TRONG MƠ ĐỔI TUỔI THỌ CỨU CHA MẸ.

( Nhuận Chân Nguồn” Giác Ngộ”) Từ lâu tôi được biết đến Bồ Tát Quán Thế Âm với 12 lời nguyện cứu độ chúng sanh. Bồ tát luôn ở bên cạnh khi chúng ta tâm niệm, nguyện cầu đến Ngài. Nhất là khi thành tâm thành ý, một lòng tin tưởng, tuyệt đối hy vọng thì Ngài sẽ xuất hiện trong mọi hình thức để cứu giúp chúng ta. Cuối năm 2012 ( tôi không còn nhớ chính xác ngày tháng), cả ba mẹ tôi đều phải nhập viện vì bị mắc một chứng bệnh như nhau là viêm phế quản cấp tính, ho ra máu. Ba tôi thì viêm phế quản cấp cộng viêm phổi nặng, mẹ thì viêm phế quản cấp cùng với khớp sưng đau nhức vô cùng. Khí hậu miền Trung ( Quảng Trị) vào mùa đông có những lúc rất lạnh, khiến cho người bệnh càng đau đớn thêm. Khi ấy tôi đang ở trong Nam ( TP.HCM). Em gái tôi gọi điện báo tin. Tôi rất lo lắng nhưng do điều kiện công tác không thể về bên ba mẹ để chăm sóc. Dù ở cách xa ngàn dặm nhưng lòng hiếu thảo đối với ba mẹ luôn luôn hiện hữu trong tim, tôi chỉ hướng đến ba mẹ bằng cách mà tôi luôn tin tưởng nhất, đó là tin vào sự gia hộ của Bồ Tát. Ngày ấy tôi thường đến chùa Vạn Đức, quận Thủ Đức lễ Phật, đọc kinh sách vì rất thích không gian yên tĩnh ở chùa. Nhiều lúc tôi ngồi hàng tiếng đồng hồ trong yên lặng và có cảm giác chùa như là nhà của mình vậy. Nghe tin báo xong tôi lập tức đến chùa, vào chánh điện lạy Phật. Sau đó tôi ra sân lạy Bồ Tát Quán Thế Âm, cầu xin Ngài gia hộ cho ba mẹ tôi tai qua nạn khỏi, sớm khỏe lại để được đoàn tụ với con cháu trong dịp Tết cổ truyền. Tôi đã cầu nguyện khẩn thiết, thành tâm thành ý với Bồ tát nhiều lần như vậy. Khoảng 10 ngày sau, tôi mơ một giấc mơ lạ. Trong mơ, tôi thấy mình đến bệnh viện thăm ba mẹ. Khi vừa đến cổng thì gặp người chị ( con dì) có vẻ rất lo lắng từ trong bệnh viện chạy ra, gặp tôi chị kéo lại và thì thầm: – Em ơi! Dì và dượng nguy rồi, bệnh nặng lắm, chị vừa gặp bác sĩ chuyên khoa vào khám cho dì và dượng. Bác sĩ nói riêng với chị cả hai người bệnh nặng quá, có lẽ không sống nổi qua ngày mai. Chỉ có một cách để cứu sống họ là con cái phải hiến tuổi thọ của mình cho ba mẹ ít nhất là năm năm thì họ mới sống được. Chị lo quá nên đang chạy ra cổng bệnh viện để gọi điện về nhà thông báo, không ngờ gặp em. Bây giờ em tính sao? Tôi hơi băn khoăn. Ủa, sao bệnh viện không dùng thuốc hoặc phẫu thuật để cứu người mà lại bảo phải dùng tuổi thọ của con cái để đổi lấy sự sống cho ba mẹ? Tuy băn khoăn nhưng do người chị đứng bên thúc giục quá: – Không còn thời gian đâu em ơi! Chị ấy vừa nói lại vừa khóc nên tôi cũng không cần suy nghĩ nhiều mà trả lời ngay: – Dạ, hiến năm năm hay kể cả mười năm em cũng hiến, miễn sao ba mẹ em được cứu sống! Tôi vừa nói xong thì người chị mỉm cười hiền từ, và rất lạ lùng là tôi chưa bao giờ nhìn thấy nụ cười như thế ở chị ấy. Rồi chị biến mất trước mắt tôi một cách nhẹ nhàng. Tôi không hiểu chuyện gì đang xảy ra, đứng ngó quanh thì có một người đi qua đụng phải, thế là tôi giật mình tỉnh giấc. Khi ấy tôi nhìn đồng hồ, đúng ba giờ sáng. Tôi nằm suy nghĩ, sao giấc mơ lạ lùng vậy nhỉ? Mà sao tôi cảm thấy bình an, không một chút lo lắng gì cho ba mẹ cả. Tôi liên tưởng ngay đến người chị ấy là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm và tràn đầy tin tưởng ba mẹ tôi sẽ được Ngài cứu giúp. Sáng hôm sau, tôi gọi điện về cho mẹ. Mẹ vui mừng thông báo bác sĩ vừa khám cho ba mẹ xong. Bác sĩ bảo bệnh cũng đỡ nhiều rồi, vài ngày nữa cho ra viện để về chuẩn bị đón Tết. Trong khi trước đó hai ngày tôi gọi điện về, mẹ cho biết bệnh tình của ba mẹ có lẽ phải chuyển lên tuyến trên, tức bệnh viện trung ương Huế. Thế mà giờ được ra viện trước dự kiến. Sự việc diễn biến đến không ngờ, không biết mọi người nghĩ thế nào, riêng tôi thì tin chắc Bồ Tát đã linh ứng và cứu giúp ba mẹ tôi tai qua nạn khỏi.

NHỜ CHÚ ĐẠI BI, CHỊ TÔI ĐÃ HẾT BỆNH UNG THƯ.

Hai chị em chúng tôi quen nhau qua người bạn của chị ấy. Khi tôi thực sự muốn tu đạo, tìm hiểu đạo thì trong khoảng thời gian đó tôi quen rất nhiều bạn tốt, hầu như đều là bạn đạo, nhưng không biết hai chị em chúng tôi có duyên gì ở vô lượng kiếp mà gặp nhau, quen nhau không bao lâu đã trở nên thân thiết như chị em ruột. Chị tên là Mỹ Trân, mặc dầu tôi và chị là hai người sinh ra ở hai miền đất nước khác nhau, xong chị luôn xem tôi như em gái của chị, chị thường chăm sóc hỏi thăm khi biết hoàn cảnh của tôi và chị, đều một thân một mình nuôi con nhỏ, chị càng quý tôi hơn. Cũng từ đó hai chị em quấn quít, đùm bọc, chăm sóc, thương yêu nhau hơn. Tôi chuyên về thẫm mỹ chăm sóc da, kiêm massages bấm huyệt chữa bệnh, còn chị là y tá chăm sóc các cụ già ở viện dưỡng lão. Có lần do duyên tôi quyên góp một ít quà cho các cụ, chị dẫn tôi đến chỗ chị làm việc. Bước vào Viện Dưỡng Lão, tôi im lặng quan sát, còn chị nâng niu gò má các cụ với nụ cười ấm áp chan hòa tình yêu thương, hỏi thăm sức khỏe từng cụ, an ủi rồi chị giới thiệu tôi cùng mọi người.
Chị nưng niu gò má các cụ với nụ cười ấm áp chan hòa tình yêu thương, hỏi thăm sức khỏe từng cụ, an ủi rồi chị giới thiệu tôi cùng mọi người. ( Ảnh minh họa )
Dòng suy nghĩ trong tôi thật thán phục lòng từ bi của chị, thật lòng tôi không chịu nổi mùi bệnh viện, huống chi đây là Viện Dưỡng Lão, thế mà chị vẫn vui vẻ, chăm sóc, tận tụy làm việc. Chị còn cho biết, có cụ được gia đình đưa đến, có cụ tự muốn đến đây sống và cũng có cụ bị công an don dẹp đường phố đưa về. Nói đến đây chị nói tiếp, chủ của Viện Dưỡng Lão này quả thật rất tốt bụng, rất rộng lượng và từ bi, đã rộng mở vòng tay đón nhận các cụ không nhà cửa, không con cái, không người nuôi… kể cả nhận người lang thang ngoài đường xó chợ về nuôi dưỡng. Rồi chị dẫn tôi lên lầu hai, đến một Phật đường để viếng lạy Phật, chị nói: – Đến sở làm, điều đầu tiên chị làm là lễ lạy Phật. Thế đó, chị không những luôn khen tấm lòng của mọi người, chị còn luôn thành tâm kính trọng với người trên kẻ dưới. Chị nói, một tuần sẽ có đoàn thể tình thương đến để đưa thức ăn tinh thần, tâm linh vào tâm thức họ, an ủi động viên và giúp họ yêu đời hơn với cuộc đời còn lại. Lại nữa, mỗi tháng sẽ có đoàn “Bồ Tát sống” tự nguyện đến nấu thực phẩm chay, rồi khuyên họ ăn chay, chị nhiệt tình chia sẻ nhiều câu chuyện về những người, những tấm lòng chan chứa tình yêu thương đã đến đây. Sau đó, đi vào phòng điều dưỡng, một cụ già đang nằm trên giường bất động với ánh mắt đượm buồn, không thể tự dùng thức ăn, không thể tự mình tiêu tiểu như người bình thường mà phải nhờ vào các ống dẫn đập vào mắt tôi, tim tôi thắt lại không kèm được lòng, nước mắt nó cứ tuôn ra làm cả gian phòng im bặt, mọi người đưa mắt nhìn tôi, chị xoa xoa đầu tôi an ủi. Tiếp đó, đến phòng tắm rửa. Vì các cụ đa số già đi lại khó khăn nên phải từ hai đến ba người mới đảm trách nổi. Tôi khựng lại, chân không muốn đi nữa, trong đầu hoang mang: Cuộc sống vô thường, cả đời bon chen kết cục như thế này! Tôi, tôi ….từ nhỏ đến bây giờ đây là lần đầu tiên đi Viện Dưỡng Lão. Tôi nói với giọng yếu ớt: – Chị ơi! em không muốn đi nữa, em muốn đi về! Chị cười trìu mến, xoa đầu tôi và đưa khăn giấy bảo tôi lau mắt và nói: – Em thật dễ thương! Sau đó không lâu, chị báo cho tôi biết chị bị ung thư với tinh thần suy sụp thấy rõ, tôi không còn thấy chị cười nữa. Nhưng tôi không buồn mà cảm thấy vui vì chị có thể về Tây Phương sớm, tôi cảm thấy chị thật hạnh phúc! Nhưng ngược lại, chị cảm thấy đây là sự trừng phạt, sự thử thách quá lớn đối với chị, chị luôn nuối tiếc cuộc sống trần gian này. Chị tâm sự: – Chị không muốn chết sớm khi còn quá trẻ, chị không muốn chết sớm vì con chị còn nhỏ. Chị lại sợ, lỡ chết rồi không về Tây Phương mà xuống địa ngục thì sao? Tôi cảm thấy chị thật thiếu tự tin, trong mắt tôi chị luôn là Bồ Tát sống, chị luôn luôn nghĩ cho người khác, luôn sống vì người khác, luôn giúp đỡ mọi người cho nên tôi tin chắc chị sẽ được vãng sanh về Tây Phương. Tôi còn nhớ, lần đầu tôi massages cho chị, tôi hỏi chị, chị đã từng phá thai mấy lần rồi? Chị ngạc nhiên nhìn tôi và nói ấp úng: -Một lần… Rồi chị tiếp, chị đã nhờ người ta xử lý rồi. Tôi khuyên chị không nên dùng từ “xử lý” mà phải thành tâm sám hối và làm từ thiện như chị đã và đang làm ( không nên phá thai là tốt nhất). Sau đó không lâu chị đưa tôi đi tham quan ( nhân dịp đi tiếp lương thực) nơi mà các cao nhân tu ở trên núi ( có duyên lớn mới được đến nơi đó vì các vị ấy không hoặc ít tiếp xúc với người bên ngoài). Luôn tiện chị hỏi về bệnh tình của chị còn tôi thì tò mò muốn biết cuộc sống của các vị ấy như thế nào? Sau hôm đó trở về, tôi nằm mơ thấy hai đứa bé gái ở trước xe mà chị chở tôi. Sáng hôm sau, tôi hỏi chị! – Có phải chị phá hai lần thai không? Chị ngậm ngùi thừa nhận, rồi tâm sự cho tôi nghe, chị như tuyệt vọng, chị rất rất muốn sống. Tôi không cầm được lòng bảo: – Em không làm gì giúp được chị, nếu được, em xin gánh bệnh cho chị! Chị mắng tôi: – Không nên nói bậy, ai làm người đó chịu. Rồi tâm trạng của người sắp lìa khỏi thế gian trong chị lại nổi dậy, chị lại ủ rũ không còn như ngày nào hồn nhiên vô tư nữa. Tôi xót xa, không biết làm gì, chỉ biết cắn răng nhìn chị đau khổ tột cùng. Bất giác, trong tôi chợt lóe lên ý nghĩ: Tôi đã nghe nhiều về oai lực của chú Đại Bi, vậy tôi sẽ tụng Chú Đại Bi cho chị, tại sao không chứ? Rồi tôi thành tâm nguyện sẽ tụng 10800 biến hồi hướng cho chị, nếu bệnh của chị không hết thì tình cảm và lòng thành của tôi giành cho chị đều là giả dối, thì đứa em này không xứng đáng là em của chị. Tôi bắt tay vào chuyên tâm trì tụng chú Đại Bi, tụng ngày, tụng đêm, tụng trước ban thờ, mà kể cả đi ngoài đường tôi cũng tụng thầm.
Tụng chưa bao lâu thì cách đây khoảng 1 tuần ( 19/9/2009) tôi nghe được một tin, vui đến rơi nước mắt: chị đã khỏi bệnh !
Tôi cảm động vô cùng, cám ơn mười phương Chư Phật và Bồ Tát Quán Thế Âm đã tuyên thuyết thần chú Đại Bi siêu việt, nhờ chú Đại Bi tôi có thể giúp cho chị ấy hết bệnh, đúng là Phật pháp nhiệm màu không thể nghĩ bàn!
Tôi liền nhắn tin cho chị: Chúc mừng chị, chị là Bồ Tát sống, chị vẫn còn yêu chúng sanh nên chị không muốn lìa ngôi nhà lửa này để giúp đỡ chúng sanh thì chị cứ tiếp tục sống nhé! Chúc chị mãn nguyện! NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT ! ( Em của chị Mỹ Trân – Nguồn: Sưu tầm )

NHỮNG QUAN CHỨC ÁC ÔN, VÌ SAO THẦN LINH KHÔNG XỬ LÍ ĐƯỢC?

( Trích hồi kí Atoanmt thời kì sau 1975 ) Tối hôm đó, tại nhà ” Ông Tiều lên xác” người chuyên cho ” Thần Tài” nhập xác đóan chuyện cát hung, sau khi tôi ( Atoanmt, còn gọi là thầy Tòan) và cậu cháu Po ngồi lại nói chuyện vãn với chủ nhà, chờ cho những người hàng xóm của ông ra về, ông Tiều mới đóng cửa lại và ngồi xuống trước bàn thờ Thần Tài thắp nhang và lâm râm niệm chú. Khác với ở ” Giòng Giữa” ngoài chợ, hoặc những nhà ở trong vùng quận đó, khi người ta muốn cầu Thần Tài về nhập xác cho số, thì họ phải kiếm một cậu bé ngồi làm ” xác” rồi mọi người ngồi chung quanh cùng nhau đọc chú khoảng trên 10 lần thì thần mới nhập về. Còn ông Tiều, thì là người đã “được” ông Thần Hoàng địa phương chọn và tự nhập vào, cho nên, bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, hễ ông Tiều muốn Thần Hoàng hay Thần Tài về, thì ông Tiều chỉ cần thắp nhang niệm chú ” cầu thần” là được ngay. Lúc đó, trời đã khuya, mọi người trong nhà đều vào buồng ngủ, phòng ngoài chỉ còn ba anh em chúng tôi và ông Tiều. Sau khi Thần nhập vào ông Tiều, Thần vừa lắc lư thân mình vừa cười ha hả sang sảng. Tôi liền hỏi: – Thưa Thần, Tôi có một chuyện quan trọng mà bản thân đang thực hiện, xin hỏi là có được thành công hay không? Thần liền bấm bấm mấy ngón tay như kiểu bấm độn, rồi lắc đầu nói: – Chuyện này chưa được đâu, nhà ngươi sẽ di chuyển nhiều, nhưng không đi được xa, và cũng không gặp gì nguy hiểm cả! Nghe vậy, trong lòng tôi bỗng thoáng buồn, vì lúc đó, lặn lội từ Sài Gòn xuống vùng ven biển này, mục đích của mình là ” tìm đường cứu nước” . ủa lộn, tìm đường vượt biên, mà bây giờ ông Thần Tài lại nói câu ” không đi được xa .” như vậy là chuyện vượt biên thất bại! Tuy buồn thì buồn, nhưng với bản tánh luôn tự tin vào câu: ” Tận Nhân lực, tri Thiên mạng” nên tôi vẫn bình tĩnh thản nhiên hỏi tiếp: – Thưa Thần, thời gian trước, ở ngoài chợ, tôi đã gặp Thần trong ” xác” của một thằng nhỏ, sau này gặp Thần ở đây, trong ” xác” của ông Tiều . Mà tôi biết ngoài chợ, cũng như tại đây, có rất nhiều nhà khoảng chập chiều tối là cầu ” Thần Tài” lên xác để xin số. Người ta cầu Thần Tài cùng một lúc, mà chỗ nào cũng có Thần Tài nhập về, như vậy làm sao chính ông có thể ở khắp nơi trong cùng một thời gian mà cho Số? Hay là ai đã nhập về ” xác” mà xưng là Thần Tài vậy? Tôi vừa dứt lời thì Ông Thần Tài bật cười lên ha hả, Ông đáp: – Từ trước nay, người dân hỏi ta đủ thứ chuyện, nhưng chưa từng có ai hỏi như nhà ngươi! Khéo hỏi lắm, khéo hỏi lắm . ha ha ha .Ta nói cho nhà ngươi biết: – Thần Tài chúng ta có đến năm anh em, ta đây là anh cả, và anh em ta ai ai cũng có phép phân thân, nên cùng một lúc có thể xuất hiện ở các nơi khác nhau! Hơn nữa, thí dụ như Ta đang nhập vào xác ở đây, và bốn em khác của ta cũng đang nhập vào xác ở nơi khác, cùng lúc ngoài chợ, một nhóm người lại đang cầu khẩn Ta, nếu Ta thấy chuyện không khẩn cấp, thì xong việc ở đây, ta mới biến thân nhập vào nơi cầu khẩn ở chợ sau! Đó là tại sao có những nơi người ta cứ phải đọc chú thỉnh cầu ta nhiều lần rồi mới thấy Ta về! Nghe vậy, tôi liền xá ông Thần Tài một xá rồi hỏi tiếp: – Hay quá, cám ơn Thần đã giảng nghĩa chuyện mà tôi cứ thắc mắc hoài, nhưng tôi vẫn không rõ lắm về chuyện Thần cho số trong nhà anh Lộc ngoài chợ, rồi Thần lại nhập về đây nữa, khoảng cách từ chợ đến đây gần 20 cây số. Tôi cứ tưởng là mỗi nhà đều có năm ông Thần Tài riêng, sao mà Thần lại ở hai nơi như vậy? Thần Tài lại cười rộ lên và đáp: – Hỏi hay lắm, hay lắm, ở đây, dân chúng khi cầu thấy Ta nhập về, họ đều gọi là là ” Tùa Côn” nghĩa là ông Thần Anh Cả trong năm anh em Thần Tài, chứ chưa có ai hỏi ta tỉ mỉ như nhà ngươi, nên sẵn đây, Ta nói cho các ngươi biết, Ta là Thần coi việc tài chánh của cả cái huyện này đó, chứ không phải ở riêng trong một căn nhà nào cả! Nghe Thần nói, tôi cảm thấy càng thích thú thêm về thông tin của một thế giới khác, nên tôi hỏi tiếp: – Thần nói Thần coi cả một huyện, như vậy Thần hẳn phải có nhiều quyền năng lắm, cũng như có nhiều phép thần thông nên mới biết trước được những con số sẽ xổ ra từ những thành phố xa xôi .Tôi không biết Thần có thể làm được những chuyện . ” tàu lạ” . ủa lộn, chuyện lạ khác không? Thần cười ha hả hỏi tôi: – Nhà ngươi muốn hỏi chuyện lạ khác là chuyện gì? Tôi biết có một tên trưởng công an, giết người vượt biên hàng loạt rồi chôn xác ở ven biển, hắn khi nhậu xỉn, còn khoe nguyên một cọng giây thắt lưng bằng vàng 24k của người đi vượt biên làm, giấu định đem theo. đã bị hắn lấy và đeo trong lưng! Nên tôi nói: – Tui biết một người là trưởng công an, mà người này ác quá, hắn cướp của, giết nhiều người .Vậy Thần có thể . bẻ cổ hắn được không? Nghe tôi hỏi, Thần trợn mắt lên và đáp: – Nó lớn hơn tao! Nên làm sao ao bẻ cổ nó được! Quá ngạc nhiên khi nghe Thần nói như vậy, nên tôi hỏi tiếp: – Bạch Thần, con thấy Ngài thần thông quảng đại, còn tên trưởng công an, hắn xuất thân là thằng chăn trâu, dốt nát, học có lớp một, lớp hai, biết đọc biết viết sơ sài, chỉ có một ngón tay biết nghéo cò súng giết người mà thôi, nhờ theo cách mạng lâu năm mới trở nên quan. Như vậy làm sao mà nó lại lớn hơn Thần được chứ? Thần cười ha hả đáp: – Nhà ngươi chưa hiểu, hay nhà ngươi đã quên luật nhân quả mà Đức Phật đã dạy hả? Nghe đây: – Bất cứ ai trong kiếp này, cho dù dốt nát, cho dù tàn ác, nhưng họ vẫn giàu, vẫn sung sướng, là vì từ đời đời kiếp trước, họ đã làm được những điều phước đức gì đó, nên kiếp này họ được hưởng những phước báu đó! Ví như ai đó trồng lúa, thì sáu tháng sau có lúa, có gạo mà ăn, ăn hết mà không trồng lại lúa, thì chỉ còn ăn cỏ! Và với những người giàu có như vậy, có nhiều phần ta hơn họ! Nhưng, những người mà hiện tại đang làm quan! Thì do họ cũng gây được nhiều phúc phận để sau này có thể làm quan từ nhiều đời trước. Mà khi đã làm quan, cho dù nó dốt như thằng chăn trâu, thì cái chức quan ở dương thế, luôn luôn cao hơn chức quan của ta ( có thể vị Thần Tài này chức tước chưa có lớn lắm trong số các vị thần trong siêu hình)! Do đó, ta mới nói nó lớn hơn ta! và ta không thể làm gì nó được! Nhất là thời buổi này, ” sâu bọ lên làm người” cho nên có rất nhiều người dốt nát, mà được chức cao trọng vọng! Nhưng quy luật tuần hoàn, bây giờ âm thịnh dương suy, nên người dốt làm quan, ma quỷ xuất hiện nhập ám người nơi nơi, chùa chiền đổ nát, sư sãi lang thang, nhân dân đói khổ . Không bao lâu sau nữa, từ từ sẽ đến thời âm suy dương thịnh. Lúc đó xoay vần lại, chùa sẽ mọc lên như nấm, hết cấm chợ, nhân dân sống khá hơn, sau rồi đến nhiều người có tâm huyết, tài giỏi xuất hiện làm quan lúc đó mới thực sự là tốt. Còn cái tên trưởng công an mà ngươi nói là ai, Ta đã biết, tuy rằng bây giờ Ta không làm được gì nó, nhưng chính nó hại nó mà thôi, vì quá tàn ác, nên nó đã tự làm giảm thiểu tuổi thọ, hơn nữa, những người đầu thai về làm con của nó, cũng là những kẻ bất nhân, cho nên không bao lâu, nó sẽ đền tội ác! Nói một hơi đến đây, Thần lắc đầu chắc lưỡi, rồi không cho tôi kịp hỏi thêm gì, Thần tiếp: – Ta đã tiết lộ thiên cơ quá nhiều rồi, Ta thăng đây! Ha .ha .ha . Thần ” thăng” một cách đột ngột, khiến tôi vừa ngẩn ngơ vừa tiếc là không được hỏi thêm nữa để biết nhiều hơn về một thế giới ẩn, nhưng vẫn tác động và ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại của mình . Từ lúc gặp ông Thần Tài, chuyện ông cho trúng số bằng kiểu viết cho số một cách bí ẩn thần kỳ đã làm tôi phục lăn, chỉ có một điều mà tôi không bao giở tưởng được là: Khi một người đang làm quan ở dương thế, thì người đó có khi còn lớn hơn một số Thần trong cõi âm nữa! Thế cho nên ta thấy những tên quan ngu xuẩn, tàn ác, hèn với giặc, ác với dân mà vẫn sống phây phây giàu có. Chỉ vì họ đang hưởng những phúc báu của kiếp trước mà thôi!!! Tôi cứ ngẫm nghĩ, rồi lại nhớ đến những đoạn kinh mà đức Phật đã dạy trong ” Trường Bộ kinh”. Tôi nhớ mang máng là: Có những người, nhờ tạo phước báu nên chết đi được người thờ cúng. Có những người được sanh trở lại làm Thần, làm Thánh. Nhưng chỉ trong thời gian nào đó, khi phước báu hết, thì họ vẫn phải tái sanh lại làm người. Hơn nữa, chính miệng Thần đã nói: Nhà ngươi chưa hiểu, hay nhà ngươi đã quên luật nhân quả mà Đức Phật đã dạy hả? Như vậy, ông Thần Tài đã gián tiếp công nhận Đức Phật là có thật, và luật nhân quả của Đức Phật dạy là chuẩn xác! Càng ngẫm nghĩ, tôi càng thấy sáng ra thêm được nhiều điều, mà hôm nay ngồi viết lại, kể ra qua ký ức, tôi càng có cảm tưởng như ngày nào được ngồi đối thoại với ông Thần Tài, mà nghĩ như là một giấc mơ chỉ mới thoáng qua thôi. Những lời tiên đoán của ông đã đúng, tên trưởng công an ác ôn đó, không bao lâu lâm bệnh mà chết yểu, gia tài bị con cái phá tán, và đàn con cũng tàn mạt không ra gì cả.

CÁ TRÊ BÁO ÂN

Khoảng 17h30′ ngày 2/5/2019, một cơn mưa to kèm theo dông lốc đã cuốn sập, đổ ngã hàng trăm gian hàng đang trưng bày tại Hội chợ mua sắm – khuyến mãi, ẩm thực Tiền Giang năm 2019, ngay Quảng trường trung tâm tỉnh thuộc địa bàn xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. ( Tin từ baomoi.com) … và tôi là một trong những chủ gian hàng trong hội chợ ấy, tên tôi là Quốc Hùng, chuyên bán trà thảo dược Ngải Diệp Thảo. Nhưng tôi đã thoát “kiếp nạn” ngày hôm đó một cách kì diệu. Vốn là 2h sáng hôm đó, tôi nằm mơ, giấc mơ rất lạ… Tôi mơ thấy một người phụ nữ, người lùn lùn, lưng cong, đầu dẹp dẹp, trên trán nhô ra hai cọng tóc dài xuống như hai chiếc râu, miệng rộng ngoác, hai lỗ tai nhỏ xíu cụp vào trong, mặc chiếc áo trắng mỏng tang, thấy cả da thịt bên trong, xong nhìn kĩ thì đen đúa, xấu xí vô cùng chứ không có gì đẹp cả. Cô ta đến trước mặt tôi và bảo: – Nghe lời tui, sáng hoặc trưa nay dọn đồ về đi, đừng tiếc mấy đồng bạc mà không cứu được mạng, chết oan uổng. Nói thế rồi, người phụ nữ ấy quay lưng đi. Tôi nhìn qua chiếc áo mỏng tang, thấy vết thẹo dài từ bả vai xuống gần thắt lưng, bất giác ớn lạnh rồi giật mình dậy, nhìn đồng hồ là 2 giờ sáng… Tỉnh rồi mà còn thấy sợ, mồ hôi ướt hết cả gối nằm. Sáng hôm đó, tôi ra hội chợ sớm để chuẩn bị bán hàng. Chợt nhớ giấc mơ mà ớn lạnh sống lưng. Một dự cảm không hay nào đó cứ án ngữ trong tâm khiến tôi bất an. “ Nếu giấc mơ đó đúng… thì sao ?” Tôi đắn đo, suy tính lại. Hôm nay 2/5, là đêm cuối của hội chợ, nếu dọn sớm thì uổng phí mất một đêm, giờ bày ra bán được đồng nào hay được đồng nấy. Cũng có vài gian đã dọn về sớm, thấy thế, anh bạn gian hàng bên cạnh bảo: – Kệ ! Bán đêm cuối cho vui, bữa cuối coi chừng bán được nhiều hổng chừng. Nghe anh ta nói tôi cũng phân vân. Xong lại nghĩ về giấc mơ đêm qua, tôi vẫn thấy không yên lòng, cuối cùng, tôi quyết định dọn về sớm. Thế là tôi gọi xe chở hàng, tủ, băng rôn, áp phích về. Lúc đang dọn, bất chợt tôi nhớ ra một chuyện. Vốn là tôi thường ăn chay và hay phóng sinh. Cách đây không lâu, hôm 29/4/2019, tôi mua cá cá lóc, cá trê, cá sặc… thả phóng sanh, mua tổng cộng hết 315.000đ tiền cá. Trong đó có một con cá trê bị thương từ lưng xuống gần đuôi, ông bán cá thấy nó không lành lặn, nên bắt nó bỏ ra và bảo: – Nó sần đầu rồi, thả không sống đâu, thả mà chết mất công … Nhìn con cá thấy thương và tội nghiệp, tôi bảo ông bán cá lấy luôn con cá trê đó và đem thả. Trước khi thả, tôi còn cầu nguyện, niệm Phật và quy y cho chúng. Lúc thả, tôi có chú ý đến con cá trê bị thương đó, nó nổi lật ngửa, nằm đơ một lúc, rồi tự nhiên tỉnh lại, lật úp rồi quẩy đuôi bơi, lộn lên lộn xuống mấy vòng rồi lặn xuống luôn. Giờ nhớ lại chuyện con cá trê ấy mà tôi giật mình. Trời đất, lẽ nào con cá trê ấy chính là người phụ nữ xấu xí báo mộng cho tôi ? Người phụ nữ mà tôi mơ thấy, chẳng phải giống y như con cá trê sao? Cô ta đen đủi, đầu dẹp dẹp, miệng rộng ngoác, có hai sợi tóc dài xuống như hai cái râu, và đặc biệt nhất, là vết sẹo dai từ bả vai xuống lưng… Nghĩ đến đây, tôi nổi hết cả da gà, và càng quyết tâm dọn hàng về sớm. Đến khoảng 5 rưỡi chiều hôm đó, một cơn lốc kèm mưa to điên cuồng quét qua Hội chợ, cây cối, khung sắt, đồ đạc…đổ vỡ tan tành. Đến sáng hôm sau, tôi đi qua xem, nhìn từ ngoài vào, thấy vách, cây đè xuống chỗ gian hàng của tôi mà ớn lạnh. Thiết nghĩ, nếu chiều qua tôi còn đứng trong đó mà bán hàng, 100% là lãnh đủ. Nặng thì đã chết rồi, nhẹ thì đập đầu, gãy xương, chưa kể hư hại tài sản, hàng hóa. Hú hồn, cũng may phước, nhờ thường ăn chay, phóng sinh, nhất là phóng sinh con cá trê bị thương ấy, mà giờ tôi được bình an vô sự, không thiệt hại bất cứ gì cả. Tôi vẫn thường nghe kể về những linh ứng khi phóng sinh, nhưng tự thân mình trải nghiệm qua chuyện này, khiến tôi càng thêm thấm thía hơn những giáo lí của Phật dạy. Nghĩ gì, làm gì đều đem cái tâm chân thành, từ ái của mình mà mang lại những điều tốt đẹp cho người, cho chúng sinh. Rồi nhân quả tuần hoàn, những điều tốt đẹp cũng sẽ quay trở lại với chính mình. ______________________ Xem thêm : http://nhanqua.com.vn/576-2/

KINH PHỔ MÔN

Kinh Phổ Môn thực ra là phẩm thứ 25 của kinh Pháp Hoa, hay Diệu Pháp Liên Hoa, kể về công hạnh cứu khổ của Quán Thế Âm Bồ Tát, lại chính là bí quyết thoát khổ, là kĩ năng sinh tồn, kĩ năng thoát hiểm quý giá cho bất kì ai rơi vào tuyệt cảnh. Đây là những lời Phật dạy về oai lực và công hạnh cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh của Bồ tát Quán Thế Âm- còn gọi là Phật Bà Quan Âm.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Bảy Phẩm Thứ Hai Mươi Lăm: Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn (Hán dịch: Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh)

Lúc bấy giờ, ngài Vô Tận Ý Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu, chấp tay hướng Phật mà bạch rằng: – Thế Tôn! Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát do nhân duyên gì mà tên là Quán Thế Âm? Phật bảo ngài Vô Tận Ý Bồ Tát: – Thiện-nam-tử! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sanh chịu các khổ não, nghe Quán Thế Âm Bồ Tát này một lòng xưng danh. Quán Thế Âm Bồ Tát tức thì xem xét tiếng tăm kia, đều được giải thoát. Nếu có người trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát này, dầu vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy được, vì do sức uy thầncủa Bồ Tát này được như vậy. Nếu bị nước lớn làm trôi, xưng danh hiệu Bồ Tát này liền được chỗ cạn. Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm vàng, bạc, lưu ly, xa-cừ, mã-não, san-hô, hổ-phách, trân châu các thứ báu, vào trong biển lớn, giả sử gió lớn thổi ghe thuyền của kia trôi tắp nơi nước quỉ La-sát, trong ấy nếu có nhẫn đến một người xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thì các người đó đều được thoát khỏi nạn quỉ La-sát. Do nhân duyênđó mà tên là Quán Thế Âm. Nếu lại có người sắp sẽ bị hại, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thì dao gậy của người cầm liền gãy từng khúc, người ấy liền được thoát khỏi. Nếu quỉ Dạ-xoa cùng La-sát đầy trong cõi tam-thiên đại-thiên muốn đến hại người, nghe người xưng hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thì các quỉ dữ đó còn không thể dùng mắt dữ mà nhìn người, huống lại làm hại được. Dầu lại có người hoặc có tội, hoặc không tội, gông cùm xiềng xích trói buộc nơi thân, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thảy đều đứt rã, liền được thoát khỏi. Nếu kẻ oán tặc đầy trong cõi tam-thiên đại-thiên, có một vị thương chủ dắt các người buôn đem theo nhiều của báu, trải qua nơi đường hiểm trở, trong đó có một người xướng rằng: “Các Thiện nam-tử! Chớ nên sợ sệt, các ông nên phải một lòng xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, vị Bồ Tát đó hay đem pháp vô-úy thí cho chúng sanh, các ông nếu xưng danh hiệu thì sẽ được thoát khỏi oán tặc nầy”. Các người buôn nghe rồi, đều lên tiếng xưng rằng: “Nam-Mô Quán Thế Âm Bồ Tát!” vì xưng danh hiệu Bồ Tát nên liền được thoát khỏi. Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát sức oai thần to lớn như thế. Nếu có chúng sanh nào nhiều lòng dâm dục, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, liền được ly dục. Nếu người nhiều giận hờn, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, liền được lìa lòng giận. Nếu người nhiều ngu si, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, liền được lìa ngu si. Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát có những sức oai thần lớn, nhiều lợi ích như thế, cho nên chúng sanh thường phải một lòng tưởng nhớ. Nếu có người nữ, giả sử muốn cầu con trai, lễ lạy cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, liền sanh con trai phúc đức trí huệ; giả sử muốn cầu con gái, bèn sanh con gái có tướng xinh đẹp, trước đã trồng gốc phước đức, mọi người đều kính mến. Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát có sức thần như thế. Nếu có chúng sanh cung kính lễ lạy Quán Thế Âm Bồ Tát, thì phước đức chẳng luống mất. Cho nên chúng sanh đều phải thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. Vô Tận Ý! Nếu có người thọ trì danh tự của sáu mươi hai ức hằng-hà-sa Bồ Tát lại trọn đời cúng dường đồ ăn uống y phục, giường nằm, thuốc thang. Ý ông nghĩ sao? Công đức của người thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhơn đó có nhiều chăng? Vô Tận Ý thưa: -Bạch Thế Tôn! Rất nhiều. Phật nói: – Nếu lại có người thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, nhẫn đến một thời lễ lạy cúng dường, thì phước của hai người đó bằng nhau không khác, trong trăm nghìn ức kiếp không thể cùng tận. Vô Tận Ý! Thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát được vô lượng vô biên phước đức lợi ích như thế.” Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát bạch Phật rằng: -Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ Tát dạo đi trong cõi Ta-bà như thế nào? Sức phương tiện đó như thế nào? Phật bảo Vô Tận Ý Bồ Tát: – Thiện-nam-tử! Nếu có chúng sanh trong quốc độ nào đáng dùng thân Phật được độ thoát thời Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện thân Phật vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Duyên-giác được độ thoát, liền hiện thân Duyên-giác mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Thanh-văn được độ thoát, liền hiện thân Thanh-văn mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Phạm-vương được độ thoát, liền hiện thân Phạm-vương mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Đế-Thích được độ thoát, liền hiện thân Đế-Thích mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Tự-tại-thiên được độ thoát, liền hiện thân Tự-tại-thiên mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Đại-tự-tại-thiên được độ thoát, liền hiện thân Đại-tự-tại-thiên mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Thiên-đại-tướng-quân được độ thoát, liền hiện thân Thiên-đại-tướng-quân mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Tỳ-sa-môn được độ thoát, liền hiện thân Tỳ-sa-môn mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Tiểu-vương được độ thoát, liền hiện thân Tiểu-vương mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Trưởng-giả được độ thoát, liền hiện thân Trưởng-giả mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Cư-sĩ được độ thoát, liền hiện thân Cư-sĩ mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Tể-quan được độ thoát, liền hiện thân Tể-quan mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Bà-la-môn được độ thoát, liền hiện thân Bà-la-môn mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-ba-di được độ thoát, liền hiện thân Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-ba-di mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân phụ nữ của Trưởng-giả, Cư-Sĩ, Tể-quan, Bà-la-môn được độ thoát, liền hiện thân phụ nữ mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân đồng-nam, đồng-nữ được độ thoát, liền hiện thân đồng-nam, đồng-nữ mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân trời, rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhơn cùng phi nhơn được độ thoát, liền đều hiện ra mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Chấp-Kim-Cang thần được độ thoát, liền hiện thân Chấp-Kim-Cang thần mà vì đó nói pháp. Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát đó thành tựu công đức như thế, dùng các thân hình, dạo đi trong các cõi nước để độ thoát chúng sanh, cho nên các ông phải một lòng cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát. Quán Thế Âm đại Bồ Tát đó ở trong chỗ nạn gấp sợ sệt hay ban sự vô-úy, cho nên cõi Ta-bà này đều gọi Ngài là vị “Thí-vô-úy”. Vô Tận Ý Bồ Tát bạch Phật: – Thế Tôn! Con nay phải cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát. Liền mở chuỗi ngọc bằng các châu báu nơi cổ giá trị trăm nghìn lạng vàng, đem trao cho ngài Quán Thế Âm mà nói rằng: “Xin Ngài nhận chuỗitrân bảo pháp thí này”. Khi ấy Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng chịu nhận chuỗi. Ngài Vô Tận Ý lại thưa cùng Quán Thế Âm Bồ Tát rằng: -Xin Ngài vì thương chúng tôi mà nhận chuỗi ngọc này. Bấy giờ Phật bảo Quán Thế Âm Bồ Tát: – Ông nên thương Vô Tận Ý Bồ Tát này và hàng tứ chúng cùng trời, rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhơn và phi-nhơn v.v… mà nhận chuỗi ngọc đó. Tức thời Quán Thế Âm Bồ Tát thương hàng tứ chúng và trời, rồng, nhơn, phi-nhơn v.v… mà nhận chuỗi ngọc đó chia làm hai phần: Một phần dâng đức Thích Ca Mâu Ni Phật, một phần dâng tháp của Phật Đa-Bảo. Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát có sức thần tự tại như thế, dạo đi nơi cõi Ta Bà. Lúc đó, ngài Vô Tận Ý Bồ Tát nói kệ hỏi Phật rằng:  Thế Tôn đủ tướng tốt! Con nay lại hỏi kia Phật tử nhân duyên gì? Tên là Quán Thế Âm? Đấng đầy đủ tướng tốt Kệ đáp Vô Tận Ý: Ông nghe hạnh Quán Âm Khéo ứng các nơi chỗ Thệ rộng sâu như biển Nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn Hầu nhiều nghìn Đức Phật Phát nguyện thanh tịnh lớn. Ta vì ông lược nói Nghe tên cùng thấy thân Tâm niệm chẳng luống qua Hay diệt khổ các cõi. Giả sử sanh lòng hại Xô rớt hầm lửa lớn Do sức niệm Quán Âm Hầm lửa biến thành ao. Hoặc trôi dạt biển lớn Các nạn quỉ, cá, rồng Do sức niệm Quán Âm Sóng mòi chẳng chìm được. Hoặc ở chót Tu-di Bị người xô rớt xuống Do sức niệm Quán Âm Như mặt nhật treo không Hoặc bị người dữ rượt Rớt xuống núi Kim-Cang Do sức niệm Quán Âm Chẳng tổn đến mảy lông. Hoặc gặp oán tặc vây Đều cầm dao làm hại Do sức niệm Quán Âm Đều liền sanh lòng lành. Hoặc bị khổ nạn vua Khi hành hình sắp chết Do sức niệm Quán Âm Dao liền gãy từng đoạn. Hoặc tù cấm xiềng xích Tay chân bị gông cùm Do sức niệm Quán Âm Tháo rã được giải thoát Nguyền rủa các thuốc độc muốn hại đến thân đó Do sức niệm Quán Âm Trở hại nơi bổn-nhân. Hoặc gặp La-sát dữ Rồng độc các loài quỉ Do sức niệm Quán Âm Liền đều không dám hại. Hoặc thú dữ vây quanh Nanh vuốt nhọn đáng sợ Do sức niệm Quán Âm Vội vàng bỏ chạy thẳng. Rắn độc cùng bò cạp Hơi độc khói lửa đốt Do sức niệm Quán Âm Theo tiếng tự bỏ đi. Mây sấm nổ sét đánh Tuôn giá  , xối mưa lớn Do sức niệm Quán Âm Liền được tiêu tan cả. Chúng sanh bị khổ ách Vô lượng khổ bức thân Quán Âm sức trí diệu Hay cứu khổ thế gian Đầy đủ sức thần thông Rộng tu trí phương tiện Các cõi nước mười phương Không cõi nào chẳng hiện. Các loài trong đường dữ: Địa-ngục, quỉ, súc sanh Sanh, già, bịnh, chết khổ Lần đều khiến dứt hết. Chơn-quán thanh tịnh quán Trí-huệ quán rộng lớn Bi-quán và từ-quán, Thường nguyện thường chiêm ngưỡng Sáng thanh tịnh không nhơ Tuệ nhật phá các tối Hay phục tai khói lửa Khắp soi sáng thế gian. Lòng bi răn như sấm Ý tứ diệu dường mây Xối mưa pháp cam lồ Dứt trừ lửa phiền não Cãi kiện qua chỗ quan Trong quân trận sợ sệt Do sức niệm Quán Âm Cừu oán đều lui tan. Diệu-Âm, Quán Thế Âm Phạm-âm, Hải-triều-âm Tiếng hơn thế gian kia, Cho nên thường phải niệm. Niệm niệm chớ sanh nghi Quán Âm bậc tịnh thánh Nơi khổ não nạn chết Hay vì làm nương cậy. Đủ tất cả công đức Mắt lành trông chúng sanh Biển phước lớn không lường Cho nên phải đảnh lễ. Bấy giờ, ngài Trì Địa Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật bạch rằng: – Thế Tôn! Nếu có chúng sanh nào nghe phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát Đạo nghiệp Tự-Tại, Phổ-Môn Thị-Hiện sức thần thông nầy, thì phải biết công đức người đó chẳng ít. Lúc Phật nói phẩm Phổ-Môn này, trong chúng có tám muôn bốn nghìn chúng sanh đều phát tâm Vô-Đẳng-Đẳng Vô-Thượng Chánh-Đẳng Chánh-Giác.

KINH BI HOA

Kinh BI HOA là bộ kinh vô cùng cảm động, kể về tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. cùng tiền kiếp Phật A Di Đà, tiền kiếp của Quán Thế Âm Bồ Tát, cùng tiền kiếp của hàng ngàn vị Bồ Tát nổi tiếng khác như Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Phổ Hiền Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát… Được dàn dựng hoành tráng bằng thể loại phim hoạt hình, đây chắc chắn là lựa chọn số 1 cho mọi người, cả người lớn lẫn trẻ em, cả Phật giáo lẫn không tôn giáo. Qua bộ phim, chúng ta không khỏi kinh ngạc, cũng như kính ngưỡng sự vĩ đại của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, cũng như các Ngài A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát… đồng thời hiểu được, làm thế nào để trở thành các Đức Phật, các Đại Bồ Tát giống như các ngài, đó chính là lập Bồ Đề nguyện. Tập 1 – Kiếp xưa của những vị Phật Tập 2 – Những sai lầm trước khi thành Bồ Tát Tập 3 – Tiền thân Phật A Di Đà lập nguyện Tập 4 – Tiền thân Quán Thế Âm Bồ Tát lập nguyện Tập 5 – Tiền thân Phổ Hiền Bồ Tát lập nguyện Tập 6 – Đại hội lập Bồ Đề Nguyện Tập 7 – Những vị sẽ thành Phật ở Ta Bà Tập 8 – 500 lời nguyện rơi nước mắt của tiền thân Phật Thích Ca Tập 9 – 500 lời nguyện rơi nước mắt của tiền thân Phật Thích Ca (tiếp theo) Tập 10 – 500 lời nguyện rơi nước mắt của tiền thân Phật Thích Ca (kết thúc) Link download file PDF Kinh Bi Hoa : Kinh Bi Hoa

ÂN NGHĨA TIỀN KIẾP, THÀNH DUYÊN MẸ CON HIỆN TẠI.

(Diệu Âm Lệ Hiếu) Tôi có quen một bạn nữ học cùng hiện đang sống ở nước ngoài, cô năm nay khoảng 30 tuổi. Cách đây hai năm, lúc cô thường vào trang facebook để đọc những bài gương nhân quả, cô tâm sự với tôi: “Em đến với Phật pháp do một duyên tình cờ, xuất phát từ mẹ em. Chuyện cũng kỳ lạ lắm để em kể chị nghe”. Câu chuyện này tôi đã kể cho nhiều bạn đạo nghe khá lâu rồi nhưng chưa có dịp ghi lại. Hôm nay, có một bạn nhắc tôi hãy ghi lại để cho nhiều người được biết. Câu chuyện như thế này: Cô bạn tên Vân ( tên này đã được thay đổi vì lí do tế nhị) sống ở miền Tây, là con gái út trong một gia đình đông anh em, gia cảnh cũng bình thường. Mười hai tuổi cô đã nghỉ học ở nhà xin đi làm thuê để kiếm tiền phụ cha mẹ. Tuy là con út nhưng cô không được mẹ thương yêu như các anh chị lớn. Đi làm bao nhiêu tiền cô đem về đưa hết cho mẹ. Mẹ cô lúc nào gặp cô cũng hỏi tiền, tiền, tiền, nhưng bà lại mê vé số, số đề nên tiêu tốn hết vào đó, ít bao giờ bà hỏi con gái thế nào hoặc thể hiện những cử chỉ chăm sóc thương yêu. Bản thân cô cũng thương mẹ nên không dám ăn xài mà chỉ ráng dành dụm gửi cho mẹ, cô chỉ biết rằng cô rất thương mẹ. Đến năm 18 tuổi, mẹ gả cô cho một người Đài Loan qua mai mối và nhận được một số tiền lớn. Cô cũng không hề phản đối, hoàn toàn để cho mẹ quyết định. May mắn cho cô gặp được gia đình tốt, người chồng cũng hiền lành và thương yêu. Cô qua tới Đài Loan một thời gian thì có công việc làm và sinh em bé. Lại để dành và gởi tiền về cho mẹ, bảo lãnh mẹ sang chơi, ….nhưng hầu như mẹ cô không hề nghĩ đến công sức con gái làm mà lúc nào cũng nghĩ cô là kho tiền để bà mua sắm, ăn xài, trả nợ. Thấy mẹ bao giờ cũng vòi tiền mà chưa bao giờ thương mình nên sau một lần cuối cô giận quá, tuyên bố sẽ không quay về Việt Nam gặp mẹ nữa. Tuyên bố xong, cô bệnh một trận thừa sống thiếu chết, nằm liệt giường. Cả gia đình chồng lo lắng, thỉnh tượng Quan Âm về thờ và khấn cho cô mau hết bệnh. Cô nằm bệnh mà ngày nào cũng khóc vì giận mẹ, hận mẹ không quan tâm mình. Ngày nào cô cũng lết qua nơi thờ Quan Âm và khóc: – Bồ tát ơi, hồi nhỏ đến giờ con toàn phải làm việc và đưa hết tiền cho mẹ, thậm chí con không dám xài. Con đối với mẹ hết lòng, tại sao mẹ không thương yêu con, tại sao, tại sao, tại sao chứ, con cũng là con ruột của mẹ mà. Cứ đau khổ nhiều ngày thành ra cô bị tâm bệnh. Và cũng do tâm đau khổ bức bách mà ngày ngày đều khấn Quan Âm Bồ tát nên có một đêm cô nằm chiêm bao – một giấc chiêm bao kỳ lạ – Trong một kiếp sống nào đó, cô thấy mình là một con thú nhỏ, đang sắp bị một con thú lớn ăn thịt. Ngay lúc cô đang hoảng sợ, tìm cách bỏ trốn thì mẹ cô xuất hiện. Bà đã giúp cô thoát chết, rồi thả cho cô đi. Trước khi đi cô còn chắp tay xá bà và tri ân hẹn ngày báo đáp. Giật mình tỉnh lại, cô nhận ra nhân quả kiếp trước, không có gì không liên quan đến nhân quả. Món nợ mẹ từ kiếp xưa và bây giờ đủ duyên để cô báo đáp. Tự nhiên choàng tỉnh và bệnh cô cũng dần dần tự hết. Cô không thấy oán hận mẹ nữa và hiểu ra cho dù mẹ đối xử với cô thế nào nhưng cô vẫn thương yêu mẹ, hết lòng vì bà. Là do nợ ân tình kiếp trước. Sau sự việc trên cô bắt đầu hướng về Phật pháp. Cô tin sâu nhân quả, cố gắng tu học, tích thiện làm lành, niệm Phật cầu sanh Tây Phương, cô bảo: – Chị à, nhân quả là thật không sai. Nếu không nhờ Quán Thế Âm Bồ tát cho em thấy thì có lẽ cả đời này em mang tội bất hiếu vì oán hận mẹ mình trong khi đó bà lại từng là ân nhân cứu em. Em thật may mắn, nhờ Phật Pháp em mới biết được điều này chị ạ. Giờ khuyên được bà bao nhiêu thì ráng khuyên, giúp được bà hay không giúp được thì thôi chớ không nên sinh tâm oán ghét. Câu chuyện này là thật, hôm nay tôi muốn ghi lại là vì muốn chia sẻ cùng các liên hữu đồng tu rằng có những nghịch cảnh, có những người thân hoặc người bạn đối với chúng ta ( rất là đáng ghét) nhưng vì sao mình vẫn thương họ, vẫn chiều theo ý muốn của họ…đó là vì trong kiếp sống xưa ta đã từng tạo ác nghiệp hoặc nợ họ cái gì đó. Không có cái gì không rời khỏi Nhân Quả. Nếu chúng ta không biết việc này, chúng ta sẽ tự làm chính mình đau khổ, rồi đem cái ân biến thành oán, thành oan gia thì đến đời nào mình mới trả xong nổi đây? Nếu bạn có tiền, có tài sản, có quyền, có địa vị trong xã hội mà bạn tạo ác nghiệp thì bạn có thể tránh được pháp luật thế gian, nhưng bạn sẽ không bao giờ thoát khỏi luật nhân quả. Đó là thật, không phải bịa ra hù dọa bạn gì cả. Bạn không tin thì chính bản thân bạn chịu thiệt thòi mà thôi. Muốn biết nhân đời trước, Xem quả nhận đời này. Muốn biết quả đời sau, Xét nhân gieo hiện tại. Xin hãy thường niệm NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT. (Diệu Âm Lệ Hiếu)

LƯỚI CẢ LƯỚI CẢ MÌNH.

(Trích “Lành Dữ Nghiệp Báo – Thích Chân Tính”) Anh Long ngụ ở ấp 4, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, TP.HCM sinh sống bằng nghề đánh lưới cá. Mỗi ngày anh bắt được rất nhiều cá và bán được khá tiền. Anh có một vợ và hai con. Vợ anh hàng ngày ra chợ bán cá do anh bắt được, có khi mua thêm cá của người khác để bán. Hai con anh đứa lớn 12 tuổi, đứa nhỏ 9 tuổi hiện còn đi học. Mặc dù cả hai vợ chồng đều làm ra tiền nhưng cuộc sống gia đình cũng không khá lắm. Vợ anh thường xuyên đau ốm với chứng bệnh suy tim, thỉnh thoảng phải vào viện cấp cứu. Hai đứa con thì èo uột, ốm yếu và chậm phát triển, mặc dù đã chữa trị bồi bổ rất nhiều nhưng chúng cũng không khá hơn. Riêng anh thì mắc chứng bệnh say xỉn. Hằng ngày cứ chiều đến là đi nhậu với bạn, hoặc rủ bạn về nhà nhậu cho đến tối mới nghỉ. Vợ khuyên anh không nghe lại còn kiếm chuyện la mắng. Vợ chồng thường xuyên lớn tiếng với nhau. Gia đình sống không được hạnh phúc. Một hôm, như mọi ngày, anh giăng lưới trong một cái ao sâu hơn hai mét. Vài giờ đồng hồ sau cá mắc lưới rất nhiều, anh ngồi trên chiếc xuồng nhỏ chèo ra giữa ao để gỡ bắt cá bỏ trên chiếc xuồng, do mải mê cúi xuống gỡ cá trong lưới, anh bị mất thăng bằng lộn nhào xuống ao, người mắc vào lưới. Anh càng cựa quậy cố thoát ra thì lưới càng quấn chặt. Cuối cùng anh phải bị chết giống như những con cá mà anh lướt bắt hàng ngày. Dân làng được tin kéo nhau đến xem. Nhìn cảnh anh bị lưới quấn chết dưới lòng ao, ai cũng thương xót và thấy rõ nhân quả hiện tiền.

TRÂU RỪNG TRẢ THÙ.

(Trích “Lành Dữ Nghiệp Báo – Thích Chân Tính ) Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung tại huyện Krong Nô, ĐăkLăk đã có quy định cấm săn bắt thú rừng, nhưng vẫn có những người lén lút vào đặt bẫy. Ông Tám từ trước đến nay vẫn lén lút vào rừng đặt bẫy bắt các loài thú về ăn thịt, có khi đem bán. Vợ con thường khuyên ông không nên săn bắt thú trong khu rừng cấm, nhất là sợ bị thú dữ hại, vì trước đó đã có nhiều người bị thú dữ tấn công giết chết, nhưng ông không nghe. ( Bạn có thể nghe chuyện qua video dưới đây ) Mỗi lần bẫy được thú, ông thường cùng bạn bè ăn nhậu. Trong số bạn nhậu của ông có hai người rất thân, thỉnh thoảng họ cùng đi với ông vào rừng đặt bẫy. Sáng nay, ông rủ hai người bạn nhậu vào rừng thăm bẫy xem có bắt được con thú nào không. Ông dự định nếu chuyến này bắt được con mồi béo bở, bán lấy tiền tổ chức đi Tây Ninh vía Bà một chuyến. Vì từ rất lâu ông nghe nói núi Bà Đen Tây Ninh rất đẹp và rất linh thiêng, nên ông rất muốn đi nhưng chưa có cơ hội. Nuôi hi vọng từ lâu, hôm nay ông hớn hở đi thăm một lượt các bẫy và ông nhận thấy có một cái bẫy đã bị sập, nhưng không thấy có con thú nào. Ông nghĩ chắc có con thú nào bị sập bẫy đã thoát ra được, và nó không thể đi xa vì vết thương do bẫy gây ra. Ông đoán chắc như vậy và họ cùng nhau đi tìm con mồi. Đang hớn hở tìm kiếm, bỗng từ trong lùm cây, một con trâu rừng đã bị què chân vì sập bẫy, lao ra húc thẳng vào ông Tám. Sự việc xảy ra quá bất ngờ, ông Táp không chạy kịp đã bị trâu rừng húc lòi ruột, chết tại chỗ. Hai người bạn may mắn chạy thoát được. Về tới nhà, họ kể lại cho mọi người nghe truyện trâu rừng trả thù và sợ quá, hứa từ nay về sau không bao giờ đi săn bẫy thú nữa. Riêng ông Tám thì tan vỡ giấc mơ. Thay vì đi vía Bà ở Tây Ninh, ông lại đi chầu Diêm Vương nơi âm phủ.

PHỎNG VẤN NGƯỜI CÕI ÂM.

( Hồng Vân ) Thông qua cuộc trò chuyện này chúng ta sẽ thấy những điều đức Phật đã nói trong các kinh sách là chính xác. Lòng từ bi của Ngài thông qua các giáo lý không chỉ cứu vớt nỗi khổ của con người mà của tất cả các chúng sinh trong các cõi giới. ************************* Biết tôi ( Hồng Vân) là người thường hay viết về thế giới người âm ( thân trung ấm) một cô bạn đồng nghiệp đã gọi điện thoại đến và kể rằng: – Chị ơi em có sự việc này rất lạ, ông ngoại em đã mất cách đây 36 năm trong thời kỳ đi học tập cải tạo. Vừa rồi ông đã trở về, nhập vào em của mợ dâu và xin gia đình làm lễ quy y Tam Bảo cho ông. Gia đình em có hỏi: Xác ông ở đâu để người nhà đem về lập mộ và tại sao ông lại trở về xin được quy y Tam Bảo? Ông trả lời: – Không cần tìm xác ông để chôn cất làm gì. Ông thấy mình nghiệp rất nặng và đang phải đối diện với những gì mình đã gây ra. Vì vậy, ông muốn gieo nhân Phật để khi tái sanh trở lại kiếp người, gặp Phật pháp ông có thể phát tâm tu. Gia đình em đã tìm thầy Thích Giác Hạnh – Chùa Hội Phước Bà Rịa – Vũng Tàu để xin thầy quy y cho ông và thầy đã đồng ý. Vài ngày sau, cô bạn lại gọi điện thoại tới và hỏi tôi có muốn đi cùng cô đến gặp Thầy Giác Hạnh không? Tôi đồng ý! Sáng hôm trên đường đến gặp thầy, cô nói: “ Hôm qua ông ngoại em lại về và nói ngoài việc tìm thầy quy y Tam Bảo, nhớ lập trai đàn cúng cầu siêu cho ông và những người cùng thời làm việc với ông hồi hướng để tạo công đức giúp ông và mọi người được siêu thoát.” Thầy Thích Giac Hạnh là vị tăng sĩ khá nổi tiếng trong việc trừ các vong linh nhập vào người dương thế. Thầy hiểu khá rõ về thế giới người cõi âm. Sau khi gặp thầy Giác Hạnh, tôi có ý định sẽ trực tiếp được gặp ông ( người cõi âm) để phỏng vấn, trò chuyện về thế giới mà hiện ông đang tồn tại. Điều quan trọng nhất tôi muốn hỏi là vì sao ông lại quay trở lại thế giới dương để được quy y Tam Bảo khi mà lúc còn sống ông chưa từng tiếp cận được với kiến thức Phật giáo. Nhưng rồi do bận công việc nên tôi đã không thể trực tiếp, tiếp cận và phỏng vấn ông đúng như dự định. Cũng may trước đó tôi đã trao đổi với cô bạn đồng nghiệp về một số những vấn đề mà tôi muốn hỏi. Vì cũng là một đệ tử mới quy y nên cô bạn ( cháu ngoại của người cõi âm) đã đưa ra  những vấn đề mà tôi nói trước đó để hỏi ông. Thật là may mắn cuộc trò chuyện đó đã được ghi băng lại. Để bạn đọc hiểu và tin sâu hơn nữa về Phật pháp tôi xin ghi lại cuộc trò chuyện dưới đây. Vì được tiếp xúc nhiều lần khi ông trở về nên cuộc phỏng vấn ghi lại dưới đây là tổng hợp nhiều cuộc trò chuyện. Có nhiều thông tin trong cuộc phỏng vấn vì vấn đề tế nhị trong gia đình nên tôi không đưa ra, nhưng sẽ nói trong phần hai của bài viết – Luận về cuộc phỏng vấn. Thông qua cuộc trò chuyện này chúng ta sẽ thấy những điều đức Phật đã nói trong các kinh sách là chính xác. Lòng từ bi của Ngài thông qua các giáo lý không chỉ cứu vớt nỗi khổ của con người mà của tất cả các chúng sinh trong các cõi giới. Cuộc trò chuyện với ông ngoại. Trước khi vào nội dung cuộc trò chuyện, tôi xin đưa ra lời thuyết giảng của ông Huỳnh Văn Lương trong cuộc gặp mặt cuối cùng với gia đình tại Rạch Kiến. Do đã thông hiểu Phật pháp, ông Lương ( một người lính quân đội Việt Nam Cộng hoà) đã đưa các vong linh của những người lính cả hai phía ( bộ đội cụ hồ và lính cộng hoà) đứng trước mâm cơm chay tuyên bố. Hôm nay, tôi Huỳnh Văn Lương – Pháp danh Minh Tâm ( chính xác là tối ngày 27/7 năm Tân Mão) tôi cùng mấy đứa con tôi xin thỉnh chư vị hai bên cùng dân chúng ở đây ” nhưng vong linh ở quê” nghe tôi thuyết giảng một lời. Hôm nay, tôi đã quy y trước Tam Bảo. Cái thời của chúng tôi đã chấm dứt rồi, cho nên chúng tôi hạ vũ khí. Chúng ta cùng là dân nước Việt, đều là con người. Ai vì chủ nấy, chúng ta nên thương lượng hoà hảo, kết oan trái lại hạ vũ khí. Chúng ta cùng nhau quy về một đường. Chúng ta là những con người do nghiệp sát mà đầu thai thành người lính. Tôi đã ngộ được con đường của Phật đạo cho nên tôi mong mỏi các ông và dân chúng ở đây cùng tôi về với Phật. Chúng ta hãy tỉnh giấc ngộ lại. Bỏ hết chắp tay như tôi đây này, Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần). Các công đã nghe lời như vậy tôi rất mang ơn. Hôm nay, cháu tôi cùng bằng hữu đã có mặt ở đây trợ duyên. Các ông hãy linh hiển nhận mâm cơm chay này để các chư Tăng hồi hướng công đức đưa chúng ta về thế giới Tây Phương Cực lạc. Các ông chứng cho lòng thành thật của tôi. Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần). Các ông đã quỳ xuống hết rồi, đã chắp tay niệm Phật rồi. Minh Tâm đã thành công rồi. Dân ở đây người ta rất hoan hỉ rồi. Hỏi: – Nhân duyên gì mà ông đã gặp được Phật và phát tâm tu tại cõi giới âm? Trong quá khứ tiền kiếp, khi còn trẻ ông có vào chùa Phật nhưng chủ yếu là quậy phá vui chơi. Nhờ phúc báo nên đã gieo được chủng tử Phật trong tâm thức. Sau khi mất ông vẫn thường về nhà nhưng không tiếp cận được với ai, do người thân không nhớ đến ông. Ngày giỗ ông cũng không ăn được gì, vì trên giấy báo tử không đúng với ngày mất của ông. Ông phải chịu sự đói khát, lạnh lẽo trong suốt những năm qua. May nhờ bà mợ dâu khi ăn thường mời cơm nên ông theo bà về quê nhân dưới quê có giỗ. Ông ở luôn dưới quê ( Rạch Kiến). Tại đây ông thường nghe kinh Phật mỗi tối do hai cô em gái đầu là Phật tử tụng kinh mỗi ngày. Vì nghiệp sát nặng nên ông không thể vào chùa được. Sau khi quy y ông có thể vào chùa để nghe giảng kinh từ các vị chư tăng. Hỏi: – Vì sao ông không quy y Tam bảo ở cõi âm mà lại mượn thân xác lên dương trẩn quy y? Muốn quy trước Tam Bảo phải tam quy (quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng), ngũ giới (Không sát sinh, không uống rượu, không nói dối, không tà dâm, không trộm cắp). Tam quy thì có thể thực hiện được, nhưng ngũ giới thì không, vì còn thân xác đâu mà thực hiện ngũ giới. Hỏi: – Chúng sinh cõi âm cõi âm có tu được không. Nghĩa là có ngồi thiền tụng Kinh Niệm Phật được không? Không thể tu được, còn thân xác đâu mà tu. ( Các vọng tưởng trỗi dậy không ngừng, không thể dẹp bỏ được). Thân người quý lắm. Thần thức ở trong thân người mới tu được. Nếu ai còn thân người thì cố gằng mà tu. Tái sanh kiếp sau ông sẽ tu. Ông quy y lần này là để gieo chủng tử vào tâm thức, kiếp sau tái sanh lên kiếp người gặp Phật Pháp là ông tu liền. Ông có duyên thầy trò với thầy Thích Giác Hạnh trong tiền kiếp. Hỏi: – Ông có thể nói rõ hơn về nhân duyên thầy trò giữa ông với thầy Thích Giác Hạnh được không? Trong một kiếp quá khứ, ông là một thanh niên ngang ngược vào chùa chơi. Lúc đó thầy Giác Hạnh là một vi tăng tu ở trong chùa. Thầy có khuyên ông nên quy y Tam Bảo. Ông nói là chỉ khi nào ông không còn thân xác ông mới quy y. Từ nhân duyên này mà duyên thầy trò đã hình thành. Hôm nay Thầy đã quy y cho ông. Nhưng vì ông không có thân xác nên duyên thầy trò mới chỉ 50 %. Thông thường duyên thầy trò phải gặp nhau ba kiếp. Trong tương lai thầy Thích Giác Hạnh sẽ là một vị tăng một kiếp nữa khi đó ông sẽ là một đệ tử 100% của thầy. Hỏi: – Điều đó có nghĩa là trong kiếp này thầy Giac Hạnh vẫn chưa được vãng sanh về Tây Phương Cực lạc? Chưa, Vì Phật tổ còn muốn thầy ở lại để tiếp tục độ chúng sinh trong một kiếp nữa sau đó mới vãng sanh được. Hỏi: – Ông đã mất thân xác được 36 năm. Ông tiếp cận được Phật pháp lâu chưa. Bao giờ ông tái sanh? Mới tiếp cận được gần đây thôi, nhưng sức xoay chuyển nghiệp báo rất nhanh, trong từng sát na. Ông sắp sửa có thể siêu thoát và tái sanh trở lại. Khoảng trong ba tháng nữa, khi nào cháu nằm mộng thấy Phật là ông tái sanh. Hỏi: – Tâm trạng của ông sau khi chết (tức là mất thân xác) như thế nào? Tại sao người chết không ra đi luôn mà còn quay trở lại dương trần làm gì? Con người có hai phần, phần hồn và phần vật chất. Phần hồn nhà Phật gọi là vong linh. Khi đưa vong linh vào thờ thì gọi là hương linh. Con người có 2 cách chết. Một là, chết đột ngột vì tai nạn, vì bệnh tật hay một lý do nào đó không có sự chuẩn bị trước. Hai là, chết già, mọi thứ đã buông bỏ và có sự chuẩn bị trước. Những người chết trẻ hay chết đột ngột đều có nhiều uẩn khúc nên bám chấp vào cuộc sống hiện tại. Tâm trạng khi chết vẫn còn lưu giữ đền bây giờ. Vì vậy mà ông mới quay trở lại gặp gia đình. Hỏi: – Vì sao ông không về sớm hơn mà bây giờ mới quay trở về? Ông không thể về sớm hơn là vì người cho ông mượn thân xác chưa đủ công đức và chưa phát nguyện độ chúng sanh. Bây giờ người ấy đã phát nguyện “ Bỏ ác, làm thiện cứu độ tất cả chúng sanh” họ đã đủ công đức. Vì người cho ông mượn thân xác có căn lành, tu sâu nên mới nhìn thấy ông khi ông quay trở về. Hỏi: – Sau khi mất thân ông thấy những gì diễn ra xung quanh ông? Ông thấy xung quanh ông chỉ toàn một màu đen đỏ tối om. Ông thấy mình khổ sở vô cùng không thấy cái gì ở phía trước. Ông phải sống trong cảnh giới đói khát, lạnh lẽo và không thể trở về nhà được. Không ai cho vào. Ông hiều đó là do nghiệp sát ông phải trả. Sau khi tiếp cận Phật pháp ( sám hối, trì chú Đại Bi) ông thấy xung quanh ông dần dần sáng ra, thân tâm nhẹ dần và thấy rõ con đường đi của mình. Hỏi: – Còn những người xung quanh ông? Họ cũng có những sắc mầu gần giống như vậy. Chỉ có những người trì tụng kinh Phật thường xuyên và những người tu mới có màu sáng trắng sau khi rời bỏ thân xác. Ông đã nhìn thấy màu sáng trắng đó quanh đầu Ni Sư trưởng Thích nữ Như Vân ở Chùa Long Hoa Ni Tự – Rạch Kiến. Hỏi: – Những người quay trở về dương thế như ông có nhiều không? Nhiều lắm. Nếu người dương không giữ đầu óc trong sáng là bị họ nhập liền. Vì họ cũng đang rất muốn có thân xác. Chỉ cần tham, sân, si khởi lên là họ biết liền. Vọng tưởng càng mạnh thì họ càng dễ nhập. Hỏi: – Khi được thân người thì phải tu như thế nào để sau khi mất thân xác được vãng sanh về Tây Phương Cực lạc? Muốn vãng sanh được về Tây phương cực lạc thì phải trì sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật thường xuyên, liên tục. Phải ăn chay niệm Phật, làm công đức. Tu thập thiện trì ngũ giới. Khi lâm chung phải niệm 10 tiếng nhất tâm bất loạn. Nếu có cơ duyên tốt có người hộ niệm thì nhất định sẽ vãng sinh được về Tây Phương cực lạc. Hỏi: – Trước đây nghe bà ngoại nói ông không bao giờ dạy bảo ai điều gì. Sao bây giờ khi trở về gặp ai, ông cũng khuyên mọi người nên tu và niệm Phật. Còn các đạo giáo khác thì như thế nào? Đừng nghĩ sau khi chết là hết. Cuộc đời ở trần thế chỉ là một giấc chiêm bao vô thường và ngắn ngủi. Ông muốn thức tỉnh mọi người. Vì khi mất thân người rồi xuống đây chẳng còn gì ngoài tâm thức biển hiện của mình. Khi chỉ còn tâm thức thì thấy đạo Phật là chánh pháp, chỉ có đạo Phật mới có thể cứu thoát con người ra khỏi cảnh khổ và siêu thoát được. Những nghiệp mà mình đã tạo trước đây sẽ đeo bám mình suốt không biết bao giờ mới thoát ra được. Nam Mô A Di Đà Phật! Nếu ai đọc xong cuộc phỏng vấn này bỗng phát tâm tu hoặc đã tu tự nhiên cảm thấy tinh tấn hơn thì xin hồi hướng công đức này cho ông Huỳnh Văn lương cùng các cộng sự của ông và những người lính của cả hai bên để họ được siêu thoát. _________________________ ( Phần 2) Người âm không có người hộ niệm để xua đuổi các oan gia trái chủ. Vì vậy, dù có cố gắng họ cũng không thể vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc. Họ chỉ có thể gieo nhân bằng cách gieo chủng tử Phật vào tâm thức thật nhiều để đến khi được thân người tiếp cận với Phật pháp họ sẽ tu hành. Mặc dù không trực tiếp phỏng vấn được ông Huỳnh Văn Lương (người cõi âm) nhưng qua đoạn băng ghi âm về cuộc nói chuyện của ông với người thân trong gia đình tôi thật sự xúc động và đã vỡ ngộ ra nhiều điều. Gần 10 năm nghiên cứu hành trì theo Phật pháp, chưa khi nào tôi tiếp cận được một nhân chứng thông hiểu cõi giới âm, dương đến như vậy. Tìm lại các kinh điển Phật đối ứng, tôi thấy chính xác đến từng chi tiết. Trong phần hai của bài viết tôi xin được trích một số thuyết lý lấy từ trong kinh Phật để bạn đọc hiểu và tin hơn nữa. Các đệ từ Phật chúng ta sẽ thấy mình thật sự may mắn khi được tiếp cận với giáo lý Nhà Phật. Để có được duyên Phật trong kiếp này có lẽ trong chúng ta đã từng tu tập nhiều kiếp trong quá khứ. _____ Nghiệp chiêu cảm làm cho người âm rất khổ Đối với Phật giáo, phút giây cận tử nghiệp của con người là rất quan trọng. Thông qua lời thuyết giảng của ông Lương với các cộng sự, những người lính từ hai phía ta thấy, con người sau khi chết vẫn giữ nguyên tâm trạng lúc lâm chung khi bước vào cõi giới âm ( thân trung ấm). Vì vậy mà sau mấy chục năm những người lính chết trận do tâm sát đeo bám vẫn cứ tiếp tục chiến đấu bắn giết nhau. Dù chẳng còn thân xác. Nếu không tiếp cận được với pháp Phật có lẽ không biết bao giờ họ mới thoát ra được tâm trạng trả thù đó. Tất cả mọi người sau khi chết nếu không phải cực thiện hay cực ác ( tái sinh ngay lập tức) đều phải đối diện với những hành động tác tạo trong vô lượng kiếp quá khứ của chính mình. Chính các trạng thái ăn uống, ngủ nghỉ, đi lại… tham, sân, si thói quen hàng ngày đã ăn sâu vào trong tiềm thức nên người chết vẫn cảm giác có nhu cầu như một người còn thân xác. Việc chưa chấp nhận mình đã chết đã làm cho họ lâm vào tình trạng lạnh lẽo cô đơn, đói khát, khổ sở. Theo Lạt Ma hoá thân Lobsang Ramp vì không chấp nhận cõi giới khác nên người chết không hoàn toàn sang hẳn cõi âm mà ở nơi chuyển tiếp giữa hai cõi. Các vong linh không siêu thoát được đều rất đau khổ, họ không ý thức được rằng mình đã sang một cõi khác mà cứ bám lấy cõi trần, thần trí mê man, điên đảo….chỉ khi nào vong linh trở nên tỉnh táo, có thể nhận thức được rõ rệt những sự việc xẩy ra chung quanh, ý thức được sự chết của mình và chấp nhận sự chết đó họ mới siêu thoát được. Tất cả những cảm giác đó đều do sự chiêu cảm của nghiệp mà hiện ra. Trong Kinh Địa Tạng, Ngài Địa Tạng Bồ Tát nói với Ngài Phổ Hiền Bồ Tát rằng: “ Thưa Nhơn Giả! Đó đều là do chúng sanh trong cõi Diêm-Phù-Đề làm những điều ác mà tùy nghiệp chiêu cảm ra những địa ngục như thế.  Nghiệp lực rất lớn, có thể sánh với núi Tu-Di, có thể sâu dường biển cả, có thể ngăn đạo thánh. Lạt ma Lobsang Ramp còn cho rằng: sự không siêu thoát sẽ tạo nên nhiều đau khổ. Linh hồn của họ bị giam hãm, bao bọc một cái vỏ do chính họ tạo ra nên không còn thấy gì bên ngoài….Theo thời gian khi dục vọng giảm bớt, cái vỏ này sẽ tan dần và đến một lúc nào đó họ sẽ ý thức được điều này và sẽ siêu thoát. Sau khi mất thân xác, ông Lương đã nói rằng, xung quanh ông bao bọc một màu đen đỏ và không thấy gì cả. Pháp môn Mật Tông cho rằng, xác thể và dục thể có tan rã hết thì con người mới siêu thoát và đầu thai vào kiếp mới được. Dục thể được cấu tạo bằng những ham muốn, thèm khát, tình cảm nói chúng… Dục thể là cái quyết định thời gian con người phải sống bên cõi âm lâu hay chóng. Những người ít ham muốn có tâm hồn thanh khiết dễ siêu thoát hơn những người có nhiều dục vọng. Trường phái Nam Tông cho rằng, con người sau 49 ngày nếu chưa tái sinh được thì họ được xếp vào các loại cô hồn, ma quỷ vất vưởng. Vì vậy mà thuyết lý của tông phái Nam truyền không cho là có thế giới trung thân trung ấm. Những người không siêu thoát được sau 49 ngày đều là những chúng sinh còn bám chấp quá nhiều vào cuộc sống dương trần nên trong kiếp tái sinh tiếp theo khả năng họ sẽ vào cõi giới ngạ quỷ. Bây giờ thì chúng đã hiểu vì sao nói, sau khi mất thân người 70 – 80 % là tái sinh vào kiếp ngạ quỷ là như vậy. Nghiệp báo của chúng ta sau khi mất thân người còn đang chông chênh. Nếu tâm còn bám chấp vào cuộc sống dương trần quá mạnh, ở trong cõi giới âm quá lâu. Càng lâu bao nhiêu thì kết nghiệp duyên ngạ quỷ càng nhiều và thế là cảnh giới tiếp theo của ta sẽ là ngạ quỷ. Sự vi diệu, bất khả tư nghì của các câu thần chú Phật. Để chuyển hoá được tâm thức, chuyển nghiệp, tiêu trừ nghiệp chướng… chư Phật và Bồ Tát đã ban cho chúng sinh rất nhiều câu thần chú. Nhiều người trong chúng ta thường coi nhẹ việc tụng kinh trì chú, vì chưa thấy được hiệu quả trước mắt. Khi con người còn thân xác do thể vất chất quá nặng nên năng lực của các câu thần chú tác động đến tâm thức không nhiều. Khi con người mất thân xác thì nó như một liều thuốc thần dược chuyển hoá tâm thức rất nhanh. Vì thế mà ông Lương có nói, chỉ mới tiếp cận đạo Phật gần đây nhưng sức xoay chuyển nghiệp báo rất nhanh, trong từng sát na. Theo ông, chỉ khi tiếp cận với Phật đạo tâm ông mới sinh buông bỏ. Sau khi trì tụng Chú Đại Bi, nghe thuyết pháp ông mới thấy sắc màu xunh quanh mình chuyển từ mầu đen đỏ sang màu sáng. Sắc màu hay từ trường ánh sáng bao quanh người dương cũng như người âm thể hiện tư tưởng trạng thái tình cảm của tâm thức ( Vấn đề này tôi đã nói khá sâu trong bài viết chụp ảnh người âm – Vì sao các vòng tròn phát sáng). Qua những điều ông nói ta thấy, pháp Phật thật là vô biên. Các câu thần chú thật là vi diệu và bất khả tư nghì. Như vậy, sự buông bỏ không chỉ dành cho những người tu hành khi còn sống mà nó còn vô cùng cấp thiết cho những vong linh trong việc siêu thoát. Nếu chúng ta không tập thói quen ngay lúc còn sống thì chúng ta khó có thể sinh tâm buông bỏ khi bước qua thế giới bên kia. Không phải chúng sinh nào cũng may mắn được tiếp cận Phật pháp tại cõi giới âm như ông Lương. Nếu như không có duyên gặp Phật pháp, không trì tụng kinh chú, có lẽ cảnh giới tái sinh tiếp theo của ông khó thoát khỏi súc sinh và ngạ quỷ. Mật Tông cho rằng, sự cầu nguyện nhất là sử dụng các câu thần chú sẽ phát ra các âm thanh đặc biệt có công dụng rung động cõi âm tác động vào thần thức giúp nhưng linh hồn đang bị bao bọc trong vỏ kén mê muội tỉnh thức. Không phải chỉ những câu thần chú mới có hiệu quả mà những lời cầu nguyện chân thành của người thân có hiệu quả tốt đẹp không kém… Lời cầu nguyện có một sức mạnh tư tưởng có một mãnh lực rất mạnh ở cõi giới bên kia. Hồi hướng công đức để trợ duyên giảm nghiệp báo cho người mất. Nếu các vong linh không siêu thoát được, ở càng lâu trong cõi giới âm thì càng tạo nghiệp duyên tái sinh vào thế giới ngạ quỷ. Người Tây Tạng cho rằng, thời gian ngay sau khi chết là hết sức quan trọng vì khi đó linh hồn vừa rời khỏi xác, đang xúc động cần phải hướng dẫn trấn an. Nếu không được chỉ dẫn rõ rệt linh hồn có thể quyết luyết quanh quẩn không thể siêu thoát được và trở thành các loại cô hồn không nơi nương tựa hoặc có khi bị sinh vật cõi âm lợi dụng đưa vào những nẻo nguy hiểm. Để người chết không bị sống lâu trong thế giới âm và mau chóng được siêu thoát, vai trò của những người thân rất quan trọng. Không phải ngẫu nhiên ông Huỳnh Văn Lương yêu cầu con cháu trong nhà lập trai đàn cúng đề cầu siêu cho ông và những người quanh ông được siêu thoát. Sống ở trong cảnh giới đó ông hiểu rằng, nếu không có sự trợ duyên của người thân thì người cõi âm rất khó siêu thoát được. Trong Kinh Địa Tạng có đoạn: “Thần hồn người chết đó khi chưa được thọ sinh, ở trong bốn mươi chín ngày, luôn luôn trông ngóng hàng cốt nhục thân quyến tu tạo phước lành để cứu vớt cho… Hàng thân quyến của người lâm chung đó, nên phải sắm sửa làm sự cúng dường lớn, tụng đọc Tôn kinh, niệm danh hiệu của Phật và Bồ Tát, tu tạo nhân duyên phúc lành như thế, có thể cho người chết thoát khỏi chốn ác đạo, các thứ ma, quỉ, ác thần thảy đều phải lui tan cả hết”. Khi người cháu gái nói làm công đức để hồi hướng cho ông nội vì ( ông đang bị quả báo tái sinh vào cảnh khổ). Ông Lương trả lời người thân gần nhất là hàng con cái hồi hướng có hiệu quả nhất sau đó mới đến con cháu. Khi làm việc lành tạo công đức chớ có sát sinh bất cứ một sinh vật nào. Nếu còn sát sinh thì chỉ tạo thêm nghiệp xấu cho người cõi âm. Trong Kinh Địa Tạng, Ngài Địa Tạng Bồ Tát cũng bạch cùng Đức Phật rằng: “ Vì lẽ trên đó nên nay con đối trước Đức Phật Thế Tôn cùng với hàng Trời, Rồng, tám bộ chúng, người với phi nhơn vv… mà có lời khuyên bảo những chúng sinh trong cõi Diêm-Phù-Đề, ngày lâm chung, kẻ thân thuộc phải cẩn thận chớ có giết hại và chớ gây tạo nghiệp duyên chẳng lành, cũng đừng tế lễ Quỉ, Thần, cầu cúng ma quái… Vì sao thế? Vì việc giết hại cho đến tế lễ đó, không có một mảy mún chi lợi ích cho người chết cả, chỉ có kết thêm tội duyên của người đó làm cho càng thêm sâu nặng hơn thôi”. Ngài Địa Tạng giải thích như sau: “ Cũng ví như, có người từ xứ xa đến, tuyệt lương thực đã ba ngày, đồ vật của người đó mang vác nặng hơn trăm cân, bỗng gặp kẻ lân cận lại gởi một ít đồ vật nữa, vì vậy mà người xứ xa đó càng phải khốn khổ nặng nề thêm”. Nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã cũng đã chứng minh điều đó. Khi ông niệm 108 câu Nam Mô A Di Đà Phật thì không những ông mà cả 7 nhà ngoại cảm có mặt trong nghĩa trang Trường Sơn đều nhìn thấy các vong linh ngồi xuống trong tư thế thiền định niệm theo. Nhà ngoại cảm cho rằng, chỉ có câu Phật hiệu đó là món quà quý giá nhất đối với các chúng sinh ở cõi giới âm. Câu Phật hiệu đó sinh tâm buông xả mọi sự bám chấp và có thể siêu thoát được. Nếu chúng ta cứ lo đốt vàng mã cúng gà vịt, xây mộ thật to cho người âm là chúng ta muốn họ sống lấu hơn nữa trong thế giới vô cùng khổ sở đó. Giữ tâm trong sáng, trì tụng kinh chú, niệm Phật cũng là tạo công đức Vì đã thoát ra khỏi thân xác nên người âm đọc được hết mọi suy nghĩ của người dương. Họ cảm nhận được những gì mà người khác đang suy nghĩ. Có một chi tiết rất hay. Trong khi đang trò chuyện, cô bạn đồng nghiệp (cô cháu gái) nghĩ đến con chó bị ốm ở nhà không ai chăm sóc. Ông Lương bỗng kêu lên sao xung quanh mình thấy toàn chó thế này! Điều này cho thấy, sau khi mất người thân, nếu người trong nhà hàng ngày trì tụng kinh chú Phật và thường xuyên nhớ đến người đã chết thì các vong linh sẽ tiếp cận được Phật pháp. Vì lúc đó họ chưa đi đâu cả vẫn quanh quẩn ở trong nhà. Những câu thần chú và sự cầu nguyện khuyên giải sẽ tác động vào tâm thức người mất, các vong linh họ sẽ hưởng được sự an lạc và siêu thoát. Đây là một hình thức trợ duyên rất tốt cho người âm. Qua chi tiết này ta thấy vì sao phải luôn giữ sự trong sáng trong tâm. Vì khi ta khởi niệm lên những vọng tưởng không tốt thì thế giới ma quỷ sẽ xâm nhập vì đồng thanh tương ứng, đồng ý tương cầu. Vì nhân quả báo ứng không sai biệt nên phải tu khi được thân người Có rất nhiều lần trong cuộc nói chuyện với người thân trong gia đình, ông Lương khuyên người thân của mình ” phải tu”. Gặp ai ông cũng bảo “phải tu” vì cuộc sống con người rất ngắn ngủi. Tiền bạc nhiều để làm gì, quyền cao chức trọng để làm gì, càng nhiều thì càng chất thêm nghiệp khổ lắm. Chỉ cần đủ ăn đủ mặc là tốt rồi. Có tu thì mới thay đổi nghiệp chướng của mình. Không tu thì cứ theo nghiệp mà tái sinh vào các cảnh giới khổ. Khi không còn thân xác, tiếp cận được với đạo Phật, xunh quanh ông sáng dần lên, ông đã nhìn được rất rõ quy luật nhân quả thông qua các kiếp quá khứ, hiện tại và tương lai. Có một mẫu đối thoại khi nói về hậu kiếp của những người trong gia đình rất lý thú. Ông đã nhìn được một số người thân của mình sau khi mất thân sẽ về cảnh giới nào. Nguyên do vì sao họ lại đầu thai ở cảnh giới đó. Người có công đức thì sẽ chuyển thân làm người đàn ông. Người không chịu làm việc, lười biếng lại thiếu nợ người khác thì dầu thai lên kiếp chó. Người ham chơi cờ bạc thì tái sinh thành người nghèo khổ sách giỏ đi ăn xin một nửa kiếp đầu… Tất cả đều là do nhân gieo trong kiếp này mà phải chịu quả báo trong tương lai. Một cuộc nói chuyện không thành vì sự cố chấp của người con gái, ông đã nhìn ra ngay được quả báo của bà là có người cha không yêu thương trong kiếp người tương lai. Toàn bộ cuộc sống của ông khi còn thân xác cho đến khi tồn tại ở thế giới âm đều chuyển động theo quy luật nhân quả. Ông đã nhìn thấu rõ và hiểu được tầm quan trọng cần phải tu khi còn thân xác người như thế nào. Trong Kinh địa Tạng có nói: “ Vì thế chúng sinh chớ khinh điều quấy nhỏ mà cho là không tội, sau khi chết đều có quả báo dầu đến mảy mún đều phải chịu lấy”. Qua bài phỏng vấn ta cũng thấy rất rõ vì sao chúng sinh cõi âm không thể tu được mà phải có thân người mới tu được. Vì người cõi âm không thể thực hiện được ngũ giới và tu thập thiện. Người cõi âm không thể giữa được 10 câu niệm Phật A Di Đà Phật mà không xen tạp, vì vọng tưởng trong tâm thức vong linh tăng gấp 9 lần so với người có thân xác. Người âm không có người hộ niệm để xua đuổi các oan gia trái chủ. Vì vậy, dù có cố gắng họ cũng không thể vãng sinh về Tây Phương cực lạc. Họ chỉ có thể gieo nhân bằng cách gieo chủng tử Phật vào tâm thức thật nhiều để đến khi được thân người tiếp cận với Phật pháp họ sẽ tu hành. Nam Mô A Di Đà Phật! Xin được hồi hướng công đức này về thế giới Tây Phương Cực Lạc. Xin được hồi hướng công đức này cho ông Huỳnh Văn Lương cùng các cộng sự của ông, những người lính của cả hai phía và các chúng sinh đang thành Phật đạo! Theo: phattuvietnam.net ______________________________ Tham khảo thêm : http://nhanqua.com.vn/cung-thi-thuc-cau-sieu-cho-vong-linh-muoi-phuong/