LATEST ARTICLES

TẠI SAO PHẢI TỤNG KINH ? TỤNG KINH NHƯ THẾ NÀO ?

ĐỊNH NGHĨA

Tụng đọc kinh điển, hay gọi đơn giản là tụng kinh, là một pháp môn căn bản trong Phật Pháp, được duy trì từ thời Đức Phật cho đến tận hiện nay, dù theo tông phái nào, Nam Tông hay Bắc Tông, Tịnh Độ Tông hay Thiền Tông, Mật Tông… thì tăng ni tu sĩ và cư sĩ cũng đều thường xuyên hành trì, chỉ khác nhau ở phần chọn kinh nào để tụng đọc mà thôi. Định nghĩa một cách đơn giản, tụng kinh là đọc lại lời Phật dạy trong kinh điển Phật thuyết. *Đôi khi trong đạo Phật có một vài kinh không phải do Phật thuyết, mà do các đệ tử đời sau thuyết, xong cũng đã ghi rõ tác giả ( như kinh Na Tiên Tỳ Kheo do Ngài Na Tiên thuyết, kinh Pháp Bảo Đàn do Ngài Lục Tổ Huệ Năng thuyết, Lương Hoàng Sám do Ngài Chí Công soạn, Từ Bi Thủy Sám do Ngộ Đạt Quốc Sư soạn…) Còn lại cơ bản kinh Phật đều là Đức Phật thuyết. Tụng kinh có thể chia ra làm nhiều hình thức, từ đơn giản cho đến cầu kỳ. Đơn giản thì người hành trì chỉ cần đọc lên bài kinh Phật đó, dù là đọc thầm hay đọc lớn tiếng lên đều được, tất nhiên đọc lớn tiếng thì mệt hơn, bù lại, sẽ đạt được nhiều công năng vi diệu. Cao cấp hơn, để việc tụng kinh trở nên linh thiêng, trang trọng, chuyên nghiệp hơn thì người hành trì có thể thêm vào việc đánh chuông, gõ mõ, đốt hương, đốt trầm, mặc pháp phục trang nghiêm, ngân xướng lời kinh theo một giai điệu cầu kỳ, lễ lạy v.v… Những việc này là phần thêm vào, có thì càng tốt, xong không phải là bắt buộc phải có. Trong nhiều trường hợp, việc cứng ngắc bám chấp vào những phần thêm vào này khiến người hành trì cảm thấy ái ngại, gây cản trở cho việc tụng kinh.

TỤNG KINH CÓ CÔNG NĂNG NHƯ THẾ NÀO?

Công năng căn bản và hiển nhiên nhất, đó là tụng kinh để biết Đức Phật đã dạy những gì, tạo nên một nền tảng kiến thức vững vàng (Chánh Kiến). Dựa vào đó, chuyển sang bước tiếp theo là tự mình tư duy, suy xét mọi việc (Chánh Tư Duy) rồi thực hành theo lời Phật dạy (Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp…). Không tụng đọc kinh điển, đệ tử Phật đời sau không thể biết tu tập như thế nào. Vì kinh Phật thường rất cô đọng, ý nghĩa thâm thúy, sâu xa, nhiều chỗ cao siêu khó hiểu, nên đệ tử Phật thường phải đọc đi đọc lại nhiều lần năm này qua tháng khác, thậm chí có người học thuộc lòng một số bài kinh. Nhờ quá trình đó, người đệ tử Phật ngày càng thấm nhuần một cách sâu sắc thâm ý trong kinh điển. Cụ thể hơn, quá trình ấy diễn ra như sau: Tư tưởng của mỗi người được hình thành thông qua các bước: tiếp xúc với vô số thông tin khác nhau tràn ngập trong cuộc sống –> gạn lọc thông tin để tích lũy kiến thức –> phân tích, nghiền ngẫm kiến thức để hình thành tư tưởng –> dựa vào tư tưởng để ra quyết định hành động. Người tụng kinh thường xuyên chính là đang tiếp xúc với nguồn thông tin quý giá của một bậc Thánh nhân trí tuệ, thông qua từng bước tiếp theo, là tích lũy kiến thức –> phân tích, nghiền ngẫm giáo lý, hình thành tư tưởng –> và cuối cùng, người đó với một tư tưởng thấm nhuần những triết lý thâm sâu và thánh thiện từ lời Phật dạy. Từ đó, người tụng kinh sẽ thường đưa ra những quyết định sáng suốt, thiện lành. –> Mà đã hay làm những việc thiện lành, thì đương nhiên sẽ có được nhiều phước báo. –> Cứ tiếp tục như thế, lặp đi lặp lại quá trình trên, người ấy sẽ huân tập thành những thói quen mới vững chắc dần qua thời gian nhiều kiếp. Lưu ý, quá trình chuyển hóa thân tâm thông qua việc tụng kinh này diễn ra một cách hết sức chậm rãi. Con người ta không phải chỉ cần “biết đúng” là lập tức có thể “hành động đúng”, vì hành động còn do bản năng, ham muốn, dục vọng trong mỗi người chi phối. “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”. Bạn đừng quá kỳ vọng chuyện thay đổi tâm tính trong chỉ vài năm vài tháng, mà cần sẵn sàng chờ đợi một thời gian dài, có thể lên đến nhiều kiếp. Qua phân tích trên, ta thấy được giá trị cốt yếu quan trọng nhất của việc đọc tụng kinh điển, chính là để hiểu rõ lời Phật dạy, làm nền tảng để sau này thực hành theo. Xong đó mới chỉ là xét trên tiến trình tâm lý, pháp môn tụng kinh không đơn giản chỉ có thế. Xét trên tiến trình vận hành của luật Nhân quả, thì việc tụng kinh giống như gieo những hạt giống Bồ Đề vào trong kho tàng phước báu của mình. Những kiếp sau, hạt giống ấy sẽ nảy mầm thành vô số những duyên lành với Phật Pháp, ngay cả với người tụng kinh nhưng chưa hiểu nghĩa, vẫn sẽ có những lợi ích sau: 1. Hiện tại chưa hiểu, nhưng nhờ có đọc kinh nhiều, nên đến một lúc gặp cơ duyên phù hợp, nhớ lại lời kinh mà hiểu ra và thấm thía. 2. Người ấy sẽ luôn gặp được những cơ duyên học hỏi giáo lý, thân cận các bậc thiện tri thức, sẽ tái sinh cùng thời và được gặp các Đức Phật tương lai để học đạo. Nhờ những duyên lành ấy, dần dần người ấy sẽ tu học đạt được những đạo quả trong Phật Pháp. 3. Trí tuệ từng bước khai mở, hiểu được những giáo nghĩa sâu xa mà trước kia không thể hiểu được, thâm nhập được vào những cảnh giới trước kia không thể với tới được. 4. Khi một người tụng kinh, trong vô hình thường có nhiều vong hồn, những chúng sinh thuộc cảnh giới quỷ thần, thậm chí là cả chư thiên đến nghe kinh. Khác với con người bị giới hạn bởi thân xác vật lý nặng nề, những chúng sinh trong vô hình rất nhạy cảm với uy lực của kinh Phật, họ cảm nhận rõ rệt lợi ích vi diệu của lời kinh, chỉ cần cung kính lắng nghe ai đó tụng kinh Phật, họ cũng được chuyển hóa ngay lập tức. Còn nếu thường xuyên nghe nhiều, họ sẽ được siêu thăng lên những cảnh giới cao hơn. Thế nên người tụng kinh sẽ có thêm vô số phước lành nhờ việc giúp những chúng sinh trong vô hình được siêu thăng. Và còn rất nhiều công đức vi diệu khác mà một phàm phu mắt thịt như Quang Tử không thể thấy hết, phải đến trí tuệ của Đức Phật và các Đại Bồ Tát mới hiểu được. Thế nên Quang Tử chỉ đành giới thiệu sơ lược vài điểm như vậy.

CÁCH THỨC THỰC HÀNH TỤNG KINH

Đầu tiên là chọn kinh gì để tụng. Khi xưa Đức Phật thuyết pháp, Ngài đều quan sát đối tượng lắng nghe là ai, có trình độ, căn cơ, tâm tư như thế nào mà thuyết giảng nội dung cho phù hợp, sao cho người đang nghe được lợi ích cao nhất. Người trình độ cao nghe giảng những nghĩa lý rất cao siêu thì tràn đầy hứng thú, trái lại, người trình độ thấp nghe những lời ấy thì mơ màng, hoang mang vì nghe không hiểu. Ngược lại, người trình độ nhập môn nghe những giáo lý cơ bản thì thấy thích thú, nhưng người trình độ cao thì lại thấy chán… Thế nên Đức Phật đã thuyết giảng ra rất nhiều kinh điển, độ sâu cạn, cao thấp khác xa nhau. Điều đáng tiếc là giờ đây không còn Đức Phật hiện tiền để xác định ai phù hợp với giáo lý nào, kinh điển nào. Trình tự cao thấp, trước sau như thế nào. Thành ra chúng ta chỉ còn cách tự mình thử nghiệm đọc lần lượt qua nhiều kinh điển khác nhau, rồi tìm xem mình phù hợp với những kinh nào. Khi tìm được đúng những kinh hợp với mình, người tụng sẽ thấy rất hứng thú, sinh tâm tín kính và có thể duy trì tụng niệm lâu dài. Ngược lại, nếu không có duyên với một bộ kinh nào đó, khi cố ép mình tụng sẽ sinh tâm chán nản, khó hiểu, cảm thấy nghi ngờ, không thể duy trì đọc tụng thường xuyên, và bỏ tụng. Bộ kinh tốt nhất chính là kinh phù hợp với mình nhất, riêng mỗi người một khác, chứ không có cứng ngắc là tất cả ai cũng đều nên đọc kinh này hay kinh kia. Với người mới bắt đầu tìm hiểu Phật Pháp muốn tụng kinh nhưng chưa biết chọn kinh nào để khởi đầu, có thể bắt đầu với những kinh Phật dễ hiểu như kinh Địa Tạng, phẩm Phổ Môn, kinh Nghiệp Báo Sai Biệt, kinh A Di Đà, kinh Dược Sư, kinh Vô Lượng Thọ, phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện … Khi đã nắm được phần cơ bản rồi thì tìm hiểu qua những kinh điển khác, thấy kinh nào hợp với mình thì có thể chọn để thường xuyên tụng đọc. Khi tụng kinh, nếu có thể giữ tâm thanh tịnh, quỳ tụng lớn tiếng trước bàn thờ Phật là tốt nhất. Xong hoàn cảnh mỗi người một khác, không thể chọn được cách tốt nhất thì chọn cách tốt nhì, tốt ba… dù sao có vẫn còn hơn không. Nếu hoàn cảnh không cho phép, thì không có bàn thờ Phật, thậm chí ở nơi công sở, ở ngoài đường, hay bất kì nơi nào cũng có thể tụng đọc. Không thể đọc thành tiếng, thì có thể đọc lầm rầm hoặc đọc thầm bằng mắt, cũng không cần ngân nga theo các giai điệu nhạc, đọc rõ ràng câu từ là được rồi. Không quỳ được thì mình ngồi, đứng, đi … miễn đừng nằm, trừ khi mình bị bệnh tật, hay người già đuối sức thì nằm cũng được. Không có chuông, mõ, nhang, đèn, pháp phục áo tràng… thì ta vẫn cứ tụng bình thường, miễn là trang phục chỉnh tề, không mặc quần đùi, áo sát nách, áo ba lỗ hay cởi trần với nam giới là được rồi. Không có quyển kinh, thì ta dùng điện thoại, lên Google, tìm kiếm bằng tên của kinh rồi nhìn điện thoại đọc tụng. Một số kinh chú ngắn, dễ thuộc, ta nên học thuộc sẽ dễ dàng tụng đọc trong mọi hoàn cảnh. Không giữ tâm tập trung hoàn toàn vào lời kinh được, mà bị các tạp niệm lăng xăng trong đầu, thì vẫn cứ tiếp tục duy trì. Việc làm cho tâm tập trung hoàn toàn vào câu chữ trong kinh thực sự rất khó, nhiều người tụng mấy chục năm vẫn cứ bị vọng tưởng lăng xăng trong đầu gây mất tập trung. Nhưng dù như thế vẫn cứ rất tốt, vẫn được công đức vô lượng, vẫn được cảm ứng với Tam Bảo, dần dần nhiều năm, nhiều kiếp rồi tâm sẽ thanh tịnh hơn. Và điều tối quan trọng đó là cần cố gắng hết sức để hiểu rõ lời kinh, thậm chí là vừa đọc, vừa dừng lại để phân tích, so sánh, đối chiếu, tư duy kỹ càng, để vượt qua cả giới hạn của ngôn từ, hiểu sâu vào thâm ý Đức Phật muốn truyển tải. Không thể hiểu hết thì cũng hiểu đến mức tối đa mình có thể. Chứ không nên chỉ tụng kinh như một nghi lễ cầu phước, gấp quyển kinh lại là chẳng biết Đức Phật đã dạy điều gì. Hi vọng một vài chia sẻ nông cạn này của Quang Tử sẽ giúp bạn hiểu thêm được đôi chút, tăng thêm động lực hành trì tụng đọc kinh điển, tăng trưởng trí tuệ, sớm viên thành Phật đạo. (Quang Tử) Một số ví dụ về linh ứng khi tụng kinh: https://thuvienquangtu.com/category/tung-kinh/

Ác mộng bà mẹ chồng ( Truyện ngắn) – P2

(Tác giả: Tĩnh Như) Xem lại phần 1:  ⇒  Ác mộng bà mẹ chồng – P1 … Bà Tú Hảo phừng phừng mặt, hai tròng trắng trợn lên, mấy nếp nhăn trên trán cau lại,… Xem ra con dâu bà không còn nằm trong bàn tay kiểm soát của bà nữa. “Lại có thể dễ dàng thoát ra như vậy sao ?” – bà Hảo nghiến răng lẩm bẩm. Đợi Vân Lương xách đồ xuống, bà  chậm rãi buông từng từ: – Mày có thể đi, nhưng đừng hòng mang theo hai đứa nhỏ. Bọn nó là con cháu nhà tao. Hai vợ chồng mày làm đơn ly hôn đi. Xong quyền nuôi con, cứ yên tâm rằng luật sư của tao đảm bảo mày không nhận nuôi được một đứa nào. Vân Lương đứng hình, bao nhiêu dũng khí nãy giờ như tấm kính cường lực bị người ta gõ trúng điểm yếu, vỡ tan muôn mảnh vụn nát. Tình mẫu tử cuồn cuộn dâng lên, tim cô thắt lại. Hai đứa trẻ đi học chưa về, chứ nếu không cô đã nhào ra ôm lấy chúng. Bà Tú Hảo bắt được thóp, thừa biết một người mẹ như Vân Lương không dễ gì bỏ con, dù chỉ một đứa, nhưng cô lại không đủ điều kiện tài chính để nuôi con như bên nhà chồng. Chỉ có lấy chúng ra mới hòng đập tan mong muốn nổi dậy của con dâu. Quả nhiên, bà đã thắng. Vân Lương đứng yên như trời chồng, còn Dương thở phào nhẹ nhõm. Hải và cô Út lần đầu tiên được thấy một con người khác của chị dâu. Nhịp sống gia đình lại về với guồng quay như nó vốn dĩ. … Mấy hôm sau, tình cờ thấy Vân Lương đi chợ ngang qua, mợ Liên gọi với lại, kêu vào uống cốc nước mía cho mát. Mợ Liên nhìn Vân Lương hồi lâu chẳng nói gì, mở lời trước: – Lại bị bà Hảo bắt thóp nhốt vào lồng hả ? Bữa mợ có nghe thằng Dương nó kể. Mợ đã bảo, bà Hảo này thành tinh rồi, không có dễ mà thoát khỏi tay bà ấy đâu. – Vâng, tại cháu còn non quá. Với lại hôm ấy cháu đang cơn bức xúc, không nghĩ ngợi nhiều, cứ thế sồn sồn lên, rồi cũng chả giải quyết được gì. Vân Lương thở dài thườn thượt. Ánh mắt như bị tảng đá đè lên, nặng nề nhìn ra xa. – Thôi, đừng rầu rĩ nữa. Mợ gọi mày vào đây không phải chỉ tám dóc suông đâu. Có cách rồi ! – Cách gì mợ ? – Vân Lương ngước lên nhìn mợ Liên, vẻ mặt chờ đợi. – Mợ lâu nay vẫn để tâm lùng trong các kinh sách Phật Pháp, xem có bí quyết gì giúp cháu được không. Bữa thỉnh trên chùa về một cuốn về luật Nhân quả hay lắm, đọc mà sáng mắt ra. Mọi thứ đều do luật Nhân quả sắp xếp, vậy nếu muốn thay đổi điều gì, cũng phải từ luật Nhân quả mà thay đổi. – Mợ nói cao siêu thế, cháu chưa hiểu. – Chuyện. Mợ nghiên cứu kinh sách bao lâu mới thông chứ dễ mà hiểu được chắc – mợ Liên vuốt vuốt mái tóc cao lên, cánh mũi phập phồng. – Vâng, cháu biết mợ trí tuệ hơn người. Mợ là nhất rồi. Thôi mợ nói nhanh đi, nói luôn cách làm cụ thể ấy, chứ lý thuyết chuyên sâu cháu không hiểu được đâu. Mợ bảo sao thì cháu làm vậy. – Thế này, đại khái cháu phải lép vế, phải nghe lời bà Hảo răm rắp, không đơn giản chỉ là do bà ấy giỏi thao túng thôi đâu, nguyên nhân lõi là do kiếp trước, cháu có nợ bà ấy cái gì đấy. Giờ Nhân quả sắp xếp con nợ gặp lại chủ nợ, tự nhiên sẽ nghe lời chủ nợ sai khiến để trả nợ cũ. – Vâng, cái này trước cháu có nghe qua. – Giờ muốn thoát khỏi chủ nợ nhanh chóng, cần phải cấp tốc trả hết nợ cho chủ nợ, bằng cách tạo công đức thật lớn rồi hồi hướng cho chủ nợ. Cháu thuộc chú Đại Bi chưa ? – Dạ rồi. Hôm trước mợ đưa cháu, cháu về ngày nào cũng đọc cả mấy chục biến. Có hôm ít việc, đọc đến mấy trăm biến luôn. Thuộc lòng cả tháng nay rồi. – Đấy, công đức vô lượng ở đấy đấy. Còn nhiều cách tạo công đức  khác, nhưng cháu đã thuộc chú Đại Bi thì cứ chuyên nhất vào đó là tuyệt vời rồi. Giờ cháu đem công đức trì chú Đại Bi hàng ngày, hồi hướng cho bà Hảo, cầu cho bà ấy hồi tâm chuyển ý, nợ cũ sẽ tiêu dần. Hồi hướng cho cả thằng Dương nữa. Đến lúc nào nợ hết, cháu sẽ được tự do thôi. Biết đâu lại độ được bà ấy tu theo không biết chừng. – Cháu chả mơ đến chuyện viển vông ấy. Giang sơn dễ đổi bản tính khó chừa. Thoát được thân mình là may rồi. – Ai biết đâu chữ ngờ. Phật Pháp linh lắm, mình sao mà suy lường được ? – Vậy từ nay cháu sẽ hồi hướng cho bà ấy. Cháu cảm ơn mợ nhiều. Không có mợ an ủi, chỉ vẽ, cháu ở nhà này chắc phát điên lâu rồi.   Vân Lương đứng dậy giành trả tiền, rồi vội vàng về lò mổ, trong lòng lại nhen nhóm một tia hi vọng. Từng hàng cây phấp phới trong gió biển lồng lộng suốt chặng đường, như cũng muốn cổ vũ cho cô. … Ba năm sau, kinh tế gia đình ngày càng phất, nhà đã có xe hơi và thêm vài miếng đất. Bà Tú Hảo nở mày nở mặt với xóm làng. Vân Lương y như lời mợ Liên dặn, ngoài lúc niệm Phật cầu vãng sinh, thì miệt mài trì chú Đại Bi hồi hướng cho bà Hảo và cả nhà, gần như không bỏ ngày nào. Ấy vậy mà chưa thấy gì thay đổi cả khiến cô nhiều lúc cũng nản, xong cũng không bỏ cuộc. Đã nhiều lần, Vân Lương mạnh dạn thử khuyên nhủ chồng đổi nghề khác, để tránh gặp những chuyện chẳng lành do gặp quả báo, nhưng Dương cứ phớt lờ đi. Khuyên bà mẹ chồng thì chắc chắn không được rồi, đó giờ nào bà Tú Hảo có nghe ai. Loạng quạng lại bị bà ấy sỉ vả, móc mỉa cho rát tai. Trời vào đông, không phải mùa du lịch, nhịp sống nơi đây trở lại êm ả, công việc đều đều túc tắc, đám thanh niên có thời gian vui chơi với bạn bè, người lớn thì quây quần bên con trẻ. Thế nhưng cái êm ả ấy chẳng được lâu. Hôm ấy cả nhà đang ngồi ăn cơm, chợt có tiếng người chạy từ ngoài cổng vào. Là cậu Hai, quần áo xộc xệch, thở hổn hển, hai bàn chân đi dép tổ ong chiếc nọ chiếc kia. Cậu đứng im thở một lúc, mới nói được ra tiếng: – Chị Hảo ơi, thằng Hải … – Thằng Hải nó đi đá bóng vẫn chưa về, có việc gì mà trông cậu hớt hơ hớt hải, hỏi nó làm gì thế? – Không. Thằng Hải đi đá bóng cùng đám bạn trong xóm, xong ngồi nhậu nhẹt ngoài quán, say xỉn, rồi đánh nhau, bị một đứa khác vơ con dao bầu nhọn đâm cho một nhát – Cậu Hai thở dốc, vừa nói vừa như muốn khóc – Giờ … mấy đứa bạn đang chở nó đi cấp cứu … lên bệnh viện trên huyện, tình hình nguy cấp lắm. Bà Tú Hảo không giữ được bình tĩnh, tay chân quýnh quáng, lảo đảo như sắp ngã. Vân Lương thấy thế vội ra đỡ bà. Dương vội vàng ra xe, chở cả nhà lên bệnh viện huyện. Ba người chạy vào tới phòng cấp cứu, nhìn thấy Hải nằm trên băng ca rên rỉ, xung quanh các bác sĩ hối hả xử lý cầm máu, người thì thoăn thoắt tay kéo, tay gạc, người thì dùng xi lanh lấy thuốc từ mấy ống thủy tinh toàn chữ nước ngoài…. Ngực Hải bị rạch một đường dài, máu rỉ ra trông chả khác con lợn bị đồ tể rạch bụng khi mổ, miệng Hải phập phùng, đớp đớp đừng ngụm không khí, hệt như đám cá nằm lâu trên cạn. Bà Tú Hảo nhìn thấy con trai, tưởng không thể chống cự nổi. Đúng lúc đó, bác sĩ ra hỏi người nhà bệnh nhân đâu. – Có tôi đây – Dương đáp lời. – Anh là gì của bệnh nhân? – Tôi là anh trai thưa bác sĩ. – Anh làm thủ tục cho bệnh nhân lên bệnh viện tỉnh ngay, ở đây trang thiết bị không đầy đủ. Nhanh lên, không thì không kịp đâu, mất nhiều máu lắm rồi. Tính mạng đang nguy kịch. – Dạ, dạ … vâng. Cáng được đưa ra xe cấp cứu, Ba người ngồi cùng xe đưa Hải lên tỉnh. Vân Lương từ khi trên đường lên bệnh viện huyện đã liên tục niệm thầm “Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát”, khẩn cầu Bồ Tát gia hộ cho cậu em chồng tai qua nạn khỏi. Lần này, cô không ngại, đánh bạo khuyên mẹ và chồng cùng niệm Bồ Tát cầu gia hộ. Đằng nào từ đây lên tỉnh cũng phải mất một tiếng, có làm được gì khác đâu. Thấy hai người ngập ngừng, bác sĩ đi cùng lên tiếng: – Tôi đưa người đi chuyển tuyến như thế này nhiều rồi, cũng gặp không ít trường hợp người nhà niệm Phật cho bệnh nhân. Chả biết như thế nào, nhưng đúng là đã có những tình huống tiến triển không ngờ. Thế là cả ba người cùng một nhịp mà niệm “Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát” không ngừng. Bà Tú Hảo mới đầu còn ngập ngừng, nhưng càng lúc lại càng tha thiết hơn. Giờ đầu bà không còn bận nghĩ mưu ủ kế gì nữa, bà biết chúng vô dụng với tính mạng con trai bà lúc này, chỉ có thể chờ đợi phép mầu mà thôi. Bà niệm càng lúc càng gấp gáp, dồn dập hơn, cái âm thanh sang sảng của bà vang dội cả xe, gần như muốn át cả tiếng còi cấp cứu. Cứ như vậy cả tiếng đồng hồ không nghỉ. 9 giờ tối, xe cấp cứu đưa Hải lên tới bệnh viện tỉnh. Băng ca được đưa vào phòng phẫu thuật. Lát sau, y tá ra hỏi: – Người nhà bệnh nhân có ai nhóm máu O không? Hiện bệnh viện còn rất ít, sợ không đủ. Bệnh nhân mất máu quá nhiều, không có ngay bây giờ e không qua khỏi. – Lấy máu của tôi đi. – Vân Lương đáp, hiến máu nhiều lần nên cô biết rõ mình nhóm máu gì. – Vậy mời cô vào làm các xét nghiệm luôn. Khả năng vẫn chưa đủ đâu. Nhưng cứ như vậy đã. Bốn tiếng sau, cửa phòng cấp cứu mở ra, mọi người đang ngồi, nằm la liệt trên dãy ghế nhựa, vội bật dậy. – Con tôi sao rồi bác sĩ? – Bà Tú Hảo hỏi. – Đúng là may mắn. Lúc đầu chúng tôi tưởng không thể phẫu thuật cho nạn nhân vì mất máu quá nhiều, trong khi máu nhóm O trữ trong ngân hàng máu lại gần như hết sạch. May người nhà có người trùng nhóm máu, kịp thời hiến máu thêm mới đủ. Giờ qua cơn nguy kịch rồi, có thể nói tính mạng đã được bảo toàn. Bà Tú Hảo và cả gia đình thở phào nhẹ nhõm. … Kể từ đó, nhiều người vẫn đồn đoán do nhà bà Tú Hảo sát sinh quá nhiều, nay con trai phải chịu cảnh như vậy. May nhờ phúc đức cô con dâu kéo lại nên mới tai qua nạn khỏi. Bà Tú Hảo sau lần đó có thái độ khác hẳn với con dâu, không còn cố kiểm soát chặt cô theo ý bà nữa. Kể từ ngày thằng Hải bị như vậy, bà có chút điềm đạm hơn, ít cao giọng với mọi người trong nhà. Thấy mọi thứ đang theo chiều hướng tốt, Vân Lương thử xin mẹ chồng cho nghỉ việc ở lò mổ, để ra ngoài kiếm việc khác làm, được thì được, không được thì thôi. Tưởng sẽ phải đôi co phân trần mệt mỏi, ấy vậy mà sau khi Vân Lương trình bày sơ qua, bà Tú Hảo không hỏi gì nhiều, chỉ lặng lẽ gật đầu. Vân Lương xin vào làm trong một công ty kinh doanh văn phòng phẩm. Dù có bằng cấp cao, nhưng thiếu kinh nghiệm, nên người ta chỉ nhận cô bắt đầu với chức danh nhân viên quèn, lương khởi điểm cũng xoàng. Nhưng thế là quá đủ để Vân Lương cảm thấy phấn khởi lắm rồi. Hôm ấy Vân Lương đi làm về muộn, đều thấy bà Tú Hảo đang trong bếp nấu bữa tối. Cô vội để túi đó, xắn tay áo vào cùng làm với mẹ chồng. Bà Tú Hảo bảo: – Lên tắm đi con, xong hết rồi. – Vâng, mẹ. Dương trên đường đi làm về, tiện mua thêm ít đồ ăn chay cho Vân Lương cải thiện. Anh bắt đầu quan tâm đến cô giống như cái hồi mới cưới. … Một năm nữa trôi qua, cậu Hai lững thững sang nhà chị gái, cầm chén trà lên uống một ngụm, rồi nói: – Vợ em không biết bị làm sao? Hôm nay tự nhiên lôi hết chăn chiếu ra giặt giũ, dọn dẹp nhà cửa phòng ốc sạch sẽ đâu ra đấy, gọn gàng như chuẩn bị đón giao thừa. Mặt mày thì hớn hở trông thấy. Em hỏi nay có chuyện gì vui à? Thì vợ em bảo ba ngày nữa sẽ vãng sinh Cực Lạc, ba ngày nữa Phật đến tiếp dẫn bà ấy. Em đang không hiểu đầu cua tai nheo ra làm sao. Vậy là sao? Là chết à? Đang khỏe mạnh sờ sờ ra đấy. Có phải bà ấy bị điên rồi không? – Mợ bị hoang tưởng rồi. Thôi cậu cứ kệ đi. Cậu Hai đem chuyện này đi kể cho một vài người nữa, chả mấy chốc đã lan ra khắp xóm. Ai cũng cho là chuyện vớ vẩn, nhưng lại hiếu kì chờ xem tới lúc đó có chuyện gì xảy ra không? Ba ngày sau, cậu Hai thức giấc, đã thấy vợ mình ngồi chải tóc bên cửa sổ, im lặng chẳng nói lời nào. Hàng xóm và người thân hiếu kì cũng cất cử người sang dò xét. Họ giả vờ đi ngang qua cổng nhà, liếc mắt vào quan sát. Riêng Vân Lương thì được mợ Liên kể rõ chuyện bà nằm mơ, thấy Phật A Di Đà báo 3 hôm nữa sẽ đón bà vãng sinh về Cực Lạc, nên đã xin nghỉ một ngày sang hộ niệm cho mợ Liên. Trong phòng khách, mợ Liên ngồi xếp bằng dưới bức tranh Phật A Di Đà treo trên tường, còn Vân Lương quỳ ngay bên cạnh, cả hai miệng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” không ngớt. Cửa phòng khách được mở toang, cố ý cho người ngoài đường trông rõ. Cậu Hai cùng mẹ con bà Tú Hảo thì ngồi uống trà, cố ý chờ đợi xem kịch hay, khi mà hết hôm nay không có chuyện gì xảy ra, sẽ có cớ để mà móc mỉa dài dài. Được một lát, Vân Lương vẻ mặt phức tạp, ghé bên tai hỏi nhỏ: – Mợ có cảm thấy trong người khác lạ gì không ? – cô lại ngoái nhìn cả nhà đang ngồi phía sau, bao nhiêu cặp mắt chăm chú như dò kết quả xổ số – Cháu cứ lo lo. – Không, mợ vẫn khỏe mạnh bình thường, không thấy gì khác cả. Hơn một tiếng đồng hồ trôi qua, mợ Liên bỗng thấy khó thở, trong người chỗ nóng, chỗ lạnh bất thường, mồ hôi lấm tấm trên trán, xong vẫn cố gắng niệm Phật không gián đoạn. Xung quanh người nhà, người trong xóm nhìn ngó xì xào, nhưng mợ Liên không còn bận tâm gì nữa, tất cả thế gian giờ chỉ như giấc mộng. Rồi bất chợt, bà mắt vẫn nhắm nghiền, nhưng mỉm cười rạng rỡ như thấy được gì vui lắm: – Lương ơi, mợ thấy Phật A Di Đà rồi, Người đẹp lắm, hào quang sáng lắm, còn có rất đông các vị Bồ Tát nữa. Phật đưa cho mợ một bông sen… Cháu có thấy không ? – Dạ không. Vi diệu vậy sao hả mợ ? Mợ tiếp tục niệm Phật đi. Nam Mô A Di Đà Phật !  Nam Mô A Di Đà Phật !  … – Mợ đi trước đây. Cố gắng hành trì cháu nhé. Hẹn gặp cháu ở Cực Lạc. Dù biết đây là việc vô cùng tốt đẹp, là lúc ước mơ cả đời của người tu Tịnh Độ thành hiện thực, nhưng trong lòng Vân Lương vẫn có chút vương vấn, vui buồn lẫn lộn. – Dạ. Cháu nhất định sẽ gặp mợ trên đó. Cảm ơn mợ vì tất cả. Mợ đi đi. Cả hai tiếp tục niệm, chưa đến mười câu thì sắc mặt mợ Liên ửng hồng rực sáng. Ngay tại đó, mợ Liên trút hơi thở cuối, an lành vãng sinh. Toàn thân bà trùng xuống, nhưng vẫn giữ tư thế ngồi, không còn bất cứ cử động nào nữa. Một hương thơm kì lạ, không phải nước hoa, cũng không phải nhang trầm xông khắp căn nhà, không hiểu từ đâu mà có. Cậu Hai hốt hoảng chạy đến sờ lên mũi mợ Liên, lại sờ xuống mạch ở cổ tay, mặt tái dại đi. – Ối giời ơi, mình ơi, mình bỏ tôi đi thật sao ? Chị Hảo ơi, vợ em đi thật rồi. Ối giời ơi ! Sự thật hiển bày trước mắt quá rõ ràng, khiến bà Tú Hảo, Dương và mọi người chứng kiến đều trợn mắt nhìn, mồm há hốc không sao ngậm lại được, toàn thân cứng đờ ra vì kinh ngạc. Thế giới quan của họ bị đảo lộn, những gì xưa nay họ tưởng là đúng đang sụp đổ ầm ầm. … Sau mấy ngày lo hậu sự cho Mợ Liên chu toàn, bà Tú Hảo thấy toàn thân mệt mỏi rã rời. Về đến nhà, bà tắm táp rồi thả người lên giường, thiếp đi lúc nào không biết. Bà từ từ tiến vào cõi mộng, khung cảnh hiện ra sống động như thật, cũng chính là tại căn nhà của bà. Chợt một luồng ánh sáng phóng tới, bà ngước lên nhìn. Là mợ Liên! Nhưng không phải với tướng mạo khắc khổ khi còn sống, mà trong thân tướng cao lớn, bận quần áo màu trắng lấp lánh như pha lê, ngồi kiết già trên một bông hoa sen lớn màu vàng, từ người mợ tỏa ra một luồng hào quang trong trẻo dịu mát. Bà Tú Hảo mới đầu giật mình, nhưng sau ngắm nhìn tướng mạo đẹp đẽ đó lại thấy được an ổn. Gương mặt mợ Liên vẫn điềm đạm như hồi còn sống, nhưng phúc hậu và đầy đặn hơn rất nhiều, mỉm cười nhẹ với bà Tú Hảo mà nói: – Em đã vãng sinh rồi, từ nay không còn luân hồi chịu khổ cõi trần gian này nữa. Về Tây Phương mới an lạc biết bao. Mọi người nên vui mừng cho em nhé. Đời này do ngu si em giết hại nhiều con vật, nhưng vì biết quay đầu sám hối và chân thành tu tập, cộng thêm công đức tích cóp lại từ nhiều đời nhiều kiếp trước, tới nay chín muồi nên được về Cực Lạc. Bà Tú Hảo lâng lâng, hỏi trong mơ: – Mợ giờ đẹp quá. Vậy sau này chị cũng sẽ lên đó cho sung sướng. Mợ Liên nhẹ nhàng đáp lời: – Chị đi theo em đã. Nói xong, bỗng nhiên bà Tú Hảo thấy mình chìm vào một không gian tối tăm u tịch, nhìn xa xa có một ngọn núi cao sừng sững muốn xuyên thấu trời, dưới chân núi là một vùng biển lớn rộng mêng mông, sóng cuộn từng hồi mãnh liệt, thi thoảng tiếng gió rít lên nghe thật thê lương, rùng rợn, khiến bà Tú Hảo thất thần, muốn ngất ngay tại chỗ. Suýt lịm đi thì một vầng hào quang từ đâu lóe lên, xua tan cái không khí quỷ dị ban nãy. Bà Tú Hảo trấn tĩnh, ngẩng mặt lên, thấy một nhà sư thân hình cao lớn, khuôn mặt trang nghiêm, tay phải cầm trượng, tay trái cầm một viên ngọc châu lớn, mặc bộ áo cà sa màu đỏ, điểm xuyết những đường kim tuyến màu vàng lấp lánh như kim cương. Mợ Liên khi ấy mới nói: – Chị đảnh lễ Ngài đi. Đó là Địa Tạng Vương Bồ Tát. Ngài sẽ gia hộ, dẫn chúng ta vào thăm địa ngục. – Hả? …Em…emmm … nói gì cơ? – Đúng vậy, đây là … địa ngục. Trời ơi, cái gì thế này, vậy là sao? Tại sao mình lại ở đây? Bà Tú Hảo tâm thần hỗn loạn, không hiểu mô tê gì. Một âm thanh trầm ấm thoát tục thoạt nhiên truyền vào tâm bà: – Hôm nay ta sẽ dẫn con đi, hãy ghi nhớ những gì con được thấy. Vừa nói xong, hai chị em theo sau Bồ Tát như lướt trong không gian tối tăm, chả mấy chốc đã xuất hiện trước một cánh cổng to lớn sừng sững. Cổng tự động mở ra, hai quỷ sai cao lớn, vạm vỡ huỳnh huỵch bước tới, tay cầm xích sắt, tay cầm đinh ba, hùng dũng tiến lại gần. Họ quỳ xuống đảnh lễ Bồ Tát, rồi chẳng nói chẳng rằng, bất thình lình giơ bàn tay gân guốc, xù xì túm lấy chân bà Tú Hảo, lôi bà xềnh xệch vào bên trong cánh cổng, thân bà bị kéo lê trên đất đau điếng. Chỉ một lát bà đã bị lôi đến một bờ biển đen ngòm, sóng trào dữ dội. Bà thấp thoáng thấy dưới biển một đàn cá, tôm, mực, cua… đủ loại, đông chưa từng thấy, con nào con nấy to như con trâu, nhe nanh múa càng, mắt đỏ lòm giận dữ nhìn chằm chằm vào bà. Quỷ sai lấy đà quăng bà xuống biển. Cả đám tôm cua cá kia nhất tề xông tới tranh giành cắn xé bà. Một cặp càng cua khổng lồ lạnh như băng chụp được bà giơ lên cao. Phụp một cái ! Thân bà bị cắt thành ba mảnh rơi xuống, máu chưa kịp tuôn ra thì đám cá bên dưới đã chen nhau phi lên, hàng trăm hàm răng sắc nhọn xé bà thành hàng trăm mảnh nhỏ. Máu loang lổ hòa và nước biển, đỏ lòm cả một vùng. Trong khoảnh khắc, bà Tú Hảo lại thấy mình hiện ra ở trên bờ, thân thể lành lặn như cũ, nhưng cái đau đớn vì bị xé xác ban nãy thì bà vẫn nhớ rõ mồn một, kinh sợ đến tột cùng. Bà vồ vập chạy tới lạy như bổ củi: – Liên ơi cứu chị. Đau lắm…Chị sợ rồi ! Sợ lắm rồi – rồi sực nhớ ra, lại quay sang lạy Bồ Tát – Bồ Tát! Xin cứu con. Nam mô Bồ Tát ! Nam Mô Địa Tạng Bồ Tát ! Bàn tay quỷ sai lần nữa túm bà Tú Hảo giơ lên cao, nhẹ nhàng như người ta cầm một con mèo con, tay kia chỉ xuống lòng biển, nói như thét: – Trần Tú Hảo, ngươi có biết vô số những con cá, tôm, cua, sò, ốc, bạch tuộc … kia ở đâu ra không? Bà Tú Hảo run lẩy bẩy, nhìn đám cá cua hung tợn, nhung nhúc dưới biển khơi, lại như sống lại khoảnh khắc bị xé xác ban nãy, sợ toát mồ hôi máu, miệng run lập cập không nói nên lời. – Đó chính là những chúng sinh bị doanh nghiệp nhà ngươi giết hại. Chúng ngày ngày đều oán hận, chờ ngươi hết thọ mạng, xuống đây một cái là chúng tính sổ với ngươi Hễ chúng xé xác ngươi xong, ngươi sẽ hoàn hồn lại, xong tiếp tục quăng xuống cho chúng xé xác tiếp, mỗi ngày vài vạn lần, kéo dài vài vạn năm – Quỷ sai tiếp tục gầm lên một tiếng trầm đục, khào khào, như muốn rung chuyển bốn bề – Sao ? Ngươi thấy thế nào ? Người bà Tú Hảo mềm nhũn như con chi chi, miệng lắp bắp mãi không thành được câu gì: “Con…con…” Chợt cây tích trượng của Địa Tạng Bồ Tát rung lên leng keng, ánh sáng lóe lên… Thoắt một cái, mọi người thấy mình đã hiện ra dưới chân một ngọn núi sừng sững. Nhìn lên, bà Tú Hảo lạnh hết cả sống lưng. Từ chân núi đến đỉnh núi ước chừng mấy kilomet đều mọc lên tua tủa trăm ngàn lưỡi dao nhọn hoắt, lưỡi dao sáng loáng như gươm. Tút trên đỉnh, quỷ sai đang nắm từng tội hồn quăng mạnh xuống, lăn lông lốc trên những lưỡi dao. Chỉ một thoáng toàn thân đã bị cắt nhỏ thành một đống thịt xương lẫn lộn, máu chảy đỏ lòm cả ngọn núi. Quỷ sai lại giơ bà lên cao, đôi mắt nhìn bà như muốn soi thủng tâm can: – Còn đây là chỗ hành hình cái tội mở lò mổ sát sinh. Còn chưa kể một đàn lợn đằng kia cũng đang háo hức chờ ngươi xuống để báo thù nữa – vừa nói vừa chỉ tay đến một đàn lợn đông lố nhố phía xa, thi nhau kêu eng éc đến điếc cả tai, từng cặp mắt đỏ lòm lòm xoáy vào bà Tú Hảo – Ngươi thấy thế nào ? Giờ ta quăng ngươi lên núi, lăn xuống một lần cho biết mùi, hay quăng cho đàn lợn kia xé xác ngươi ? – Không ! Không ! Cứu con! May sao ngay đó Bồ Tát liền ôn tồn nói: – Thế đủ rồi. Các ngươi dừng lại đi. Dương số bà Tú Hảo chưa hết. Để bà ấy về dương thế, phản tỉnh hồi đầu. Mợ Liên lên tiếng: – Nay chị xuống đây, đã biết quả báo là thế nào. Khi trở lại dương gian, nhớ bỏ nghề làm hải sản, mổ lợn, chuyên tâm tu hành hồi hướng công đức cho những oan gia của chị. Nếu không, khi chị chết đi, thì không còn cơ hội nào thoát khỏi những cảnh này đâu. Bà Tú Hảo nãy giờ vì quá kinh hãi nên chẳng nói được gì mấy, nhưng những gì vừa xảy ra đã tạc sâu vào tâm trí bà, quên làm sao được. Mợ Liên nói tiếp: – Chưa hết đâu. Chị còn nhớ cách đây mười tám năm, chị bị vỡ kế hoạch liên tiếp hai lần, nên đã nhẫn tâm phá thai ở bệnh viện huyện. Và cả tội “ngồi lê đôi mách” hồi chưa lấy chồng, khiến vợ chồng anh Đông chị Hằng khục khặc với nhau. Chị vu khống chị Hằng “suốt ngày phấn son, thậm thụt với người tình cũ”, khiến anh Đông ghen lên, lúc rượu vào say xỉn, về nhà gây gổ đánh vợ, vô tình đánh trúng chỗ hiểm khiến chị Hằng bỏ mạng, anh Đông vào tù. Lời nói của chị sắc như dao, lấy mạng người không tốn hơi sức. Chị có biết vong hồn chị Hằng và hai thai nhi ngày đêm đeo bám, hành chị đau nửa đầu bên trái, không thuốc nào trị hết được không ? – Trời, sao mợ biết những chuyện này? Chuyện phá thai chỉ mình chị biết, đến ông nhà còn chẳng hay. Còn chuyện bà Hằng đó xảy ra ở quê chị tút trên Phú Thọ. – Nếu chị đã không muốn người ta biết, thì tốt nhất là đừng làm. Bà Tú Hảo không nói thêm được điều gì nữa, cúi gằm mặt xuống, hoang mang tột độ. Địa Tạng Bồ Tát nhẹ nhàng nói: – Con đáng lý hôm nay không có phải xuống đây, do phước đời trước còn nên cứ thế sống hưởng giàu sang tiếp bảy năm nữa mới chết. Chết rồi thì sẽ bị Diêm Vương phán đọa vào chốn này thời hạn lâu đến cả triệu năm. Cũng may nhờ con dâu con là Vân Lương ngày ngày trì chú Đại Bi hồi hướng công đức cho con suốt mấy năm trời, nghiệp nhẹ bớt đi, duyên lành khởi phát, rồi mới có cơ may được đưa xuống đây tham quan trước mà còn cơ hội tỉnh ngộ. Khi về lại nhân gian hãy biết quay đầu tu tỉnh, nương theo Phật Pháp mà tu học, nỗ lực mà siêu độ cho các oan gia bị con hại chết. Bồ Tát nói xong, cây tích trượng lại rung lên leng keng. Bà Tú Hảo chợt bừng tỉnh sau giấc mộng kinh hoàng, cả người toát mồ hôi đầm đìa, tinh thần còn hoảng hốt tột độ, mãi chưa định thần lại được. Lúc đó mặt trời đã đứng bóng. Hai vợ chồng Vân Lương cũng vừa về đến nhà, thấy mẹ mình ngồi bệt ngoài cửa, ánh mắt đờ đẫn, chân tay run bần bật, vẻ sợ hãi hiện rõ trên từng thớ thịt. – Mẹ sao thế? – Hai vợ chồng cùng lúc đồng thanh. Bà Tú Hảo vẫn đơ ra đó, một hồi lâu mới lên tiếng: – Lương ơi… Có phải con vẫn âm thầm đọc chú Đại Bi … rồi cái gì mà … hướng … hướng cho mẹ suốt mấy năm qua phải không? – Sao mẹ biết ạ? – Vân Lương vô cùng ngạc nhiên. – Thế thì đúng rồi. Không phải mơ, là thật rồi…Chết tôi mất… Bà Tú Hảo cố hít một hơi thật sâu, thất thần kể lại giấc mơ vừa nãy cho Dương và Vân Lương nghe, rồi bảo: – Hai vợ chồng con mau lên chùa giúp mẹ thỉnh mời các sư thầy làm lễ sám hối và siêu độ cho chúng sinh, nếu có thể thì làm bảy ngày liên tục. Còn Dương sắp xếp cho công nhân nghỉ việc, nhà chúng ta chuyển nghề khác. Câu chuyện nhanh chóng lan ra, cả xóm biển đều biết tới giấc mơ của bà Tú Hảo. Hết người này đến người kia đến hỏi, bà Tú Hảo cũng ậm ừ xác nhận. Có một số người vì thế mà dứt khoát bỏ nghề sát sinh, lo tìm sách tìm thầy, học thêm Phật Pháp. Hai vợ chồng Vân Lương chẳng mấy chốc đã lo việc mẹ dặn xong xuôi, vẹn toàn. Cậu Hai tháng trước còn tính mua ghe đi đánh cá, mà nay được nghe kể về giấc mơ ấy, sợ xanh mắt mèo, dứt khoát từ bỏ ý định hành nghiệp sát. … Một thời gian sau, ngôi nhà ấy vẫn luôn rộn ràng âm thanh, nhưng không phải thứ âm thanh chát chúa của bà Tú Hảo quát nạt con cháu, mà là tiếng bà rôm rả nói chuyện với khách tới mua hàng. Bỏ nghề sát sinh, bà mở lại quán tạp hóa của con dâu ngày trước. Thi thoảng, người ta thấy trên tầng ba, vang lên tiếng niệm Phật của cả một đạo tràng được bà Tú Hảo mời về, do Vân Lương dẫn chúng. Tiếng niệm Phật vang rền, hòa tan với tiếng rì rào của những con sóng đang xô vào bờ cát. Màn đêm phủ một nền xanh thẫm huyền bí lên bầu trời và mặt biển bao la. Nổi bật trên cái nền ấy, mặt trăng chậm rãi lộ mình khỏi đám mây, tỏa ra ánh sáng bàng bạc kì ảo, lấp lánh trên từng cơn sóng. Đại dương vẫn mênh mông, thăm thẳm, nhưng không còn vô định nữa. _Tĩnh Như_ (*Tác phẩm hư cấu, lấy cảm hứng từ một câu chuyện có thật)

Ác mộng bà mẹ chồng ( Truyện ngắn) – P1

(Tác giả: Tĩnh Như)   Tiếng chuông đồng hồ quả lắc điểm 12 giờ trưa đã vang lên từ lâu, cái nắng ngoài trời xuyên thủng mái nhà, phả vào gian bếp, cộng hưởng với ngọn lửa ga xanh đỏ phập phùng, khiến đầu óc Vân Lương chỉ muốn nứt toang. Buổi trưa nào cũng vậy, một mình cô loay hoay với dàn hợp xướng, nào nồi niêu, xoong chảo, dầu mỡ, thịt thà, dao thớt … Thế nhưng chớ trêu, người nhạc trưởng giữ cây gậy chỉ huy quyền lực lại là người đàn bà ngoài năm mươi tuổi đang nằm dài ngoài phòng khách cùng cô con gái út, trước mặt bà là cây quạt điện công suất lớn, ấy là mẹ chồng cô- bà Tú Hảo. Một thứ âm thanh sang sảng quen thuộc, xuyên thủng màng nhĩ, gây chấn động cả hai bán cầu não trái lẫn phải, từ nãy giờ vẫn thi thoảng vọng từ phòng khách xuống bếp: – 12 giờ hơn rồi, nhanh cái tay lên, sờ lần mãi không xong. Vào tay đây chỉ phút mốt. Sắp bát đũa xong, thì lau bếp cho sạch sẽ tinh tươm, rửa hết đống nồi vừa nấu rồi cất xuống ngăn tủ, xong hẵng gọi mọi người vào ăn. Nấu đến đâu phải gọn gàng đến đấy. – Xong hết rồi mẹ. Để con ra mời mọi người. Vân Lương nhìn mâm cơm, rồi lặng lẽ trút một hơi thở dài. Trước kia thì cũng chẳng vấn đề gì, nhưng sau một thời gian tu học theo Phật Pháp, biết rõ quả báo của việc sát sinh, ăn mặn, cô không còn muốn chạm tay vào máu thịt chúng sinh nữa. Ấy nhưng phận làm dâu, phải lo cơm nước cho cả nhà, không làm thì đâu có yên thân được. Cô có thử kiến nghị với nhà chồng để cô ăn chay, nhưng mà ai cũng dè bỉu. Cấm thì không có cấm, nhưng mỗi người một câu, nói ra nói vào bữa nào cũng thế, khiến Vân Lương đều cảm thấy rất áp lực. Thời chưa ngu ngốc hạ bút kí vào tờ giấy kết hôn, Vân Lương tốt nghiệp cử nhân ngành quản lý khách sạn trên Hà Nội, sau đó có thời gian ngắn du học ở Băng Cốc, Thái Lan lấy bằng thạc sỹ kinh tế. Khi về nước, không ít các bên tuyển cô vào làm. Đối với Vân Lương, thế giới trong mơ của cô phóng khoáng và tự do, bay bổng với tình yêu và sự nghiệp. Kén cá chọn canh mãi, thế rồi cô cũng lấy chồng, chú rể là Dương, cao to đẹp trai, vừa bảnh bao vừa là con nhà khá giả. Vân Lương cùng chồng chuyển về miền biển nơi gia đình anh sinh sống, nuôi ước mơ mở một khách sạn lớn hướng ra mặt biển, cùng anh vun đắp tổ ấm. Ấy thế nhưng, sau hơn mười năm, vẫn chẳng có cái khách sạn nào, và hình như chỉ có mình Dương vô tư hạnh phúc như một đứa trẻ, chứ cô thì không. Bà Tú Hảo không muốn con dâu phát triển sự nghiệp bên ngoài, bắt cô phải từ bỏ mọi ước mơ cá nhân bằng cách cho mượn mặt bằng mở quán tạp hóa ngay tại nhà, vừa kiếm tiền, vừa chăm sóc gia đình và trông nhà trông cửa, coi như ghìm chân cô một chỗ. Tiền vốn đương nhiên cô tự bỏ ra. Khoảng cách giữa ước mơ và hiện thực đôi khi xa như khoảng cách từ Trái Đất lên tới sao Hỏa. Bà Tú Hảo có mối quan hệ tốt với chủ các nhà hàng ven biển, nên lập hộ kinh doanh chuyên chế biến và cung cấp hải sản tươi sống cho họ, nhờ đó phất lên như con diều gặp gió. Đang đà phát triển, bà mở thêm cái lò mổ lợn. Rồi để cho hai thằng con trai là Dương và Hải ra mặt quản lý công việc, còn bà lùi về phía sau, đương nhiên để chỉ đạo từ xa, chứ không phải lui về hẳn. Từ ngày làm ăn khá khẩm, có tiền của, mặt bà lúc nào cũng vênh lên cao vài độ so với trước. Ngoài ra, bà chuyên tâm lo cho hình ảnh hào nhoáng của gia đình, và đặc biệt là của bản thân luôn luôn bền vững trong mắt thế nhân. Trưa nay, ngoài những món cá kho, thịt kho cho cả nhà, Vân Lương xào một đĩa nấm đông cô cho mình, ngoài ra còn một đĩa bắp cải luộc. Nhìn qua mâm cơm thấy đĩa nấm xào, chắc chắn để ăn chay. Dương nghĩ vậy, liền với lấy cái thìa, múc một lớp mỡ trên đĩa thịt kho, rưới lên đĩa nấm, rồi rưới cả lên đĩa rau luộc, rôm rả nói: – Ây da, rưới cái phần mỡ lợn này lên ăn mới thơm. Vân Lương thấy vậy, liền thốt lên: – Ô hay cái anh này! Cô biết chồng mình cố tình ngăn cản cô ăn chay, trong lòng bực dọc hết chỗ nói. Bình thường anh ta chỉ biết vập mồm vào mâm mà ăn, chứ để ý gì đến chế biến như thế nào. Bà Tú Hảo thấy vậy có phần hả hê. Bữa đó, Vân Lương vẫn ăn nấm, không ăn thì tí nữa không có sức còn làm đủ thứ việc. – À phải rồi, con Lương đóng cửa tiệm tạp hóa đi, ra mà phụ làm hải sản, tạm thay chỗ mợ Liên. Khi nào có người thay thế thì về bán tiếp. Tai Vân Lương ù đi, mệnh lệnh của bà Tú Hảo như sét đánh ngang tai, không phải vì cô ngại việc, đằng nào không làm việc này thì cũng phải làm việc khác, đâu có lúc nào ngồi chơi. Thậm chí đi ra ngoài còn được chuyện trò giao tiếp với mọi người chả phấn khởi tinh thần hơn sao. Ấy nhưng đó là việc mổ cá, cắt đầu tôm… là sát sinh hàng loạt. Không hiểu mẹ muốn cô ra phụ hay cố tình gây khó dễ? Thấy Vân Lương ngập ngừng, Bà Tú Hảo nhả ra từng chữ chậm rãi: – Con à. Chồng con vất vả quán xuyến công việc làm ăn, con là vợ, khi khó khăn cũng phải xăm xắn vào hỗ trợ. Vợ chồng có cùng đồng hành mới thấu cảm được nhau. – Anh thấy phải đấy, tạm thời thôi, khi nào có người em lại về bán quán. Chứ mợ Liên nghỉ đột ngột thế này, anh cũng mệt. Vân Lương lừ mắt nhìn chồng, trong lòng ngao ngán người trụ cột rởm. Cô biết thừa. Trong công việc, người điều khiển hoạt động đằng sau là bà Tú Hảo, người làm là đám nhân công bà thuê về. Dương có lẽ chỉ đóng vai trò giúp bộ máy hoạt động thêm cồng kềnh và có vẻ quy mô, tiện đem dáng vẻ cao to khôi ngô đi làm màu với các chủ nhà hàng. Dương gặp đối tác thường nói vài ba câu bâng quơ không ảnh hưởng đại cục, tạo cho không khí buổi gặp gỡ thêm sáng sủa, còn khi vào việc chính vẫn là bà Tú Hảo quyết định. Nếu là ngày trước, cô sẽ đồng ý ngay, phần vì cô bị mẹ chồng át vía, phần vì cô cũng muốn ra ngoài làm cho khuây khỏa. Nhưng giờ khác rồi, cô đã theo Phật, không muốn làm gì phạm phải nghiệp ác. – Con không đồng ý. – Vân Lương trả lời ngắn gọn, rõ ràng, dứt khoát từng chữ. Chính cô cũng giật mình vì cái dũng khí mình vừa thốt ra. Hả? … Bầu không khí đột nhiên nặng trĩu, Dương tròn xoe hai con ngươi. Bà Tú Hảo mặt mày sầm lại. Bà có nghe nhầm không? Lời bà từ trước tới nay với con dâu luôn là mệnh lệnh, chứ hỏi ý kiến nó đâu mà nó trả lời không đồng ý. Tôn ti trật tự đảo lộn hết rồi sao? Bà Tú Hảo chuẩn bị sổ ra một tràng âm thanh, có lẽ có thể làm vỡ nát tấm kính chắn cửa phòng bếp. Hơi vừa lên lưng chừng họng, bỗng bị nén lại trở vào, khi bà thấy vợ chồng cậu Hai với mợ Liên đột ngột xuất hiện ở cửa. Vì không muốn cậu thấy gia đình to tiếng, chứ nếu không thì bà không để yên cho Vân Lương. – Cậu mợ sang à, vào ngồi ăn luôn đi, Lương lấy bát đũa cho cậu mợ. Đấy, tự nhiên mợ Liên xin nghỉ, nên giờ thiếu người, định bảo con Lương ra làm tạm để hỗ trợ, nhưng mà nó lại không quen công việc này, lóng nga lóng ngóng, sao bằng mợ Liên được. Rồi bà Tú Hảo chuyển hướng, giọng êm dịu hẳn xuống: – Đúng là Lương ra làm cá làm mực ngoài bãi cũng không hợp lắm. Chính ra con thay em Hải quản lý lò mổ lợn, để em Hải ra thay mợ Liên thì hợp lý hơn. Ngoài lò mổ con làm sổ sách và điều động nhân công. Như thế ổn đấy… Lương nhỉ? – Chị sắp xếp thế ổn quá. Lương chân yếu tay mềm, làm hải sản hơi cực. Còn mợ Liên tay đồng tay đá rồi nói làm gì. Chị đúng là mẹ chồng tâm lý, sướng nhất cháu đấy Lương ạ. Mẹ chồng yêu con dâu thế. – Nhà có mấy mống đâu mà chả yêu. Con dâu cũng như con đẻ chứ khác gì cậu ? Dương nghe cậu nói thế, lại càng tâm đắc, thấy vợ mình quả là quá may mắn khi làm dâu con ở đây. Vân Lương vốn không muốn liên quan đến lò mổ lợn, dù sao vẫn gián tiếp hại vật. Nhưng cô vừa phản ứng rồi, nếu giờ lại từ chối ngay trước mặt cậu, thì có lẽ hôm nay trong nhà này, khi cửa khép lại, cơn bão cuồng nộ của bà Tú Hảo sẽ nổi lên, gia đình lại chao đảo, mệt mỏi lắm. Dù cô cũng muốn một phen phá tan đế chế quyền lực mà bà Tú Hảo áp lên đầu cô bao năm nay, nhưng lại chưa đủ dũng khí. Vân Lương sau đó im lặng không nói gì. Ngay buổi chiều, bà Tú Hảo sai cô đóng cửa quán, lấy xe máy chở cô lên lò mổ giao việc. … Trong phòng khách, Dương đang ngồi trước quạt, ngón tay lướt qua lướt lại màn hình điện thoại, thi thoảng gọi điện cho nhân công cập nhật tình hình ngoài bãi. Bà Tú Hảo khoái chí: – Đấy, cho nó ra lò mổ mà làm. Ở đó ngày hai bữa, không tự sắp đồ ăn được, lấy đâu thức ăn chay mà ăn, không gắp thịt cá thì chỉ có đói trắng răng. Sướng không biết đường mà sướng. – Hóa ra mẹ bảo Lương ra đó làm vì thế à? – Mẹ vất vả quán xuyến gia đình này tất cả vì ai? Chỉ vì hạnh phúc của các con thôi. – Mẹ tuyệt nhất! Bà Tú Hảo cười sướng, nâng tông: – Không có tao thì chúng mày ăn cám. Quả đúng như bà Tú Hảo sắp xếp, cơm canh hai bữa ngoài lò mổ chỉ toàn thịt, rau thì ít mà người ăn lại đông, mỗi người nhanh tay cũng chỉ được vài ba lần gắp. Vân Lương buộc phải gắp thịt bỏ vào mồm, mỗi miếng đều gượng ép, bứt rứt. Và thế là mong muốn ăn chay của cô phá sản. Có mỗi việc ăn theo ý muốn của mình thôi cũng chẳng được, vậy mà hồi đó cô cứ mơ mộng kết hôn, xây tổ ấm này nọ. Để làm gì ? Để được cái gì ? Lương vừa ăn, vừa miên man những câu hỏi không có câu trả lời. … Ba tháng hè là đỉnh điểm mùa du lịch, khách từ xa tới nườm nượp từng đoàn. Nhìn từ trên cao xuống, người tắm biển nhung nhúc che lấp cả bãi cát, chỉ thấy những chiếc mũ rộng vành đủ màu sắc chen chúc nhau và những chiếc phao tắm đen tuyền to như lốp xe khổng lồ lẫn lộn trong đám đông, đang ào xuống nước. Đoàn người du lịch góp phần làm số dư tài khoản của các chủ nhà hàng tăng phi mã. Vào thứ 7 và chủ nhật, nhà bà Tú Hảo tay năm tay mười cũng không kịp giao hải sản cho đối tác đúng giờ. Bà Tú Hảo nhanh trí, nhấc máy gọi điện sai đám nhân công mổ lợn ra phụ làm hải sản, chỉ để lại vài người ở lò. Tiện thể bà sắp xếp, bảo mấy đứa nhân công còn lại cứ gọi chị Lương vào hỗ trợ, không thọc được lợn thì làm khâu sẻ thịt và rửa sạch là được. Mục tiêu chính của bà là để Vân Lương phải trực tiếp nhúng tay vào việc sát sinh, làm cho nó áy náy trong tâm, không còn thanh thản mà niệm Phật nữa. Bà muốn chặn hết mọi cơ hội để cô có thể tu tập. Bà thông báo luôn: – Đợt này nhiều việc, con Lương nhớ vào phụ mổ lợn với anh em công nhân. – Ơ … con… – Không “ơ iếc” gì hết. Làm đi rồi khắc quen. Dương vừa thong thả ngắm mấy bông hoa nở ngoài sân, lững thững  bước vào, chen ngang: – Em giỏi mà, anh thấy trước tới nay mẹ dạy gì em đều học được hết. Cố lên em! Anh còn ở ngoài bãi lo hải sản cho nhà hàng. Vân Lương mặt mũi tối sầm, rơi vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan. Cô đi lên trên gác, lui vào nhà vệ sinh đóng chặt cửa lại, khóc rưng rức như đứa trẻ vừa bị bắt nạt. Bà Tú Hảo quan sát biết tâm tình của Vân Lương, tự độc thoại: – Không phải muốn làm gì thì làm. Kể cả là ăn chay niệm Phật cũng đừng nằm mơ. … Chiều hôm đó, xem xét công việc ở bãi Giữa xong, Dương cùng mẹ lui qua lò mổ kiểm tra tiến độ. Vừa bước vào, đúng lúc lò mổ đang ồn ào nhất, chen lẫn đủ thứ âm thanh, nào tiếng kêu eng éc của đám lợn khiếp sợ vì biết mạng mình đã tới lúc chấm hết, nào tiếng hô lớn của mấy đồ tể gọi nhau, và còn có tiếng Vân Lương đang loay hoay ở đó. Không muốn tham gia mổ lợn, Vân Lương chỉ hỗ trợ xẻ thịt và rửa sạch các tảng thịt vừa được lọc ra. Đột nhiên, một cậu đồ tể đau bụng dữ dội, bỏ đấy chạy gấp vào nhà vệ sinh, cậu còn lại thấy Dương thập thò ngoài cửa liền gọi với vào hỗ trợ. Dương loay hoay cầm hai chân trước con lợn theo hướng dẫn, trông to cao khỏe mạnh là thế, nhưng với việc này lại vụng về, vừa giữ vừa thấy ghê ghê. Dương liền gọi vợ: – Lương ơi mau vào đây hỗ trợ anh giữ hai chân sau của nó, không nó vùng lên anh giữ không nổi. Vân Lương thấy hai thanh niên đang vật vã, không nỡ ngồi đó nhìn, bất đắc dĩ đành phải nhúng tay vào, nhưng trong lòng kinh hãi. Cô vừa giữ chân chúng, vừa ngoái mặt đi không dám nhìn thẳng vào lưỡi dao của người đồ tể. Trong đầu không ngừng niệm Phật ráo riết, muốn con lợn này được Phật A Di Đà tới tiếp dẫn về Cực Lạc. Vài phút sau, con lợn chết thảm trên bàn mổ. Mọi người tạm nghỉ ngơi, ra hè làm chén nước. Dương nói: – Sau nếu thiếu người, em cứ vào giữ chân lợn cho mấy cậu nhé. – Em sợ lắm, không làm được đâu. – Em chả vừa làm được đó thôi. – Haizz… – Vân Lương thở dài. Bà Tú Hảo và Dương ra ngoài hè, kệ Vân Lương tiếp tục công việc. Bà cười nhếch lên: – Con thấy chưa, con Lương không dám chống đối đâu. Con cương quyết lên thì nó cũng phải mềm xuống. Có mà ăn chay niệm Phật được à? – Thế là kế hoạch của hai mẹ con thành công rồi. Mấy nay không thấy cô ấy niệm Phật nữa. Phải buộc cô ấy sát sinh, mới mong cô ấy thoái chí, chán nản mà từ bỏ hẳn ý nghĩ tu đi. Chợt một âm thanh từ phía trong truyền tới: – Còn có cả kế hoạch như vậy sao anh? Vân Lương đau lòng đứt ruột đứt gan. Hóa ra cô đã tình cờ nghe thấy cả. Bà Tú Hảo thoáng nét giật mình, rồi nhanh chóng lấy lại uy phong: – Sướng không biết đường sướng. Để gia đình phải lo lắng, lao tâm khổ tứ vì con như vậy đấy. Lấy chồng thì phải theo chồng, hạnh phúc của chồng là hạnh phúc của mình, con hiểu chưa? Còn không thì đi ra khỏi cái nhà này, nhà này không chứa. – Kìa mẹ, sao mẹ lại nói thế. – Dương thấy mẹ nặng lời quá, cũng ngại vợ, nhưng anh chỉ biết bất lực đứng đó. Nói xong, bà Tú Hảo quay ngoắt đi, không quên gọi Dương: – Không về đi còn đứng đó làm gì ? Dương gãi đầu gãi cổ, nhìn Vân Lương rồi vội vàng lên xe chở mẹ về nhà. … Vân Lương bỏ hết đống sổ sách, chạy thẳng một mạch về phía bờ biển. Gió biển chiều nay lồng lộng, từng cơn sóng vươn cao gần bằng mái nhà, đánh mạnh vào bờ, nước biển tung tóe lên cả mặt đường, xe cộ đi lại qua đoạn đó không tránh kịp là ướt sũng. Tâm tư Vân Lương dao động mãnh liệt, có một chút giận dữ, một chút tự trọng, một chút ý chí …gộp vào thành một cơn địa chấn trong lòng, đang tích tụ lại, kích thích cô muốn vùng lên như những con sóng lớn kia. Vân Lương trở về nhà, thấy bà Tú Hảo đang đường bệ ngồi trên sô pha giữa phòng khách, chồng cô đang chơi với hai con, Hải và cô Út thì ngồi xem tivi. Cô hít một hơi thật sâu, bước vào trong nhà, dõng dạc nói: – Thưa mẹ và cả nhà, con có chuyện muốn thưa. “Cái gì nữa đây?”. Bà Tú Hảo trầm giọng: – Nói đi. Dương cảm nhận có gì đó không bình thường sắp xảy ra, lắp ba lắp bắp: – Hả…em …định nói gì đấy ? Tâm tình Vân Lương phức tạp, đủ loại cảm xúc xung đột với nhau. Cô ghìm lại, lấy hết dũng khí chuẩn bị nói ra những điều cô vừa quyết định khi còn đứng ngoài bãi biển. – Thưa mẹ và cả nhà, con biết mọi người phản đối việc con ăn chay, niệm Phật. Nhưng con nghĩ việc này rất tốt, cũng không gây ảnh hưởng đến ai. Con biết cả nhà vì lo lắng cho con nên mới như vậy. Nhưng con là người lựa chọn, xấu tốt con cũng là người nhận lấy. Cả nhà không phải lo lắng cho con đâu. Con đã quyết định rồi. – Tôi không chấp nhận. Nếu cô khăng khăng như vậy thì cô đi ra khỏi đây, ngay và luôn. Nhà này không có ngữ con dâu như thế. Vân Lương hít thở sâu, cô đoán trước được tình hình và cũng đã chuẩn bị tinh thần sẵn sàng. – Nếu mẹ đã đuổi, con không còn cách nào khác. Vân Lương nhanh chóng lên lầu thu dọn đồ đạc của cô và hai đứa con trai. Mặt Dương nghệt ra, xanh lét như tàu lá chuối, không hiểu thứ quái quỷ gì đang xảy ra. Trong gia đình này, cái giọng điệu vợ anh vừa nói trước giờ chỉ có mẹ anh dám sử dụng. Bà Tú Hảo cũng hơi bất ngờ. Bà chỉ định dọa cho con dâu biết sợ, phải nhún nhường, ai ngờ đâu nó bất cần như thế. Mà thứ bà kị nhất là để thiên hạ thấy con cái bỏ chồng bỏ vợ, thật không ra thể thống gì. Cô Út đang khục khặc với chồng, lui về nhà mẹ đẻ ở tạm một thời gian, đã khiến bà phải giấu diếm người ngoài, nói tránh là chồng nó đi công tác, không có ai đỡ đần con nhỏ, nên phải về tạm bên đây. Giờ thằng Dương lại bỏ vợ nữa thì bà cảm tưởng như cái thanh danh hão nhà bà sắp nổ tung như bong bóng. Bà Tú Hảo phừng phừng mặt, hai tròng trắng trợn lên, mấy nếp nhăn trên trán cau lại,… Xem ra con dâu bà không còn nằm trong bàn tay kiểm soát của bà nữa. “Lại có thể dễ dàng thoát ra như vậy sao ?” – bà Hảo nghiến răng lẩm bẩm. Đợi Vân Lương xách đồ xuống, bà  chậm rãi buông từng từ _còn tiếp_ Xem tiếp phần 2: Ác mộng bà mẹ chồng – P2

Thợ săn và những viên đạn oan nghiệt

Lâu, rất lâu về trước, tầm hơn 20 năm rồi, tôi có từng làm việc vài tháng trong một quán trà cung đình, nó mang tên Hồng Tửu Trà tại đường Thống Nhất, thành phố Pleiku. Mà khác lạ hơn nhiều so với các quán trà khác được trang trí tao nhã, nên thơ để khách đến uống có được một cảm giác thư thái. Quán trà này lại được thiết kế âm u quái lạ. Ánh sáng từ mặt tiền chiếu vào, bị một tấm vách trang trí chắn gần hết, chỉ chừa lại hai cái cửa nhỏ hai bên, quán lại sâu hun hút không có cửa sổ, thành ra bước vào trong cứ có cảm giác mình chui vào một cái động âm u. Cảm giác “hang động” ấy lại càng tăng lên khi người ta nhìn lên tường và thấy nhô lên hai cái đầu hươu sừng tua tủa, mắt trợn lên đen ngòm nhìn chằm chằm tứ phía, rồi đến xác của mấy con mèo rừng, con cầy, con báo được sấy khô, xong vẫn giữ nguyên tư thế chuyển động, nhe nanh giơ móng như còn sống. Chúng được đóng vào mấy khúc cây treo dọc theo chiều dài của cái động ấy, như thể một bầy thú sắp sửa đi kiếm ăn đêm. Một cái kệ gỗ cao đến 3-4 mét sắp đầy những hũ rượu ngâm rắn đủ loại, sọc đen, sọc trắng, sọc vàng chen nhau cuộn tròn phía dưới hũ, phía trên ngóc lên đầu một con rắn hổ mang đang phình mang rộng ra như hăm dọa mổ nọc độc vào kẻ trước mặt. Lại có cả một hũ rượu ngâm một cái cánh tay lực lưỡng mà mới lần đầu nhìn tôi đã phát hoảng, tưởng đâu chủ nhân cái động này chặt tay một lực sĩ nào đấy bỏ vào hũ để thị uy. Sau được giải thích mới biết đó là bàn tay gấu, ngâm rượu uống cho nó bổ. Lâu lâu có mấy vị khách nào mà lúc bước vào lơ đễnh chỉ lo chăm chăm bấm điện thoại, đến lúc bất giác nhìn lên tường, thấy cả một bầy thú hoang trợn mắt nhìn mình trong tư thế săn mồi, lại cả mấy con hổ mang phía xa đang bành mang hăm dọa, phát hiện ra mình dường như đang lạc vào hang sâu rừng thẳm gì đấy, da gà nổi lên từng mảng, lại vội tính tiền rồi đi mất không dám quay lại lần nào nữa. Ấy thế nên quán vắng khách lắm, mấy ai lại có cái gu “mặn” đến nỗi ngồi thưởng lãm một tách trà cung đình hay nhâm nhi một ly cà phê đậm vị Tây Nguyên giữa bầy thú và rắn độc chằm chằm nhìn mình thế này. Mà sao chủ quán lại nghĩ ra cái lối trang trí âm u, quái gở thế chứ ? Thực ra trước kia nó vốn không phải quán trà, mà là quán nhậu thịt rừng. Ông chủ quán là một thợ săn thiện xạ, một nửa thời gian ông vác súng săn lang thang trong những cánh rừng Tây Nguyên. Săn được con gì thì ông vác về cho bà vợ cùng đám nhân viên xẻ thịt làm mồi nhậu cho quán. Một thời quán cũng bán đắt khách lắm. Tiền bạc dư giả, hai vợ chồng xây nên căn nhà khang trang 4 tầng ở ngay mặt tiền đường Thống Nhất. Ông chủ lại có cái thú chơi nhồi xác thú rừng, nên ông thường lột da những chiến lợi phẩm của mình một cách cẩn thận rồi mới lóc thịt ra, xong đem phơi khô, tẩm thuốc, nhồi bông theo một phương pháp điệu nghệ chỉ người trong nghề mới biết. Thành quả là một bầy thú sống động, trèo leo đầy tường như muốn phô trương tài thiện xạ của ông chủ quán. Sự phô trương ấy kéo dài cũng qua nhiều năm, khiến cho lắm kẻ nhìn vào xuýt xoa muốn đổi nghề, muốn sắm súng săn theo ông chủ quán mà vào rừng xây mộng làm giàu. Nhưng rồi người ta lại thấy một sự phô trương khác còn dữ dội hơn nhiều, nó không đến từ người hay thực thể hữu hình nào cả, mà đến từ một quy luật vô hình của tạo hóa. Đương lúc ăn nên làm ra, cuộc sống dư giả, thì bỗng một hôm bà chủ quán nhìn thấy mấy ông bạn săn của chồng khiêng về trước cửa một cái xác máu me đầm đìa nằm im lìm trên cáng. Bà chủ nhìn kỹ rồi hai tay giơ lên vò đầu, miệng gào lên những tiếng khóc lạc giọng. Đấy là xác của chồng bà, ông chủ quán thịt rừng. Trong lúc đi săn, ông bị một thợ săn khác đứng từ xa tưởng nhầm là thú hoang, nên đã giương súng bắn, viên đạn găm vào chỗ hiểm, và thế là hết. Sau đám tang ông chủ quán, không còn nguồn thịt phong phú nhập miễn phí từ rừng xanh về, nên quán nhậu nhanh chóng đóng cửa. Bà chủ bỏ mấy trăm triệu sửa lại nhà thành cái quán trà cung đình. Xong còn lưu luyến với bầy thú rừng nhồi bông như những kỷ vật của ông chồng, nên bà chủ giữ nguyên chúng trên tường để trang trí quán trà. Nào bà có biết được oán khí ngút trời của chúng ám sâu vào căn nhà, khiến nó mang hơi hướng như một cái hang sâu ngập đầy âm khí. Khách khứa nào muốn bỏ tiền ra mà ngồi trong cái hang ấy ? Thế rồi quán cứ thế ế ẩm một thời gian dài. Tiền từ bên ngoài chẳng thấy thu vào được mấy cắc, mà tiền trong nhà lại cứ rủ nhau tẩu tán dần. Bà chỉ còn lại thằng con trai hai mấy tuổi, coi như cái hi vọng cuối cùng trông cậy lúc tuổi già bệnh tật bủa vây. Vậy mà thằng con ấy lại chẳng lo lắng gì đến làm ăn hay sự nghiệp chi cả. Vốn là cậu ấm nhà giàu, quen được nuông chiều từ nhỏ, thằng con bà suốt ngày chỉ chăm chăm lêu lổng, hết tụ tập với đám bạn đua xe, cờ bạc, hút hít, rồi lại đến dắt gái về nhà ăn ngủ. Kiếm tiền ngoài xã hội thì không rành, nhưng vòi tiền từ mẹ thì nó lại thành thạo lắm. Nên có bao nhiêu tiền chẵn, tiền lẻ tích cóp được từ hồi còn bán quán thịt rừng, con trai bà cứ bào dần, bào dần mà cống cho thiên hạ. Rồi một ngày công an ập đến lôi nốt cậu ấm của bà vào trại cai nghiện bắt buộc. Thành ra bà chủ quán hết khóc chồng, rồi lại đến khóc vì con. Khi không khóc thì lại thở dài thườn thượt vì cái ế ẩm của quán xá, vì cái sự tụt dốc không phanh của gia cảnh nhà mình. Hồi đấy tôi chưa biết đến giáo lý Nhân Quả Nghiệp Báo là gì, nhưng mà chứng kiến cái gia cảnh nhà bà chủ ngày ngày đập vào mắt, tôi có mắt mờ thế nào thì cũng thấy được một quy luật trả vay lù lù hiện hữu ở đó. Khi ấy tôi không biết dùng từ gọi là Nhân quả, là Nghiệp báo hay là oan gia báo oán gì, chỉ tạm gọi là một quy luật cân bằng của tạo hóa, người ta quăng thứ gì vào cuộc đời này, thì cuộc đời sẽ trả lại cho đúng cái thứ ấy vào một lúc khác. Ông chủ quán, người thợ săn mà lâu quá tôi không nhớ tên, vì khi vào làm ở đó thì ông đã lặng lẽ ngồi trên ban thờ rồi, tôi chưa gặp qua bao giờ, chỉ biết ông qua những lời kể và những chiến lợi phẩm của ông ghim đầy trên tường. Ông ấy quăng vào cuộc đời này những viên đạn, để rồi nhận về từ cuộc đời một viên đạn. Bao năm săn bắn, chắc ông chỉ cảm nhận được cái thích thú khi cầm khẩu súng, nhẹ bóp cò “đoàng” một phát là có được một con mồi, là có được tiền bạc rủng rỉnh, chứ ông đâu có biết con thú bị trúng đạn nó đau thế nào. Nhưng rồi thì cũng đến ngày ấy, ngày ông trúng đạn, và lần đầu cảm nhận cái đau quằn quại của những con thú lúc trước ông đã bắn. Tiền bạc có được từ những vũng máu, gom góp được bao nhiêu thì rồi cuộc đời cũng nhanh chóng lấy lại bằng một cách khác. Sau này được học luật Nhân quả một cách đầy đủ hơn, thì tôi biết đó mới chỉ là những quả báo nhãn tiền nhỏ lẻ, như vài giọt mưa dạo đầu lúc kéo cơn dông thôi, chứ cả một trận mưa quả báo khốc liệt, dai dẳng, rền rĩ lâu dài thì sẽ còn đeo báo ông ở những cảnh giới khác mắt thường chúng ta không thấy được. Tất nhiên, câu chuyện bâng quơ về một người thợ săn vô danh nào đó với thời gian, địa điểm không rõ ràng mà tôi kể trên, thật chẳng đáng gọi là một bằng chứng chắc chắn để chứng minh cho cái gì. Mà cho dù là thật đi nữa, cũng chỉ là một trường hợp đơn lẻ. Ai mà lấy một trường hợp đơn lẻ để dựng nên cả một quy luật, áp cho những trường hợp khác, ấy là kẻ thiển cận. Bạn nên hết sức cẩn thận với kết luận của những gã thiển cận như thế, bây giờ trên mạng nhiều lắm. Để đưa ra được một kết luận đáng tin cậy, chúng ta cần phải thống kê, đúc kết từ rất – rất nhiều bằng chứng có thật, sẵn sàng xác minh được Ai ? – Ở đâu ? – Khi nào ? Rồi tổng hợp các điểm chung, các điểm khác biệt giữa các bằng chứng mà rút ra kết luận, lúc ấy mới có được cái nhìn chính xác, toàn diện được. Còn câu chuyện tôi kể trên chỉ là để màn dạo đầu thêm phần sống động mà thôi. Chúa Jesus từng nói “Ai dùng gươm sẽ phải chết vì gươm”, còn Đức Phật thì giảng giải chi tiết, rõ ràng hơn về những hậu quả của những người gieo rắc máu và nước mắt cho chúng sinh. Có lẽ rất rất đông người cũng từng đã nghe qua, và nếu là một tín đồ thuần thành, thì người ta cũng sẽ tin tưởng vào điều đó. Tuy nhiên, với những người không có tín ngưỡng gì, nhất là ở vào thời buổi này, người ta thường đòi hỏi bằng chứng nhiều hơn rồi mới đặt sự tin tưởng của mình vào một điều gì đó. Tôi cho đó là một điều cần thiết. Vì cái thế gian này giờ hỗn loạn lắm, nhiều tín ngưỡng, tư tưởng khác nhau xa lắm. Thật giả đan xen, vàng thau lẫn lộn, nhẹ dạ cả tin thì khối người đã tán gia bại sản vì bị lừa đảo rồi. Và ngay cả khi các bậc Thánh nhân nói những điều ấy đều đúng cả, thì việc người nghe chúng ta cứ thế mà tin theo chẳng suy xét, chẳng kiểm chứng lại vì quá tin tưởng vào uy tín của các Ngài, cũng chẳng có hay ho gì. Vì sao thế ? Vì rằng cái chân lý cuộc sống nó ảo diệu, phức tạp vô vàn, ngôn ngữ không thể nào mà diễn tả được. Các bậc Thánh nhân có thấu suốt được chân lý, thì các Ngài cũng không làm sao diễn tả hết thông qua cái ngôn ngữ hạn hẹp của loài người. Các Ngài đành dùng tạm vài lời khô cứng, ngắn gọn mà chỉ cho những kẻ phàm phu cái “hướng để đi”, để không lạc giữa mê cung bể sở của thế giới, đi đến đúng nơi phải đến. Khi ấy, thì tự mỗi người bằng cái thấy biết của chính mình, tự sẽ nhận biết rõ. Giống như bạn có một trái cam trong tay, bạn đã ăn nó. Bây giờ, nhiệm vụ của bạn là dùng ngôn từ miêu tả cho một người khác chưa từng nhìn thấy và ăn cam bao giờ, hiểu được rõ nét cái trải nghiệm ăn cam nó là như thế nào, để không cần ăn cam cũng hiểu rõ. Bạn sẽ tả làm sao ? ” Ờ thì… quả cam chín nó màu da cam, vỏ dày tầm 5mm, bóc vỏ ra có mùi thơm nhẹ của tinh dầu, xong mùi tinh dầu vỏ cam thế nào thì ngửi rồi mới biết. Bên trong là nhiều múi cam mọng nước, vị chua chua ngọt ngọt, nhưng không giống vị chua chua ngọt ngọt của trái dâu, hay trái măng cụt, có ăn rồi mới phân biệt được, nước cam có mùi thơm… mà thơm kiểu gì thì…ngửi rồi mới biết” Bạn thấy chứ ? Ngôn ngữ bất lực trước sự phức tạp của mùi vị quả cam, nó chỉ gợi ý chung chung dăm ba nét cơ bản thôi. Chứ cái hương vị thơm ngon của cam nó kiểu thế nào, khác với các trái cây khác ra sao, bạn dù đã ăn cam, đã hiểu rõ hương vị của cam đến mức nào, thì cũng chịu chết không tả được, người nghe cũng không sao hình dung chính xác được, bắt buộc chỉ còn cách ăn một quả cam thật mới hiểu mà thôi. Chỉ là một quả cam đơn giản mà ngôn ngữ còn bất lực không truyền đạt được, huống chi nói đến cái sự ảo diệu của các quy luật vũ trụ ! Nên nếu bạn lại nghĩ rằng chỉ cần thuộc lòng những lời của Thánh nhân truyền lại trong kinh điển, phân tích, cắt nghĩa những câu cú trong đó là bạn đã hiểu chân lý của cái thế giới này, là đã nắm được sự vận hành của tạo hóa. Thế thì bạn nhầm to, và hẳn bạn đã khiến cho các bậc Thánh nhân phải thất vọng lắm. Vì các Ngài giống như đang lấy tay chỉ lối cho người lạc đường đi cho đúng hướng, người ấy lại chẳng nhìn theo hướng chỉ để thấy rõ con đường rồi đi đến nơi đến chốn, lại cứ chăm chăm săm soi nhìn cái ngón tay mà xuýt xoa. Thế nên ta cần phải coi những lời chỉ dạy của các bậc Thánh nhân giống như những gợi ý quan trọng, rồi theo hướng gợi ý ấy mà căng đôi mắt ra nhìn vào cuộc sống, nhấc chân lên đi tìm tòi trong cái thế giới thực này xem cái chân lý ấy nó hiển hiện thế nào, và trải nghiệm nó bằng cuộc sống của chính mình. Đến lúc đó thì ta mới được chứng kiến toàn diện và thể nghiệm sâu sắc được sự vận hành ảo diệu của thế giới này. Đến lúc đó hẵng rụt rè mà tạm cho là “Tôi đã hiểu”. Với cái lối suy nghĩ đó, muốn được nhìn thấy câu “ai dùng gươm sẽ phải chết vì gươm”, hay “sát sinh ắt có quả báo” là như thế nào trong cái thế giới thực này, nên tôi đã thử làm một cuộc khảo sát nhỏ. Thật bất ngờ là có quá nhiều bằng chứng xác thực và chẳng khó khăn gì để tìm được. Vì chúng quá nhiều nên tôi xin phép được viết vắn tắt. Đây đều là những thông tin được đăng tải trên những tờ báo có tiếng, bạn có thể kiểm chứng lại một cách dễ dàng với Google. Chiều ngày 2/4/2016, thợ săn Phùng Văn Dung (49 tuổi) rủ Vũ Hùng Vĩ (38 tuổi) mang súng tự chế đi săn trong khu rừng thuộc thôn Chí Phù, xã Sơn Đà, Ba Vì, Hà Nội. Khi leo qua một con dốc, anh Vĩ bị trượt ngã, cò súng vô tình bị vật gì đó móc vào và cướp cò, viên đạn bắn thẳng vào anh Dung. Anh Vĩ liền cấp tốc đưa anh Dung đi cấp cứu, nhưng anh Dung đã tử vong trên đường đến bệnh viện. Ngày 30/7/2017 Bạch Văn Niên và Lê Thiên Hùng rủ nhau đi săn tại khu vực 747 nông trường Suối Cát, Xã Ia Dal, huyện Ia H’ Drai, tỉnh Kon Tum. Khoảng 2h chiều, họ bắn bị thương một con voọc nhưng nó vẫn chạy được. Hai người chia nhau đi tìm. Lát sau, Hùng nghe thấy có động trong bụi cây, tưởng con voọc nên đã bắn mấy phát súng. Khi lại gần kiểm tra thì tá hỏa thấy mình đã bắn chết anh Bạch Văn Niên. Sau khi đưa xác anh Niên về nhà, Hùng đã ra công an đầu thú.  Ngày 21/2/2017, một thợ săn tên Phạn Văn Thé, 33 tuổi ngụ tại thôn Kà Rầy, xã Ba Tiêu, huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi, trong lúc vào rừng săn thú cùng hai bạn săn là Phạm Văn Nao, Phạm Văn Biên thì xẩy ra một bi kịch. Lúc đó ba người chia nhau ra để săn được nhiều hơn, được một lúc bất chợt anh Nao và anh Biên nghe tiếng súng nổ nên theo tiếng súng tìm đến. Không thấy con thú nào cả, mà chỉ thấy anh Phạm Văn Thé bị trúng đạn đã chết, khẩu súng tự chế của anh vẫn đeo trên vai. Hai người đưa xác anh Thế về cho người nhà an táng và trình báo công an để điều tra làm rõ. Một năm sau, vào ngày 10/3/2018, cũng vẫn ở địa phận huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi, thợ săn Phạm Văn Kim (34 tuổi) ngụ tại thôn Tà Noát, xã Ba Ngạt rủ thêm một bạn săn nữa là anh Phạm Văn Hôm cùng xách súng tự chế vào rừng đi săn. Hai người chia nhau mỗi người đi một hướng, đến 14h thì Hôm gọi điện cho Kim, báo là anh bị một đàn khỉ tấn công và chỉ vị trí. Anh Kim vội vã chạy đến nơi, phát hiện ra đàn khỉ thuộc núi Rà Mã đang tụ tập rất đông. Anh Kim nhắm một con khỉ đực đang đu trên thân cây rồi nã đạn liên tiếp. Dứt tiếng súng thì ngạc nhiên chưa, anh lại nghe thấy tiếng kêu của người. Chạy lại gần xem thì … hỡi ôi, lại chính là anh Hôm bị trúng chi chít đạn. Kim vội vã cõng Hôm về và gọi cấp cứu, xong rất tiếc anh Hôm đã qua đời trên đường đi. Anh Kim vì quá day dứt định lấy súng tự tử thì được mọi người can ngăn kịp thời. Sự vụ sau đó được cơ quan công an thụ lý. Ngày 12/8/2018, một nhóm bạn như thường lệ rủ nhau đi săn bắn trong khu rừng thuộc xã Tam Dân, huyện Phú Ninh, Quảng Nam. Trong số đó có Cao Thanh Huy, sống tại phường Trường Xuân, TP Tam Kỳ và Đỗ Lưu Tuấn. Khi cả nhóm đến khu vực thuộc xã Kỳ Tân, Tuấn phát hiện thấy chim bìm bịp, liền giương súng lên bắn chim. Trong lúc nâng súng, lóng ngóng thế nào Tuấn lại để súng cướp cò, viên đạn bắn thẳng vào hông của Cao Thanh Huy khiến anh ta tử vong. Ngày 24/2/2018, anh Dương Văn Ngọc và Hải Phương cùng trú tại xã Đắk Nia, TX. Gia Nghĩa, Đắk Nông, rủ thêm vài thợ săn khác vào rừng phòng hộ Nam Cát Tiên. Đến sáng sớm ngày 25/2, vì nghe thấy tiếng động trong bụi cây, Phương liền giơ súng tự chế và bóp cò, không ngờ lại bắn trúng anh Ngọc. Mọi người đưa Dương Văn Ngọc về nhà an táng, còn Phương ra công an đầu thú Tối 28/9/2019, Giàng A Dua và Sùng A Nếnh đều là thợ săn sống tại xã Đắk Som, huyện Đắk Glong, Đắk Nông, cả hai rủ nhau mang theo súng tự chế vào khu rừng phòng hộ thuộc huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng để săn thú. Đến khuya, A Dua nghe tiếng động trong bụi rậm, tưởng là thú liền nổ súng bắn. Khi đến gần kiểm tra, A Dua lặng người khi thấy A Nếch đang nằm trong vũng máu. Mọi nỗ lực cấp cứu đều vô vọng, A Nếch tử vong ngay sau đó. Ngày 11/10/2019, Trịnh Xuân Đông (24 tuổi) rủ Huỳnh Văn Sỹ (16 tuổi) và Điểu Quân (17 tuổi) đi săn tại vườn quốc gia Bù Gia Mập. Cả ba đều trú ở thôn Bù Lư, xã Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập, Bình Phước. Khi phát hiện thấy một con heo rừng, Đông nhanh tay bắn một phát đạn khiến nó bị thương và bỏ chạy. Cả nhóm đuổi theo, và rồi họ phát hiện thấy một con rắn bò trên cây, Đông liền lấy báng súng đập rắn, không ngờ động tác đó lóng ngóng thế nào khiến súng phát nổ, đạn xuyên qua trán chính anh, chết tại chỗ. Đêm 23/5/2020, hai thợ săn là Nguyễn Văn Tuấn (30 tuổi) và Nguyễn Văn Hùng, đều là người dân sống ở xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng, họ rủ nhau vào cánh rừng thuộc tiểu khu 289, xã Tân Thanh đi săn. Vì đêm tối, hai người lại đứng xa nhau, anh Hùng nhầm tưởng bạn săn là thú hoang, đã giơ súng bắn. Đến khi lại gần phát hiện thì đã muộn, anh Nguyễn Văn Tuấn trúng đạn, quằn quại đau đớn rồi chết. Ngày 3/3/2020, hai anh Đinh Nhin (sinh năm 1988), Đinh Mến (sinh năm 1998), mỗi người mang theo một cây súng tự chế vào rừng cùng đi săn. Họ đều là cư dân sống ở khu phố Klot Pok, thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, Bình Định. Khi đến một bờ suối, anh Mến đi vệ sinh một lát thì bất chợt nghe tiếng súng nổ. Anh tức tốc quay lại thì thấy Nhin người đẫm máu, anh bị trúng đạn xuyên từ bụng lên ngực và đã chết. Theo phỏng đoán của cơ quan công an, có thể Nhin bị trượt chân dẫn khiến súng vô tình cướp cò và dẫn đến bi kịch. Rời Việt Nam để nhìn ra thế giới một chút. Tháng 1/2018, một thợ săn kì cựu tên Pero Jelinic, 75 tuổi người Croatia, sau nhiều năm ông đã chán săn bắn ở châu Âu, ông đã đến Nam Phi để tiếp tục săn những loài thú khác. Hôm ấy, ông thấy được một con sư tử và giơ súng ngắm. Đoàng, viên đạn bắn chết con mồi ngay tức khắc. Pero rất hưng phấn, không lâu sau ông thấy một con sư tử khác, đang tính bắn hạ nó thì … Đoàng ! Đoàng! một loạt tiếng súng vang lên, và người trúng đạn lại là ông Pero, máu chảy đầm đìa và ông chết ngay tại chỗ. Cảnh sát đến giờ vẫn chưa điều tra ra ai là hung thủ bắn chết Pero. Ở trên chỉ là điểm qua một số sự vụ “thợ săn chết vì trúng đạn” từ năm 2016 đến 2020 chủ yếu ở Việt Nam mà thôi, nếu mở rộng cuộc khảo sát rộng ra nhiều nước khác về đến nhiều năm trước, hẳn số lượng sự vụ sẽ còn đông hơn nhiều lần. Xong nếu cái chết không đến từ viên đạn nào, nó lại đến từ chính những con mồi bị thợ săn tàn sát, thì đó có tính là báo ứng không ? Hẳn như vậy rồi, quả báo luôn rất linh hoạt và có thể đến theo nhiều kiểu khác nhau. Ngày 4/11/2012, anh Nguyễn Tri – một thợ bắt rắn chuyên nghiệp cùng một số người đi bắt rắn tại vùng đồi xã Hải Lâm, huyện Hải Lăng, Quảng Trị. Khoảng 2h chiều, anh Tri phát hiện một con rắn hổ mang chúa chui vào hang, anh liền dùng dụng cụ đào hang và bắt được con rắn ra. Bất chợt, con rắn mổ một phát nhanh như tia chớp vào tay anh Tri. Anh được đưa vào bệnh viện Đa Khoa Hải Lăng, rồi chuyển lên bệnh viện Đa Khoa Quảng Trị, nhưng vẫn không thể cứu chữa được, đến 21h tối thì anh chết, một cái chết tê dại, đau đớn vì nọc rắn. Chiều ngày 25/2/2014, ông Nguyễn Xuân Đỉnh (52 tuổi) ngụ ở phường 4, Tp Vĩnh Long do có việc đến Cần Thơ đòi nợ, ông đã nghỉ lại tại phòng số 305, nhà nghỉ Ngọc Hương (KDC Hưng Phú 1, phường Hưng Phú, quận Cái Răng, TP.Cần Thơ). Trước đó, biết ông Đỉnh rất thích và thường xuyên ăn thịt rắn, một người bạn của ông Đỉnh đã tặng ông một con rắn hổ đất, ông đựng nó trong một chiếc túi, rồi để trong phòng vệ sinh mà chẳng lo ngại gì mấy. Đến 5h sáng ngày 25/2/2014, vợ của ông Đỉnh nhận được điện thoại của ông, giọng nói thều thào báo rằng ông mới bị rắn cắn rồi cúp máy. Bà vợ cố gọi lại nhưng không ai nhấc máy, nên đã cùng người nhà lập tức lần theo GPS điện thoại của chồng sang Cần Thơ tìm đến tận nhà nghỉ. Khi mở cửa phòng bước vào, mọi người thấy ông Đỉnh đã chết trên sàn nhà, mắt trợn trắng, toàn thân cứng đơ, dưới chân hiện rõ hai dấu vết cắn thâm tím. Bên cạnh đó, người ta thấy một con rắn hổ đất dài 1,1 mét đang cuốn tròn dưới chân bàn. Bằng cách nào đó nó đã trốn thoát khỏi cái túi, và báo thù cho dòng tộc nhà rắn của nó. Ngày 20/1/2013, một đồ tể họ Thái đang làm việc trong lò mổ Thượng Thủy, Hồng Kông, Trung Quốc. Sau khi dùng roi điện giật điện một con lợn, ông Thái tưởng nó chết rồi nên cầm dao mổ lên để xẻ thịt nó. Bất ngờ con lợn tỉnh dậy và giãy giụa thật mạnh, đạp ông ngã lăn ra, con dao dài 40 cm sắc lẹm trên tay ông cắm thẳng vào chân trái, đúng ngay động mạch. Máu tuôn xối xả từ chân ông, giống hệt như những dòng máu xối xả tuôn từ cổ những con lợn từng bị ông chọc tiết. Đồng nghiệp vội vã đưa ông đi cấp cứu nhưng vô ích, ông trút hơi thở cuối tại bệnh viện. Ngày 30/5/2018, một thợ săn chuyên nghiệp Claude Kleynhans (54 tuổi) như thường lệ đang dẫn đoàn thám hiểm đi săn dọc sông Levubu tỉnh Limpopo phía bắc Nam Phi. Sau khi ông Claude bắn chết một con trâu rừng, loại con mồi ưa thích của ông và đang chuẩn bị chất xác nó lên xe. Bất chợt, một con trâu rừng khác cùng đàn với con bị bắn chết hùng hục lao tới ông Claude, húc mạnh cặp sừng vào đùi, làm đứt động mạch đùi. Máu ồ ạt chảy ra như suối và ông Claude tử vong. Đêm 9/2/2018, một thợ săn 50 tuổi David Baloyi cùng hai thợ săn khác từ một ngôi làng ở Mozambique vượt biên giới sang khu bảo tồn thiên nhiên ở tỉnh Limpopo, Nam Phi để đi săn. Không ngờ, lần này họ không gặp may như những lần đi săn trước, họ bị lọt vào khu vực mai phục của một đàn sư tử đi kiếm ăn. Bất thình lình, một con sư tử cái phóng ra từ bụi rậm, cắn ngập hàm đầy nanh sắc vào David và xé toạc anh ta ra, cả đàn sư tử cũng nhanh chóng ập đến chia mồi. Thất kinh, hai thợ săn còn lại vứt súng bỏ chạy. Mười ngày sau, người nhà đến xác minh và nhận lại thi hài tại bệnh viện Maphutha Malatji, những gì còn lại chỉ là cái đầu của David. Còn rất nhiều trường hợp khác nữa, nhưng tôi e là bạn sẽ không đủ kiên nhẫn đọc hết chúng vì quá dài, chừng đây thôi có lẽ đã đủ để bạn rút ra được những kết luận đáng giá nào đấy. Bạn nghĩ thế nào về những cái chết “bất đắc kỳ tử” này ? Phải chăng tất cả chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên hay đây là một dạng “thiên kiến xác nhận”, hay quả thực có một quy luật đứng đằng sau điều khiển tất cả ? (Trích “Nhân quả Đất Việt” – Quang Tử )

BÀ LÃO VÃNG SINH ĐỂ LẠI XÁ LỢI HÌNH PHẬT ĐỨNG TRONG ĐÀI SEN

“Năm sau tôi sẽ vãng sinh.” Mọi người trong nhà đổ dồn ánh mắt về cụ Triệu Vĩnh Phương, ngạc nhiên vài giây, rồi ào ào hỏi: “Thật hả cụ?” “Cụ được Phật báo trước à?” “Cụ đã gặp Phật rồi sao?” Cụ Phương gật đầu rồi bắt đầu kể, giọng phấn khởi lắm. Khoảng bốn giờ sáng, cụ tỉnh giấc, chuẩn bị vào thời khóa niệm Phật. Cụ ngồi khoanh chân, tay lần chuỗi, miệng niệm rõ ràng từng chữ: “Nam Mô A Di Đà Phật”. Chợt từ đâu xuất hiện luồng ánh sáng chiếu xuống chỗ ngồi. Cụ ngẩng đầu lên, dò theo luồng sáng, thấy nó đến từ trên không trung, chiếu qua cửa sổ, rọi vào mình. Cụ hướng mắt ra ngoài nhìn ngó, phát hiện ra không chỉ có một luồng sáng, mà là cả một vầng hào quang rực rỡ muốn rung động lòng người, đang chiếu rọi bốn phương. Cụ nhìn không chớp mắt. Từ từ, một vị xuất hiện ngay chính giữa ánh hào quang. Vị đó hiện lên mỗi giây một rõ nét. “Ôi trời ơi! Là Phật A Di Đà … là Phật A Di Đà!” Cụ không kìm được lòng, dùng hết tâm lực, reo lên giữa đêm khuya: “Nam Mô A…Di…Đà…Phật! Nam Mô A…Di…Đà…Phật! Nam Mô A…Di…Đà…Phật!” Từng từ, từng chữ ngân lên rúng động và kéo dài từ trong cổ họng của cụ. Chưa bao giờ tiếng niệm Phật lại nhiếp tâm đến thế. Và cụ được Phật báo trước năm sau sẽ đón cụ. Con cháu vây quanh cụ Triệu Vĩnh Phương, từ lâu cũng đều theo cụ quy y Tam Bảo, nghe kể thế, ai nấy một phen tín tâm trào dâng cuồn cuộn. Con trai cụ cũng có mặt ở đó, quay ra ôn tồn hỏi: – Năm sau phải không ạ? – Ừ, năm sau mẹ vãng sinh. Ông khựng lại, trong người cảm thấy vui buồn lẫn lộn, vậy là mẹ ông sắp rời cõi đời này, nhưng không phải là đi về chốn suối vàng như những người khác, mà là về cõi Cực Lạc. Hôm ấy là một ngày cuối năm 1998, cụ Triệu Vĩnh Phương cũng đã 92 tuổi.
Cụ Triệu Vĩnh Phương niệm Phật cùng con cháu
Bốn năm trước, cụ mới quy y Tam Bảo ở chùa Liên Phổ với hòa thượng Hạ Như. Lúc ấy cụ bị bệnh tim và bệnh bao tử rất nặng, tưởng đã đi luôn rồi. Cụ nghe giảng về giáo lý Tịnh Độ, từ đấy hết lòng hết dạ niệm Phật cầu vãng sinh Cực Lạc. Hàng ngày cụ miệt mài niệm Phật, số lượng cứ tăng dần đều cho đến lúc có ngày niệm đến 40.000 câu Phật hiệu. Kì lạ thay, ai cũng nhận ra khuôn mặt cụ ngày càng nhuận sắc, đi lại nhanh nhẹn hơn, chứng bệnh tim và đau dạ dày kinh niên thuyên giảm, sức khỏe tiến triển rõ ràng. Mấy tháng sau, một ngày cuối tháng 3 năm 1999, mặt trời đã lên cao, vẫn chưa thấy mẹ tỉnh dậy niệm Phật, con trai cụ vào phòng xem xét, thấy cụ vẫn nằm trên giường, trông có vẻ không được khỏe. – Mẹ sao thế? Mọi ngày mẹ công phu đúng giờ lắm mà? – Đêm qua mẹ đi đại tiện mấy lần, thành ra mất ngủ. – Sao lại thế nhỉ, để con đưa mẹ đi viện nhé? – Mẹ không đi viện đâu, ở nhà niệm Phật tốt hơn. Thấy mẹ không chịu đi bệnh viện, anh vội vã nhờ bác sỹ tới nhà truyền thức ăn loãng cho cụ, vì mấy hôm nay cụ không ăn uống được mấy, lại đại tiện liên tục, e mất sức. Thế nhưng truyền được bao nhiêu, cụ cũng ói mửa ra hết. Tình hình cụ Phương yếu đi nhanh chóng, các bạn đồng tu không khỏi lo lắng, đề nghị mở Phật thất trợ niệm cho cụ suốt bảy ngày liền. Từ bảy rưỡi sáng tới sáu giờ tối chuyên niệm Phật, chỉ nghỉ ngơi nửa tiếng buổi trưa. Từ sáu giờ tối tới mười rưỡi tiếp tục tụng kinh Địa Tạng. Ngày 1/4/1999, khắp tay chân cụ run rẩy, miệng thở phập phùng như cá ngáp trong nước, nước miếng chảy ra từ khóe miệng, bao nhiêu đau đớn dồn nén khiến cụ bức bách tột cùng. Con cháu đều đang tề tựu xung quanh giường. Cụ Phương cố gắng thì thào nói: – Ta một đời chưa từng sát sinh, thịt cũng chẳng ăn được, chỉ ăn được cá. Có lẽ cũng vì thế mà cuối đời bị báo ứng. Các con nên vì ta mà phóng sinh thật nhiều cá, giúp ta tiêu trừ bớt ác nghiệp này. – Chúng con nhất định sẽ làm như lời mẹ dặn, mẹ yên tâm niệm Phật nhé – con cụ đáp lời. Khi Phật thất bảy ngày kết thúc, gia đình lập tức tổ chức phóng sinh đúng như ý nguyện của cụ. Tối cùng ngày, cụ Phương lê lết ra trước bàn thờ Phật để sám hối tội nghiệp, nhất là tội ăn cá. Nhờ đó, hai ngày sau, chứng run tay chân hết hẳn. Có lẽ đã đến lúc các oan gia trái chủ nhiều đời nhiều kiếp của cụ bắt đầu bủa vây đòi nợ. Hết sức khẩn trương, sáng ngày 7/4/1999, gia đình thỉnh sư thầy cử hành pháp hội siêu độ chúng sinh, bao gồm cả oan gia trái chủ của cụ Phương, tại chùa Cao Minh, tỉnh Dương Châu, Trung Quốc, hòng giúp cụ tiêu tan chướng nạn. Thân thể cụ tiếp tục đau đớn, có một sự bức bách khó chịu chạy khắp người. Nhưng bù lại, tinh thần niệm Phật rất dũng mãnh, kiên cường, bất chấp bệnh khổ ập tới. Cụ Phương thì thào: – Mẹ chẳng còn lâu nữa, mẹ sắp đi rồi. – Mẹ đi đâu? – anh con trai hỏi. Giọng cụ chậm rãi, nhưng từng chữ rõ ràng: – Mẹ đi đến Tây Phương Cực Lạc Thế Giới. – Mẹ có chắc chắn không? – Chắc chắn. Muốn kiểm tra tâm lý của mẹ, con trai cụ hỏi thêm: – Quanh mẹ bây giờ là oan gia trái chủ, yêu ma quỷ quái rất nhiều, họ đang chờ mẹ, mẹ có sợ không?” – Không sợ. – Vì sao? – Đã có Phật A Di Đà. Cụ Phương dừng lại một lúc nghỉ, rồi nói tiếp: – Thuốc không cần nữa, thức ăn mẹ cũng không cần nữa. Tới chiều tối, cụ Phương rút từ trong túi áo ra chiếc máy niệm Phật, cả chiếc khánh nhỏ đem cho con cất giữ, còn xâu chuỗi cụ quấn mấy vòng vào cổ tay. Những thứ đó giờ không dùng đến nữa, rồi hô mọi người niệm lớn tiếng lên. Trong vườn nhà, từng đóa mẫu đơn đua nhau nở rộ cùng một lúc, chim chóc từ đâu hót líu lo, rộn ràng một góc vườn, hòa lẫn với tiếng niệm Phật bên trong cánh cửa, tấu lên như một bản hòa ca. Cụ Phương đang yếu ớt, đột nhiên hô lớn, làm ai nấy đều giật mình. – Tây Phương Tam Thánh tới, các Ngài đẹp quá kìa. Tất cả con cháu cụ, các bạn đồng tu, hàng xóm láng giềng, dù trước kia có tin Phật Pháp hay không, đồng loạt kích động, đua nhau niệm Phật như sấm rền. Trong một hôm, cụ thấy Tây Phương Tam Thánh hiện ra bốn lần. Mỗi lần, cụ đều chắp tay, hô to Phật hiệu. Khắp cả căn phòng thoang thoảng một mùi thơm không biết từ đâu bay tới, ánh sáng chan hòa lan tỏa khắp phòng, mặc dù trời đang là buổi tối. Một giờ mười hai phút sáng, thấy hơi thở mẹ thoi thóp, con trai cụ dự đoán sắp tới thời khắc quan trọng, ghé miệng sát vào tai mẹ, nhắc nhở một lần nữa: – Mẹ ơi, mẹ muốn vãng sinh Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, mẹ nhất định phải niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”. Lời con trai vừa dứt, một ánh hào quang cao hơn 30cm xuất hiện phía đầu giường, rồi dần tỏa ra hai bên. Liền đó, một hơi ấm tỏa lên từ phía dưới mặt đất, khiến không gian ấm áp lạ thường. Đúng một giờ mười lăm phút, ngày 12/4/1999, cụ Triệu Vinh Phương trút hơi thở cuối cùng, miệng khẽ mỉm cười, hưởng thọ chín mươi tư tuổi. Con trai cụ không kìm được, reo lên: – Mẹ đã đi rồi, mẹ đã vãng sinh rồi !!!. Câu nói của ông khiến tất cả mọi người đều vui mừng. Từ xưa trong cái thôn này, hiếm có tang sự nào lại hân hoan đến thế. Mẹ được vãng sinh, con cháu thì thành tựu đại hiếu. Hai ngày sau, mọi người phúng viếng hết, gia đình mới đưa di thể cụ Phương vào trong một cái lu lớn, chuẩn bị hỏa táng theo tập tục khi đó tại vùng bản địa. Toàn thân cụ tươi nhuận, các khớp xương mềm mại, khuôn mặt như khi còn sống, không hề có dấu hiệu tái nhợt. Lúc bắt đầu hỏa thiêu, chợt một ánh hào quang từ phía chiếc lu bay lên, cùng lúc có một luồng ánh sáng từ trên trời phủ xuống, hòa quyện vào nhau, khiến vạn vật bừng sáng, mọi người ai nấy đều hoan hỷ. Ngọn lửa cháy một hồi, từng làn khói bay lên cao, chẳng biết là trùng hợp hay do cảm ứng, cũng bay về phía Tây, cuồn cuộn như những đám mây vờn, đẹp không kể xiết. Hỏa táng xong, gia đình làm nghi thức mở lu, thu lại tro cốt. Trong khi làm lễ, ai cũng có thể nhìn thấy ở phía Tây dọc theo dãy núi, có một chiếc cầu vồng bảy màu xuất hiện, như tô điểm cho nghi thức thêm phần tráng lệ. Ngoài phần tro trắng, họ phát hiện có nhiều xá lợi nhiều màu sắc, hình thù khác nhau. Chợt con trai cụ reo lên: – Ồ, mọi người lại đây mà xem. – Gì thế? Tất cả đang làm việc của mình, liền lui tới chỗ anh. – Xá lợi này đúng là hình Phật mà. Từ đầu, tóc, mặt, cho đến tay và vạt áo đều giống. Mọi người xúm lại ngắm nghía một hồi, đều công nhận điều đó, hết sức ngạc nhiên và phấn chấn. Một người khác đang lượm tro, cũng hô lên: – Còn xá lợi này thì đúng là đài sen. Con trai cụ Phương vội vàng ra khỏi chỗ, cầm theo xá lợi hình tượng Phật tới, ướm thử vào xá lợi hình đài sen thì bất ngờ vừa khít, như thể được tạo ra để dành cho nhau. Hai xá lợi đặc biệt này, sau đó được đặt trang nghiêm, thờ trước di ảnh của cụ Phương ngay tại nhà.
Xá lợi hình Phật đứng trong đài sen của cụ Triệu Vĩnh Phương
Câu chuyện của cụ Triệu Vĩnh Phương với rất nhiều những linh ứng nhiệm màu đã trở thành minh chứng hùng hồn cho Phật Pháp, cho pháp môn Tịnh Độ và lời đại nguyện của Phật A Di Đà. Cụ Phương dù chỉ chuyên tu trong vài năm cuối đời, nhưng bằng tất cả tâm cung kính, tha thiết, chuyên cần và tin tưởng, cụ đã siêu phàm nhập thánh, chấm dứt vô số kiếp luân hồi mệt nhọc. Trong tang lễ của cụ, nhiều người khắc sâu trong lòng câu đối liễn được gia đình treo lên, như một lời nhắc nhở chính bản thân mình về mục tiêu lớn trong cả cuộc đời. “Chín mươi tư năm trường  mãi tìm cầu. Một ngày thời đến ta về Tây Phương.” (Tĩnh Như, viết lại từ video phóng sự vãng sinh của cụ Triệu Vĩnh Phương)

BỊ TAI NẠN ĐỘT T.Ử, BÀ MẸ LIÊN TỤC NHẬP VÀO KÊU OAN VÀ PHA XỬ TRÍ NGOẠN MỤC CỦA CON GÁI

Rảo bước trên con phố Lê Văn Hiến, thuộc phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, bà Thận chả mấy chốc đã tới cổng Học Viện Tài Chính. Trời đang là mùa đông, nhưng nay lại có nắng vàng rụm, đua nhau xen qua kẽ lá phủ xuống mặt đường, khiến không khí đôi phần ấm áp, không gian bừng tỉnh sau mấy ngày ủ dột. Quãng đường đi làm của bà vốn đã gần, vì thế càng rút ngắn hơn. Người tản bộ đi ngang qua, thường nghe tiếng niệm Phật lầm rầm, phát ra từ chiếc đài nhỏ bà đeo trên cổ, cũng có khi là tiếng niệm nho nhỏ của chính bà. Chiều về, tại căn nhà riêng trong ngõ 56 cũng trên phố Lê Văn Hiến, ông chồng bà ngồi vắt chân trên ghế, nhấp một ngụm chè, ánh mắt hướng về bà Thận, nhìn vợ nấu cơm nhưng miệng không ngừng ngớt “Nam Mô A Di Đà Phật”. Ông gằn giọng, nói vọng vào trong: – Đang sống sờ sờ ra, mà bà cứ nghĩ đến cái chết là sao? Bà Thận đáp lại bằng một nụ cười, hai tay vẫn thoăn thoắt nấu nướng. Lát sau, khi đã xong xuôi, mới trở ra với chồng: – Chết có hết đâu mà sợ, mình lại đầu thai kiếp khác. Đi về đâu mới là quan trọng, tôi chỉ muốn về Cực Lạc. Ông thở hắt ra một cái, lắc lắc cái đầu ra điều ngán ngẩm, mặc dù rất yêu vợ, nhưng thật tình chưa thể nào chấp nhận được tư tưởng kì lạ này. Gì mà “đầu thai” với “Cực Lạc”, toàn những thứ mơ hồ đâu đâu. – Tôi chả nói lại được, thôi mặc kệ bà. Bà Thận đã quen với thái độ của chồng, tuy không ủng hộ mình tu hành, nhưng ít ra cũng không gây cản trở, thế là may mắn lắm rồi. Vừa sắp xong mâm cơm, hai vợ chồng chuẩn bị bưng bát lên, thì Thương – cô con gái lớn mở cửa bước vào. – Ủa Thương? Qua mà không báo trước để mẹ nấu thêm chút đồ ăn, bữa nay cơm canh đơn giản quá. – Con ăn rồi ạ, con đi ra đây có việc, tranh thủ ghé qua một chút. Sao bố mẹ ăn muộn thế? – Chiều nay mẹ chép Phật hiệu, được hơn hai mươi quyển vở rồi đấy, mải mê quá nên quên cả giờ, để bố mày đói kia kìa, khổ thân. Tiện thể có con gái ở đây, chồng bà Thận được dịp than phiền: – Mẹ mày còn biết bố đói cơ đấy, lúc nào cũng “Nam Mô A Di Đà Phật” quên cả chồng. – Mẹ lúc nào chả nấu cơm cho bố, chắc thi thoảng mới nhỡ nhàng một bữa, bố sướng nhất rồi, mà vẫn bắt nạt mẹ. Bà Thận cười mỉm đồng tình, còn ông chồng bà im im chẳng nói gì, ánh mắt xéo lên nhìn vợ, ra vẻ lạnh lùng một chút lấy uy, nhưng trong đầu thầm công nhận. Quả thật, vợ ông đẹp người đẹp nết, sống hài hòa biết trên biết dưới, chu toàn gia đình, đối nội đối ngoại rất được lòng anh em. Tất nhiên chả ai hoàn hảo trăm phần trăm, nhưng nếu chấm điểm, ông ưu ái chấm cho vợ tám điểm trên mười. Bà Thận nuốt xong miếng cơm, chợt nhớ ra, muốn dặn dò Thương một việc trọng đại. Thực ra bà đã nói với gia đình từ khi Thương chưa lấy chồng, nhưng thi thoảng vẫn phải nhắc lại. – Khi nào mẹ mất nhớ niệm Phật cho mẹ, thắp hương chay tịnh con nhé, dặn thế! Ông chồng giật mình, lẩm bẩm: “Cái bà này, nói chuyện sống chết cứ như đùa”. – Mẹ hãy tinh tấn niệm Phật, đừng lo lắng nhiều. – Thương đáp. – Mẹ phải dặn nhiều lần cho chắc. Chuyện đại sự cả đời, lỡ một lần lúc lâm chung, biết đến đời nào kiếp nào mới được vãng sinh. Nhớ là không ai được khóc, kiếp người vô thường, có gì phải lưu luyến, mời được ban hộ niệm thì tốt, không thì cả nhà cứ chí tâm niệm Phật cho mẹ, kiêng giết chóc, cúng mẹ nhớ cúng chay, nhớ? – Mẹ yên tâm. Con nhớ rồi mà. Mẹ còn trẻ khỏe chán, còn lâu mới tới lúc đó. – Sinh tử bất chợt, biết đâu được trước. Ông chồng vội ngắt lời: – Thôi thôi, gở mồm quá. Đừng nói nữa, ăn đi cho tôi nhờ. Kể từ hồi biết Phật Pháp, bà Thận, tên đầy đủ là Ngô Thị Thận, vẫn cứ hay nói chuyện về sống chết với mọi người, ấy cứ bình thường như ra chợ mua rau vậy. Nếu trong họ có đám, bà khuyên mọi người bình tĩnh, không được khóc, chỉ nên niệm Phật. Chả bù hơn chục năm trước, khi chưa biết tu, thay vì thế, bà chính là người khóc to nhất nhà, ngất lên ngất xuống, nước mắt giàn dụa, đau xót không cầm được lòng. Thấy chồng biểu tình, bà Thận gật đầu đồng ý, chuyển sang nhắc nhở Thương: – Còn con? Từ ngày lấy chồng hình như lười tu phải không? Ai chả biết cơm áo gạo tiền, gia đình con cái là quan trọng, nhưng không thể vì thế mà chểnh mảng tu hành. Phải biết việc nào là đại sự. Con thành tựu đạo nghiệp, thì người thân về sau mới được nương nhờ. Giúp họ cơm ăn áo mặc chỉ là chuyện một đời, lo cho sự giải thoát của họ mới là chuyện lâu dài nhiều kiếp. – Đúng là mấy năm nay con biếng nhác hơn hẳn. Con cũng sốt ruột lắm chứ, mà cuộc sống cứ bận rộn mãi. Nói chuyện một hồi, hai ông bà đã xong bữa, đồng hồ điểm tám giờ tối, Thương vội vã trở về nhà với chồng con. Nhịp sống hối hả lại tiếp diễn với Thương, lo toan bộn bề nào gia đình, nào công việc, nào đủ thứ việc trên đời, bảo buông bỏ đi để theo một lý tưởng giải thoát nào đó, nói thì dễ, chứ để làm được… ây cũng thật là khó. Còn mẹ cô tu tập ngót nghét hơn mười năm, với những hiểu biết của mình, bà chắc mẩm bản thân không còn lưu luyến gì nơi thế gian này. Bà đối xử với người thân bằng sự yêu thương, nhưng không ái luyến, bi lụy. Khi thọ mạng hết, bà nghĩ sẽ sẵn sàng buông bỏ tất cả để về cõi Tịnh. Ngày tháng trôi qua, cuộc sống của bà đều ổn thỏa, những gì cần chuẩn bị, dặn dò cũng đã làm, hiện tại bà chăm chỉ niệm Phật, chờ tới lúc hết thọ mạng, đợi Phật tiếp dẫn. _______________________ …Rầmmmmm… Chiếc xe ô tô bảy chỗ từ đâu lao thẳng về phía vỉa hè, va phải một người phụ nữ luống tuổi, tài xế vội vàng thắng phanh… Kétttttttttt!!! Nhưng không kịp, bánh xe đã đè bẹp nạn nhân, cán đứt lìa phần chân từ đầu gối trở xuống, máu tươi chảy ào ào, đọng lại thành một vũng lớn. Người đàn bà đột tử, không kịp kêu một tiếng nào. “Ối giời ơi, đâm chết người rồi”. Một tiếng thét vang lên không rõ của ai, khiến cả đám đông lao tới. Vài người ngó nghiêng nhìn mặt nạn nhân, chợt có người nhận ra hàng xóm của mình: – Ôi, bà Thận ở ngõ nhà tôi mà. Ôi trời ơi, mau gọi người nhà ra. Nhà riêng của Thương ở quanh khu vực đó, chẳng mấy chốc cô đã có mặt tại hiện trường. Xác nhận đúng là mẹ mình, bà bị xe cán chết trên đường đi làm về, cô bàng hoàng, hai mắt đờ đẫn, thần trí hỗn loạn, không phản ứng được gì. Một hồi sau mới định thần, òa lên khóc. Hôm ấy là ngày 18/12/2023. Nửa tiếng sau, Thương hoàn hồn. Người đầu tiên cô gọi điện thông báo là chị bạn đồng tu thân cận, nói trong nước mắt: – Mẹ em bị tai nạn, không kịp cấp cứu, mất rồi chị ơi. Chưa để Thương nói tiếp, chị bạn hiểu ngay, ngỏ ý sẽ tụng Kinh Địa Tạng, niệm Phật, đọc thần chú Lăng Nghiêm hồi hướng công đức cho bà, nhắc nhở Thương về công tác chuẩn bị hậu sự, kẻo sợ Thương sốc quá lại chẳng nhớ gì. Rồi tang lễ cũng được chu toàn, ngày đưa tro cốt bà về quê chôn cất, gia đình một phen bất ngờ gặp lại bà Thận… Cả họ hàng đang có mặt tại nghĩa trang, bỗng một giọng nói ú ớ kì lạ vang lên, xen lẫn giữa những tiếng khóc than rên rỉ của thân quyến. Mọi người cùng một lúc đổ dồn ánh mắt về người chị họ của Thương. Thân thể cô gái chao đảo, giật cục nấc lên từng hồi, đôi mắt ngây dại, im im một lúc rồi khóc lóc dữ dội: – Tôi bị oan ông ơi, mẹ bị oan con ơi, tại người ta đâm vào mẹ. Mọi người căng tròn con mắt, chợt hiểu ra, biết hương linh bà Thận về kêu oan. Chồng bà Thận mấy ngày hôm nay đau buồn quá mức, tuy khá bất ngờ trước sự việc hồn về mượn xác, nhưng rồi cũng bất chấp lao tới gặp vợ. – Ối bà ơi, sao bà ra đi đột ngột thế, để lại tôi một mình đơn chiếc. Ngày đêm tôi biết nói chuyện với ai, ăn cơm với ai bây giờ? – Ông đừng buồn nữa. Nhớ đem tôi lên chùa sớm, tôi muốn về chùa. Đôi vợ chồng già, một âm, một dương cùng nhau khóc vang cả khu an táng. Thương nhìn cảnh ấy, tuy rằng rất xót xa, nhưng vấn đề làm cô lo lắng hơn cả, chính là việc vãng sinh của mẹ. Dù mẹ cô đã chuẩn bị cho giây phút lâm chung bao nhiêu năm, nhưng cuối cùng thì giờ này vẫn ở đây, tâm còn oán thán với vụ tai nạn, thương nhớ chồng con, lưu luyến cõi trần. Thương nhanh chóng nhắc nhở: – Mẹ ơi, nghiệp đã trả xong, mẹ đừng vương vấn nơi đây nữa, mau niệm Phật cầu Phật tới tiếp dẫn mẹ vãng sinh Cực Lạc đi, mẹ quên rồi sao? Thương vừa dứt lời, mẹ cô trong xác người chị họ bỗng dưng chắp hai tay vào nhau, ngồi kiết già, miệng lầm rầm “Nam Mô A Di Đà Phật” hòa cùng tiếng niệm Phật của Thương và con cháu quanh đó đang phát tâm niệm Phật cho bà, sau đó bà thoát trả lại xác cho chị họ Thương. Việc an táng cho bà Thận xong xuôi, mọi người về nhà, thời gian này có lẽ chồng bà là người bị ảnh hưởng tâm lý nặng nề nhất. Ông già đi hẳn, ủ rũ như người mất hồn, cả ngày chả đi đâu, cứ ru rú trong nhà… Thương vừa lo bố tinh thần không được ổn, vừa lo mẹ vẫn đau khổ trong cõi giới vô hình. Đây chính là lúc cô phải tận tâm dồn sức báo hiếu. Lập tức, cô nhấc máy nhờ được ba đạo tràng quen biết nhờ hồi hướng thêm công đức tu tập cho mẹ cô. Tranh thủ trong khoảng thời gian bốn mươi chín ngày, Thương tạo rất nhiều công đức, cốt để giúp bà Thận tiêu nghiệp, tăng phước, vãng sinh Tịnh Độ. Cụ thể, cô đúc tượng ngài Địa Tạng, khuôn tượng Phật A Di Đà, Bồ Tát Quán Thế Âm, in kinh Địa Tạng, một trăm cuốn kinh Lăng Nghiêm, một nghìn bản chú Lăng Nghiêm, cúng dường Tam Bảo, phóng sinh mỗi tuần thất. Trong căn nhà nhỏ cô quạnh, chồng bà Thận lụi hụi nấu cơm chay. Vợ ông đã nấu cho ông ăn cả đời, nay cơm cúng bà đều do ông tự tay vào bếp. Cả ông và các con đều ăn chay trong bảy tuần thất, riêng Thương phát nguyện chay trường cả đời. Thấy bố lụ khụ bê mâm cúng đặt lên ban thờ, Thương đang tụng kinh, cất tiếng hỏi: – Sao bố không bảo con bê lên cho? – Mày đang làm lễ cho mẹ thì cứ làm đi. – Con tụng kinh Địa Tạng, được gần ba mươi biến rồi, tranh thủ rảnh lúc nào con đọc lúc đó. – Ừ, cố gắng cho mẹ mày đỡ khổ. Hóa ra mẹ mày nói đúng, chết có hết đâu. Nói xong, ông lò dò đi xuống nhà, để con gái tiếp tục làm lễ. Kể từ ngày mẹ mất, Thương chăm chỉ, tinh tấn hơn rất nhiều, miệng cô lúc nào cũng niệm Phật, dù đang nấu cơm, quét nhà, rửa bát, lái xe v.v… cô đều tranh thủ niệm Phật y như cái cách bà Thận tu hồi còn sống. Bản thân cố gắng rất nhiều, trong lòng Thương cũng yên tâm hơn phần nào, hy vọng mẹ vì thế không còn đau khổ nữa. Cuối tuần, các cô bác trong họ lui về chùa tụng kinh hồi hướng cho bà Thận. Tiếng kinh chú đang ngân vang, chợt một cụ già run lên, mắt nhắm nghiền lim rim, rồi lại trừng lên sợ hãi. Bác của Thương ngồi gần đó, biết chắc có vong nào đó nhập về, mới hỏi: – Ai thế? Chợt bà cụ khóc òa lên: – Tôi bị oan quá. Người ta đâm vào tôi. Nghe tới đây, mọi người nhận ra ngay là bà Thận, bác của Thương lập tức an ủi: – Giờ em đừng bám chấp vào điều gì nữa, chỉ càng thêm đau khổ. Em ở chùa niệm Phật, tụng kinh cùng mọi người nhé. Bà cụ gật đầu lia lịa tỏ vẻ đồng ý, thoáng chốc hương linh bà Thận đã thoát ra. Lúc đó không có mặt Thương, nên khi nghe kể lại, cô rất lo lắng. Mình đã cố gắng tạo nhiều công đức như vậy, nhưng mẹ vẫn còn khổ, nói gì tới vãng sinh. Nghĩ tới đây, hai tròng mắt Thương hoe đỏ. Trong lòng cô dồn dập nhiều suy nghĩ. Không an lòng, cô ra chùa, cung kính quỳ trước Tam Bảo, phát nguyện: – Con xin phát nguyện ăn chay trường cả đời, cúng dường Tam Bảo, ấn tống kinh sách, bố thí trong khả năng của mình, đọc chú Lăng nghiêm và Kinh Địa tạng để làm lợi lạc cho chúng sinh, cầu xin đức Phật thương xót cứu linh hồn của mẹ con, tiếp dẫn mẹ con về Cực Lạc vĩnh viễn thoát khỏi khổ đau luân hồi. Con xin đem trường hợp của mẹ làm bằng chứng để mọi người tăng thêm tín tâm vào Phật Pháp. Xin Tam Bảo gia hộ. Trong lòng cô băn khoăn. Khi còn sống, bà Thận rất chịu khó tu hành, bản thân cô cũng làm nhiều công đức để hồi hướng, tại sao bà còn chưa thoát khổ? Thương đem những trăn trở này kể cho anh Quang Tử, một vị thiện tri thức mà cô theo dõi facebook từ lâu. Hiểu được vấn đề của Thương, anh hướng dẫn cô tiếp tục làm những công đức mà cô vẫn đang làm, cộng thêm thực hiện những buổi lễ cầu siêu cho mẹ theo nghi thức anh gửi. Cô đứng trước ban thờ, tâm sự với mẹ như đang nói chuyện với một người bình thường: – Mẹ à, mẹ hãy buông bỏ hết tất cả, không ái luyến gia đình, đừng oán chấp người gây tai nạn nữa. Nghiệp mẹ đã trả xong. Giờ là lúc mẹ nhớ Phật, niệm Phật như mẹ vẫn dặn dò con. Nói xong, Thương bắt đầu làm lễ cầu siêu. Phần đầu là lễ Phật, cúng thí thực, phần sau là khai thị để vong linh buông bỏ bám chấp, rồi trì chú Đại Bi, niệm Phật cầu vãng sinh. Cứ như vậy, ngày nào Thương cũng làm lễ siêu độ, cũng được khoảng hơn chục lần. Trong cuộc họp gia đình, Thương ngỏ lời cảm ơn các cô bác anh chị đã hỗ trợ phần hậu sự, mời cả nhà tới hôm thất thứ năm (35 ngày sau khi mất) cùng đưa vong linh mẹ cô lên chùa theo đúng tâm nguyện của bà. – Chị xin phép hôm đó không có mặt. Chị sợ bị nhập lắm. – người chị họ của Thương rùng mình, nổi cả da gà khi nhớ lại khoảnh khắc đó. – Dạ vâng. Chị cứ ở nhà nghỉ ngơi nhé. Mọi người cũng vất vả nhiều rồi. – À chị kể em nghe, mấy hôm nay chị đều nằm mơ thấy bà, trông bà rất đẹp, mặc quần áo cũng đẹp, vui vẻ nói với chị “sắp đủ rồi”. Mà chị không hiểu bà đang nói đủ cái gì? – Thật hả chị? Thấy mẹ vui vẻ là tốt hơn rồi chị ạ. – Ánh mắt Thương lấp lánh hy vọng. Đúng ba mươi lăm ngày sau khi mất, tất cả có mặt đông đủ tại chùa, run rủi thế nào, người chị họ nghĩ đi nghĩ lại rồi vẫn đến. Cô vừa ngồi xuống, khoanh chân, chưa kịp mở miệng niệm Phật cùng đại chúng, thì hương linh bà Thận đã nhanh chóng mượn xác. Bà đưa mắt khắp bốn phía rồi dừng lại nơi chồng bà đang ngồi. Bà vừa khóc vừa gọi chồng: – Ông đừng nhớ thương tôi nữa, mối dây tơ hồng đứt rồi, ông phải đi ra ngoài đi lại, chứ đừng ở trong nhà khóc mãi. Nhìn ông như thế, tôi không đành lòng ra đi. – Bà hãy yên tâm mà ra đi, tôi sẽ niệm Phật cho bà – chồng bà Thận nén những giọt nước mắt vào trong, ân cần đáp. – Mẹ, bây giờ mẹ chỉ cần nhớ Phật, niệm Phật thôi, hãy buông bỏ hết tất cả – Thương nói – Chúng con sẽ chăm lo cho bố, mẹ cứ an tâm vãng sinh Cực Lạc mẹ nhé. Bà Thận lập tức giơ tay lên khua khua, ra hiệu trật tự, để bà lạy Phật. Thương chột dạ, phải chăng mình đã hơi nhiều lời. Mẹ cũng đã biết thừa điều đó. Rồi bà lạy Phật liên tục, sau đó bắt tay từng người trong gia đình, nói lời cảm ơn họ thời gian qua đã có mặt, lo lắng cho bà, cũng là lời từ biệt. – Chân của tôi đã được chư Phật gia hộ cho lành lặn, đi lại được rồi, từ hôm nay tôi không còn đau khổ gì nữa. Tí nữa khi bước chân ra khỏi đây để theo Phật, sẽ không còn mẹ con, không còn chồng vợ,… nghiệp ở nơi đây tôi đã trả xong, không còn gì vấn vương nơi cõi trần này nữa. Đây là lần cuối cùng, tôi sẽ không về thêm lần nào nữa đâu. Tôi sẽ đi theo Phật ! Bà Thận từ đó không nói thêm lời nào, chỉ ngồi niệm Phật, tụng kinh cùng đại chúng. Khóa lễ kết thúc, bà quỳ hướng về Tam Bảo, lạy Phật, lạy khắp xung quanh, rồi bà thoát ra. Đúng như câu cuối cùng bà nói “Tôi sẽ đi theo Phật”, bà theo ánh hào quang của Phật A Di Đà đi về Tây Phương Cực Lạc, từ đây chấm dứt vĩnh viễn mọi khổ đau nơi cõi thế gian. Thương thở phào nhẹ nhõm. Giờ đây cô đã hiểu “sắp đủ rồi” là như thế nào. Cuối cùng thì lượng công đức mà cô cùng nhiều bạn đồng tu kiên trì tạo bấy lâu nay kết hợp với lượng phước tự thân của mẹ cô đã tới lúc đủ đầy để bà được vãng sinh. Nếu như Thương nản chí bỏ cuộc giữa chừng, sự nghiệp vãng sinh của bà sẽ còn bị trì hoãn không biết tới bao giờ. Sự nỗ lực của người thân vì vậy thực sự có ý nghĩa rất lớn đối với người quá cố. Kể từ ngày chứng kiến bà Thận được về với Phật, chồng bà đã có một bước chuyển biến rõ rệt trong nhận thức về Phật Pháp, con trai út nay đã bắt đầu biết tu tập, còn Thương ngày càng tinh tấn hơn, tiếp bước mẹ mình, nguyện tương lai cũng sẽ về miền Cực Lạc. (Trích “Linh ứng đất Việt” – Tĩnh Như)  

Nhân quả nghiệt ngã phía sau thảm án tru di thập tộc

0
Vào thời Minh, dưới triều vua Chu Nguyên Chương, có một người họ Phương vì muốn gia đạo nhà mình phát đạt, nên đã mời một thầy phong thủy cao tay đi tìm long huyệt để xây mộ cho cha. Sau khi đã tìm được huyệt tốt, thầy phong thủy hẹn ngày khởi công. Đêm trước đó, người họ Phương nằm mơ thấy một lão già áo đỏ đến trước mặt nói: – Huyệt mà các hạ chọn chính là chỗ ở của ta, xin các hạ hoãn vài ngày để con cháu ta có thì giờ dọn đi nơi khác rồi mới động thổ. Lão già nói xong lại van lạy rồi mới đi. Người họ Phương tỉnh dậy, nghĩ rằng chỉ là một giấc mộng vu vơ, nên không để tâm. Nhưng điều kỳ lạ, là khi đào huyệt, thì phát hiện ra bên dưới huyệt có một hang rắn lớn, trong đó có đến hàng trăm con rắn màu đỏ. Người họ Phương nghĩ đến giấc mộng, lúc này bắt đầu phân vân, nhưng cuối cùng thì vẫn cho người dùng lửa thiêu sạch đàn rắn. Đêm hôm đó, người họ Phương lại nằm mơ thấy lão già áo đỏ xuất hiện, giận dữ đến trước mặt vừa khóc vừa trách: – Ta đã van xin ông hoãn vài ngày cho ta để con cháu ta có thì giờ dọn đi nơi khác rồi mới động thổ. Chẳng những ông không cho hoãn mà còn dùng lửa đốt chết hết hơn 800 mạng trong tộc ta, lòng ông thật độc ác. Ông đã diệt tộc ta, ta cũng sẽ diệt tộc ông vậy. Lão già áo đỏ nói xong rồi biến mất. Năm sau, tức năm 1357, người họ Phương sinh được một đứa con trai, đặt tên là Phương Hiếu Nhụ. Không biết có phải do tác dụng của phong thủy mộ phần không, quả nhiên cậu bé Phương Hiếu Nhụ rất đặc biệt, tài đức vẹn toàn, lại ngay thẳng, bộc trực. Lớn lên Phương Hiếu Nhụ thi đậu làm quan, đường công danh không ngừng thăng tiến, trở thành một quan đại thần dưới triều Chu Doãn Văn. Vậy phải chăng phong thủy tốt thì mọi chuyện sẽ đều hanh thông, chẳng có gì phải lo nữa ? Thực tế không đơn giản vậy, còn có một quy luật khác mạnh hơn phong thủy nhiều, đó là luật Nhân quả, và quy luật này thì rất khắc nghiệt. Năm 1402, Yên vương Chu Lệ (chú của Chu Doãn Văn) kéo quân về cướp ngôi vua của Chu Doãn Văn. Cuộc đảo chính thành công, Chu Doãn Văn phải bỏ kinh thành lẩn trốn, Chu Lệ đăng cơ trở thành Minh Thành Tổ. Ngay sau đó, Chu Lệ ra lệnh giết sạch toàn bộ những đại thần quyết giữ lòng trung với Chu Doãn Văn. Trong khi một số đại thần sợ chết nên chủ động ra đầu hàng, Phương Hiếu Nhụ lại quyết không phủ phục. Ban đầu do trọng tài năng của Phương Hiếu Nhụ, lại nể ông được nhiều người ca tụng, giữ lại sẽ có ích cho nước nhà sau này nên Chu Lệ vẫn cố gắng nhờ thuộc hạ thân tín khuyên nhủ, mong Phương Hiếu Nhụ quy hàng. Thậm chí đến khi Chu Lệ cử hành lễ đăng ngôi, ông cũng muốn Phương Hiếu Nhụ là người viết chiếu lên ngôi cho mình. Bị ép buộc viết chiếu lên ngôi, Phương Hiếu Nhụ quyết không chịu, ông vừa gào thét, vừa tuyên bố dẫu cho có bị giết hết mười tộc cũng không viết. Nghe những lời này, Chu Lệ cũng không giữ bình tĩnh được nữa. Ông sai người phanh thây Phương Hiếu Nhụ rồi vứt xác ra chợ. Sau đó ra lệnh tru di thập tộc Phương Hiếu Nhụ như lời ông nói. Bình thường trong lịch sử, phạm tội nặng thế nào cùng lắm là bị tru di cửu tộc, là xử tử người thân họ hàng 9 đời. Riêng lần này thì vua đem cả bạn bè, đệ tử của Phương Hiếu Nhụ ra giết, gọi là tru di thập tộc. Số người chết trong vụ án này lên đến 873 người! Tương đương với số rắn mà cha Phương Hiếu Nhụ đã giết năm xưa. Phải chăng đó chỉ là trùng hợp ? Bạn có suy nghĩ gì về câu chuyện bi thương có thật trong lịch sử Trung Hoa này ? Theo bạn, ngay từ đầu, cha của Phương Hiếu Nhụ nên làm như thế nào ?        

CẢ HAI CÙNG CỨU

_Truyện ngắn_ (Dựa trên một câu chuyện có thật tại bệnh viện 103 Hà Nội) Cuối xuân, thời tiết hãy còn mưa phùn, nồm ẩm, khá nhớp nháp và khó chịu, thi thoảng mới xuất hiện vài tia nắng rời rạc, khiến cả bầu không gian nhuốm một màu ảm đạm, u buồn. Trong căn phòng nằm sâu phía sau khuôn viên của Câu Lạc Bộ Trẻ Tự Kỷ, từng ấy đứa nhỏ đang ngồi yên lặng, mỗi đứa một góc, trầm ngâm với thế giới riêng nhỏ bé của mình. Đứa thì cặm cụi ráp từng miếng lego vào nhau một cách vô thức, chẳng theo hình thù nào cụ thể, đứa dùng bút chì màu vẽ nguệch ngoạc trên một tờ giấy đã được phủ gần kín cả trang, đứa lại chỉ ngồi thu lu một chỗ, chẳng thèm động đậy… Bầu không khí có phần buồn tẻ ở đây chỉ được khuấy động khi cô giáo Phương bước vào lớp. Bọn trẻ đang chờ Phương. Vừa thấy cô xuất hiện, một nửa trong số chúng bỏ dở những thứ đang làm, lon ton chạy ra, còn lại một số bé vẫn không nhúc nhích. Lũ trẻ này bình thường chẳng mấy khi giao tiếp với ai, chỉ Phương mới có khả năng khiến chúng mở lòng, khám phá thế giới bên trong những tâm hồn non nớt của chúng. Phương tốt nghiệp thạc sỹ tâm lý học của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, hiện vừa là chủ nhiệm Câu Lạc Bộ Trẻ Tự Kỷ Hướng Dương, vừa đảm nhiệm vai trò giáo viên trong lớp học giáo dục đặc biệt này. Hàng ngày, Phương trò chuyện, chia sẻ với lũ trẻ về thế giới xung quanh, giúp chúng kết nối với cuộc sống. Đối với cô, đây không đơn thuần chỉ là một công việc, mà còn là sứ mệnh mà cô đã lựa chọn bấy lâu. Ngoài hai buổi đứng lớp, tan làm, Phương chẳng mấy khi đi đâu, vì ở nhà còn một em học trò đặc biệt cần Phương chăm sóc. Đó là Tú Anh, em gái ruột, nay đã 20 tuổi. Ở cái tuổi trẻ căng tràn, Tú Anh chỉ quanh quẩn trong nhà, không mấy khi tiếp xúc với xã hội, trừ phi có việc bắt buộc phải ra ngoài, mà có đi đâu cũng đều đi cùng chị Phương. Mặc dù cô luôn khao khát được bước ra ngoài đời, khám phá thế giới, thế nhưng không hiểu vì sao cứ có một thứ gì đó vô hình cản trở, khiến Tú Anh rất rụt rè. Vừa thấy chị mở cửa bước vào nhà, Tú Anh vội vã từ trong phòng đi ra, kéo chị vào một góc, thủ thỉ: – Nãy khi đi tắm, em thấy có cục gì đó cứng cứng, nằm ở bên ngực phải chị ạ. Đôi mày Phương nhíu lại, tròng mắt giãn to, kéo em gái bình tĩnh ngồi xuống giường, đáp: – Nếu vậy, chị đưa em đi viện kiểm tra. Có gì thì bác sỹ chữa trị cho em, không phải lo lắng. Sáng hôm sau, Phương sắp xếp công việc ở câu lạc bộ, đưa Tú Anh lên viện Ung Bướu. Sau một ngày miệt mài chạy khắp bệnh viện, làm đủ các loại xét nghiệm, kết luận quả thật có hai khối u khá to, nhưng may mắn là u xơ lành tính, chỉ cần mổ cắt bỏ nó đi là xong. Phương thở phào, nói gở mồm, chẳng may Tú Anh có làm sao thì hai chị em không biết xoay sở thế nào. Nhà neo người, Phương vừa đi làm lo kinh tế, vừa nuôi nấng em. Cô nghỉ làm thì không có tiền, mà đi làm thì không có ai chăm sóc nó. Tuy là chị, nhưng đối với Tú Anh, Phương chẳng khác nào một người mẹ. Hai chị em ra khỏi bệnh viện, Tú Anh níu tay chị hỏi: – Giờ mình làm gì hả chị? – Đi về thôi, chị sẽ áp dụng phương pháp chữa lành cho em, đừng vội mổ. Tú Anh gật đầu, theo chị đi về. Từ trước tới nay, dù chuyện lớn nhỏ thế nào, Tú Anh đều nghe theo Phương, ít khi tự quyết định được điều gì. Một thời gian sau khi áp dụng phương pháp chữa lành mà Phương có dịp làm quen từ trước, một khối u nhỏ đã tự tiêu, chỉ còn khối u to hơn vẫn chưa xẹp xuống. Chưa kịp ăn mừng thì Tú Anh lên cơn sốt cao, khối u còn lại đó bỗng đau nhức, cả vùng ngực phải của cô căng tức, nóng ran. Tình trạng cứ kéo dài như vậy suốt hai ngày không thuyên giảm, Phương sốt ruột, không thể chờ đợi được nữa, liền đưa em gái lên viện 103 và được các bác sỹ chỉ định mổ ngay, vì khối u đã lên áp xe, gây nhiễm trùng nặng. – Chị ơi, em sợ lắm, mổ có đau không? – Tú Anh nép vào vai Phương, thỏ thẻ, sợ hãi nói. – Em yên tâm, có chị đây rồi, các bác sỹ sẽ gây mê cho em, em cứ ngủ một giấc tỉnh dậy là xong xuôi hết. Vẻ mặt Tú Anh vừa ngẩn ngơ, vừa lo lắng, nhưng cô tin lời chị Phương. Rất nhanh chóng, Tú Anh được làm thủ tục nhập viện, chờ sắp xếp lịch rồi tiến hành mổ ngay ngày hôm sau. Kể từ hôm đó, Phương đành phải nhờ một cô giáo khác đứng lớp ở câu lạc bộ, còn cô toàn tâm toàn ý trong viện chăm em hậu phẫu. Ba ngày sau, bác sĩ Hoàng, người trực tiếp thăm khám điều trị cho Tú Anh, cho gọi người nhà vào phòng trực để nói chuyện. Phương gõ cửa bước vào, thấy một anh bác sĩ trẻ, trông anh ta khá bảnh bao trong chiếc áo blouse trắng dài tới gối, dáng vóc rất cuốn hút, nhưng vẻ mặt có vẻ nghiêm nghị và hơi suy tư. – Chào bác sĩ. Em là người nhà của bệnh nhân Tú Anh. – Chào em, mời em ngồi. – Dạ Bác sĩ Hoàng nhìn hồ sơ bệnh án một hồi, trầm ngâm nói: – Thật đáng tiếc, sau khi đem khối u đi giải phẫu, chúng tôi đã có kết luận đây là u ác tính. Sắc mặt Phương bỗng nhiên khựng lại. Bác sĩ Hoàng nói tiếp: – Chúng ta cần phải cắt bỏ toàn bộ tuyến vú phải, nếu không những khối u khác sẽ tiếp tục mọc lên. Và phải thực hiện sớm. Nếu gia đình đồng ý, tôi sẽ kiểm tra xem lịch mổ sớm nhất có thể là khi nào. Phương vẫn chưa hết bàng hoàng, tưởng sau lần mổ vừa rồi là yên tâm chuẩn bị về nhà, ai ngờ đâu điều mà cô lo lắng nhất cuối cùng đã xảy ra. – Nếu như cần phải cắt bỏ, thì bác sĩ cứ tiến hành giúp cho. Nhưng hai lần mổ gần nhau như vậy liệu có ổn không ạ? – Tất nhiên mổ liên tục thì người bệnh sẽ mệt hơn, nhưng cũng đành phải như vậy thôi, đó là phương án tốt nhất. Em cứ cho bệnh nhân bồi bổ thịt cá vào, còn lấy sức. – Dạ, bệnh nhân ăn chay trường, nên không ăn thịt cá được. Bác sĩ Hoàng mở to mắt, nhìn Phương ái ngại: – HaizZ, ăn chay thì sao đủ chất được, nhất là trong hoàn cảnh bệnh tật như thế này. Trường hợp của Tú Anh rất nặng đấy. Tôi cảnh báo trước. Đây là một trong những ca bệnh khó nhất mà chúng tôi từng gặp. Nói xong, bác sĩ Hoàng nhìn thấy trên cổ của Phương đeo một chiếc tràng hạt màu nâu, liền hỏi: – Nhà em theo Phật à? – Vâng. – Phật đang cứu em gái của em hay chúng tôi đang cứu cô ấy? Phương trả lời bằng cái giọng cứng rắn, đanh thép bất ngờ: – Cả hai thưa bác sĩ. Bác sĩ Hoàng thở dài, nhìn Phương một lượt, trông dáng người nhỏ nhắn, khuôn mặt nhẹ nhàng, giọng nói dễ thương như thế, ấy vậy mà cũng có vẻ cá tính phết. – Thôi thì tùy, đấy là vì sức khỏe của bệnh nhân, có thế nào hai cô cũng là người tự gánh lấy. Chúng tôi chỉ có thể làm hết sức mình, nghe hay không là ở các cô. Phương trong lòng không hề để ý gì tới thái độ của bác sĩ, đang mải nghĩ về căn bệnh ung thư đang đe dọa tính mạng Tú Anh. Trở về phòng bệnh, Phương chưa nói với em, trong đầu còn đang nghĩ cách. Vốn là một Phật tử, nhưng thực tình cô chưa thông tỏ nhiều về giáo lý, hết lòng tin tưởng sức từ bi cứu độ chúng sinh của chư Phật, nhưng lại chưa biết cụ thể phải làm như thế nào. Đây là lần đầu tiên cô rơi vào tình cảnh gấp rút như vậy, trong đầu bất chợt rối ren. Tranh thủ những lúc rảnh, Phương lên mạng tham khảo cách chữa bệnh bằng Phật Pháp, tình cờ nhìn thấy thông tin ấn tống kinh sách, đưa mắt nhìn qua một lượt, ánh mắt dừng lại ở cuốn sách có tiêu đề “Bệnh viện trả về, Phật Pháp cứu sống”. Phương như vớ được vàng, lòng cô khấp khởi hy vọng, lập tức nhắn tin xin thỉnh . Chỉ sau hai ngày, bên giao hàng đã gọi điện giao sách, Phương ngấu nghiến đọc, một hồi là xong. Tâm trí như bừng tỉnh, cộng với tín tâm sẵn có với Tam Bảo, Phương lập tức thực hành theo. Cô nhìn Tú Anh- cô em gái hiền lành, nhút nhát của mình, nói: – Khối u này là khối u ác tính, tình hình cũng khá nghiêm trọng. Nhưng em không phải lo, đã có Phật Pháp, giờ em tu tập tạo công đức cùng chị, tập trung hồi hướng cho khỏi bệnh. Chị tin nếu chị em ta một lòng chân thành, thì nhất định chư Phật sẽ gia hộ cho em. Tú Anh, vốn đang yếu, khi nghe tin lại càng buồn. Cô chẳng biết làm sao, chị bảo sao thì cô nghe vậy. Cô cũng chỉ có một chỗ nương tựa duy nhất là chị Phương. Kể từ hôm đó, hai chị em miệt mài đọc kinh, chép kinh, niệm Phật,  trì chú Vãng Sinh, sám hối theo cuốn Từ Bi Thủy Sám, bật đài đọc kinh Địa Tạng lên cho chúng sinh nghe… làm được việc gì, họ đều làm hết. Bà Yến, một bệnh nhân nằm cùng phòng, ngay cạnh giường của Tú Anh, thấy tiếng đài lầm rầm, liền quát: – Tắt đài đi đi. Đau đầu quá. Chúng mày cứ làm cái gì suốt mấy ngày nay thế. – Chúng cháu tu tập Phật Pháp để giúp Tú Anh khỏi bệnh bà ạ. – Chúng mày bị làm sao đấy. Lo mà bồi bổ, chăm sóc nó cho tốt vào. Toàn thấy ăn rau với cỏ thế này thì khỏe làm sao được. Đến tao ăn thịt mà còn mãi chưa hồi phục. Tú Anh mải nghe đài, không để ý đến bà Yến, còn Phương thì im lặng chẳng nói gì, nhưng cô lặng lẽ ra tắt đài, đỡ làm phiền mọi người xung quanh. Vốn là một người khá nhạy cảm với tâm linh, thường có chút kết nối với cõi vô hình, đêm hôm đó, Phương nhìn thấy rất nhiều hình bóng mờ nhạt của các vong linh đang đi lại trong bệnh viện, rồi đâu đó những âm thanh văng vẳng bên tai, xin Phương tiếp tục bật đài đọc kinh lên cho họ được nghe. Những vong linh sống trong cảnh giới ngạ quỷ chịu nhiều khổ sở, đói khát, nghiệp chướng nặng nề, nhờ nghe kinh mà tâm thức họ được an ổn, tiêu nghiệp, tăng phúc, đủ nhân duyên sẽ siêu thoát về chốn an lành. Thấu cảm sự tha thiết và nỗi khổ của chúng sinh, cô lựa tình hình, cố gắng bật đài cả ngày lẫn đêm, nhưng vặn âm lượng nho nhỏ, hạn chế làm phiền người khác. Chiều cùng ngày, Bác sĩ Hoàng thông báo với Phương: – Tôi đã sắp xếp được lịch mổ cắt tuyến vú cho Tú Anh vào thứ tư này, tính ra cách ca mổ vừa rồi đúng một tuần thôi. Cô nhớ tẩm bổ cho bệnh nhân, không thì khổ thân con bé. Bà Yến vừa từ phòng vệ sinh trở vào, nghe thấy câu nói này, vội đá thêm: – Đấy, tôi đã bảo mà chúng nó có chịu nghe đâu. Mày có thương em mày không mà để nó ăn uống như thế hả? Bác sĩ người ta còn phải kêu kia kìa. Vừa dứt lời, bà Yến quay ra xuýt xoa: – Bác sĩ gì mà vừa trẻ vừa đẹp trai quá, lại còn giỏi nữa. Thế bác sĩ có người yêu chưa? – Bà có ai giới thiệu cho cháu. – Ây da, cái con bé Phương này, kể ra đứng với bác sĩ trông cũng đẹp đôi đấy. – bà Yến vừa nói vừa khúc khích cười. Phương quay ra đưa mắt nhìn bà Phương, tiện thể xéo mắt qua bác sĩ Hoàng, bĩu cái môi rồi quay đi chỗ khác. Hoàng nhắc lại lần nữa: – Cô nhớ lịch mổ cho em gái đấy. – Tôi nhớ rồi, cảm ơn bác sĩ. Hoàng tiếp tục đi thăm khám cho các bệnh nhân khác, không quên liếc mắt nhìn Phương một lần rồi trở ra. Ngày thứ tư, đúng như lịch, Tú Anh lên giường mổ. Phương ở bên ngoài, miệng liên tục lầm rầm niệm Phật. Ngay trước giờ mổ, chợt từ cửa phòng, bác sĩ Hoàng bước ra, cảm thán: – Thật kì lạ! Bệnh viện đã lấy tế bào đi xét nghiệm lại một lần nữa thì bệnh nhân lại âm tính với ung thư. Tôi chưa hiểu chuyện gì xảy ra, nhưng trước hết, chúng ta không phải cắt tuyến vú nữa, chỉ cần xử lý chỗ nhiễm trùng là được. Phương nghe thấy thế, hai mắt chợt long lanh, khuôn miệng nhoẻn cười, reo lên: – Thật sao? Tôi đã bảo mà. Cả hai đã cứu em tôi: cả chư Phật, cả các anh nữa. Anh tin chưa? Bác sĩ Hoàng ngơ ngác mất vài giây, mới nhớ ra, đáp: – Tôi chỉ thấy kì lạ thôi, chả thấy gì nữa cả. Mà cô đừng vui mừng quá sớm, dù không còn ung thư, thì tình trạng nhiễm trùng của bệnh nhân cũng rất nặng, lại vừa mổ xong lần đầu cách có một tuần, hy vọng mọi việc ổn thỏa, chưa thể nói điều gì trước. Ánh mắt Phương nhìn bác sĩ Hoàng, chợt lắng lòng, hạ giọng nhắn nhủ: – Mong anh giúp đỡ. Hoàng nhìn Phương, thực tình rất thông cảm. Suốt thời gian vừa qua, hình như chỉ thấy có mình cô chăm người bệnh, cả ngày lẫn đêm. Mọi thủ tục trong viện cũng đều do mình cô chạy khắp tòa nhà này đến tòa nhà khác. Trong mắt Hoàng, kể ra cô gái này mạnh mẽ hơn cái dáng vẻ bên ngoài. Hoàng không nói gì, chỉ gật nhẹ đầu với Phương, tỏ ý sẽ cố gắng, rồi trở vào bên trong cánh cửa phòng mổ. Ba tiếng sau, Tú Anh được các y tá đẩy cáng về phòng hậu phẫu tiếp tục theo dõi. Vết mổ dài 15 cm, mà chưa được khâu ngay, phải dùng thiết bị hút dịch ra ngoài cho tới khi hết, mới có thể xử lý tiếp. Kì lạ làm sao, với tình trạng như vậy, Tú Anh lại đặc biệt khỏe mạnh, tươi tắn, da dẻ hồng hào, không có chút gì giống người vừa phẫu thuật liên tiếp hai lần. Không những thế, cô hồi phục nhanh ngoài sức tưởng tượng của các bác sĩ. Vết mổ phanh to như vậy chả mấy chốc đã khô và tự co lại còn một nửa. Trong thời gian hồi phục này, hai chị em vẫn cố gắng tu tập hồi hướng công đức hóa giải với oan gia hết sức tinh tấn, làm được gì là làm, rảnh lúc nào tu lúc đó. Nhưng kì lạ với ai thì kì lạ, chứ với Phương thì không, cô biết rõ nhờ áp dụng Phật Pháp mà Tú Anh mới được như vậy. Sự tiến triển vô cùng nhanh chóng của Tú Anh khiến ai nấy đều kinh ngạc, bà Yến cũng phải thay đổi suy nghĩ của mình: – Ô hay nhỉ, có khi nào đúng là nhờ Phật Pháp? Bác sĩ Hoàng lúc đó cũng xuất hiện, khuôn mặt vui vẻ, thốt lên: – Trường hợp này đúng là hết sức đặc biệt, kì lạ thật. – Ngoài kì lạ ra, anh còn thấy gì nữa không? – Phương hỏi lại. Hoàng chột dạ: – Ờ thì … tôi cũng không biết nữa … hay có khi là Phật cứu em cô thật nhỉ? Bà Yến ngồi bên cạnh, cũng nhanh nhảu chen lời: – Chả thế thì còn gì nữa, không thì làm sao có thể được như thế này, hả bác sĩ Hoàng đẹp trai ? Còn điều nữa, tuy Tú Anh không hẳn mắc chứng tự kỷ như những đứa bé ở Câu Lạc Bộ Hướng Dương, nhưng cũng là một người khá nhút nhát, chậm chạp, rụt rè, cô ít khi tiếp xúc với ai ngoài chị Phương. Thế nhưng mấy ngày nay, cô như vừa lột xác thành một con người mới, vui vẻ và tươi tắn, gương mặt rạng rỡ khác hẳn bình thường, mặc dù vẫn còn trong thời gian hậu phẫu. Chắc chắn tất cả đều nương vào sức tu tập Phật Pháp của hai chị em đã giúp Tú Anh tiêu trừ nghiệp chướng, hóa giải oán thù với các oan gia, giúp cô được thân tâm an lạc như hiện tại. Thậm chí kết quả cô đạt được còn nhanh chóng hơn nhiều trường hợp được kể lại trong cuốn sách “Bệnh viện trả về, Phật Pháp cứu sống”. Bà Yến cùng mấy người bệnh nằm cùng phòng lần lượt nhờ Phương thỉnh giùm sách để tu tập. Bác sĩ Hoàng thấy vậy, cười tươi trêu: – Có khi chúng tôi sắp đỡ mệt rồi, bệnh viện đỡ quá tải. Mô Phật. Tất cả mọi người có mặt trong phòng cười phá lên, các bệnh nhân kể từ khi vào đây nằm chưa bao giờ vui vẻ đến thế. Chẳng mấy chốc, Tú Anh được xuất viện, bắt đầu tiếp xúc nhiều hơn với xã hội, có thể tự mình làm được nhiều việc hơn, giảm đi phần nào sự vất vả cho chị gái. Còn cô giáo Phương có lẽ cũng có thêm cho mình một phương pháp hỗ trợ đám trẻ ở lớp học đặc biệt. Xuân vừa qua, thì hạ tới, nắng ngập tràn khắp nơi, bừng sáng khắp phố phường, len lỏi qua những song cửa ùa vào lớp học. Những đứa trẻ đã bắt đầu mở lòng hơn với cuộc sống nhờ tình yêu thương của cô giáo Phương. Bác sĩ Hoàng và những người bệnh cũng nhen nhóm niềm tin nơi Phật Pháp.   _Tĩnh Như_ (Truyện ngắn dựa trên một câu chuyện có thật xảy ra tại bệnh viện 103 Hà Nội năm 2023)

“THẤU HIỂU LUẬT VŨ TRỤ” – CUỐN SÁCH CÓ THỂ ĐẢO LỘN THẾ GIỚI QUAN CỦA BẠN

0
Sau nhiều năm trăn trở về những dấu hỏi lớn mà hầu như ai trong đời rồi cũng sẽ phải hỏi:
“Sống hết một kiếp người này thì có ý nghĩa gì?”
“Dòng đời rồi sẽ đưa ta đi về đâu?”
Tôi đã cất bước để đi tìm một câu trả lời thỏa đáng. Hành trình ấy không dễ dàng gì, thế giới này quá rộng lớn. Nó có quá nhiều thứ lóa mắt để đánh lạc hướng khiến cho hầu hết mọi người phải lạc đường. Có quá nhiều quan điểm khác nhau được nói lên bởi những nhà tư tưởng lớn, xong lại không hề thống nhất, mà lại mâu thuẫn nhau một cách gay gắt. Và tôi phải đích thân mình thực hành và trải nghiệm qua từng lý thuyết khác nhau khắp đông tây kim cổ, trả nhiều cái giá khác nhau để chắt lọc những gì tinh túy nhất, để vạch ra con đường chuẩn mực nhất cho cuộc đời mình.
Cuối cùng, tôi đã tìm ra.
Con đường ấy tuyệt vời ngoài sức mong đợi. Và không có lí do gì để tôi giữ lại cho riêng mình. Nếu như tôi cần một “con đường chuẩn mực, tối thượng” cho cuộc đời mình, thì hẳn ngoài kia, cũng có rất nhiều người cần một con đường như thế. Vậy nên, tôi viết cuốn sách “Thấu hiểu luật Vũ trụ” này, để cùng chia sẻ với mọi người, với những ai có cùng khao khát, cùng ước vọng giống như mình về một con đường như thế.
Hiện tại (12/2023), cuốn sách đang trong thời gian làm thủ tục xuất bản, và sẽ sớm ra mắt độc giả. Và nếu bạn tò mò về nội dung sách, thì Quang Tử xin được bật mí nội dung chương mở đầu. Mời mọi người cùng đọc và cho ý kiến nhận xét. Tác giả xin lắng nghe và tiếp nhận mọi lời góp ý cũng như “gạch đá” mà quý vị và các bạn ban tặng. 
__________________

CHƯƠNG 1 – THẾ GIỚI KHÔNG VẬN HÀNH THEO CÁCH BẠN NGHĨ

Sự thành công luôn là một thứ hấp dẫn đối với con người chúng ta. Mỗi một ngành nghề, một vị trí trong xã hội sẽ có một kiểu thành công khác nhau, nhưng tựu chung, trở thành một con người thành đạt, “công thành danh toại” luôn là mong ước của rất nhiều người trong chúng ta. Nó là động lực để từng người nỗ lực học tập, làm việc, tìm tòi, sáng tạo, khám phá, thậm chí là hi sinh bản thân để theo đuổi những giấc mơ.
Và trên con đường tìm kiếm sự thành công ấy, những bàn tay và khối óc của những con người tài năng đã làm thay đổi thế giới.
Bạn hãy nhìn xem.
Khi trời nóng, nếu như ngày xưa người ta chỉ có thể dùng quạt phe phẩy đến mỏi cả tay, thì nay chúng ta đã có máy lạnh, thoải mái nằm tận hưởng cái mát đến run cả người.
Khi cần đi xa ngàn dặm, nếu như ngày xưa người ta chỉ có thể cưỡi ngựa, đi xe ngựa mất hàng tháng trời, thì nay chúng ta đã có tàu siêu tốc, có máy bay, ung dung ngồi ghế chỉ vài tiếng là đến nơi.
Khi cần liên lạc với người thân, nếu như ngày xưa người ta phải viết thư tay và chờ hàng tuần, thậm chí hàng tháng mới nhận được thư, thì nay chúng ta có thể nói chuyện video call cả ngày với người thân ở cách nửa vòng Trái Đất, thật dễ dàng.
Còn vô số các công nghệ khác tinh vi và phức tạp hơn nữa đã ra đời và không ngừng được nâng cấp. Đó là chưa kể đến vô số những thành quả từ các lĩnh vực nghệ thuật, văn hóa, chính trị, y khoa, tâm lý .v.v… đem đến cho cuộc sống nhân loại biết bao nhiêu giá trị. Chúng được tạo ra từ những đôi tay tài hoa và khối óc thông minh của rất nhiều con người trải qua nhiều thế hệ, để cuộc sống này ngày càng tốt đẹp hơn.
Và như thế, phải chăng nỗ lực tìm kiếm sự thành công của nhiều người đã khiến cho cuộc sống của họ cũng như cả xã hội ngày càng leo lên những nấc thang mới, sung sướng hơn, hạnh phúc hơn ?
Nhìn vào những thành quả bày nhan nhản trước mắt chúng ta, câu trả lời có vẻ đúng là như vậy. Truyền thông, báo chí, những dòng sách phát triển bản thân self-help, và dường như là cả xã hội từ xưa đến nay không ngớt lời tung hô những con người đã đặt chân lên đỉnh cao thành đạt, khiến cho người người nôn nao, nhà nhà rạo rực muốn tham gia vào đại công cuộc tìm kiếm sự thành công.
Chính nhờ sự tung hô có hệ thống ấy, thành công đã trở thành mục tiêu chính trong đời của phần lớn nhân loại. Họ mặc định đây là chân lý và hiếm khi đặt ra những câu hỏi về tính đúng đắn của nó.
“Phải chăng cuộc sống của ta nếu không có thành công thì sẽ chẳng đáng sống?”
Không, thực ra vẫn luôn có rất nhiều người không theo đuổi thành công. Họ sống với những mục tiêu khác và vẫn hạnh phúc, sung sướng. Thế giới này rất phong phú, luôn có rất nhiều mục tiêu tuyệt vời khác đem đến cho con người những giá trị siêu việt hơn những gì sự thành công có thể mang lại. Lấy gì đảm bảo là ai hạnh phúc hơn ai ?
“Có thật cuộc sống của ta và thế giới này ngày càng tốt đẹp lên sau những sự thành công của ta ?”
Cũng không, mọi thứ đều có mặt trái của nó, sự phát triển kéo theo rất nhiều vấn nạn. Khoa học có thể chế tạo ra những máy móc tối tân trong ngành y phục vụ cứu người, thì cũng chính khoa học đã điều chế ra các loại ma túy đá, heroin tổng hợp, súng ống, bom đạn, vũ khí sinh học, hóa học, hạt nhân để giết hại hàng tỉ người.
Ngay tại những nước phát triển nhất thế giới, những vấn nạn xã hội vẫn nổi cộm lên nhức nhối và không sao giải quyết được. Để tôi điểm sơ qua nhé, ở Mỹ thì có nạn phân biệt chủng tộc, rồi nạn xả súng bừa bãi, đến mức trẻ em đi học phải mặc áo giáp chống đạn.
Ở Nhật Bản, Hàn Quốc thì có nạn tự tử. Mỗi năm trung bình có đến 15000 – 25000 người tự tìm đến cái chết. Và không chỉ mình Nhật, Hàn Quốc, các nước phát triển khác cũng có số người tự tử lên đến hàng vạn người mỗi năm. Bản năng của con người là “ham sống sợ chết”, vậy mà áp lực gì khiến họ không chịu nổi, thà tìm đến cái chết còn hơn tiếp tục sống như vậy ? Cuộc sống nếu sung sướng, hạnh phúc thì tại sao người ta lại phải làm thế ?
Cuộc chạy đua phát triển kinh tế, công nghệ như vũ bão giữa các quốc gia kéo theo sự tàn phá môi trường ở mức độ tương đương, và tác hại thì người dân khắp nơi lãnh đủ. Nào là biến đổi khí hậu với đủ tác hại như gia tăng thiên tai, bão lũ, hạn hán, nắng nóng, sa mạc hóa…Các thảm họa ngày càng tăng cấp khắc nghiệt hơn. Nào là bệnh tật gia tăng do tác hại của những chất hóa học độc hại đến từ các ngành công Nghiệp.
Dường như chúng ta đã quá vội vàng khi cho rằng cuộc sống của mỗi người cũng như của nhân loại đang ngày càng tốt đẹp hơn, mà quên mất có những sự thật vẫn ở đó và chứng minh điều ngược lại.
Tạm gác những đánh giá vĩ mô xa vời, ta hãy đến với góc nhìn cá nhân của từng người – cái này hẳn sẽ thiết thực và gần gũi hơn.
Điều gì xảy ra với mỗi người phía sau cuộc đua tới cái đích “thành công”?
Bạn đã từng hỏi: những người thành công, thành đạt, nổi tiếng, quyền lực trong mọi lĩnh vực, họ đã nỗ lực, họ đã đạt đến những đỉnh cao của thành công. Vậy sau khi thành công, thì rồi sao nữa ?
Chuyện gì xảy ra với ông vua giàu mỏ John Davison Rockefeller – huyền thoại tay trắng lập nên cơ đồ khổng lồ, người Mỹ giàu nhất mọi thời đại ? Rất tiếc, ông ta chết rồi.
Chuyện gì xảy ra với vua nhạc rock Elvis Preley và vua nhạc pop Micheal Jackson ? Họ chết rồi.
Chuyện gì xảy ra với ngôi sao võ thuật – người sáng lập môn võ Triệt Quyền Đạo – huyền thoại Lý Tiểu Long ? Ông ta chết rồi.
Chuyện gì xảy ra với tổng thống lỗi lạc nhất của nước Mỹ: Abraham Lincol ? Ông ta chết rồi.
Thế còn Napoleon Bonapas – niềm tự hào của nước Pháp? Ông ta đã chết.
Và Thành Cát Tư Hãn – niềm tự hào của người Mông Cổ, ông vua đã thôn tính và cai trị gần hết châu Âu và châu Á ? Ông ta cũng đã chết.
Còn ai nữa ? Còn huyền thoại nổi tiếng thành công trong bất kể những lĩnh vực nào trên thế gian này, bạn hãy cứ kể ra đi.
Và rồi câu trả lời của tôi sẽ không thay đổi đâu, nó đúng với mọi trường hợp. Họ chết cả rồi, 100% ! Chẳng ai còn sống mãi để tận hưởng cơ đồ mà họ vất vả tạo dựng.
Bạn có thể phản biện rằng, nhiều người vẫn còn đang sống. Không sao, thì chờ thêm một thời gian nữa, ngày họ được dán cáo phó ngoài cửa, câu trả lời của tôi sẽ lại đúng thôi. Và tỉ lệ chết là 100%, tất cả những người thành đạt, thành công, thành danh đều chết.
Điều đó có nghĩa lý gì ? Phải chăng tôi đang nói một điều rỗi hơi mà ai cũng biết “Ừ thì ai trên đời mà chẳng phải chết, trẻ con nó cũng biết mà.”
Đúng, điều đó quá hiển nhiên. Các quy luật vũ trụ thì vẫn hiển nhiên như vậy. Nhưng lại có vô số người không nhìn ra được, vì còn đang mải bận rộn với đủ loại toan tính bộn bề, đủ loại công chuyện bận bịu mà xã hội này bày ra. Họ suy tính đủ thứ phép tính cao siêu, đủ thứ nước cờ diệu ảo, lao vào những cuộc đua chen bất tận. Cả cuộc đời họ loay hoay, mệt mỏi, vật lộn đủ kiểu, để rồi nhận về một kết quả giống hệt nhau: Chết !
Xã hội này, người ta luôn kiêng khem, né tránh nhắc đến cái chết, bảo rằng “Nó là thứ xui xẻo, phải tránh xa”, rồi từ đó dần không nghĩ đến nó, lảng tránh nó từ trong tư tưởng đến hành động, cố sống như mình sẽ chẳng bao giờ đụng mặt nó.
Nhưng việc đó thì chẳng có tác dụng gì cả. Kiêng khem, né tránh kiểu gì thì cái chết vẫn tìm đến từng người, không để một ai thoát cả. Bạn thấy chứ, không hề có người bất tử trên đời. Cái chết đến, và nhẹ nhàng đem những toan tính, những công trình lao tâm khổ tứ cả đời của ta chôn vào lòng đất, tan biến dần vào quên lãng.
Vì bị lạc lối giữa mê cung các lý thuyết, phần lớn con người ta đời xưa hay đời nay cũng vậy, đã tiêu tốn sức lực, thời gian, tiền của, sinh mệnh của mình đầu tư vào những mục đích tưởng chừng to tát, ấy nhưng khi cái chết đến, chúng liền lộ rõ bản chất thật: vô nghĩa. Đến khi nhận ra mình đã chọn nhầm đường, thì rất tiếc, cũng là lúc phải lìa xa cuộc đời.
Liệu có gì chứng minh cho những điều trên ?
Có chứ ! Tôi sẽ lấy một tấm gương điển hình của thành công thời đại này, một người đã leo lên đến đỉnh của vinh quang: Steve Jobs. Xong thay vì quá tập trung vào cách ông ta làm thế nào để thành công, thì ta hãy nhìn vấn đề từ một góc nhìn khác: kết cục cuối cùng.
Sẽ hợp lý hơn, khôn ngoan hơn khi ta lắng nghe những lời cuối cùng của ông ta khi phải đối diện với cái chết. Phải rồi, dù là ai thì cũng vẫn luôn có cái ngày ấy, ngày mà tử thần gõ cửa. Khi ấy con người ta sẽ thành thật hơn, và có được một cái nhìn bao quát hơn.
Bạn biết Steve Jobs chứ ? Nếu chưa biết thì đó là người đàn ông đã gây dựng nên đế chế công nghệ Apple, đồng thời từng là chủ của hãng phim Pixar huyền thoại, được cả thế giới ca ngợi về tài năng, sự thành đạt, sự giàu có. Và đây là mấy dòng di thư của Steve Jobs, viết trong những ngày cuối cùng trước khi ông chết, khi căn bệnh ung thư buộc ông phải rời bỏ cuộc sống giàu có, vinh quang của mình:
“Tôi đã đạt đến tột đỉnh của thành công. Trong con mắt người khác, cuộc đời tôi là một biểu tượng của thành công. Tuy vậy phía sau của công việc tôi có rất ít niềm vui.
Tài sản của tôi cuối cùng cũng bình thường hoá với tôi. Trong lúc này trên giường bệnh viện, hồi tưởng về cuộc đời, những lời khen ngợi, tự cao, tự hào về tài sản, nhưng tôi cảm thấy chúng thật vô nghĩa trước cái chết.
Trong bóng tối, khi nhìn ánh đèn màu xanh và tiếng ồn ào của máy dưỡng khí, tôi cảm nghiệm được những hơi thở của tử thần rất gần kề. Bây giờ tôi mới hiểu thấu, nếu một lần bạn đã có tiền đủ cho cuộc đời của bạn, bạn hãy đeo đuổi một mục đích khác không liên quan đến tiền bạc. Nên tìm một điều gì quan trọng hơn…
Đừng làm nô lệ cho vật chất, giàu sang, vì nó sẽ biến bạn thành một người yếu ớt như tôi.”
Nếu như Jobs chưa phải một minh chứng đủ sức thuyết phục, vậy hãy xem và ngẫm nghĩ về một người này, dù đã qua đời rất lâu nhưng tiếng tăm của ông thì vẫn còn đến tận bây giờ, đủ thấy quy mô to lớn về sự thành công của ông ta hoành tráng như thế nào.
Về chính trị, ông được xem là vua của các vị vua, một đại đế cai trị một lãnh thổ khổng lồ từ châu Âu đến châu Á. Về tài năng, ông được xếp vào 1 trong 10 vị tướng giỏi nhất mọi thời đại, một kỳ tài quân sự ngàn năm hiếm thấy, về tài sản, kho báu vàng bạc của cải của ông đủ đè bẹp mọi tỉ phú mà bạn biết. Về tình trường, ông ấy cưới một loạt những công chúa xinh đẹp, quyến rũ và tài giỏi nhất thời bấy giờ. Đó là ai mà hoành tráng, sung sướng đến vậy ? Đó là Alexander Đại đế.
Alexander Đại đế (356 TCN – 323 TCN) một trong những vị vua nổi tiếng nhất lịch sử. Với bản tính thông minh, với tinh thần quả cảm, và cực kì sáng tạo, ông đã viết nên một bản hùng ca hoành tráng mà các ông vua khác từ cổ chí kim phải ghen tị, sử sách phải tốn không biết bao nhiêu giấy mực để viết về ông.
Đầu tiên ông được vua cha Philippos truyền ngôi, trở thành vua của Macedonia năm 336 TCN, một tiểu quốc trong liên minh xứ Hy Lạp. Cái ngôi vương ấy không đủ để ông thỏa mãn, nên ông đã dẫn quân đi chinh phạt các thành quốc khác cho đến khi dành chiến thắng tuyệt đối, thống nhất Hy Lạp lại thành một quốc gia mà ông là hoàng đế. Với nhiều ông vua, thành tựu được như thế đã là quá đủ, nhưng so với tham vọng của Alexander, nhiêu đó chưa nhằm nhò gì.
Ông củng cố, rèn luyện quân đội mình thành một đội quân “bách chiến bách thắng”, rồi kéo đi càn quét khắp nơi, chiếm được Ai Cập, trở thành một Pharaoh, rồi đánh bại cả Darius Đại Đế, mở rộng bờ cõi đến hết đế chế Ba Tư hùng mạnh. Trước ông, chưa ai bành trướng lãnh thổ lớn đến mức như vậy.
Khắp những nơi vó ngựa của ông chinh phạt, vàng bạc châu báu được gom về kho của ông nhiều đến mức khủng khiếp. Ông cũng không quên thu nạp những cô gái tuyệt đẹp nhất, duyên dáng nhất các xứ xở về làm thê thiếp cho mình. Bàn tay ông đã thâu tóm được tột đỉnh của vinh quang cùng với đủ thứ sung sướng đời người.
Sau tất cả những năm tháng huy hoàng, ông cũng đến lúc đối diện với cái chết. Rất thông minh, ông ta nhận ra cái gì đó không đúng. Rồi ông suy xét lại cả cuộc đời mình trong nhiều ngày, và ngộ ra một bài học, một bài học quá thấm thía. Tiếc là khi ông hiểu ra bài học này, thì vốn thời gian của ông cũng đã cạn kiệt rồi, không thể áp dụng cho mình được nữa. Ông quyết định, phải truyền lại cho hậu thế, bằng mọi giá phải làm cho nhân loại hiểu được bài học quý báu này.
Trong giây phút cảm nhận được cái chết đang bủa vây lấy mình, Alexander đã cho gọi quần thần lại và tuyên bố di ngôn:
– Trước khi chết, ta có 3 điều muốn các ngươi thực hiện, nhất định không được trái ý. Cụ thể, ba điều đó như sau: Điều thứ nhất: Trong đám tang ta, lệnh cho các ngự y giỏi nhất thế gian khiêng quan tài của ta ra huyệt. Điều thứ hai: Đem hết vàng bạc, châu báu, ngọc ngà mà cả đời ta đã vơ vét được, đang tích trữ trong kho, hãy đem rải ra đất suốt dọc con đường dẫn ra nghĩa địa. Điều thứ ba: Hãy hé mở nắp quan tài, đặt bàn tay của ta thò ra bên ngoài, để tất cả đều nhìn thấy được.
Nghe xong ba điều di ngôn kì quặc ấy, quần thần của Alexander đều vô cùng kinh ngạc, cho rằng hoàng đế của mình đã không còn tỉnh táo. Alexander lấy sức thở một hơi dài, đoạn nhìn tất cả một lượt và nói:
– Sở dĩ ta yêu cầu các ngươi làm điều đó là muốn nhắn nhủ với con người thế gian 3 điều này:
Thứ nhất, ta có quyền lực mạnh nhất thế gian, sai xử tất cả thần dân, kể cả những thầy thuốc giỏi nhất, muốn thuốc gì cũng có thể có được, nhưng dù cho thế đi nữa, thì ta vẫn chết, điều này không thể thay đổi được. Sai các thần y giỏi nhất khiêng quan tài của ta, là để mọi người hiểu ra điều này.
Thứ hai, ta cả đời chinh phạt, thu gom được rất nhiều báu vật, khối tài sản của ta lớn nhất thế gian, kho báu của ta không ai so được, nhưng khi đối diện với cái chết, chúng vô nghĩa, ta vẫn phải bỏ chúng lại trên mặt đất, chứ không cách nào mang theo được. Sai rải vàng ngọc trên đường, là để cho thế nhân thấy rõ. Ta tài giỏi như thế còn không mang theo được, vậy thì mọi người nghĩ mình có thể mang theo được sao ?
Thứ ba, khi ta đến với cuộc đời này, chỉ có hai bàn tay trắng. Khi ta rời khỏi thế gian, vẫn trắng hai bàn tay. Chẳng thể cầm theo được gì cả, quy luật luôn là thế, ta là đại đế – vua của các vua thì cũng vậy mà thôi. Để bàn tay ta phơi ra khỏi nắp quan tài, là để mọi người có thể thấy điều ấy.
Và rồi ông nhắm mắt.
�]�
Alexander là đại diện không thể hoàn hảo hơn cho mục tiêu sống “Càng có được nhiều tức là càng hạnh phúc nhiều”. Bất luận ở trong nền văn hóa nào, ở xứ sở nào trên khắp thế giới, từ xưa đến nay, đại đa số nhân loại vẫn chọn mục tiêu này làm lẽ sống cho mình, đơn giản vì nó quá thực tế. Thậm chí mục tiêu này còn không cần ai dạy, nó tự cài đặt sẵn trong bản năng của mỗi người rồi, cứ sinh ra là có sẵn. Càng trưởng thành thì nó càng tiến hóa lên phức tạp hơn mà thôi.
Chẳng phải nhiều tiền bạc hơn thì cuộc sống sẽ thoải mái hơn sao ? Chẳng phải sở hữu nhiều quyền lực, danh tiếng, địa vị, mỹ nhân .v.v… thì ai cũng thấy sung sướng hơn sao ? Chẳng phải cả thế gian từ cổ chí kim con người vẫn không ngừng tìm đủ mọi cách từ ôn hòa đến đẫm máu để theo đuổi mục tiêu này sao ?
Đúng là như thế, hầu hết nhân loại chọn mục tiêu này. Nhưng bạn có thấy không, hầu hết mọi người đều có rất nhiều đau khổ. Rất hiếm người nhìn ra được mối liên hệ này.
Ban đầu người ta chưa có, họ đau khổ, họ cho rằng khi có được rồi, đau khổ sẽ hết. Họ nỗ lực bằng nhiều cách để đạt được, xong đến khi đạt được như mong muốn ban đầu rồi. Một cái khổ khác lại xuất hiện, buộc họ phải nỗ lực nhiều hơn để có nhiều hơn. Vậy là ở bất cứ giai đoạn nào, đau khổ vẫn luôn tồn tại.
Người nghèo có nỗi khổ của nghèo, người giàu có nỗi khổ của giầu, người chưa đạt được có cái khổ của họ, người đạt được rồi thì cuộc sống sẽ mọc ra những cái khổ khác. Sự thật này không hề bị giấu diếm, thậm chí nó được phơi bày một cách công khai, rõ ràng, được viết lại thành những câu chuyện, giống như chuyện “Ông lão đánh cá và con cá vàng”. Người ta cũng đọc đấy, nhưng thường sẽ nghĩ là chuyện của ai khác chứ không phải chính mình.
Nếu là một anh lính, anh ta sẽ nghĩ “Chắc lên làm tướng lĩnh, ta sẽ thấy hạnh phúc”. Nếu là một tướng lĩnh, anh ta lại cho rằng “Khi nào lên làm vua, ta mới hạnh phúc”. Còn một ông vua, thì lại thấy rằng “Phải thôn tính được những quốc gia xung quanh, ta mới kê cao gối mà tận hưởng hạnh phúc được”. Ai nấy nhìn quanh, và thấy mọi người quanh mình cũng đều lao theo con đường này một cách rất nhiệt tình, và càng tin chắc “Phải là một con đường đúng đắn, thì nhiều người mới lao theo như vậy”.
Vì cứ chăm chăm tin theo những ý nghĩ được thôi thúc từ lòng tham bất tận ấy, ai ai cũng cực kì bận bịu. Không còn thời gian, tâm sức đâu để nhìn lại.
Còn Alexander, ông đã chiếm xong hầu hết mọi thứ, ông đã đi đến hết con đường này, mới phát hiện ra: chẳng có kho báu hạnh phúc nào chờ ở cuối con đường cả. Rất nhiều thứ đã phát sinh mà ban đầu ông ta không tính ra được khi chiếm được những thứ cả thế gian thèm muốn lại như thế.
Những vương quốc ông xâm lược được thì không ngừng có các cuộc nổi dậy, ông phải mệt mỏi chỉ huy quân đội đàn áp liên tục.
Các cuộc chiến liên miên nhiều năm không dứt mà ông ta phát động khiến cho những chiến hữu từ tướng lĩnh đến binh sĩ đã vào sinh ra tử với ông cảm thấy kiệt sức, chán ngán tột cùng. Họ quay sang oán trách và chống đối ông. Mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm khi tự tay ông đã đâm chết một trong những người bạn thân nhất của mình, điều đó trở thành nỗi đau đớn day dứt ông cho đến lúc chết.
Các bà vợ xinh đẹp của ông thì không ngừng ghen tuông, bày mưu tính kế hãm hại nhau. Khiến cho gia đình – đáng lí là một nơi êm ấm để trở về lại thành một chiến trường thứ hai mà ông không biết chiến đấu như thế nào, nên thường tìm cách trốn ra ngoài chứ không dám về cung.
Vàng bạc châu báu quá nhiều, ông lại không có thời gian nhòm ngó đến chúng vì còn phải lo xử lý đủ thứ chuyện phát sinh khác, chỉ biết giao cho quan giữ kho quản lý, thế rồi lại phát sinh chuyện thâm hụt, các viên quan đổ lỗi cho nhau, rồi kiện tụng, đấu đá, bỏ tù nhau về vấn đề kiểm toán. Alexander lại phải căng não ra để phân xử việc này.
Quan sát tình hình một cách toàn diện, ông nhận ra, chỉ cần mình chết, thì tất cả những thứ ông gây dựng được sẽ sụp đổ, những người từng kề vai sát cánh sẽ trở mặt, quay sang chém giết nhau để tranh giành đủ thứ, từ ngôi vua đến lãnh thổ, từ châu báu cho đến mỹ nhân… Vậy làm như thế nào để không phải chết đây ? Ồ, không hề tồn tại một cách nào như vậy !
Quái lạ, hễ chiếm thêm được cái gì, y như rằng chính cái đó lại trở thành một vấn nạn mới đè nặng lên ông, khiến ông vất vả, khổ sở hơn, mà khi chưa sở hữu chúng, ông không hề phải chịu những thứ đó. Tột đỉnh vinh quang và bá chủ thế giới lại cũng chính là một gánh nặng ngàn cân đè lên tâm trí ông. Quá mệt mỏi, buộc ông phải suy nghĩ lại.
Chỉ đến khi cuối đời, khi bàn tay ông đã chiếm hữu được vô số thứ mà cả thế gian vẫn luôn thèm khát, xong lại thấy trong tâm mình vẫn đầy những nỗi dày vò, khổ sở. Nghiêm túc nhìn lại một cách thẳng thắn và kĩ lưỡng, ông mới ngậm ngùi phát hiện ra mục tiêu bấy lâu mình theo đuổi, nó đã sai.
Thế giới này vận hành theo những quy luật khác với những gì ông tưởng tượng. Nhiều khi ngồi trên ngai vàng, ông cho rằng mình nắm vận mệnh của chính mình cũng như vô số thần dân trong tay. Nhưng hóa ra vận mệnh của ông nằm gọn trong sự chi phối của các Quy luật vũ trụ, giống như các quân cờ nằm gọn trong tay người chơi cờ, ông chỉ là may mắn được làm quân vua trong khi những người khác làm quân tốt, quân xe mà thôi.
Cái chết giúp ông tỉnh ngộ ra rất nhiều. Song cái chết cũng chỉ là một trong rất nhiều quy luật khác của vũ trụ này mà thôi. Còn rất nhiều những quy luật khác quan trọng hơn, kỳ diệu hơn được vũ trụ giấu kín. Chúng âm thầm và lặng lẽ, chẳng có một tờ báo hay hãng truyền thông nào lăng xê cả, nên ít người chú ý và tìm hiểu, nhưng chúng lại mang sức mạnh khủng khiếp, điều khiển mọi sự việc lớn nhỏ, dựng lên và phá hủy mọi công trình, thành quả trên thế giới này.
Con người quá nhỏ bé khi đứng trước sức mạnh của Vũ trụ. Nếu không hiểu cách mà vũ trụ này vận hành, thì việc cuộc đời ta bị nghiền nát trong đau khổ bởi các quy luật là điều khó tránh khỏi.
Còn ngược lại, nếu nắm vững các quy luật, hiểu được cách vũ trụ này vận hành, bạn có thể nương theo sức mạnh của các quy luật ấy để đạt được những gì mong muốn, giống như những thủy thủ lão luyện, nương theo sức gió mà giong buồm đi khắp nơi trong đại dương. Và hơn thế nữa, bạn có thể làm chủ được chính mình, sắp xếp lại vận mệnh của chính mình.
Và nếu bạn đã bắt đầu tò mò muốn tìm hiểu về những quy luật ấy. Thì từng chương trong cuốn sách này sẽ từ từ đào xới, khai quật và làm sáng tỏ từng quy luật quan trọng theo một trình tự tăng dần, từ dễ đến khó.
Không chỉ có thế, “Thấu hiểu luật vũ trụ” sẽ trải ra một tấm bản đồ, để bạn có được một tầm nhìn bao quát tổng thể xuyên suốt không gian và thời gian. Từ đó bạn có thể vạch ra một hướng đi sáng suốt, để không sống uổng phí một kiếp người, không phải tiếc nuối như Steve Jobs, Alexander hay bất cứ một người sống lạc lối nào khác đã phải nuối tiếc vì đã không hiểu rõ sớm hơn.
(Trích sách “Thấu hiểu luật Vũ trụ” – Quang Tử)
_______________
Nếu như nội dung của chương 1 này đã khiến bạn háo hức và muốn trở thành một trong những người đầu tiên có được cuốn sách “Thấu hiểu luật Vũ trụ” ngay khi nó vừa xuất bản. Bạn có thể đặt trước sách bằng cách nhắn tin zalo cho Quang Tử qua số zalo 0349248250 với nội dung “Tôi muốn đặt trước sách Thấu hiểu luật Vũ trụ”

KHI MỚI TU MÀ NGƯỜI XUNG QUANH CHỐNG ĐỐI

Hỏi: – Em mới bắt đầu tìm hiểu và thực hành theo Phật Pháp được một thời gian. Nhưng những người trong gia đình và xung quanh thường nói nặng nói nhẹ, vặn vẹo rồi phản bác đủ kiểu, có khi còn chửi em như tát nước vào mặt, bắt em phải từ bỏ việc tu học khiến em rất khổ sở. Xin anh cho em lời khuyên. Quang Tử: – Bạn thân mến. Cũng giống như bạn, tôi cũng từng đã trải qua một thời kỳ mà cuộc sống đầy những xung đột khi mới tìm đến đạo Phật. Khi ấy, tôi cảm thấy rất chông chênh giữa một bên là lý tưởng đẹp đẽ, sáng suốt nhưng vô hình của những lời Phật dạy, với một bên là hiện thực trần trụi, thực dụng, với những tư tưởng méo mó nhưng đầy gay gắt, quyết liệt, sát sườn ngay bên cạnh của người thân, xã hội. Thật không hề dễ dàng gì mà có thể giữ vững lập trường để thực hành lời Phật dạy trong cuộc sống khi mà chỉ có một thân một mình đơn độc, không có ai đồng hành. Đạo thì đầy ánh sáng tuyệt diệu, nhưng chỉ sáng trong tâm trí của riêng mình thôi, chứ có tí ánh sáng nào trong tâm trí những người kia đâu. Mà phần lớn thời gian trong ngày, thì mình vẫn phải tiếp xúc, phải qua lại, làm việc và sống cùng những con người ấy. Họ có thể không đúng, lời họ nói đầy lỗi ngụy biện và thiếu thuyết phục, ấy nhưng họ thường rất mạnh mẽ, đầy nhiệt huyết, hễ nói ra cái gì là nói rất gay gắt, và trong nhiều trường hợp, họ lại chiếm số đông. Một số Phật tử có bản lĩnh có thể thuyết phục được mọi người xung quanh cùng hướng theo mình. Điều đó rất tốt, xong cũng rất khó, không phải ai cũng làm được. Ở đây Quang Tử sẽ chỉ bàn tới những trường hợp bị xung quanh áp đảo. Và nếu bạn ở trong hoàn cảnh này, bạn sẽ hiểu. Khi mới tu học, thì bản thân mình cũng đâu có đủ hiểu biết, kiến thức rộng rãi, lí luận sắc sảo để có thể đối đáp trôi chảy với những màn “hỏi xoáy đáp xoay” của những người xung quanh về sự khác biệt của mình. Nên dù biết mình đi đúng đường, vẫn thường bị “quần hùng áp đảo” và phải chọn cách im lặng, xem như mình đang tu nhẫn nhục vậy. Quả là một áp lực rất lớn với một người mới bước chân vào con đường tu học, đạo tâm còn non nớt. Những lúc này, nếu như bạn có được những người bạn Đạo, những đồng tu tốt làm điểm tựa thì quả là rất tuyệt. Nhưng nếu không có thì sao ? Thế thì ĐẠO LÝ và Ý CHÍ sẽ phải là điểm tựa của bạn. Đạo của Như Lai không phải là một lý thuyết đọc cho vui, cũng chẳng phải là niềm tin để an ủi tinh thần mà chẳng có gì làm căn cứ. Đó là những quy luật bất diệt của vũ trụ này, và vạn vật đều phải tuân theo những quy luật ấy, không khác được. Thế nên Phật Pháp đầy đủ vô số các bằng chứng làm căn cứ, đầy đủ lý lẽ sắc bén và logic để khiến cho thiên tài khoa học Albert Einstein phải ngả mũ thán phục và đưa ra tuyên bố: “Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng những nhu cầu của khoa học hiện đại, thì đó là Phật Giáo. Phật Giáo không đòi hỏi phải xét lại mình để cập nhật với những khám phá gần đây của khoa học. Phật Giáo không cần từ bỏ quan điểm của mình để đi theo khoa học, vì Phật Giáo bao gồm khoa học cũng như vượt qua cả khoa học.” _ Albert Einstein_ Đối với Đạo, bạn không được để mình lơ mơ, cái gì cũng “nghe người ta nói” mà chẳng rõ ràng cái gì. Bạn phải cố chủ động đọc kinh điển cho thật kỹ, nắm giáo lý cho thật chắc chắn, suy xét tư duy, đối chiếu thực tế cho thật thông tỏ. Rồi thì thời gian sẽ trả lời cho tất cả. Những người sống ngược với quy luật Nhân quả nghiệp báo, thì hiện tại họ có thể rất mạnh miệng, nhưng rồi thời gian sẽ trả về cho họ những kết quả khủng khiếp. Họ làm thì họ chịu, ta không hùa theo, thì không phải chịu những quả báo như họ. Còn nếu ta hùa theo, sống theo ý họ muốn mà tạo nghiệp, thì sau này khi quả báo đổ xuống đầu ta, họ có chịu thay cho ta không? KHÔNG ! Hãy nhớ điều này. Không ai, bất kể là người thân hay bè bạn, đồng nghiệp… không ai đưa đầu chịu hậu quả thay cho ta đâu. Còn nếu ta sống thuận với lẽ Đạo, nỗ lực giữ giới, siêng năng hành thiện, tinh tấn tu tập, thì hiện tại có thể gặp đầy những khó khăn, bất lợi, chống đối từ gia đình, họ hàng, nơi làm việc, xã hội… nhưng tương lai đứng về phía ta với những phước báo vượt trội, những thành tựu lớn lao. Hãy tự hỏi, khi phước báo và những thành tựu vi diệu đến, chính ta hưởng chứ ai hưởng thay ta đâu? Những người mỉa mai, chống đối ngoài kia có ban cho ta những điều này không? KHÔNG. Hạnh phúc của ta thì ta phải tự quyết định, phải tự cố gắng mà lo xây đắp, gìn giữ lấy. Sao có thể trông chờ vào mọi người xung quanh rồi để cho ý kiến khen chê của miệng lưỡi thế gian quyết định thay được. Hãy trông chờ vào Ý CHÍ của chính mình. Tu  là hành trình lội ngược dòng đời để trở về với Đạo. Đã là lội ngược dòng, thì ta không thể hi vọng ngay lập tức có được những cái thoải mái, dễ dàng, sung sướng, phủ phê, với những màn vỗ tay tán thưởng hay thảm đỏ mà người đời trải sẵn cho ta khi ta sống đúng với Đạo. Không có chuyện đó đâu. Ta đang sống giữa dòng đời, mà đời thì nghiệt ngã lắm, và nó có vẻ rất không muốn ta thoát khỏi bàn tay kiểm soát của nó. Người ta có thể hút thuốc lá nhả khói mù mịt ngày này qua tháng khác, khiến những người không hút thuốc xung quanh khó chịu, tăng nguy cơ ung thư phổi, xong thường mọi người cũng chỉ lắc đầu bỏ qua. Người ta có thể hát hò karaoke đinh tai nhức óc cả làng cả xóm, nhưng thường thì chẳng ai bảo sao. Người ta có thể kéo cả hội ăn nhậu bê tha, say khướt rồi cãi cọ, chửi bới, đánh lộn ầm ĩ, ảnh hưởng rất nhiều đến xung quanh, xong nếu không đến chấn thương mức nghiêm trọng hay thành án mạng, thì thường cũng không ai ý kiến gì. Ấy nhưng nếu gặp ai ăn chay, giữ giới, sống theo lời Phật dạy, vốn chẳng ảnh hưởng gì đến ai, thì y như rằng sẽ có kha khá người nhảy vào nói móc nói mỉa, bàn ra bàn vào, phản đối từ nhẹ nhàng đến quyết liệt, chê bai là đồ mê tín, rồi kỳ thị các kiểu. Nếu thẳng thắn hỏi họ: việc ăn chay giữ giới của đệ tử Phật thì ảnh hưởng gì đến họ ? Chắc chắn họ không trả lời được. Chẳng có cái lý nào đứng về họ cả, từ pháp luật cho đến văn hóa, từ cơ sở lý luận logic cho đến truyền thống dân tộc. Nhưng mà họ thích chống thì họ cứ chống thôi. Đời vốn đầy sự vô lý như vậy mà. Và khi đã đi lội ngược dòng đời, ta phải xác định tư tưởng là sẽ phải đối mặt với cái hiện thực vô lý ấy. Đi xuôi dòng luôn dễ dàng, thuận lợi, nhưng càng đi càng xuống thấp. Đi ngược dòng thì luôn khó khăn, khổ nhọc, nhưng càng đi càng lên cao. Cái gì cũng có cái giá của nó. Và lựa chọn như thế nào là việc của bạn, không ai làm thay cũng như nhận kết quả thay bạn được đâu. Điều an ủi là mọi thứ đều vô thường, không gì là còn mãi. Những sự chống đối, đả kích, dè bỉu của mọi người với sự khác biệt của người tu hành không kéo dài mãi. Khi ta cứ kiên định với con đường của ta, mặc kệ mọi người nói ngả nói nghiêng, thì sau một thời gian, họ nói chán rồi họ mệt, họ sẽ thôi. Vốn không làm tổn hại gì đến ai, thậm chí ngược lại, một người tu hành theo Phật chuẩn mực thì sẽ luôn ảnh hưởng tích cực đến xung quanh, chẳng có động cơ gì để người ta chống đối mãi. Thấy quen mắt rồi thì họ sẽ chấp nhận việc tu hành của ta là một điều bình thường. Thời gian thì vẫn cứ trôi. Còn ta thì vẫn cứ tu. Thế thì rồi cũng đến ngày ta hưởng được trái ngọt. Phần thưởng của Đạo, sự an nhiên, sáng suốt, cuộc sống viên mãn, vãng sinh, thành Đạo… thường đến chậm, có khi rất chậm, qua nhiều năm, nhiều kiếp. Vì là kết tinh của những năm tháng dài miệt mài tu học, vất vả thực hành, kiêng khem giữ gìn giới luật… nên khi quả ngọt đến, nó sẽ ở lại rất lâu trong ta, có thể là phước báo nhân thiên từ kiếp này sang kiếp khác, có thể còn khổng lồ hơn thế, khi thành tựu vãng sinh hay đắc Đạo. Khi ấy, hạnh phúc của Đạo sẽ vượt xa, vô cùng xa so với những vui thú chóng nở sớm tàn của trò vui thế gian. Nhưng cái gì cũng có cái giá của nó, thành quả của Đạo đòi hỏi sự kiên trì, đòi hỏi nỗ lực một cách bền bỉ trong thời gian dài tuân thủ, thực hành đúng theo lời Phật dạy. Và sự kiên trì, nỗ lực ấy thì nằm ở trong tay bạn. Bạn muốn thả xuôi theo đời hay lội ngược dòng về với Đạo ? Hãy suy nghĩ kỹ và quyết định, tương lai nằm trong tay bạn. (Quang Tử)