QUẢ BÁO BẤT KÍNH – PHÁ HỦY TƯỢNG PHẬT

( Phúc Diệu ) Câu chuyện xảy ra vào khoảng rằm tháng 7 năm 2014, tại tịnh xá Liên Hoa, quận 11 – tp. Hồ Chí Minh, tôi đang ngồi tụng kinh cùng sư phụ. Bỗng có 2 vợ chồng ẵm một đứa nhỏ, tay chân quặt quẹo khoảng 6 tuổi, mặt mũi ngô nghê . Mẹ của bé quỳ xuống bàn thờ Phật và thưa với sư phụ: – Con không biết làm lỗi gì mà sanh phải một đứa con trai quanh năm nó không cười, không khóc, nằm im một chỗ. Mọi sinh hoạt hằng ngày đều do con làm hết. Ba nó thì đi làm lo cho 2 mẹ con. Cuộc sống gia đình chúng con khổ không sao tả hết! Sư phụ tôi kêu ẳm bé tới gần sư phụ. Tự nhiên nó khóc thét lên. Khóc như chưa bao giờ được khóc. Ba mẹ nó ngạc nhiên vì từ trước tới giờ nó chưa hề khóc hay cười một tiếng. Sư phụ mới nói rằng : – Đứa bé này kiếp trước là quân lính. Nghe lệnh vua đốt chùa, đốt kinh đập phá tượng Phật, bắt sư hoàn tục. Nên kiếp này phải bị như vậy. Không có trí tuệ và phải nằm một chỗ. Lúc đó tôi mới hỏi thầy: – Tại sao phải bị như vậy vì nếu không nghe lời vua sẽ bị chém chết? Đáng lẽ ông vua đó bị tội thôi. Người lính ngày xưa có câu “Quân xử thần tử. Thần bất tử bất trung” mà sư phụ, sao người lính cũng bị cộng nghiệp luôn? Sư phụ mới giải thích cho tôi như vầy : – Này Phúc Diệu, giả như con đi chợ. Con mua cá nhưng con sợ tội sát sanh. Con nhờ người bán cá làm cá dùm. Người bán cá cũng biết đập đầu con cá là mang tội. Nhưng vì cái nghề kiếm tiền để nuôi bản thân và gia đình nên họ phải làm chứ họ cũng sợ lắm. Cũng giống như anh lính đi lính được vua trả lương nghe theo lời vua làm chuyện có tội thì cộng nghiệp chung. Giống như người ăn cá và người làm cá đều bị tội hết. Sau đó sư phụ nói với ba mẹ đứa bé : – Hai vị từ nay hãy ăn chay, làm phước tụng kinh hồi hướng công đức cho đứa bé này để cho nghiệp của nó tiêu bớt, bệnh tật cũng sẽ từ đây mà tiêu trừ. Đứa bé bỗng nín khóc. Ba mẹ đứa bé chắp tay cung kính, tin nhận lời sư phụ. Nhân đây sư phụ cũng có lời khuyên đệ tử khi đến các ngôi chùa, không được tự ý lấy những vật trong chùa dù nhỏ nhất. Khi được chùa mời dùng cơm, ăn xong mình cúng dường lại tiền ít cũng được. Không leo trèo lên cây hay ngồi lên tượng Phật, thấy chùa có rác hay dơ chỗ nào thì mình cầm chổi quét, công đức vô lượng. —————————– Bất kính Tam Bảo , phá hủy kinh tượng Phật là những trọng tội phải đọa địa ngục lâu xa, hành hình liên tục không gián đoạn, như trong chuyện trên, bị tàn tật, không trí tuệ ở cõi người chỉ là hoa báo, quả báo chắc chắn sẽ ở trong địa ngục chịu muôn vàn thống khổ . Nguyện cho những ai đã từng phạm phải sai lầm này có thể hồi đầu sám hối. Những người chưa từng gây lỗi, đọc được bài viết này có thể nhân cơ hội mà tránh không phạm vào những ác nghiệp như thế này. Câu chuyện trên đề cập đến tội ác tiền kiếp của người con, nhưng cha mẹ đứa bé hàng ngày phải cực nhọc, khổ tâm khi nuôi nấng đứa bé này thì cũng không phải là không có nguyên nhân . Phước đức và nghiệp chướng của một người có thể ảnh hưởng tới những người xung quanh ( gồm cả ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu lẫn cả những người sống gần ta như hàng xóm, đồng nghiệp…) Có những cách ảnh hưởng như sau : 1. “Đồng thanh tương ứng” : ông bà cha mẹ tạo phước đức, thì nhân quả sắp xếp cho họ sinh ra những người con, cháu đã tạo phước trong quá khứ, khi sinh ra chúng được sung sướng ,vinh hiển. Phước đó tự chúng đã tạo trong qúa khứ, còn ông bà cha mẹ do cũng có phước nên sinh ra con cháu vinh hiển để được hưởng tiếng thơm… Ngược lại ông bà cha mẹ tạo ác nghiệp cũng tương tự như thế, sẽ chiêu cảm sinh ra những người con cháu cũng từng gây nghiệp từ các kiếp xưa, nay đến lúc chịu quả báo. Mỗi người tự chịu những gì mình đã tạo, do nghiệp quả tương đồng nên sinh chung vào một gia đình, một tập thể. 2. Các vị đã tạo công đức tái sinh lại làm cháu chắt của chính mình để hưởng phước. Làm ác thì ngược lại, nay sinh ra với thân phận con cháu, và chịu nghiệp khi xưa đã gây ra. Người không biết thì cho rằng cha ông làm, con cháu chịu, xong thực ra cũng chính là một người , chỉ là đầu thai với thân phận khác thôi. 3. “Cùng nhau làm, cùng nhau hưởng”. Do từ kiếp xa xưa, ông bà cha mẹ và con cháu cùng nhau làm phước, hoặc cùng nhau gây tội lỗi, nên nay sinh ra trong cùng một gia đình, chung nhau thọ nhận phước báo hoặc quả báo. Hoặc khi xưa một người khuyên nhủ, xui khiến, một người nghe theo mà làm, nay người trực tiếp làm khi xưa sẽ trực tiếp hưởng phước báo, hay nhận quả báo. Còn người khuyên nhủ, xui khiến sẽ sinh làm ông bà cha mẹ, thân quyến. Hoặc một người làm tội cho mọi người cùng hưởng ( như một người đi săn về cho cả nhà cùng ăn, một người làm đồ tể lấy tiền nuôi cả nhà.v.v…) thì kiếp sau cùng sinh về một nơi, cùng chung chịu quả báo. 3. ” Chiêu cảm tội phước” : người có phước lớn hoặc nghiệp nặng có thể chiêu cảm khiến cho phước hoặc nghiệp xấu của những người xung quanh trổ ra khi họ xuất hiện. Như một người cha làm việc ác quá lớn, sau đó một thời gian con anh ta bị tai nạn chết. Đáng lí đứa con phải 2 kiếp sau mới bị tai nạn chết, nhưng nay quả báo ấy trổ ra luôn ở hiện tại ( thực ra phước hay tội tiềm ẩn của mỗi người đều rất nhiều, đứa con đâu có thiếu gì nghiệp ăn mặn, sát sinh từ vô lượng kiếp qua ) Hay một người chồng do phước báo lớn nên chắc chắn lấy được vợ đẹp, nhưng khi lấy vợ anh ta lại chọn 1 người nhan sắc bình thường, không đẹp, một thời gian sau, dung mạo của người vợ sẽ thay đổi, trở nên xinh đẹp, đó là do phước của người vợ, có điều đáng lí phải 3 kiếp sau cô ta mới đẹp được như thế, nhưng do phước của chồng chiêu cảm khiến phước của cô ta trổ ra sớm. Có một số người rất đặc biệt, đi tới đâu là mọi người xung quanh xui xẻo đến đó , cũng do nguyên lí này. 4. ” Bình thông nhau” , do có duyên sâu nặng và nợ nần với cha mẹ, con cái có thể chịu tội thay cho cha mẹ, sự chịu tội này coi như trả xong món nợ với cha mẹ. Thường thì ta sẽ gặp trường hợp ngược lại, là do cha mẹ có nợ với con cái, nên phước của cha mẹ con cái hưởng ( của thừa kể ) đây coi như trả nợ. Các chúng sinh có duyên nợ sâu đậm với nhau cũng tương tự như vậy.

SỞN GAI ỐC CHUYỆN THAI NHI BÁO THÙ CHO MẸ

– Chị hỏi thật mày, đi phụ đám tang nhiều như vậy, thấy ma bao giờ chưa? Bất chợt chị Nhung nhìn thẳng vào mắt tôi và hỏi. Nãy giờ ngồi trong quán, hai chị em tám dóc nhăng cuội, tự dưng chị đổi đề tài. Vốn nhóm chúng tôi hay tham gia những việc thiện nguyện, phụ giúp những gia đình neo đơn có người thân qua đời không lo nổi ma chay, nghe chị hỏi tôi đáp luôn: – Em mong còn không gặp đây, người ta có về, thì về gặp người thân của họ, chứ gặp em làm gì? Vừa phì phèo điếu thuốc, chị hỏi tiếp: – Vậy mày có tin là có ma không? – Tin chứ, chả có gì là không thể cả! Chị nhấp một ngụm cà phê, rít thêm một hơi thuốc, có vẻ để lấy thêm tinh thần, rồi chị hạ giọng nói với tôi: – Để chị kể chuyện cuộc đời chị cho mày nghe. Nó là vết sẹo lúc nào cũng đau đớn, nhức nhối trong lòng chị. Chị Nhung lớn hơn tôi 7-8 tuổi, đến giờ vẫn cô đơn lẻ bóng, nghe nhóm đi từ thiện ở đâu là hăng hái đi liền. Còn thì tôi nhỏ nhất trong nhóm thiện nguyện, đa số là các cô, các chú đã lớn tuổi, thêm mấy anh chị cũng đều lớn hơn tôi. Vì chung một nhóm, bao nhiêu lần đi làm từ thiện với nhau, nên tôi quen biết chị, rồi ngày càng thân nhau hơn, như là chị em trong nhà vậy. Chị bắt đầu kể: – Đời chị là một chuỗi đau khổ nối đuôi nhau em ạ. Có lẽ chị được sinh ra kiếp này là để trả nghiệp, đền tội cho quả báo kiếp trước vậy. Gia đình chị người Việt gốc Hoa, sau năm 1975, khi chị mới sinh ra được mấy tháng, thì ba mẹ chị đi vượt biên. Gửi chị cho một bà dì họ, hàng tháng ba mẹ gửi tiền về cho bà dì nuôi chị. Chị không biết ba mẹ gửi về bao nhiêu, nhưng chị sống chị rất khổ, ngày ngày đều là cơm chan nước mắt. Gia đình họ, người này thay phiên người kia mắng chửi, đánh đập chị mỗi lúc họ buồn, họ hết tiền. Chị biết thân biết phận nên rất ngoan, rất giỏi phụ giúp mọi việc. Trong nhà có một bà chị họ lớn hơn chị 2 tuồi, chỉ riêng bà chị ấy thường đứng ra bảo vệ chị mỗi khi chị bị ăn hiếp, thế nên hai chị em rất thân. Năm đó chị lên lớp 9, một hôm, chị ấy bảo: “Hôm nay là sinh nhật chị, mày mặc đồ thật đẹp, tối chị về chở mày đi chơi”. Chị cũng háo hức lắm, vì chả mấy khi chị được ra ngoài đường chơi. Tối đó cả đám ăn uống xong, rủ nhau đi Karaoke hát hò, rồi lại rủ nhau đi khách sạn. Chị nào có biết gì, người ta chở đi đâu thì chị đi đó thôi. Vào trong khách sạn, cả đám bày bồ đà, hàng trắng ra hít. Có đứa rủ chị hít. Cái này thì chị biết, chị từ chối thẳng thừng. Chị chỉ ngồi uống nước, và nhìn họ phê thuốc với nhau. Chẳng hiểu sao, chị bỗng thấy buồn ngủ kinh khủng, thế rồi chị ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Sáng dậy, chị thấy toàn thân mình đau nhức, người không một mảnh vải che thân. Nhìn quanh là đám bạn của bà chị họ đang còn nằm ngủ la liệt. Hiểu ngay ra số phận của mình, chị đau đớn, ôm thân mình ngồi khóc tức tưởi… Sau đó, bà chị họ kia chở chị về nhà. Trước khi về không quên hăm dọa chị một trận, dặn không được nói cho ai biết, bằng không sẽ bị đánh, bị đuổi học. Khi ấy chị còn nhỏ dại, chị sợ, rất sợ bị đuổi học, vì chỉ lúc đi học chị mới có cái cớ ra khỏi cái nhà như nhà tù, nhà ngục ấy. Thế nên, chị cũng đành ngậm đắng nuốt cay mà im lặng. Từ ngày đó, chị cũng trở nên bất cần, cứng đầu, cứng cổ. Chị như muốn nổi loạn. Trước người ta đánh chị còn van xin. Nay chị kệ ! Muốn đánh bao nhiêu thì đánh. Chị cứ trơ ra. Cuối năm lớp 9, cũng là thời gian ba mẹ chị về lại Việt Nam. Chị được ba mẹ đón về nhà, và không bao lâu, ba mẹ chị cũng phát hiện ra cái bụng con gái mình to một cách bất thường… Mẹ chị dẫn chị vào bệnh viện Từ Dũ khám, bác sĩ cho biết, thai được 20 tuần tuổi rồi. Và rồi, chị bị đánh một trận thê thảm, bị chửi là đồ hư hỏng, ba mẹ vặn hỏi chị cha đứa trẻ là ai? Đến nước này thì chị chẳng cần giấu diếm gì cả, vừa khóc vừa tuôn hết mọi chuyện ra. Lập tức bà chị họ kia bị nắm đầu lại, hỏi đầu đuôi cho ra nhẽ. Lúc này, chị mới đau đớn nhận ra, người chị họ mà chị yêu thương, tin tưởng, người mà lúc nào cũng bảo vệ chị, lại chính là người hại chị thê thảm nhất. Hóa ra bồ chị ta dọa chia tay. Chẳng biết vì sao chị ta lại lụy tình đến vậy, van xin đủ kiểu để hắn đừng bỏ chị ta. Thế là tên nham hiểm ấy vẽ ra một kế hoạch bẩn thỉu, đòi chị ta đáp ứng. Ấy vậy mà bà chị họ kia cũng đồng ý. Chị ta cam tâm bỏ thuốc ngủ vào ly nước của chị, dâng chị cho bồ chị ta và đám bạn thay nhau cưỡng hiếp … Thực sự, khi ba mẹ hỏi cha đứa bé, chị cũng chả biết con chị là của tên nào trong đám đó. Chị không muốn bỏ, nhưng mẹ chị ép chị phải phá bằng mọi giá. Mẹ chị đưa chị vào Từ Dũ “bỏ” đứa bé ấy đi. Nhưng bác sĩ nói thai lớn quá, không bỏ được. Bà lại dẫn chị ra phòng khám tư, rồi bà năn nỉ mãi, người ta mới chấp nhận cho chị uống thuốc kích sinh non. Chị vừa tủi, vừa đau, nhưng mẹ ép quá nên phải vâng lời. Đau quằn quại hai ngày trời, chị mới sinh ra một cái thai nam đã tím tái. Mọi chuyện cũng dần chìm vào quên lãng… Ba năm sau, chị học lớp 12, kinh tế gia đình chị trở nên sa sút. Ngày ba mẹ chị mới về Việt Nam, kinh tế rất vững, có thể nói là giàu số 1, số 2 trong cộng đồng người Hoa chỗ chị ở. Nay vì mẹ chị cứ đau bệnh triền miên, hết bệnh viện này đến phòng khám khác, thuốc thang tốn kém kiểu gì cũng đã thử, nhưng bệnh cứ trơ ra, không thể khỏi. Tiền hết, ba mẹ chị bán cả đất, cả nhà, bán hết cả tài sản để mẹ chị ra nước ngoài chữa trị. Rồi thì cũng không thấy bệnh tình thuyên giảm chút nào. Một ngày, sau khi chị đi lễ ở nhà thờ Ba Chuông về (đường Lê Văn Sĩ, quận Phú Nhuận), đang ngồi ăn bánh ướt ở quán, thì có một cô ngồi gần đó, cứ nhìn chị với một ánh mắt dò xét. Cuối cùng cô lại gần và hỏi : “Con có anh chị em gì chết trẻ không?” Chị trả lời : “Không cô ạ, con là con một.” Cô ấy bảo, vậy thì chị phải đi qua quận 3 ,nhà cô đó, địa chị đó… Nhờ người ta gọi hồn xem sao, vì cô ấy thấy có vong đứa bé cứ đi theo chị. Chị cũng bán tín bán nghi, nhưng tính tò mò, nên cũng đi một chuyến xem sao. Đến nơi, sau đủ các thứ nghi lễ gọi hồn. Gọi mãi một lúc sau, cô kia tự nhiên rùng mình. Rồi khóc oe oe như trẻ con. Rồi vừa mếu máo, vừa kể lể : “Con thương mẹ lắm,nhưng con ghét bà ngoại, bà ngoại không cho con ra đời gặp mẹ.” Nghe đến đây, bao nhiêu tủi hờn chuyện năm ấy ùa về, tự nhiên chị cũng òa khóc lên. “Đứa bé” cứ thút thít khóc, giọng nói ngọng nghịu, không được tròn vành, rõ tiếng. Nó kể, lúc người ta lôi nó ra ngoài, họ lấy cái kìm, kẹp đúng vào miệng, rồi lôi nó ra làm nó bị rách miệng. Rồi nó kể, nó về tìm bà ngoại, người khi xưa quyết đòi giết nó để báo thù. Ngày thì nó cưỡi lên đầu, nắm tóc bà ngoại ghì xuống mà đạp, mà hành. Đêm thì nó phá không cho bà ngoại ngủ. Đó là lý do vì sao mẹ chị đau đầu quằn quại, đau cổ, nhức vai, mất ngủ… mà khám thì lại không ra bệnh gì. Đến mức tán gia bại sản vì chữa chạy cũng không thể khỏi. Nó còn bảo: “Con trả thù cho mẹ rồi đấy ! Đứa hại mẹ, con cho nó treo cổ chết tươi rồi!” Chị giật nảy mình, không biết nó nói thật, hay chỉ là con nít nói đùa. Rồi chị tạm biệt nó, hẹn nó một ngày gần nhất, lại gọi lên gặp nói chuyện. Về nhà, chuyện nó nói làm chị đứng ngồi không yên. Chị liền tìm đến nhà bà dì hỏi thăm. Chị hận họ thấu xương, nên không muốn nghe một chút tin tức gì của họ nữa. Kể từ ngày mẹ chị đón về nhà, chưa một lần chị quay lại căn nhà ám ảnh ấy nữa. Chị hỏi ra mới biết, đúng thật, bà chị họ kia đã treo cổ tự tử, chết cũng được mấy tháng rồi! Chị lập tức về nhà, kể lại cho mẹ chị nghe. Mẹ chị cũng bán tín bán nghi, gia đình theo đạo Công Giáo, nên không tin những chuyện kiểu thế này. Nhưng trước những chứng cứ sờ sờ, cũng đồng ý theo chị đi gọi hồn. Sau những nghi lễ như lần trước, “thằng bé” lên nhập vào người ta, liền vừa khóc, vừa xổ ra một tràng những lời tủi hận. Nó kể lể, trách móc, oán hờn mẹ chị đủ điều: “Con ghét bà ngoại lắm…con không thương bà ngoại đâu.” Mẹ chị cũng khóc nức nở, đến lúc này, nghe những điều nó kể về chuyện năm xưa, thì bà đã tin. Bà van xin thằng bé: “Xin con hãy hiểu cho ngoại. Lúc đó, mẹ con còn nhỏ quá! Nó mới học lớp 9, tương lai của nó sẽ ra sao? Bà ngoại cũng là bất đắc dĩ mới phải làm như vậy! Xin con nếu thương mẹ, thì cũng hãy hiểu và thông cảm cho ngoại.” Mẹ chị phải hứa rước nó về, đem lên nhà thờ đàng hoàng, mãi nó mới chịu tha thứ cho. Cũng bao năm qua rồi, nhưng chị vẫn bị ám ảnh mãi. Nên đó giờ nhiều năm chẳng quen được ai! Chị sống gần như bất cần đời như vậy. Thời gian rảnh, chị đều đi làm thiện nguyện. Có vậy trong lòng mới tìm được một chút niềm vui. Đó, cuộc đời chị, nó như thế đó… Tôi lặng người nghe hết câu chuyện của chị. Tâm can như thắt lại, không nói được lời nào. Chị rít một hơi thuốc lá, rồi nhìn ra xa, từ từ nhả ra những sợi khói xám xịt, xám như cuộc đời chị vậy. ( Quang Tử, viết lại từ lời kể của Thanh Vân)

RẢI HƯƠNG CÚNG THÁP PHẬT,SAU THÀNH BÍCH CHI PHẬT

( Trích kinh Bách Duyên) Lúc ấy, Phật hóa độ qua các nơi trong nước Ma-kiệt-đề (nước mạnh nhất ở Ấn Độ hồi thời Phật Thích Ca ra đời, kinh đô là thành Vương Xá), đến bờ con sông Hằng. Cách bờ sông Hằng chẳng bao xa, có một cảnh tháp cổ điêu tàn, hư rã bởi những cơn mưa sa nắng táp, không ai trông nom, tu sửa. Chư tỳ-kheo thấy cảnh ấy, bạch hỏi Phật rằng: – Bạch đức Thế Tôn! Chẳng hay tháp ấy là tháp chi? Vì sao lại hoang tàn như vậy, chẳng có ai trông nom tu sửa? Phật bảo chư tỳ-kheo: -Các ông nên chú ý lắng nghe, ta sẽ vì các ông mà phân biệt giảng nói. Này chư tỳ-kheo! Về thuở quá khứ, vào khoảng giữa Hiền kiếp này, nước Ba-la-nại có một vị vua tên là Brahmadatta (nghĩa là Đức Phạm Thiên ban cho) Vua ấy trị nước đúng theo chánh pháp, nên nhân dân sung túc, giàu có, mùa màng bội thu, dân cư đông đảo, yên ổn làm ăn, chẳng có những nạn binh đao, dịch bệnh xảy ra trong xứ, lại thêm trâu bò, gia súc đều đông đúc. Vua ấy không có con. Người rất buồn bực, thành tâm mà cầu đảo các vị thần thánh, nhưng chưa thấy ứng nghiệm gì. Thủa ấy, trong vườn hoa của vua, nhằm lúc hoa sen đua nở. Có một búp sen hiện lên, to lớn lạ thường. Búp sen ấy càng ngày càng lớn, đến khi nở ra, bên trong thấy một hài nhi xinh đẹp ngồi theo lối kiết già, có đủ ba mươi hai tướng quý và tám mươi vẻ đẹp, trong miệng tỏa ra hơi thơm của hoa ưu-bát-la (là loại hoa quý, tương truyền đến 3000 năm mới nở một lần), và các lỗ chân lông đều xuất ra mùi hương gỗ chiên đàn. Bấy giờ, người làm vườn tâu lên với vua. Vua nghe chuyện lấy làm vui mừng, liền ngự ra vườn hoa, có triều thần với các vị hậu phi theo hầu. Khi nhìn thấy đứa trẻ ấy thì vua bỗng vui mừng không tự chế được, lòng muốn chạy đến mà ôm lấy ngay. Đứa trẻ ấy vừa thấy vua liền lên tiếng nói rằng: – Vì đại vương thường cầu thỉnh, nên nay tôi đến đây làm con của ngài. Khi ấy, vua cùng với các vị hậu phi nghe lời ấy rồi thì thảy đều vui mừng, liền ẵm đứa bé về cung nuôi nấng. Khi đứa trẻ dần dần lớn lên, mỗi khi đi đứng nơi đâu, chỗ bước chân đều nảy sinh lên những đóa hoa sen, còn các lỗ chân lông trong người thì tỏa ra mùi hương chiên-đàn thơm ngát, nhân đó mà đặt tên là Chiên Đàn Hương. Bấy giờ, đứa trẻ ấy tự quan sát thấy những chỗ mình đi qua đều nảy sinh hoa sen, mới sanh thì tươi tốt, xinh đẹp, chẳng bao lâu liền héo úa, tàn lụi. Thấy như vậy rồi, liền tự suy nghĩ, thấy thân người cũng không bền chắc, giống như vậy không khác. Nhân đó mà ngộ hiểu được lý vô thường, chứng quả Phật Bích-chi. Ngay khi ấy, thân thể liền bay được lên không trung, hiện đủ mười tám phép thần biến, rồi nhập Niết Bàn. Khi ấy, vua và các vị hậu phi, cung nữ đều buồn thảm than khóc. Liền mang di thể đi thiêu hóa, thu nhặt xá-lợi, rồi lập tháp đặt vào mà thờ kính, cúng dường. Đó chính là ngôi tháp cổ mà ngày nay các ông thấy đó. Chư tỳ-kheo lại hỏi Phật: – Bạch đức Thế Tôn ! Chẳng hay vị Phật Bích-chi ấy nhờ nhân duyên phước báo gì mà được có mùi thơm chiên-đàn tỏa ra từ nơi thân thể như vậy?. Phật nói với chư tỳ-kheo: – Các ông nên chú ý lắng nghe, ta sẽ vì các ông mà phân biệt giảng nói. Này chư tỳ-kheo! Về thuở quá khứ, cách nay vô số kiếp, nước Ba-la-nại có Phật ra đời hiệu là Ca La Ca Tôn Đà. Thuở ấy có một vị trưởng giả giàu có vô cùng, tài sản, châu báu không tính kể xiết. Khi ấy, ông trưởng giả chẳng may mất sớm, vợ ông với đứa con trai lại chẳng ở chung nhau. Người con trai ông trưởng giả ấy rất đam mê sắc dục, gặp một cô kỹ nữ đem lòng mê mệt. Cô đòi hỏi phải bỏ ra trăm lượng vàng thì cô mới tiếp một đêm. Cứ như vậy qua nhiều năm thì tài sản cạn kiệt hết. Ngày kia không còn đủ vàng cho cô nữa, cô không chịu tiếp. Người con ông trưởng giả mới tha thiết khẩn cầu, chỉ xin được gần cô một đêm nữa thôi. Cô kỹ nữ ấy nói rằng: – Nếu anh có thể kiếm được một bông hoa thật đẹp mà mang đến cho tôi, thì tôi chịu tiếp anh một đêm. Khi ấy, người con ông trưởng giả mới suy nghĩ rằng: “ Nay tài sản ta chẳng còn chi, đến tiền mua một cành hoa cũng không có nữa, lấy chi mà mang cho cô ấy. Nay trong tháp của nhà vua chắc chắn là có hoa đẹp, hay là ta vào đó lấy trộm một cành” Nghĩ rồi làm liền. Nơi tháp của nhà vua lại có một người giữ, chẳng thể nào vào nơi cửa trước được. Người con ông trưởng giả liền lẻn theo lối sau, ẩn mình chờ khi thuận tiện thì đột nhập được vào trong tháp, mới trộm lấy một cành hoa. Được hoa rồi mang đến chỗ cô kỹ nữ, cô liền tiếp một đêm. Ngờ đâu đến sáng hôm sau, người con ông trưởng giả thân thể bỗng nổi lên rất nhiều ung nhọt, đau nhức, khổ não không thể nói hết. Khi ấy mời các vị danh y đến xem bệnh liệu trị, đều nói rằng phải dùng loại chiên-đàn thơm quý mà tán bột rắc lên những chỗ ung nhọt ấy, mới có thể khỏi. Người con ông trưởng giả tự nghĩ: “Nay ta chẳng còn tiền bạc chi, lấy gì mua bột chiên-đàn quý ấy?” Liền cố vét bán hết nhà cửa đất đai, được sáu trăm ngàn đồng tiền vàng, mang đi mua được sáu lượng bột chiên-đàn thơm. Khi ấy, ông suy nghĩ rồi không chịu trị bệnh nữa, nói với lương y rằng: – Nay bệnh của tôi thật ra là bệnh trong tâm, nếu chỉ trị ngoài thân thể làm sao dứt được? Nói lời ấy xong, liền vào trong một ngôi tháp Phật, phát lời nguyện lớn rằng: – Đức Như Lai ngày xưa tu đủ các hạnh khổ, thệ nguyện độ hết chúng sanh trong chốn khổ ách. Nay thân thể này của con đọa vào chổ khổ não không cùng, nguyện đức Thế Tôn đại từ lân mẫn cứu cho khỏi nạn. Phát lời nguyện như thế rồi, liền lấy số bột chiên-đàn ra hai lượng, rắc lên cúng dường tháp, hai lượng mang đến cho vua, đền cho cành hoa đã trộm, hai lượng chí tâm cúng dường Phật, cầu xin sám hối. Ngay khi ấy, ung nhọt tự nhiên dứt trừ, trong thân thể các lỗ chân lông đều xuất ra mùi hương thơm chiên-đàn. Nghe được mùi hương ấy, lòng vui không kể xiết. Từ khi phát nguyện và cúng dường như thế về sau, nhờ công đức ấy mà chẳng đọa các nẻo dữ, lại khi sinh ra trong cõi trời, cõi người, mỗi nơi đi qua đều nảy sinh hoa sen xinh đẹp, từ trong lỗ chân lông lại tỏa ra mùi thơm dễ chịu. Này chư tỳ kheo! Người con ông trưởng giả ngày trước rắc bột chiên-đàn cúng dường trong tháp Phật, về sau chính là vị Bích-chi Phật thờ trong ngôi tháp cổ đó. Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

3 KIẾP bi thảm của một kĩ nữ LẦU XANH

Phong Trần  từ nhỏ trí nhớ đã rất tốt, những chuyện xảy ra trong nhà khi chỉ mới có một, hai tuổi, ví như khi nằm ngủ trong nôi nhìn thấy mẹ tiêm thuốc cho người bố đang bị bệnh hen suyễn, bản thân mình khi chập chững tập đi đã bị bầy ngỗng đuổi ra sao … đến nay vẫn còn có thể nhớ mang máng. Có những lúc trong đầu cậu xuất hiện một số hình ảnh kỳ quặc, là cảnh tượng của một kỹ nữ lầu xanh, rồi những cảnh đang chịu khổ hình trong chốn địa ngục. Cậu kể lại chuyện này với bố mẹ, bố mẹ cho rằng là do trẻ con nói lung tung, nên cũng không để tâm. Năm Phong Trần lên 6 tuổi, những hình ảnh từng hiện lên đan xen, ban đầu còn rời rạc, không xâu chuỗi lại được. Về sau, ngày càng chi tiết, cuối cùng đã có thể hệ thống lại, trở thành một cảnh tượng hết sức rõ ràng. Khi lớn lên, Phong Trần đã viết lại những hồi ức bi thương nhiều kiếp của mình, thành một câu chuyện gây chấn động tâm hồn nhiều người.
“Tôi kiếp trước là một kĩ nữ lầu xanh, thường mặc trang phục phụng tiên, thích nghe ca tử hí (một loại ca kịch ở Đài Loan và Phúc Kiến), nhưng không rõ cụ thể là vào năm nào. Thủa nhỏ, vì gia cảnh bần hàn, đành phải đến làm nữ đầu bếp cho một hộ gia đình giàu có. Bởi tôi có nhan sắc, sau đó đã bị ông chủ vừa già vừa xấu làm nhục, cuối cùng vận mệnh đưa đẩy đến chốn lầu xanh mua vui bán rẻ nụ cười. Vợ chồng ông chủ lầu xanh và a hoàn trong nhà đều rất tốt với tôi. Năm đó tôi rất trẻ, lợi dụng sắc đẹp đã dối gạt được rất nhiều người, lại cũng từng bị nhiều người lừa gạt. Cuối cùng, một tên sở khanh đã chiếm được trái tim tôi. Tin lời đường mật của hắn, cuối cùng tôi bị gạt đến chẳng còn lại gì, cả thân thể, tâm hồn đều dâng hết cho hắn, ngay đến tiền tích cóp cũng đều mất sạch. Vì không chịu đựng nỗi cái cảm giác đau khổ này, trong lòng tôi nảy sinh tâm oán hận, muốn báo thù. Cuối cùng uất ức quá, không cam tâm đã treo cổ tự tử ở ngay trong phòng của mình. Sau khi nhục thân chết đi, linh hồn của tôi đi đến một con đường âm u rộng lớn. Khắp nơi đều là nam nữ già trẻ, sắc mặt đều rất nặng nề u ám, nhưng mỗi người lại đều tự đi trên một con đường dường như đã được sắp đặt sẵn trước đó ( có thể đây là hoàng tuyền lộ). Tôi cảm thấy như có một luồng sức mạnh vô hình đang đẩy đám người đi thẳng về phía trước. Sau khi đi được một hồi, đến một ngã rẽ thì tách nhau ra. Tôi và một nhóm người khác cùng đi đến bên một vách núi có cây cầu chật hẹp (đây là cầu Nại Hà). Nơi đây tối tăm lạnh lẽo, tiếng gào khóc khắp nơi, từng luồng từng luống gió tanh hôi và mùi máu tanh xông thẳng vào mũi. Rất nhiều người từ trên mặt cầu tối đen trơn trượt rơi xuống… Tôi không muốn đi, nhưng lại không tự chủ được mà bước lên trên đó. Đi chưa được bao xa liền rơi xuống. Đó là một cái hố sâu cực kỳ rộng lớn, không có biên, cũng không có bờ, bên trong hố tràn ngập các loại rắn lớn nhỏ đủ loại màu sắc và có gai nhọn, những con rắn đó nhiều đến mức không thể tính đếm, chúng không ngừng lao đến tấn công tôi. Sau đó tôi lại nhận thấy trong hố sâu có rất nhiều người, nhưng lại không nhìn thấy được đầu của họ, bởi vì mỗi một người đều giống như tôi, nhanh chóng bị bầy rắn bao vây nhấn chìm. Những con rắn đó không ngừng đi xuyên qua bên trong thân thể tôi giống như con cá chạch đi xuyên qua đậu phụ vậy, máu chảy không ngừng. Thân thể tôi giống như bị quả bom làm cho nổ tung thành từng mảnh, cảm thấy đau đớn tột cùng. Một lúc sau da thịt phục hồi trở lại, nỗi đau khổ vô biên này lặp đi lặp lại hết lần này đến lần khác. Lúc này, tôi mới biết nơi đây chính là địa ngục. Tôi một lòng chỉ muốn mau chóng rời khỏi thung lũng này, tôi mơ hồ nghe thấy rất nhiều người đang kêu la đau đớn, âm thanh rất yếu ớt. Khó khăn lắm, cuối cùng tôi đã rời khỏi đó. Nhưng mà sau khi thoát ra, rồi đến bên vách đá thì khổ hình trong địa ngục vẫn chưa phải đã đến hồi kết thúc. Sau khi rời khỏi thung lũng, tôi bỗng nhiên nhìn thấy hình tượng của một vị Thần, cao lớn hơn người bình thường, khoác đạo bào màu xám, tướng mạo vô cùng trang nghiêm, không hề giống với tượng Thần nơi cõi người ( rất có thể đây là Địa Tạng Vương Bồ Tát ). Ngài không mở miệng, không dùng ngôn ngữ bình thường, mà thông qua cảm ứng tâm linh, cho tôi biết: Bởi tôi không tin Phật, không kính trọng cha mẹ, nói dối, lừa gạt, theo nghề lầu xanh bán nụ cười, và lợi dụng sắc đẹp lừa gạt một người đàn ông nào đó đến chết, phạm đủ các loại ác nghiệp, vậy nên mới đến nơi này chịu khổ. Ngài còn bảo tôi sau khi chịu phạt xong rồi, nhất định phải cố gắng tu hành. Lúc này tôi vẫn không có bất kỳ tâm hổ thẹn và phản tỉnh nào, luôn cho rằng bản thân mình không sai, người khác cũng dối gạt tôi như vậy, đẩy tôi đến chỗ chết, khiến tôi ôm hận treo cổ và bị bầy rắn cắn xé, trong lòng vẫn chứa đầy oán hận. Vị đó dần dần biến mất. Sau khi vị đó rời đi, tôi bị một tên quỷ sai da dẻ vàng vọt như mắc bệnh lao đuổi chạy lên một ngọn núi cao. Mặt đường gồ ghề nghiêng ngả rất khó đi, khi bị ngã mới thấy vô số các loại dụng cụ sắc nhọn giống như cái khoan, con dao, cái dùi đột nhiên từ mặt đất nhô lên, lớn nhỏ đủ kiểu. Chỉ cần tôi hễ ngã xuống, những vật dụng cụ sắc nhọn này trong chớp mắt liền nhô ra, giống như bàn đinh từ dưới đâm lên xuyên qua khắp người tôi, tức thì máu rơi thịt nát, máu chảy không ngừng. Đau đến nỗi tôi vừa mới ngất đi, da thịt lại lành lặn trở lại, lại tiếp tục bị dày vò và đau đớn nhưu vậy, cứ thế không ngừng nghỉ… Sau khi đi qua ngọn núi cao, tôi bị đẩy vào trong một cối đá rất lớn, xoay mãi không ngừng. Tôi sợ bị nghiền nát, nhưng lại không tìm được một khe hở nào để ẩn náu, đành phải chịu đựng bên trong cối xay, từng tấc từng tấc da thịt bị nghiền nát rồi lại phục hồi trở lại. Tôi nghe thấy tiếng quỷ khóc không ngừng, thật khiến người ta không lạnh mà run. Không lâu sau, tôi lại bị trói trên cây cột đồng thiêu cháy, mùi khét lan ra bốn phía, da thịt nát nhừ, thần thức không rõ, mãi đến khi mỗi một tấc da thịt nát vụn hết. Sau đó, tôi lại bị trói trên một cây cột đồng lớn khác, quỷ sai dùng móc câu sắc bén móc lưỡi của tôi ra, mãi đến khi cuống lưỡi của tôi bị kéo đứt mới thôi. Tiếp đó tôi lại bị ném vào vạc dầu đang sôi sùng sục, thân thể bị bỏng cháy đến không ngừng lăn lộn, sưng phồng giống như mỡ heo rán. Tôi cảm thấy thân thể đau đớn giống như bị một quả bom nổ tung thành từng mảnh. Cứ như vậy, không ngừng lặp lại loại thống khổ tột cùng đó, tôi cầu chết cũng không được. Sau khi được thả từ trong vạc dầu ra, tôi và một nhóm người cùng nặn viên bi đất, giống như làm lao dịch. Có người vì đất quá khô nên không thể nặn thành hình được, có cái lớn, có cái nhỏ, hình dạng và số lượng không đều, sau khi hoàn thành thì bỏ vào trong bình hồ lô của từng người. Bởi chưa từng được ăn uống, mỗi một người đều vừa đói vừa mệt, đi đến một nơi giống như khu cứu trợ thiên tai, sau khi giao nộp bình hồ lô, nhận được một bát canh đặc màu trắng vừa hôi vừa tanh. Lúc này tôi cảm thấy có chỗ kỳ quặc trong chuyện này, vậy nên đã không uống bát canh đó. (Đây chính là canh Mạnh Bà cho người ta uống trước khi đi chuyển sinh để quên đi kiếp sống trước). Sau khi trải qua các loại khổ hình trong địa ngục, tội nghiệp đời trước của “phong trần” đã tiêu đi không ít, được đưa đi chuyển sinh, dưới đây chính là sự tình xảy ra ngay một khắc trước khi cô chuyển sinh: Tôi được đưa đến trước mặt người chấp pháp nào đó, người này mắt to mày rậm, không giận mà uy. Ông cũng dùng phương thức trao đổi tâm linh nói cho tôi biết: tôi sắp phải đến thế gian con người chuyển sinh thành phụ nữ. Và căn dặn tôi tuyệt đối đừng có lừa gạt người nữa, cần phải làm nhiều việc thiện, tích nhiều công đức. Nghe xong, trong lòng tôi mang hết bao nhiêu nỗi bất bình khiếu nại về một loạt những chuyện đau khổ và bất công mà bản thân tôi đã gặp phải trong đời trước, cho đến lý do tôi không muốn làm phụ nữ mà muốn được làm đàn ông để dễ báo thù. Người chấp pháp đó rất kinh ngạc tại sao tôi còn có thể nhớ được những chuyện này, nhưng mà sau đó vẫn bảo tôi đi xếp hàng, đồng thời phát cho mỗi người một thẻ bài mã số có màu sắc, tôi nhận được thẻ bài màu đỏ. Sau khi mọi người cầm thẻ bài, mỗi người tự mình đến xếp hàng ở trước cửa có màu sắc tương đồng để chờ đầu thai. Lúc này, tôi nghe thấy sai dịch bên cạnh đang bàn luận: thẻ màu đỏ là nữ giới, màu xanh da trời là nam giới, màu xanh lá cây là con vịt, màu tím là … lần lượt đại biểu cho các loại sinh vật và động vật khác nhau. Bởi tôi không muốn làm phụ nữ, vậy nên nhân lúc người ở hàng bên cạnh không chú ý, tôi đã giật lấy tấm thẻ màu xanh da trời của anh ta, lại ném thẻ màu đỏ của mình cho anh ta. Quỷ sai đuổi theo đến nơi, tôi chạy như bay đến cánh cửa màu xanh rồi nhảy xuống. Đi đến một nơi có rất nhiều ngôi nhà. Lúc đó là đêm khuya, có nhà trước cửa có đèn, có nhà thì không có. Tôi cầm theo tấm thẻ có số ký hiệu giống như mật mã, tìm đúng số cửa, đi vào, đầu thai trở thành đàn ông trong kiếp sống này. ************************************* Kiếp sống này, khi tôi học trường chuyên khoa, người bạn gái đầu tiên mà tôi quen chính là tên sở khanh đời trước đã khiến tôi treo cổ tự tử. Lần đầu gặp mặt, hai người đều cảm thấy rất là quen thuộc, dường như đều đã quen biết rất lâu. Dần dần, hình ảnh đời trước của hai người càng lúc càng rõ ràng trước mắt tôi, cuối cùng bởi bố mẹ phản đối, hơn nữa bản thân tôi cũng không muốn tiếp tục mối duyên nợ xưa nên đã chia tay. Vợ chồng ông chủ thanh lâu đời trước nay đã trở thành bố mẹ tôi, còn người đàn ông đời trước bị tôi lừa gạt hại chết đời này đã trở thành vợ của tôi. Lúc vừa mới quen, cảm thấy rất quen thuộc, nhưng vẫn không hợp nhau, bởi vì đời trước vốn đã không yêu cô ấy, đến nay trong lòng vẫn thường hay vô duyên vô cớ mà chê bai cô ấy. Cô ấy cũng luôn mang theo tâm thái oán hận đối với tôi, và rất xa lánh người bên nhà tôi. Hai người thường hay dùng chiến tranh lạnh để mà hành hạ lẫn nhau, tuy tôi đã kiếm rất nhiều tiền cho cô ấy, nhưng cô ấy trước sau vẫn không thấy hài lòng. Người ta tất nhiên sẽ không hài lòng, cũng sẽ không cảm kích, đời trước tôi đã lừa gạt tiền tài người ta, hại chết tính mệnh của người ta, vậy nên đời này chính là phải trả nợ, hơn nữa còn phải hoàn trả gấp đôi! Thử hỏi người ta làm sao có thể vừa lòng đây? Bởi vì đời trước treo cổ tự sát, vậy nên đời này “phong trần” không dám mặc những chiếc áo có cổ áo, bởi ông rất sợ cái cảm giác đau khổ bóp nghẹt cổ họng tái diễn lần nữa. Lại bởi đời trước đã từng làm nữ đầu bếp, nên đời này tuy chuyển sinh thành đàn ông, nhưng tài nghệ nấu ăn của ông cũng không thua kém những nữ đầu bếp chuyên nghiệp. Bởi đã từng chịu cái khổ bị ném vào vạc dầu, vậy nên “phong trần” đời này rất là sợ nóng chứ không sợ lạnh. Đời này ông chỉ cần nhìn thấy cối đá chuyển động, trong lòng sẽ thấy sợ hãi, khắp người đều nổi cả da gà, điều này có liên quan với những trải nghiệm trong địa ngục ở đời trước. Bởi không uống canh Mạnh Bà để quên đi ký ức của đời trước, vậy nên chuyện “phong trần” tự sát trong đời trước, sau đó xuống địa ngục chịu tội vẫn cứ rõ ràng mồn một giống như vừa mới xảy ra ngày hôm qua vậy. Điều này khiến ông hiểu được rằng người thân dù cho là họ hàng xa trong kiếp này đều là có quan hệ nhân duyên cả.
Những trải nghiệm như vậy, những câu chuyện lịch sử như vậy, mỗi người chúng ta cũng đều đã từng nghe qua, xem qua rất nhiều rồi. Thật ra xem nhiều hay xem ít cũng không quan trọng, điều quan trọng là có thể từ trong đó mà nhìn lại bản thân mình, nhắc nhở bản thân mình, thay đổi bản thân mình. Địa ngục thật sự rất đáng sợ, nhưng chỉ cần duy trì thiện niệm và lương tri, một lòng tinh tấn tu hành thì có thể rời xa khỏi nó. (Tác giả: Phong Trần. Người dịch :Tiểu Thiện)

2 KIẾP THÚ, 1 KIẾP NGƯỜI

Vào những năm Đồng Trị  triều đại nhà Thanh, có một câu chuyện được lưu truyền rộng khắp trong dân gian như sau: Khoảng năm 1862 -1875, ở phủ Hoàng Châu, Hồ Quảng có tổ chức một kỳ thi. Trong kỳ thi ấy có một vị thư sinh họ Lý quê quán ở Hy Thủy, Hồ Bắc đến ứng thí. Anh ta ở cùng phòng với một người đồng hương họ Trần cũng tới dự thi. Họ Lý cảm thấy rất kỳ lạ bởi vì người họ Trần này dù là làm việc gì hay bất kể lúc nào thì bên tay trái của anh ta đều đeo một chiếc găng tay màu đỏ và mặc áo dài che phủ. Cho dù trời nắng nóng đến mấy anh ta cũng không cởi chiếc găng tay này ra. Mọi người sống cùng phòng, ai nấy đều cảm thấy họ Trần rất kỳ quái. Họ to nhỏ bàn tán với nhau về những nghi hoặc và phỏng đoán của mình để giải thích cho việc này. Chỉ có Lý thư sinh là im lặng, không lên tiếng. Sau khi cuộc thi được tổ chức xong, mọi người đều chờ đợi kết quả nên không ai trở về nhà ngay. Một hôm, khi các bạn sống cùng phòng đều đã đi ra ngoài, trong phòng chỉ còn lại một mình Lý thư sinh. Trần thư sinh đột nhiên nói: -Lý huynh, ta thấy huynh là người thành thật nên rất tin tưởng ở huynh. Ta có chuyện muốn kể với huynh. Huynh có biết vì sao mà ta luôn phải mang găng tay và mặc áo dày kể cả những hôm trời nóng bức hay không? Đó là vì ta trải qua luân hồi ba đời mới được là người đấy!. Lý thư sinh nghe xong giật mình hỏi: – Trần huynh nói gì vậy? Trần thư sinh trầm tĩnh nói: – Lý huynh hãy từ từ nghe ta kể… Ta nhớ kiếp trước nữa ta là một con tê tê. Vào năm ấy trời hạn hán kéo dài, mấy tháng liền mà không có một hạt mưa. Vì thế ta cũng rất ít khi được uống nước, thậm chí còn phải chịu khát một thời gian dài. Hơn nữa loài vật chúng ta không thể được tùy tiện xuống núi. Hôm đó vì quá khát nên ta đã xuống chân núi để đi đến bờ sông tìm nước uống. Khi vừa đến gần bờ sông, ta lại phát hiện ra ở ngay bên cạnh bờ sông có một phụ nữ đang mang thai ngồi ở đó giặt quần áo. Lúc ấy, ta liền nghĩ: “Nếu giờ mình xuống bờ sông, chắc chắn sẽ khiến người phụ nữ mang thai kia sợ hãi. Có thể mình sẽ hại chết hai mạng người. Nhưng nếu không xuống thì mình sẽ chết vì khát”. Ta đứng ở đó do dự, suy nghĩ một hồi lâu và cuối cùng quyết định: “Một mình mình chết khát vẫn còn tốt hơn so với hai người chết”. Thế là ta đã chọn cách chịu khát mà chết. Sau khi chết xuống âm phủ, Diêm Vương nói với ta: ” Lần này ngươi đã tích được đại đức nên có thể được chuyển sinh đến một nơi tốt.” Ta nói rằng bản thân không muốn chuyển sinh, nhưng Diêm Vương nói rõ ràng rằng: ” Không thể thuận theo ý của ngươi được!” Thế là đời sau ta chuyển sinh thành một con heo. Chủ của ta là một đôi vợ chồng già nhưng không có người con nào. Họ chăm sóc và đối xử với ta tốt. Ta cũng rất nhanh lớn, chớp mắt cái mà đã đến cuối năm. Hai vợ chồng ông lão bàn bạc với nhau đem ta đi bán. Ta nghe thấy và thầm nghĩ: “Chẳng phải lại sắp bị chết sao? Mình phải chạy mau”. Ngày hôm sau ta chạy trốn được lên ngọn núi gần nhà và ẩn náu ở trên đó. Hai vợ chồng ông lão đưa cả người mua heo đi bốn phía tìm kiếm, hô hào. Ta ở trong bụi rậm cảm thấy lòng mình vô cùng khó chịu. Trong đầu ta, những suy nghĩ đối lập nhau cứ liên tục hiện ra, lúc thì thúc giục ta “Ra ngoài đi!” nhưng vừa dứt suy nghĩ ấy thì suy nghĩ “Đi ra ngoài là chết!” lại xuất hiện. Ta cứ nghĩ đi nghĩ lại như vậy một hồi, nếu không đi ra ngoài thì uổng phí công nuôi dưỡng và tiền bạc của hai vợ chồng họ. Cuối cùng ta đi ra ngoài và lại chết một lần nữa. Sau khi chết xuống âm phủ, Diêm Vương lại nói:” Lần này ngươi lại tích được đại đức nên có thể được chuyển sinh làm người.” Ta nói rằng không muốn chuyển sinh. Diêm Vương nói: ” Bởi vì cả hai lần ngươi đều là suy nghĩ cho người khác mà hy sinh chính mình, tích được đại đức. Cho nên lần này ngươi được đầu thai thành một người tốt để hưởng phúc.” Và đó chính là ta ở kiếp này. Vừa nói, Trần thư sinh vừa kéo bao tay ra và nói: – Lý huynh không tin có thể xem, trên người ta vẫn còn dấu vết 2 đời trước. Lý thư sinh vội cúi người xuống nhìn và phát hiện ra trên tay trái của Trần thư sinh vẫn còn một cái dấu vết là móng của con heo, và trên lưng có dấu vết là 9 cái vẩy của con tê tê hiện ra rõ mồn một. Lý thư sinh nhìn xong kinh ngạc, rồi thở dài mãi không thôi. Từ đó trở đi, Lý thư sinh ngẫm nghĩ rất nhiều về nhân sinh kiếp người, thấy những trò vui thế gian, tiền tài, quan chức… chỉ như phù du. Một khi luân hồi chuyển kiếp, chẳng còn lại gì. Lỡ như tạo nghiệp lại xuống làm những loài súc sinh, đủ thứ đau khổ, chẳng biết đến bao giờ mới có lại thân người. Thế nên, ông từ bỏ các cuộc thi làm quan, một lòng hướng thiện, quyết chí tu học theo Phật Pháp. __________________ Lạm bàn : Có được thân người là vô cùng trân quý, vì rằng có thân người mới có thể tu hành đắc lực, nhanh chóng thành tựu, vượt trội hơn so với tất cả các cảnh giới khác như cõi trời, cõi thần, ma quỷ, súc sinh… Ở cõi trời, cõi thần, thì quá nhiều dục lạc. Sự sung sướng lôi cuốn quá mạnh khiến cho không còn muốn tu hành gì nữa. Ở cõi súc sinh, bản năng quá mạnh, lại ngu si, kém hiểu biết, chịu nhiều thống khổ, rất khó tu được cái gì. Ở cõi ma quỷ, do không có thân xác vật chất, cũng chẳng thể làm được gì nhiều. Vọng tưởng quá mạnh khiến cho không thể tập trung tu hành gì được. Ở địa ngục, cực hình liên tục, đau đớn che mờ tất cả, đương nhiên là chỗ khó tu hành nhất. Chỉ có cõi người có thân vật chất, vừa có thể học được các giáo lý, do ngôn ngữ phát triển, có chữ viết để lưu truyền tri thức. Có thân xác và nhiều điều kiện để thực hiện những việc công đức lành, bố thí, giúp người, trì giới, công phu tu tập .v.v…  Lại không bị lôi kéo quá mạnh bởi sự hưởng lạc như các cõi thần – tiên – chư thiên. Cho nên, mỗi người đều nên trân quý kiếp làm người này, đem tất cả công sức, thời gian để tu học chánh Pháp Như Lai, tích chứa công đức, tiến tu giải thoát. Thay vì để thời gian trôi qua uổng phí với những trò vui vô thường của thế gian. (Quang Tử)

9 KIẾP luân hồi của VĂN XƯƠNG ĐẾ QUÂN

(Trích An Sĩ toàn thư ) Trong bài văn Âm Chất nổi tiếng, Văn Xương Đế Quân kể lại rằng: Kiếp thứ 1 Vào đời Chu Thành Vương, ta mang tên họ là Trương Thiện Huân. Thành Vương dùng ta làm quan can gián. Bấy giờ tuy đang thời hưng thịnh, nhưng vì lo nghĩ cho dân cho nước nên ta chưa từng biếng trễ. Ta ở Kinh đô nhà Chu (nay là vùng Tây An thuộc tỉnh Thiểm Tây) mười năm, xa quê hương đã lâu. Một hôm, đọc bài thơ “Chim cú” của Chu Công, trong lòng xúc động, liền nhân đó xin cáo lão về quê. Về đến quê hương rồi, thấy người trong gia tộc hương thôn đa số nghèo khó, liền xây dựng điền trang lấy thu nhập để giúp đỡ, gọi là nghĩa điền. Từ đó thường cứu giúp những người khốn khó, trị liệu cho người tật bệnh, trai gái đến tuổi trưởng thành thì giúp việc dựng vợ gả chồng, trẻ em thông minh có năng khiếu thì nuôi dưỡng cho học hành. Nhiều người nghe biết việc làm tốt đẹp như vậy, rủ nhau làm theo. Từ đó việc xây dựng các nghĩa điền ngày càng phát triển khắp nơi. Khi ta còn làm quan ở triều đình, từng nghe có người từ phương xa đến nói rằng: “Ở một nước về phía tây (chỉ nước Ấn Độ, xưa cũng thường gọi là Tây Thiên Trúc) có bậc đại thánh nhân( chỉ đức Phật Thích-ca Mâu-ni.) không giới hạn ở lời nói mà người khác tự được giáo hóa, không trói buộc trong việc làm mà tự nhiên thấu triệt chân lý; lấy từ bi làm chủ trương, lấy phương tiện làm cửa vào, lấy việc giữ gìn giới luật làm đạo thường, lấy tịch diệt làm niềm vui, xem chuyện sống chết chỉ như sáng tối thay đổi, ngày qua đêm lại, xem ân oán thân thù đều bình đẳng như nhau, chỉ như sự nhận biết trong giấc mộng, dứt sạch không còn những tình cảm thế tục như buồn, lo, mừng, giận, luyến ái… Thấu biết cõi đời là giả tạm nên chỉ cầu chứng quả vô sanh.” Ta được nghe rồi, lòng rất ngưỡng mộ bậc thánh nhân ấy. Đến khi ta từ quan về quê, giữa đường bỗng gặp một vị ẩn sĩ, vừa đi vừa hát nơi chốn đông người qua lại. Trong lời ca ta nghe có nhiều điều sâu xa uyên áo thầm khế hợp, liền lập tức dừng xe, đến bái lễ người ấy xin được chỉ dạy. Vị ẩn sĩ ngước mặt nhìn trời rồi truyền tâm ấn, dạy nghĩa lý chân chánh cho ta, lại nói rằng: “Đây là giáo pháp của bậc thánh nhân phương Tây, dạy người đạt đến cảnh giới vắng lặng tịch diệt. Nếu ông luôn nhớ nghĩ mà tu tập theo thì có thể vượt thoát sinh tử, đạt đến cảnh giới của Phật A Di . Như đã đạt đến bến bờ giải thoát, ắt có thể viên thành Chánh giác. Bằng như nửa đường thối thất, cũng có thể vào cảnh giới của thần tiên.”Ta thọ nhận giáo pháp ấy rồi, từ đó về sau duyên trần dứt sạch, trăm mối lo phiền đều nguội lạnh. Ngày kia, vừa đúng kỳ trung thu, ta cho mời thân quyến bằng hữu cùng đến, lưu lại một bài tụng rồi ra đi. Kiếp thứ 2 Ta rời bỏ nhân gian rồi, liền hướng về phương Tây. Vừa đi đến Quân sơn ở hồ Động Đình ( địa danh này nay nằm về phía đông bắc tỉnh Hồ Nam. Quân sơn thật ra là một hòn đảo lớn nằm giữa lòng hồ) nhìn thấy phong cảnh xinh đẹp khởi tâm ưa thích, liền lưu lại đó một lúc. Trong lòng ta lúc bấy giờ, trên không bị uy thế của thiên tử, triều quy khống chế, dưới cũng không thân quyến cốt nhục buộc ràng, hốt nhiên vượt thoát ra ngoài vòng trần thế, thật là một niềm an lạc không cùng tận. Được một lúc lâu, bỗng có hai tiên đồng từ trời cao giáng hạ, phong cho ta từ nay làm thần cai quản Quân sơn, kiêm luôn hồ Động Đình. Ngày nọ, có một thiếu phụ khoảng hơn ba mươi tuổi, khóc lóc tìm đến núi cúng tế rồi khấn rằng: “Chồng tôi bất hạnh đắc tội với vua, bị đày ra phương nam xa xôi đến chết, đường xa vạn dặm khó lòng đưa quan quách về. Đau đớn trong lòng, thương cho cha mẹ chồng già yếu, hiện tôi lại đang mang thai. Nguyện sơn thần linh thiêng xét rõ, chồng tôi vốn chỉ vì lòng trung mà bị kết tội, thương cho cha mẹ chồng tôi nay tuổi đã xế chiều, không người nương tựa, xin cho tôi sinh hạ một đứa con trai để nối dòng họ Trương, dẫu tôi có chết cũng không phải hối tiếc.” Ta đang ở trên mây cao, nghe lời khấn ấy bỗng khởi tâm thương cảm, xúc động không kiềm lại được, nước mắt chảy ròng. Kiếp thứ 3 Ngay khi đó bỗng nhiên cảm thấy thân thể nặng nề, lập tức rơi xuống, nhập vào bào thai của người thiếu phụ, tối tăm không còn biết gì nữa cả. Một thời gian lâu sau, bỗng nghe có tiếng người kêu lên: “Là con trai, con trai!” Ta mở mắt nhìn, thấy thân thể đang nằm trong chậu tắm, vậy là đã tái sinh nơi trần thế. Biển sinh tử mênh mông, một lần qua không khỏi khởi tâm đam mê, ái nhiễm, do đó mà thành đọa lạc. Nếu không phải bậc tu hành chân chánh vĩ đại, ắt không thể riêng mình tự đến tự đi giữa vòng sinh tử mà không bị mê lấp chân tánh. Đế Quân trước đó được nghe đạo pháp, trong lòng vốn dĩ muốn về Tây phương, chỉ vì một niệm khởi sinh, lưu luyến cảnh trời mây non nước mà bị trói giữ nơi Quân sơn, hồ Động Đình. Tuy trong tâm tuyệt nhiên không có ý tưởng muốn được làm sơn thần thủy bá, mà bỗng dưng do niệm khởi đã rơi vào cảnh giới của thần minh, hưởng đồ cúng tế. Cho đến khởi tâm thương xót thiếu phụ nhà họ Trương, vốn dĩ cũng là một niệm lành, nhưng hẳn không hề dự tính đến việc sinh làm con bà ấy. Nhưng một khi tình khởi đã hướng đến, lập tức đọa lạc nhập vào bào thai. Rồi khi biết thân mình đã ở trong chậu tắm, thì dù có quyết lòng muốn thoát ra cũng chẳng còn được nữa. Thân phụ ta họ Trương, tên húy là Vô Kỵ, làm quan Bảo Thị dưới triều Chu Lệ Vương (khỏang 878 _ 842 TCN ) Khi ấy, vua đàn áp những người chỉ ra lỗi lầm của mình, thậm chí giam cầm. Vua giận cha ta thẳng thắn can gián, đày đi Phiên Dung cho đến chết. Khi ấy ta còn nhỏ, theo mẹ đến Phiên Dung đưa di thể cha ta về an táng ở Hà Sóc.Năm ta được mười tuổi đến trường học, lấy tên tự Trung Tự, là có ý muốn nối theo chí hướng cha ta. Đến tuổi trưởng thành, khi ông nội ta qua đời, tên tự của ta là Trọng. Mẹ ta hiền thục sáng suốt, hết lòng dạy dỗ cho ta.( theo lời Đế Quân kể lại thì mẹ ngài mỗi ngày đều tụng kinh Quán Vô Lượng Thọ, về già không bệnh, an nhiên ngồi mà thị tịch. ) Đến khi Chu Tuyên Vương lên nối ngôi, ban chiếu xem xét lại đối với hậu duệ của những người trước đây bị chết vì sai lầm của vua trước. Ta vâng lời dạy của mẫu thân, đến kinh thành dâng biểu minh oan cho cha. Tuyên Vương ban chiếu khôi phục quan chức cho cha ta, ban tên thụy là Hiến, lại phong ta làm quan Bảo Thị, nối chức cha ta. Ta có người anh trai tên Trương Doãn Tư, không may mất sớm, mẹ ta đau buồn khôn nguôi. Ta thường lấy việc con thứ có thể kham nhận nối dõi thay cho huynh trưởng để an ủi mẫu thân. Khi bà nội ta là Triệu thị qua đời, không lâu sau ông nội cũng tạ thế, ta lấy danh phận là cháu nội, thay cha chịu tang ông bà trong 3 năm. Do bi thương quá độ nên thân thể suy kiệt, trong triều ngoài nội đều nghe biết, ngợi khen ta là hiếu thảo. Do đó mà người đời hết lòng kính trọng, mỗi khi gặp ta chỉ gọi bằng tên tự, không dùng tục danh. (đây chính là Trương Trọng hết lòng hiếu thảo được đề cập trong kinh Thi ) Kiếp thứ 4 Sau khi kết thúc kiếp sống đo, ta được thiên đình phong làm vua cai quản các núi, phàm hết thảy những việc thuộc về núi sông khe lạch phát sinh như lũ lụt, hạn hán, mùa màng được thất, những điềm báo lành dữ cát hung, cho đến xét công luận tội các thuộc cấp, đều do ta cai trị điều hành. Thần núi Thanh Lê là Cao Ngư Sanh, có lòng ưa thích một cô thôn nữ trong vùng, liền bắt hồn về làm việc cưỡng bức dâm loạn. Sự việc bị long thần ở hồ Bạch Trì gần đó xét rõ cáo giác. Ta tra soát, gọi cả hồn dân nữ đến đối chất, Cao Ngư Sanh nhận tội. Sau đó trả hồn dân nữ, cô ấy liền sống lại. Ta phạt Cao Ngư Sanh 300 roi đánh vào sống lưng, cách chức. Khi ấy dưới chân núi có người con hiếu thảo là Ngô Nghi Kiên đã qua đời, trước đây từng vì cha mà trích máu chép kinh Lăng-già, 4 quyển. Người này chết đã 3 năm, chưa nhận trách nhiệm gì. Ta liền tấu trình lên Ngọc Đế xin cho thay vào chỗ Cao Ngư Sanh, được chấp thuận. Từ đó, chư thần lớn nhỏ đều biết danh ta, hết lòng kính sợ. Thời gian sau, Ta thấy nhà Tần trị dân theo lối tàn khốc, xem dân như cỏ rác, liền tấu trình lên Ngọc Đế, xin được hóa thân xuống trần thế để dẫn dắt thiên hạ trong chốn lầm than, đưa người người đến chỗ an cư lạc nghiệp. Ý trời khó biết, lại khiến ta làm người nối dõi của Hán Cao Tổ Lưu Bang, người dựng nghiệp nhà Hán. Uy trời đáng sợ, ta không dám cưỡng mệnh. Chợt có vị Đại thần Cửu Thiên Giám Sanh đến buộc ta phải thác sanh xuống trần thế ngay. Giữa điện Vân Tiêu, ta nhìn xuống thấy lửa cháy thiêu cung A Phòng của nhà Tần đã tàn rụi, trong cung điện mới lại thấy Hán Đế vừa cùng Thích cơ gặp gỡ thân mật. Đại thần Giám Sanh bảo ta: “Đó chính là Hán Cao Tổ Lưu Bang.” Ta vừa đưa mắt nhìn cho rõ, liền bị Đại thần Giám Sanh đẩy xuống. Ta ngã nhào, rơi xuống bên cạnh Hán Đế, nhằm bụng Thích Cơ. Kiếp thứ 5 Hốt nhiên đến lúc nhận biết thì đã thành người. Hán Đế từ lúc sinh ta, đặt tên là Lưu Như Ý, cùng ta thần cốt tương trợ nên hành vi cử chỉ đều lộ vẻ phi phàm, về sau hết sức thương yêu ta. Đến khi tuổi già, có ý muốn bỏ thái tử Lưu Doanh mà lập Ta làm thái tử. Lã Hậu là mẹ thái tử Lưu Doanh, nhờ em là Lã Trạch đến cầu Trương Lương giúp. Trương Lương nhận lời, mời được 4 vị hiền nhân danh tiếng thời bấy giờ là Đông Viên Công, Giác Lý tiên sinh, Ỷ Lý Quý và Hạ Hoàng Công cùng về giúp khuông phò thái tử Lưu Doanh. Hán Đế Lưu Bang trước đã từng nhiều lần mời bốn vị này về giúp, nhưng họ đều từ chối, trốn tránh. Nay thấy bốn người cùng đồng ý theo phò thái tử, Hán Đế liền đổi ý không thay đổi ngôi vị thái tử nữa. Vì vậy, sự trợ giúp của Trương Lương và bốn người này cũng có thể xem là nguyên nhân dẫn đến quyền lực rơi vào tay Lã Hậu, và sau đó là những thủ đoạn tàn độc mà bà thực hiện sau khi Hán Đế mất để báo thù sự sủng ái trước đây của Hán Đế với Thích Cơ. Khi Hán Đế mất rồi, ta bị Lã Hậu sát hại. Bà còn cho chặt hết tay chân mẹ ta -Thích Cơ, khoét mắt cho mù, đốt tai cho điếc, đổ thuốc độc cho câm, rồi bỏ vào nhà xí và gọi đó là “người lợn”. (Thích Cơ bị hành hạ như thế cho đến chết. Theo đây có thể biết rằng Trương Lương và bốn vị Đông Viên Công, Giác Lý tiên sinh, Ỷ Lý Quý, Hạ Hoàng Công cùng với mẹ con Đế Quân hẳn có oán cừu từ nhiều đời trước. ) Kiếp thứ 6 Ta vì quá mức oán hận, mỗi khi nghĩ đến việc này chỉ muốn hóa làm loài đại mãng xà to lớn để nuốt sống hết toàn gia tộc họ Lã vào bụng mới thỏa lòng. Ta từ sau khi gặp cái họa Lã Hậu, trong lòng luôn nghĩ đến chuyện trả thù báo hận, không nhớ gì đến quá khứ đã từng tu tập chánh đạo. Tuy nhà họ Lã sau khi chết đã phải chịu sự trừng phạt khổ sở nơi âm ti, nhưng mối oan nghiệt với ta vẫn chưa dứt hết, nên lại thác sinh gặp nhau ở một bến sông vùng Đông Hải, thuộc huyện Cung Trì. Con ngựa của quan huyện lệnh chính là Lã Hậu tái sinh. Mẹ ta là Thích Cơ ngày trước, cũng sinh ra tại huyện này, vẫn mang họ Thích, nhưng do đời trước thụ hưởng phước báo quá đáng nên đời này phải chịu cảnh nghèo cùng, tiều tụy. Bà lấy chồng họ Trương, lớn tuổi rồi vẫn chưa có con, vợ chồng nương nhau làm nghề cắt cỏ mà sống. Một hôm, bà ra cắt cỏ ngoài đồng trống, chợt nghĩ đến việc mình tuổi tác đã cao mà vẫn chưa có con, trong lòng hết sức bi thương, rơi lệ khóc than, cầu nguyện với trời cao, lại cắt tay lấy máu nhỏ lên một hòn đá trong ao nơi đó rồi khấn rằng: “Nếu như dưới hòn đá này có con vật nào đang sinh sống, xin hãy về làm con ta.” Ta lúc ấy xúc động vì tấm lòng thành, bất giác thần thức lập tức chuyển nhập vào chỗ máu tươi. Hôm sau bà trở lại nhìn nơi hòn đá thì thấy vết máu đã hóa thành một con rắn thân dài một tấc, màu vàng lấp lánh, chính là ta đã thác sinh. Mẹ ta mang ta về nuôi dưỡng, qua một năm thì trên đầu rắn bỗng mọc ra sừng, dưới bụng mọc chân, lại có khả năng biến hóa. Mỗi khi trời muốn mưa, ta lại dùng sức biến hóa cùng hỗ trợ. Thân ta ngày càng dài to, bụng càng lớn, mỗi khi gặp các loài dê, ngựa, chó, lợn… liền ăn nuốt cả. Quan huyện có một con ngựa hay, chính là Lã Hậu tái sinh, ta bắt được cắn chết cho thỏa mối hận kiếp trước. Quan huyện liền bắt cha mẹ ta giam vào ngục, kỳ hạn trong 3 ngày nếu chưa bắt được ta sẽ xử 2 người tội chết. Hôm sau, ta liền hóa thành một nho sinh tìm đến xin gặp quan huyện, khuyên ông ta thả người. Quan huyện nói: “Vợ chồng lão họ Trương nuôi dưỡng con yêu xà, ăn nuốt gia súc dân làng đã lâu, nay lại ăn cả ngựa của ta. Ta muốn vì dân trừ hại, nhưng họ không chịu giao nó ra. Đó là họ tự làm yêu nghiệt, phải xử tội chết.” Ta nói với quan huyện: “Vật mạng bồi thường cho nhau, đều do nghiệp đời trước mà thành. Nay ông muốn vì súc vật mà giết mạng người, như vậy được chăng?” Quan huyện quát đuổi ta ra. Ta nói: “Trên mặt ông đã hiện tử khí, hãy khéo tự lo cho mình đi.” Nói rồi biến mất. Quân hầu đứng quanh đó đều cho là yêu ma. Ta liền trình lên Ngọc Đế kêu oan, kể lại việc đời trước mẹ con ta vô tội mà bị người nhà họ Lã hại chết, nay muốn báo thù rửa hận. Sự việc trình lên chưa được Ngọc Đế trả lời, nhưng ta khí hận ngút ngàn không kiềm chế được, liền biến hóa làm mưa gió, kéo mây đen vần vũ mù mịt, lại mượn nước biển lớn đổ vào thành ấp, trong vòng bốn mươi dặm đều ngập chìm mênh mông. Trước đó ta đã hóa hiện vào trong ngục thất, đưa cha mẹ ta thoát ra. Việc này xảy ra vào thời Hiếu Tuyên Đế (năm 74 – 49 TCN) của triều Tây Hán, trong sử sách có ghi lại trận lụt Hãm Hà chính là việc này. Ta mang việc oán cừu với Lã Hậu trình lên Ngọc Đế, chưa nhận được ý trời mà đã tự hành động, tuy nhất thời rất thích ý, nhưng ngay sau đó bình tâm nghĩ lại liền hối hận. Hôm sau, Ngọc Đế hạ thánh chỉ, nhân vì hải thần là Triều Hoành tâu lên việc ta tự ý sử dụng nước biển, hại chết hơn 500 hộ dân thường, tính ra đến hơn hai ngàn mạng người, trừ ra trong đó 80 người là có thù oán với ta, còn lại bao nhiêu đều là chết oan uổng cả. Kiếp thứ 7 Ngọc Đế trách phạt, bắt ta sinh làm một con rồng trong siêu hình, giam hãm trong một vùng nước đọng. Do hạn hán nhiều năm, sông ngòi cạn kiệt, nước hóa thành bùn. Cùng trong loài rồng, có khi được hưởng phước báo như các vị thiên thần, có khi chịu khổ não như địa ngục, cũng có khi đồng như loài người hoặc súc sinh, ngạ quỷ, mỗi mỗi đều tùy theo nghiệp đời trước mà thọ báo ứng. Thân ta khi ấy to lớn, không hang lỗ nào chui lọt. Mặt trời từ trên không ngày ngày chiếu xuống thiêu đốt thân ta, nóng bức khổ não; trên thân thì tám mươi bốn ngàn cái vảy đều có loài trùng nhỏ sinh ra trong đó, cắn rứt không thôi. Ta khốn khổ cùng cực như vậy, thời gian lâu không kể siết ,không còn biết đến ngày qua tháng lại. Một buổi sáng sớm kia, ta nghe khí trời chuyển sang mát dịu, như có gió lành thổi đến, rồi bỗng nhiên ánh trời tỏ rạng, mây lành năm sắc hiện ra trôi qua bầu trời, trong mây hiện các điềm lành, tỏa chiếu những quầng sáng màu tía, màu vàng, lại hiện nhiều tướng trạng vi diệu, hào quang rực rỡ xưa nay chưa từng thấy. Lại thấy các vị sơn thần, thủy thần, cho đến tất cả thần thánh đều tề tựu đến khấu đầu lễ bái, hoan hỷ tán thán. Lại có hương thơm cõi trời lan tỏa, hoa trời rơi xuống khắp nơi, những chỗ hoa rơi chạm đất đều hóa thành cảnh sắc tươi tốt như mùa xuân. Khi ấy ta bỗng nghe thân hình thay đổi, mắt sáng tai thính, các giác quan đều trở nên tinh tường, tâm được thanh thản, miệng lưỡi tươi nhuận, có thể phát được thanh âm. Ta lập tức ngẩng đầu kêu khóc, cầu xin được cứu độ. Các vị thần thánh đều bảo ta rằng: “Đó là bậc Đại Giác Thế Tôn ở Tây Thiên Trúc, đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Nay mang giáo pháp lưu hành về phương đông này. Ông đã được gặp Phật, nghiệp xấu trước đây có thể được hóa giải.” Ta liền tung người nhảy vọt lên, bay vào giữa ánh hào quang, mang hết những sự việc nhân quả báo ứng đã qua bạch rõ lên đức Phật. Thế Tôn liền dạy: “Lành thay! Ông xưa nay thường là con hiếu tôi trung, làm lợi lạc cho rất nhiều người, chỉ vì chấp tướng nhân ngã mà buông thả tự thân làm việc tàn hại. Nay có còn ôm giữ sự phân biệt kẻ oán người thân, khởi sinh tâm niệm ngu si sân hận nữa chăng?” Kiếp thứ 8 Ta nghe lời Phật dạy chí lý, tâm địa tức thời khai thông sáng suốt, không còn phân biệt nhân ngã, hết thảy vọng niệm nhất thời dứt sạch. Tự nhìn lại thân mình, hốt nhiên thân rồng đã theo các vọng niệm mà cùng lúc mất đi, trở lại thân nam nhi ngày trước, đạt được trí quán đảnh, liền quy y Phật . Ta nhờ tu thiện tích đức trong nhiều đời, dần dần được phục hồi chức Thần, nhưng những mối oan trái xưa kia vẫn chưa trả dứt nên chưa được yên. Vì lẽ đó mà lại tái sinh tại vùng Hà Sóc ở phía bắc sông Hoàng Hà. Vào lúc tướng Đặng Ngãi mang quân đánh Thục, ta ở trong quân giữ chức Hành quân tư mã. Ta khuyên Đặng Ngãi theo đường nhỏ trong núi mà đi để tránh gặp địch. Khi vào sâu đất Thục rồi, gặp tướng Thục là Gia Cát Chiêm. Đặng Ngãi dụ hàng Gia Cát Chiêm, hứa sẽ phong cho tước vương ở đất Lang Gia. Chiêm không nghe theo, quân hai bên giao chiến. Gia Cát Chiêm hết sức trung kiên, chống cự cùng ta, bắn tên như mưa. Trong trận ấy, ta bị trúng tên toàn thân. Gia Cát Chiêm cuối cùng cũng bị bắt giam lại. Ta có ý tìm cách cứu Chiêm, nhưng thân thể bị thương quá nặng mà chết. Ấy chính là món nợ trước kia ở Cung Trì, nay phải chịu báo ứng vậy. Kiếp thứ 9 Hết kiếp ấy, ta lại lên trời. Ngọc Đế thấy ta nhiều đời học đạo Nho, chuyên tâm tận ý nghiên cứu tam phần ngũ điển, liền giao phó cho ta chấp chưởng quản lý sổ bộ của thiên đình ghi chép việc khoa bảng ở nhân gian, đó là khi ta chính thức trở thành Văn Xương Đế Quân mà nhân gian vẫn thờ cúng như hiện nay. Hết thảy mọi việc liên quan đến sĩ tử từ các khoa thi nơi quận huyện, cho đến những việc lớn lao như quy chế thi cử, quan phục, bổng lộc, ngạch trật, phong thưởng… đều phải trình lên ta, cho đến việc bổ nhiệm hay bãi chức các vị thừa tướng, ngự sử cũng đều do ta chưởng quản. Khi đó,Ta học theo lời Phật dạy, tức thời chứng đắc pháp vô phân biệt, tâm an ổn thanh tịnh, thường nghĩ thương nhân dân tật bệnh khổ não. Bấy giờ, đất Thục gặp nạn lụt lớn, dân chúng nhiều người phải trôi giạt ly tán, lại khổ vì dịch bệnh truyền nhiễm, cho đến ung nhọt, lao sái đủ các loại bệnh. Ta biến hóa thành thường dân, làm một người lái thuyền, cứu thoát cả ngàn người bị đuối nước; lại hóa làm thầy thuốc, đích thân chẩn bệnh cứu sống rất nhiều người. Tại pháp hội trên đỉnh Linh Thứu, đức Phật Thích-Ca thọ ký cho ta rằng: “Ông ngày sau sẽ thành Phật, hiệu là An Lạc Bất Động Địa, Du Hý Tam-muội Định Tuệ Vương Bồ Tát, Thích-Ca Phạm Chứng Như Lai. Thánh hiệu An Lạc Bất Động là hiệu của Đế Quân trong tương lai khi thành Phật, chỉ là không biết còn phải trải qua bao nhiêu hằng sa số kiếp, cúng dường phụng sự bao nhiêu đức Phật, rồi mới chứng đắc được quả vị Phật ấy.
Lạm bàn : Trên đây là 9 kiếp luân hồi của ngài Văn Xương, nghe qua thì thấy rất dài dòng, nhưng thực chất 9 kiếp chỉ là một hạt bụi nhỏ trong sa mạc vô lượng kiếp của ông đã trải qua. Mỗi mỗi chúng sinh cũng đều như thế. Kiếp kiếp nối nhau, khi sinh làm kiếp người, xưng ta là người tên như thế, sinh làm thần, xưng ta đây là thần linh, tên như thế. Rồi chết đi sinh làm kiếp thú, nghĩ ta đây nay là loài súc sinh… cứ thế luân hổi, kiếp gì cũng từng làm qua. Vậy rốt cục thì TA LÀ AI ? Nếu cho rằng ta là người tên như thế, được cha mẹ tên như thế sinh ra, vậy chứ trước khi sinh ra, TA LÀ AI ? Khi chưa sinh, ta là ảo ảnh mang tên kiếp trước Sinh ra rồi, ta tiếp bước cảnh ảo gọi kiếp này. Chết rồi ảo ảnh luân hồi qua kiếp khác, Lại đem cuộc đời ấy, kiếp ấy gọi là ta.   Những ảo ảnh nối nhau liên tiếp Ta là cái nào trong vô tận kiếp liên miên ? Nhân quả tuần hoàn rồi Vô thường tan biến Chung quy chỉ như các giấc mộng nối liền Vô biên kiếp hãi hùng và khổ sở Sinh ra liền diệt mất, có gì sở hữu được ? Vì tất cả vốn là ảo ảnh hóa hiện Sao lại nhận ảo ảnh thiên biến để làm Ta ???   Buông hết đi, không ta, không người, không thọ giả… Không cầu được gì thì sẽ là chẳng mất CHÂN TÂM thật tướng dần hiển hiện Không sinh chẳng diệt, Tâm bất biến vĩnh hằng Bình an vô tận không gợn chút lăn tăn Là Niết Bàn – tạm đặt tên như vậy Hết Ta, hết khổ, hết lằng nhằng.

3 KIẾP NGƯỜI, 10 KIẾP THÚ

“Tôi là một người xuất gia. Một buổi tối trong lúc ngồi thiền nhập định, tôi đã nhớ lại và chứng thực những kiếp chuyển sinh của mình trong 600 năm trước. Nay xin được kể lại. 600 năm trước, tôi cũng từng là một tỳ kheo xuất gia. Tôi xuất gia năm 20 tuổi, từng thọ đại giới Tam Đường, tu hành hơn 50 năm. Trong quá trình tu hành học Phật đã làm không ít việc thiện, việc lành. Nhưng dù tu hành theo Phật, trong tâm vẫn còn tham luyến chuyện thế tục, ham muốn tận hưởng phúc báo nơi cõi người, cuối cùng không những không thoát ly khỏi lục đạo luân hồi, trái lại còn đọa lạc trong ba nẻo ác mà chịu khổ. Tôi sau khi từ kiếp tỳ kheo chết đi, chuyển sinh vào một gia đình tài chủ giàu có, lớn lên trở thành một công tử bột, suốt ngày tận hưởng cuộc sống ăn chơi rượu chè. Bên cạnh có 8 người hầu nữ, tuy tôi không háo sắc, nhưng cái tâm tham danh, tham tài rất là nặng, đã gieo không ít ác nghiệp. Một đời giàu sang này sau khi chết đi, lại chuyển sinh vào một gia đình quan lại. Sau khi trưởng thành, tôi đã làm tướng quân thống lĩnh binh mã. Lúc đó tôi uy phong lẫm liệt, cần gì có nấy, vinh hoa phú quý, sơn hào hải vị hưởng mãi không hết, cả ngày đắm chìm trong cuộc sống ăn chơi rượu chè. Bởi vì ăn, uống, chơi bời, hưởng lạc mà một lần nữa lại tạo nên ác nghiệp. Đặc biệt là đã từng dẫn binh giết chết không ít người, chém rơi đầu người ta, vứt xác xuống sông. Khi binh sĩ đối phương lẩn trốn trong bụi cỏ đều phải tìm kiếm rồi lôi ra giết chết cho bằng được, vì vậy mà kết hạ vô số oán duyên cho những đời sau. Sau khi tôi làm tướng quân chết đi, phải 3 lần chuyển sinh thành loài ếch nhái. Bởi vì chặt mất đầu người ta, vậy nên biến thành loài ếch không có cổ. Giết người ném xác xuống sông, khi tôi biến thành ếch bị gậy đập, câu móc, chết lật bụng trên mặt nước, hôi thối rữa nát, thậm chí còn chịu cái khổ bị người ta bắt giết, rút gân lột da để hoàn trả nghiệp báo đời trước. Sau khi làm 3 đời ếch nhái, tôi lại chuyển sinh thành gà rừng 4 đời liên tiếp bị người ta bắt giết, để hoàn trả món nợ khi tôi thân còn là tướng quân đã chỉ huy binh sĩ giết chết những người ẩn núp trong bụi cỏ. Khi tôi làm công tử, ham muốn hưởng thụ lạc thú ăn uống, cả ngày ăn những món ngon, cay, vậy nên chuyển sinh thành gà rừng chịu cái khổ bị giáo đâm, đao chém, hầm, nấu, xào, luộc để hoàn trả nợ nghiệp đời trước. Sau khi 4 kiếp làm gà rừng trả nghiệp báo rồi chết đi, lại chuyển sinh thành heo, liên tục trong 3 kiếp. Đây chính là ác nghiệp vào đời tôi còn làm công tử giàu sang, siêng ăn biếng làm, ăn không ngồi rồi, cứ mãi thích ăn thịt, đành phải làm heo để hoàn trả. Biến thành heo ăn những đồ dư thừa, ôi thiu, bị roi vọt đánh đập chịu không nổi, còn phải chịu nghìn dao róc thịt để hoàn trả nghiệp báo của hai kiếp người tham hưởng lộc ăn. 600 năm … Khoảng thời gian quý báu biết bao, cứ như vậy mà mê mờ trôi đi, làm sao không đau lòng? Lúc đó, khi nhìn thấy các kiếp sống luân hồi của mình, tôi đã khóc rất thương tâm mặc dù tôi vốn là một người rất khó rơi lệ. Lúc đó tôi nghĩ, tại sao tôi lại tham lam đến như vậy? Bởi một chữ tham, một niệm sai khác lúc lâm chung nên phải rơi vào ba nẻo ác đến 10 kiếp. Điều này sao tôi có thể không đau lòng hối hận cho được? 600 năm … Khoảng thời gian quý báu biết bao, cứ như vậy mà mê mờ trôi đi, làm sao không đau lòng? Tôi từ một người vốn không tin vào bất cứ quỷ Thần nào, giờ đã trở thành một người tin vào nhân quả, hơn nữa lại còn thấy được quả báo luân hồi của mình một cách chân thực. Một đời tỳ kheo, đắc được phúc báo trong hai đời người, không biết hành thiện tích đức, trái lại gieo phải vô số ác nhân, nên phải luân hồi 10 kiếp vào ba nẻo ác. Phải chịu quả báo cực kỳ đau đớn, hoàn trả xong ác nghiệp mới có thể chuyển sinh thành người – đây chính là nhân quả không hề sai chạy dù chỉ là một đường tơ kẽ tóc. Có người sẽ hỏi, tại sao không luân hồi vào cõi quỷ đói, địa ngục chịu khổ? Đây có lẽ là một ân huệ có được nhờ việc tu hành theo Phật ở đời trước của tôi. (Tiểu Thiện dịch )
Lạm bàn : Nhân quả trong câu chuyện này rất tinh tế, bạn để ý kĩ sẽ thấy nhiều điều thú vị. Thứ nhất : Trong kinh , Đức Phật có lần dạy về những việc thiện nhưng đem lại quả báo xấu, đó là : Ham nghiên cứu, học hỏi kinh điển vì muốn tranh hơn thua, giữ giới vì cầu lợi dưỡng ( đối với người xuất gia), bố thí để muốn chi phối người khác, và thiền định để cầu phước báo của cõi trời Vô Sắc ( kinh Đại Bát Niết Bàn ) Nói chung, đó là tạo các thiện nghiệp, nhưng xuất phát từ tâm ham cầu những danh – lợi – tiền tài – dục lạc thế gian…, thế nên vào thời kì đầu, phước báo trổ ra theo mong muốn, được hưởng danh lợi, dục lạc… nhưng thiện tâm thì chẳng còn, bị lợi danh, bị sự hưởng thụ vùi lấp nên tạo đủ loại tội lỗi. Chẳng phải ta vẫn luôn thường gặp hạng người này sao : phước rất lớn, tiền tài, danh vọng, quyền lực đủ cả, nhưng lại chỉ sống ích kỉ, tạo đủ thứ tội. Thế rồi, khi phước đã hết, thì quả báo ập tới vô cùng thê thảm và lâu dài. Trong câu chuyện này là 3 kiếp làm ếch, 4 kiếp gà rừng và 3 kiếp làm heo, bị giết mổ đau đớn nhiều lần. Tất cả chỉ vì lúc ban đầu làm các việc thiện để cầu quả báo danh lợi, tài sắc…nơi thế gian. Vậy nên, đệ tử Phật ngay từ đầu phải hiểu rõ điều này, đó là dù tu huệ hay tu phước , đều phải cầu thoát ly khỏi luân hồi sinh tử này, hoặc cầu vãng sinh Tịnh Độ, hoặc cầu đạt đến Thánh quả A La Hán, cầu Phật Quả Vô Thượng. Chớ nên dại dột mong cầu những niềm vui sướng mong manh, tạm bợ của luân hồi sinh tử như ái tình, dâm dục, dung nhan, tiền tài, quyền lực, danh vọng… Thứ hai : đó là vấn đề thời gian của quả báo, nhiều người luôn thắc mắc vì sao thấy những người ác mà chắng bị quả báo ? Đơn giản vì phước người đó chưa hết, chừng nào phước hết, quả báo của các việc làm xấu ác mới trổ ra được, có khi vài chục năm quả báo mới thấy, có khi vài kiếp sau mới thấy. Trong chuyện này, kiếp đầu tiên ông làm tỳ kheo tu hành 50 năm, tạo không ít việc thiện. Phước báo đó khiến 2 kiếp sau ông luôn được sung sướng, kiếp đầu làm công tử nhà giàu, ông toàn ăn chơi, lười biếng, háo danh sát sinh, … nhưng mọi người xung quanh vẫn thấy ông chẳng bị quả báo gì cả, thậm chí qua kiếp sau vẫn được làm tướng quân, quyền lực, tài sản dư thừa. Đơn giản vì phước của 50 năm tu hành, tích phúc trong kiếp trước chưa hết, khi phước đó hết rồi, ông lập tức bị đọa xuống làm súc sinh, bị giết mổ trong nhiều kiếp liên tiếp. Cũng may, ông có duyên với Phật Pháp, từng lễ kính Phật, phụng sự Tam Bảo ( việc đương nhiên của tỳ kheo) nên chỉ bị 10 kiếp súc sinh, chứ nếu không, có thể ông còn bị xuống địa ngục ngàn vạn năm, bị làm thân súc sinh cả trăm ngàn lần chứ không ít. Thế nên, suy xét nhân quả luôn phải xét trên thời gian lâu xa nhiều kiếp, không nên nhìn chuyện vài năm, vài chục năm mà võ đoán. ( Quang Tử)

LÒNG NHÂN TỪ VÀ TƯỚNG MẠO.

Chuyện kể rằng có một ông thầy tướng rất nổi tiếng khắp vùng, khách tới xem đông lắm. Một hôm có một người bạn ở phương xa đến nói rằng: – Tôi không tin về xem tướng! Ông thầy tướng hỏi lại: – Tại sao anh không tin? Anh kia nói: – Theo thầy nói chỉ có những người có tướng tốt như da trắng, tai to mặt lớn v.vv… Thì mới giàu có, hạnh phúc, con cháu mới thành đạt. Thế tại sao ở vùng quê kia có một tay địa chủ dáng người thì thấp bé, mắt lại lé, da lại đen… Mà tại sao mấy chục năm nay càng ngày càng giàu có. Vợ lại đảm đang, con cái học hành lại thi đỗ cao. Vậy là ngược lại với lời thầy nói. Ông thầy không tin, nói: – Anh đưa tôi đi tận nơi xem nhé ! Anh kia vui vẻ nhận lời. Sau mấy giờ lặn lội, khoảng gần trưa, hai người đến một nơi đồng ruộng thẳng cánh cò bay, lúa chín vàng nặng trĩu bông, đang vào mùa gặt. Anh bạn chợt chỉ tay đến một khoảng cách hơi xa có mấy người đang lúi húi gặt lúa: – Người địa chủ mà tôi nói kia kìa. Hai người tiến lại gần. Sau hồi chào hỏi, tay bắt mặt mừng, người địa chủ mời cả hai về nhà. Mới đi được một đoạn ngắn, chợt người tá điền đi cạnh chỉ tay ra phía xa trên đường đi tới và nói với người địa chủ: – Ông chủ ơi ! Ở đằng kia có mấy người đang gặt trộm lúa của đồng ta ! Để tôi đến bắt họ giải lên quan nhé ? Nhưng người địa chủ ngăn lại và nói: – Không được, năm nay đói kém, mất mùa, dân đói khổ mà ruộng nhà ta lại tốt, cứ để cho họ lấy một ít có sao đâu! Nhà ta có mất một ít thì vẫn thừa ăn, nhưng họ không có ít đó thì gia đình họ sẽ đói. Nói xong, ông địa chủ quay lại nói với anh bạn và ông thầy: – Chúng ta đi đường này tắt về nhà gần hơn, đừng để họ thấy chúng ta. Người tá điền thì hậm hực, còn ông thầy tướng cúi đầu ngẫm nghĩ. Đến nhà người địa chủ quả nhiên như anh bạn nói. Nhà cửa khang trang sạch sẽ. Vào đến sân, những tá điền đang làm việc đứng dậy lễ phép cúi chào rồi lại tiếp tục làm. Bước vào hiên nhà bà vợ có tướng phúc hậu đon đả chào hỏi. Ngay sau đó bốn người con đủ trai, gái từ trong buồng bước ra khoanh tay lễ phép cúi chào. Vào đến trong nhà, ông thầy thấy ngay một bàn thờ đang nghi ngút khói hương. Trên cao sát tường là ba bức tranh thờ Đức Phật Tổ Như Lai, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát và Đức Thánh Mẫu Thiên Cung. Đặt trên bàn thờ là năm bát nhang đang tỏa khói hương thơm ngào ngạt, tàn nhang lộc xoắn suýt. Ông thầy tướng quay sang nói với người bạn: – Bây giờ tôi đã hiểu ra nguyên nhân.

KINH ĐẠI THỪA CÔNG ĐỨC TẠO TƯỢNG PHẬT

Hán dịch: Tam Tạng Sa Môn- Đề Vân Bát Nhã Việt dịch : Tỳ kheo Thích Thiện Thông. Hiệu đính : Cư sĩ Quang Tử
Tôi nghe như vầy: Một thời Đức Phật ở tại cõi trời Đao Lợi, dưới cây Ba Lợi Chất Đa La (Chú thích: chúa tể những loài cây trên trời), cùng với vô lượng đại Tỳ kheo chúng, vô lượng vị đại Bồ Tát câu hội, Ngài Đại Bồ Tát Di Lặc là bậc đứng đầu. Bấy giờ, Đức Thế Tôn ở trên trời ấy an cư ba tháng thuyết pháp cho mẹ, nhiều sự lợi ích đối với chư Thiên, vô lượng chư Thiên lìa khổ, giải thoát. Vô lượng chư Thiên thấm nhuần giáo pháp, được quả phước lớn. Khi đó, trong số chư Thiên, có một Thiên tử thọ số sắp hết, năm tướng suy hiện (Chú thích : Hoa trên đầu héo – Y phục nhơ nhớp – Đổ mồ hôi nách – Thân hình hôi hám – Không ưa ngồi trên tòa). Nhờ sức nghe pháp, sau khi mệnh chung, sinh lại cõi trời này, lìa hẳn nẻo ác. Lúc ấy, trong Diêm Phù Đề không có Đức Phật. Ví như đêm tối, đầy những vì sao nhưng không mặt trăng, như nước không vua, như nhà không chủ, thì những cuộc vui, những trò giải trí đình chỉ tất cả. Khi đó chúng sinh dường như côi cút không chỗ nương tựa. Đối với Đức Phật, tấm lòng mọi người mang nỗi luyến mộ sinh rất buồn rầu như mất cha mẹ, như tên bắn vào tim, cùng nhau đến chỗ Đức Phật từng ở, chỉ thấy vườn rừng, sân hiên vắng ngắt, đâu cũng trống trải không có Đức Phật, mọi người càng thêm buồn nhớ không nguôi. Bấy giờ, vua Ưu Đà Diên đang ở trong cung thường mang nỗi buồn, luôn luôn xúc cảm, khát ngưỡng Đức Phật, vua chẳng màng đến chánh cung, thế nữ và các cuộc vui, vua nghĩ như vầy: “Nay ta lo buồn không lâu sẽ chết! Làm sao cho ta lúc chưa bỏ mạng, được thấy Đức Phật?” Rồi vua lại nghĩ: “Ví như người nào lòng thương yêu ai nhưng không được gặp, nếu thấy chỗ nơi người ấy đã ở, hoặc thấy kẻ nào giống hệt người ấy, may ra trừ bớt những nỗi u buồn.” Vua nghĩ ngợi thêm: “Nay ta nếu đến nơi Phật đã ở trước đây mà không thấy Phật, chắc ta thương khóc, cảm xúc đến độ có thể chết mất! Ta xem trong đời không có người nào mà về sắc tướng, phước đức trí tuệ có thể ngang bằng với Đức Như Lai, làm sao cho ta gặp người như thế để ta bớt sầu?” Khởi niệm ấy rồi, vua lại ngẫm nghĩ: “Nay ta hãy nên tạo hình – tượng Phật, lễ lạy cúng dường.” Nhưng vua lại xét: “Nếu ta tạo tượng mà không giống Phật, e khiến cho ta mắc vô lượng tội.” Rồi vua nghĩ thêm: “Giả sử những người thông minh trong đời đều cùng đề cao công đức của Phật vẫn chẳng thể hết. Nếu một người nào tùy phần khen ngợi, người ấy vẫn được phước đức vô lượng. Nay ta cũng vậy, nên tùy phần mình mà tạo ra tượng.” Nhà vua lập tức truyền lệnh cho những người thợ khéo trong nước đều phải nhóm lại. Mọi người nhóm rồi, vua bảo họ rằng: – Người nào có thể vì ta mà tạo hình – tượng Đức Phật, ta sẽ đem những châu báu trả công và thưởng người ấy. Những tay thợ giỏi cùng tâu vua rằng: – Nay vua ra lệnh, thật là việc khó. Tướng tốt nhiệm mầu của Đức Như Lai, trên thế gian này không ai sánh nổi. Nay đây chúng tôi làm sao có thể tạo ra hình- tượng Phật? Giả sử Thiên thần Tỳ Thủ Yết Ma mà có tạo tượng, cũng chẳng thể nào giống Đức Như Lai. Nếu như chúng tôi nhận lời đức vua tạo hình – tượng Phật, may ra có thể mô phỏng ít phần về tướng xoắn tóc và bạch hào, ngoài ra những tướng tốt đẹp sáng rỡ, đầy vẻ oai đức, người nào có thể tạo nổi? Đức Phật rồi đây, sẽ từ cõi trời trở xuống nhân gian, hình – tượng tạo ra nếu có sai lầm, tiếng tăm chúng tôi sẽ bị lui mất, chúng tôi trộm nghĩ không thể dám làm. Vua Ưu Đà Diên khi đó nói lại: – Tâm ta đã quyết, chớ có chối từ! Như kẻ sợ khát muốn uống nước sông, không lẽ vì uống chẳng thể cạn nước sông, rồi không uống nước hay sao? Những người thợ khéo nghe vua nói vậy, đều quỳ trước mặt, bạch lên vua rằng: – Xin y theo lệnh, nhưng thỉnh đức vua cho phép chúng tôi nghĩ ngợi đêm nay, sáng mai đến làm. Họ lại bạch thêm: – Nay vua tạo tượng, nên dùng thuần gỗ Chiên đàn (Chú thích: loại gỗ quý, có mùi thơm nức, không có mùi thơm nào sánh kịp, mọc ở xứ Ấn Độ), sớ thịt nó mịn, thể chất rất bền, còn hình – tượng Phật là ngồi hay đứng, cao thấp thế nào? Vua đem lời ấy hỏi lại các quan. Có một vị quan thông thạo hiểu biết, ra bạch vua rằng: – Vua nên tạo tượng Đức Như Lai ngồi. Tại sao vậy? Bởi vì, tất cả chư Phật chứng đại Bồ Đề, chuyển bánh xe Pháp, hiện thần thông lớn, hàng phục ngoại đạo, làm Phật sự lớn… Tất cả đều là tư thế ngồi. Do đó nên làm hình – tượng Đức Phật ngồi kiết già trên tòa sư tử. Ngay trong khi đó, vị trời Tỳ Thủ Yết Ma (Chú thích: là bề tôi của trời Đế Thích, có khả năng biến hóa và làm ra các vật, các nghề khéo lạ, trông coi về phần kiến trúc), từ xa nhìn thấy việc này, xét biết ý vua muốn tạo tượng Phật liền trong đêm ấy suy nghĩ như vầy: “Chỗ hiểu biết về cơ thể, ta là bậc kì tài, trong cả thế gian không ai như ta, nếu ta vì vua tạo tượng, chắc hơi giống Phật.” Liền biến thân mình thành người thợ mộc, cầm dụng cụ bén. Trời vừa hừng sáng, người đến đứng cạnh cửa cung nhà vua, bảo người giữ cửa bạch rõ vua rằng: “Nay tôi muốn vì vua mà tạo tượng, nghề khéo của tôi không ai sánh bằng, cúi xin nhà vua chớ sai người khác.” Vua nghe lời ấy lòng rất vui mừng, ra lệnh mời vào, vua xem hình dạng, cử chỉ, biết là thợ giỏi, bèn nghĩ thầm rằng: “Thế gian làm sao mà có người nầy? Phải chăng Thiên thần Tỳ Thủ Yết Ma hay đệ tử Ngài đến nơi đây chăng?” Liền đó nhà vua bèn cởi chuỗi ngọc đang đeo trên mình, tự tay cầm chuỗi, choàng lên cổ thần Tỳ Thủ Yết Ma, vua còn hứa đem các món châu báu tưởng thưởng công lao. Lập tức nhà vua cùng quan giữ kho, đi vào trong kho soạn lựa gỗ thơm, đích thân vua kề vai khiêng vác, đem giao cho người thợ trời và bảo thợ rằng: – Lành thay, thưa Ngài! Hãy dùng gỗ này, vì tôi tạo tượng, sao cho giống với hình- tượng Đức Phật. Khi ấy, thợ trời liền thưa với vua: – Tay nghề của tôi tuy rằng đệ nhất. Nhưng về việc tạo hình- tượng Đức Phật, trọn chẳng thể hết. Ví như có người, lấy than mà vẽ mặt trời, nói rằng vẽ giống thì thật phi lý. Dẫu lấy vàng ròng để tạo tượng Phật, lại cũng như thế. Có những ngoại đạo thường tuyên bố rằng: “Phạm Vương có thể sáng tạo thế gian” nhưng cũng chẳng thể tạo hết tướng tốt nơi hình Đức Phật. Chỉ tay nghề của tôi trên hết trong đời, bởi vậy nay tôi vì vua mà làm. Sáng nay là ngày mùng tám trong tháng, đang lúc có sao Phất Sa và sao Tỳ Ha Đề xuất hiện. Khi Phật mới sinh, cũng có hiện ra điềm cảm ứng này. Hôm nay tốt lành, hãy nên khởi công.” Thần Tỳ Thủ Yết Ma phát lời đó rồi, cầm búa đẽo gỗ, tiếng đẽo vang lên đến trời Đao Lợi, tới chỗ Đức Phật. Do thần lực Phật, tiếng vang đến đâu, những chúng sinh nào được nghe tiếng đục, tội cấu, phiền não đều được tiêu trừ. Bấy giờ, Đức Như Lai bèn mỉm miệng cười nhiều cách, khen ngợi công đức của vua, cho đến ở xa thọ ký cho vua Thánh Đạo Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Lúc ấy, Đế Thích – Thiên chủ cõi trời Đao Lợi bạch Đức Phật rằng: – Kính bạch Đức Thế Tôn! Nay tại thế gian có người nào, từng ở kiếp xưa tạo tượng Phật chăng? Đức Phật bảo Ngài Thiên chủ Đế Thích: – Những ai đã từng tạo tượng Đức Phật thủa quá khứ trước đây, đều đã được giải thoát cả rồi. Tại thiên chúng đây còn không có ai sót lại, huống gì nơi khác. Chỉ trừ một người con của ông Tỳ Sa Môn ở về phương Bắc, tên là Na Lý Sa Bà, thuở xưa có lần tạo tượng Bồ Tát, do phước này nên sau được làm vua, tên là Tần Bà Sa La. Lại do gặp ta, nay được sinh Thiên có thế lực lớn, lìa hẳn ác đạo. Tỳ kheo Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Già Da Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp, cả ba vị này kiếp xưa từng sửa chùa thờ tượng Phật, do nhân duyên đó vĩnh viễn giải thoát. Ông Kiều Phạm Ba Đề kiếp xưa là thân trâu, nhân tìm cỏ nước đi quanh chùa, ăn cỏ trong những bụi tre, do thấy tôn dung của tượng Phật phát tâm vui mừng, nhờ phước đó mà nay được giải thoát. Ông Thi Tỳ La từng cầm lọng báu cúng dường tượng Phật. Ông Nậu Lâu Đà thắp một ngọn đèn cũng để cúng dường tượng Phật. Ông Du Bệ Ma từng quét nền dưới tượng Phật. Ông A Bà Ma Na ở trước tượng Phật thắp đèn giúp sáng, Tỳ kheo Nan Đà mến trọng tôn nghi, nên dùng nước thơm gội rửa tượng Phật v.v… có vô lượng vị A La Hán như vậy, tất cả đều từng ở chỗ tượng Phật dâng lễ vật mọn cúng dường. Cho đến thấp nhất như ông Na Già Ba La, ở trước tòa tượng Phật, dùng chút ít son vàng vẽ thân một tượng vì để cúng dường… Do phước này nên đều lìa hẳn khổ và được giải thoát. Đức Phật bảo tiếp: – Này Thiên Đế Thích! Nếu có người nào, có thể ở thời giáo pháp của ta chưa diệt tận, mà tạo tượng Phật, sẽ ở nơi hội đầu tiên của Phật Di Lặc, đều được giải thoát. Nếu chúng sinh nào, chẳng phải vì bản thân của mình, cầu xuất ly vì muốn chứng quả Vô Thượng Bồ Đề mà tạo tượng Phật, nên biết đó là cái nhân chính của ba mươi hai tướng, có thể làm cho người ấy nhanh chóng thành Phật. Bấy giờ, vua Ưu Đà Diên, tự tâm suy nghĩ: “Làm sao khiến cho pho tượng ta tạo mau được hoàn thành.” Nghĩ như thế rồi nói với thợ trời: – Ngài cố gắng sức giúp cho công việc mau được hoàn tất, cho tôi sớm được chiêm ngưỡng, lễ lạy. Lúc đó, vị thợ trời Tỳ Thủ Yết Ma trổ hết tài khéo, chuyên tâm chẳng biếng trễ, không đầy một ngày mà tạo thành tượng. Tượng ngồi kiết già, cao bảy thước mộc, mặt và tay chân đều màu vàng tía. Vua Ưu Đà Diên thấy tượng được hoàn thành, tướng tốt trang nghiêm, tâm vua phát sinh đức tin thanh tịnh chứng “Nhu thuận nhẫn”. Chứng được rồi vua càng mừng rỡ, bao nhiêu nghiệp chướng và những lo buồn đều tiêu tan hết, như mặt trời mọc sương mù đều tan hết, chỉ trừ một nghiệp mà hiện thân đang chịu, là bởi đã từng đối với Thánh nhân khởi lời nói ác. Nhà vua khi ấy đem toàn những món ngọc quý, vật lạ ban thưởng thợ trời, nhưng vị thợ trời thưa với nhà vua: – Nay vua tạo tượng lòng tôi tùy hỷ, nguyện cùng nhà vua đồng tu phước này. Nay vua ban cho, tôi không dám nhận.Nếu cần cho nhau, xin hãy đợi đến một ngày lành khác. Vị thần nói xong liền trong đêm ấy trở lại cõi trời. Ngay sau đó, các vua nước lớn, như vua A Xà Thế v.v… các vua ấy đối với Đức Phật, đều mang một niềm khao khát ngưỡng mộ, nghe vua Ưu Đà Diên tạo tượng công phu đã thành, họ đều mừng rỡ, cùng nhau đến chỗ vua Ưu Đà Diên, vua nào cũng đem rất nhiều hoa, hương, âm nhạc cúng dường tượng Phật, lại đem các món ngọc quý trao tặng vua Ưu Đà Diên. Các vua đều nói: -Việc làm của Ngài thật là hiếm có, hay nhổ được mũi tên độc buồn rầu cho cả chúng tôi. Đang trong khi ấy trên trời Đao Lợi, Đức Như Lai đã vì mẫu thân của Ngài diễn nói kinh pháp, và hàng chư Thiên đều được lợi mừng. Những việc đáng làm Phật đã làm xong. Đức Phật lại bảo các Thiên chúng rằng: – Hỡi các Thiên tử! Chư Phật Thế Tôn là thân Thường trụ (Chú thích: vĩnh cửu, ở đây là chỉ Pháp thân của Phật). Nếu các chúng sinh, người nào đáng độ, chư Phật liền vì đó hiện ra giáo hóa, nói pháp cho nghe. Nếu những Phật sự đã xong xuôi rồi, không còn người nào có thể thọ pháp giáo hóa, Như Lai khi đó liền chẳng hiện nữa. Kẻ không trí tuệ cho rằng Đức Phật diệt độ thật sự. Thân chư Như Lai chính là Pháp thân, là thân thường hằng, thật sự chẳng diệt độ. Này chư Thiên tử! Pháp của chư Phật đều như vậy cả, vì giáo hóa chúng sinh mà có xuất hiện, hoặc không xuất hiện. Kế đó Đức Phật lại dạy, nói tiếp: – Các ngươi nên biết! Hàng chư Thiên đây, những người đáng độ ta đã độ rồi. Nay ta sắp xuống cõi Diêm Phù Đề, chư Thiên các người nếu nghĩ đến ta, hãy siêng tinh tấn, chớ có buông lung. Vì sao thế? Cũng vì tội lỗi của sự buông lung, làm cho các người chẳng được Thánh Đạo Vô Thượng Bồ Đề. Song bởi các ngươi về thuở xa xưa từng trồng căn lành, nay được ở đây hưởng lạc thú cõi Trời, để rồi buông lung, say đắm thú vui, chẳng tu phước hạnh. Những khoái lạc này theo sự vô thường, một phen rơi rụng, là trôi nổi mãi trong các đường ác. Lại nữa chư Thiên! Các người phiền não rất nặng, thấy ai hơn mình bèn sinh ganh tỵ, chẳng từng nghĩ rằng: cõi Trời nào vui sướng hơn là do tạo nhiều phước nghiệp chiêu cảm, nếu ta siêng tu thì cũng sẽ được. Nay đây các người thân sắc sáng nhuận, như mặt trời mọc vào buổi bình minh, nếu hay ôm lòng ganh ghét, đố kỵ, thì sẽ đen tối như tro than tàn, còn phải đọa vào ngục tối tăm, đến đỗi chẳng thể tự thấy bàn tay mình, sau còn phải làm quỷ ăn đồ bẩn nữa. Lại nữa chư Thiên! Hưởng những phước báo được thân nghiêm tịnh, oai thế dũng mãnh, do ganh tỵ nên sẽ chịu thân nữ, mất hẳn sức lực oai hùng dũng mãnh của bậc trượng phu. – Hỡi các Thiên tử! Ta nhớ thuở xưa có vô lượng vị vua, vì lòng ganh tỵ của chính các người, mà phải bị hại một cách phi lý. Này các Thiên tử! Xưa có vua A Tu La (Chú thích: phi thiên, một dạng thần có phước báo lớn, nhưng không phải chư Thiên) tên là Ô La, tu hành khổ hạnh, giới phẩm trong sạch, chư Thiên các người sai một Thiên nữ tên Ô Bà Thi mê hoặc tâm vua, khiến mất phẩm hạnh. Vua ấy đắm nhiễm, cho nên oai đức tổn giảm, bị trời Na La Diên giết hại, và cả vô lượng dân chúng A Tu La cùng lúc bại diệt. Trời Na La Diên giết vua A Tu La này rồi, lại tru diệt luôn binh chúng Tu La, thâu hồi Thiên nữ Ô Bà Thi trở về Thiên cung. Lại có một vua A Tu La tên Na Ha Thọ, chư Thiên các người dùng lời gạt gẫm ông ta, lại giúp các Thiên chúng khác đánh phá A Tu La. Rồi chư Thiên các người quay lại hại ông ta. Lại nữa chư Thiên! Các người vì cớ Xá Chỉ phu nhân (Chú thích: bà này vốn là công chúa A Tu La, sau làm vợ Đế Thích) sinh tâm ghen ghét, Xá Chỉ xúi giục vua A Tu La gây hấn, khiến cho Tiên nhân tên A Già Bà vô cớ bị ngờ mà nổi lời nguyền độc địa. Lại nữa, chư Thiên các người từng dối gạt, bảo vua Ế Trà rằng: “Chỗ của người Tiên có nhiều vàng ròng”, vua Ế Trà tin lời này ép người Tiên đưa ra, vua Tiên do đây lòng sinh căm giận, liền đó vua Tiên bị lửa mạnh đốt cháy. Xưa lại có vua trời tên là Đề Bà, trước thường bày đại hội để cúng dường, do phước nghiệp này oai lực tự tại, bèn sinh lên trời đây hưởng lạc thú trời, chư Thiên các người ôm lòng ganh tỵ, hãm hại khiến cho Đề Bà từ trời Đao Lợi rớt xuống trần gian, bao nhiêu oai thế thảy đều tan nát, như trăng hết sáng, như sông cạn nước. Này các Thiên tử! Trong đời lắm người oai đức tự tại. Hoặc được thần thông, có người thành tựu bốn sức Thần túc… nếu khởi lên một niệm ganh tỵ, công đức như thế lui mất trong một lúc, như Đề Bà Đạt Đa chẳng hạn, si mê dày đặc mới đối với ta mà sinh lòng ganh, lập tức mất năm thứ thần thông. Lúc ấy, Thiên Đế bạch lên Đức Phật: – Kính bạch Đức Thế Tôn! Nay con có nghi muốn được thưa hỏi: Về sự ganh tỵ là như thế nào? Thiên Đế hỏi tiếp: – Kính bạch Đức Thế Tôn! Nếu có chúng sinh thấy người hơn mình bèn nghĩ như vầy: “Làm sao cho ta thu hoạch được những gì người kia đã được”, tâm ấy có phải là ganh tỵ chăng? Đức Phật đáp: – Không phải! Đó là tâm tham, không phải ganh tỵ. Này Thiên Đế Thích! Ganh tỵ nghĩa là tự mình cầu danh lợi chẳng muốn người khác có, thấy cái người khác có mà sinh ghét giận, ấy là ganh tỵ. Bấy giờ, các hàng Thiên chúng, đều từ chỗ ngồi đứng dậy, gối mặt chấm đất, chấp tay hướng Phật và bạch lời rằng: – Như lời Phật dạy, chư Thiên chúng con đều sẽ vâng làm. Lạy Đức Như Lai tôn kính trên đời, là Cha, là Chúa, là đấng tối tôn, là đấng Tối thắng. Đối với chúng con, khởi đại Từ Bi mà đến nơi đây khiến các Thiên chúng đều được lợi ích. Sở nguyện chúng con vẫn chưa được mãn, muốn một lần nữa thỉnh Phật một điều: Kính bạch Đức Thế Tôn! Người dưới thế gian đối với chư Thiên chúng con, họ hay khinh lờn. Vì sao ? Bởi các Đức Phật sinh trong loài người, và ở cõi người thành bậc Chánh Giác. Giữa loài người có những vị A La Hán đã được chứng quả. Các vị Độc Giác có oai đức lớn, lại cũng xuất hiện giữa lòng nhân loại. Nay Đức Như Lai nếu chẳng ở đây, đi xuống cõi Diêm Phù Đề, thì người thế gian đều sẽ cho rằng: Chư Thiên chúng con chẳng biết Như Lai có oai đức lớn, đáng để chư Thiên đúng pháp cúng dường. Và còn cho rằng: Chúng con chẳng hay cúng dường các đức Như Lai tôn quý của đời. Mong Đức Như Lai nán lại một chút, nhận phần cúng dường nhỏ mọn của chúng con, để người thế gian biết hàng chư Thiên đã cúng dường Đức Phật. Khi ấy Đức Phật im lặng nhận lời. Bấy giờ, Phật bảo tôn giả Đại Mục Kiền Liên: – Người hãy về trước dưới Diêm Phù Đề, thăm hỏi bốn chúng, nói lời như sau: “Tất cả những ai nhớ nghĩ đến ta, đều nên nhóm hội tại nước Tăng Già Thi, trong bảy ngày nữa sẽ được thấy ta.” Ngài Mục Kiền Liên lạy dưới chân Phật, lạy chân Phật rồi, trong khoảng chớp mắt đã hiện đến cõi Diêm Phù Đề, đem lời Phật dạy nói với bốn chúng. Vua Ưu Đà Diên cùng cả mọi người nghe Phật báo tin, thân tâm người nào cũng mừng khấp khởi, đều trừ nỗi buồn, đều được thoải mái. Lúc ấy bốn chúng, các vị Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni, các Cư sĩ nam và Cư sĩ nữ, muốn cùng qua đến nước Tăng Già Thi, trước hết họ nhóm họp tại thành Vương xá, bàn với nhau rằng: – Đức Phật Như Lai, bậc tôn kính của thế gian, sắp sửa trở xuống cõi Diêm Phù Đề, người nào có thể cung kính lễ lạy Đức Phật trước nhất, người ấy sẽ làm thượng thủ trong khoảng thời gian pháp chưa diệt tận. Tôn giả Ma Ha Ca Chiên Diên nghe lời đó rồi, trong lòng chẳng vui, e rằng bên Ni được làm thượng thủ. Vì sao thế? Trong toàn Ni chúng có Ưu Ba Ban Đà và Liên Hoa Sắc. Hai Tỳ kheo Ni này có thể thông suốt Tạng pháp chư Phật, thần thông chứng được, chỉ trừ Tôn giả Đại Mục Kiền Liên, ngoài ra không ai bằng hai bà. Nghĩ như thế rồi, ngài Ca Chiên Diên đủ cách quở rầy chúng Tỳ kheo Ni. Lúc đó, Tỳ kheo Liên Hoa Sắc, bảo Ni chúng rằng: – Người nữ chúng ta ở giữa thế tục thường được tôn quý, dẫu cho dòng dõi có hèn chăng nữa, vẫn được đàn ông cung kính nể vì, cung phụng đủ thứ. Vả lại chư Ni trong pháp của Phật, cha mẹ quyến thuộc, phần nhiều thuộc về dòng dõi vua quan. Ni giới chúng ta tinh tấn, trì giới, chẳng phạm oai nghi, đủ các đức nghiệp, vậy mà vẫn phải lễ kính Tỳ kheo mới thọ đại giới. Tôn giả Ca Chiên Diên nay lại nhiều điều quở trách thế này… Ta sẽ vì chư Ni bày các phương tiện, khiếnTỳ kheo Ni xuất sắc hơn Ngài. Nói như thế rồi cùng với bốn chúng, đồng đến dự nơi thành Tăng Già Thi. Bấy giờ, vua Ba Tư Nặc, vua A Xà Thế và vua Nghiêm Xí nước Tỳ Xá Ly… Mỗi vua đều dẫn bốn đội binh hùng (Chú thích: bộ binh, kị binh, xa binh, tượng binh) hộ tống theo vua, có thế lực lớn. Voi ngựa được cỡi đều dùng các thứ vật quý tô điểm. Cờ xí, phan lọng, hương hoa, kỹ nhạc, oai dung nghiêm nghị, tướng trạng dường như các vị Thiên thần, họ đều qua đến thành Tăng Già Thi. Vua Ưu Đà Diên lúc đó nghiêm chỉnh, đội ngũ bốn binh làm kẻ thị tùng. Vua cỡi voi trắng, có châu ngọc thêu thùa, đích thân vua chở tượng Phật đã tạo. Rải hoa, cầm phướn (Chú thích : nay gọi là băng- rôn), nhạc công trỗi nhạc đi theo cúng dường, từ nước của vua hướng về thành Tăng Già Thi. Khi ấy, Thiên thần Tỳ Thủ Yết Ma, cùng chư Thiên chúng, biết Phật sắp sửa xuống Diêm Phù Đề, bèn tạo ra ba con đường có thềm cấp quý, từ thành Tăng Già Thi đến trời Đao Lợi, thềm cấp đường giữa tạo bằng lưu ly, thềm đường hai bên đều bằng hoàng kim, chỗ đặt chân xuống lót bằng bạc trắng, xen kẽ với bảy thứ ngọc cõi trời. Thiên chủ Đế Thích sai các Thiên sứ đến Trời Dạ Ma, trời Đâu Suất Đà, đến trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại và trời Phạm Thế, để báo tin rằng: “Đức Phật sắp xuống cõi Diêm Phù Đề, như muốn cúng dường xin xuống nơi đây.” Lại sai sứ xuống trời Tứ Thiên Vương, Long Vương biển lớn, vua Càn Thát Bà, vua Khẩn Na La, và chúng Dạ Xoa, bảo với họ rằng: “Nay Đức Thế Tôn sắp xuống cõi Diêm Phù Đề, các vị có thể đem những cúng phẩm đến đây cúng dường.” Lúc đó, các Trời, Rồng, Thần v.v… nghe lời báo rồi, ai cũng vân tập về trời Đao Lợi. Bấy giờ, đức Thế Tôn ở tại đỉnh núi Tu Di, cùng với đông đảo chư Thiên các cõi trời lúc sắp đi xuống, toàn thể chư Thiên trước sau rợp trời, oai đức lừng lẫy, ánh sáng rạng ngời như ánh trăng tròn ở giữa không gian, muôn sao giăng bủa, như vừng thái dương vừa mới xuất hiện, rực rỡ chói chang. Phật và hội chúng trạng thái lúc ấy cũng ví như vậy. Ngay trong lúc đó, do thần lực Phật cho nên cõi Diêm Phù Đề có năm điều hiếm có: Một là, khiến chư Thiên kia chẳng thấy những vật không sạch ở chốn nhân gian. Hai là, khiến cho nữ giới thấy các Thiên nam mà không tưởng đến đắm nhiễm tình dục. Ba là, khiến những người nam thấy các Thiên nữ chẳng sinh ý nhiễm. Bốn là, khiến người trần gian từ xa nhìn rõ những món cúng dường của các Thiên chúng. Năm là, thân của chư Thiên sáng sạch, đẹp đẽ, người đời chẳng nhìn thấy, do thần lực Phật, cho nên con người có thể nhìn thấy một cách rõ ràng. Khi đó Đức Phật từ trên Thiên cung vừa đặt chân xuống thềm báu đường giữa, thì trời Phạm Vương đứng phía bên phải, tay cầm lọng trắng và trời Đế Thích phía bên trái, tay cầm phất trắng. Ngoài ra chư Thiên đều nương hư không, theo Phật đi xuống, cùng lúc đồng trỗi lên đủ thứ âm nhạc. Chư Thiên cầm những tràng phan, bảo cái, rải hoa cúng dường. Các vị Thiên chúng cõi trời Tịnh Cư chật cả hư không, vô lượng trăm ngàn chư Thiên, thể nữ đeo những chuỗi ngọc cùng nhau ca tụng Thánh đức của Phật. Lại có chư Thiên ở giữa hư không, rắc những thứ hương và những hoa thơm. Các vị Long thần tuôn mưa thơm nhẹ. Lúc đó không gian chẳng có mây che, tiếng sấm êm dịu làm cho người nghe tâm hồn vui đẹp. Thần Càn Thát Bà, thần Khẩn Na La, hòa tấu khúc nhạc Đề Bà Na Già vô cùng tuyệt diệu, ca ngợi những việc đời trước của Đức Như Lai. Khi ấy, trong Diêm Phù Đề, vua chúa quan dân và bốn bộ chúng, đầy khắp giáp cả thành Tăng Già Thi, nào rắc hoa thơm, nào cầm phan lọng, thổi ốc, đánh trống, các thứ âm nhạc, hướng lên hư không tỏ lòng cúng dường. Đưa tay,chấp tay chiêm ngưỡng Đức Phật. Hoa thơm danh tiếng cõi trời, cõi người, trên dưới giao nhau rơi xuống đan xen, phủ lên đến đầu gối, đồ chúng ngoại đạo thấy việc trên đây, đều cùng phát tâm quy y lễ kính. Khi Đức Thế Tôn chân đáp trên thềm báu, lần lượt đi xuống vừa được nửa chừng, thì bốn Thiên Vương ở chỗ của mình, sắp bày lễ phẩm cúng dường Đức Phật, sự cúng dường này vô cùng khéo lạ, ngàn xưa đến nay loài người chưa có. Đức Thế Tôn nhận sự cúng dường của bốn vị Thiên Vương, rồi cùng đại chúng xuống hết các bậc, đến bậc cuối cùng, Đức Phật sắp sửa đặt chân xuống đất, thì Tỳ kheo Ni Liên Hoa Sắc liền biến thân mình làm Chuyển Luân Vương, lãnh bốn binh chủng và bảy thứ báu, đi tới trước tiên, từ không trung xuống vội tới chỗ Phật. Các vị quốc vương ai cũng tự hỏi: “Vua Chuyển luân này, từ đâu đến đây?” Lúc ấy, Tôn giả Tu Bồ Đề đang ở trong phòng, biết Phật xuống đến, liền sửa y phục lễ kính (Chú thích: khi đó ngài Tu Bồ Đề dùng cách Quán Không Tướng mà nghênh đón Phật). Tỳ kheo Ni Liên Hoa Sắc bỏ thân Luân Vương hoàn lại hình cũ, liền vội đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn. Khi đó, Đức Phật đủ điều quở trách Tỳ kheo Ni ấy và bảo bà rằng: – Ngươi không biết sao? Ông Tu Bồ Đề lễ Ta trước rồi. Ngươi được ai bảo mà biến làm Chuyển Luân Vương? Ngươi được dự vào hàng ngũ xuất gia, thọ giới Cụ Túc đã quá phận rồi. Trí ngươi nhỏ mọn, còn sự xiểm trá lại không bờ bến, dù cho từ bi báo đáp ân đức, thì cũng chỉ như một giọt sương mai, há có thể nào ở trong pháp Ta làm Thượng thủ sao? Ni Liên Hoa Sắc nghe Phật răn dạy, rất sinh tâm xấu hổ, liền bạch Phật rằng: – Kính bạch Đức Thế Tôn! Nay con tự biết tội lỗi mình không ít. Từ nay về sau, con không dám biến hiện thần thông nữa. Bấy giờ trong Diêm Phù Đề, các vị quốc vương các vị quan quyền và bốn bộ chúng, đều đem các món cúng phẩm mang theo, dâng cúng Đức Phật. Vua Ưu Đà Diên đầu đội tượng Phật và những vật cúng quý lạ bậc nhất đến chỗ Như Lai và dâng hiến lên. Thân Đức Phật tướng tốt đầy vẻ đoan nghiêm thù thắng, sáng ngời ở giữa chư Thiên, ví như trăng tròn ra khỏi mây che. Còn tượng Phật chạm khắc, so với Đức Phật thật, không khác gì gò đống mà so sánh với núi Tu Di, chẳng thể nào ví dụ được, chỉ có xoắn tóc và tướng ngọc hào giống Phật một ít, để khiến bốn chúng biết đó là tượng Phật. Vua Ưu Đà Diên bạch Đức Phật rằng: – Kính lạy Thế Tôn! Đức Như Lai thuở xưa ở trong sinh tử cầu đạo Bồ Đề, thực hành vô lượng vô biên hạnh khổ khó làm, khó nhẫn, kết quả được thân nhiệm mầu hơn hết, không ai sánh bằng. Pho tượng con tạo chẳng giống Đức Phật, con tự trộm nghĩ rất là tội lỗi. Đức Thế Tôn bảo vua Ưu Đà Diên: – Chẳng bị tội lỗi! Nay ông đã làm lợi ích vô lượng, không có người nào sánh bằng với ông. Nay ông ở trong giáo pháp của ta, làm người gương mẫu đầu tiên. Bởi nhân duyên này, làm cho vô lượng chúng sinh đời sau, được sinh đức tin rất sâu sắc. Ông nay đã được vô lượng phước đức, căn lành rộng lớn. Khi đó vua trời Đế Thích lại bảo vua Ưu Đà Diên: – Nay vua ở đây chớ có lo sợ. Khi Đức Như Lai trước ở cõi trời và nhân gian này, đều khen ngợi về công đức tạo tượng của vua, còn chư Thiên chúng thì rất tùy hỷ. Người có tín tâm trong đời sau này, đều nhờ nơi vua mà tạo tượng Phật để được hưởng phước, nay vua hãy nên vui vẻ tự mừng. Bấy giờ, Đức Phật ngồi tòa Sư Tử, tại nơi đạo tràng nước Tăng Già Thi. Tâm của bốn chúng người nào cũng nghĩ: “Chúng ta mong được nghe Đức Như Lai diễn nói công đức của việc tạo tượng. Nếu chúng sinh nào làm, người ấy được phước cỡ nào?” Lúc đó, Ngài đại Bồ Tát Di Lặc biết ý nghĩ ấy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy sửa áo, hở vai bên phải, quỳ thẳng chấp tay bạch lên Đức Phật: – Kính bạch Thế Tôn! Vua Ưu Đà Diên tạo hình – tượng Phật, nếu Phật còn tại thế hoặc nhập Niết Bàn rồi, người có lòng tin, có thể tùy phần tạo hình – tượng Phật, người ấy gặt hái công đức thế nào? Cúi mong Thế Tôn nói rộng tướng ấy. Đức Phật bảo Ngài Bồ Tát Di Lặc: – Di Lặc ! Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ vì ông mà nói. Nếu có người thiện nam, thiện nữ nào đức tin trong sạch, chuyên tâm buộc niệm về công đức của Phật, thường xét Như Lai oai đức tự tại, đầy đủ. Mười lực, bốn Vô Sở Úy, mười tám Pháp Bất Cộng, Đại từ, Đại bi, Nhất Thiết Chủng Trí, ba mươi hai tướng của Đại trượng phu, tám mươi tướng phụ. Mỗi lỗ chân lông đều có vô lượng ánh sáng khác màu, trăm ngàn ức thứ phước đức siêu thắng trang nghiêm tạo thành, vô lượng trí tuệ sáng tỏ thông suốt, vô lượng Tam muội, vô lượng thần thông… Tất cả các thứ công đức như vậy không có hạn lượng, lìa các lỗi lầm, không ai sánh bằng. Người nào xét nghĩ rồi sinh tin ưa một cách sâu sắc, y các tướng tốt mà tạo tượng Phật, công đức người ấy rộng lớn vô biên, không thể tính đếm. Di Lặc! Nếu có người nào dùng những tơ sợi thêu thùa hình Phật, hoặc là nấu đúc bằng các thứ vàng, bạc, đồng, sắt, chì, kẽm… Hoặc điêu khắc bằng gỗ thơm Chiên đàn, hoặc khắc bằng các thứ trân châu, sò ốc, gấm vóc dệt thành, bằng đất đỏ, thạch cao, đất sét, hoặc các thứ gỗ.v.v… (Chú thích: thời nay công nghệ phát triển, chúng ta có thêm nhiều cách thức tinh vi để vẽ, tạc, tạo hình, tạo tượng Phật như Photoshop, in 3D…công đức đều đồng như trên). Dùng những vật đó tùy phần sức mình tạo ra hình – tượng Phật, cho đến rất nhỏ như ngón tay cái, có thể khiến cho người khác nhìn biết đó là Tôn tượng, phước báo người này ta sẽ nói: Di Lặc! Những người như vậy ở trong sinh tử tuy còn trôi lăn, trọn chẳng sinh tại gia đình nghèo cùng, cũng chẳng sinh nhà dòng dõi thấp hèn, cô đơn hẻo lánh ở biên địa. Lại cũng chẳng sinh vào nhà tà kiến, con buôn, nhà làm hàng thịt, cho đến chẳng sinh vào dòng hèn hạ, kỹ nữ bất tịnh, hoặc nhà ngoại đạo, khổ hạnh tà kiến… trừ khi vì sức thệ nguyện Từ Bi, ngoài ra chẳng sinh vào những nhà ấy. Người này thường sinh nhà thuộc dòng tộc vua Chuyển Luân Vương có thế lực lớn. Hoặc sinh giòng Bà La Môn tịnh hạnh, hoặc nhà giàu sang không tạo tội nặng. Sinh ở nơi nào cũng thường gặp Phật, vâng thờ cúng dường. Hoặc được làm vua hộ trì chánh pháp, đem pháp giáo hóa, chẳng làm trái đạo. Hoặc làm vua Chuyển Luân Thánh Vương oai hùng, đủ bảy báu vật, đủ ngàn người con, bay đi trên không giáo hóa bốn châu, suốt một cuộc đời tự tại giàu sang, vui sướng. Hoặc làm vua Trời Đao Lợi, vua Trời Dạ Ma, vua trời Đâu Suất, vua trời Hóa Lạc, vua trời Tha Hóa Tự Tại… lạc thú Trời người, không gì chẳng hưởng, phước báo như thế nối tiếp không dứt. Sinh ra nơi đâu cũng là đàn ông, không chịu thân nữ, lại cũng chẳng chịu thân đồng tính, song tính luyến ái hèn hạ (Chú thích: song tính luyến ái là bị hấp dẫn về mặt cảm xúc, tình cảm và tình dục với cả người cùng giới tính và khác giới tính với mình). Thân được thọ sinh không bị xấu xí, mắt chẳng mù chột, tai chẳng điếc, mũi chẳng cong gãy, miệng chẳng méo lệch, môi chẳng trề xuống, cũng chẳng túm rút, răng chẳng thưa thiếu, chẳng đen, chẳng vàng, lưỡi chẳng ngắn thụt, cổ chẳng bướu nhọt, thân chẳng lưng gù, da chẳng loang lỗ, tay chẳng cụt ngủn, chân chẳng lệch què, chẳng quá ốm o, chẳng quá béo mập, cũng chẳng quá dài, cũng chẳng quá ngắn… Đều không có các tướng chẳng đáng ưa. Thân của người ấy ngay ngắn, đoan trang, mặt mày đầy đặn. Tóc biếc mềm mại, sáng sạch. Môi đỏ như son, mắt như sen xanh, tướng lưỡi rộng dài. Răng trắng, bằng khít, nói ra lời hay ý khéo, khiến người nghe ai cũng vui lòng đẹp dạ. Khuỷu tay vừa chừng. Bàn tay bằng phẳng, lưng vế đầy đặn, vai ngực nở nang, tay chân dịu dàng dường như bông vải, các tướng đầy đủ không bị khuyết thiếu, gân sức mạnh mẽ, tựa hồ như trời Na La Diên ( Chú thích : đại lực sĩ cõi trời) Di Lặc! Ví như có người rớt vào hầm cầu tiêu, từ đó thoát được ra, cạo bỏ phẩn uế, lấy nước rửa sạch, dùng hương thoa thân, mặc áo mới sạch… Người như thế đó so với người còn ở trong hầm cầu tiêu, chưa được ra khỏi, vậy sự nhơ bẩn và sự thơm tho, hỏi cách nhau bao nhiêu? – Kính bạch Thế Tôn! Hai việc ấy cách xa không biết bao nhiêu lần! – Di Lặc! Nếu có người nào còn trong sinh tử, phát lòng tin tạo hình – tượng Phật, so sánh với lúc người ấy chưa tạo, thì sự cách xa lại cũng như vậy. Nên biết người ấy đời đời sinh ra trừ sạch nghiệp chướng, các thứ kỹ thuật, không thấy mà hiểu. Tuy sinh làm người mà các giác quan được coi như cõi trời. Nếu sinh lên trời, thì vượt trội hơn rất nhiều Thiên chúng. Sinh ra nơi nào cũng không tật nguyền, không bị phong hủi, không bị ung thư, không bị dựa nhập bởi các quỷ mị. Không mắc những bệnh điên cuồng khô héo, vàng da sốt rét, sạn hòn, ghẻ dữ, thẹo sâu, thổ tả vô độ, ăn uống không tiêu, cựa mình nhức nhối, tê liệt nửa người…Những chứng bệnh như vậy, cả đến bốn trăm lẻ bốn chứng thảy đều không có. Lại cũng chẳng bị các thứ thuốc độc, binh khí, gậy gộc, cọp, sói, sư tử, nước, lửa, trộm, cướp… những nghịch duyên xảy ra bất ngờ như vậy không làm tổn hại. Thường được không sợ hãi, chẳng phạm các tội. Di Lặc! Nếu có chúng sinh trước tạo nghiệp ác, phải chịu đủ thứ các sự khổ não, như bị kìm kẹp, còng khóa, gông xiềng, đánh mắng, thiêu đốt, châm chích, xẻ da, nhổ tóc, treo ngược lên cao, cho đến hoặc bị mổ xẻ lòng ruột… Nếu phát lòng tin tạo hình – tượng Phật, thì khổ báo ấy thảy đều chẳng thọ. Chẳng sinh những chỗ giặc giã quấy nhiễu, thành trì sụp đổ, sao dữ biến quái, đói kém ôn dịch… Những chỗ như thế đều chẳng sinh đến, nếu nói có sinh, đó là vọng ngữ. Lúc ấy, Ngài Đại Bồ Tát Di Lặc bạch Phật: – Kính bạch Thế Tôn! Như Lai thường nói “Nghiệp lành, nghiệp dữ đều chẳng mất mát” Nếu có chúng sinh gây tạo nghiệp nặng, phải sinh vào nhà giòng họ hèn mọn, nghèo nàn tật nguyền, mạng sống ngắn ngủi. Sau phát lòng tin tạo hình – tượng Phật, các tội báo này là còn phải chịu hay là chẳng chịu? Đức Phật bảo Ngài Bồ Tát Di Lặc: – Ông nay nghe kỹ, Ta sẽ vì ông nói. Nếu chúng sinh nào gây các tội rồi, phát tâm tạo tượng cầu xin sám hối, quyết định dứt trừ, thề không phạm lại, thì tội đã tạo đều được tiêu diệt. Nay ta vì ông nêu rộng việc này. Di Lặc! Ví như có người đời trước bỏn sẻn, do duyên cớ đó chịu khổ nghèo nàn, không có của cải, thiếu thốn vật dùng, bỗng gặp Tỳ kheo trước đó nhập định, từ trong định vừa xuất ra, người kia liền đem món ăn thức uống dâng lên cúng dường, người ấy cúng rồi, sẽ khỏi khổ nghèo nàn, phàm có cầu gì, đều như ý muốn. Di Lặc! Nghiệp ác đời trước và chỗ mắc báo của người nghèo kia nay có còn chăng? Ngài Di Lặc thưa: – Kính bạch Thế Tôn! Nhờ cúng thức ăn mà nghiệp ác cũ thảy đều diệt hết, lìa hẳn nghèo nàn và được giàu có, của cải sung túc. Đức Phật dạy rằng: – Bồ Tát Di Lặc! Đúng như ông nói, nên biết, người kia lại cũng như vậy. Nhờ tạo tượng nên những nghiệp ác cũ hết hẳn không còn, chỗ đáng chịu quả báo đều chẳng chịu nữa. Di Lặc! Nghiệp có ba thứ. Một là, hiện đời chịu báo. Hai là, đời sau chịu báo. Ba là, nhiều đời về sau mới chịu quả báo… Trong ba loại nghiệp như vừa nêu trên, mỗi loại nghiệp đều có Định và Bất định. Người có lòng tin tạo hình – tượngPhật, chỉ có định nghiệp trong hiện đời còn phải chịu lãnh ít phần, ngoài ra chẳng chịu những thứ nghiệp khác. Khi ấy, Bồ Tát Di Lặc bạch rằng: – Kính bạch Thế Tôn! Như Lai thường nói: Có năm thứ nghiệp rất là sâu nặng, quyết định đọa tại địa ngục Vô gián (Chú thích: là hạng địa ngục khủng khiếp nhất, cực hình không gián đoạn). Đó là các tội: giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, ác tâm làm cho thân Phật chảy máu, phá hòa hợp Tăng. Nếu có chúng sinh trước tạo tội này, sau sinh lòng tin đối với Đức Phật và tạo hình – tượng Phật, người này có còn đọa địa ngục hay chẳng bị đọa? Đức Phật bảo Ngài Bồ Tát Di Lặc: – Nay ta vì ông nói một thí dụ nữa: Giả như có người, tay cầm cung mạnh ở giữa rừng cây, nhằm lên phía trên bắn những lá cây, mũi tên đi suốt không bị trở ngại. Nếu có chúng sinh gây tội nghịch kia, sau tạo tượng Phật, thành tâm sám hối, dù được đức tin chưa chắc chắn lắm, người ấy tội được nhẹ đi, thì dù có đọa địa ngục chăng nữa cũng liền ra khỏi, như mũi tên bắn đi suốt không ngừng, trường hợp người này lại cũng như vậy… Lại như Tỳ kheo, chứng Thần túc thông, từ bờ bên này qua bên kia, biển quanh cả bốn châu không gì ngăn ngại. Người kia cũng thế, do tội đã phạm, trước tạm đọa địa ngục, sau được thoát, nghiệp trước chẳng có thể làm trở ngại. Bồ Tát Di Lặc lại bạch hỏi tiếp: – Kính bạch Thế Tôn! Chư Phật Như Lai là thân Pháp tánh, chẳng phải là thân thuộc về sắc tướng. Nếu lấy sắc tướng làm thân Đức Phật, thì Tỳ kheo Nan Đà và Chuyển Luân Vương lẽ ra là Phật, bởi vì họ đều có đủ các tướng tốt. Như có chúng sinh phá hoại Pháp thân Phật, pháp nói là phi pháp, phi pháp nói là pháp, sau phát lòng tin và tạo tượng Phật, thì tội nặng này là cùng tiêu diệt, hay chẳng được diệt? Đức Phật bảo Ngài Bồ Tát Di Lặc: – Nếu chúng sinh nào pháp nói là phi pháp, phi pháp nói là pháp, chỉ dùng miệng nói mà không phá kiến, sau sinh tin ưa tạo hình – tượng Phật, thì nghiệp ác trước, chỉ nơi hiện thân bị chịu báo nhẹ, chẳng đọa đường ác, song với sống chết chưa giải thoát liền. Bồ Tát Di Lặc lại thưa hỏi tiếp: – Kính bạch Thế Tôn! Nếu có người nào, trộm lấy những vật trong bảo tháp Phật, trộm vật của Thường Trụ, trộm vật bốn phương Tăng, vật hiện tiền Tăng, tự mình tiêu dùng, đem cho người dùng, coi như của mình. Thế Tôn thường nói: “Dùng vật lấy trộm từ trong tháp Phật hay vật của Tăng, tội ấy rất nặng.” Vậy chúng sinh nào tạo tội ấy rồi rất tự hối trách, khởi lòng tịnh tín và tạo tượng Phật, các hạng người đó tội được diệt chăng? Đức Phật bảo Ngài Bồ Tát Di Lặc: – Nếu chúng sinh nào từng dùng vật ấy, sau tự tỉnh xét ôm lòng thẹn hối, y số bồi thường, thề chẳng phạm nữa, nay ta vì ông nói một ví dụ: Như có người nghèo trước mắc nhiều nợ, bỗng gặp của chìm vô số vàng ngọc, trả hết nợ xong vẫn còn dư lớn. Người tạo tội kia lại cũng như thế, đền vật nọ rồi, lại tạo tượng Phật, sẽ khỏi nạn khổ, mãi được an vui. Bấy giờ Ngài đại Bồ Tát Di Lặc lại bạch hỏi Phật: – Kính bạch Thế Tôn! Như Phật từng dạy “Ở trong pháp Phật mà phạm khí tội, chẳng gọi là sống.” (Chú thích: Khí tội là các loại tội của người xuất gia, Tăng có 4 loại, Ni có 8 loại) Nếu lại có người phạm tội đó rồi, phát tâm nhớ nghĩ công đức chư Phật và tạo hình – tượng, vậy thì đối trong giáo pháp của Phật được “sống” lại chăng? Lại trong đời này, hoặc đời thứ hai, thứ ba, thứ tư được chứng Pháp chăng? Đức Phật bảo ngài Bồ Tát Di Lặc: – Ví như có người thân bị trói cột, tay, chân và cổ, nếu được cởi trói thì sẽ như chim khỏi lưới, bay đi tự do, việc này thế nào thì người kia cũng vậy. Nếu phát lòng tin, ngẫm nghĩ về những công đức của Phật và tạo hình – tượng Phật, thì các nghiệp chướng đều được tiêu trừ, ở trong sinh tử mau được ra khỏi, không bị trở ngại. Di Lặc nên biết, có ba Thừa pháp làThanh Văn thừa, Bích Chi Phật thừa và Phật Đại thừa, người tạo hình – tượng Phật tùy nơi thừa nào, khởi nguyện ưa muốn, tức sẽ nơi thừa đó, được sự giải thoát. Nếu như chỉ vì cầu thành Phật đạo, không cầu báo khác, thì dầu chướng nặng vẫn được mau diệt, tuy tại sinh tử nhưng không nạn khổ, cho đến sẽ chứng Vô Thượng Bồ Đề, được cõi thanh tịnh; đủ các tướng tốt, được cảm thọ mạng lâu dài vô tận. Bấy giờ trong hội, có những người chưa phát tâm Đại thừa, đều sinh mối nghi, nghĩ như thế này: “Đức Như Lai ta về thuở quá khứ có tạo tượng Phật hay là không tạo? Giá mà có tạo, sao cõi Ngài ở đầy những nhơ nhớp, chẳng được thanh tịnh?” Vua Ba Tự Nặc nương oai thần Phật, liền từ chỗ ngồi, đứng dậy chấp tay quỳ thẳng bạch Phật: – Kính bạch Đức Thế Tôn! Con thấy Đức Như Lai các căn tướng tốt đẹp cũng như dòng tộc đều là đệ nhất, lòng con quyết định không có chỗ nghi. Nhưng Đức Như Lai từng có một lần, cây Khư đà la đâm thủng chân Ngài. Lại có một lần Đề Bà Đạt Đa lăn đá văng mảnh, khiến chân Phật chảy máu. Trước đây có lúc Ngài bảo có bệnh, cho mời Kỳ Bà điều chế thuốc tốt. Lại có một lần từng nhức sau lưng. Ngài bảo Tôn giả Ma Ha Ca Diếp tụng “bảy pháp Giác phần” thì chỗ đau được trừ. Lại có một lần từng bị đau nhức, sai Ngài A Nan đến nhà Bà La Môn tìm xin sữa bò. Trước đây có lần tại thôn Ta La, ba tháng an cư chỉ ăn lúa của ngựa. Lại từng một lần khất thực chẳng được, bát không trở về. Kính bạch Thế Tôn! Như Thế Tôn nói: “Nếu có người nào tạo hình – tượng Phật, thì bao nghiệp chướng đều bị trừ diệt, lìa những khổ não, không các tật bệnh”. Vậy Đức Thế Tôn trong những kiếp xưa từng có tạo tượng hay là không tạo. Nếu trong quá khứ Ngài có tạo tượng, thì nhân duyên nào, có những việc ấy? Đức Phật bảo vua Ba Tư Nặc rằng: – Lắng nghe! Lắng nghe và khéo nhớ nghĩ, Ta sẽ vì Đại vương phân biệt giải nói. Này Đại vương, Ta về kiếp xưa vì cầu Bồ đề mà đã dùng những châu ngọc quý giá, gỗ thơm Chiên đàn và sơn vẽ để tạo hình -tượng Phật, nhiều hơn tất cả số chúng Trời người trong hội hiện nay. Do phước này nên dầu còn trong vòng lưu chuyển sinh tử mê hoặc, nhưng được thọ thân bền như kim cương, chẳng thể hư tổn. Lại này Đại vương! Ta nhớ quá khứ cách vô lượng kiếp, còn trong sinh tử ta tạo tượng Phật, lúc đó ta còn tham lam, sân hận, si mê… vô lượng phiền não tương ưng với tâm, nhưng ta chưa từng trong khoảng một niệm, vì tội nghiệp mà bốn đại chẳng điều, hoặc là bị các quỷ thần dựa nhập, hay bị chút ít các chứng bệnh khổ, còn vật cần dùng thì không thứ nào mà chẳng đầy đủ, huống gì ngày nay ta đã chứng đạo Bồ đề, lại còn có việc “bất như ý” sao? Đại vương! Nếu ta thuở xưa từng tạo tượng Phật, nay có nghiệp tàn để chịu báo đó, ta làm sao thành bậc “Vô úy thuyết” để rồi nói rằng “Tạo tượng quyết định có thể trừ hết các nghiệp xấu ác?” Đại vương! Ta thuở quá khứ cấp giúp vô lượng món ăn thức uống, tiền tài châu báu, làm sao đời nay khất thực chẳng được, phải ăn lúa của ngựa? Thoảng như ngày nay, việc đó có thật, thì ta làm sao trong vô lượng kinh, nhiều cách khen ngợi thí Ba la mật, nói phước bố thí trọn không hư dối? Đại vương! Ta là bậc nói lời chân thật, bậc không nói lời dối gạt. Nếu ta khi dối thì độ được ai? Đại vương! Từ lâu ta đã dứt hết nghiệp ác, bỏ việc khó bỏ, làm sự khó làm, thân mạng được bỏ hàng trăm ngàn ức, đã tạo vô lượng hình – tượng chư Phật, hối cải vô lượng các tội nghiệp ác, há mắc những việc bị thương, bệnh khổ, ăn dùng lúa của ngựa, đói khát hay sao? Nếu từng được những quả báo thù thắng, nay lại lui mất, lấy đâu khuyến tu các phước lành kia? Này Đại vương! Chư Phật Như Lai là thân thường hằng, là thân Pháp tánh, vì độ chúng sinh mà thị hiện việc trên, chẳng phải thật sự như vậy. Bị thương bàn chân, đau lưng, xin sữa, uống thuốc v.v… cho đến nhập Đại Niết bàn, để lại xá lợi, phân chia các nơi, xây tháp v.v… Đều là phương tiện khéo léo của Phật, khiến các chúng sinh trông thấy tướng như vậy. Đại vương! Ta ở thế gian hiện ra những việc bệnh hoạn như trên, mục đích muốn cho chúng sinh biết rõ nghiệp báo chẳng mất, khiến họ biết sợ để dứt tội lỗi, tu các hạnh lành, để rồi sau đó, biết thân thường hằng, biết thân Pháp tánh, thọ mạng vô hạn, cõi nước thanh tịnh. Đại vương! Chư Phật Như Lai không hề hư vọng, thuần là đại bi, trí tuệ khéo léo, cho nên có thể thị hiện đủ mọi cách thức như vậy. Khi đó vua Ba Tư Nặc nghe lời này rồi, mừng vui khấp khởi, cùng với vô lượng trăm ngàn chúng sinh, đều phát đạo tâm Vô Thượng Bồ Đề. Bấy giờ, Ngài đại Bồ Tát Di Lặc tiếp tục hỏi Phật: – Kính bạch Thế Tôn! Có những người nữ ý chí nhỏ hẹp, mang nhiều ghen, giận, khinh bạc, xiểm dối, giận dai không bỏ, mang ơn chẳng báo đáp. Dẫu cầu Bồ đề, nhưng không mấy người giữ chí bền bỉ, thường muốn mê hoặc tất cả mọi người, lại cũng bị người lừa gạt trở lại. Kính bạch Thế Tôn! Nếu người nữ này tạo hình – tượng Phật, những nghiệp như vậy được trừ diệt chăng? Được làm một người biết ơn, báo ơn chăng? Được đủ trí tuệ, đại từ bi chăng? Với sự sống chết hay chán lìa chăng? Trừ khi phát nguyện, ngoài ra có chịu thân nữ lại chăng? Có được như bà Cù Đàm Di và Phật mẫu là bà Ma Gia phu nhân chăng? Đức Phật đáp lời Bồ Tát Di Lặc: – Nếu người nữ nào hay tạo tượng Phật, thì hẳn không thọ lại thân phụ nữ. Giả như thọ thân, thì đó là bậc nữ lưu tôn quý đệ nhất hơn hết. So với những người nữ có năm thứ đức, những gì người nữ tạo tượng sẽ được, hơn cả những người nữ đó. Năm đức là gì? Một là: Sinh nở con cái. Hai là: Giòng dõi tôn quý. Ba là: Bẩm tánh trinh lương. Bốn là: Thể chất, tướng mạo đẹp đẽ cả hai. Năm là: Dáng vẻ mỹ mãn. Di Lặc! Tất cả người nữ có tám nhân duyên cho nên thường chịu thân nữ nhiều đời. Thế nào là tám? Một là: Yêu dấu thân nữ. Hai là: Ham đắm dục lạc của người phụ nữ. Ba là: Miệng thường khen ngợi dung chất nữ nhân. Bốn là: Lòng không ngay thẳng, che dấu việc làm sai trái. Năm là: Chán nản chồng mình. Sáu là: Cõi lòng nặng trĩu tơ tưởng đến người khác. Bảy là: Biết người có ơn nhưng mình lại bội nghịch. Tám là: Trang điểm, phục sức tà ngụy muốn người khác sinh mê hoặc, ái luyến. Nếu hay dứt hẳn tám điều như thế, tạo hình – tượng Phật, mãi đến khi thành Phật, thường làm nam giới. Chịu thân nữ nữa là điều vô lý. Di Lặc! Có bốn thứ nhân duyên, khiến những người nam chịu thân nữ nhân. Thế nào là bốn? Một là: Giả tiếng người nữ khinh cười gọi Phật, chư vị Bồ Tát, các vị Thánh nhân. Hai là: Với người giữ giới, đem lòng chê bai, nói rằng họ phạm giới. Ba là: Ưa đi nịnh hót, dối gạt người khác. Bốn là: Thấy ai hơn mình tâm sinh ganh ghét. Nếu đàn ông nào làm bốn việc trên, sau khi chết rồi ắt chịu thân nữ, lại phải trải qua vô lượng nỗi khổ trong các ác đạo. Nếu phát lòng tin sâu dày sám hối việc làm lúc trước và tạo tượng Phật, các tội như trên đều bị tiêu diệt, rốt ráo chẳng còn chịu thân người nữ. Di Lặc! Có bốn thứ nhân duyên, khiến những người nam chịu thân đồng tính. Những gì là bốn? Một là: Tàn hại thân hình người và súc sinh. Hai là: Đối với Sa môn gìn giữ tịnh giới mà nổi sân hận, chế giễu, chê bai. Ba là: Đa tình, tham dục, cố tâm phạm giới. Bốn là: Gần người phạm giới, lại khuyên người phạm giới. Nếu người nam nào trước làm điều này, sau khởi lòng tin tạo hình – tượng Phật, mãi đến thành Phật chẳng chịu báo đó, thường làm đàn ông các căn đầy đủ. Di Lặc! Có bốn thứ nghiệp hay khiến đàn ông chịu thân song tính luyến ái, thấp hèn nhất trong tất cả mọi người. Những gì là bốn? Một là: Loạn dâm nhơ nhớp ở chốn tôn nghiêm. Hai là: Với thân người nam mà đắm nhiễm bậy. Ba là: Chính tự mình nơi thân mình làm việc dâm dục. Bốn là: Mua bán nữ sắc cho những người khác. Nếu chúng sinh nào làm các việc ấy, rất tự trách lỗi, hối hận chỗ phạm trước, khởi lòng tịnh tín tạo tượng Phật, mãi đến khi thành Phật, chẳng chịu thân ấy. Di Lặc! Lại có bốn duyên khiến những người nam, tâm họ thường sinh tâm ái dục của nữ, thích với đàn ông làm chuyện dâm ái. Thế nào là bốn? Một là: Hoặc ngờ, hoặc giỡn báng bổ người khác. Hai là: Ưa lối phục sức trang điểm của nữ. Ba là: Làm chuyện dâm dục, nhơ nhớp với người nữ trong họ hàng. Bốn là: Thật không có đức tốt, lại vọng nhận để người khác lễ lạy. Do nhân duyên này khiến những đàn ông khởi những phiền não khác biệt như thế. Nếu như ăn năn những lỗi đã phạm, chẳng tạo lỗi mới, tâm sinh tin ưa tạo hình – tượng Phật, tội kia đã diệt, tâm nọ cũng dứt. Di Lặc! Có năm thứ bỏn xẻn hay phá chúng sinh. Thế nào là năm? Một là: Bỏn xẻn tiếc thôn ấp, chỗ ở gần gũi mình (Chú thích: Nghĩa là chỉ muốn riêng ta ở chỗ này, không dung chứa người khác). Do đây mà sinh ở chỗ đồng không mông quạnh. Hai là: Bỏn xẻn tiếc nhà cửa, hiên mái để ở (Chú thích: Nghĩa là chỉ ta vào ra nhà này, không cho người khác ra vào), sẽ làm sâu cổ, thường ở những chỗ phân tiểu hôi nhơ. Ba là: Bỏn xẻn tiếc sắc đẹp, dung mạo (Chú thích: Nghĩa là chỉ muốn một mình ta hưởng sự đẹp đẽ, không muốn người khác hưởng), sẽ cảm hình xấu chẳng như ý muốn. Bốn là: Bỏn xẻn tiếc của cải (Chú thích: Nghĩa là chỉ muốn ta có của cải, không muốn người khác có), sẽ bị nghèo nàn, áo cơm thiếu hụt. Năm là: Xẻn tiếc giáo pháp đã biết (Chú thích: Nghĩa là chỉ riêng ta hay biết nghĩa lý sâu xa ấy, không cho người khác hay biết), sẽ mắc những quả báo súc sinh, đần độn. Nếu như ăn năn nghiệp trước của mình và tạo tượng Phật, thì sẽ lìa tâm bỏn xẻn trước đó, không thọ những quả báo như đã nói trên. Di Lặc! Lại có năm duyên làm cho chúng sinh, sinh ở vùng man di, ở chốn biên cương, hoặc sinh thời kỳ không có Phật Pháp. Thế nào là năm? Một là: Chẳng sinh lòng tin trong sạch đối với ruộng phước Tam Bảo. Hai là: Trái với lẽ thật, lệch với chánh lý, mà vọng đi giáo giới ( Chú thích: dạy giới luật, đây là phận sự của người xuất gia) Ba là: Chẳng đúng giáo lý chân thật mà lại dạy trao cho người. Bốn là: Phá hòa hợp Tăng khiến chia rẽ thành hai bộ. Năm là: Cho đến ít nhất phá hai Tỳ kheo khiến chẳng hòa hợp. Dứt hẳn nghiệp trên và tạo tượng Phật, sẽ thường gặp Phật, thường nghe pháp yếu. Di Lặc! Chúng sinh lại có năm thứ nhân duyên thường bị nhiều người chán ghét xua đuổi, cả đến người thân cũng không ưa gặp. Thế nào là năm? Một là: Nói lời hai lưỡi (Chú thích :tức là đến người này nói xấu người kia, đến người kia nói xấu người này) Hai là: Nói lời hung ác. Ba là: Nhiều sự tranh chấp. Bốn là: Nhiều sự giận dỗi. Năm là: Giỏi nói bóng bẩy nhằm chê bai người. Sau nếu phát tâm tạo hình – tượng Phật, ăn năn nghiệp cũ thề không tái phạm, tội của người ấy đều được trừ diệt, được cả mọi người mến kính gần gũi. Tại sao vậy? Vì chư Phật có vô lượng vô biên phước đức thù thắng, vô lượng vô biên trí tuệ rộng lớn, vô lượng vô biên Tam muội giải thoát, đủ những pháp tánh công đức hiếm có. Chư thiện nam tử! Giả sử có người đem một tam thiên đại thiên thế giới (Chú thích : tương đương 1 tỉ hệ mặt trời) nghiền thành bụi nhỏ, lại lấy số bụi ấy, mỗi mỗi hạt bụi lại nghiền ra nhiều hạt cực nhỏ, số lượng bằng với số bụi trong một đại thiên thế giới; tổng những số hạt bụi được nghiền ấy nhiều biết chừng nào. Giả như có người lấy số hạt bụi nghiền ấy, dùng sức thần thông đi về phía Đông. Người ấy đi mãi lâu đến số kiếp nhiều như số bụi đã nghiền. Trong mỗi sát na, người ấy vượt qua số thế giới nhiều như số bụi của một cõi đại thiên đã được nghiền nhỏ. Qua hết tổng số thế giới ấy, bèn bỏ xuống một hạt bụi. Người ấy lại tiếp tục đi về phía Đông hơn số cõi đó, bỏ xuống hạt bụi thứ hai. Đến hạt thứ ba lại hơn lần trước, lần lượt như thế, cứ gấp bội lên, cho đến khi bỏ xuống hết sạch số bụi đã nghiền. Phương Đông như thế, phương Nam, Tây, Bắc lại cũng như vậy. Những chỗ bốn phương người nọ đã đi qua, đem tất cả thế giới trong đó nghiền thành bụi hết. Những hạt bụi này tất cả chúng sinh cùng nhau tính lường còn có thể biết, còn những công đức trong từng sợi lông nơi thân Như Lai, chẳng thể biết được. Tại sao vậy? Những công đức mà chư Phật đã có, đều vô hạn lượng chẳng thể nghĩ bàn. Các thiện nam tử! Giả sử số người nhiều như bụi nhỏ vừa được nêu trên trí tuệ bằng với Xá Lợi Phất, bao nhiêu trí tuệ của những người đó, chẳng bằng một niệm trí của Như Lai. Vì sao thế? Bởi vì Như Lai trong mỗi mỗi niệm, thường hay xuất hiện chánh định giải thoát, tổng trì v.v…nhiều hơn số bụi được ví dụ trên, thứ nào cũng có vô lượng công đức thù thắng vậy. Công đức thù thắng của các Đức Phật, tất cả Thanh Văn, tất cả Duyên Giác còn chẳng thể biết danh từ để gọi. Thế nên người nào đức tin trong sạch tạo hình – tượng Phật, tất cả nghiệp chướng thứ nào cũng diệt, được những công đức vô lượng vô biên, cho đến sẽ thành Vô Thượng Bồ Đề, nhổ hẳn khổ não cho khắp chúng sinh. Đức Phật nói kinh này rồi, Bồ Tát Di Lặc và Thiên Đế Thích, vua Ưu Đà Diên và cả thế gian Trời, Người, Tu La, thần Càn Thát Bà… được nghe Phật dạy, tất cả mừng rỡ, tin nhận phụng hành.

VÌ ĐÂU KHÔNG DƯNG LẠI GHÉT MỘT NGƯỜI ?

Trên đời này không có gì quý hơn sinh mạng , loài côn trùng còn ham sống sợ chết, huống chi là người. Một người dù có tội ác tày trời, nhưng khi sắp chết cũng tỏ lòng hối hận. Ta phải thương xót cho người chịu hình phải rời khỏi cha mẹ , vợ con và biết bao nhiên thân nhân khác phải đau lòng trước cảnh sinh ly tử biệt này. Nhìn thấy cảnh này chẳng lẽ không động lòng thương xót hay sao. Vua Lương Võ Đế một hôm đi dạo ngoài thành, thấy một người bán dưa đứng giữa chợ chào bán với khách hàng. Một người ăn mặc sang trọng đi tới trả giá rất cao. Thông thường thì có khách trả giá tốt như vậy, người ta sẽ niềm nở mà bán vội. Ấy vậy mà người bán dưa này chẳng những không chịu bán, mà còn giận dữ đuổi mắng, cho rằng ông khách giàu này khinh khi mình. Ông khách thấy người bán dưa giận dữ vô cớ như thế bèn bỏ đi. Tiếp tục quan sát, một lúc sau, Lương Võ Đế thấy một người ăn mặc lam lũ đi tới muốn mua dưa, người bán dưa thấy khách này đến bèn tươi cười nói chuyện với khách như đã quen biết từ lâu. Được một lát cao hứng, người bán dưa lại còn tặng luôn trái dưa cho vị khách không quen biết mà không nhận lấy một đồng tiền nào. Lương Võ Đế cảm thấy kì lạ bèn đem chuyện thấy được hỏi Hòa thượng Chí Công ( là tác giả của bộ Lương Hoàng Sám nổi tiếng ) Hòa thượng Chí Công đáp: – Người bán dưa kiếp trước là một tên tử tù, khi bị đưa ra pháp trường hành hình, có một người thấy tên tử tù là tên đại ác trong làng, chẳng những không tỏ lòng thương xót, trong lòng còn oán ghét và chửi thầm: ” Tội ác như mày phải chết cho sớm để khỏi hại người, và phải chết nhiều lần mới đúng.” Có một người khác, khi thấy tên tử tù sắp chết, tỏ lòng thương hại và nghĩ thầm: ” Tuổi trẻ vậy mà sắp phải chịu cực hình, tội nghiệp thật, nếu được quan lớn giảm hình biết đâu sau này sẽ biết ăn năn mà cải tà quy chính.” Luân hồi qua nhiều kiếp, đến giờ, tên từ tù khi xưa đầu thai thành người bán dưa, người khách ăn mặc sang trọng chính là người đã chửi thầm tên tử tù, còn người ăn mặc lam lũ là người đã tỏ lòng thương xót. __________________________ Lạm bàn : nhân quả là như thế, chi li từng chút một, chỉ là một ý nghĩ khởi lên trong tâm, dù chỉ là một câu rủa thầm, khi đó chẳng ảnh hưởng đến ai, thế nhưng vẫn có quả báo của nó. Nó khiến cho con người xa cách nhau hơn, thậm chí nó có thể khởi động cho một mối hận thù dai dẳng nhiều kiếp. Vì thế, thay vì những ý niệm thù hằn, trách móc, chỉ làm tăng thêm hố sâu óan thù trên thế gian này, chúng ta nên cố gắng nghĩ tốt thêm một ý nghĩ. Hãy cầu nguyện cho những người đang sai lầm được hết sai lầm, thay vì nguyền rủa họ. Thêm một giọt nước từ bi, luôn luôn tốt hơn là trồng thêm một rừng thù hận.