LATEST ARTICLES

BỊ TAI NẠN ĐỘT T.Ử, BÀ MẸ LIÊN TỤC NHẬP VÀO KÊU OAN VÀ PHA XỬ TRÍ NGOẠN MỤC CỦA CON GÁI

Rảo bước trên con phố Lê Văn Hiến, thuộc phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, bà Thận chả mấy chốc đã tới cổng Học Viện Tài Chính. Trời đang là mùa đông, nhưng nay lại có nắng vàng rụm, đua nhau xen qua kẽ lá phủ xuống mặt đường, khiến không khí đôi phần ấm áp, không gian bừng tỉnh sau mấy ngày ủ dột. Quãng đường đi làm của bà vốn đã gần, vì thế càng rút ngắn hơn. Người tản bộ đi ngang qua, thường nghe tiếng niệm Phật lầm rầm, phát ra từ chiếc đài nhỏ bà đeo trên cổ, cũng có khi là tiếng niệm nho nhỏ của chính bà. Chiều về, tại căn nhà riêng trong ngõ 56 cũng trên phố Lê Văn Hiến, ông chồng bà ngồi vắt chân trên ghế, nhấp một ngụm chè, ánh mắt hướng về bà Thận, nhìn vợ nấu cơm nhưng miệng không ngừng ngớt “Nam Mô A Di Đà Phật”. Ông gằn giọng, nói vọng vào trong: – Đang sống sờ sờ ra, mà bà cứ nghĩ đến cái chết là sao? Bà Thận đáp lại bằng một nụ cười, hai tay vẫn thoăn thoắt nấu nướng. Lát sau, khi đã xong xuôi, mới trở ra với chồng: – Chết có hết đâu mà sợ, mình lại đầu thai kiếp khác. Đi về đâu mới là quan trọng, tôi chỉ muốn về Cực Lạc. Ông thở hắt ra một cái, lắc lắc cái đầu ra điều ngán ngẩm, mặc dù rất yêu vợ, nhưng thật tình chưa thể nào chấp nhận được tư tưởng kì lạ này. Gì mà “đầu thai” với “Cực Lạc”, toàn những thứ mơ hồ đâu đâu. – Tôi chả nói lại được, thôi mặc kệ bà. Bà Thận đã quen với thái độ của chồng, tuy không ủng hộ mình tu hành, nhưng ít ra cũng không gây cản trở, thế là may mắn lắm rồi. Vừa sắp xong mâm cơm, hai vợ chồng chuẩn bị bưng bát lên, thì Thương – cô con gái lớn mở cửa bước vào. – Ủa Thương? Qua mà không báo trước để mẹ nấu thêm chút đồ ăn, bữa nay cơm canh đơn giản quá. – Con ăn rồi ạ, con đi ra đây có việc, tranh thủ ghé qua một chút. Sao bố mẹ ăn muộn thế? – Chiều nay mẹ chép Phật hiệu, được hơn hai mươi quyển vở rồi đấy, mải mê quá nên quên cả giờ, để bố mày đói kia kìa, khổ thân. Tiện thể có con gái ở đây, chồng bà Thận được dịp than phiền: – Mẹ mày còn biết bố đói cơ đấy, lúc nào cũng “Nam Mô A Di Đà Phật” quên cả chồng. – Mẹ lúc nào chả nấu cơm cho bố, chắc thi thoảng mới nhỡ nhàng một bữa, bố sướng nhất rồi, mà vẫn bắt nạt mẹ. Bà Thận cười mỉm đồng tình, còn ông chồng bà im im chẳng nói gì, ánh mắt xéo lên nhìn vợ, ra vẻ lạnh lùng một chút lấy uy, nhưng trong đầu thầm công nhận. Quả thật, vợ ông đẹp người đẹp nết, sống hài hòa biết trên biết dưới, chu toàn gia đình, đối nội đối ngoại rất được lòng anh em. Tất nhiên chả ai hoàn hảo trăm phần trăm, nhưng nếu chấm điểm, ông ưu ái chấm cho vợ tám điểm trên mười. Bà Thận nuốt xong miếng cơm, chợt nhớ ra, muốn dặn dò Thương một việc trọng đại. Thực ra bà đã nói với gia đình từ khi Thương chưa lấy chồng, nhưng thi thoảng vẫn phải nhắc lại. – Khi nào mẹ mất nhớ niệm Phật cho mẹ, thắp hương chay tịnh con nhé, dặn thế! Ông chồng giật mình, lẩm bẩm: “Cái bà này, nói chuyện sống chết cứ như đùa”. – Mẹ hãy tinh tấn niệm Phật, đừng lo lắng nhiều. – Thương đáp. – Mẹ phải dặn nhiều lần cho chắc. Chuyện đại sự cả đời, lỡ một lần lúc lâm chung, biết đến đời nào kiếp nào mới được vãng sinh. Nhớ là không ai được khóc, kiếp người vô thường, có gì phải lưu luyến, mời được ban hộ niệm thì tốt, không thì cả nhà cứ chí tâm niệm Phật cho mẹ, kiêng giết chóc, cúng mẹ nhớ cúng chay, nhớ? – Mẹ yên tâm. Con nhớ rồi mà. Mẹ còn trẻ khỏe chán, còn lâu mới tới lúc đó. – Sinh tử bất chợt, biết đâu được trước. Ông chồng vội ngắt lời: – Thôi thôi, gở mồm quá. Đừng nói nữa, ăn đi cho tôi nhờ. Kể từ hồi biết Phật Pháp, bà Thận, tên đầy đủ là Ngô Thị Thận, vẫn cứ hay nói chuyện về sống chết với mọi người, ấy cứ bình thường như ra chợ mua rau vậy. Nếu trong họ có đám, bà khuyên mọi người bình tĩnh, không được khóc, chỉ nên niệm Phật. Chả bù hơn chục năm trước, khi chưa biết tu, thay vì thế, bà chính là người khóc to nhất nhà, ngất lên ngất xuống, nước mắt giàn dụa, đau xót không cầm được lòng. Thấy chồng biểu tình, bà Thận gật đầu đồng ý, chuyển sang nhắc nhở Thương: – Còn con? Từ ngày lấy chồng hình như lười tu phải không? Ai chả biết cơm áo gạo tiền, gia đình con cái là quan trọng, nhưng không thể vì thế mà chểnh mảng tu hành. Phải biết việc nào là đại sự. Con thành tựu đạo nghiệp, thì người thân về sau mới được nương nhờ. Giúp họ cơm ăn áo mặc chỉ là chuyện một đời, lo cho sự giải thoát của họ mới là chuyện lâu dài nhiều kiếp. – Đúng là mấy năm nay con biếng nhác hơn hẳn. Con cũng sốt ruột lắm chứ, mà cuộc sống cứ bận rộn mãi. Nói chuyện một hồi, hai ông bà đã xong bữa, đồng hồ điểm tám giờ tối, Thương vội vã trở về nhà với chồng con. Nhịp sống hối hả lại tiếp diễn với Thương, lo toan bộn bề nào gia đình, nào công việc, nào đủ thứ việc trên đời, bảo buông bỏ đi để theo một lý tưởng giải thoát nào đó, nói thì dễ, chứ để làm được… ây cũng thật là khó. Còn mẹ cô tu tập ngót nghét hơn mười năm, với những hiểu biết của mình, bà chắc mẩm bản thân không còn lưu luyến gì nơi thế gian này. Bà đối xử với người thân bằng sự yêu thương, nhưng không ái luyến, bi lụy. Khi thọ mạng hết, bà nghĩ sẽ sẵn sàng buông bỏ tất cả để về cõi Tịnh. Ngày tháng trôi qua, cuộc sống của bà đều ổn thỏa, những gì cần chuẩn bị, dặn dò cũng đã làm, hiện tại bà chăm chỉ niệm Phật, chờ tới lúc hết thọ mạng, đợi Phật tiếp dẫn. _______________________ …Rầmmmmm… Chiếc xe ô tô bảy chỗ từ đâu lao thẳng về phía vỉa hè, va phải một người phụ nữ luống tuổi, tài xế vội vàng thắng phanh… Kétttttttttt!!! Nhưng không kịp, bánh xe đã đè bẹp nạn nhân, cán đứt lìa phần chân từ đầu gối trở xuống, máu tươi chảy ào ào, đọng lại thành một vũng lớn. Người đàn bà đột tử, không kịp kêu một tiếng nào. “Ối giời ơi, đâm chết người rồi”. Một tiếng thét vang lên không rõ của ai, khiến cả đám đông lao tới. Vài người ngó nghiêng nhìn mặt nạn nhân, chợt có người nhận ra hàng xóm của mình: – Ôi, bà Thận ở ngõ nhà tôi mà. Ôi trời ơi, mau gọi người nhà ra. Nhà riêng của Thương ở quanh khu vực đó, chẳng mấy chốc cô đã có mặt tại hiện trường. Xác nhận đúng là mẹ mình, bà bị xe cán chết trên đường đi làm về, cô bàng hoàng, hai mắt đờ đẫn, thần trí hỗn loạn, không phản ứng được gì. Một hồi sau mới định thần, òa lên khóc. Hôm ấy là ngày 18/12/2023. Nửa tiếng sau, Thương hoàn hồn. Người đầu tiên cô gọi điện thông báo là chị bạn đồng tu thân cận, nói trong nước mắt: – Mẹ em bị tai nạn, không kịp cấp cứu, mất rồi chị ơi. Chưa để Thương nói tiếp, chị bạn hiểu ngay, ngỏ ý sẽ tụng Kinh Địa Tạng, niệm Phật, đọc thần chú Lăng Nghiêm hồi hướng công đức cho bà, nhắc nhở Thương về công tác chuẩn bị hậu sự, kẻo sợ Thương sốc quá lại chẳng nhớ gì. Rồi tang lễ cũng được chu toàn, ngày đưa tro cốt bà về quê chôn cất, gia đình một phen bất ngờ gặp lại bà Thận… Cả họ hàng đang có mặt tại nghĩa trang, bỗng một giọng nói ú ớ kì lạ vang lên, xen lẫn giữa những tiếng khóc than rên rỉ của thân quyến. Mọi người cùng một lúc đổ dồn ánh mắt về người chị họ của Thương. Thân thể cô gái chao đảo, giật cục nấc lên từng hồi, đôi mắt ngây dại, im im một lúc rồi khóc lóc dữ dội: – Tôi bị oan ông ơi, mẹ bị oan con ơi, tại người ta đâm vào mẹ. Mọi người căng tròn con mắt, chợt hiểu ra, biết hương linh bà Thận về kêu oan. Chồng bà Thận mấy ngày hôm nay đau buồn quá mức, tuy khá bất ngờ trước sự việc hồn về mượn xác, nhưng rồi cũng bất chấp lao tới gặp vợ. – Ối bà ơi, sao bà ra đi đột ngột thế, để lại tôi một mình đơn chiếc. Ngày đêm tôi biết nói chuyện với ai, ăn cơm với ai bây giờ? – Ông đừng buồn nữa. Nhớ đem tôi lên chùa sớm, tôi muốn về chùa. Đôi vợ chồng già, một âm, một dương cùng nhau khóc vang cả khu an táng. Thương nhìn cảnh ấy, tuy rằng rất xót xa, nhưng vấn đề làm cô lo lắng hơn cả, chính là việc vãng sinh của mẹ. Dù mẹ cô đã chuẩn bị cho giây phút lâm chung bao nhiêu năm, nhưng cuối cùng thì giờ này vẫn ở đây, tâm còn oán thán với vụ tai nạn, thương nhớ chồng con, lưu luyến cõi trần. Thương nhanh chóng nhắc nhở: – Mẹ ơi, nghiệp đã trả xong, mẹ đừng vương vấn nơi đây nữa, mau niệm Phật cầu Phật tới tiếp dẫn mẹ vãng sinh Cực Lạc đi, mẹ quên rồi sao? Thương vừa dứt lời, mẹ cô trong xác người chị họ bỗng dưng chắp hai tay vào nhau, ngồi kiết già, miệng lầm rầm “Nam Mô A Di Đà Phật” hòa cùng tiếng niệm Phật của Thương và con cháu quanh đó đang phát tâm niệm Phật cho bà, sau đó bà thoát trả lại xác cho chị họ Thương. Việc an táng cho bà Thận xong xuôi, mọi người về nhà, thời gian này có lẽ chồng bà là người bị ảnh hưởng tâm lý nặng nề nhất. Ông già đi hẳn, ủ rũ như người mất hồn, cả ngày chả đi đâu, cứ ru rú trong nhà… Thương vừa lo bố tinh thần không được ổn, vừa lo mẹ vẫn đau khổ trong cõi giới vô hình. Đây chính là lúc cô phải tận tâm dồn sức báo hiếu. Lập tức, cô nhấc máy nhờ được ba đạo tràng quen biết nhờ hồi hướng thêm công đức tu tập cho mẹ cô. Tranh thủ trong khoảng thời gian bốn mươi chín ngày, Thương tạo rất nhiều công đức, cốt để giúp bà Thận tiêu nghiệp, tăng phước, vãng sinh Tịnh Độ. Cụ thể, cô đúc tượng ngài Địa Tạng, khuôn tượng Phật A Di Đà, Bồ Tát Quán Thế Âm, in kinh Địa Tạng, một trăm cuốn kinh Lăng Nghiêm, một nghìn bản chú Lăng Nghiêm, cúng dường Tam Bảo, phóng sinh mỗi tuần thất. Trong căn nhà nhỏ cô quạnh, chồng bà Thận lụi hụi nấu cơm chay. Vợ ông đã nấu cho ông ăn cả đời, nay cơm cúng bà đều do ông tự tay vào bếp. Cả ông và các con đều ăn chay trong bảy tuần thất, riêng Thương phát nguyện chay trường cả đời. Thấy bố lụ khụ bê mâm cúng đặt lên ban thờ, Thương đang tụng kinh, cất tiếng hỏi: – Sao bố không bảo con bê lên cho? – Mày đang làm lễ cho mẹ thì cứ làm đi. – Con tụng kinh Địa Tạng, được gần ba mươi biến rồi, tranh thủ rảnh lúc nào con đọc lúc đó. – Ừ, cố gắng cho mẹ mày đỡ khổ. Hóa ra mẹ mày nói đúng, chết có hết đâu. Nói xong, ông lò dò đi xuống nhà, để con gái tiếp tục làm lễ. Kể từ ngày mẹ mất, Thương chăm chỉ, tinh tấn hơn rất nhiều, miệng cô lúc nào cũng niệm Phật, dù đang nấu cơm, quét nhà, rửa bát, lái xe v.v… cô đều tranh thủ niệm Phật y như cái cách bà Thận tu hồi còn sống. Bản thân cố gắng rất nhiều, trong lòng Thương cũng yên tâm hơn phần nào, hy vọng mẹ vì thế không còn đau khổ nữa. Cuối tuần, các cô bác trong họ lui về chùa tụng kinh hồi hướng cho bà Thận. Tiếng kinh chú đang ngân vang, chợt một cụ già run lên, mắt nhắm nghiền lim rim, rồi lại trừng lên sợ hãi. Bác của Thương ngồi gần đó, biết chắc có vong nào đó nhập về, mới hỏi: – Ai thế? Chợt bà cụ khóc òa lên: – Tôi bị oan quá. Người ta đâm vào tôi. Nghe tới đây, mọi người nhận ra ngay là bà Thận, bác của Thương lập tức an ủi: – Giờ em đừng bám chấp vào điều gì nữa, chỉ càng thêm đau khổ. Em ở chùa niệm Phật, tụng kinh cùng mọi người nhé. Bà cụ gật đầu lia lịa tỏ vẻ đồng ý, thoáng chốc hương linh bà Thận đã thoát ra. Lúc đó không có mặt Thương, nên khi nghe kể lại, cô rất lo lắng. Mình đã cố gắng tạo nhiều công đức như vậy, nhưng mẹ vẫn còn khổ, nói gì tới vãng sinh. Nghĩ tới đây, hai tròng mắt Thương hoe đỏ. Trong lòng cô dồn dập nhiều suy nghĩ. Không an lòng, cô ra chùa, cung kính quỳ trước Tam Bảo, phát nguyện: – Con xin phát nguyện ăn chay trường cả đời, cúng dường Tam Bảo, ấn tống kinh sách, bố thí trong khả năng của mình, đọc chú Lăng nghiêm và Kinh Địa tạng để làm lợi lạc cho chúng sinh, cầu xin đức Phật thương xót cứu linh hồn của mẹ con, tiếp dẫn mẹ con về Cực Lạc vĩnh viễn thoát khỏi khổ đau luân hồi. Con xin đem trường hợp của mẹ làm bằng chứng để mọi người tăng thêm tín tâm vào Phật Pháp. Xin Tam Bảo gia hộ. Trong lòng cô băn khoăn. Khi còn sống, bà Thận rất chịu khó tu hành, bản thân cô cũng làm nhiều công đức để hồi hướng, tại sao bà còn chưa thoát khổ? Thương đem những trăn trở này kể cho anh Quang Tử, một vị thiện tri thức mà cô theo dõi facebook từ lâu. Hiểu được vấn đề của Thương, anh hướng dẫn cô tiếp tục làm những công đức mà cô vẫn đang làm, cộng thêm thực hiện những buổi lễ cầu siêu cho mẹ theo nghi thức anh gửi. Cô đứng trước ban thờ, tâm sự với mẹ như đang nói chuyện với một người bình thường: – Mẹ à, mẹ hãy buông bỏ hết tất cả, không ái luyến gia đình, đừng oán chấp người gây tai nạn nữa. Nghiệp mẹ đã trả xong. Giờ là lúc mẹ nhớ Phật, niệm Phật như mẹ vẫn dặn dò con. Nói xong, Thương bắt đầu làm lễ cầu siêu. Phần đầu là lễ Phật, cúng thí thực, phần sau là khai thị để vong linh buông bỏ bám chấp, rồi trì chú Đại Bi, niệm Phật cầu vãng sinh. Cứ như vậy, ngày nào Thương cũng làm lễ siêu độ, cũng được khoảng hơn chục lần. Trong cuộc họp gia đình, Thương ngỏ lời cảm ơn các cô bác anh chị đã hỗ trợ phần hậu sự, mời cả nhà tới hôm thất thứ năm (35 ngày sau khi mất) cùng đưa vong linh mẹ cô lên chùa theo đúng tâm nguyện của bà. – Chị xin phép hôm đó không có mặt. Chị sợ bị nhập lắm. – người chị họ của Thương rùng mình, nổi cả da gà khi nhớ lại khoảnh khắc đó. – Dạ vâng. Chị cứ ở nhà nghỉ ngơi nhé. Mọi người cũng vất vả nhiều rồi. – À chị kể em nghe, mấy hôm nay chị đều nằm mơ thấy bà, trông bà rất đẹp, mặc quần áo cũng đẹp, vui vẻ nói với chị “sắp đủ rồi”. Mà chị không hiểu bà đang nói đủ cái gì? – Thật hả chị? Thấy mẹ vui vẻ là tốt hơn rồi chị ạ. – Ánh mắt Thương lấp lánh hy vọng. Đúng ba mươi lăm ngày sau khi mất, tất cả có mặt đông đủ tại chùa, run rủi thế nào, người chị họ nghĩ đi nghĩ lại rồi vẫn đến. Cô vừa ngồi xuống, khoanh chân, chưa kịp mở miệng niệm Phật cùng đại chúng, thì hương linh bà Thận đã nhanh chóng mượn xác. Bà đưa mắt khắp bốn phía rồi dừng lại nơi chồng bà đang ngồi. Bà vừa khóc vừa gọi chồng: – Ông đừng nhớ thương tôi nữa, mối dây tơ hồng đứt rồi, ông phải đi ra ngoài đi lại, chứ đừng ở trong nhà khóc mãi. Nhìn ông như thế, tôi không đành lòng ra đi. – Bà hãy yên tâm mà ra đi, tôi sẽ niệm Phật cho bà – chồng bà Thận nén những giọt nước mắt vào trong, ân cần đáp. – Mẹ, bây giờ mẹ chỉ cần nhớ Phật, niệm Phật thôi, hãy buông bỏ hết tất cả – Thương nói – Chúng con sẽ chăm lo cho bố, mẹ cứ an tâm vãng sinh Cực Lạc mẹ nhé. Bà Thận lập tức giơ tay lên khua khua, ra hiệu trật tự, để bà lạy Phật. Thương chột dạ, phải chăng mình đã hơi nhiều lời. Mẹ cũng đã biết thừa điều đó. Rồi bà lạy Phật liên tục, sau đó bắt tay từng người trong gia đình, nói lời cảm ơn họ thời gian qua đã có mặt, lo lắng cho bà, cũng là lời từ biệt. – Chân của tôi đã được chư Phật gia hộ cho lành lặn, đi lại được rồi, từ hôm nay tôi không còn đau khổ gì nữa. Tí nữa khi bước chân ra khỏi đây để theo Phật, sẽ không còn mẹ con, không còn chồng vợ,… nghiệp ở nơi đây tôi đã trả xong, không còn gì vấn vương nơi cõi trần này nữa. Đây là lần cuối cùng, tôi sẽ không về thêm lần nào nữa đâu. Tôi sẽ đi theo Phật ! Bà Thận từ đó không nói thêm lời nào, chỉ ngồi niệm Phật, tụng kinh cùng đại chúng. Khóa lễ kết thúc, bà quỳ hướng về Tam Bảo, lạy Phật, lạy khắp xung quanh, rồi bà thoát ra. Đúng như câu cuối cùng bà nói “Tôi sẽ đi theo Phật”, bà theo ánh hào quang của Phật A Di Đà đi về Tây Phương Cực Lạc, từ đây chấm dứt vĩnh viễn mọi khổ đau nơi cõi thế gian. Thương thở phào nhẹ nhõm. Giờ đây cô đã hiểu “sắp đủ rồi” là như thế nào. Cuối cùng thì lượng công đức mà cô cùng nhiều bạn đồng tu kiên trì tạo bấy lâu nay kết hợp với lượng phước tự thân của mẹ cô đã tới lúc đủ đầy để bà được vãng sinh. Nếu như Thương nản chí bỏ cuộc giữa chừng, sự nghiệp vãng sinh của bà sẽ còn bị trì hoãn không biết tới bao giờ. Sự nỗ lực của người thân vì vậy thực sự có ý nghĩa rất lớn đối với người quá cố. Kể từ ngày chứng kiến bà Thận được về với Phật, chồng bà đã có một bước chuyển biến rõ rệt trong nhận thức về Phật Pháp, con trai út nay đã bắt đầu biết tu tập, còn Thương ngày càng tinh tấn hơn, tiếp bước mẹ mình, nguyện tương lai cũng sẽ về miền Cực Lạc. (Trích “Linh ứng đất Việt” – Tĩnh Như)  

Nhân quả nghiệt ngã phía sau thảm án tru di thập tộc

0
Vào thời Minh, dưới triều vua Chu Nguyên Chương, có một người họ Phương vì muốn gia đạo nhà mình phát đạt, nên đã mời một thầy phong thủy cao tay đi tìm long huyệt để xây mộ cho cha. Sau khi đã tìm được huyệt tốt, thầy phong thủy hẹn ngày khởi công. Đêm trước đó, người họ Phương nằm mơ thấy một lão già áo đỏ đến trước mặt nói: – Huyệt mà các hạ chọn chính là chỗ ở của ta, xin các hạ hoãn vài ngày để con cháu ta có thì giờ dọn đi nơi khác rồi mới động thổ. Lão già nói xong lại van lạy rồi mới đi. Người họ Phương tỉnh dậy, nghĩ rằng chỉ là một giấc mộng vu vơ, nên không để tâm. Nhưng điều kỳ lạ, là khi đào huyệt, thì phát hiện ra bên dưới huyệt có một hang rắn lớn, trong đó có đến hàng trăm con rắn màu đỏ. Người họ Phương nghĩ đến giấc mộng, lúc này bắt đầu phân vân, nhưng cuối cùng thì vẫn cho người dùng lửa thiêu sạch đàn rắn. Đêm hôm đó, người họ Phương lại nằm mơ thấy lão già áo đỏ xuất hiện, giận dữ đến trước mặt vừa khóc vừa trách: – Ta đã van xin ông hoãn vài ngày cho ta để con cháu ta có thì giờ dọn đi nơi khác rồi mới động thổ. Chẳng những ông không cho hoãn mà còn dùng lửa đốt chết hết hơn 800 mạng trong tộc ta, lòng ông thật độc ác. Ông đã diệt tộc ta, ta cũng sẽ diệt tộc ông vậy. Lão già áo đỏ nói xong rồi biến mất. Năm sau, tức năm 1357, người họ Phương sinh được một đứa con trai, đặt tên là Phương Hiếu Nhụ. Không biết có phải do tác dụng của phong thủy mộ phần không, quả nhiên cậu bé Phương Hiếu Nhụ rất đặc biệt, tài đức vẹn toàn, lại ngay thẳng, bộc trực. Lớn lên Phương Hiếu Nhụ thi đậu làm quan, đường công danh không ngừng thăng tiến, trở thành một quan đại thần dưới triều Chu Doãn Văn. Vậy phải chăng phong thủy tốt thì mọi chuyện sẽ đều hanh thông, chẳng có gì phải lo nữa ? Thực tế không đơn giản vậy, còn có một quy luật khác mạnh hơn phong thủy nhiều, đó là luật Nhân quả, và quy luật này thì rất khắc nghiệt. Năm 1402, Yên vương Chu Lệ (chú của Chu Doãn Văn) kéo quân về cướp ngôi vua của Chu Doãn Văn. Cuộc đảo chính thành công, Chu Doãn Văn phải bỏ kinh thành lẩn trốn, Chu Lệ đăng cơ trở thành Minh Thành Tổ. Ngay sau đó, Chu Lệ ra lệnh giết sạch toàn bộ những đại thần quyết giữ lòng trung với Chu Doãn Văn. Trong khi một số đại thần sợ chết nên chủ động ra đầu hàng, Phương Hiếu Nhụ lại quyết không phủ phục. Ban đầu do trọng tài năng của Phương Hiếu Nhụ, lại nể ông được nhiều người ca tụng, giữ lại sẽ có ích cho nước nhà sau này nên Chu Lệ vẫn cố gắng nhờ thuộc hạ thân tín khuyên nhủ, mong Phương Hiếu Nhụ quy hàng. Thậm chí đến khi Chu Lệ cử hành lễ đăng ngôi, ông cũng muốn Phương Hiếu Nhụ là người viết chiếu lên ngôi cho mình. Bị ép buộc viết chiếu lên ngôi, Phương Hiếu Nhụ quyết không chịu, ông vừa gào thét, vừa tuyên bố dẫu cho có bị giết hết mười tộc cũng không viết. Nghe những lời này, Chu Lệ cũng không giữ bình tĩnh được nữa. Ông sai người phanh thây Phương Hiếu Nhụ rồi vứt xác ra chợ. Sau đó ra lệnh tru di thập tộc Phương Hiếu Nhụ như lời ông nói. Bình thường trong lịch sử, phạm tội nặng thế nào cùng lắm là bị tru di cửu tộc, là xử tử người thân họ hàng 9 đời. Riêng lần này thì vua đem cả bạn bè, đệ tử của Phương Hiếu Nhụ ra giết, gọi là tru di thập tộc. Số người chết trong vụ án này lên đến 873 người! Tương đương với số rắn mà cha Phương Hiếu Nhụ đã giết năm xưa. Phải chăng đó chỉ là trùng hợp ? Bạn có suy nghĩ gì về câu chuyện bi thương có thật trong lịch sử Trung Hoa này ? Theo bạn, ngay từ đầu, cha của Phương Hiếu Nhụ nên làm như thế nào ?        

CẢ HAI CÙNG CỨU

_Truyện ngắn_ (Dựa trên một câu chuyện có thật tại bệnh viện 103 Hà Nội) Cuối xuân, thời tiết hãy còn mưa phùn, nồm ẩm, khá nhớp nháp và khó chịu, thi thoảng mới xuất hiện vài tia nắng rời rạc, khiến cả bầu không gian nhuốm một màu ảm đạm, u buồn. Trong căn phòng nằm sâu phía sau khuôn viên của Câu Lạc Bộ Trẻ Tự Kỷ, từng ấy đứa nhỏ đang ngồi yên lặng, mỗi đứa một góc, trầm ngâm với thế giới riêng nhỏ bé của mình. Đứa thì cặm cụi ráp từng miếng lego vào nhau một cách vô thức, chẳng theo hình thù nào cụ thể, đứa dùng bút chì màu vẽ nguệch ngoạc trên một tờ giấy đã được phủ gần kín cả trang, đứa lại chỉ ngồi thu lu một chỗ, chẳng thèm động đậy… Bầu không khí có phần buồn tẻ ở đây chỉ được khuấy động khi cô giáo Phương bước vào lớp. Bọn trẻ đang chờ Phương. Vừa thấy cô xuất hiện, một nửa trong số chúng bỏ dở những thứ đang làm, lon ton chạy ra, còn lại một số bé vẫn không nhúc nhích. Lũ trẻ này bình thường chẳng mấy khi giao tiếp với ai, chỉ Phương mới có khả năng khiến chúng mở lòng, khám phá thế giới bên trong những tâm hồn non nớt của chúng. Phương tốt nghiệp thạc sỹ tâm lý học của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, hiện vừa là chủ nhiệm Câu Lạc Bộ Trẻ Tự Kỷ Hướng Dương, vừa đảm nhiệm vai trò giáo viên trong lớp học giáo dục đặc biệt này. Hàng ngày, Phương trò chuyện, chia sẻ với lũ trẻ về thế giới xung quanh, giúp chúng kết nối với cuộc sống. Đối với cô, đây không đơn thuần chỉ là một công việc, mà còn là sứ mệnh mà cô đã lựa chọn bấy lâu. Ngoài hai buổi đứng lớp, tan làm, Phương chẳng mấy khi đi đâu, vì ở nhà còn một em học trò đặc biệt cần Phương chăm sóc. Đó là Tú Anh, em gái ruột, nay đã 20 tuổi. Ở cái tuổi trẻ căng tràn, Tú Anh chỉ quanh quẩn trong nhà, không mấy khi tiếp xúc với xã hội, trừ phi có việc bắt buộc phải ra ngoài, mà có đi đâu cũng đều đi cùng chị Phương. Mặc dù cô luôn khao khát được bước ra ngoài đời, khám phá thế giới, thế nhưng không hiểu vì sao cứ có một thứ gì đó vô hình cản trở, khiến Tú Anh rất rụt rè. Vừa thấy chị mở cửa bước vào nhà, Tú Anh vội vã từ trong phòng đi ra, kéo chị vào một góc, thủ thỉ: – Nãy khi đi tắm, em thấy có cục gì đó cứng cứng, nằm ở bên ngực phải chị ạ. Đôi mày Phương nhíu lại, tròng mắt giãn to, kéo em gái bình tĩnh ngồi xuống giường, đáp: – Nếu vậy, chị đưa em đi viện kiểm tra. Có gì thì bác sỹ chữa trị cho em, không phải lo lắng. Sáng hôm sau, Phương sắp xếp công việc ở câu lạc bộ, đưa Tú Anh lên viện Ung Bướu. Sau một ngày miệt mài chạy khắp bệnh viện, làm đủ các loại xét nghiệm, kết luận quả thật có hai khối u khá to, nhưng may mắn là u xơ lành tính, chỉ cần mổ cắt bỏ nó đi là xong. Phương thở phào, nói gở mồm, chẳng may Tú Anh có làm sao thì hai chị em không biết xoay sở thế nào. Nhà neo người, Phương vừa đi làm lo kinh tế, vừa nuôi nấng em. Cô nghỉ làm thì không có tiền, mà đi làm thì không có ai chăm sóc nó. Tuy là chị, nhưng đối với Tú Anh, Phương chẳng khác nào một người mẹ. Hai chị em ra khỏi bệnh viện, Tú Anh níu tay chị hỏi: – Giờ mình làm gì hả chị? – Đi về thôi, chị sẽ áp dụng phương pháp chữa lành cho em, đừng vội mổ. Tú Anh gật đầu, theo chị đi về. Từ trước tới nay, dù chuyện lớn nhỏ thế nào, Tú Anh đều nghe theo Phương, ít khi tự quyết định được điều gì. Một thời gian sau khi áp dụng phương pháp chữa lành mà Phương có dịp làm quen từ trước, một khối u nhỏ đã tự tiêu, chỉ còn khối u to hơn vẫn chưa xẹp xuống. Chưa kịp ăn mừng thì Tú Anh lên cơn sốt cao, khối u còn lại đó bỗng đau nhức, cả vùng ngực phải của cô căng tức, nóng ran. Tình trạng cứ kéo dài như vậy suốt hai ngày không thuyên giảm, Phương sốt ruột, không thể chờ đợi được nữa, liền đưa em gái lên viện 103 và được các bác sỹ chỉ định mổ ngay, vì khối u đã lên áp xe, gây nhiễm trùng nặng. – Chị ơi, em sợ lắm, mổ có đau không? – Tú Anh nép vào vai Phương, thỏ thẻ, sợ hãi nói. – Em yên tâm, có chị đây rồi, các bác sỹ sẽ gây mê cho em, em cứ ngủ một giấc tỉnh dậy là xong xuôi hết. Vẻ mặt Tú Anh vừa ngẩn ngơ, vừa lo lắng, nhưng cô tin lời chị Phương. Rất nhanh chóng, Tú Anh được làm thủ tục nhập viện, chờ sắp xếp lịch rồi tiến hành mổ ngay ngày hôm sau. Kể từ hôm đó, Phương đành phải nhờ một cô giáo khác đứng lớp ở câu lạc bộ, còn cô toàn tâm toàn ý trong viện chăm em hậu phẫu. Ba ngày sau, bác sĩ Hoàng, người trực tiếp thăm khám điều trị cho Tú Anh, cho gọi người nhà vào phòng trực để nói chuyện. Phương gõ cửa bước vào, thấy một anh bác sĩ trẻ, trông anh ta khá bảnh bao trong chiếc áo blouse trắng dài tới gối, dáng vóc rất cuốn hút, nhưng vẻ mặt có vẻ nghiêm nghị và hơi suy tư. – Chào bác sĩ. Em là người nhà của bệnh nhân Tú Anh. – Chào em, mời em ngồi. – Dạ Bác sĩ Hoàng nhìn hồ sơ bệnh án một hồi, trầm ngâm nói: – Thật đáng tiếc, sau khi đem khối u đi giải phẫu, chúng tôi đã có kết luận đây là u ác tính. Sắc mặt Phương bỗng nhiên khựng lại. Bác sĩ Hoàng nói tiếp: – Chúng ta cần phải cắt bỏ toàn bộ tuyến vú phải, nếu không những khối u khác sẽ tiếp tục mọc lên. Và phải thực hiện sớm. Nếu gia đình đồng ý, tôi sẽ kiểm tra xem lịch mổ sớm nhất có thể là khi nào. Phương vẫn chưa hết bàng hoàng, tưởng sau lần mổ vừa rồi là yên tâm chuẩn bị về nhà, ai ngờ đâu điều mà cô lo lắng nhất cuối cùng đã xảy ra. – Nếu như cần phải cắt bỏ, thì bác sĩ cứ tiến hành giúp cho. Nhưng hai lần mổ gần nhau như vậy liệu có ổn không ạ? – Tất nhiên mổ liên tục thì người bệnh sẽ mệt hơn, nhưng cũng đành phải như vậy thôi, đó là phương án tốt nhất. Em cứ cho bệnh nhân bồi bổ thịt cá vào, còn lấy sức. – Dạ, bệnh nhân ăn chay trường, nên không ăn thịt cá được. Bác sĩ Hoàng mở to mắt, nhìn Phương ái ngại: – HaizZ, ăn chay thì sao đủ chất được, nhất là trong hoàn cảnh bệnh tật như thế này. Trường hợp của Tú Anh rất nặng đấy. Tôi cảnh báo trước. Đây là một trong những ca bệnh khó nhất mà chúng tôi từng gặp. Nói xong, bác sĩ Hoàng nhìn thấy trên cổ của Phương đeo một chiếc tràng hạt màu nâu, liền hỏi: – Nhà em theo Phật à? – Vâng. – Phật đang cứu em gái của em hay chúng tôi đang cứu cô ấy? Phương trả lời bằng cái giọng cứng rắn, đanh thép bất ngờ: – Cả hai thưa bác sĩ. Bác sĩ Hoàng thở dài, nhìn Phương một lượt, trông dáng người nhỏ nhắn, khuôn mặt nhẹ nhàng, giọng nói dễ thương như thế, ấy vậy mà cũng có vẻ cá tính phết. – Thôi thì tùy, đấy là vì sức khỏe của bệnh nhân, có thế nào hai cô cũng là người tự gánh lấy. Chúng tôi chỉ có thể làm hết sức mình, nghe hay không là ở các cô. Phương trong lòng không hề để ý gì tới thái độ của bác sĩ, đang mải nghĩ về căn bệnh ung thư đang đe dọa tính mạng Tú Anh. Trở về phòng bệnh, Phương chưa nói với em, trong đầu còn đang nghĩ cách. Vốn là một Phật tử, nhưng thực tình cô chưa thông tỏ nhiều về giáo lý, hết lòng tin tưởng sức từ bi cứu độ chúng sinh của chư Phật, nhưng lại chưa biết cụ thể phải làm như thế nào. Đây là lần đầu tiên cô rơi vào tình cảnh gấp rút như vậy, trong đầu bất chợt rối ren. Tranh thủ những lúc rảnh, Phương lên mạng tham khảo cách chữa bệnh bằng Phật Pháp, tình cờ nhìn thấy thông tin ấn tống kinh sách, đưa mắt nhìn qua một lượt, ánh mắt dừng lại ở cuốn sách có tiêu đề “Bệnh viện trả về, Phật Pháp cứu sống”. Phương như vớ được vàng, lòng cô khấp khởi hy vọng, lập tức nhắn tin xin thỉnh . Chỉ sau hai ngày, bên giao hàng đã gọi điện giao sách, Phương ngấu nghiến đọc, một hồi là xong. Tâm trí như bừng tỉnh, cộng với tín tâm sẵn có với Tam Bảo, Phương lập tức thực hành theo. Cô nhìn Tú Anh- cô em gái hiền lành, nhút nhát của mình, nói: – Khối u này là khối u ác tính, tình hình cũng khá nghiêm trọng. Nhưng em không phải lo, đã có Phật Pháp, giờ em tu tập tạo công đức cùng chị, tập trung hồi hướng cho khỏi bệnh. Chị tin nếu chị em ta một lòng chân thành, thì nhất định chư Phật sẽ gia hộ cho em. Tú Anh, vốn đang yếu, khi nghe tin lại càng buồn. Cô chẳng biết làm sao, chị bảo sao thì cô nghe vậy. Cô cũng chỉ có một chỗ nương tựa duy nhất là chị Phương. Kể từ hôm đó, hai chị em miệt mài đọc kinh, chép kinh, niệm Phật,  trì chú Vãng Sinh, sám hối theo cuốn Từ Bi Thủy Sám, bật đài đọc kinh Địa Tạng lên cho chúng sinh nghe… làm được việc gì, họ đều làm hết. Bà Yến, một bệnh nhân nằm cùng phòng, ngay cạnh giường của Tú Anh, thấy tiếng đài lầm rầm, liền quát: – Tắt đài đi đi. Đau đầu quá. Chúng mày cứ làm cái gì suốt mấy ngày nay thế. – Chúng cháu tu tập Phật Pháp để giúp Tú Anh khỏi bệnh bà ạ. – Chúng mày bị làm sao đấy. Lo mà bồi bổ, chăm sóc nó cho tốt vào. Toàn thấy ăn rau với cỏ thế này thì khỏe làm sao được. Đến tao ăn thịt mà còn mãi chưa hồi phục. Tú Anh mải nghe đài, không để ý đến bà Yến, còn Phương thì im lặng chẳng nói gì, nhưng cô lặng lẽ ra tắt đài, đỡ làm phiền mọi người xung quanh. Vốn là một người khá nhạy cảm với tâm linh, thường có chút kết nối với cõi vô hình, đêm hôm đó, Phương nhìn thấy rất nhiều hình bóng mờ nhạt của các vong linh đang đi lại trong bệnh viện, rồi đâu đó những âm thanh văng vẳng bên tai, xin Phương tiếp tục bật đài đọc kinh lên cho họ được nghe. Những vong linh sống trong cảnh giới ngạ quỷ chịu nhiều khổ sở, đói khát, nghiệp chướng nặng nề, nhờ nghe kinh mà tâm thức họ được an ổn, tiêu nghiệp, tăng phúc, đủ nhân duyên sẽ siêu thoát về chốn an lành. Thấu cảm sự tha thiết và nỗi khổ của chúng sinh, cô lựa tình hình, cố gắng bật đài cả ngày lẫn đêm, nhưng vặn âm lượng nho nhỏ, hạn chế làm phiền người khác. Chiều cùng ngày, Bác sĩ Hoàng thông báo với Phương: – Tôi đã sắp xếp được lịch mổ cắt tuyến vú cho Tú Anh vào thứ tư này, tính ra cách ca mổ vừa rồi đúng một tuần thôi. Cô nhớ tẩm bổ cho bệnh nhân, không thì khổ thân con bé. Bà Yến vừa từ phòng vệ sinh trở vào, nghe thấy câu nói này, vội đá thêm: – Đấy, tôi đã bảo mà chúng nó có chịu nghe đâu. Mày có thương em mày không mà để nó ăn uống như thế hả? Bác sĩ người ta còn phải kêu kia kìa. Vừa dứt lời, bà Yến quay ra xuýt xoa: – Bác sĩ gì mà vừa trẻ vừa đẹp trai quá, lại còn giỏi nữa. Thế bác sĩ có người yêu chưa? – Bà có ai giới thiệu cho cháu. – Ây da, cái con bé Phương này, kể ra đứng với bác sĩ trông cũng đẹp đôi đấy. – bà Yến vừa nói vừa khúc khích cười. Phương quay ra đưa mắt nhìn bà Phương, tiện thể xéo mắt qua bác sĩ Hoàng, bĩu cái môi rồi quay đi chỗ khác. Hoàng nhắc lại lần nữa: – Cô nhớ lịch mổ cho em gái đấy. – Tôi nhớ rồi, cảm ơn bác sĩ. Hoàng tiếp tục đi thăm khám cho các bệnh nhân khác, không quên liếc mắt nhìn Phương một lần rồi trở ra. Ngày thứ tư, đúng như lịch, Tú Anh lên giường mổ. Phương ở bên ngoài, miệng liên tục lầm rầm niệm Phật. Ngay trước giờ mổ, chợt từ cửa phòng, bác sĩ Hoàng bước ra, cảm thán: – Thật kì lạ! Bệnh viện đã lấy tế bào đi xét nghiệm lại một lần nữa thì bệnh nhân lại âm tính với ung thư. Tôi chưa hiểu chuyện gì xảy ra, nhưng trước hết, chúng ta không phải cắt tuyến vú nữa, chỉ cần xử lý chỗ nhiễm trùng là được. Phương nghe thấy thế, hai mắt chợt long lanh, khuôn miệng nhoẻn cười, reo lên: – Thật sao? Tôi đã bảo mà. Cả hai đã cứu em tôi: cả chư Phật, cả các anh nữa. Anh tin chưa? Bác sĩ Hoàng ngơ ngác mất vài giây, mới nhớ ra, đáp: – Tôi chỉ thấy kì lạ thôi, chả thấy gì nữa cả. Mà cô đừng vui mừng quá sớm, dù không còn ung thư, thì tình trạng nhiễm trùng của bệnh nhân cũng rất nặng, lại vừa mổ xong lần đầu cách có một tuần, hy vọng mọi việc ổn thỏa, chưa thể nói điều gì trước. Ánh mắt Phương nhìn bác sĩ Hoàng, chợt lắng lòng, hạ giọng nhắn nhủ: – Mong anh giúp đỡ. Hoàng nhìn Phương, thực tình rất thông cảm. Suốt thời gian vừa qua, hình như chỉ thấy có mình cô chăm người bệnh, cả ngày lẫn đêm. Mọi thủ tục trong viện cũng đều do mình cô chạy khắp tòa nhà này đến tòa nhà khác. Trong mắt Hoàng, kể ra cô gái này mạnh mẽ hơn cái dáng vẻ bên ngoài. Hoàng không nói gì, chỉ gật nhẹ đầu với Phương, tỏ ý sẽ cố gắng, rồi trở vào bên trong cánh cửa phòng mổ. Ba tiếng sau, Tú Anh được các y tá đẩy cáng về phòng hậu phẫu tiếp tục theo dõi. Vết mổ dài 15 cm, mà chưa được khâu ngay, phải dùng thiết bị hút dịch ra ngoài cho tới khi hết, mới có thể xử lý tiếp. Kì lạ làm sao, với tình trạng như vậy, Tú Anh lại đặc biệt khỏe mạnh, tươi tắn, da dẻ hồng hào, không có chút gì giống người vừa phẫu thuật liên tiếp hai lần. Không những thế, cô hồi phục nhanh ngoài sức tưởng tượng của các bác sĩ. Vết mổ phanh to như vậy chả mấy chốc đã khô và tự co lại còn một nửa. Trong thời gian hồi phục này, hai chị em vẫn cố gắng tu tập hồi hướng công đức hóa giải với oan gia hết sức tinh tấn, làm được gì là làm, rảnh lúc nào tu lúc đó. Nhưng kì lạ với ai thì kì lạ, chứ với Phương thì không, cô biết rõ nhờ áp dụng Phật Pháp mà Tú Anh mới được như vậy. Sự tiến triển vô cùng nhanh chóng của Tú Anh khiến ai nấy đều kinh ngạc, bà Yến cũng phải thay đổi suy nghĩ của mình: – Ô hay nhỉ, có khi nào đúng là nhờ Phật Pháp? Bác sĩ Hoàng lúc đó cũng xuất hiện, khuôn mặt vui vẻ, thốt lên: – Trường hợp này đúng là hết sức đặc biệt, kì lạ thật. – Ngoài kì lạ ra, anh còn thấy gì nữa không? – Phương hỏi lại. Hoàng chột dạ: – Ờ thì … tôi cũng không biết nữa … hay có khi là Phật cứu em cô thật nhỉ? Bà Yến ngồi bên cạnh, cũng nhanh nhảu chen lời: – Chả thế thì còn gì nữa, không thì làm sao có thể được như thế này, hả bác sĩ Hoàng đẹp trai ? Còn điều nữa, tuy Tú Anh không hẳn mắc chứng tự kỷ như những đứa bé ở Câu Lạc Bộ Hướng Dương, nhưng cũng là một người khá nhút nhát, chậm chạp, rụt rè, cô ít khi tiếp xúc với ai ngoài chị Phương. Thế nhưng mấy ngày nay, cô như vừa lột xác thành một con người mới, vui vẻ và tươi tắn, gương mặt rạng rỡ khác hẳn bình thường, mặc dù vẫn còn trong thời gian hậu phẫu. Chắc chắn tất cả đều nương vào sức tu tập Phật Pháp của hai chị em đã giúp Tú Anh tiêu trừ nghiệp chướng, hóa giải oán thù với các oan gia, giúp cô được thân tâm an lạc như hiện tại. Thậm chí kết quả cô đạt được còn nhanh chóng hơn nhiều trường hợp được kể lại trong cuốn sách “Bệnh viện trả về, Phật Pháp cứu sống”. Bà Yến cùng mấy người bệnh nằm cùng phòng lần lượt nhờ Phương thỉnh giùm sách để tu tập. Bác sĩ Hoàng thấy vậy, cười tươi trêu: – Có khi chúng tôi sắp đỡ mệt rồi, bệnh viện đỡ quá tải. Mô Phật. Tất cả mọi người có mặt trong phòng cười phá lên, các bệnh nhân kể từ khi vào đây nằm chưa bao giờ vui vẻ đến thế. Chẳng mấy chốc, Tú Anh được xuất viện, bắt đầu tiếp xúc nhiều hơn với xã hội, có thể tự mình làm được nhiều việc hơn, giảm đi phần nào sự vất vả cho chị gái. Còn cô giáo Phương có lẽ cũng có thêm cho mình một phương pháp hỗ trợ đám trẻ ở lớp học đặc biệt. Xuân vừa qua, thì hạ tới, nắng ngập tràn khắp nơi, bừng sáng khắp phố phường, len lỏi qua những song cửa ùa vào lớp học. Những đứa trẻ đã bắt đầu mở lòng hơn với cuộc sống nhờ tình yêu thương của cô giáo Phương. Bác sĩ Hoàng và những người bệnh cũng nhen nhóm niềm tin nơi Phật Pháp.   _Tĩnh Như_ (Truyện ngắn dựa trên một câu chuyện có thật xảy ra tại bệnh viện 103 Hà Nội năm 2023)

“THẤU HIỂU LUẬT VŨ TRỤ” – CUỐN SÁCH CÓ THỂ ĐẢO LỘN THẾ GIỚI QUAN CỦA BẠN

0
Sau nhiều năm trăn trở về những dấu hỏi lớn mà hầu như ai trong đời rồi cũng sẽ phải hỏi:
“Sống hết một kiếp người này thì có ý nghĩa gì?”
“Dòng đời rồi sẽ đưa ta đi về đâu?”
Tôi đã cất bước để đi tìm một câu trả lời thỏa đáng. Hành trình ấy không dễ dàng gì, thế giới này quá rộng lớn. Nó có quá nhiều thứ lóa mắt để đánh lạc hướng khiến cho hầu hết mọi người phải lạc đường. Có quá nhiều quan điểm khác nhau được nói lên bởi những nhà tư tưởng lớn, xong lại không hề thống nhất, mà lại mâu thuẫn nhau một cách gay gắt. Và tôi phải đích thân mình thực hành và trải nghiệm qua từng lý thuyết khác nhau khắp đông tây kim cổ, trả nhiều cái giá khác nhau để chắt lọc những gì tinh túy nhất, để vạch ra con đường chuẩn mực nhất cho cuộc đời mình.
Cuối cùng, tôi đã tìm ra.
Con đường ấy tuyệt vời ngoài sức mong đợi. Và không có lí do gì để tôi giữ lại cho riêng mình. Nếu như tôi cần một “con đường chuẩn mực, tối thượng” cho cuộc đời mình, thì hẳn ngoài kia, cũng có rất nhiều người cần một con đường như thế. Vậy nên, tôi viết cuốn sách “Thấu hiểu luật Vũ trụ” này, để cùng chia sẻ với mọi người, với những ai có cùng khao khát, cùng ước vọng giống như mình về một con đường như thế.
Hiện tại (12/2023), cuốn sách đang trong thời gian làm thủ tục xuất bản, và sẽ sớm ra mắt độc giả. Và nếu bạn tò mò về nội dung sách, thì Quang Tử xin được bật mí nội dung chương mở đầu. Mời mọi người cùng đọc và cho ý kiến nhận xét. Tác giả xin lắng nghe và tiếp nhận mọi lời góp ý cũng như “gạch đá” mà quý vị và các bạn ban tặng. 
__________________

CHƯƠNG 1 – THẾ GIỚI KHÔNG VẬN HÀNH THEO CÁCH BẠN NGHĨ

Sự thành công luôn là một thứ hấp dẫn đối với con người chúng ta. Mỗi một ngành nghề, một vị trí trong xã hội sẽ có một kiểu thành công khác nhau, nhưng tựu chung, trở thành một con người thành đạt, “công thành danh toại” luôn là mong ước của rất nhiều người trong chúng ta. Nó là động lực để từng người nỗ lực học tập, làm việc, tìm tòi, sáng tạo, khám phá, thậm chí là hi sinh bản thân để theo đuổi những giấc mơ.
Và trên con đường tìm kiếm sự thành công ấy, những bàn tay và khối óc của những con người tài năng đã làm thay đổi thế giới.
Bạn hãy nhìn xem.
Khi trời nóng, nếu như ngày xưa người ta chỉ có thể dùng quạt phe phẩy đến mỏi cả tay, thì nay chúng ta đã có máy lạnh, thoải mái nằm tận hưởng cái mát đến run cả người.
Khi cần đi xa ngàn dặm, nếu như ngày xưa người ta chỉ có thể cưỡi ngựa, đi xe ngựa mất hàng tháng trời, thì nay chúng ta đã có tàu siêu tốc, có máy bay, ung dung ngồi ghế chỉ vài tiếng là đến nơi.
Khi cần liên lạc với người thân, nếu như ngày xưa người ta phải viết thư tay và chờ hàng tuần, thậm chí hàng tháng mới nhận được thư, thì nay chúng ta có thể nói chuyện video call cả ngày với người thân ở cách nửa vòng Trái Đất, thật dễ dàng.
Còn vô số các công nghệ khác tinh vi và phức tạp hơn nữa đã ra đời và không ngừng được nâng cấp. Đó là chưa kể đến vô số những thành quả từ các lĩnh vực nghệ thuật, văn hóa, chính trị, y khoa, tâm lý .v.v… đem đến cho cuộc sống nhân loại biết bao nhiêu giá trị. Chúng được tạo ra từ những đôi tay tài hoa và khối óc thông minh của rất nhiều con người trải qua nhiều thế hệ, để cuộc sống này ngày càng tốt đẹp hơn.
Và như thế, phải chăng nỗ lực tìm kiếm sự thành công của nhiều người đã khiến cho cuộc sống của họ cũng như cả xã hội ngày càng leo lên những nấc thang mới, sung sướng hơn, hạnh phúc hơn ?
Nhìn vào những thành quả bày nhan nhản trước mắt chúng ta, câu trả lời có vẻ đúng là như vậy. Truyền thông, báo chí, những dòng sách phát triển bản thân self-help, và dường như là cả xã hội từ xưa đến nay không ngớt lời tung hô những con người đã đặt chân lên đỉnh cao thành đạt, khiến cho người người nôn nao, nhà nhà rạo rực muốn tham gia vào đại công cuộc tìm kiếm sự thành công.
Chính nhờ sự tung hô có hệ thống ấy, thành công đã trở thành mục tiêu chính trong đời của phần lớn nhân loại. Họ mặc định đây là chân lý và hiếm khi đặt ra những câu hỏi về tính đúng đắn của nó.
“Phải chăng cuộc sống của ta nếu không có thành công thì sẽ chẳng đáng sống?”
Không, thực ra vẫn luôn có rất nhiều người không theo đuổi thành công. Họ sống với những mục tiêu khác và vẫn hạnh phúc, sung sướng. Thế giới này rất phong phú, luôn có rất nhiều mục tiêu tuyệt vời khác đem đến cho con người những giá trị siêu việt hơn những gì sự thành công có thể mang lại. Lấy gì đảm bảo là ai hạnh phúc hơn ai ?
“Có thật cuộc sống của ta và thế giới này ngày càng tốt đẹp lên sau những sự thành công của ta ?”
Cũng không, mọi thứ đều có mặt trái của nó, sự phát triển kéo theo rất nhiều vấn nạn. Khoa học có thể chế tạo ra những máy móc tối tân trong ngành y phục vụ cứu người, thì cũng chính khoa học đã điều chế ra các loại ma túy đá, heroin tổng hợp, súng ống, bom đạn, vũ khí sinh học, hóa học, hạt nhân để giết hại hàng tỉ người.
Ngay tại những nước phát triển nhất thế giới, những vấn nạn xã hội vẫn nổi cộm lên nhức nhối và không sao giải quyết được. Để tôi điểm sơ qua nhé, ở Mỹ thì có nạn phân biệt chủng tộc, rồi nạn xả súng bừa bãi, đến mức trẻ em đi học phải mặc áo giáp chống đạn.
Ở Nhật Bản, Hàn Quốc thì có nạn tự tử. Mỗi năm trung bình có đến 15000 – 25000 người tự tìm đến cái chết. Và không chỉ mình Nhật, Hàn Quốc, các nước phát triển khác cũng có số người tự tử lên đến hàng vạn người mỗi năm. Bản năng của con người là “ham sống sợ chết”, vậy mà áp lực gì khiến họ không chịu nổi, thà tìm đến cái chết còn hơn tiếp tục sống như vậy ? Cuộc sống nếu sung sướng, hạnh phúc thì tại sao người ta lại phải làm thế ?
Cuộc chạy đua phát triển kinh tế, công nghệ như vũ bão giữa các quốc gia kéo theo sự tàn phá môi trường ở mức độ tương đương, và tác hại thì người dân khắp nơi lãnh đủ. Nào là biến đổi khí hậu với đủ tác hại như gia tăng thiên tai, bão lũ, hạn hán, nắng nóng, sa mạc hóa…Các thảm họa ngày càng tăng cấp khắc nghiệt hơn. Nào là bệnh tật gia tăng do tác hại của những chất hóa học độc hại đến từ các ngành công Nghiệp.
Dường như chúng ta đã quá vội vàng khi cho rằng cuộc sống của mỗi người cũng như của nhân loại đang ngày càng tốt đẹp hơn, mà quên mất có những sự thật vẫn ở đó và chứng minh điều ngược lại.
Tạm gác những đánh giá vĩ mô xa vời, ta hãy đến với góc nhìn cá nhân của từng người – cái này hẳn sẽ thiết thực và gần gũi hơn.
Điều gì xảy ra với mỗi người phía sau cuộc đua tới cái đích “thành công”?
Bạn đã từng hỏi: những người thành công, thành đạt, nổi tiếng, quyền lực trong mọi lĩnh vực, họ đã nỗ lực, họ đã đạt đến những đỉnh cao của thành công. Vậy sau khi thành công, thì rồi sao nữa ?
Chuyện gì xảy ra với ông vua giàu mỏ John Davison Rockefeller – huyền thoại tay trắng lập nên cơ đồ khổng lồ, người Mỹ giàu nhất mọi thời đại ? Rất tiếc, ông ta chết rồi.
Chuyện gì xảy ra với vua nhạc rock Elvis Preley và vua nhạc pop Micheal Jackson ? Họ chết rồi.
Chuyện gì xảy ra với ngôi sao võ thuật – người sáng lập môn võ Triệt Quyền Đạo – huyền thoại Lý Tiểu Long ? Ông ta chết rồi.
Chuyện gì xảy ra với tổng thống lỗi lạc nhất của nước Mỹ: Abraham Lincol ? Ông ta chết rồi.
Thế còn Napoleon Bonapas – niềm tự hào của nước Pháp? Ông ta đã chết.
Và Thành Cát Tư Hãn – niềm tự hào của người Mông Cổ, ông vua đã thôn tính và cai trị gần hết châu Âu và châu Á ? Ông ta cũng đã chết.
Còn ai nữa ? Còn huyền thoại nổi tiếng thành công trong bất kể những lĩnh vực nào trên thế gian này, bạn hãy cứ kể ra đi.
Và rồi câu trả lời của tôi sẽ không thay đổi đâu, nó đúng với mọi trường hợp. Họ chết cả rồi, 100% ! Chẳng ai còn sống mãi để tận hưởng cơ đồ mà họ vất vả tạo dựng.
Bạn có thể phản biện rằng, nhiều người vẫn còn đang sống. Không sao, thì chờ thêm một thời gian nữa, ngày họ được dán cáo phó ngoài cửa, câu trả lời của tôi sẽ lại đúng thôi. Và tỉ lệ chết là 100%, tất cả những người thành đạt, thành công, thành danh đều chết.
Điều đó có nghĩa lý gì ? Phải chăng tôi đang nói một điều rỗi hơi mà ai cũng biết “Ừ thì ai trên đời mà chẳng phải chết, trẻ con nó cũng biết mà.”
Đúng, điều đó quá hiển nhiên. Các quy luật vũ trụ thì vẫn hiển nhiên như vậy. Nhưng lại có vô số người không nhìn ra được, vì còn đang mải bận rộn với đủ loại toan tính bộn bề, đủ loại công chuyện bận bịu mà xã hội này bày ra. Họ suy tính đủ thứ phép tính cao siêu, đủ thứ nước cờ diệu ảo, lao vào những cuộc đua chen bất tận. Cả cuộc đời họ loay hoay, mệt mỏi, vật lộn đủ kiểu, để rồi nhận về một kết quả giống hệt nhau: Chết !
Xã hội này, người ta luôn kiêng khem, né tránh nhắc đến cái chết, bảo rằng “Nó là thứ xui xẻo, phải tránh xa”, rồi từ đó dần không nghĩ đến nó, lảng tránh nó từ trong tư tưởng đến hành động, cố sống như mình sẽ chẳng bao giờ đụng mặt nó.
Nhưng việc đó thì chẳng có tác dụng gì cả. Kiêng khem, né tránh kiểu gì thì cái chết vẫn tìm đến từng người, không để một ai thoát cả. Bạn thấy chứ, không hề có người bất tử trên đời. Cái chết đến, và nhẹ nhàng đem những toan tính, những công trình lao tâm khổ tứ cả đời của ta chôn vào lòng đất, tan biến dần vào quên lãng.
Vì bị lạc lối giữa mê cung các lý thuyết, phần lớn con người ta đời xưa hay đời nay cũng vậy, đã tiêu tốn sức lực, thời gian, tiền của, sinh mệnh của mình đầu tư vào những mục đích tưởng chừng to tát, ấy nhưng khi cái chết đến, chúng liền lộ rõ bản chất thật: vô nghĩa. Đến khi nhận ra mình đã chọn nhầm đường, thì rất tiếc, cũng là lúc phải lìa xa cuộc đời.
Liệu có gì chứng minh cho những điều trên ?
Có chứ ! Tôi sẽ lấy một tấm gương điển hình của thành công thời đại này, một người đã leo lên đến đỉnh của vinh quang: Steve Jobs. Xong thay vì quá tập trung vào cách ông ta làm thế nào để thành công, thì ta hãy nhìn vấn đề từ một góc nhìn khác: kết cục cuối cùng.
Sẽ hợp lý hơn, khôn ngoan hơn khi ta lắng nghe những lời cuối cùng của ông ta khi phải đối diện với cái chết. Phải rồi, dù là ai thì cũng vẫn luôn có cái ngày ấy, ngày mà tử thần gõ cửa. Khi ấy con người ta sẽ thành thật hơn, và có được một cái nhìn bao quát hơn.
Bạn biết Steve Jobs chứ ? Nếu chưa biết thì đó là người đàn ông đã gây dựng nên đế chế công nghệ Apple, đồng thời từng là chủ của hãng phim Pixar huyền thoại, được cả thế giới ca ngợi về tài năng, sự thành đạt, sự giàu có. Và đây là mấy dòng di thư của Steve Jobs, viết trong những ngày cuối cùng trước khi ông chết, khi căn bệnh ung thư buộc ông phải rời bỏ cuộc sống giàu có, vinh quang của mình:
“Tôi đã đạt đến tột đỉnh của thành công. Trong con mắt người khác, cuộc đời tôi là một biểu tượng của thành công. Tuy vậy phía sau của công việc tôi có rất ít niềm vui.
Tài sản của tôi cuối cùng cũng bình thường hoá với tôi. Trong lúc này trên giường bệnh viện, hồi tưởng về cuộc đời, những lời khen ngợi, tự cao, tự hào về tài sản, nhưng tôi cảm thấy chúng thật vô nghĩa trước cái chết.
Trong bóng tối, khi nhìn ánh đèn màu xanh và tiếng ồn ào của máy dưỡng khí, tôi cảm nghiệm được những hơi thở của tử thần rất gần kề. Bây giờ tôi mới hiểu thấu, nếu một lần bạn đã có tiền đủ cho cuộc đời của bạn, bạn hãy đeo đuổi một mục đích khác không liên quan đến tiền bạc. Nên tìm một điều gì quan trọng hơn…
Đừng làm nô lệ cho vật chất, giàu sang, vì nó sẽ biến bạn thành một người yếu ớt như tôi.”
Nếu như Jobs chưa phải một minh chứng đủ sức thuyết phục, vậy hãy xem và ngẫm nghĩ về một người này, dù đã qua đời rất lâu nhưng tiếng tăm của ông thì vẫn còn đến tận bây giờ, đủ thấy quy mô to lớn về sự thành công của ông ta hoành tráng như thế nào.
Về chính trị, ông được xem là vua của các vị vua, một đại đế cai trị một lãnh thổ khổng lồ từ châu Âu đến châu Á. Về tài năng, ông được xếp vào 1 trong 10 vị tướng giỏi nhất mọi thời đại, một kỳ tài quân sự ngàn năm hiếm thấy, về tài sản, kho báu vàng bạc của cải của ông đủ đè bẹp mọi tỉ phú mà bạn biết. Về tình trường, ông ấy cưới một loạt những công chúa xinh đẹp, quyến rũ và tài giỏi nhất thời bấy giờ. Đó là ai mà hoành tráng, sung sướng đến vậy ? Đó là Alexander Đại đế.
Alexander Đại đế (356 TCN – 323 TCN) một trong những vị vua nổi tiếng nhất lịch sử. Với bản tính thông minh, với tinh thần quả cảm, và cực kì sáng tạo, ông đã viết nên một bản hùng ca hoành tráng mà các ông vua khác từ cổ chí kim phải ghen tị, sử sách phải tốn không biết bao nhiêu giấy mực để viết về ông.
Đầu tiên ông được vua cha Philippos truyền ngôi, trở thành vua của Macedonia năm 336 TCN, một tiểu quốc trong liên minh xứ Hy Lạp. Cái ngôi vương ấy không đủ để ông thỏa mãn, nên ông đã dẫn quân đi chinh phạt các thành quốc khác cho đến khi dành chiến thắng tuyệt đối, thống nhất Hy Lạp lại thành một quốc gia mà ông là hoàng đế. Với nhiều ông vua, thành tựu được như thế đã là quá đủ, nhưng so với tham vọng của Alexander, nhiêu đó chưa nhằm nhò gì.
Ông củng cố, rèn luyện quân đội mình thành một đội quân “bách chiến bách thắng”, rồi kéo đi càn quét khắp nơi, chiếm được Ai Cập, trở thành một Pharaoh, rồi đánh bại cả Darius Đại Đế, mở rộng bờ cõi đến hết đế chế Ba Tư hùng mạnh. Trước ông, chưa ai bành trướng lãnh thổ lớn đến mức như vậy.
Khắp những nơi vó ngựa của ông chinh phạt, vàng bạc châu báu được gom về kho của ông nhiều đến mức khủng khiếp. Ông cũng không quên thu nạp những cô gái tuyệt đẹp nhất, duyên dáng nhất các xứ xở về làm thê thiếp cho mình. Bàn tay ông đã thâu tóm được tột đỉnh của vinh quang cùng với đủ thứ sung sướng đời người.
Sau tất cả những năm tháng huy hoàng, ông cũng đến lúc đối diện với cái chết. Rất thông minh, ông ta nhận ra cái gì đó không đúng. Rồi ông suy xét lại cả cuộc đời mình trong nhiều ngày, và ngộ ra một bài học, một bài học quá thấm thía. Tiếc là khi ông hiểu ra bài học này, thì vốn thời gian của ông cũng đã cạn kiệt rồi, không thể áp dụng cho mình được nữa. Ông quyết định, phải truyền lại cho hậu thế, bằng mọi giá phải làm cho nhân loại hiểu được bài học quý báu này.
Trong giây phút cảm nhận được cái chết đang bủa vây lấy mình, Alexander đã cho gọi quần thần lại và tuyên bố di ngôn:
– Trước khi chết, ta có 3 điều muốn các ngươi thực hiện, nhất định không được trái ý. Cụ thể, ba điều đó như sau: Điều thứ nhất: Trong đám tang ta, lệnh cho các ngự y giỏi nhất thế gian khiêng quan tài của ta ra huyệt. Điều thứ hai: Đem hết vàng bạc, châu báu, ngọc ngà mà cả đời ta đã vơ vét được, đang tích trữ trong kho, hãy đem rải ra đất suốt dọc con đường dẫn ra nghĩa địa. Điều thứ ba: Hãy hé mở nắp quan tài, đặt bàn tay của ta thò ra bên ngoài, để tất cả đều nhìn thấy được.
Nghe xong ba điều di ngôn kì quặc ấy, quần thần của Alexander đều vô cùng kinh ngạc, cho rằng hoàng đế của mình đã không còn tỉnh táo. Alexander lấy sức thở một hơi dài, đoạn nhìn tất cả một lượt và nói:
– Sở dĩ ta yêu cầu các ngươi làm điều đó là muốn nhắn nhủ với con người thế gian 3 điều này:
Thứ nhất, ta có quyền lực mạnh nhất thế gian, sai xử tất cả thần dân, kể cả những thầy thuốc giỏi nhất, muốn thuốc gì cũng có thể có được, nhưng dù cho thế đi nữa, thì ta vẫn chết, điều này không thể thay đổi được. Sai các thần y giỏi nhất khiêng quan tài của ta, là để mọi người hiểu ra điều này.
Thứ hai, ta cả đời chinh phạt, thu gom được rất nhiều báu vật, khối tài sản của ta lớn nhất thế gian, kho báu của ta không ai so được, nhưng khi đối diện với cái chết, chúng vô nghĩa, ta vẫn phải bỏ chúng lại trên mặt đất, chứ không cách nào mang theo được. Sai rải vàng ngọc trên đường, là để cho thế nhân thấy rõ. Ta tài giỏi như thế còn không mang theo được, vậy thì mọi người nghĩ mình có thể mang theo được sao ?
Thứ ba, khi ta đến với cuộc đời này, chỉ có hai bàn tay trắng. Khi ta rời khỏi thế gian, vẫn trắng hai bàn tay. Chẳng thể cầm theo được gì cả, quy luật luôn là thế, ta là đại đế – vua của các vua thì cũng vậy mà thôi. Để bàn tay ta phơi ra khỏi nắp quan tài, là để mọi người có thể thấy điều ấy.
Và rồi ông nhắm mắt.
�]�
Alexander là đại diện không thể hoàn hảo hơn cho mục tiêu sống “Càng có được nhiều tức là càng hạnh phúc nhiều”. Bất luận ở trong nền văn hóa nào, ở xứ sở nào trên khắp thế giới, từ xưa đến nay, đại đa số nhân loại vẫn chọn mục tiêu này làm lẽ sống cho mình, đơn giản vì nó quá thực tế. Thậm chí mục tiêu này còn không cần ai dạy, nó tự cài đặt sẵn trong bản năng của mỗi người rồi, cứ sinh ra là có sẵn. Càng trưởng thành thì nó càng tiến hóa lên phức tạp hơn mà thôi.
Chẳng phải nhiều tiền bạc hơn thì cuộc sống sẽ thoải mái hơn sao ? Chẳng phải sở hữu nhiều quyền lực, danh tiếng, địa vị, mỹ nhân .v.v… thì ai cũng thấy sung sướng hơn sao ? Chẳng phải cả thế gian từ cổ chí kim con người vẫn không ngừng tìm đủ mọi cách từ ôn hòa đến đẫm máu để theo đuổi mục tiêu này sao ?
Đúng là như thế, hầu hết nhân loại chọn mục tiêu này. Nhưng bạn có thấy không, hầu hết mọi người đều có rất nhiều đau khổ. Rất hiếm người nhìn ra được mối liên hệ này.
Ban đầu người ta chưa có, họ đau khổ, họ cho rằng khi có được rồi, đau khổ sẽ hết. Họ nỗ lực bằng nhiều cách để đạt được, xong đến khi đạt được như mong muốn ban đầu rồi. Một cái khổ khác lại xuất hiện, buộc họ phải nỗ lực nhiều hơn để có nhiều hơn. Vậy là ở bất cứ giai đoạn nào, đau khổ vẫn luôn tồn tại.
Người nghèo có nỗi khổ của nghèo, người giàu có nỗi khổ của giầu, người chưa đạt được có cái khổ của họ, người đạt được rồi thì cuộc sống sẽ mọc ra những cái khổ khác. Sự thật này không hề bị giấu diếm, thậm chí nó được phơi bày một cách công khai, rõ ràng, được viết lại thành những câu chuyện, giống như chuyện “Ông lão đánh cá và con cá vàng”. Người ta cũng đọc đấy, nhưng thường sẽ nghĩ là chuyện của ai khác chứ không phải chính mình.
Nếu là một anh lính, anh ta sẽ nghĩ “Chắc lên làm tướng lĩnh, ta sẽ thấy hạnh phúc”. Nếu là một tướng lĩnh, anh ta lại cho rằng “Khi nào lên làm vua, ta mới hạnh phúc”. Còn một ông vua, thì lại thấy rằng “Phải thôn tính được những quốc gia xung quanh, ta mới kê cao gối mà tận hưởng hạnh phúc được”. Ai nấy nhìn quanh, và thấy mọi người quanh mình cũng đều lao theo con đường này một cách rất nhiệt tình, và càng tin chắc “Phải là một con đường đúng đắn, thì nhiều người mới lao theo như vậy”.
Vì cứ chăm chăm tin theo những ý nghĩ được thôi thúc từ lòng tham bất tận ấy, ai ai cũng cực kì bận bịu. Không còn thời gian, tâm sức đâu để nhìn lại.
Còn Alexander, ông đã chiếm xong hầu hết mọi thứ, ông đã đi đến hết con đường này, mới phát hiện ra: chẳng có kho báu hạnh phúc nào chờ ở cuối con đường cả. Rất nhiều thứ đã phát sinh mà ban đầu ông ta không tính ra được khi chiếm được những thứ cả thế gian thèm muốn lại như thế.
Những vương quốc ông xâm lược được thì không ngừng có các cuộc nổi dậy, ông phải mệt mỏi chỉ huy quân đội đàn áp liên tục.
Các cuộc chiến liên miên nhiều năm không dứt mà ông ta phát động khiến cho những chiến hữu từ tướng lĩnh đến binh sĩ đã vào sinh ra tử với ông cảm thấy kiệt sức, chán ngán tột cùng. Họ quay sang oán trách và chống đối ông. Mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm khi tự tay ông đã đâm chết một trong những người bạn thân nhất của mình, điều đó trở thành nỗi đau đớn day dứt ông cho đến lúc chết.
Các bà vợ xinh đẹp của ông thì không ngừng ghen tuông, bày mưu tính kế hãm hại nhau. Khiến cho gia đình – đáng lí là một nơi êm ấm để trở về lại thành một chiến trường thứ hai mà ông không biết chiến đấu như thế nào, nên thường tìm cách trốn ra ngoài chứ không dám về cung.
Vàng bạc châu báu quá nhiều, ông lại không có thời gian nhòm ngó đến chúng vì còn phải lo xử lý đủ thứ chuyện phát sinh khác, chỉ biết giao cho quan giữ kho quản lý, thế rồi lại phát sinh chuyện thâm hụt, các viên quan đổ lỗi cho nhau, rồi kiện tụng, đấu đá, bỏ tù nhau về vấn đề kiểm toán. Alexander lại phải căng não ra để phân xử việc này.
Quan sát tình hình một cách toàn diện, ông nhận ra, chỉ cần mình chết, thì tất cả những thứ ông gây dựng được sẽ sụp đổ, những người từng kề vai sát cánh sẽ trở mặt, quay sang chém giết nhau để tranh giành đủ thứ, từ ngôi vua đến lãnh thổ, từ châu báu cho đến mỹ nhân… Vậy làm như thế nào để không phải chết đây ? Ồ, không hề tồn tại một cách nào như vậy !
Quái lạ, hễ chiếm thêm được cái gì, y như rằng chính cái đó lại trở thành một vấn nạn mới đè nặng lên ông, khiến ông vất vả, khổ sở hơn, mà khi chưa sở hữu chúng, ông không hề phải chịu những thứ đó. Tột đỉnh vinh quang và bá chủ thế giới lại cũng chính là một gánh nặng ngàn cân đè lên tâm trí ông. Quá mệt mỏi, buộc ông phải suy nghĩ lại.
Chỉ đến khi cuối đời, khi bàn tay ông đã chiếm hữu được vô số thứ mà cả thế gian vẫn luôn thèm khát, xong lại thấy trong tâm mình vẫn đầy những nỗi dày vò, khổ sở. Nghiêm túc nhìn lại một cách thẳng thắn và kĩ lưỡng, ông mới ngậm ngùi phát hiện ra mục tiêu bấy lâu mình theo đuổi, nó đã sai.
Thế giới này vận hành theo những quy luật khác với những gì ông tưởng tượng. Nhiều khi ngồi trên ngai vàng, ông cho rằng mình nắm vận mệnh của chính mình cũng như vô số thần dân trong tay. Nhưng hóa ra vận mệnh của ông nằm gọn trong sự chi phối của các Quy luật vũ trụ, giống như các quân cờ nằm gọn trong tay người chơi cờ, ông chỉ là may mắn được làm quân vua trong khi những người khác làm quân tốt, quân xe mà thôi.
Cái chết giúp ông tỉnh ngộ ra rất nhiều. Song cái chết cũng chỉ là một trong rất nhiều quy luật khác của vũ trụ này mà thôi. Còn rất nhiều những quy luật khác quan trọng hơn, kỳ diệu hơn được vũ trụ giấu kín. Chúng âm thầm và lặng lẽ, chẳng có một tờ báo hay hãng truyền thông nào lăng xê cả, nên ít người chú ý và tìm hiểu, nhưng chúng lại mang sức mạnh khủng khiếp, điều khiển mọi sự việc lớn nhỏ, dựng lên và phá hủy mọi công trình, thành quả trên thế giới này.
Con người quá nhỏ bé khi đứng trước sức mạnh của Vũ trụ. Nếu không hiểu cách mà vũ trụ này vận hành, thì việc cuộc đời ta bị nghiền nát trong đau khổ bởi các quy luật là điều khó tránh khỏi.
Còn ngược lại, nếu nắm vững các quy luật, hiểu được cách vũ trụ này vận hành, bạn có thể nương theo sức mạnh của các quy luật ấy để đạt được những gì mong muốn, giống như những thủy thủ lão luyện, nương theo sức gió mà giong buồm đi khắp nơi trong đại dương. Và hơn thế nữa, bạn có thể làm chủ được chính mình, sắp xếp lại vận mệnh của chính mình.
Và nếu bạn đã bắt đầu tò mò muốn tìm hiểu về những quy luật ấy. Thì từng chương trong cuốn sách này sẽ từ từ đào xới, khai quật và làm sáng tỏ từng quy luật quan trọng theo một trình tự tăng dần, từ dễ đến khó.
Không chỉ có thế, “Thấu hiểu luật vũ trụ” sẽ trải ra một tấm bản đồ, để bạn có được một tầm nhìn bao quát tổng thể xuyên suốt không gian và thời gian. Từ đó bạn có thể vạch ra một hướng đi sáng suốt, để không sống uổng phí một kiếp người, không phải tiếc nuối như Steve Jobs, Alexander hay bất cứ một người sống lạc lối nào khác đã phải nuối tiếc vì đã không hiểu rõ sớm hơn.
(Trích sách “Thấu hiểu luật Vũ trụ” – Quang Tử)
_______________
Nếu như nội dung của chương 1 này đã khiến bạn háo hức và muốn trở thành một trong những người đầu tiên có được cuốn sách “Thấu hiểu luật Vũ trụ” ngay khi nó vừa xuất bản. Bạn có thể đặt trước sách bằng cách nhắn tin zalo cho Quang Tử qua số zalo 0349248250 với nội dung “Tôi muốn đặt trước sách Thấu hiểu luật Vũ trụ”

KHI MỚI TU MÀ NGƯỜI XUNG QUANH CHỐNG ĐỐI

Hỏi: – Em mới bắt đầu tìm hiểu và thực hành theo Phật Pháp được một thời gian. Nhưng những người trong gia đình và xung quanh thường nói nặng nói nhẹ, vặn vẹo rồi phản bác đủ kiểu, có khi còn chửi em như tát nước vào mặt, bắt em phải từ bỏ việc tu học khiến em rất khổ sở. Xin anh cho em lời khuyên. Quang Tử: – Bạn thân mến. Cũng giống như bạn, tôi cũng từng đã trải qua một thời kỳ mà cuộc sống đầy những xung đột khi mới tìm đến đạo Phật. Khi ấy, tôi cảm thấy rất chông chênh giữa một bên là lý tưởng đẹp đẽ, sáng suốt nhưng vô hình của những lời Phật dạy, với một bên là hiện thực trần trụi, thực dụng, với những tư tưởng méo mó nhưng đầy gay gắt, quyết liệt, sát sườn ngay bên cạnh của người thân, xã hội. Thật không hề dễ dàng gì mà có thể giữ vững lập trường để thực hành lời Phật dạy trong cuộc sống khi mà chỉ có một thân một mình đơn độc, không có ai đồng hành. Đạo thì đầy ánh sáng tuyệt diệu, nhưng chỉ sáng trong tâm trí của riêng mình thôi, chứ có tí ánh sáng nào trong tâm trí những người kia đâu. Mà phần lớn thời gian trong ngày, thì mình vẫn phải tiếp xúc, phải qua lại, làm việc và sống cùng những con người ấy. Họ có thể không đúng, lời họ nói đầy lỗi ngụy biện và thiếu thuyết phục, ấy nhưng họ thường rất mạnh mẽ, đầy nhiệt huyết, hễ nói ra cái gì là nói rất gay gắt, và trong nhiều trường hợp, họ lại chiếm số đông. Một số Phật tử có bản lĩnh có thể thuyết phục được mọi người xung quanh cùng hướng theo mình. Điều đó rất tốt, xong cũng rất khó, không phải ai cũng làm được. Ở đây Quang Tử sẽ chỉ bàn tới những trường hợp bị xung quanh áp đảo. Và nếu bạn ở trong hoàn cảnh này, bạn sẽ hiểu. Khi mới tu học, thì bản thân mình cũng đâu có đủ hiểu biết, kiến thức rộng rãi, lí luận sắc sảo để có thể đối đáp trôi chảy với những màn “hỏi xoáy đáp xoay” của những người xung quanh về sự khác biệt của mình. Nên dù biết mình đi đúng đường, vẫn thường bị “quần hùng áp đảo” và phải chọn cách im lặng, xem như mình đang tu nhẫn nhục vậy. Quả là một áp lực rất lớn với một người mới bước chân vào con đường tu học, đạo tâm còn non nớt. Những lúc này, nếu như bạn có được những người bạn Đạo, những đồng tu tốt làm điểm tựa thì quả là rất tuyệt. Nhưng nếu không có thì sao ? Thế thì ĐẠO LÝ và Ý CHÍ sẽ phải là điểm tựa của bạn. Đạo của Như Lai không phải là một lý thuyết đọc cho vui, cũng chẳng phải là niềm tin để an ủi tinh thần mà chẳng có gì làm căn cứ. Đó là những quy luật bất diệt của vũ trụ này, và vạn vật đều phải tuân theo những quy luật ấy, không khác được. Thế nên Phật Pháp đầy đủ vô số các bằng chứng làm căn cứ, đầy đủ lý lẽ sắc bén và logic để khiến cho thiên tài khoa học Albert Einstein phải ngả mũ thán phục và đưa ra tuyên bố: “Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng những nhu cầu của khoa học hiện đại, thì đó là Phật Giáo. Phật Giáo không đòi hỏi phải xét lại mình để cập nhật với những khám phá gần đây của khoa học. Phật Giáo không cần từ bỏ quan điểm của mình để đi theo khoa học, vì Phật Giáo bao gồm khoa học cũng như vượt qua cả khoa học.” _ Albert Einstein_ Đối với Đạo, bạn không được để mình lơ mơ, cái gì cũng “nghe người ta nói” mà chẳng rõ ràng cái gì. Bạn phải cố chủ động đọc kinh điển cho thật kỹ, nắm giáo lý cho thật chắc chắn, suy xét tư duy, đối chiếu thực tế cho thật thông tỏ. Rồi thì thời gian sẽ trả lời cho tất cả. Những người sống ngược với quy luật Nhân quả nghiệp báo, thì hiện tại họ có thể rất mạnh miệng, nhưng rồi thời gian sẽ trả về cho họ những kết quả khủng khiếp. Họ làm thì họ chịu, ta không hùa theo, thì không phải chịu những quả báo như họ. Còn nếu ta hùa theo, sống theo ý họ muốn mà tạo nghiệp, thì sau này khi quả báo đổ xuống đầu ta, họ có chịu thay cho ta không? KHÔNG ! Hãy nhớ điều này. Không ai, bất kể là người thân hay bè bạn, đồng nghiệp… không ai đưa đầu chịu hậu quả thay cho ta đâu. Còn nếu ta sống thuận với lẽ Đạo, nỗ lực giữ giới, siêng năng hành thiện, tinh tấn tu tập, thì hiện tại có thể gặp đầy những khó khăn, bất lợi, chống đối từ gia đình, họ hàng, nơi làm việc, xã hội… nhưng tương lai đứng về phía ta với những phước báo vượt trội, những thành tựu lớn lao. Hãy tự hỏi, khi phước báo và những thành tựu vi diệu đến, chính ta hưởng chứ ai hưởng thay ta đâu? Những người mỉa mai, chống đối ngoài kia có ban cho ta những điều này không? KHÔNG. Hạnh phúc của ta thì ta phải tự quyết định, phải tự cố gắng mà lo xây đắp, gìn giữ lấy. Sao có thể trông chờ vào mọi người xung quanh rồi để cho ý kiến khen chê của miệng lưỡi thế gian quyết định thay được. Hãy trông chờ vào Ý CHÍ của chính mình. Tu  là hành trình lội ngược dòng đời để trở về với Đạo. Đã là lội ngược dòng, thì ta không thể hi vọng ngay lập tức có được những cái thoải mái, dễ dàng, sung sướng, phủ phê, với những màn vỗ tay tán thưởng hay thảm đỏ mà người đời trải sẵn cho ta khi ta sống đúng với Đạo. Không có chuyện đó đâu. Ta đang sống giữa dòng đời, mà đời thì nghiệt ngã lắm, và nó có vẻ rất không muốn ta thoát khỏi bàn tay kiểm soát của nó. Người ta có thể hút thuốc lá nhả khói mù mịt ngày này qua tháng khác, khiến những người không hút thuốc xung quanh khó chịu, tăng nguy cơ ung thư phổi, xong thường mọi người cũng chỉ lắc đầu bỏ qua. Người ta có thể hát hò karaoke đinh tai nhức óc cả làng cả xóm, nhưng thường thì chẳng ai bảo sao. Người ta có thể kéo cả hội ăn nhậu bê tha, say khướt rồi cãi cọ, chửi bới, đánh lộn ầm ĩ, ảnh hưởng rất nhiều đến xung quanh, xong nếu không đến chấn thương mức nghiêm trọng hay thành án mạng, thì thường cũng không ai ý kiến gì. Ấy nhưng nếu gặp ai ăn chay, giữ giới, sống theo lời Phật dạy, vốn chẳng ảnh hưởng gì đến ai, thì y như rằng sẽ có kha khá người nhảy vào nói móc nói mỉa, bàn ra bàn vào, phản đối từ nhẹ nhàng đến quyết liệt, chê bai là đồ mê tín, rồi kỳ thị các kiểu. Nếu thẳng thắn hỏi họ: việc ăn chay giữ giới của đệ tử Phật thì ảnh hưởng gì đến họ ? Chắc chắn họ không trả lời được. Chẳng có cái lý nào đứng về họ cả, từ pháp luật cho đến văn hóa, từ cơ sở lý luận logic cho đến truyền thống dân tộc. Nhưng mà họ thích chống thì họ cứ chống thôi. Đời vốn đầy sự vô lý như vậy mà. Và khi đã đi lội ngược dòng đời, ta phải xác định tư tưởng là sẽ phải đối mặt với cái hiện thực vô lý ấy. Đi xuôi dòng luôn dễ dàng, thuận lợi, nhưng càng đi càng xuống thấp. Đi ngược dòng thì luôn khó khăn, khổ nhọc, nhưng càng đi càng lên cao. Cái gì cũng có cái giá của nó. Và lựa chọn như thế nào là việc của bạn, không ai làm thay cũng như nhận kết quả thay bạn được đâu. Điều an ủi là mọi thứ đều vô thường, không gì là còn mãi. Những sự chống đối, đả kích, dè bỉu của mọi người với sự khác biệt của người tu hành không kéo dài mãi. Khi ta cứ kiên định với con đường của ta, mặc kệ mọi người nói ngả nói nghiêng, thì sau một thời gian, họ nói chán rồi họ mệt, họ sẽ thôi. Vốn không làm tổn hại gì đến ai, thậm chí ngược lại, một người tu hành theo Phật chuẩn mực thì sẽ luôn ảnh hưởng tích cực đến xung quanh, chẳng có động cơ gì để người ta chống đối mãi. Thấy quen mắt rồi thì họ sẽ chấp nhận việc tu hành của ta là một điều bình thường. Thời gian thì vẫn cứ trôi. Còn ta thì vẫn cứ tu. Thế thì rồi cũng đến ngày ta hưởng được trái ngọt. Phần thưởng của Đạo, sự an nhiên, sáng suốt, cuộc sống viên mãn, vãng sinh, thành Đạo… thường đến chậm, có khi rất chậm, qua nhiều năm, nhiều kiếp. Vì là kết tinh của những năm tháng dài miệt mài tu học, vất vả thực hành, kiêng khem giữ gìn giới luật… nên khi quả ngọt đến, nó sẽ ở lại rất lâu trong ta, có thể là phước báo nhân thiên từ kiếp này sang kiếp khác, có thể còn khổng lồ hơn thế, khi thành tựu vãng sinh hay đắc Đạo. Khi ấy, hạnh phúc của Đạo sẽ vượt xa, vô cùng xa so với những vui thú chóng nở sớm tàn của trò vui thế gian. Nhưng cái gì cũng có cái giá của nó, thành quả của Đạo đòi hỏi sự kiên trì, đòi hỏi nỗ lực một cách bền bỉ trong thời gian dài tuân thủ, thực hành đúng theo lời Phật dạy. Và sự kiên trì, nỗ lực ấy thì nằm ở trong tay bạn. Bạn muốn thả xuôi theo đời hay lội ngược dòng về với Đạo ? Hãy suy nghĩ kỹ và quyết định, tương lai nằm trong tay bạn. (Quang Tử)

U NANG BIẾN MẤT KHÔNG CẦN PHẪU THUẬT

Nếu cho rằng cứ hễ tu tập Phật Pháp là giải quyết được mọi nỗi khổ NGAY TỨC KHẮC, thì bạn đã nhầm. Thuận theo sự vận hành của nhân quả, những cư sĩ tại gia, tăng ni xuất gia, hay thậm chí các vị cao tăng vẫn phải chấp nhận những đau khổ, chướng nạn có thể ập tới bất cứ lúc nào. Đơn giản vì quy luật hân quả cần có thời gian để hiển bày. Bởi thế nên bệnh tật chẳng chừa một ai, kể cả với những đệ tử Phật. Lẩm nhẩm tính toán một hồi, Mai nhận ra mình trễ kinh nguyệt đã gần hai tháng. Lấn cấn không biết nguyên do từ đâu? Để yên tâm, ngày 22/4/2023, cô sắp xếp công việc, chạy qua phòng khám đa khoa Thiên Nam kiểm tra một lượt. Sau một hồi thăm khám, siêu âm vùng bụng dưới kĩ càng, bác sỹ phát hiện có một khối u nang buồng trứng kích thước 63 x 54 mm. Đây là một khối u khá lớn, nếu không thấy kích thước có dấu hiệu nhỏ lại thì phải làm phẫu thuật cắt bỏ sớm. Mai nghe xong, lấy tay với tờ kết quả đang để trên mặt bàn, lật đi lật lại, xem xét một lần nữa, rồi thở dài một hơi, ánh mắt bắt đầu lộ vẻ lo lắng. “Mà biết đâu bác sỹ nhầm? Cũng đã có những trường hợp như thế mà”. Một suy nghĩ lóe lên trong đầu cô. Thế rồi, Mai cất công lên bệnh viện Tâm Anh trên Sài Gòn với hy vọng có lẽ chỉ nhầm thôi. Và kết quả bên này vẫn như thế, không khác. Bệnh tật đã tìm tới cô, không thoát được. Cô là Trần Ngọc Mai, sinh năm 1990, sống tại đường Nguyễn Hữu Cảnh, thành phố Vũng Tàu. Là một đệ tử Phật, tu hành ngót nghét gần chục năm, Mai biết rõ căn nguyên của bệnh tật không nằm ngoài nhân quả nghiệp lực. Giống như bao người, cô không tránh khỏi có chút hoang mang. Nhưng bản thân biết giáo lý, lại được nghe và chứng kiến rất nhiều trường hợp khỏi bệnh nhờ Phật Pháp, Mai biết mình phải làm gì trong hoàn cảnh này, cũng không đến nỗi căng thẳng quá mức như nhiều người bệnh khác. Nhân quả cần thời gian, nhưng chí ít, sự hiểu biết Phật Pháp ngay hiện tại đã giúp Mai giữ tâm lý vững vàng hơn bình thường. Tham khảo thêm thông tin từ nhiều nguồn, cô không hy vọng khối u nang tự nhiên có thể bé đi được, vì kích thước của nó hiện giờ khá lớn. Mai xác định tư tưởng, một mặt chấp nhận nếu cần mổ thì phải mổ, mặt khác nỗ lực tu trì hồi hướng công đức cho bản thân và các oan gia trái chủ đều được tiêu trừ nghiệp chướng, mong các vị buông bỏ hiềm hận mà buông tha cho cô. Được tới đâu, hay tới đó, vẫn hơn là không làm gì. Biết tình hình bệnh tật của Mai, các bạn đồng đạo cùng nhau trì chú Đại Bi vào nước cho cô uống, hiệp lực tạo công đức cùng hồi hướng cho cô và chư vị oan gia. Mai cảm kích vô cùng. Ba tuần sau, cô tái khám tại phòng khám đa khoa Thiên Nam, tư tưởng đã xác định nếu không có gì tiến triển thì khăn gói lên Sài Gòn mổ luôn cho sớm. Bác sỹ cầm đầu máy siêu âm, đưa tay dò đi dò lại nhiều lần, mắt rướn lên, hướng chằm chằm vào màn hình, như thể muốn chắc chắn thêm về hình ảnh mình vừa thấy. Mai nhìn bác sỹ, đoán có gì đó khác lạ, liền hỏi: – Tình hình em thế nào rồi ạ? Bác sỹ đột nhiên mỉm cười, đáp: – May mắn thật, có ba tuần mà u nang to như vậy không còn nữa, chỉ xót lại chút nhân xơ không đáng kể. Về nhà ăn mừng đi thôi. Nghe thấy vậy, Mai mừng rỡ như mở cờ trong bụng. Cô biết chẳng phải do may mắn, mà đó là do công đức thực hành Phật Pháp của cô và các bạn đạo mấy tuần qua. Có nhiều người vì không hiểu biết tường tận sự vận hành của quy luật Nhân quả, khi thấy những người tu hành như Mai gặp phải chướng nạn, khổ đau, bệnh tật .v.v… liền bài bác sự nhiệm màu và lợi ích của Phật Pháp. Nhưng trên thực tế, chúng ta không nên hiểu nhân quả như cái công tắc đèn, hễ bật lên thì đèn sáng ngay tức thì, tắt đi thì đèn tối. Nhân quả giống như trồng một cái cây, gieo hạt rồi, phải chờ nhiều tháng, nhiều năm, tùy loại cây mà thời gian trổ hoa, ra trái khác nhau. Mỗi người trong nhiều đời nhiều kiếp, từng tạo ra rất nhiều thiện nghiệp và ác nghiệp khác nhau. Khi thiện nghiệp chưa tới thời gian trổ quả, hoặc tới lúc trổ quả nhưng không đủ lớn để tiêu trừ ác nghiệp, thì ác nghiệp tới kì vẫn phải hình thành quả báo. Như trường hợp của Ngọc Mai, do ác nghiệp nào đó trong quá khứ chưa được tiêu trừ, nay cô phải hứng chịu bệnh tật. Nếu Mai không tu tập, thì căn bệnh này của cô không thể khỏi một cách nhanh chóng như vậy. (Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Trần Ngọc Mai)

CHUYỆN ĐỜI CA SĨ NGUYỄN ĐỨC – LÀM LẠI CUỘC ĐỜI TỪ VŨNG LẦY TĂM TỐI

Với những ai yêu thích dòng nhạc Hoa lời Việt, thịnh hành vào cuối những năm 90, đầu những năm 2000, thì đều đã quen thuộc với những cái tên như Đan Trường, Lam Trường, Lý hải… Tuy nhiên, khi nhắc đến Nguyễn Đức, hẳn không ít người phải ngờ ngợ, nó vừa quen, vừa lạ. Anh là một ca sĩ sở hữu giọng ca rất ấm áp, ngọt ngào, từng một thời rất đắt show tại những sân khấu lớn tại Tp.HCM, là một trong những người tiên phong đưa nhạc Hoa lời Việt lên ngôi. Ấy nhưng rất tiếc, khi sự nghiệp đang lên như diều gặp gió, thì bỗng… diều đứt dây, cái tên Nguyễn Đức dần rơi vào quên lãng. Chuyện gì đã xảy ra với anh ? Nguyễn Đức sinh năm 1969, là con út trong một gia đình khá giả, từ nhỏ đã được gia đình hết mực cưng chiều. Lớn lên, anh sớm bộc lộ năng khiếu và đam mê ca hát, và chọn đi theo con đường âm nhạc. Một lần nữa, may mắn lại mỉm cười với anh, sự nghiệp ca hát rất thuận lợi, những bản nhạc Hoa lời Việt của anh được khán giả đón nhận nồng hậu, show diễn tới tấp, đài truyền hình cùng các hãng băng đĩa giải trí liên tục mời anh hợp tác để thu âm. Đắt show, tiền bạc ào ào chảy vào túi, nhưng khi đó, anh không dùng đồng tiền kiếm được để đầu tư thêm cho sự nghiệp, cũng không dùng chăm lo cho gia đình, báo hiếu ba mẹ, cũng chưa từng mua tặng người thân một món quà. Đơn giản là anh hưởng thụ, tiêu xài cho những thú vui của bản thân. Vào năm 2000, một lần anh được các fan hâm mộ rủ đi chơi vũ trường, anh vui vẻ nhận lời. Trong ánh đèn nhập nhòe sáng tối, một fan đưa cho anh nửa viên thuốc màu hồng. – Anh Đức uống đi. Nhìn viên thuốc là lạ, anh định từ chối. Thấy anh lưỡng lự, một cậu khác nói thêm vào: – Anh Đức ơi, chơi đi, vui lắm, cái này mắc tiền lắm. 500 nghìn (thời đó bằng một chỉ vàng) một viên đó, không rẻ đâu ạ. Chúng em mời anh. Thấy họ nhiệt tình, Đức cũng phân vân, rồi cả nể, đánh bạo cho vào miệng. Sau này anh mới biết đó là viên thuốc lắc, một loại ma túy tổng hợp. Đám bạn thấy anh dùng thuốc, liền hô lên tán thưởng, rồi tiếp tục cùng nhau quay cuồng, nhảy nhót trong nền nhạc sập sình một cách điên dại, kì quái. Chỉ khoảng 10 phút sau, Đức bắt đầu đứng không vững, đầu óc như trên mây, mất hết lý trí, hòa với đám đông điên cuồng nhảy múa. Sau cuộc ăn chơi thâu đêm suốt sáng đó, đám “fan hâm mộ” còn rủ rê Đức đi thêm nhiều ngày nữa, cho tới khi anh chính thức trở thành một con nghiện. Ngày này qua tháng nọ, được đám bạn nhà giàu bao, nên Đức mặc sức tận hưởng những cuộc vui bất tận khắp các vũ trường và nhà hàng sang trọng. Dần dà, vì bận bịu chơi bời phê pha, nên anh không đoái hoài gì tới ca hát nữa. Các sân khấu vẫn mời, nhưng anh viện đủ lý do từ chối. Cứ thế không bao lâu, sự nghiệp tuột dốc, khán giả dần quên mất cái tên Nguyễn Đức. Nhưng cuộc vui nào rồi cũng đến lúc phải tàn. Năm 2003, vì phạm tội bị truy nã nên nhóm bạn đó tan rã. Không còn ai bao, Đức phải dùng tiền của mình để chơi thuốc. Chả mấy chốc, túi anh cũng rỗng sạch. Lúc đó mới nhớ ra mình đã thất nghiệp từ lâu, giờ phải làm sao để có tiền mua thuốc chơi tiếp đây ? Trong cái khó ló cái “dại”, anh chơi cờ bạc nhiều hơn, hi vọng nó sẽ cho anh tiền nong dư giả để mua thuốc. Nhưng không ngờ, nó chỉ càng khoét sâu thêm cái hố túng quẫn của anh. Đến lúc không còn chỗ nào xoay tiền, anh dụ dỗ mẹ bán căn nhà tại quận 5 đang ở, mua một căn nhỏ hơn ở quận 3. Ba đã mất, các chị đều đã ra ở riêng, chỉ còn mẹ và anh trong nhà, nên cũng không ai phản đối được. Thương con, mẹ anh đồng ý, bán nhà xong để dư ra được 20 cây vàng sử dụng khi cần thiết. Nhưng bà không biết rằng, cậu quý tử của bà đã tiêu sạch số tài sản đó chỉ vỏn vẹn thời gian ngắn vùi mình trong sòng bạc. Chẳng bao lâu sau (2004), Đức tiếp tục thủ thỉ với mẹ bán căn nhà quận 3 chuyển mua căn khác nhỏ hơn tại quận 10. Hai mẹ con cứ thế chuyển từ nhà lớn sang nhà nhỏ dần. Kinh tế gia đình ngày càng kiệt quệ, thường xuyên phải dùng mỳ ăn liền cầm cự qua ngày. Sau 7 năm ăn chơi buông thả, một ca sỹ trẻ có tiếng tăm, với cuộc sống sung sướng đã thành một con nghiện đói thuốc, lại đói cả ăn, còn khiến cho gia cảnh ngày càng u ám hơn. Bước đường cùng, anh cầm cố căn nhà ở quận 10 cho ngân hàng được 100 triệu, lấy tiền tiêu xài. Nhưng ngựa quen đường cũ, hết vũ trường đến chơi thuốc, rồi cờ bạc đề đóm, số tiền đó cũng nhanh chóng được anh phá sạch sẽ. Rồi tiếp theo, cũng như bao con nghiện khác, Đức bán xe, bán cả bàn ghế đồ đạc trong nhà, rồi chuyển sang bán thuốc lắc để có tiền chơi. Từ ngày Đức hư hỏng, ăn chơi, nghiện ngập, suốt ngày nói dối, đàn đúm thâu đêm suốt sáng, mẹ Đức đã buồn khổ vì anh rất nhiều. Nay lại phải bán hết nhà này đến nhà khác, kinh tế gia đình tụt dốc, mẹ anh càng thêm phần sầu não. Đôi mắt của bà từ lâu đã không còn lấp lánh niềm vui, đôi mắt ấy giờ chỉ biết thẫn thờ nhìn đứa con trai thân tàn ma dại, ngày đêm đâm đầu vào những hố sâu thăm thẳm của cuộc đời. Do chơi thuốc lâu ngày, cơ thể Đức ngày càng suy nhược. Đã thế lắm hôm chơi thuốc quá liều, bị sốc thuốc, Đức suýt chết mấy lần, may nhờ được đưa vào bệnh viện cấp cứu kịp thời nên còn cái mạng. Các bác sĩ quen mặt Đức rồi, cũng ngán ngẩm thốt lên: – Đừng có vô đây nữa. Cứ sống mãi như thế này sao? Phải rồi, có lẽ anh cũng chẳng muốn sống như thế này nữa đâu. Nhưng chót dại dính phải ma túy, bỏ được nó khó như bắc thang lên trời. Có lần, Đức lại sốc thuốc, nhà không còn tiền đưa anh đi cấp cứu, đành để anh “tự sinh tự diệt” ở nhà. Đức lê lết bò trên sàn, thở thoi thóp, anh đã sẵn sàng để đi theo thần chết. Trời lúc đó mưa rất to, tiếng mưa rơi ào ào trên mái tôn át hết hầu như mọi âm thanh khác, trừ tiếng gào khóc thảm thiết của mẹ. Khi hơi thở đã gần cạn kiệt, nhìn bóng dáng người mẹ già vẫn luôn bên anh bất kể anh thế nào. Thế mà anh chưa làm được gì báo hiếu mẹ cả, chỉ toàn làm mẹ khổ thôi. Anh hối hận, hối hận thật sự. Khao khát được sống trong anh lại trỗi dậy. Đức chợt nhớ tới Ngài Quan Âm, dồn hết tâm lực, gồng người lên, lết đến bàn thờ Quán Thế Âm Bồ Tát lẩm nhẩm khấn nguyện: – Con hư đốn, con biết tội lỗi của mình. Xin Ngài hãy cứu sống con. Một lần này thôi, con không dám nữa. Con chưa làm được điều gì cho mẹ, cho gia đình, cho mọi người. Xin Ngài thương mà hãy cứu con. Dường như được sự gia hộ của Bồ Tát, tự nhiên linh tính của anh thôi thúc anh phải đứng dậy, đi tới đi lui để xả chất độc dược trong người, không thể lê lết nằm một chỗ như vậy. Đức bắt đầu bấu tay vào tường, gắng gượng đứng dậy, đi đi lại lại chậm rãi, vừa đi vừa thở hổn hển như cá mắc cạn. Sau đó, anh uống nhiều nước, rồi đi tiểu nhiều lần. Cơn sốc thuốc cũng theo đó tan biến một cách thần kì. Sau lần suýt chết ấy, Đức suy nghĩ rất nhiều. Trong số đám bạn của anh, vài đứa chết vì sốc thuốc, đứa thì bị đâm chết, thậm chí có đứa bị tử hình. Ngay chính anh cũng mấy lần tưởng chết. Anh nghiệm ra cuộc sống này thật mong manh, nay sống mai chết không thể biết trước. “Cuộc sống vô thường ngắn ngủi, còn biết bao nhiêu việc ý nghĩa cần làm, tại sao mình cứ chôn chân trong mấy trò điên rồ đó chứ?” – Đức nghĩ. Kể từ đó, anh quyết tâm làm lại cuộc đời. Anh cắt liên lạc, tránh xa đám bạn xấu. Rồi vận hết ý chí bình sinh, bỏ chơi thuốc, bỏ hết các trò ăn chơi cờ bạc. Giờ đây, anh chỉ mong mỏi được quay trở lại cuộc sống bình thường để còn báo hiếu cho mẹ. Một người bạn của chị gái khuyên nhủ Đức chịu khó đi chùa lễ Phật, sẽ giúp anh dễ dàng vượt qua khó khăn. Nhưng những khoản nợ nần cứ treo lơ lửng trước mắt, khiến anh không có tâm thế đâu vô chùa. Đức tự nhủ: “Mình phải ca hát trở lại, lấy tiền nuôi má” Đã lâu không hát, nhưng đam mê âm nhạc chưa bao giờ tắt trong con người anh. Nó chỉ tạm thời ngủ quên, và nay thì phải đánh thức nó dậy. Anh liên hệ với các sân khấu xin đi diễn lại, nhưng họ từ chối. Anh đành xin đi hát đám cưới, nhưng ngay những đám cưới nho nhỏ cũng không tới lượt. Đức gọi điện cho nhiều anh em đồng nghiệp tìm mối: – Có cái đám cưới nào không? Cho tôi đi hát với. – Cát xê có 30 nghìn thôi Đức ạ. – 30 nghìn cũng được. – Nhưng đủ người rồi Đức ơi. Thông cảm nhé. Thật trớ trêu, khi người ta cần anh thì anh từ chối, khi anh cần người ta thì người ta lại lánh xa. Cái tiếng ăn chơi nghiện ngập vốn đã lan ra khắp giới showbiz từ lâu, chẳng ai còn dám mời anh nữa. Đức buồn rầu cúp máy. Chả mấy chốc, khoản thế chấp nhà cho ngân hàng đã tới thời gian đáo hạn. Nếu không có tiền trả nợ, thì hai mẹ con Đức sẽ phải ra đường. Bí quá, anh đành rao bán nhà lấy tiền trả nợ. Anh đăng bán trên các trang báo, gọi cả môi giới để mong bán được nhanh chóng. Nhưng chờ mãi chẳng bán nổi, người đến xem cũng có, nhưng không ai chốt cả. Lòng anh nóng như lửa đốt, lo lắng không yên. “Tới nước này rồi, hay cứ lên chùa thử xem.”- Anh tự nhủ. Một ngày đầu tháng 10 âm lịch, Đức lên xe buýt ra chùa Hoằng Pháp. Vào tới khuôn viên chùa, đôi mắt anh ngước nhìn lên cao, thấy dòng chữ “Phật Pháp nhiệm màu” rất lớn. Đức chợt xúc động, rơi nước mắt, quỳ dưới tôn tượng Quán Thế Âm Bồ Tát mà khẩn khoản: – Con lạy Ngài, xin ngài hãy cứu con, con không biết Phật Pháp nhiệm màu là thế nào hết. Nếu mà thật sự linh thiêng, xin Ngài cho con về bán được ngôi nhà, để cứu con với má con. Lễ Phật xong, Đức phóng tầm mắt, nhìn ngắm khuôn viên chùa, từng làn gió thong thả thổi vài chiếc lá rụng trên sân, nắng vàng phủ lên tôn tượng Phật hắt xuống thành bóng mát phủ lên vai anh. Bất chợt, Đức cảm nhận thấy một sự bình yên lạ thường. Không biết đời mình sau này sẽ về đâu, nhưng chí ít anh cũng tìm được một cảm giác bình yên mà từ lâu vắng bóng. Ngay hôm sau, đang bồn chồn lo âu, chỉ còn vài chục tiếng nữa là ngân hàng tới tịch thu nhà, chợt chuông điện thoại reo, Đức nhấc máy. Đầu dây bên kia là đạo diễn Phương Sóc, ngỏ ý muốn mua căn nhà này, rồi ngay lập tức đặt cọc tiền. Cuộc trao đổi mua bán diễn ra nhanh chóng kì lạ, khiến Đức mất vài phút ngẩn ngơ. Đã một thời gian dài đăng bán mãi không được, đằng này chỉ sau đúng một hôm kể từ khi Đức khấn xin Quán Thế Âm Bồ Tát. “Phật Pháp nhiệm màu là thật” – Đức khẳng định. Bán được nhà, trả xong các khoản nợ. Đức mua hương hoa trái cây lên chùa cúng dường, một lần nữa, anh lại khấn xin Quán Thế Âm Bồ Tát gia hộ cho mình có thể quay lại sự nghiệp âm nhạc, đem tiếng hát của mình ca ngợi Tam Bảo, Phật Pháp. Một lần nữa anh lại toại nguyện. Những người đồng nghiệp cũ bắt đầu rủ anh đi hát cho các chùa, các chương trình thiện nguyện, anh hăng hái tham gia ngay. Không lâu sau, anh có cơ hội hợp tác với nhạc sỹ Vũ Ngọc Toản để thu âm, trình diễn những ca khúc Phật giáo ở khắp mọi miền. Tuy thu nhập không nhiều, hoặc có khi không có thù lao, nhưng Đức rất hạnh phúc vì lại có cơ hội đứng trên sân khấu. Cảm động trước sự từ bi gia hộ của Quán Thế Âm Bồ Tát, Đức liên hệ với nhạc sỹ Hàn Châu, kể lại chuyện đời mình, khẩn khoản nhờ nhạc sỹ sáng tác riêng một ca khúc như một sự tri ân sâu sắc anh muốn dâng lên Tam Bảo. Và trong chương trình Phật Pháp nhiệm màu kỳ 26 tại chùa Hoằng Pháp năm 2014, trước hàng ngàn Phật tử, Nguyễn Đức đã đem bài hát “Lạy Phật Quan Âm” ấy hát lên bằng tất cả trái tim chân thành, sự biết ơn vô bờ với Quán Thế Âm Bồ Tát. Bằng một chất giọng ấm áp đầy truyền cảm, cùng với phong thái nhẹ nhàng, từ ái, bài hát đã tỏa ra một nguồn năng lượng bình an, hạnh phúc lan tỏa đến mọi người và dần trở nên nổi tiếng. Cũng từ lần biểu diễn đó, sự nghiệp anh có một sự chuyển biến lớn. Ca sĩ Nguyễn Đức liên tiếp được mời đi các chương trình khắp trong và ngoài nước, đem tiếng hát ca ngợi Phật Pháp lan tỏa nơi nơi. Anh cũng không quản ngại xa xôi, sẵn sàng lặn lội tới tận những vùng sâu vùng xa hát từ thiện. Và bây giờ, Nguyễn Đức đã trở thành một tên tuổi vang danh gắn liền với dòng nhạc Phật giáo. Đức có thu nhập ổn định trở lại. Không dại dột như xưa đem tiền đốt vào những cuộc chơi trác táng, anh dành dụm tiền mua một căn nhà ở quận 8 để hai mẹ con ở, và mua thêm vài mảnh đất nữa. Đức chia sẻ với mọi người: – Có Phật Pháp, đời mình thật sung sướng, tâm luôn thanh thản, đi đâu cũng được mọi người thương mến, được làm công việc ý nghĩa. Mỗi ngày, anh đều đặn lên chùa Bửu Đà tụng kinh, học hỏi giáo lý. Tâm tính dần biến chuyển, đến nay đã không còn tha thiết gì với những cám dỗ sa đọa ngoài xã hội. Anh chỉ tập trung vào sự nghiệp âm nhạc Phật giáo, và chăm sóc mẹ già. Phần lớn thời gian anh đều ở bên cạnh mẹ, săn sóc bà từng chút một. Ngoài ra, Đức dần tiến sâu vào học hỏi, thực hành giáo lý Phật Pháp. Anh thường ngày trì kinh Pháp Hoa đều đặn, đi đứng nằm ngồi thường niệm Phật, trì chú Đại Bi. Mỗi ngày trôi qua như vậy đều là một ngày an lạc, hạnh phúc đối với anh. Cuộc đời luôn đầy rẫy những cám dỗ, trực chờ kéo con người ta rơi xuống bùn lầy. Đức đã không đủ bản lĩnh để tránh khỏi những cám dỗ đó. Rất nhiều người trong số chúng ta cũng vậy. Nhưng một lần sa chân không có nghĩa là không còn đường cứu thoát. Với sự nỗ lực hết mình, cùng với ánh sáng soi lối của Phật Pháp, ca sĩ Nguyễn Đức đã bước ra khỏi vũng lầy nhơ nhớp, đứng dậy làm lại cuộc đời. Câu truyện của anh đã truyền cảm hứng cho những ai lầm đường lỡ bước, có thêm động lực để làm lại cuộc đời, tìm về nơi ánh sáng.   (Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Nguyễn Đức)

GIÚP CHA SIÊU THOÁT AN LÀNH

  Mong muốn cho người thân đã mất được siêu thoát về một chốn an lành là một ước muốn hết sức đáng trân trọng và cũng rất tự nhiên của con người. Tuy nhiên, làm như thế nào để người thân đã khuất thực sự được an lành, là một vấn đề không hề đơn giản. Nguyễn Hồng Hạnh, pháp danh Liên Tịnh, sinh năm 1993, sống tại Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Cha cô là một người hiền lành, chất phác, nhưng không may mắc bệnh ung thư xương răng, đã tạ thế năm 2012. Hồi cha cô mới mất, cả gia đình không biết Phật Pháp, nên cũng chỉ mời thầy cúng kiếng tang lễ như mọi nhà mà thôi. Vài năm sau, mẹ và cô dần biết đến Phật Pháp. học hỏi giáo lý, rồi cô chuyển sang ăn chay được mấy năm. Đặc biệt có duyên với Bồ Tát Địa Tạng, nên hai mẹ con thường thích tụng kinh Địa Tạng. Cho tới nay, khi đã hiểu Phật Pháp hơn cô thấy mình phải làm gì đó giúp cha siêu thoát lên cõi an lành thì cô mới yên tâm được. Và chỉ có Phật Pháp mới giúp cô thực hiện được điều đó. Năm 2022, vào tiết thanh minh, cô và mọi người trong gia đình cùng đến tảo mộ cho người cha đã khuất. Những kí ức về cha cứ thế ào ạt ùa về, cô quỳ xuống trước phần mộ, chắp tay cung kính đọc phẩm 9 kinh Địa Tạng. Sau đó, cô tha thiết trì niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng và Đức Phật A Di Đà. Vừa tụng niệm, vừa hướng về người cha của mình, có bao nhiêu công đức, cô xin hồi hướng cho ông được siêu thoát. Cảm thấy như thế vẫn còn ít, trở về nhà, Hạnh phát nguyện cầu siêu cho ông. Mỗi lần tụng đọc Kinh Địa Tạng, cô đều quỳ thẳng cung kính, tuy khá đau nhức nhưng vì cha cô đã cố gắng vượt qua. Sau một thời gian ngắn đọc tụng, đêm hôm đó, lần đầu sau khoảng 10 năm cha mất ông trở về trong giấc mơ của cô. Vẫn là hình ảnh ông đau bệnh, nằm một chỗ y như hồi mới mất, ông vận chiếc áo thun trắng mà ông hay mặc hàng ngày lúc sinh thời. Khối u vẫn lở loét trên khuôn mặt biến dạng. Đoán rằng cha cô vẫn còn chịu khổ sở trong vô hình, nên mới báo mộng cho cô như vậy. Hạnh xót xa trong lòng. Cô quyết tâm kiên trì tạo công đức hồi hướng cho cha đến khi nào có chuyển biến mới thôi. Không chỉ duy trì đọc kinh Địa Tạng, Hạnh phát tâm cúng dường trai tăng, phóng sinh, tạc tượng và một số việc thiện khác. Một thời gian ngắn sau, một lần nữa, cô mơ thấy cha, vẫn khoác trên người bộ quần áo quen thuộc, dù nằm mệt mỏi nhưng cố gượng dậy chào hỏi mọi người. Cô nói với ông trong giấc mộng: –         Ba ơi, ba nhớ niệm Phật cùng con nhé. Nghe lời con gái, ông ngồi niệm Phật cùng mọi người, bất chấp khổ đau đang bủa vây lấy mình, rồi Hạnh tỉnh giấc. Những ngày sau đó, cô tụng thêm hơn 10 biến kinh Địa Tạng, và niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng 10,000 biến hồi hướng cho cha. Lần tiếp theo, cha cô lại trở về trong giấc mộng của con gái, lần thứ ba này đã có sự tiến triển rõ rệt. Ông đi lại khỏe mạnh, hơn nữa còn niệm Phật chăm chỉ cùng đại chúng. Thấy thế, cô cũng thấy nhẹ lòng, cuối cùng đã có chuyển biến, ít ra cha cô không còn phải chịu đau đớn nữa. Hạnh có một người bạn là nhà ngoại cảm, có khả năng giao tiếp với chúng sinh cõi vô hình. Hôm đó, cô tới thăm nhà chị để tặng kinh Chiêm Sát Sám Nghi. Nói chuyện được một lúc chị liền nói: –         Ba em đang đi theo em đó, thân tướng ông khỏe mạnh và muốn chị chuyển lời tới em. Bác nhờ chị gửi lời cảm ơn em. Nhờ em tu tập hồi hướng công đức cho bác nên bây giờ bác đã hết đau đớn rồi. Bác bảo khi tụng kinh Địa Tạng cho bác, em hay thấy nóng bừng lên ở cổ và mặt, những lúc em bị như vậy là do uy lực của kinh điển đang tiêu trừ nghiệp chướng cho bác, giúp bác đỡ khổ hơn nhiều. Mà bác cũng nói rằng thấy em tu thì bác cứ tu theo chứ không hiểu tu để làm gì đâu. “Ôi trời, đúng thật rồi. Bởi vì mình có nói gì với chị ấy về chuyện này đâu.” – Hạnh khấp khởi trong lòng. Nghe chị bạn truyền đạt lại lời cha, cô mới nhìn ra điểm cần lưu ý. Cô chỉ khuyên cha niệm Phật nhưng lại chưa khai thị về cảnh giới Tây Phương. Đúng là thiếu sót thật. Chị ấy khuyên cô nên tụng kinh Vô Lượng Thọ, nhằm giúp ông biết về cõi Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà mà nguyện sinh về cõi đó. Thấy hợp lý, khi về cô liền phát tâm tụng kinh Vô Lượng Thọ, niệm Phật, kết hợp khai thị cho cha theo cuốn “Nghi thức cầu siêu” của Quang Tử để ông nắm được bản chất của thế gian và vì sao nên phát nguyện vãng sinh Cực Lạc. Và đây là link cuốn Nghi thức đó: SÁCH “NGHI THỨC CẦU SIÊU” Cứ như vậy một thời gian ngắn sau, Hạnh mơ thấy cha về lần thứ 4. Lần này, ông rất vui vẻ nói chuyện với mọi người, ánh mắt lộ rõ niềm hoan hỷ, rồi bay vút lên không trung. Từ đó trở đi, cô không còn mơ thấy ông một lần nào nữa. Thức giấc, cô bồi hồi, tự nhủ: “Ba đã siêu thoát rồi.” Cô đã làm được điều mong mỏi bấy lâu. Trong lòng dâng trào một niềm hạnh phúc và cảm ân sâu sắc tới sự gia trì của chư Phật, Bồ Tát. Vốn là một người có tín tâm Phật Pháp, sau những gì đã trải nghiệm, niềm tin ấy càng thêm sâu chắc, uy lực của Phật Pháp mạnh mẽ, nhiệm màu không thể nghĩ bàn, là cứu cánh giúp cha cô thoát khổ được vui, giúp cô làm tròn đạo hiếu, là con thuyền đưa tất cả chúng sinh ra khỏi biển mê về nơi bờ Giác, miễn là chúng ta chịu bước lên con thuyền ấy.  

BẢY NĂM BỆNH TẬT HẾT THUỐC CHỮA, SÁM HỐI OAN GIA MỘT THÁNG LIỀN KHỎI

Bảy năm bệnh tật…

“Lại nữa rồi, đau quá. Aaaaaa!!!…” Thắm hét lên, chợt khụy gối, rồi cả người từ từ nằm rụp xuống sàn. Thắm quằn quại, khuôn mặt nhăn nhó, hai tay ôm ghì lấy phần bụng trái đang đau dữ dội, hai chân co quắp lên áp sát bụng, cả người Thắm trong tư thế cuộn tròn đối phó với cơn đau. Miệng cô không ngừng phát ra âm thanh, khi thì thét lên, lúc lại rên rỉ, có khi cơn đau kéo dài làm Thắm mệt lả, chỉ còn nghiến răng nghiến lợi, những tiếng rên nhỏ lại dần, thậm chí thiếp đi lúc nào không rõ. Tô Thị Thắm, sinh năm 1998, ở xóm 1, xã Nghĩa Thuận, thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An. Học xong cấp 3, cô thi đỗ đại học, trở thành tân sinh viên trường Kinh Tế Quốc Dân. Sau mấy năm đèn sách vất vả, Thắm mơ mộng về tương lai tươi sáng với một sự nghiệp phát triển. Thế nhưng mọi việc không theo chiều hướng cô mong muốn. Ngay từ thời còn ngồi trên giảng đường, sức khỏe Thắm đã có vấn đề. Cô thường xuyên bị những cơn đau bụng cường độ mạnh như vậy hành hạ khổ sở, kèm thêm chứng rối loạn lưỡng cực, lúc vui lúc buồn, lúc hưng phấn khi lại trầm cảm không lý do. Sức khỏe thể chất lẫn tinh thần đều bị tụt dốc, khiến Thắm mệt mỏi, chán chường, bi quan với cuộc đời. Cả sinh hoạt lẫn công việc đều bị ảnh hưởng trầm trọng. Cơn đau như thế kia không phải chỉ diễn ra một thời gian ngắn, mà đã kéo dài liên tục suốt bảy năm trời đằng đẵng, phá hủy đi những năm tháng thanh xuân tươi đẹp của một cô gái còn rất trẻ. Thắm không thể ngồi yên mãi được, có bệnh thì vái tứ phương. Thắm bắt đầu rong ruổi khắp các bệnh viện lớn nhỏ, đếm sơ sơ cũng tầm chục cái, kể cả những nơi có tiếng như viện Bạch Mai, viện Đại Học Y Hà Nội, viện Ung Bướu cũng không thiếu dấu chân của cô. Vậy mà không nơi nào tìm ra căn nguyên chứng đau bụng kì lạ này, họ chỉ có thể kê thuốc trị triệu chứng, nhưng rốt cuộc cũng chẳng có kết quả. Thuốc tây không được, Thắm chuyển sang thuốc Nam, rồi thuốc Bắc. Cuối cùng đau vẫn hoàn đau, chẳng ăn nhằm gì. Thậm chí, chứng đau bụng ngày càng phát tác mạnh mẽ hơn. Là một sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc, ra trường Thắm không thiếu những lời mời vào làm tại nhiều ngân hàng lớn. Nhưng bệnh nặng khiến cô không thể nhận lời. Hậu quả là Thắm phải ở nhà ba năm trời, hoàn toàn không thể đi làm được. Bệnh tật khiến chứng rối loạn tâm lý của cô càng thêm nặng. Có những lúc cô không kiểm soát được hành vi của mình, đứng ngồi không yên, cứ đi đi lại lại cả ngày không biết để làm gì. Và lại thêm một vấn đề đáng ngại nữa, ấy là chứng mất ngủ, dù cô đã uống thuốc ngủ nhưng không tác dụng. Những đêm trường trằn trọc không sao ngủ được càng khiến tình hình tồi tệ thêm. Sau rất nhiều cố gắng nỗ lực chữa bệnh, Thắm gần như tuyệt vọng. Tưởng rằng cánh cửa tương lai đã khóa lại trước mắt Thắm. Thế nhưng trên đời này vốn có rất nhiều điều kì diệu nằm ngoài hiểu biết thông thường của con người, có những cách chữa bệnh không phải tới bệnh viện, thậm chí chẳng tốn một xu, chỉ cần bạn chịu khó thực hành. Nhờ nhân duyên nào đó, Thắm biết tới Phật Pháp, chú Đại Bi và phương pháp lạy sám hối. Đã tới nước này, có gì còn ngần ngại, Thắm biết cách nào sẽ thử ngay cách đó. Cô bắt đầu trì chú Đại Bi và lạy sám hối, có những ngày tinh tấn, cô trì lên tới 108 biến chú. Đã rất nhiều người nhờ thực hành Phật Pháp mà khỏi bệnh. Thắm tin tưởng và hy vọng mình cũng không ngoại lệ. Ấy thế nhưng, sau một thời gian Thắm thực hành mà chưa thấy đỡ chút nào. Những cơn đau vẫn hành hạ cô đến điên dại, rồi cô nghĩ quẩn: “ Chết quách đi cho xong.” Sự đau đớn quá mức chịu đựng khiến Thắm muốn tự tử, không ai có thể giúp cô hết đau, thì cô sẽ tự “giúp” mình. Nghĩ là làm, Thắm chạy ra hiệu thuốc mua thật nhiều Panadol, rồi trở về nhà, cô bóc từng vỉ thuốc, gom lại được 50 viên, cứ thế uống hết vào bụng, rồi nằm chờ chết. Thắm đinh ninh hôm nay sẽ là ngày cuối cùng của cuộc đời mình, chấm dứt mọi sự đau đớn trong suốt bao năm qua. Vậy mà cuối cùng cô thấy khó chịu, rồi nôn ói hết ra, lại bình thường như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Thêm một lần nữa, Thắm tự tử bằng cách thắt cổ, nhưng lóng ngóng mãi vẫn không thành công. Sau hai lần tự tử không thành, Thắm thở dài, rồi chợt nghĩ: “Lẽ nào chư Phật không muốn mình chết nên đã cứu mình chăng?” Vậy nên Thắm đổi ý, từ bỏ ý định tự tử, Thắm xốc lại tinh thần, tiếp tục kiên cường trên cuộc hành trình chữa bệnh dai dẳng. Một lần Thắm nghĩ: “Đã có nhiều người khỏi bệnh nhờ Phật Pháp rồi, chẳng có gì để nghi ngờ cả, chỉ sợ mình chưa biết cách thực hiện sao cho bài bản và hiệu quả.” Cô tìm hiểu và thực hành theo rất nhiều phương pháp tu tập khác nhau, hết chùa này đến hội nhóm tâm linh khác, rốt cuộc một thời gian dài vẫn chưa có gì thay đổi. Rồi Thắm tình cờ biết tới facebook của anh Quang Tử. Ở đâu có phương pháp, Thắm đều chẳng ngần ngại hỏi han.

Sám hối oan gia và kết quả bất ngờ

Nghĩ vậy, ngày 14/06/2023, cô quyết định nhắn tin cho anh Quang Tử, kể lại về căn bệnh của mình nhờ tư vấn, và được anh nhận định rằng, vấn đề của cô là do các vong oan gia trái chủ gây ra. Nên anh gửi cho Thắm Nghi thức Cầu siêu sám hối oan gia đã được soạn bài bản, trong đó kết hợp nhiều pháp môn khác nhau như sám hối, niệm Phật, trì chú, khai thị… để tối ưu hiệu quả. Và đây là link Nghi thức đó, bấm vào để xem chi tiết: NGHI THỨC SÁM HỐI – CẦU SIÊU OAN GIA TRÁI CHỦ Chẳng trì hoãn thêm nữa, sau khi được hướng dẫn, Thắm hăm hở bắt tay ngay vào hành trì. Thế nhưng, một lần nữa, kết quả làm cô có đôi chút hoang mang. Một tuần sau, ngày 21/06/2023, cô nhắn tin thông báo cho anh Quang Tử: – Dạ, anh cho em hỏi, từ hôm sám hối oan gia đến nay, bụng em chẳng đỡ mà còn đau dữ dội hơn nữa, cả ngày lẫn đêm không chịu nổi. Có phải oan gia trái chủ đến đòi nợ không anh? Anh Quang Tử trả lời: – Đúng vậy đó. Em cố gắng chịu đựng và tiếp tục sám hối, cầu siêu cho họ. Họ trả thù lần cuối rồi sẽ tha thứ và nhiều kiếp sau cũng không quay lại báo thù nữa. Thắm yên tâm hơn, quyết tâm chịu đựng sự đau đớn này. Dù sao đó cũng là do cô đã có lỗi với họ, cô chỉ biết hổ thẹn với lòng chứ không dám oán trách gì cả, liên tục miệt mài cầu siêu cho oan gia. Hơn một tháng sau, Thắm đã thực hành nghi thức sám hối – cầu siêu oan gia được khoảng 30 lần. Cơn đau đã nhẹ đi tới 90%, chỉ còn 10% âm ỉ đau trong bụng. Thật là một kì tích. Suốt bảy năm trời bị căn bệnh hành hạ, các bệnh viện đều bó tay, mọi loại thuốc đều vô hiệu, nay Thắm mừng rỡ, xác thực công năng không thể nghĩ bàn của Phật Pháp. Cô quyết tâm thực hiện tiếp cho tới khi nào bệnh tình dứt điểm mới thôi. Chẳng những bệnh đau bụng thuyên giảm đáng kể, mà bệnh rối loạn tâm lý của Thắm cũng chuyển biến rõ rệt. Giờ cô vui vẻ, lạc quan, ngủ cả đêm an lành chẳng cần đến thuốc, cuộc sống bước sang một trang mới. Sau ba năm ở nhà không thể đi làm, nay Thắm đã xin được một công việc rất tốt, làm giáo viên tại một trung tâm Tiếng Anh gần nhà.  Cánh cửa tương lai đã mở ra, Thắm vô cùng biết ơn Phật Pháp đã giúp cô khỏi bệnh. Công năng của Phật Pháp vẫn luôn mạnh mẽ như thế, nhưng nghiệp chướng của chúng sinh sai khác rất nhiều, nên người kết quả đến nhanh, người chậm. Nếu ngay từ lúc mới trì chú và lạy sám hối đơn thuần chưa mang lại kết quả, hoặc sau khi thực hành nghi thức sám hối với oan gia bị đau đớn dữ dội hơn, Thắm không kiên trì tiếp tục nổi, mất niềm tin nơi Phật Pháp mà bỏ ngang, thì nay cô vẫn sẽ phải vùi mình trong bệnh tật. Chính sự kiên trì, quyết tâm, cộng thêm sự tư duy, suy xét vấn đề, ham học hỏi v.v… mỗi yếu tố đều góp phần hỗ trợ Thắm cũng như tất cả chúng ta tiến lên trên con đường tu học, giải quyết những khổ nạn của hiện tại và hướng đến sự giải thoát viên mãn về sau. (Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Tô Thị Thắm)

12 LOẠI KHỔ ĐAU- LÍ GIẢI CHO CÂU NÓI “ĐỜI LÀ BIỂN KHỔ”

DẪN NHẬP

Có một sự thiên lệch không hề nhỏ luôn thường trực trên cái thế giới này ? Những thứ tốt đẹp, thì luôn phải vất vả nỗ lực mới có được, ấy thế mà sẽ lại bị Vô thường xóa sổ, còn những thứ tồi tệ, thì lại cứ nhan nhản mọc lên không ngừng. Muốn có sung sướng thì phải nỗ lực gây dựng, tạo phước, trong khi với khổ đau, dù qua bao nhiêu nỗ lực để xua tan, mà chúng thì cứ tràn ngập. Giống như cây lương thực, trái cây ngon ngọt thì phải nỗ lực trồng mới có, còn cỏ dại, cây độc thì chẳng cần làm gì, tự nhiên chúng cũng mọc đầy khắp nơi, diệt mãi không hết. Cuộc sống như một cán cân bị lệch, và thật oái oăm, nó lại lệch về phía những thứ đau khổ. Những trường hợp ta đã bàn ở phần trước, có rất nhiều người được hưởng những niềm vui sướng do họ từng tạo phước, làm những điều tốt đẹp nào đó. Xong chẳng được bao lâu, họ sẽ lại rơi vào đau khổ. Không giống với cấu trúc của chuyện cổ tích, nhân vật chính sau bao nhiêu gian khó, cuối cùng sẽ được tận hưởng cái kết có hậu, được “hạnh phúc mãi mãi về sau”. Thực tế thì khác hẳn, nhất là khi nhìn trên bình diện tổng thể nhiều kiếp luân hồi. Chẳng có cái gọi là “khổ tận cam lai”, mà đúng ra nhìn trên bình diện tổng thể, vui sướng, hạnh phúc, chẳng qua chỉ là những phút nghỉ giải lao ít ỏi giữa những cơn khổ dai dẳng mà thôi. Leo lên được đỉnh cao quyền lực, danh vọng, phú quý như Tô Tần, thì rồi chỉ được mấy chục năm, thoáng cái đã bị đày đọa lâu dài mấy ngàn năm trong cảnh địa ngục, súc sinh. Ngay cả được sinh lên trời hưởng lạc thú tiên cảnh như tiền kiếp của Trần Tiểu Húc, đến khi hết phước, rồi cũng rơi trở lại xuống nhân gian, nhiều kiếp chịu đủ thứ trầm luân, khổ nạn, bệnh tật. Mà thậm chí trong lúc hưởng lạc thú của phước báo, thì vẫn xen kẽ những cái khổ này khổ nọ. Như khi Thủ Huồng tái sinh làm vua Đạo Quang, ngồi ngai vàng chí tôn, thì cũng phải đau đầu, khổ não với bao vấn nạn của quốc gia như bị giặc giã xâm lược, bị quần thần đục khoét, tham nhũng. Một quan niệm sai lầm cho rằng khổ đau đơn thuần là do Nghiệp chướng, không tạo nghiệp sẽ không khổ, nhưng thực tế không đơn giản như vậy. Có những nỗi khổ là do Nghiệp, như những chúng sinh tạo nghiệp phải vào địa ngục, như khi Tô Tần bị đầu thai nhiều kiếp súc sinh bị cắt cổ, mổ bụng v.v… Xong còn có những nỗi khổ cứ theo chu kỳ là xuất hiện, không cần biết có nghiệp hay không. Như tiền kiếp Trần Tiểu Húc, khi được sinh lên trời hưởng lạc thú tuyệt đỉnh, nhưng sau 300- 500 năm thì bị rớt xuống trở lại nhân gian. Bạn cần biết, khi một vị thiên tử cõi trời hết thọ mạng, phải xuống lại các cõi dưới, họ sẽ cảm thấy hết sức lo sợ, thống khổ, bao nhiêu sung sướng cõi trời từ nay chấm hết, tương lai là những kiếp sống ngụp lặn nơi thế gian bao khổ sở, bon chen, tranh đấu, hãm hại nhau. Nó còn ghê gớm hơn khi so với một tỉ phú bị phá sản, mất sạch gia tài, rớt xuống làm một người nghèo vô gia cư vậy. Vậy vị thiên tử ấy đã tạo nghiệp gì mà phải chịu đau khổ này ? Không! Đó không phải do Nghiệp, mà là một nỗi khổ đã được ấn định ngay từ khi được sinh lên cõi trời. Cõi trời có nhiều điểm ưu việt hơn nhân gian, nhưng nó không phải vĩnh hằng. Khi quy luật Vô thường đến gõ cửa, sung sướng chấm hết, thì đó chính là lúc khổ Ái biệt ly giày vò, càng lưu luyến sự sung sướng bao nhiêu, thì Ái biệt ly càng ghê gớm bấy nhiêu. Như vậy cái khổ này là do chu kỳ sinh diệt mà ra, đó là do Vô thường, chứ không phải do Nghiệp. Tương tự như vậy, trên thế gian bất luận người có phước nhiều đến thế nào, cứ sống qua 50 tuổi thì đều sẽ phải đối mặt với sự già nua, lão hóa, và rồi tiếp đến là cái chết đến gõ cửa. Đâu phải do tất cả mọi người từng tạo Nghiệp gì đó nên phải chịu những khổ đó, đơn giản vì luân hồi sinh tử này bản chất nó là như vậy, đi qua Thành – Trụ, rồi thì sẽ phải đối mặt với Hoại – Không, vậy thôi. Nếu bạn đã nhận ra bản chất của cuộc đời này, cái gì cũng chóng tàn, chỉ mỗi cái khổ xem chừng là bất tận, lớp lớp nối nhau. Vậy xin chúc mừng, bạn đã có được một bước tiến dài trong trí tuệ nhân sinh. Không chỉ mình bạn đâu, mà hầu hết những người từng trải, chứng kiến đủ nhiều những chuyện xảy ra trên thế gian này, cũng đều phải thốt lên rằng “Đời là biển khổ”. Khi mới bước vào đời lúc độ tuổi còn thanh xuân, tâm lý con người thường ngập đầy những hi vọng, hoài bão, về những điều mình sẽ làm trong tương lai. Người ta hay có tâm lý lạc quan, mang tên là “tư duy tích cực” để đối phó với cơn mưa những điều bất hạnh vẫn cứ tí tách rơi đều vào cuộc sống. Khi ấy, cho dù có gặp phải những điều khổ não, thì niềm hi vọng về tương lai sẽ trấn an tâm lý con người ta như một liều thuốc an thần, để sự tích cực trong tư tưởng luôn được duy trì, để người ta có thể sống một cách vui vẻ. Nhưng sự vui vẻ ấy sẽ được bao lâu, khi cái cơn mưa bất hạnh kia thì mãi chẳng chịu dừng ? Chẳng lâu đâu, vì thực tế thì khác xa so với tưởng tượng và chẳng giống tí nào với những lời an ủi, động viên tích cực ta vẫn thường nghe. Đến một lúc nào đó khi tuổi đời đã dầy lên, tương lai không còn gì nhiều để hứa hẹn, để trật ra một cái đám tang chờ đợi mình. Khi phía trước chẳng còn gì đáng mong chờ, người ta sẽ có xu hướng nhìn lại những năm tháng đã đi qua. Một cách công tâm, hầu như ai cũng đếm được không biết bao nhiêu sự cố, va vấp, bao nhiêu áp lực, khó khăn, bao nhiêu chán ngán, buồn bã, bao nhiêu khổ sở đã trải qua trên đường đời. Số lượng của chúng lấn át một cách rõ ràng khi so với những vui thú có được, và đó thì lại là thực tế, chứ không giống như những hi vọng thời trẻ, vốn chỉ tồn tại trong tưởng tượng. Và ta đành phải thừa nhận rằng: cái cuộc đời mà mình đang sống trong đấy, thật phũ phàng, nhưng phần lớn toàn là khổ mà thôi. – Vậy tại sao ta cứ phải sống trong đó ? – Và nếu không sống trong đó thì sống ở đâu ? Hai câu hỏi hóc búa này sẽ nảy lên khi người ta bắt đầu nghiêm túc suy xét về con đường đời của mình. Và thường thì người ta không tài nào trả lời thông suốt được cả hai câu này. Một số trốn tránh thực tại bằng rượu giải sầu, bằng các chất kích thích, và cách này thì hậu quả tồi tệ khỏi phải bàn. Một số khác thì đành nghiến răng chịu đựng, và đánh lạc hướng tư tưởng bằng cách tập trung làm một việc gì khác để quên đi đau khổ. Nhưng cam chịu thì rõ ràng không thể nào cải thiện tình hình. Một số khác sẽ đành quay trở lại với cách “tiêm Morphine tinh thần” bằng những suy nghĩ tích cực giả tạo. Nhưng như đã nói ở trên, cách này chẳng duy trì được bao lâu, vì giấy không gói được lửa, Morphine không chữa được bệnh. Nỗi khổ thì nó cứ lì lợm ở đó mãi, và chẳng có cách nào né tránh được. Xong chúng ta vẫn còn một cách khác. Đó là đối diện, nhìn thẳng vào thực tế, hiểu rõ những thứ khổ đau ấy nó là gì ? Nó như thế nào? Nó từ đâu đến ? Và làm thế nào đặt dấu chấm hết cho nó ? Nói thì dễ, nhưng trả lời được thì là chuyện khác. Điều đó khó vô cùng. Lịch sử văn minh mấy nghìn năm của nhân loại chứng kiến không biết bao nhà hiền triết đã thất bại trong việc tìm cho ra câu trả lời thỏa đáng. Họ cũng đưa ra đủ thứ lý thuyết nghe hay ho, nhưng thực tế thì chẳng giúp thay đổi được điều gì. May mắn cho chúng ta, cuối cùng cũng có một người đã thành công. Cách đây hơn 2500 năm tại xứ Ấn Độ, thái tử Tất Đạt Đa của tiểu quốc Sakya, trong các chuyến đi vi hành của mình, chứng kiến nỗi khổ liên miên bất tận của con người trên thế gian, Ngài đã quyết định đi tìm cho ra tận cùng nguyên nhân của mọi đau khổ, và cách để đặt dấu chấm hết cho chúng. Ngài từ bỏ ngai vàng, lặn lội vào rừng sâu núi thẳm, thử qua rất nhiều phương pháp tu luyện khác nhau để tìm cho ra câu trả lời. Sáu năm sau đó, giữa một khu rừng hoang vắng, dưới cội cây Bồ Đề, thái tử Tất Đạt Đa đã thiền định suốt 49 ngày đêm, và cuối cùng, Ngài đắc đạo, đạt đến cảnh giới Giác Ngộ tối thượng, chứng thành quả vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác, hiệu là Thích Ca Mâu Ni Phật. Vậy khi đã chứng Đạo rồi thì Ngài có thể giải đáp những câu hỏi kia cho chúng ta không ? Tin vui cho chúng ta, câu trả lời là “Có”. Ngay bài pháp đầu tiên sau khi chứng Đạo thành Phật, giảng tại rừng Lộc Uyển, Đức Phật đã giảng về Tứ Diệu Đế và cho chúng ta những câu trả lời thỏa đáng. Năm đệ tử đầu tiên nghe bài pháp ấy, chỉ một thời gian sau đó, thực hành theo lời Phật dạy, cũng đã chứng Đạo với quả vị A La Hán. Mở đầu của Tứ Diệu Đế chính là Khổ Đế – Đức Phật tuyên bố Khổ chính là một chân lý của vũ trụ này, nghĩa là nó là một đặc tính, một định luật cố hữu gắn chặt với cuộc sống của mọi chúng sinh, chứ không chỉ là một hiện tượng rải rác, đơn lẻ.   … Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo. sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, buồn bã, đau thương là khổ, lo lắng, bực tức là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, bám chấp năm ấm là khổ. 12 loại khổ này được thiết kế theo kiểu một mạng lưới bủa vây trên con đường đời mà mỗi người phải đi qua. Mạng lưới này khởi đầu với Sinh và kết thúc ở Tử, ở giữa là các loại còn lại luân phiên hành hạ con người. Cụ thể hơn, ta có 4 loại khổ đi liền với 4 giai đoạn, sự kiện chính của cuộc đời: Sinh – Lão – Bệnh – Tử Với 3 hoàn cảnh thường gặp, là Ái biệt ly, Oán tắng hội, Cầu bất đắc Với 4 trạng thái tâm lý: Buồn bã – Đau thương – Lo lắng – Bực tức Và tổng thể có thể gom lại trong khổ Bám chấp 5 ấm, loại khổ này xem như là tổng quát, bao hàm cả các loại khổ khác. *Lưu ý: Ở đây ta cần làm rõ một số từ ngữ, Khổ Sinh là nỗi khổ gặp phải khi sinh ra, chứ không phải ý nói Sinh luôn đồng nghĩa với Khổ. Giống như các thanh sắt thường xuất hiện rỉ sét, nhưng không có nghĩa là tất cả các thanh sắt trên đời đều rỉ sét. Có một số trường hợp khi sinh ra không có gặp đau khổ, đó là các trường hợp các chư thiên được sinh ra, họ hóa sinh – tức tự biến hóa thành hình chứ không có phải nở từ trứng hay cha mẹ mang thai mà sinh ra. Tương tự như vậy với Khổ Lão – Khổ Tử. Hầu hết khi đi đến giai đoạn già, chết, các nỗi khổ sẽ xuất hiện hành hạ chúng ta. Nhưng không phải 100%, vẫn luôn có những trường hợp ngoại lệ, ví như các thiền sư có thể nhập định và bỏ luôn thân xác, đó cũng là chết nhưng hoàn toàn không có chút đau khổ nào. Trong y học, các bác sĩ có thể điều chế những liều thuốc độc gây chết một cách cực kỳ nhẹ nhàng, không đau đớn, gọi là “cái chết nhân đạo” cho những bệnh nhân không thể chữa được nữa. Và nữa, không phải kiếp sống nào chúng sinh cũng sẽ phải nếm đủ hết các loại khổ, ví như người chết trẻ sẽ không phải chịu khổ Lão, hay như người sinh lên cõi trời không gặp khổ về Bệnh. Xong đó chỉ là một kiếp, trong khi luân hồi là vô tận, qua những kiếp sau thì vẫn tiếp tục nếm đủ các thể loại khổ thôi, chẳng thoát đi đằng nào được. Có thể nói, các thể loại khổ đau đã được bày bố sẵn trên con đường đời của bạn ngay từ lúc bạn chào đời. Chúng chỉ chờ tới lúc bạn đến nơi và xồ ra thôi. Và câu chuyện của một người vô danh sau đây sẽ giúp bạn dễ dàng hình dung ra điều này.  

CHUYỆN ĐỜI NGƯỜI …

“Tôi là một người bình thường, vô danh trên thế giới này, sống một cuộc đời như phần lớn mọi người đã sống. Để đến được với thế giới này, tôi phải được sinh ra như bao đứa trẻ khác. Hầu hết mọi người đều cho rằng việc sinh ra thì có gì đâu mà gọi là khổ. Thực ra đó là vì các ký ức tuổi thơ từ khi trong bụng mẹ đến khi 2 tuổi đã bị quên lãng cả. Nhưng nếu nhớ lại được thì mọi người sẽ thấy việc ở trong thai gò bó, chật chội và quá trình được sinh ra không dễ chịu chút nào. Và đây là thứ khổ đầu tiên tôi cũng như vô số những đứa trẻ khác đã nếm trải.  

KHỔ SINH :

Khi một chúng sinh tiến nhập vào trong bào thai, các dây thần kinh cảm thụ dần phát triển, cảm nhận rõ nét được xung quanh, nhưng khi ấy da thịt thì vô cùng mỏng manh, chưa có lấy một chút sức chịu đựng nào. Thế nên nhất cử nhất động của người mẹ mang thai đều có thể khiến thai nhi đau đớn, như cử động mạnh thì thai nhi chịu dằn xóc khổ sở, uống nước nóng thì thai nhi thấy bỏng rát, uống nước lạnh thì thai nhi thấy tê buốt. Ngày này qua tháng khác bị giam nhốt trong bụng mẹ chật hẹp, tay chân lúc nào cũng phải giữ trong tư thế co quắp. Đến ngày sinh nở, cả cơ thể phải quay đầu, chui qua sản môn chật hẹp, Đức Phật ví như một con voi phải chui qua một khe đá hẹp, bị dồn ép tột độ, toàn thân đau nhức kinh khủng Vừa ra đến bên ngoài, liền bị bà đỡ – hay hộ sinh đem đi tắm rửa, kỳ cọ các thứ máu mủ, nước ối… làn da mỏng manh lập tức thấy như kim châm dao cắt. Rồi bắt đầu từ đó, mở ra cả một cuộc đời với đủ thứ áp lực, sóng gió, tùy nghiệp chướng nặng nhẹ mà khổ nhiều hay khổ ít. Tuy nhiên thường ít ai nhắc đến nỗi khổ của sinh, lí do đơn giản là không ai còn nhớ. Khi trưởng thành, mọi kí ức khi ở trong thai, lúc mới chào đời, 1-2 năm tuổi hầu hết đều đã quên không nhớ được gì. Sinh ra không được bao lâu, vì cơ thể non nớt, yếu ớt, nên tôi thường xuyên bị bệnh, hết cảm đến sốt, hết sốt đến ho, hết ho đến phát ban…hàng chục loại bệnh khác nhau, chưa kể các tai nạn lớn nhỏ như đứt tay, trầy da, bỏng, bong gân, té gãy xương… khiến tôi thành khách hàng thân thiết của bệnh viện. Và đây là loại khổ thứ 2 tôi gặp phải, đáng ghét ở chỗ, là chúng không có hết hẳn, mà sẽ đeo đuổi tôi đến suốt cuộc đời, bệnh này lành thì đến bệnh khác phát sinh, nặng nhẹ khác nhau, đủ kiểu. Ở tuổi trưởng thành thì đỡ đỡ đi phần nào vì lúc đó sung sức, xong đến khi già đi thì bệnh mới thực sự là nghiêm trọng với những bệnh trầm kha, nan y như suy thận, viêm phổi, thoái hóa cột sống, ung thư… Tôi thắc mắc liệu trên đời từng có một ai chưa bao giờ bị bệnh tật gõ cửa không, nhưng mãi chẳng tìm ra người như thế.

KHỔ BỆNH:

Đây là nỗi khổ dễ hiểu nhất, không cần giải thích nhiều mọi người vẫn hiểu. Vì sao vậy ? Vì nó quá nhiều, quá phổ biến ai cũng từng trải qua, ai cũng đã nhìn thấy người người xung quanh mình trải qua, không nặng thì nhẹ. Nguyên nhân thì đủ kiểu, có những bệnh do môi trường bên ngoài tác động khiến cơ thể bệnh, như thời tiết, khí hậu, vi khuẩn, virus, tác động vật lý… có những bệnh thì do bẩm sinh, do di truyền, do cơ địa, do các bộ phận bên trong cơ thể vận hành không điều hòa mà thành bệnh. Liệt kê ra thì có đến hàng trăm ngàn loại bệnh nặng nhẹ khác nhau cùng với các thứ tai nạn đủ thể loại gây đau đớn cho cả cơ thể lẫn tinh thần. Rồi tôi lớn dần, tôi được ở bên những người yêu thương tôi, cha, mẹ, ông bà, anh chị em, bạn bè, thầy cô… và tôi rất yêu quý họ. Nhưng rồi chẳng hiểu sao, họ không ở mãi bên tôi, mà lần lượt rời xa tôi, không cách này thì cách khác. Đầu tiên là ông tôi qua đời, rồi đến bà. Nhiều năm sau, mẹ tôi ra đi vì một bệnh lạ, không lâu sau bố bỏ tôi đi tìm hạnh phúc của riêng ông, chẳng bao giờ tôi gặp lại nữa. Đến tuổi trưởng thành, khi trái tim đã đủ tuổi để loạn nhịp trước những người mình thầm thương trộm nhớ, tôi lại càng có nhiều người mà tôi thương yêu hơn. Họ bước vào cuộc đời tôi, rồi lại lần lượt rời xa tôi, có người là chia tay trong nước mắt vì không hợp, có người vì hoàn cảnh phải rời xa, có người là sinh ly tử biệt. Mỗi lần thế, tôi cảm thấy rất buồn và đau khổ. Nhưng phải đến khi đứa con đầu lòng của tôi mất vì một căn bệnh nan y, tôi mới biết tột cùng đau khổ là như thế nào. Không chỉ có những con người, cuộc sống cũng không ngừng ban cho tôi những điều tuyệt diệu, hương vị ngày tết khi cả gia đình quây quần, những chuyến du lịch cùng “người ấy” đến những nơi tuyệt đẹp, những buổi tụ họp tiệc tùng thú vị cùng hội bạn thân, rồi sắm được những món đồ rất giá trị, sở hữu được chiếc xe mơ ước… Tất cả chúng khiến tôi yêu thích bằng đủ kiểu khác nhau. Nhưng bạn biết gì không ? Chúng đến và đi chứ không cái nào ở lại mãi với tôi. “Mọi bữa tiệc đều phải đến lúc tàn” và đó là lúc những cơn buồn đến với tôi. Hết tết, tự nhiên tôi thấy buồn. Tiệc tan, mọi người chào nhau mỗi người đi một ngả, tôi cũng buồn. Chiếc xe đâm vào gốc cây bị hỏng nặng không sửa được, tôi buồn thối ruột. Chiếc điện thoại xịn sò tiết kiệm mãi mới sắm được, lỡ tay rơi mất từ lúc nào, tôi bần thần mất mấy ngày. Chú chó cưng gắn bó suốt mấy năm với tôi bị xe cán chết, tôi bỏ ăn cả tuần. Ngay đến cả bộ phim tôi yêu thích, cũng làm tôi buồn khi xem hết tập cuối, một cảm giác trống trải, hụt hẫng khi nó không còn tập nào nữa. Cuộc sống ban tặng cho tôi những điều tuyệt vời, để rồi sau đó tịch thu lại bằng nhiều cách khác nhau. Thành ra, những thứ tôi yêu quý đều để lại trong tôi những vết thương trong lòng. Cuộc đời này trớ trêu thật.

KHỔ ÁI BIỆT LY:

Sống trong đời, tâm ta không ngừng sản sinh ra các tình cảm yêu thích đối với những thứ hợp ý mà mình tiếp xúc, dù là yêu thích một người, hay yêu thích một con vật, một đồ vật cụ thể hay một điều gì đó trừu tượng. Nhưng cuộc đời này, mọi thứ đều phải tuân theo luật Vô thường, không gì tồn tại mãi, mọi thứ ta yêu thích thì đến một lúc phải tan hoại, hoặc phải chia xa với ta, và khi ấy, tâm sẽ phải hứng chịu một nỗi đau khổ, gọi là Ái biệt ly. Bên cạnh những điều tuyệt vời mà tôi gặp, đời còn đem đến cho tôi rất nhiều thứ phiền toái, tồi tệ. Hồi đi học thì tôi đến khổ với mấy đứa bạn học xấc láo, hung hăng hay bắt nạt tôi. Rồi khi trưởng thành thì có hàng đống những kẻ nối dài vào danh sách này: gã sếp hung dữ, bảo thủ; khách hàng thô lỗ; những đồng nghiệp xấu tính, đố kỵ suốt ngày đâm chọc, nói xấu sau lưng; rồi cả bà hàng xóm phách lối, mồm không ngớt chửi bới nữa… Những người tôi ghét và ghét tôi thì nhiều đếm không xuể, cứ ra ngõ là gặp, chả hiểu sao cứ đụng mặt hoài. Rồi thì đến những hoàn cảnh khó chịu nhưng suốt ngày gặp phải, nào là cái nóng kinh hồn của mùa hè lại còn cúp điện, nào là tiếng ồn của mấy nhà hàng xóm hát karaoke inh ỏi bất chấp giờ giấc, thú thật, họ hát dở như đang đấm vào tai người nghe vậy, thế mà họ lại thích hát lắm. Nào là cảnh kẹt xe lê thê cả tiếng đồng hồ dưới trời nóng bức đầy khói bụi, nào thiên tai bão lũ năm nào cũng càn quét mấy bận, nào những lần khủng hoảng kinh tế khiến tôi thất nghiệp .v.v… ti tỉ thứ tôi rất ghét, hành hạ đời tôi đến thảm. Không hiểu sao chúng lại nhiều thế, và tại sao tôi cứ phải gặp chúng mãi, hết cái này đến cái khác.  

KHỔ OÁN TẮNG HỘI:

Ngược lại với Ái biệt ly là oán tắng hội. Cuộc sống luôn không thiếu những thứ khiến cho mình khó chịu, và sinh tâm ghét bỏ, nhưng vì nghiệp chướng, vì ác duyên nợ nần, ta lại thường xuyên tiếp xúc, gặp những thứ mình ghét bỏ. Và đây là một thứ khổ nhức nhối rất khó chịu. Cũng như bạn, như bao người khác, tôi cũng có nhiều ước muốn. Không biết chúng từ đâu ra nhưng các thể loại mong muốn nhiều thật đấy, chúng không ngừng phát sinh. Đi học thì tôi ao ước một lần được làm thủ khoa của trường, xong thế nào mà chỉ luôn đứng hạng nhì. Lớn lên, tôi muốn kết hôn với một người bạn đời lý tưởng, bên nhau hạnh phúc đi hết cuộc đời, ấy thế mà người tôi cưới lại chả giống tí nào với mong ước đó cả. Dung mạo thì bình thường, nếu không muốn nói là tầm thường, vừa mập vừa thô kệch. Tính tình thì vô tâm, hay cáu gắt, mỗi lần bực cái gì lại hét toáng lên như cái còi tầu kê sát lỗ tai tôi vậy. Còn nhiều cái nữa, nhưng thôi, tôi chẳng muốn kể. Khi đi làm, như bao người, tôi muốn làm sếp, lương khá khá một chút, sếp nhỏ cũng được, ấy thế mà bao năm trời tôi vẫn chỉ giữ chức nhân viên quèn, cố mấy cũng chả lên được, lương thì chỉ đủ sống, nhiều khi nhà có gì phát sinh là y như rằng chật vật. Sau tôi xin nghỉ, vay mượn anh em, bạn bè một số vốn mở một công ty. Sau ba năm cày cuốc, nó cũng hoạt động tốt, doanh thu ổn. Tôi muốn mở rộng hơn, nên tìm thêm những nhân viên giỏi về làm. Nhưng thế quái nào những nhân viên mới tuyển về làm ăn rất bát nháo. Họ có chuyên môn thật, nhưng lại thông đồng nhau bòn rút tiền công ty, bán dữ liệu cho đối thủ cạnh tranh, và trong 2 năm thôi, công ty tôi phá sản, tôi phải còng lưng đến tận 10 năm sau mới trả hết các khoản nợ. Quái lạ, sao những thứ tôi muốn lại cứ ở ngoài tầm với vậy ? Đời tôi thảm quá vậy ?

KHỔ CẦU BẤT ĐẮC:

Cầu bất đắc là khổ với cái mình muốn mà chưa có, hoặc không có được. Tâm mong cầu của mỗi người hoạt động không ngừng nghỉ, nó không dừng lại khi các nhu cầu căn bản được đáp ứng, mà hễ có được cái này rồi nó lại muốn có cái khác, càng có nhiều thì lại càng muốn thêm nhiều thứ. Tham muốn thì không ngừng nở rộng với vận tốc gió bão. Nhưng phước báo thì lại chạy theo vận tốc của ốc sên ( với người biết tạo phước) hoặc thậm chí còn thụt lùi (với người hay làm việc tổn phước). Vậy nên người càng nhiều mong cầu, nhiều dục vọng, thì lại càng dễ bị khổ của cầu bất đắc dày vò. Loại khổ này gần giống với Ái biệt ly, xong Ái biệt ly là khổ vì mất đi cái mình yêu thích đang có, còn Cầu bất đắc là khổ vì chưa có và không có. Với bao nhiêu thứ tồi tệ ấy luân phiên nã pháo vào cuộc đời tôi, trong tôi không ngừng tuôn ra những thứ cảm xúc tiêu cực: Khi gặp phải hoàn cảnh xấu, mất mát, đáng thất vọng, tôi buồn bã. Khi gặp phải hoàn cảnh khốn đốn, bi đát hơn, mất mát nặng nề, tôi thấy đau thương. Khi gặp phải bất lợi, khó khăn đang đến và sắp đến, tôi lo lắng. Khi gặp phải phải hoàn cảnh trái ý, tôi bực tức. Những cảm xúc tiêu cực này, tôi không hề muốn có chúng, nhưng chúng thì lại cứ xuất hiện và tồn tại trong tôi, mà lại nằm ngoài tầm kiểm soát của tôi. Nhiều khi tôi tự hỏi, chúng có phải là của tôi không ? Nếu là của tôi thì vì sao tôi không tài nào tắt được chúng ?

Khổ của những cảm xúc tiêu cực:

† Buồn b㠆 Đau thương † Lo lắng † Bực tức Đó là những cảm xúc tiêu cực phát sinh trong tâm khi ta gặp phải những hoàn cảnh trái ý nghịch lòng, thất vọng, mất mát, khó khăn, tổn hại, bi đát.v.v…   Rồi sau bao năm tháng mài mòn hết sinh lực vốn có trong tôi, tôi thấy mình đã già nua từ bao giờ. Sức khỏe không còn sung sức như trước, tôi làm gì cũng khó khăn, mệt mỏi. Sức đề kháng không còn tốt, tôi mắc đủ thứ bệnh lớn nhỏ, toàn thân thường xuyên đau nhức, nào là bệnh xương khớp, nào là tiểu đường, tim mạch… Dung mạo tôi tự hào một thời, nay lụ khụ, bệ rạc, nhăn nhúm. Tuổi già không chỉ tàn phá cơ thể, mà nó còn tàn phá luôn cả tinh thần, đầu óc không còn minh mẫn nữa, tôi cứ nhớ nhớ quên quên mọi chuyện, trí lực chậm chạp, đã vậy cảm xúc lại cứ như thời trẻ con, dễ xúc động, dễ khóc như một đứa trẻ vậy. Ôi, thật là chết tiệt, cái khoảng thời gian phải chịu đựng cảnh già nua này kéo dài thật lê thê, mãi chưa kết thúc. Sao Thượng Đế không cho tôi chết sớm hơn để mau thoát khỏi cái cảnh bị tù đày, hành hạ trong chính cơ thể của mình như thế này chứ ?

KHỔ LÃO:

Cơ thể con người cũng như bao thứ khác, phải chịu sự tàn phá của quy luật Vô thường, khi đã sống qua độ tuổi 50, con người ta sẽ đối diện với sự lão hóa. Đó là một nỗi khổ bào mòn một cách chậm rãi, càng già đi thì cơ thể xuống dốc về mọi mặt. Sức lực yếu ớt, sức đề kháng suy giảm, mở cửa cho đủ loại bệnh hoành hành, đi lại khó khăn, dung mạo xấu dần, mọi năng lực từ thể lực, trí lực, thị lực, thính lực .v.v…sút giảm, khiến cho con người ta bất lực dần trước dòng chảy cuộc sống vẫn tiếp tục tiến về phía trước. Rồi thì cuối cùng, cái khoảnh khắc ấy cũng đến: cái Chết. Dù chẳng muốn sống nữa đâu, nhưng không hiểu sao tôi vẫn sợ chết. Và khi nó đến thật kinh dị, bệnh tình tôi trở nặng hơn lúc nào hết, cơ thể bị dày vò trong những cơn quặn đau kéo dài tưởng chừng vô tận, mọi sức lực bị rút cạn khỏi tôi. Bệnh viện đã từ chối tiếp tục chữa chạy, trả tôi về nhà để mọi người chuẩn bị hậu sự. Nhìn mọi người thân xung quanh khóc lóc, ủ rũ, càng khiến tôi day dứt, ở không xong, đi cũng không đành. Cuối cùng, một cơn đau khủng khiếp ập đến, trời đất quay cuồng, tối sầm lại. Một lúc sau, tôi thấy mình lơ lửng bên ngoài thân xác, ngoái lại nhìn những người thân đang cuống quýt khóc than. Thế là xong một kiếp người.

KHỔ TỬ:

Con người, cũng như bao sinh vật khác, không thể sống mãi bất tử, sớm hay muộn rồi đều phải đối mặt với cái chết. Có hàng trăm cách để chết khác nhau, có cái chết chậm rãi đến, có cái chết bất thình lình, có cái chết nhẹ nhàng, có cái chết tức tưởi, thảm khốc… chỉ rất ít trường hợp có được một cái chết an bình, còn đại đa số thì sẽ đón nhận cái chết với sự đau đớn đi kèm. Nếu không phải do tai nạn, bị giết mà chết bất đắc kì tử, hay tự sát, thì thường người ta sẽ chết vì những căn bệnh nào đó, khoảnh khắc chết thường cũng chính là khi bệnh phát tác mạnh nhất, thân thể suy kiệt nhất, thần thức hỗn loạn, đau nhức khủng khiếp, tâm luyến ái, bám chấp vào sự sống giằng co với thực tế là thời hạn sống đã cạn, khiến cho thân tâm khổ sở. Khi còn trẻ, chưa trải qua hết các giai đoạn của cuộc sống, Khổ đau với tôi là một thứ tôi không quá quan tâm, vì tôi cho rằng nó có thể được xử lý bằng cách này hay cách khác. Gặp phải sự cố nào thì tôi sẽ tìm cách giải quyết, tra Google không có thì có thể tìm trong các cuốn sách, hỏi những người có kinh nghiệm. Bệnh thì đã có bác sĩ, việc nào khó thì có thể thuê dịch vụ làm, thiếu tiền thì đã có các khóa học dạy làm giàu, muốn có người yêu đã có các sách dạy tán tỉnh, quyến rũ không khó để mua.v.v… cái gì cũng có cách giải quyết cả. Nhưng càng trải qua nhiều sự tình hơn, càng lớn tuổi hơn, tôi mới nhận ra mình đã quá ảo tưởng. Vấn đề luôn nhiều hơn, phức tạp hơn so với những giải pháp, đã vậy các giải pháp không phải khi nào cũng dùng được, hoặc không có hiệu quả, thậm chí một số phản tác dụng. Các sách dạy làm giàu chẳng hạn, nó đã được xuất bản cả thế kỷ nay, đủ các tên tuổi tầm cỡ, bán chạy như tôm tươi, biết bao nhiêu người đọc và thực hành theo. Nhưng nhìn lại kìa, bất kỳ đất nước nào cũng đầy rẫy những người nghèo, trong số họ biết bao người đã đọc các sách làm giàu, thậm chí học các khóa học làm giàu bài bản. Nhưng liệu họ có thoát khỏi nghèo khó không ? Rất tiếc, tình hình vẫn thế, chứ nếu không thì mọi người đã giàu cả hết rồi, làm gì còn người nghèo nữa. Ồ không! Hình như chỉ có tác giả cuốn sách, cùng với những người dạy làm giàu mới là những kẻ giàu lên nhờ tiền bán sách, bán khóa học. Thế mà một thời tôi đã tin tưởng chúng, mấy cái loại sách dạy làm giàu. Một lần tôi tranh cãi với một người bạn, anh ta phê phán tôi: – Đừng có bi quan như vậy, hãy nhìn đi, chẳng phải nhân loại đã phát minh ra bao nhiêu thứ tuyệt vời, giúp cho cuộc sống bớt đau khổ, xã hội ấm no, hạnh phúc đó sao ? So với thời xa xưa, thì cuộc sống của chúng ta khác gì thiên đường? Tôi nhìn anh ta và chậm rãi: – Xét ở một góc nhìn nào đó, đúng là như vậy. Tôi cũng đã suy nghĩ về điều này rất nhiều. Nhân loại chúng ta từ thuở xa xưa đã luôn đối mặt với những khó khăn, gian khổ. Và loài người đã không ngừng sử dụng trí óc để phát minh ra những giải pháp, chế tạo ra những công cụ để chiến thắng những khó khăn, xua tan những đau khổ. Sau hàng ngàn năm không ngừng cải tiến, những công cụ, giải pháp ấy đã được lớp lớp các thế hệ nhà phát minh nâng cao đến một tầm mức siêu hạng, tối tân như ngày nay, khiến cho ai ai cũng choáng ngợp và có cảm giác như chúng ta đang dần đến gần với một thế giới vắng bóng khổ đau, chỉ toàn là hạnh phúc, một vườn địa đàng trên thế gian. Nhưng, khi ta thôi chỉ nhìn vào các số liệu lạc quan, gác các bài báo, tạp chí ca tụng công nghệ sang một bên, mà nhìn vào thực tế với một góc nhìn toàn diện, ta sẽ nhận ra một thực tế hết sức phũ phàng. Thời xa xưa, để đối phó với những loài mãnh thú săn đuổi con người khắp nơi, những nhà phát minh cổ đại đã mày mò tìm cách tạo ra lửa, cũng như chế tạo ra hàng loạt những loại vũ khí sắc nhọn như giáo mác, cung tên, dao kiếm và phát triển những kỹ thuật chiến đấu lợi hại. Quả nhiên, muông thú dần không còn là mối đe dọa với loài người, mà thậm chí còn trở thành nguồn thức ăn phong phú. Với những vũ khí được phát minh ra, con người sở hữu được sức mạnh kinh khủng và trở thành chúa tể muôn loài. Nhưng, khi không còn phải lo đối phó với thú dữ nữa, thì con người quay sang dùng sức mạnh đó để đánh giết nhau. Người này đánh giết người kia, bộ lạc này đánh giết bộ lạc kia, quốc gia này đánh giết quốc gia kia, và chiến tranh ra đời. Trải dài trên dòng lịch sử hàng ngàn năm của mọi quốc gia khắp thế giới, các cuộc chiến tàn khốc không ngừng xảy ra, xương máu đổ xuống không có giấy bút nào ghi chép được hết. Nó đạt đến kỷ lục về độ khốc liệt trong Thế chiến 1 (1914 -1918) với khoảng 19 triệu người chết và Thế chiến 2 (1939- 1945) với khoảng 70 triệu người chết. Tóm lại, dù là xưa kia hay hiện tại, con người vẫn luôn bị giết chóc, chỉ khác là bị giết bởi mãnh thú, hay bị giết bởi đồng loại mà thôi. Thời xa xưa, để chống lại cái đói, con người phải vất vả săn bắt hái lượm, di chuyển từ vùng này sang vùng khác, phát triển những kỹ năng sinh tồn với thiên nhiên hoang dã. Khi ấy, ai cũng phải tự tìm ra số thức ăn nuôi sống chính bản thân mình, gia đình mình. Nhưng rồi người ta dần tìm ra cách thuần hóa được các giống cây trồng và những loại gia súc, gia cầm, con người chuyển sang lối sống định cư, hình thành nông nghiệp. Sau mấy nghìn năm, kỹ thuật ngày càng tiên tiến, sản lượng nông nghiệp ngày càng dồi dào, phong phú. Một người làm nông có thể tạo ra sản lượng đủ nuôi sống hàng chục người, thậm chí ở Israel – nơi sa mạc cằn cỗi, một nông dân có thể cung cấp đủ lương thực nuôi 100 người, còn ở Mỹ, một nông dân có thể nuôi đến 132 người. Thật tuyệt vời, vậy chẳng phải loài người sẽ không bao giờ phải lo sợ gì về cái đói rồi sao? Ồ không ! Bằng nhiều cách khác nhau, các nơi trên thế giới vẫn phải vật lộn với nạn đói, rất nhiều người vẫn chết vì đói. Cho đến thời điểm hiện tại (2023), hàng năm vẫn có đến hàng trăm ngàn người chết đói ở các nước châu Phi, châu Á như Afghanistan, Angola, Cộng hòa Trung Phi, Ethiopia, Haiti, Kenya, Lebanon, Somalia, Syria, Yemen… Xã hội loài người càng phát triển thì quy mô những nạn đói càng khủng khiếp, đó là vì trong những thời điểm thuận lợi, dân số tăng quá đông, nhưng sự thuận lợi đâu thể duy trì mãi được, chỉ cần có một trục trặc nào đó như thiên tai, hạn hán, chiến tranh, quyết sách sai lầm của nhà nước… là nạn đói sẽ ập đến ngay. Mà do quy mô dân số lớn nên số lượng người chết đói sẽ khủng khiếp hơn nhiều so với xã hội chuyên săn bắt hái lượm với dân số ít. Năm 1945 tại Việt Nam, khi đó còn trong tình trạng bị Nhật chiếm đóng, do lệnh “nhổ lúa trồng đay”, và thu gom lương thực cho quân đội của phát xít Nhật, nạn đói đã xảy ra khiến khoảng 2 triệu người Việt Nam chết đói. Nhưng con số đó thì chẳng ăn nhập gì với nạn đói ở Trung Quốc giai đoạn từ 1958 đến 1961 do những chính sách sai lầm trong phong trào Đại Nhảy Vọt, khiến đến khoảng 40 triệu người dân chết đói. Tóm lại, dù là thời xưa săn bắt hái lượm hay là thời đại tiên tiến như hiện tại, vẫn luôn có nhiều người chết vì cái đói. – Thế còn những lĩnh vực khác, chẳng phải y học hiện nay đã phát triển lắm sao ? – Anh bạn tôi phản biện lại – Đủ loại máy móc, thiết bị y tế tối tân, công nghệ nano, công nghệ gen, vacxin v.v…đã cứu sống biết bao người đó. – Đúng, không ai phủ nhận những sự tiến bộ về y học đó đã cứu sống rất nhiều bệnh nhân, nhưng đó không phải tất cả. Thực tế, nếu như y học phát triển lên thì bệnh tật cũng không ngừng tiến hóa. Y học chiến thắng được một bệnh nan y này, thì lại xuất hiện một loại bệnh mới khó nhằn hơn, dịch hạch, dịch đậu mùa được chế ngự thì mọc ra dịch AIDS, dịch SARS, dịch Ebola… và xem chừng bệnh tật luôn mạnh hơn y học vài cấp, và con người ta vẫn cứ chết vì bệnh tật đó thôi. Đơn cử như gần đây nhất, đại dịch Covid xuất hiện cuối năm 2019, đã cướp đi gần 7 triệu người trên toàn cầu, cả những nước nghèo lẫn những nước có nền y khoa tiên tiến nhất, hiện đại nhất đều có hàng ngàn, hàng vạn người tử vong đó thôi. Đúng là bệnh thì đã có bác sĩ, bệnh viện, thuốc men, máy móc rất hiện đại, nhưng không phải các bác sĩ vẫn luôn mồm nói câu “Chúng tôi đã cố gắng hết sức…” đó sao ? Chẳng phải trong mọi bệnh viện luôn có một cái nhà xác để dành cho những ca không thể chữa khỏi được đó sao ? Nó vẫn luôn ở đó, ai cũng biết, nhưng có lẽ mọi người đã bỏ quên nó khi đọc những thành tích về y học. Tóm lại, bất luận Y học phát triển đến mức nào, thì thời nay cũng vẫn như thời xa xưa, con người ta vẫn cứ bị hành hạ, bị chết vì bệnh tật. Khổ đau, nó giống như một đám cháy bất tận, mặc dù nhân loại đã rất nỗ lực dùng đủ cách, nhưng chưa từng có một thời khắc nào, chúng ta hoàn toàn dập tắt được chúng cả. Anh bạn tôi nghe xong, im lặng rất lâu. Có lẽ anh ta đã nhận ra những gì tôi nói rất phũ phàng, nhưng lại là sự thật. Đấy là mới kể sơ sơ một hai điểm, còn lại thì biết bao nỗi khổ bất cứ ai cũng phải trải qua mà không hề có một giải pháp nào chống đỡ được. Bạn làm thế nào để mình đừng già nua đi ? Bạn làm thế nào để bất tử, không phải đối diện với cái chết ? Bạn làm sao khi hay tin bạn đời mình ngoại tình ? Khi mà dù ly dị hay giải quyết như thế nào thì vết thương lòng vẫn cứ chừng ừng ở trong tim bạn. Bạn làm sao khi đứa con bé nhỏ thân thương của bạn bị đột tử vì một chứng bệnh lạ không thuốc chữa ? Bất lực và đau đớn, và chỉ có thể chấp nhận hiện thực đó, không hề có giải pháp. Cuộc sống nó là thế, và hình như cũng không ai giấu diếm gì những điều đó. Nhưng vì sao trước kia tôi lại không để ý nhỉ ? Vì sao tôi lại ảo tưởng rằng mọi chuyện đều có hướng giải quyết nhỉ ? Đi hết kiếp người rồi, khi nhìn lại, thấy lại suy nghĩ của mình, thật không khỏi buồn cười, quá là ấu trĩ và ngây ngô. Và đây, tôi có một câu hỏi dành cho bạn: “Bạn đã từng thấy, từng nghe nói tới một ai, dù là người thường hay vĩ nhân đi nữa, đã trải qua hết một kiếp sống mà không va phải bất cứ loại khổ nào được liệt kê phía trên không ?”
_________________
Trên đây là lời than vãn của một nhân vật hư cấu, và nếu bạn thắc mắc tại sao tôi không phân tích dựa trên một người có thật ? Đó là vì chẳng cần một nhân vật xa lạ nào để chứng minh cho những điều này, chính mỗi người chúng ta đều đang trải nghiệm những thực tế phũ phàng ấy của cuộc sống, chính mỗi người đều đã là nhân chứng sống động rồi, thậm chí nhiều người còn khổ hơn, thê thảm hơn câu chuyện trên nhiều lần. Vậy nên nhân vật không rõ danh tính, giới tính ở trên là lời than thở của chính mỗi người chúng ta với thực tại này, chỉ khác là nó giúp làm rõ ràng, sáng tỏ hơn vấn đề mà thôi. Tuy nhiên vẫn còn một loại khổ chưa được nhắc tới, đó là khổ:

BÁM CHẤP VÀO NGŨ ẤM

Để hiểu được loại khổ này hơi phức tạp một chút. Đức Phật chia cấu tạo thân tâm của tất cả chúng sinh thuộc tất cả các cảnh giới thành 5 bộ phận, gọi là Ngũ uẩn, hay Ngũ ấm (năm ấm). Thực sự khái niệm Ngũ ấm này không dễ để hiểu cặn kẽ, chính xác, ở đây để các bạn bớt nhức đầu nhằm tập trung vào chủ đề chính, tôi sẽ giải thích Ngũ ấm một cách đơn giản, dễ hiểu nhất có thể. † Sắc ấm: chính là thân thể của mỗi người, mỗi chúng sinh † Thọ Ấm: là cảm giác, bộ phận cảm nhận các trạng thái hạnh phúc, đau khổ, vui, buồn, nóng, lạnh và cả những trạng thái trơ không sướng, không khổ † Tưởng Ấm: là bộ phận chuyên suy tưởng với đủ những ý nghĩ, hình ảnh, âm thanh trong tâm trí, giúp hồi tưởng những việc quá khứ, tưởng tượng những viễn cảnh chưa xảy ra, kể cả những viễn cảnh ảo nhất, điên rồ nhất. † Hành Ấm: là hệ thống thần kinh điều khiển mọi hoạt động cơ thể. Bộ phận này sẽ bao gồm rất nhiều mảng, từ chạy nhảy, nói chuyện, làm việc, suy nghĩ, tính toán, sáng tạo, khởi lên tình cảm, ham muốn… và gồm cả hệ thống thần kinh thực vật, điều khiển tim đập, tiêu hóa, hô hấp… điều khiển cả phần tiềm thức tạo ra giấc mơ, trực giác.v.v… † Thức Ấm: là tri giác nhận biết, trí nhớ. Vậy tại sao Đức Phật nói bám chấp vào 5 ấm này là khổ? Có rất nhiều vấn đề, đầu tiên cả 5 ấm này đều không ngừng đòi hỏi. Sắc ấm, tức cơ thể thì liên tục đòi hỏi phải nạp thức ăn, nước uống, dưỡng khí. Thiếu dưỡng khí tầm 5-10 phút là chết, thiếu nước 4-5 ngày là chết, thiếu thức ăn 5-7 tuần là cũng chết. Trước khi đạt đến hạn mức tử vong, thì nó sẽ hành cho cơ thể khổ sở với cảm giác ngộp thở, khát và đói. Chính chúng – cái chết, ngộp, khát và đói đã thúc đẩy con người cùng muôn loài phải không ngừng bươn chải, chịu nhiều vất vả để mưu sinh. Và chỉ thế thôi sao ? Không, cơ thể còn đòi hỏi lắm thứ nữa, như nó cần sự sạch sẽ, và ta phải tìm nước để tắm rửa cơ thể, nếu không được tắm rửa thường xuyên, nó sẽ ngứa ngáy. Rồi nó đòi hỏi ngủ nghỉ, và ta phải tìm giường nệm, dọn chỗ cho nó nằm, không được đáp ứng thì nó sẽ mệt mỏi, đau nhức. Nó đòi hỏi sự an toàn, tránh mưa nắng, gió, bão, vậy nên phải xây nhà cho nó ở .v.v… còn rất nhiều thứ khác, bạn có thể tự viết thêm ra bên dưới. Với mỗi đòi hỏi, thì ta sẽ phải lao động mệt mỏi mà đáp ứng. Có lẽ nhiều người đã quá quen với điều đó đến mức không nghĩ đến, và cho đó là điều hiển nhiên của cuộc sống. Nhưng nếu bạn dành thời gian suy nghĩ lại, bạn sẽ nhận ra bạn đã vất vả như thế nào khi sở hữu cái thân thể này. Đến Thọ ấm, sự tình leo thang lên một cấp độ mới, nó đòi hỏi ta phải tránh những cảm nhận khó chịu, như nóng, lạnh, ồn ào, đắng cay, sự khinh bỉ, thù ghét .v.v… Và nó cũng đòi hỏi ta không ngừng tìm đến những cảm nhận dễ chịu, thoải mái như mát mẻ, ấm áp, lãng mạn, thú vị, hay ho, ngọt ngào, sự trọng vọng, yêu quý .v.v… Ngay cả với những khi ở giữa dễ chịu và khó chịu, là trạng thái trơ, không có cảm nhận gì, thì Thọ ấm dần dần cũng cảm thấy tẻ nhạt, chán trường, buộc ta phải làm gì đó cho đỡ chán, từ đó phát sinh ra nhiều thứ rắc rối. Khác với nhu cầu của Sắc ấm sẽ có điểm dừng, Thọ ấm thì khác, nó có cơ chế tăng cấp. Nghĩa là hôm nay đáp ứng ở cấp độ 1 là Thọ ấm thấy thỏa mãn, nhưng ngày mai thì khác, phải tăng lên cấp độ 2, 3… nó mới thỏa mãn, và xu hướng của nó là “càng được thỏa mãn, thì nó càng tăng cấp“. Ví dụ, khi khó khăn, một người phải đào củ, hái rau dại ăn qua bữa, lâu lâu có chút gạo, nấu được bữa cơm trắng ăn. Lúc này anh ta thấy vị của cơm trắng thật sự rất ngon, cực kỳ thỏa mãn. Vậy nên anh cố lao động nhiều để kiếm tiền mua gạo. Đến lúc khá hơn, thì cơm đã là thứ bình thường luôn có, ngày nào cũng ăn, cũng loại cơm trắng đó, nhưng với anh ta, giờ vị nó trở thành nhạt nhẽo. Thọ ấm thấy chán. Anh ta muốn đổi sang ăn phở ở các quán phở có tiếng, tuy nhiên chỉ đủ tiền để tháng ăn 1-2 lần. Lúc này ăn một tô phở, Thọ ấm của anh ta thấy rất ngon, rất thỏa mãn. Anh ta lại cố nai lưng làm lụng kiếm tiền nhiều hơn, để có thể tha hồ ăn phở. Thời gian sau anh ta làm ăn giàu lên, tiền bạc dư giả. Vậy là ngày nào anh ta cũng ăn phở, tưởng chừng như từ nay Thọ ấm sẽ luôn được thỏa mãn. Nhưng không. Chỉ ăn được một tháng, thì cũng tô phở đó, anh ta lại cảm thấy ngán, ngán đến tận cổ. Kịch bản lập lại, anh ta lại cố làm lụng để ăn hải sản, ăn thịt rừng, rồi đến những món đặc sản hiếm có trên đời… Cuối cùng, dù anh đã đánh đổi bằng bao nhiêu công sức, thời gian vất vả làm lụng đi nữa, nhưng rồi chẳng có món nào khiến Thọ ấm thỏa mãn nữa cả, Kịch bản này đúng với mọi lĩnh vực khác khi Thọ ấm chen chân vào, khi ta thay vì nhận ra và kiểm soát nó, thì lại đi nuông chiều nó. Nếu như Sắc ấm chỉ cần ăn no, đủ dinh dưỡng là được, thì Thọ ấm còn nhiêu khê hơn, nó đòi hỏi thức ăn phải ngon, phải phong phú, phải bài trí đẹp mắt, phải thế này thế nọ, và không ngừng tăng cấp. Nếu như Sắc ấm chỉ cần có chỗ chui ra chui vào tránh mưa nắng là được, thì Thọ ấm sẽ đòi hỏi phải có nhà đẹp, thiết kế sang trọng, hợp sở thích. Nếu như Sắc ấm chỉ cần có quần áo che thân đủ ấm, mặc thoải mái là ổn. Thì Thọ ấm sẽ đòi hỏi nó phải đẹp, thời thượng, quý phái, lịch lãm… Tương tự, Tưởng ấm, Hành ấm, Thức ấm cũng có những đòi hỏi của mình, như Tưởng ấm thì thích tưởng tượng ra các viễn cảnh sung sướng, hồi tưởng những chuyện vui, hành ấm thì đòi hỏi phải vận động, suy tính, thức ấm thì tò mò, đòi hỏi muốn biết thêm nhiều điều, hóng nghe nhiều tin tức. Và với ấm nào thì Thọ ấm cũng sẽ chen chân vào, cùng với cơ chế tăng cấp của nó, không ngừng gia tăng đòi hỏi. Mà như đã nói, để thỏa mãn các đòi hỏi, thì ta phải trả giá bằng cái gì đó, bằng công sức, bằng tiền của, bằng những gì ta có. Như vậy, càng cố chiều chuộng sự đòi hỏi của các ấm, tức là ta càng phải trả giá nhiều, đó là công thức. Đến khi những gì ta có không thể đáp ứng được các loại đòi hỏi thì sao ? Thế thì ta rơi vào nỗi khổ Cầu bất đắc. Rất nhiều người không cam chịu nỗi khổ của Cầu bất đắc, khi mà những gì họ đang có không thể đáp ứng được, thế là họ sẵn sàng làm những việc sai trái, phạm pháp, tạo Nghiệp xấu. Và từ đó phát sinh ra trộm cắp, cướp, giết, lừa đảo, cưỡng hiếp, chiến tranh xâm lược… và rồi họ nhận về những cái kết đau khổ do sự trừng phạt của luật pháp, rồi ghê gớm hơn nữa, là luật Nhân quả nghiệp báo. Như các bạn đã tìm hiểu trong các phần trước, nó thật sự hãi hùng và khủng khiếp. Và đó là một phần của Khổ “Bám chấp năm ấm” thôi. Ta có thể kể thêm về mối liên quan của nó đến các loại khổ khác, như: – Khi bắt đầu một kiếp sống mới, năm ấm của một người được hình thành, đó là lúc chịu khổ Sinh. – Khi năm ấm theo luật Vô thường, trải qua thời kỳ Hoại, thì là lúc chịu khổ Lão. Đến thời kỳ Diệt, thì chịu khổ Tử. – Khi Sắc ấm gặp trục trặc, hoặc do ngoại lực tác động, hoặc do nội bộ cơ thể không điều hòa, thì ta chịu khổ Bệnh. – Khi gặp các hoàn cảnh tồi tệ, mất mát, bi thảm khiến Thọ ấm cảm thấy khó chịu, đau đớn, dẫn đến những cảm xúc buồn bã, đau thương, lo lắng, tức giận.

 KẾT

Tổng hợp lại, bạn có thể hình dung luân hồi lục đạo mà chúng ta đang sống trong đó giống như một mê cung vòng lặp, mà mê cung đó lại hiện hữu 12 loại quái vật rải rác khắp nơi, chính là 12 loại khổ trên. Chúng đã bao vây chặt mọi ngả đường. Chúng không phải luôn luôn hiện hữu, mà có một chế độ xen kẽ với những khoảng nghỉ, tạm thời không khổ. Ở các khoảng nghỉ này, con người ta có thể hưởng thụ những sung sướng gì đó, đây là một cơ chế nhằm đánh lạc hướng, khiến người ta quên đi mất tình cảnh bị khổ sở bao vây, mà muốn ở lâu trong luân hồi, khởi lên những ý nguyện sống ở đất nước này, kết hôn với người kia, làm công việc này, hưởng thú vui kia v.v… Khi gặp phải một nỗi khổ nào đó, thì người ta chỉ tìm cách dập tắt nỗi khổ trước mắt đó, kiểu như bệnh thì tìm thuốc chữa, chứ không thể nhìn rộng ra bức tranh toàn cảnh, để nhận ra mình đang ở trong một cái mê cung đầy quái vật. Mà không nhận ra được cái mê cung ấy, thì làm gì có ý định thoát được ra khỏi nó. Đã không thoát ra khỏi nó, thì đương nhiên tương lai sẽ tiếp tục gặp phải những thống khổ, kiếp kiếp nối nhau không dứt. Khổ đau gắn chặt với từng kiếp sống của mọi chúng sinh, không có cách nào tách rời được. Kiếp kiếp nối nhau, luân hồi vô tận, cũng có nghĩa là khổ đau vô tận, bất luận là người phước báo lớn như thế nào cũng không thay đổi được quy luật này. Và sai lầm của đa số mọi người là cố tìm cách vừa muốn sống trong thế gian này, sống trong dòng luân hồi sinh tử này, vừa mong tìm ra cách thức nào đó để không có khổ đau, chỉ thuần sung sướng, hạnh phúc mà thôi. Không ! Muốn chấm dứt được khổ đau một cách toàn diện, chỉ có cách duy nhất là thoát khỏi luân hồi sinh tử. Tuyệt không có một cách nào khác. Và đó là mục tiêu chính của Phật Pháp: giải thoát chúng sinh khỏi luân hồi. Khép lại chương này, chúng ta hãy cùng đọc một câu truyện ngụ ngôn mà Đức Phật từng kể cho vua Pasenadi, được trích từ kinh Bách Dụ để cùng ngẫm nghĩ lại về cái thế giới chúng ta đang sống:   ” Một thuở nọ, Đức Phật ở tại vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc trong thành Xá-vệ. Khi ấy Thế Tôn ở giữa đại chúng mà bảo vua Pasenadi rằng: – Này đại vương! Ta nay sẽ vì bệ hạ mà lược nói một thí dụ về sự tham đắm hương vị, tạo lỗi lầm, và gặp hoạn nạn của chúng sinh ở chốn sinh tử. Nay đại vương hãy lắng nghe và khéo tư duy. Vô lượng kiếp vào thuở quá khứ, có một người đi vào nơi hoang dã và bị một con voi hung dữ rượt đuổi. Gã hoảng sợ chạy bạt mạng và không có chỗ lánh thân. Bất chợt kẻ đó thấy một cái giếng khô và cạnh giếng có một rễ cây thòng xuống. Và thế là hắn liền bám rễ cây leo xuống và đu lủng lẳng trốn trong giếng. Lúc ấy có hai con chuột, một trắng một đen, cùng nhau gậm nhấm rễ cây ở phía trên. Ở xung quanh giếng có bốn con rắn độc muốn cắn kẻ kia, còn ở bên dưới thì có một con rồng độc. Trong lòng của hắn kinh hoàng bởi rắn với rồng, và lo sợ rễ cây sẽ bị đứt. Ở trên chùm rễ cây còn có tổ ong mật, khi cây dao động, đám ong bay xuống chích hắn. Lại còn có những bụi lửa hoang cứ lăn đến thiêu đốt gốc cây kia. Thế nhưng vào lúc đó có năm giọt mật rơi vào trong miệng người ấy. (anh ta nhắm mắt quên hết tất cả để tận hưởng vị mật) Nhà vua thưa: – Bạch Thế Tôn! Sao người này đang chịu vô lượng khổ ách mà còn tham đắm chút hương vị kia? Lúc bấy giờ Thế Tôn dạy rằng: – Này đại vương! Nơi hoang dã ẩn dụ cho đêm dài dằng dặc của vô minh. Kẻ chạy trốn ẩn dụ cho phàm phu. Con voi ẩn dụ cho Vô thường. Cái giếng ẩn dụ cho bờ sinh tử nguy hiểm. Rễ cây ẩn dụ cho tính mạng. Hai con chuột, một trắng một đen, ẩn dụ cho ngày và đêm. Sự gậm nhấm rễ cây ẩn dụ cho từng niệm sinh diệt. Bốn con rắn độc ẩn dụ cho tứ đại. Năm giọt mật ẩn dụ cho ngũ dục. Con ong ẩn dụ cho tà niệm. Lửa ẩn dụ cho già, bệnh. Rồng độc ẩn dụ cho cái chết. Cho nên, đại vương! Phải biết rằng Sinh – Lão – Bệnh – Tử thật quả là đáng sợ. Bệ hạ hãy luôn tư duy ý niệm của mình, chớ để bị ngũ dục bức bách và nuốt chửng.” (Trích trong sách “Thấu hiểu luật Vũ trụ” – Quang Tử )