Quá buồn,  bà lão bất giác quỳ xuống,  nước mắt tuôn tràn. Nhưng Đức Phật ,  người biết hết mọi chuyện… Một cơn gió bất chợt nổi lên. Mạnh mẽ và dứt khoát,  gió thổi tung cổng thành,  gió thổi tắt tất cả những ngọn đèn lộng lẫy,  kiêu sa. Chỉ duy nhất chén dầu của bà lão ăn xin còn cháy sáng. Nó không thể bị thổi tắt,  vì nó cháy bằng cả trái tim bà. * *      * Ở Palestine có một câu chuyện khác,  câu chuyện được kể trong Phúc Âm của Chúa Jesus. Một lần Chúa Jesus quan sát mọi người bỏ tiền vào thùng dâng cúng đền thờ. Có lắm kẻ giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà góa nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng Roma. Chúa Jesus nói với các môn đệ: “ Thầy bảo thật anh em,  bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy,  mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó. Còn bà này thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản,  tất cả những gì bà có để sống”. * *      * Nếu như bạn đã hiểu,  điều quan trọng nhất của sự cho đi,  đó  là hãy cho đi hết cả tấm lòng,  cho đi hết những gì có thể. Thế thì một ly nước được bưng bằng cả hai tay cho kẻ lỡ đường xa lạ. Hay trong trường hợp nào đó,  chỉ là một nụ cười trìu mến với một bé thơ… Tất cả đều có thể trở thành những món quà giá trị. Nó giá trị bởi vì ta đã cho đi bằng hết những gì có thể! Mấu chốt ở chỗ này: hết những gì có thể! Không dễ gì làm được việc này trong một sớm một chiều. Thế nên bạn có thể bắt đầu sự nghiệp cho đi của mình với những món quà “nho nhỏ”,  nhưng đừng cho phép tấm lòng mình nhỏ bé mãi. Ban đầu,  bạn hãy cho đi những vật phẩm không quá cần thiết mà bạn đang có. Chẳng hạn,  một vài chiếc sơ mi trong tủ đầy quần áo của bạn. Hay,  tặng hẳn một chiếc đồng hồ khi mà bạn có đến hai chiếc. Rồi,  khi bạn đã trở thành con người của sự hào phóng. Hãy trải nghiệm những hi sinh nho nhỏ. Ví dụ như hủy một lần tổ chức sinh nhật,  lấy số tiền đó mua sách vở cho học sinh nghèo. Hay thậm chí nhường hẳn ghế ngồi cho một cụ già,  chấp nhận đứng suốt trên một chuyến tàu đi đường xa… Cho đến khi bạn thực sự hiểu được rằng,  không có gì sung sướng bằng khi ta luôn có điều gì đó để cho đi. Thế thì,  hãy dũng mãnh hơn nữa. Hãy vươn tới lí tưởng của những con người siêu phàm. “ Cho đi tất cả,  có nghĩa là trở thành tất cả” Một người siêu phàm dám cho đi  mạng sống mình nếu cần. Không còn chỗ cho bất kỳ sự luyến tiếc nào cả. Những con người như thế,  trái tim của họ là báu vật của cả nhân loại. Dòng lịch sử nghiêng mình trước họ,  và dành cho họ những trang viết bằng vàng ròng. Họ là định nghĩa của một tâm hồn giàu có. Tôi không hiểu họ cảm thấy thế nào,  đơn giản vì tôi chưa trở thành một người trong số họ. Nhưng tôi có thể kể về họ với tất cả niềm kính phục. Đây là một trong vô số huyền thoại về họ. Vào một thời kỳ xa xưa,  có một vị vua nổi tiếng với lòng nhân từ. Ông ta không ngừng quan tâm tới thuộc hạ và dân chúng. Ông ta hào phóng đến mức lạ lùng. Ông ta giống như sinh ra là để cung phụng cho thiên hạ. Có lẽ vì thế nên đất nước của ông ngày một phồn thịnh. Tên của vị vua đó là Thiện Tuệ. Khi mà vương quốc của vua Thiện Tuệ nhanh chóng phát triển,  vua của nước lân bang  bắt đầu nhòm ngó. Ông ta sớm nhận ra vương quốc của vua Thiện Tuệ chỉ mạnh về kinh tế,  trong khi rất yếu về quốc phòng. Ngân sách quốc gia chủ yếu để lo cho đời sống của dân. Một kế hoạch xâm lược được vạch ra. Quân đội được củng cố hùng hậu,  tinh nhuệ.  Vào một ngày không báo trước,  ông ta kéo đoàn quân như vũ bão ào ạt qua xâm lược vương quốc của vua Thiện Tuệ. Trinh sát tức tốc báo về kinh,  cả đất nước đều vô cùng lo lắng và hoang mang. Ai cũng biết quân đội của vua Thiện Tuệ rất yếu. Đức vua suy tính: “ Nếu để chiến tranh xảy ra,  đất nước của ta sẽ trở thành biển máu. Bá tánh sẽ chìm trong biển lửa tang tóc mà kết quả cuối cùng cũng chỉ có con đường thua. Mặt khác,  vua nước lân bang cũng là ông vua giỏi. Dưới triều đại của ông ta,  dân chúng cũng được no ấm” Như vậy,  vua Thiện tuệ quyết định bỏ ngôi. Ông ra lệnh toàn quân buông vũ khí đầu hàng. Còn mình thì lặng lẽ bỏ vào rừng. Đoàn quân xâm lược kia ào ào xông đến tận kinh thành không hề gặp một chút kháng cự. Vua xâm lược chiếm được cả một vương quốc trù phú không mất lấy một giọt máu. Điều đó khiến ông ta hoang mang hơn là vui mừng. Lệnh truy nã dán khắp nơi: ai nộp được đầu vua Thiện Tuệ thưởng một nghìn lượng vàng. Một ngày kia,  ở vùng sơn cước hẻo lánh,  một người dân nghèo gặp phải tình cảnh túng quẫn: mẹ anh ta bệnh nặng mà bán hết ruộng vườn vẫn không đủ tiền chữa chạy. Trong cơn khốn đốn,  anh nghĩ ngay đến vua Thiện Tuệ và khăn gói lên đường tìm vua xin giúp đỡ. Có lẽ sống ở vùng quá xa xôi,  nên anh chẳng hay biết tin tức thời sự gì về cuộc xâm lược. Khi đi ngang qua một khu rừng,  tình cờ anh thấy một người quần áo tả tơi đang trong tình trạng kiệt sức. Thương tình,  anh dừng lại,  chia sẻ phần lương khô ít ỏi của mình với người đó. Hai người bắt đầu trò chuyện. Anh đem hoàn cảnh và ý định tìm vua Thiện Tuệ kể cho người lạ mặt. Không ngờ,  nghe song người đó nói: – Thiện Tuệ chính là tôi. Hiện tôi còn thê thảm hơn cả anh. Nhưng anh đừng lo,  người ta đang trao giải một nghìn lượng vàng cho ai bắt được tôi. Vậy anh hãy trói tôi mà đi lĩnh thưởng. Người dân nghèo sau một phút ngỡ ngàng,  anh ta liền khăng khăng từ chối. Nhưng vì vua Thiện Tuệ quá thuyết phục,  cuối cùng anh đồng ý. Ba ngày sau,  người dân nghèo dẫn vua vào cung. Lập tức anh được thưởng một nghìn lượng vàng. Nhưng trước khi ra về, vị vua xâm lược triệu anh đến hỏi:  “Làm thế nào nhà ngươi bắt được vua Thiện Tuệ?” Anh dân nghèo thành thật khai báo mọi chuyện,  kể rõ về ý tưởng đổi mạng lấy tiền thưởng của vua Thiện Tuệ. Ông ta cứng đờ người nhìn Đức vua của lòng nhân từ không chớp mắt. Một cái gì đó đổ sụp trong lòng ông. Ông rút kiếm,  tiến đến gần vua Thiện Tuệ. – Giết ta đi,  mọi lo lắng trong ông sẽ tan biến – vua Thiện Tuệ nói – Nếu tôi giết Ngài hôm nay. Lương tâm sẽ giết tôi trong suốt quãng đời còn lại. Vị vua xâm lược nghẹn ngào trả lời. Ông đích thân cắt dây cởi trói. Rồi hai tay cung kính trả lại ngôi báu cho Đức vua của lòng nhân từ. Vị vua kì lạ ấy chính là một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca . * *       * Chuyện kết khúc thật tốt đẹp. Nhưng sẽ ra sao nếu vị vua nhân từ của chúng ta bị đem ra hành quyết? Chẳng phải như thế là mất tất cả sao? Đối với chúng ta,  có lẽ đúng như vậy. Nhưng với một người sẵn sàng cho đi tất cả,  thế thì ngược lại. Còn hay mất một ngôi báu,  thậm chí một cái đầu,  điều đó vô nghĩa lí đối với họ. Chẳng phải sau mấy mươi năm,  tất cả đều sẽ không còn sao? Chẳng có gì khác biệt lắm. Nhưng điều ở lại trong họ mới thật sự là bất tử: một tâm hồn đã trở thành vô giá,  một hạnh phúc đã trở thành biển cả,  và một bài học sống mãi với thời gian: “ Cho đi tất cả,  có nghĩa là sẽ trở thành tất cả.” Vậy thì chúng ta còn phải chờ đợi điều gì nữa? Hãy bước ra và dâng tặng vào cuộc sống kia bằng tất cả sự giàu có của tâm hồn,  bằng tất cả sự quý báu của con tim. Thiên đường đang chờ đón bạn.

VẾT THƯƠNG KHÔNG THỂ LÀNH

Thời nhà Thanh có một người tên Chu Thanh, từ nhỏ đã kế thừa nghề y của cha, nhưng y thuật lại chỉ thuộc dạng lang băm. Một ngày, có người đàn ông họ Trương, khoảng tầm hơn 40 tuổi đến khám bệnh, trên ngực ông ta có một vết thương dài, miệng vết thương như chén trà nhỏ, ăn thẳng tới phía sau lưng, máu mủ tanh hôi khiến ông ta đau đớn rên rỉ không ngừng. Chu Thanh xem bệnh xong, liền chậm rãi nói: – Vết thương này nằm ngay lồng ngực, gần như xuyên qua tim, để lâu sẽ rất nguy hiểm, nếu như không có viên trân châu cỡ lớn làm thuốc để trị, thì bệnh này rất khó trị hết. Gã họ Trương vừa nghe xong, vui mừng khôn xiết, giống như chết đuối vớ được cọc, mừng rỡ nói: – Chỉ cần có thể trị khỏi bệnh, đừng nói một viên trân châu, một trăm viên ta cũng không tiếc. Thực ra gã lang băm Chu Thanh cũng không chắc có chữa được bệnh không, chỉ là vì muốn hốt bạc của bệnh nhân nên mạnh mồm nói vậy thôi. Sáng sớm hôm sau, gã họ Trương liền mang đến mười viên trân châu lớn giao cho Chu Thanh lựa chọn. Chu Thanh làm bộ làm tịch, lấy một viên trân châu trong số đó, mài ra thành bột mà đắp lên vết thương. Gã họ Trương giống như được cứu thoát, vội đứng dậy, trả thù lao hậu hĩnh, rồi từ biệt rời đi. Lúc này, bên cạnh có một bệnh nhân họ Lý chứng kiến từ đầu đến cuối, hỏi Chu Thanh: – Chẳng lẽ bệnh của ông ta có thể trị được sao? Chu Thanh không để ý, trả lời cho qua chuyện: – Có thể trị được! – Người này hẳn là phải chết ! Khuyên tiên sinh không cần lãng phí y dược. Chu Thanh kinh ngạc, hỏi: – Chẳng lẽ ông cũng hiểu y thuật sao? Người họ Lý trả lời: – Ta không hiểu về y thuật, nhưng ta biết về quá khứ làm chuyện xấu của người này, hắn là đang gặp báo ứng, cho nên tôi tin rằng hắn ta ắt sẽ phải chết. Rồi người họ Lý từ từ kể lại. Hóa ra, trước kia, thời buổi binh biến loạn lạc, anh ta từng cùng đi lính chung với gã họ Trương trong quân ngũ. Khi đó, quân lương không đủ dùng, đói kém liên miên, nên quân lính phải đi cướp bóc của dân, nhưng chỉ là cướp đồ vật, chưa có ai dám đả thương hay hại mạng người. Một ngày, có một ông lão dắt theo hai đứa nhỏ một trai một gái chạy nạn đi ngang qua. Đứa con trai khoảng mười mấy tuổi, đứa con gái khoảng tám chín tuổi, đều là cháu của ông lão. Tia thấy con mồi, gã họ Trương cùng với họ Lý lập tức cầm đao ra chặn đường cướp, ông lão cầu xin nói: – Tôi chỉ có hai mươi lượng làm lộ phí, xin được đổi tiền giữ mạng, mong các hảo hán tha cho một con đường sống. Gã họ Trương liền thu tiền và thả bọn họ đi. Được một lúc, họ Trương bỗng nhiên khựng lại như phát hiện ra điều gì, hắn nói với họ Lý: – Hiện tại thời tiết còn không lạnh lắm, lão già đó lại mặc áo bông rất dày, bên trong nhất định có tiền bạc. Vì thế hai gã họ Trương, họ Lý phấn khởi quay lại, chưa đến một phút đã đuổi kịp ba người già trẻ. Ông lão thấy có người đuổi theo, vội quỳ xuống xin tha: – Ta không còn có tài vật gì nữa rồi, giờ chỉ còn biết đi ăn xin nữa thôi!. Gã họ Trương nói: – Vậy để lại chiếc áo bông đó đi. Ông lão nghe xong, nước mắt giàn giụa nói: – Ngày đông giá rét căm căm, cởi bộ y phục này ra nhất định sẽ chết cóng mất. Ta tuổi đã già, chết cũng không có gì hối tiếc, chỉ là hai đứa nhỏ này sẽ không có người chăm sóc. Gã họ Trương cười lạnh lùng: – Ông đã nhọc lòng với hai đứa trẻ này đến vậy, thì hãy để ta giúp. Dứt lời, liền giơ tay chém xuống, lưỡi đao lạnh lùng lướt qua, hai đứa trẻ đáng thương ngã xuống chết ngay, toàn thân đẫm máu. Ông lão thấy thế, bi phẫn tột cùng, gào khóc lao vào gã họ Trương liều mạng. Gã họ Trương sát khí đằng đằng, cầm đao đâm thẳng vào ngực ông lão. “Xoạt” một tiếng, đao từ trước ngực xuyên thủng tới lưng, tạng phủ lòi ra, ông lão lập tức ngã xuống đất chết ngay, đôi con mắt vẫn mở trừng trừng nhìn tên sát nhân. Còn hắn thì vẫn điềm nhiên dùng chiếc đao dính máu mở chiếc áo bông ra, thì thấy trong đó có rất nhiều trân châu, mấy chục cây vàng lá. Thấy thế, hắn liền lột chiếc áo bông của ông lão ra, bọc vàng và số châu ngọc lại, mang tất cả đi. Sau này xuất ngũ, trở về nhà, gã họ Trương phất lên rất nhanh nhờ số tiền hắn cướp được. Hôm nay, sau nhiều năm họ Lý gặp lại hắn, dù gương mặt hắn đã già đi nhưng vẫn còn nhận ra, xong hắn thì không còn nhận ra họ Lý nữa. Họ Lý lại thấy được vết thương của gã họ Trương, giống y như vết thương mà hắn đã gây ra cho ông lão. Quả là báo ứng mà, họ Lý rùng mình cảm thán trước cái quy luật vay trả tuần hoàn của Nhân quả. Bởi vậy, sau khi gã họ Trương rời đi, ông mới nói : – Vết thương đó của ông ta, lẽ nào còn có thể chữa khỏi? Quả nhiên, vết thương của gã họ Trương sau đó chẳng thuyên giảm chút nào dù đã chữa chạy khắp nơi. Vết loét càng mưng mủ nặng hơn, ngày đêm hành hạ hắn đau đớn, rên siết khổ sở ngày này qua tháng khác. Mãi sau mới chết được. (Tuệ Tâm dịch)

TIẾT LỘ SỰ THẬT rùng rợn của nghề LUYỆN ÂM BINH

(Quang Tử, viết lại từ lời kể của Akai Shiudichi) Cách đây khoảng gần 20 năm về trước, trong một đêm đông lạnh giá, ngồi trên bếp lửa hồng, ông nội tôi kể cho tôi nghe một câu chuyện mà tới giờ tôi vẫn nhớ rõ vẻ mặt thất thần của ông tôi lúc kể lại. Ông nội tôi tên Hương, ông có một người bạn thân lâu năm tên là Lý. Ông Lý ở quê sống rất tốt với mọi người, và thường giúp đỡ bất kì ai gặp khó khăn hoạn nạn trong làng. Chẳng ngại khó ngại khổ, cứ có ai nhờ là ông ấy giúp tận lực, thế nên gần xa ai ai cũng quý mến ông Lý. Chẳng hiểu thế nào, người tốt như ông ấy cuối đời lại thê thảm. Năm ấy ông Lý 49 tuổi, bỗng dưng đổ bệnh nằm liệt giường. Bệnh tật hành cho ông đau đớn, lê lết, rên rỉ hết ngày này qua tháng khác, thuốc thang gì cũng chẳng đỡ. Thế rồi sau 3 tháng liệt giường liệt chiếu, ông Lý ra đi trong sự đau xót khóc than của con cháu và hàng xóm láng giềng. Trước khi mất, ông Lý có gọi ông nội tôi tới, nắm chặt tay như muốn thầm cảm ơn ông nội tôi, ông tôi chỉ lặng lẽ gật đầu, dường như giữa hai người có một bí mật nào đó. Có người thấy ông Lý sống tốt như thế, lại chẳng có lấy một cái chết yên lành, thì ngửa mặt lên trời mà trách than. Còn ông nội tôi thì chỉ chỉ lặng lẽ thở dài, vì chỉ có ông là người duy nhất biết rõ ngọn ngành. Chuyện là hồi ông nội tôi còn trai tráng, ông cùng với ông Lý, khi ấy là một chàng trai lanh lợi, tràn trề sức sống. Hai người rủ nhau đi đào vàng ở những vùng núi xa xôi trên Lai Châu. Một thời gian dài đào vàng vất vả ở trên đó, cũng không kiếm được nhiều, nên ông nội tôi và ông Lý có ý định làm hết tháng, lấy tiền công rồi về tìm việc khác để làm. Hôm đó khi hết ngày làm việc, mặt trời đã xuống núi, trên đường ra suối tắm, ông Lý gặp một ông già người dân tộc Mông tên là Hoa, không biết hai người nói với nhau những gì, nhưng tối hôm đó, ông Lý có rủ ông tôi đi cùng tới nhà ông Hoa người dân tộc Mông ấy. Đó là một căn nhà sàn khang trang, vào bên trong, gặp ông lão người Mông, thấy ông ấy đã pha trà đợi sẵn từ bao giờ. Nghe hai người nói chuyện, ông nội tôi mới biết ông Hoa – lão người Mông đó là thầy phù thủy thờ âm binh. Khi gặp Lý, thấy tướng của Lý hợp căn với mình, nên ông Hoa muốn truyền nghề lại, một là để không bị thất truyền, hai là nhân đó có thể giúp đỡ cho nhiều người khác nữa. Thấy Lý hiền lành, có thiên phú dị bẩm, nên ông Hoa quyết định dạy cho Lý tất cả những gì mình biết. Và từ đó, Lý bước vào những chuỗi ngày tu luyện gian khổ, từng bước trở thành thầy phù thủy luyện âm binh, những tháng ngày khó quên trong cuộc đời Lý. Nói đến âm binh, có lẽ cũng cần giới thiệu qua một chút, đó là những hồn ma chưa được đầu thai, xong không được ai thờ cúng, vất vưởng đầu đường xó chợ, lang thang khắp nơi từ rừng hoang đến thôn ấp, thị thành… Vì không ai cúng cho ăn nên, chúng đói khổ thê thảm, người đời hay gọi là ma đói, trong kinh Phật gọi là ngạ quỷ. Hễ nơi đâu có cúng thí thực thì tranh nhau đến giành ăn, nhưng cũng chẳng thấm vào đâu, vì người cúng thì ít mà ma đói thì nhiều. Lợi dụng điểm này, các thầy phù thủy triệu hồi chúng về, cho ăn hàng ngày, rồi dần dần sai khiến chúng làm theo mệnh lệnh thông qua các bùa phép.Thông thường, các vong linh được các thầy phù thủy triệu hồi về để làm âm binh, cũng đều là những vong linh rất cang cường, hung dữ. Và từ đó, chúng trở thành âm binh, phục tùng mệnh lệnh của thầy pháp. Nhưng nhiều khi chúng cũng sẽ phản lại thầy, khi không được cho ăn đầy đủ, khi thực hiện không đúng quy cách, hoặc khi thầy phù thủy bị suy yếu pháp lực. Cho nên luyện âm binh là con dao hai lưỡi, rất nhiều thầy cuối đời bị âm binh vật ngược trở lại, chết thê thảm. Bước đầu tiên luyện âm binh, là luyện mắt. Mắt mà không thấy âm binh, thì nói gì đến điều khiển nữa. Ông Hoa dạy Lý, tối nào cũng ngồi 3 giờ liền, nhìn thẳng vào ngọn nến mà cố gắng không chớp mắt. Nhiều khi nước mắt chảy ròng ròng, hai nhãn cầu đỏ ngầu như muốn nổ ra, Lý chỉ muốn bỏ cuộc … Nhưng Lý cũng rất cố gắng để vượt qua, tối nào cũng kiên trì đánh vật với cây nến. Sau khoảng 2 tháng thì thành công, đó là khi Lý có thể nhìn thẳng vào mặt trời mà không chớp mắt. Bước thứ hai, là luyện âm khí. Tối tối, sau 10h đêm, theo lời thầy dạy, Lý xách một xô nước đi tới bãi tha ma, cách lán ở khoảng 2km. Khi tới nơi đổ nước xuống đất, rồi nằm lên trên. Trước 5h sáng thì trở về, đủ 100 ngày như vậy là thành công. Nhưng trên đường đi hoặc về, không được gặp bất kỳ ai, và không để bất kỳ thứ gì rơi vào trong xô nước đó. Nếu gặp người nào đó, hoặc có cái gì đó rơi vào xô nước thì coi như hôm đó thất bại, phải làm lại. Đêm đầu tiên Lý xách xô nước đi tới bãi tha ma, đổ xuống và nằm lên. Một mình giữa bãi tha ma tối tăm, Lý vừa run vừa sợ, nằm xuống không dám mở mắt ra. Cả đêm đó sợ không ngủ được. Vài đêm sau thì Lý mới quen dần. Những đêm sau nữa, Lý có thể nằm ngủ ngon lành cho tới trước 5h sáng, rồi thức dậy ra về. Chẳng mấy chốc Lý đã ngủ ở bãi tha ma 99 đêm thành công. Tới đêm cuối cùng, Lý có một cảm giác rất lạ. Dường như có ai đó luôn đi phía sau mình, mà khi ngoảnh lại thì chẳng thấy ai. Tới bãi tha ma, vừa đổ nước xuống, nằm lên, và nhắm mắt lại. Được một lát, Lý bắt đâu nghe thấy những tiếng kỳ lạ, tiếng khóc, tiếng cười hỗn độn đan xen. Lý mở mắt bật dậy, con ngươi muốn nổ ra, toàn thân run rẩy. Trước mắt Lý là những cảnh tượng hãi hùng chưa từng thấy trong đời. Đây thì những đứa trẻ đầu tóc bù rù khóc đòi mẹ, kia thì kẻ cầm bát xin ăn, kia nữa là những thân hình không đủ bộ phận, những hồn ma hình dáng kì dị, ghê rợn, đủ mọi sắc thái, chập chờn thoắt ẩn, thoát hiện trước mắt Lý. Đó chính là lúc thành công giai đoạn hai, nằm 100 đêm trên nước ở bãi tha ma, âm khí đã ngấm sâu vào người Lý. Và Lý trở thành người nửa âm, nửa dương, có thể nghe thấy, nhìn thấy những hồn ma, bước vào thế giới của ma quỷ. Bước thứ ba, đó là triệu hồi các hồn ma về, luyện chú thuật để điều khiển chúng. Lý được ông Hoa dẫn vào trong căn phòng thờ âm binh. Ngước mắt nhìn quanh, thấy trên cao nhất là một chiếc đầu lâu, và hai bên là hai mảnh xương sườn người. Ông Hoa nói, xương đó là ông lấy từ dưới mộ người bị sét đánh chết, bên dưới là một bát hương to. Lý rót ba chén rượu, lấy dao trích đầu ngón tay lấy ba giọt máu nhỏ vào, rồi thắp một nén hương, thực hiện nghi lễ gọi hồn ma tới. Mỗi tối một nén hương, khi nào thắp đủ 100 nén, thì âm binh đã được triệu hồi về đầy đủ, và có thể sai đi làm việc được. Đủ 100 ngày triệu hồi âm binh, rồi được ông Hoa chỉ dạy thêm tất cả những ngón nghề bắt quyết, phù chú, vẽ bùa…Lý tiến bộ rất nhanh, chẳng phụ công thầy dạy dỗ. Sau rất nhiều vất vả, Lý cuối cùng cũng đến ngày chính thức trở thành thầy phù thủy, có thể đi kiếm tiền nhờ khả năng điều khiển âm binh. Có một điều quan trọng, mà ông Hoa nhắc đi nhắc lại, đó là 10h tối cho âm binh đi, tới đúng 5h sáng phải gõ chuông gọi quân về. Nếu quá giờ mà quên gọi về, các cửa âm phủ bị đóng lại, âm binh bị chặn không về được, sẽ bị Hắc Bạch Vô Thường cùng quan binh Âm Ty truy đuổi. Như vậy chúng sẽ ghim hận, tìm tới thầy và trả thù. Và khi gọi chúng về, phải có sẵn một lễ khao quân gồm nhiều thứ, để thiết đãi cho chúng ăn, không thì chúng đói, sẽ phản lại thầy. Phải đặc biệt chú ý điều này, không được quên. Khi mới vào nghề, Lý khởi nghiệp bằng cách gọi những vong hồn mới chết về để người thân hỏi chuyện. Có ai thuê, Lý bảo họ ngồi vào điện thờ, thắp hương và viết vào giấy tên tuổi, nơi sinh và nơi mất của vong hồn, rồi cho âm binh đi tìm vong hồn ấy và kéo về, trả lời những câu hỏi của người nhà. Cứ thế, mọi thắc mắc của những người thuê Lý đều được trả lời thỏa đáng, mọi người truyền tai nhau. Và dần dần, Lý cũng được nhiều người biết đến. Rồi ngày càng đông người tìm tới Lý nhờ gọi hồn hơn. Có những người có thân nhân bị chết không thấy xác, tìm tới Lý nhờ giúp đỡ. Theo lời Lý dặn trong giấy, quả nhiên sau mấy ngày họ tìm được thi thể. Từ đó về sau, danh tiếng của Lý càng nổi. Sự nghiệp tiến triển, Lý chuyển sang tập làm những thứ khó hơn. Lý bắt đầu điều khiển quân binh cho đi làm những việc như tát nước, chặt gỗ…mỗi khi có người thuê. Và đoàn âm binh của Lý tỏ ra rất đắc lực. Mọi việc đều được tiến hành từ 10h đêm cho tới 5h sáng. Đúng 5h, Lý gõ ba hồi chuông gọi quân về, và không quên làm sẵn một mâm cúng thịnh soạn để khao quân. Thành công đến với Lý quá nhanh, quá nguy hiểm. Chỉ ba năm, Lý đã có thể thành thạo đưa quân đi làm những việc mà ông Hoa – sư phụ của Lý phải mất 5 đến 7 năm mới làm nổi, danh tiếng nổi như cồn. Lúc này, Lý thấy tự mãn với khả năng của mình. Lý quyết định vượt qua hàng rào những lời răn dạy của sư phụ, bắt đầu nhận lời làm những việc táo bạo hơn như đưa âm binh đi hại người. Đó là điều cấm kỵ của người luyện âm binh. Lúc còn học nghệ, ông Hoa đã dặn đi dặn lại, dù thế nào đi nữa cũng không được dùng âm binh để hại người, vì ắt sẽ ặp quả báo. Thầy pháp có cao tay ấn đến mức nào, đứng trước quả báo, cũng chỉ là muỗi mòng mà thôi. Lý đã phớt lờ đi những lời răn của sư phụ. Đồng tiền đã che tai, bịt mắt Lý lại, cứ thế càng ngày Lý càng dấn sâu hơn vào những phi vụ đen tối, đem âm binh đi hại người. Lý đâu biết chúng sẽ nhấn chìm cuộc đời Lý sau này. Không ít những tên chủ bãi vàng, những tên buôn lậu bỏ ra số tiền không nhỏ, để nhờ Lý triệt hạ các đối thủ cản bước làm ăn của chúng, và Lý đều nhận lời. Lý chờ đêm đến, cứ sau 10h là điều âm binh tìm đến những lán trại của những người được thuê để triệt hạ, rồi lệnh cho âm binh đốt lán trại giữa đêm, làm cho những người ấy chạy không kịp đều bị thương. Có những chủ bãi vàng khi chạy còn bị âm binh chặn đường, xô cho ngã xuống núi, dù không chết nhưng cũng tàn tật. Lý không có ý định giết họ, mà chỉ làm vừa chừng để họ bị thương tật, và không sức làm gì được mà thôi. Những việc làm đen tối của Lý ngày một nhiều, cuối cùng cũng đến tai của ông Hoa. Ông không kìm nén được tức giận, lập tức tìm đến gặp Lý. Ông Hoa mắng mỏ hắn một trận. Hắn vẫn lễ phép vâng dạ với thầy, hắn nói là hắn không dùng âm binh giết người, mong thầy hiểu cho. Ông Hoa thấy trong đôi mắt của Lý giờ chỉ có tiền. Ông bất lực, biết mình có nói gì cũng vô dụng. Không khuyên ngăn được Lý, ông đành thở dài mà ra về. Sau những ngày trầm tư suy nghĩ, không muốn đệ tử mình dấn sâu thêm vào vực thẳm tội lỗi. Ông Lý đã giải nghệ mấy năm, không còn nuôi âm binh nữa. Nên ông đành quyết định tìm tới một thầy phù thủy khác, nhờ ông ấy đem âm binh của mình đến đánh úp quân của Lý. Mục đích là chặn Lý lại, buộc hắn phải dừng tay tạo ác. Và cuộc chiến giữa các thầy phù thủy bắt đầu nổ ra. Vì Lý không biết trước, nên khi quân âm binh của thầy phù thủy kia bất ngờ ập đến, bao vây tứ phía. Rồi ào ào xông tới quyết chiến, âm binh của Lý đành chỉ biết đau khổ chống đỡ. Lớp bị chém, bị đâm xối xả, lớp gục xuống gào thét đau đớn… Đêm hôm đó, trong làn gió mọi người gần xa đều ngửi thấy mùi tanh của máu. Trẻ con đứa đang nín thì khóc thét lên, còn đứa đang khóc thì tái mét, nín bặt lại. Người ta còn nghe thấy những tiếng kêu thất thanh hòa vào trong gió, rợn hết cả người. Sau đêm đó, đoàn âm binh của Lý thương vong rất nhiều. 5h sáng, khi Lý gõ chuông rút quân về, Lý tá hỏa sực nhớ ra, rằng mình đã quên không chuẩn bị lễ khao quân như mọi khi. Vừa bị đánh cho thương tích tơi bời, vừa mệt mỏi, đói khát cồn cào. Đã vậy về nhà lại không được cho ăn. Đám âm binh đùng đùng nổi giận. Bao nhiêu bức xúc chúng dồn hết lên đầu Lý. Chỉ chớp mắt, chúng ào ào xông tới tấn công, khiến Lý không kịp trở tay. Không biết chúng đã làm gì, nhưng khi sáng ra, ông nội tôi bước vào, chỉ thấy Lý nằm vật trên sàn, mắt nhắm, miệng ú ớ mãi mới nói được một câu : “T..tì…tìm ông Ho…Hoa ! “ Rồi lăn ra bất tỉnh. Ông nội tôi lập tức chạy tới nhà ông Hoa để cầu cứu. Nhưng ông lão từ chối. Ông nói Lý đáng bị như vậy, gieo nhân nào gặp quả nấy, có bị thế thì mọi người mới yên được. Nếu cứu Lý thì hắn ắt sẽ ngựa quen đường cũ. Không thể ngồi trơ mắt nhìn bạn mình chết, ông nội tôi đã quỳ trước cửa nhà ông Hoa khẩn cầu ông ra tay cứu Lý. Đáp lại ông là vẻ mặt cương quyết của ông Hoa: Không là không! Thực ra, ông Hoa có một nỗi khổ dấu kín trong lòng, chứ chẳng phải lòng dạ ông sắt đá. Trong tâm ông khi ấy cũng giằng co dữ dội. Một ngày một đêm trôi qua, ông nội tôi vẫn quỳ ở đó, nhất quyết không đứng dậy cho đến khi ông Hoa nhận lời. Cuối cùng, ông Hoa cũng mềm lòng, đành phải gật đầu đồng ý. Ông cùng ông nội tôi đi tới nhà của Lý. Tới nơi, ông nội tôi thấy toàn bộ khu vực quanh đó âm u, lạnh lẽo đến rợn người. Còn ông Hoa thì thấy rất nhiều âm binh mặt mày hung tợn còn đang bao vây quanh đó, chưa chịu buông tha cho Lý. Ông Hoa đứng yên lặng một lát quan sát, nét mặt toát lên sự sợ hãi. Rồi ông bước vào nhà, nhìn thấy Lý nằm bất động trên giường, đôi mắt vẫn nhắm. Ông biết, tình hình đã trở nên cực kì nghiêm trọng. Nếu không ra tay sớm, không chỉ Lý sẽ chết mà còn kéo theo bao nhiêu hậu họa về sau, vì lũ âm binh giờ đây đã mất kiểm soát, chẳng ai điều khiển được chúng nữa. Để càng lâu, chúng càng trở nên mạnh hơn và lôi kéo đông âm hồn tụ về, biến thành một âm sào quỷ huyệt, tác quái gây hại cho dân. Khổ nỗi ông Hoa đã già, lại đã giải nghệ, không còn ở thời kỳ phong độ như xưa, không còn đủ sức mạnh để khống chế đám âm binh hung tợn đó. Không còn cách nào khác, ông Hoa phải lặn lội mời tới sư huynh của mình, thủa xưa cùng học pháp thuật chung một thầy, tên là Hoàng. Nể tình đồng môn huynh đệ, cũng vì muốn cứu một mạng người, ngăn chặn hậu họa mai sau, ông Hoàng nhận lời. Khi hai người vừa tới trước cửa nhà Lý, ông Hoàng bỗng dừng lại, đôi mắt đăm chiêu nhìn vào căn nhà đó. Hồi lâu, ông lắc đầu, vẻ mặt nghiêm trọng, từ từ đưa ánh mắt e ngại nhìn sang ông Hoa. Dường như đã hiểu được ông Hoàng nói gì, nên ông Hoa chỉ biết nắm chặt tay sư huynh như muốn cầu cứu. Thở dài một hơi, ông Hoàng nói: – Đó là nghiệp của hắn, đã gây ra ắt phải chịu quả báo. Cả ta và đệ đều hiểu, nếu muốn cứu hắn, nặng thì mất mạng, nhẹ thì cũng trở thành phế nhân. Dù biết điều đó, nhưng ông Hoa vẫn muốn cứu Lý. Dù sao thì ông cũng là người đưa Lý vào nghề, ông cũng có trách nhiệm trong chuyện này. Nhưng ông Hoàng thì không thể mạo hiểm tính mạng của mình vì việc này. Ông quyết định rút lui. Nghĩ tới tình nghĩa đồng môn, ông Hoàng rút trong túi đưa cho ông Hoa một quyển sách đã ngả màu, cũ đến mức không thể cũ hơn được nữa. Đó chính là quyển bí kiếp trận pháp trừ tà, do sư phụ hai ông để lại. Theo quy củ môn phái, cuốn bí kiếp này chỉ truyền lại cho đại đệ tử, thế nên chỉ ông Hoàng mới có. Nhưng tình thế đã trở nên cấp bách, không lẽ trơ mắt nhìn sư đệ đi vào chỗ chết mà không trợ giúp chút nào, ông Hoàng đành phá lệ giao bí kiếp cho sư đệ mình. Dặn sư đệ bảo trọng, rồi quay lưng bước đi. Ông Hoa thở dài. Tay lật từng trang sách, mắt chăm chú không rời. Mấy ngày trôi qua, sau khi đã nghiên cứu kĩ các loại trận pháp trong cuốn bí kiếp. Ông Hoa quyết định sử dụng trận đồ Bát Quái để phong ấn, nhốt đám âm binh ấy lại. Đây là một pháp trận rất mạnh, tuy nhiên, nó đòi hỏi pháp sư phải tổn hao rất nhiều pháp lực để triển khai. Mà ông Hoa thì giờ đã già, lại giải nghệ một thời gian, pháp lực sút giảm đi rất nhiều. Nhưng mặc kệ, ông quyết liều cái mạng già của mình, thế nào cũng phải nhốt đám âm binh đó lại, cứu đệ tử mình thoát khỏi nguy kịch. Ông Hoa gọi ông tôi đến để phụ ông chuẩn bị cho trận đồ trấn yểm. Ông sai đào một cái hố bát giác hình mai rùa, rộng chừng 20 mét vuông, sâu nửa mét. Lấy 8 chiếc cọc cao tầm đầu người, chiếu theo 8 vị trí của Bát quái, đóng sâu xuống 8 góc, chỉ để nhô lên mặt đất khoảng nửa mét. Ông Hoa làm phép gì đó, yểm vào 8 cái cọc, ông tôi xem không hiểu. Tiếp đến, ông lấy ra một loại pháp dược lỏng màu đen, vẽ lên đất nối 8 cái cọc đó với nhau, thành hình Bát quái. Rồi lại tìm hai con mèo một đen một trắng, đặt vào hai điểm tương ứng như hai mắt âm dương trong thái cực đồ. Sau nhiều ngày vất vả chuẩn bị, một pháp trận kiên cố đã hình thành, chỉ chờ đúng ngày, đúng giờ để kích hoạt. Ông Hoa đợi đến đúng rằm tháng 7, ngày mà âm khí mạnh nhất trong năm, chuẩn bị một mâm lễ cúng thịnh soạn, dặn ông nội tôi nửa đêm sẽ hành động. Đêm ấy, dưới ánh trăng mờ ảo, ông Hoa và ông nội tôi đem lễ vật vào trong giữa trận đồ Bát quái, cùng với một bát hương thật to. Ông Hoa đốt đúng 100 nén hương cắm vào đó. Ông Hoa giải thích, để dẫn dụ được đám âm binh ấy tiến vào trận đã bày sẵn, cần bày một lễ cúng. Chúng lâu ngày đang đói cồn cào, ta đem đồ ăn thức uống bày ra mời chúng. Thể nào chúng cũng trúng kế mà ào ào tiến vào giữa trận. Khi ấy, ông sẽ làm phép kích hoạt trận pháp, nhốt chúng lại, giết chúng thì làm không nổi, nhưng chúng cũng không thể thoát ra khỏi trận, đó gọi là phong ấn. Tiến hành trận pháp này hao tổn rất nhiều dương khí. Mà khi luyện thành thầy phù thủy, ông Hoa đã thành người nửa âm nửa dương, dương khí của ông chỉ còn một nửa so với người bình thường. Thế nên sau trận này, ông Hoa sẽ tổn hết dương khí, không thể sống tiếp. Giờ tý, đúng nửa đêm, ông Hoa rút ra một tờ giấy màu vàng, dùng bút chấm vào một dung dịch sền sệt màu đỏ, viết lên giấy những kí tự ngoằn nghèo, đầy bí hiểm. Chẳng phải giải thích thì ông tôi cũng biết ngay đó là vẽ bùa. Còn cụ thể là bùa gì thì trời biết, đất biết, ông Hoa biết, chứ ông nội tôi còn lâu mới biết. Xong xuôi, ông Hoa ngồi xuống, tay bắt quyết, miệng râm râm đọc thần chú bằng một thứ tiếng kì quái mà ông nội tôi chưa nghe thấy bao giờ. Lập tức, cảnh vật biến đổi khác thường. Những đám mây đen ùn ùn kéo đến, che kín ánh trăng vằng vặc của đêm rằm tháng Bảy. Bầu trời phút chốc đã chuyển sang tăm tối, mù mịt. Những cơn gió bỗng nhiên rít lên từng cơn như những tiếng gào thét đầy ma quái. Cát bụi bị thổi tung mù mịt, những ngọn cây nghiêng ngả như muốn văng khỏi mặt đất. Ông Hoa thì thầm vào tai ông tôi, nói rằng đó là đám âm binh đang kéo đến đánh chén. Hai người tiếp tục nằm án binh bất động, đợi một lúc cho chúng đến đông đủ. Bất chợt, ông Hoa vùng đứng dậy, vụt đến chỗ trận pháp, lẹ làng như một cơn gió. Ông rút ra một lá bùa màu vàng, tay bắt quyết, miệng đọc chú, rồi nhanh tay dán vào một trong 8 cây cọc, kích hoạt trận đồ Bát quái. Đám âm binh thấy động, lập tức ào ào xông đến tấn công ông Hoa. Nhưng vừa đến đường kẻ ranh giới của trận pháp, một mãnh lực khủng khiếp đánh văng chúng trở lại. Đau đớn, chúng gào lên điên dại, mắt trợn lên hướng về phía ông Hoa gầm gừ. Rất nhanh, chúng nhận ra mình đã bị vây chặt ở đây. Tất nhiên, chúng đâu có dễ dàng chấp nhận. Lớp này đến lớp khác, điên cuồng đem hết sức lực, cố xông ra khỏi kiết giới hình bát giác. Nhưng vô ích, mỗi lần chạm vào kiết giới, chúng giật nảy lên như bị điện giật, đánh bật trở lại. Tất nhiên, cảnh tượng này chỉ có ông Hoa là thấy, ông tôi chỉ là sau này được ông Hoa kể lại. Ở bên ngoài, ông Hoa bộ pháp nhanh thoăn thoát, vừa di chuyển quanh 8 chiếc cọc, vừa đọc chú, yểm bùa vào từng cái cọc. Xong rồi đốt bùa. Ngọn lửa bùng lên, lập lòe như ánh ma trơi giữa núi rừng mông quạnh. Khi lá bùa cuối cùng cháy hết, ông Hoa khụy xuống, đổ sụp trên nền đất. Ông nội tôi vội lao đến, đỡ ông dậy. Chỉ thấy gương mặt ông Hoa tái nhợt, ánh mắt thất thần, người không còn chút sức lực nào cả, dương khí trong ông đã tiêu hao hết. Ông tôi cõng ông Hoa về nhà nghỉ ngơi. Rồi theo lời dặn của ông Hoa, ông tôi quay lại chỗ trận đồ Bát quái. Đóng tất cả 8 cọc ghim sâu xuống, rồi lấy đất lấp bằng cái hố bát giác đó lại. Thu gom mọi thứ, kiểm tra kĩ càng xong mới ra về. Theo như lời ông Hoa, nếu có ai đó vô tình đi ngang qua, táy máy rút một cái cọc lên, lập tức trận pháp sẽ sụp đổ, đám âm binh hung tợn ấy sẽ ào ào xông ra. Bao nhiêu căm hận vì bị giam nhốt thời gian dài phát tiết, chúng sẽ điên cuồng tấn công, ám hại dân quanh vùng, hậu quả khôn lường. Về đến nhà, ông Hoa lại đưa cho ông tôi một lá bùa, dặn đem đốt, rồi lấy tro hòa vào chén rượu, đem cho Lý uống. Quả nhiên, Lý uống xong, chỉ khoảng một tiếng thì tỉnh lại. Có thể đi lại binh thường, tuy nhiên sức khỏe không còn được một nửa như trước. Lý cũng hiểu được, đó chính là quả báo, mình làm thì mình chịu. Còn sống cũng là may mắn lắm rồi. Nghe ông tôi kể lại mọi chuyện, đôi mắt Lý rưng rưng lệ. Lập tức cùng ông nội tôi tới nhà sư phụ, cảm tạ ơn thầy đã liều mạng cứu mình. Thấy Lý tới, ông Hoa chậm rãi ngồi dậy, khoát tay ra hiệu không cần cảm ơn. Rồi ông thong thả khuyên Lý vài câu, đại khái là sau này phải cải ác tùng thiện, siêng năng tạo phước thật nhiều, mới có thể hóa giải phần nào những nghiệp chướng lúc trước đã tạo, có thế mới mong sống yên ổn được. Sâu trong lòng, Lý đã thực sự hối hận. Lý hứa sẽ làm đúng như lời ông Hoa căn dặn, và đó là những lời nói thật lòng. Nhìn gương mặt thầy mình hốc hác, già đi đến cả chục tuổi chỉ trong một đoạn ngắn thời gian. Bằng con mắt của một thầy phù thủy, Lý thấy âm khí đã bao phủ kín trên thân hình gầy guộc ấy, ông Hoa chẳng còn sống được bao lâu. Những giọt nước mắt muộn màng, lặng lẽ lăn dài trên má người đệ tử. Ông Hoa tiếp lời : – Thôi, con đừng buồn nữa. Con nhớ lời ta làm như vậy, ta đi cũng an lòng. 3 tháng sau, ông Hoa mất. Lý, ông nội tôi, cùng bà con khắp bản làng có mặt đầy đủ, tiễn đưa ông Hoa về nơi an nghỉ cuối cùng. Tiếng kèn đám ma bi ai, nặng trĩu tâm can những người có mặt. Những ngày sau đó, hàng đêm trong giấc mơ của Lý, luôn văng vẳng những tiếng kêu la, gào thét của lũ âm binh. Vì có một mối liên thông giữa chúng với Lý, nên dù không thoát khỏi trận pháp, chúng vẫn có thể hiện vào giấc mơ của Lý, đòi Lý thả chúng ra, không thì cũng dày vò tâm can Lý bằng đủ mọi cách ma mị mà chúng có thể làm. Đêm nào cũng vậy khiến Lý cực kì bất an. Cuối cùng, Lý cùng ông tôi từ biệt mảnh đất Lai Châu ấy, lên đường trở về quê nhà. Lý cố gắng xóa đi cái quá khứ bi thương ấy, bằng cách nỗ lực làm thật nhiều việc thiện. Ai nhờ gì là hăng hái giúp ngay, mà không nhờ Lý cũng giúp, chẳng bao giờ cần một sự báo đáp nào cả. Thế nên làng xóm ai cũng thương, cũng quý, mà mấy ai biết được hết ẩn tình đằng sau. Cho tận đến những ngày cuối đời, bệnh tật hành hạ ông Lý liệt giường chiếu, người đời cho rằng trời bất công. Còn ông nội tôi chỉ lặng lẽ thở dài, ông biết, luật Nhân quả một ly cũng không có sai, chỉ là không phải ai cũng tỏ tường sự thật đằng sau mà thôi. Kể tới đây đôi mắt ông nội tôi đỏ ngầu rưng rưng lệ. Ông quay sang nhìn vào mắt tôi, chậm rãi nói: – Cháu à, đừng bao giờ vì cái lợi của mình mà hại người khác. Thay vì thế, hãy giúp đỡ mọi người mỗi khi có thể… Đã nhiều năm trôi qua, nhưng câu nói của ông vẫn còn văng vẳng trong tâm trí tôi, luôn dẫn bước soi lối cho tôi trên những nẻo đường đời. ( Nguồn : Truỵenmacothat.net  )