Chị là một người cũng hiểu biết đôi chút về Phật pháp, thế nhưng chưa thật sự tin lắm, vì chị chưa từng thấy kết quả rõ rệt nào đến với chị, cho đến một ngày kia…
Chị tên Phạm Thị Hòa, hiện đang sinh sống tại Vân Đoài, Nam Hưng, Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Vào đầu tháng 11/ 2018, là thời gian chị đang mang thai cháu bé thứ hai của mình. Mấy hôm liền, chị thấy không được khỏe, cơ thể khó chịu. Vì thế chị đã đi đến bệnh viện khoa sản ở Hải Phòng khám xem tình hình ra sao.
Vào khám, được bác sĩ cho chụp hình siêu âm và khám hết một lượt, và bác sĩ kết luận : hiện tại chị có khối u ở cổ tử cung. Một khối u trong thời kỳ mang thai, đó là một điều rất nguy hiểm, bất kể nó là u lành hay u ác.
Biết được kết quả thế rồi, tâm trạng chị thực sự lo lắng, sợ rằng sẽ ảnh hưởng đến thai nhi. Thời gian sau đó, chị chạy đôn chạy đáo, chạy chữa khắp nơi, đông y – tây y kết hợp nhưng vẫn không thuyên giảm và đỡ chút nào.
Vì đang mang thai và cố gắng chữa bệnh, tâm lí lo lắng nên sức khỏe chị càng giảm sút, bệnh càng ngày càng nặng thêm.
Sám hối oan gia (Ảnh minh họa)
Khi biết được chị bệnh như thế, tôi cũng lo lắng thay cho sức khỏe của chị. Là một người Phật tử, tôi biết đó có thể là do oan gia hành bệnh, hoặc do nghiệp mình đến lúc phải trả. Nên có lần, tôi nói chuyện với chị rằng:
– Nếu do oan gia trái chủ báo oán, hành bệnh thì có cách chữa. Còn nếu do mạng số đã tận thì mình chỉ sống đến đây thôi, không còn cách nào khác.
Chị cũng biết và hiểu đôi chút về Phật pháp, bệnh tật nơi thân ta là do Nghiệp, là do oan gia về báo oán thành ra bệnh. Nên nghe lời tôi khuyên, chị về lập bàn thờ Phật Dược Sư, rồi thỉnh oan gia trái chủ xin sám hối. Tính ra thì tôi cũng như chủ lễ, hướng dẫn và ở bên, tiếp sức cho chị để chị cố gắng tụng kinh, lễ Phật.
Tôi khuyên chị trước khi tụng kinh, nên thỉnh mời các vong linh oan gia trái chủ trong mười phương để họ về cùng nghe kinh, tụng xong thì hồi hướng công đức đến họ: “Con xin đem công đức tụng niệm này hồi hướng cho tất cả vong linh oan gia trái chủ đang theo trên cơ thể, cũng như trong khắp mười phương, nhờ Tam Bảo và thần lực kinh Địa Tạng đều được siêu thoát khỏi ba đường ác.”
Từ đó, chị Hòa cố gắng ngày đêm đọc kinh, niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, lễ Phật cũng như thỉnh các chư vị vong linh oan gia trái chủ về, thành tâm sám hối tội lỗi đã gây ra với họ nhiều kiếp qua, và hồi hướng công đức cho họ.
Sau hơn một tháng, đều đặn hằng ngày sáng dâng nước cúng dường lạy Phật. Chiều tối hai thời khóa tụng kinh Địa Tạng và kinh Dược Sư, cuối cùng kì tích đã xuất hiện. Chị thấy bớt đau hẳn và không còn dấu hiệu ra máu nữa, tình hình có vẻ khởi sắc hơn. Chị liền đi bệnh viện khám lại, bác sĩ kết luận: Khối u tử cung đã hoại tử !
Nhưng chị vẫn chưa dám tin đó là sự thật, vì thế chị lại tiếp tục đi lên bệnh viện lớn hơn để kiểm tra lại lần nữa. Kết quả giống như bệnh viện trước, đó là khối u tự hoại tử thật.
Vi diệu ngoài sức tưởng tưởng ! Chị xúc động muốn trào nước mắt. Tận đáy lòng, chị vô cùng cảm ân Chư Phật, Chư Bồ Tát gia hộ, cảm ân Phật Pháp đã cho chị một lối thoát trong cơn bế tắc.
Không lâu sau đó, chị lên chùa Phúc Khánh ( Tiên Lãng, Hải Phòng) xin được Quy Y Tam Bảo. Quy Y xong, chị có gặp ni sư Đồng Định- trụ trì chùa Phúc Khánh, kể về chuyện linh ứng mà chị vừa được trải nghiệm. Ni sư mỉm cười dịu dàng và nói :
– Lời thỉnh cầu của con đã thấu tới trời xanh rồi đó !
( Thiện Tuệ – viết lại từ lời kể của Vũ Duy Thoại)
Nghi thức Sám hối – cầu siêu Oan gia trái chủ:
http://nhanqua.com.vn/http-nhanqua-com-vn-nghi-thuc-sam-hoi-oan-gia-trai-chu/
Tôi pháp danh là Liên Hoa, ngụ tại Bà Điểm, huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh. Tôi xin kể lại câu chuyện có thật của gia đình tôi khi tôi hành trì sám hối theo bộ Lương Hoàng Sám, hy vọng chia sẻ của tôi sẽ giúp cho các đạo hữu tăng trưởng tín tâm về sự màu nhiệm không thể nghĩ bàn của pháp sám hối này.
Mẹ tôi sinh năm 1958, trong suốt 5,6 năm nay thường xuyên bị đau đầu, mỗi ngày phải uống 2-4 viên panadol để giảm đau, đồng thời đi khám bệnh ở bệnh viện Thống Nhất rất nhiều lần, mỗi lần mang về rất nhiều thuốc nhưng uống hoài không khỏi. Ngoài ra mẹ tôi còn bị béo phì nên trong người lúc nào cũng mệt mỏi, uể oải.
Bố tôi sinh năm 1957, cách đây gần một năm có đặt stens tim, đồng thời bị tiểu đường nặng, suy thận, tràn dịch màng phổi nên cả ngày bố chỉ nằm trên ghế. Mỗi năm bố mẹ tôi phải đi cấp cứu mấy lần.
Trước tết khoảng đêm 24-25 âm lịch, tôi đang ở Vũng Tàu công tác thì nằm mơ thấy bố tôi gọi : “Tuyết ơi cứu bố!” .Trong mơ tôi thấy bố bị lên cơn nhồi máu cơ tim và gục xuống. Tôi bật dậy hoảng hốt, mồ hôi ướt đẫm gối, chỉ muốn lao nhanh về Sài Gòn trong đêm. Từ đó tôi luôn lo lắng bất an về sức khỏe của hai đấng sinh thành.
Theo dự định vợ chồng tôi cùng con trai nhỏ 7 tuổi sẽ ra Hà Nội ăn tết, vì gia đình chồng tôi ở ngoài đó. Thực lòng tôi chỉ muốn ở lại Sài Gòn để chăm sóc bố mẹ, nhưng vì một vài lí do, cuối cùng tôi vẫn phải đi.
Ra đến Hà Nội nhưng lòng tôi luôn khắc khoải, bồn chồn không yên. Mùng 3 tết, vợ chồng tôi cùng con trai nhỏ leo núi Yên Tử lên chùa Đồng để cầu xin sức khoẻ, bình an cho bố mẹ và gia đình.
Đến mùng 5 tết là ngày tôi từ Hà Nội bay vào Sài Gòn. Tôi vừa xuống sân bay thì chị gái gọi điện nói bố đang hôn mê, cấp cứu ở bệnh viện Thống Nhất. Như sét đánh bên tai, tôi lập tức tới ngay bệnh viện, chỉ mong sao bố thoát khỏi được lưỡi hái của Tử thần…
Sau mấy tiếng hôn mê thì bố tôi đã tỉnh, nhưng rất mệt. Nghe mẹ tôi kể lại thì sáng hôm ấy, bố tôi muốn đi ăn phở ở khu Hoàng Hoa Thám, mẹ tôi đó giờ ít khi nào đi cùng bố vì khẩu vị 2 người khác nhau, nhưng tự nhiên mẹ đòi đi theo.
Đến quán, họ vừa bưng tô phở ra để trước mặt, mẹ nhìn lên thấy bố mặt tái mét, miệng ú ớ rồi gục mặt xuống bất tỉnh. Bố hôn mê luôn và mẹ gọi taxi đưa đi cấp cứu. Đến bệnh viện Thống Nhất thì bác sĩ nói rất may bố không bị té xuống đất hoặc không gục ngã vào tô phở nóng trước mặt. Và may hơn nữa, có mẹ tôi ở bên cạnh đưa bố đến bệnh viện kịp thời !
Nhìn gương mặt bố xanh xao, không còn chút sức sống nào trên giường bệnh khiến tôi đau đớn vô cùng, tôi ước rằng người đang nằm trên giường bệnh ấy là tôi, để đổi lại sự bình an cho bố ! Dù bố đã qua khỏi nhưng còn những lần sau, lần sau nữa, có thể vượt qua được mãi không, khi sức khỏe các cụ giờ chỉ như bồ công anh lung lay trước gió ? Vẫn biết đời người là vô thường, huyễn hóa như bóng trăng trên mặt nước, nhưng mấy ai đủ bình tĩnh khi đứng trước khoảnh khắc: những người thương yêu nhất của chính mình ra đi?
Nghĩ đến giấc mơ đêm 25 tết, lại khiến tôi đau như thắt lòng! Câu gọi “Tuyết ơi, cứu bố!” cứ văng vẳng vang lên trong đầu tôi, tôi phải làm sao, làm sao để cứu những thương yêu nhất của tôi đây?
Vì có tín tâm Phật Pháp, nên tôi hiểu bệnh tật trên thân bố mẹ đều do nghiệp báo mà ra, đều do oan gia trái chủ đến đòi nợ. Ngày trước khi còn khỏe mạnh, bố mẹ tôi đã sát sinh rất nhiều để đãi tiệc và ăn uống trong nhà. Đó là chỉ tính ở đời này, còn vô lượng đời trước thì ác nghiệp làm sao mà tính kể!
Trì tụng Lương Hoàng Sám cầu tiêu nghiệp cho cha
Nghĩ như vậy nên tối đó, sau khi bố tôi tỉnh lại, tôi đến chùa Vĩnh Nghiêm (Q3. Tp. Hồ Chí Minh) phát nguyện ăn chay, đồng thời xin trì tụng Lương Hoàng Sám để cầu xin giải nghiệp chướng cho cha mẹ.
Than ôi ! Ngẫm đến chúng sinh khi còn khỏe mạnh, yên ổn thì cứ mặc tình thỏa thích tạo ra biết bao nghiệp ác. Đến khi quả báo đến, thống khổ đến, lúc ấy mới nhớ Phật, quay về ôm chân đức Phật, mong nhận được ánh sáng sự che chở, cứu khổ cứu nạn của Người, nhưng thường thì đã muộn rồi.
Mỗi ngày sau đó tôi đều kiên trì sám hối theo bộ Lương Hoàng Sám, lúc đầu lạy 2 thời rồi tăng lên 4 thời. Khi tôi tụng hết phần thứ 5 thì bố tôi thấy trong người khỏe hẳn ra, ông có thể đi xe máy ra công ty và thăm các bạn hàng. Các bạn có tin nổi không, trong khi trước đó do bệnh tật, ông chỉ nằm yên trên ghế cả ngày?
Còn mẹ tôi, sau khi tôi trì tụng hết quyển Lương Hoàng Sám thì buổi tối đó mẹ tôi nói với tôi :
– Tuyết ơi, khoảng 10 ngày nay mẹ thấy trong người rất khỏe không còn đau đầu nữa!
Chao ôi, tôi bất ngờ quá, cứ hỏi đi hỏi lại mẹ :
– Mẹ, mẹ có khỏe thật không? Mẹ hết đau đầu thật không? Có chắc không mẹ ?
Làm mẹ tôi phát bực bảo:
– Tao hết đau thì nói hết đau chứ sao!
Tôi mừng quá, tự nhiên buột miệng nói với mẹ:
– Do trước đây mẹ giết cá, gà, vịt… mẹ đập vào đầu người ta nên bây giờ mới bị đau đầu như vậy. Nếu biết ăn năn sám hối xin lỗi người ta, người ta tha cho thì hết đau chứ sao!
Mẹ tôi ngơ người ra chẳng hiểu tôi nói gì. Thật ra trước giờ tôi cũng chỉ đoán vậy thôi chứ chẳng có thần thông chi mà biết được, bởi mẹ hay bị đau đầu mà uống thuốc hoài không khỏi rất thống khổ, tôi nghĩ có lẽ do nghiệp nhân đập đầu chúng sinh mà ra. Bố mẹ tôi vốn không tin nhân quả, cũng chẳng tin tâm linh nên từ khi trì tụng tới giờ, tôi không dám nói bố mẹ biết tôi đã tụng sám hối thay cho bố mẹ.
Phận làm con khi bố mẹ không hiểu về luật Nhân Quả, tôi có thể thay họ sám hối thật tốt biết bao, vì công ơn sinh thành nặng như trời bể. Nếu có thể giúp cha mẹ thân tâm an lạc, tật bệnh tiêu trừ, tai qua nạn khỏi thì chẳng phải rất đáng để chúng ta phát nguyện sám hối sao ?
Sám hối chính là một trong những pháp môn được Đức Phật dạy, có công đức tiêu trừ nghiệp chướng không thể nghĩ bàn. Phàm là người sanh trong cõi Dục này, trừ các bậc đã hoàn toàn giác ngộ, thì không một ai tránh khỏi lỗi lầm, bởi ba nghiệp thân – khẩu – ý gây nên.
Các tội lỗi từ ba nghiệp phát sanh, nên chúng ta nếu muốn dứt trừ hết tội lỗi, tất nhiên phải đem ba nghiệp ấy sám hối, thì tội lỗi mới được thanh tịnh.
Phật dạy:
“Nếu không có phương pháp sám hối thì, tất cả các Phật tử không một ai mà được giải thoát”.
Vì thế nên bộ Lương Hoàng Sám có một hiệu lực mạnh mẽ, làm cho người có tội lỗi được tiêu trừ, phước lành tăng trưởng. Pháp sám hối này diệt trừ không thiếu một tội lỗi nào trên thế gian. Bản thân tôi và gia đình đã chứng được sự cảm ứng không thể nghĩ bàn sau khi trì tụng pháp sám này, nên tôi có phát nguyện ấn tống bộ Lương Hoàng Sám cho bạn đọc nào hữu duyên !
Nếu bạn nào muốn thỉnh Lương Hoàng Sám để trì tụng thì xin liên hệ với tôi theo email : nguyentuyet.pri@gmail.com
Tôi sẽ gieo duyên tặng miễn phí và chia sẻ kinh nghiệm trì tụng! ( Mọi đăng kí trên các trang, nhóm khác tôi có thể không nhận được nên mong các bạn thông cảm )
Nguyện cho tất cả chúng sinh đều tin thọ Phật pháp, biết quý trọng sinh mạng, đoạn trừ sát sinh, dứt ác hành thiện, đều ngộ ra giáo lý của đức Phật, cùng tu tập tinh tấn để sớm chứng Bồ Đề.
( Diệu Ngọc -viết lại từ lời kể của Liên Hoa)
Không Hơn Không Kém Một Xu.
Cách đây mấy mươi năm, ở Thủ Ðức có một nữ Phật tử tu tại gia. Vì vợ chồng cô là tín đồ thuần thành, trọng Phật kính Tăng, nên các sư thường đến ghé thăm, có khi được mời nghỉ đêm tại nhà. Thời đó, ảnh hưởng chánh pháp chưa được lan rộng, tuy cô đã thọ quy giới nhưng chưa hiểu rõ về đạo, nên trong nhà cũng có nuôi heo để thêm rộng rãi cho cuộc sống. Khi nọ, có một vị Hòa thượng đến nghỉ đêm tại nhà cô, nửa đêm chợt thức giấc nghe tiếng động dưới bộ ván mình nằm, và có giọng nói nho nhỏ rằng:
– Tụi bây không biết, chớ tao tên là Nguyễn Thị Hòa, bởi có thiếu bà chủ nhà này một số tiền, nên phải đầu thai ra thân xúc vật để trả nợ.
Hòa thượng nghe xong lấy làm lạ, sẽ lén nhẹ nhàng cúi xuống rình xem, thì thấy một heo nái nói chuyện với mười hai heo con đang bú.
Hòa thượng nghe xong lấy làm lạ, sẽ lén nhẹ nhàng cúi xuống rình xem, thì thấy một heo nái nói chuyện với mười hai heo con đang bú. ( Ảnh minh họa )
Sáng ra, Hòa thượng hỏi người tín nữ:
– Lúc trước có cô Nguyễn Thị Hòa thiếu cô một số tiền như thế, có phải không? – Dạ thưa đúng như vậy. Nhưng cô ấy nghèo và bây giờ đã qua đời, nên con kể như bỏ luôn. Ủa Mà chuyện này chỉ riêng mình con với cô ấy biết, ở nhà con cũng không hay, tại sao thầy lại hiểu rõ ràng như vậy? Hòa thượng đem chuyện đêm hôm thuật lại. Cô chủ nhà cả kinh, vội đem bán heo mẹ lẫn mười hai heo con, thì thêm một việc lạ, số tiền thu được đúng với tiền cô Nguyễn Thị Hòa đã thiếu mình khi trước, không hơn một xu, không kém một xu. Trải qua sự này, cô tín nữ càng tin việc luân hồi nhân quả hiển nhiên là có thật. Từ đó cô tu hành thêm tinh tấn và cải gia vi tự, thành ra ngôi chùa Phước Trường hiện giờ. Tại chùa này, hiện nay linh vị thờ cô vẫn còn. Tiên đức đã bảo: “Súc sanh bản thị nhơn lai tố. Nhơn súc luân hồi cổ đáo kim !” ( Súc sanh kia trước là người. Xưa nay người, súc luân hồi đổi thay). Việc trên đây là một chứng minh cho lời này vậy. ( Thuật theo lời Thượng tọa Thanh Từ, khi Thượng tọa đến diễn giảng và thăm chùa Phước Trường ở Thủ Ðức).
( Hòa Thượng Thích Thiền Tâm! )
Buôn gỗ, tìm trầm, bảo kê quán xá, đòi nợ thuê, mua bán ma túy… ông được các đại ca nể nang bởi việc gì ông cũng nhận làm và làm rất ngon lành. Sau mỗi phi vụ, điểm xả hơi của ông là khu đèn đỏ.
Vợ ông, cô gái hiền lành vì đem lòng thương gã giang hồ mà bị gia đình từ mặt, không còn hơi sức để ghen tuông và cũng không còn nước mắt để khóc, bà đi chùa cầu xin cho mình gánh hết mọi tội trạng của chồng.
Có người tới chùa với tấm lòng trong như ngọc, nhẹ nhàng. Có người tới chùa với đầy nỗi niềm, nặng trĩu. Nhưng không ai giống kiểu như bà, bà cố hết sức để lặng lẽ, nhưng mà cứ mỗi khi bà đi qua một ngôi chùa khác thì chỉ vài ba bữa sau người ta đã biết bà là vợ của gã giang hồ đầy tai tiếng. Mỗi khi bà xuất hiện thì mọi ánh mắt âu lo hướng về phía thùng tiền công đức như là nó sắp mọc cánh bay đi.
Thị xã có sáu ngôi chùa thì bà đã chuyển việc lễ Phật của mình đến ngôi chùa thứ sáu. Rồi thì chẳng còn ngôi chùa nào khác để lẩn tránh, bà đành phơi mặt ra, cắn răng chịu mọi điều tiếng xì xào.
Thùng tiền công đức vẫn còn nguyên đó, lời xì xào thành ra là “Tiền cúng dường của vợ gã giang hồ có phải là tiền sạch không? Có xứng đáng được chung thùng công đức với mọi người không?”. Bà vội rụt lại, tờ tiền trong tay bà run bần bật. Người ta không tin nhưng Phật chắc là tin, bà thề với Phật đây là tiền lương con gái đi làm công nhân xí nghiệp may cho mẹ.
Chắc là Phật chứng giám cho thành tâm của bà cho nên gần suốt cả đời bà năn nỉ van xin mà chồng cứ hứa rồi quên, nay bà chỉ nói một câu “Ông coi chừng đời cha ăn mặn đời con khát nước”
Vậy mà chồng giật mình. Nhìn lại hai đứa con lớn phổng hồi nào không hay, đứa con gái hiền lành nhu mì như mẹ không làm ông lo lắng nhưng mà đứa con trai đã bắt đầu hút xách cờ bạc và đã biết hùng hổ cãi lại “ Ba khác gì con mà nói?”
Lần đầu tiên trong đời ông muốn mình khác đi để con trai mình cũng khác đi. Lần đầu tiên ông biết sợ. Sợ cho con.
Ông tuyên bố chia tay giang hồ, về làm bảo vệ xí nghiệp may.
Vậy mà ông đã không bảo vệ được con gái mình là công nhân ngay tại xí nghiệp may đó.
Đứa con gái ngoan hiền đi ra cổng xí nghiệp vừa lúc cuộc đánh ghen ập tới. Ai đó hét lên: “Nhầm rồi, không phải con nhỏ đó”, thì đã muộn, lưỡi dao đã cắm phập vào ngực, máu chảy thẫm áo.
Con gái hiền ngoan của ông chết ồn ào như một tay anh chị giang hồ vì đâu phải ai cũng biết cái chết này oan khuất.
Vợ ông nức nở:
– Tôi cầu xin gánh tội thay cho ông mà nào ngờ con gái mình mới là người trả nợ cho ông đó.
Tang lễ con gái, lần đầu tiên ông biết bài chú Đại Bi cũng như lần đầu tiên đoàn Phật tử đến nhà ông mà tâm không phân biệt, họ nhận ra vợ chồng ông cũng như họ, niềm đau nỗi khổ phận người không chừa riêng ai.
Thành tâm tụng chú Đại Bi để người chết được siêu thoát, sư cô nói, nhưng nhà chùa và Phật tử giúp chỉ là tha lực, người nhà mới là tự lực, mới là quan trọng nhất.
Hoàn lương quá muộn, ông chưa kịp làm gì cho con gái. Ừ, thì tự lực. Bốn mươi chín ngày đêm ông tụng chú Đại bi như món quà muộn màng tặng cho con gái, có kịp để con gái được đến cõi an lành không?
Ông muốn tin là có.
Ai cũng thuộc lòng bài chú, vợ ông cũng đã thuộc lòng, chỉ một mình ông phải cầm tờ giấy. Bài chú in riêng cho ông chữ cỡ to và đậm, để ông dễ đọc không bị mỏi mắt và lỡ mà cặp kính lão thị có quên đâu đó thì ông cũng vẫn đọc được.
Thật ra ông vấp váp không phải vì không có cặp kính lão thị mà vì cứ vừa đọc vừa hỏi lung tung trong đầu “ Mình đang làm gì đây?”, “Chỉ cần niệm Phật và đọc làu làu trang giấy này mà tiêu tan được nỗi uất hận dâng trào trong lòng sao?”, vừa đọc ông vừa nhớ tới người đàn bà và con dao cắm ngập lút cán trên ngực con gái mình!
Rồi ông nhìn thấy con trai mình trừng trừng nhìn quan tài em gái hạ xuống huyệt, đường gân quai hàm nó cắn lại hằn dấu căm hận, tay nó bốc từng nắm đất quăng xuống như phóng dao.
Ông rùng mình…
“Không ! Lạy Phật ở trên cao, đứa con gái hiền ngoan chết đi trong oan ức là quá đủ rồi, ông sẵn sàng đọc chú Đại Bi suốt cả quãng đời còn lại, cho con trai mình được an lành, ông sẵn lòng tha thứ cho người đàn bà ghen tuông nhầm lẫn đó.”
Sau tang lễ, giang hồ nghe ngóng đợi ông ra tay trả thù. Đợi hoài không thấy động tĩnh gì, giang hồ cười cợt ông già rồi, mỏi gối chùn chân rồi. Lại nghe nói ông nhốt con trai trong phòng và tự ông cất giữ chìa khóa.
Giang hồ thở dài, coi như ông hết thời thật rồi.
Quả là hết thời rồi, vì chìa khóa còn trong túi ông mà con trai biến ra khỏi phòng từ lúc nào không biết, đến khi gió đập cánh cửa sổ ông mới nhìn thấy mấy thanh song cửa bị bẻ gãy.
Ông hối hả lùng tìm con trai khắp nơi. Nghe phong phanh người đàn bà đó đang trốn ở đâu là ông tìm tới. Chú Đại Bi giúp con gái ông siêu thoát vậy có giúp ông tìm ra con trai mình trước khi nó ra tay không?
Ông tự hỏi và tự hy vọng, vừa chạy xe trên đường ông vừa lẩm bẩm ” Ta-bà-ha, ta-bà-ha, ta-bà-ha…” Không có tờ giấy ông không đọc trọn vẹn được, lạy Phật, nếu con trai con qua được tai nạn này, con hứa sẽ thuộc đầy đủ.
Âm thanh gào rú đinh tai nhức óc, những cái xe phân khối lớn lao tới.
Ông vội tấp vô lề đường và sững sờ thấy cái đứa bị truy đuổi là con trai mình.
– Ba ơi, cứu con.
Con trai ông nhảy xuống xe và chạy tới sau lưng ông, lưng nó dựa vô lưng ông, cái thế này là cặp bài trùng. Ông nghiến răng. Cây muốn lặng mà gió chẳng muốn dừng. Ông phải bảo vệ con trai mình. Chợt cảm thấy điều gì đó… ờ, lần đầu tiên hai cha con đứng gần nhau đến vậy, chạm vào nhau… Lần đầu tiên ông nhìn thấy rõ từng sợi râu quanh mép con trai mình. Lần đầu tiên ông nhìn tận đáy mắt con trai mình. Nó đang rất sợ hãi. Giang hồ không biết sợ hãi. Biết sợ hãi chỉ là giang hồ vặt thôi.
Vặt. Thằng con trai của ông chỉ giang hồ vặt. Vẫn còn kịp ngừng lại.
Những mặt mũi bặm trợn chạy xe thành vòng tròn vây quanh cha con ông.
– Tụi mày muốn gì? – Ông quát to – Con trai tao đã làm gì tụi mày hả?
– Nó không làm gì tụi này – Một gã cười nham nhở – Tụi này nhận tiền người ta thuê để thịt nó.
Ông đau khổ nhìn con trai:
– Mày làm gì ai mà ra chuyện này?
Con trai ông lắc đầu:
– Có làm gì đâu, con vừa ngừng xe trước quán cà-phê là tụi nó lao ra, con chạy.
Gã đầu đảng cười rách mép:
– Có gì đâu mà người ta chịu chi trăm triệu để tóm mày hả?
Nghiến răng, ông suy tính rất nhanh, mình là đồ bỏ đi rồi…
Ông nhìn gã có vẻ là đầu đảng:
– Mạng đổi mạng. Xí xóa. Tao chết thay con tao, được chưa? – Quay nhìn con trai, ông nói nhanh – Về nhà với má đi con.
Tiếng điện thoại reo chát chúa. Gã đầu đảng áp điện thoại vô tai, nhướng mắt “ bắt được nó rồi hả? Ờ ờ… nó chịu nhận tội rồi hả?”. Nhét điện thoại vô túi, gã nhìn ông cười cười “Xin lỗi, nhầm, không phải con trai ông”.
Những cái xe gầm rú xa dần bỏ lại hai cha con giữa đường. Ông thở phào:
– Lang thang giữa đường dễ bị tai bay vạ gió.
Ngừng, rồi ông nói thêm, như năn nỉ:
– Thôi, về nhà đi con.
Ông không mong con trai chịu nghe lời mình ngay, ông chuẩn bị để khóa tay nó lại mà kéo đi theo mình.
Đứa con trai nhìn ông bằng ánh mắt rất lạ:
– Lúc nãy… ba nói… để ba chết thay cho con hả?
Giọt nước mắt của con trai rơi xuống tay ông nóng ấm.
____________________
Người đàn ông tiếp tục kể chuyện đời mình cho tôi nghe trong quán cơm chay.
– Hồi đó, ra tòa, thấy mấy đứa con của người đàn bà đó khóc quá chừng, cũng tại ông chồng trăng hoa mới xảy chuyện chứ người ta cũng tội nghiệp. Vợ chồng tôi làm đơn xin giảm án cho người ta mau được về với bầy con.
Bây giờ thì ông đã thuộc làu làu chú Đại Bi.
– Con trai tôi bây giờ làm công nhân kỹ thuật ở xí nghiệp may, coi như là suất của em nó để lại cho nó. Năm nào nó cũng được bình xét tiên tiến loại A, cô à – Ông cười lộ hàm răng sún mấy cái – Linh thiêng ghê hả cô… mà hồi đó tôi chỉ mới thuộc mấy tiếng ” Ta-bà-ha” thôi đó.
Ông nhiệt thành ngước nhìn lên trời, có lẽ trong mắt ông, Đức Phật luôn ở trên cao.
(Diệu Âm Lệ Hiếu tổng hợp từ bài giảng của Sư cô Thích Nữ Như Lan)
Câu chuyện lạnh xương sống này do một sư cô pháp danh là Diệu Thanh ở Đà Lạt, kể lại chuyện chính trong gia đình của cô.
Cha mẹ cô, mọi người vẫn gọi là ông bà Mười, có tính tình đối lập nhau. Mẹ cô thì hiền lành, thích đi chùa tu học theo đức hiếu sinh của Phật. Còn cha cô thì ngược lại, ham thích sát sinh, ông có thói quen mời bạn bè về nhà chơi, rồi giết vật để đãi khách, mẹ cô hết lời khuyên cha cô nên ăn chay niệm Phật nhưng ông không nghe theo.
Có một lần vào kỳ nghỉ hè, ông bà Mười cùng người cháu ngoại tên Hòa ra Vũng Tàu để nghỉ mát. Ngoài Vũng Tàu có nhà đứa cháu bà con tên là Bê gọi bà bằng dì.
Tối hôm đó khi ngủ ở khách sạn, bà Mười nằm chiêm bao thấy cậu Bê đến mời hai ông bà đến nhà ăn đám giỗ mẹ mình. Trong giấc mơ, bà thấy hai vợ chồng bà đến nhà cậu Bê dự tiệc giỗ, khi đó cậu Bê đem ra chén nước có in hình bông súng nói:
– Dì với dượng súc miệng đi rồi vô bàn ăn tiệc với tụi con, hôm nay đám giỗ mẹ con.
Bà Mười nhìn sau bếp mới nói:
– Bữa nay tụi bây nấu gì để cúng giỗ cho mẹ tụi bây vậy?
Vừa nhìn ra sau thì bà thấy mẹ cậu Bê bị cắt cổ ngang và bị cắt đứt hết một cánh tay, còn một cánh tay treo ở xà ngang. Bà Mười mới hoảng hốt la lên:
– Trời ơi, sao mày giết mẹ để cúng giỗ cho mẹ mày vậy Bê?
Nói xong rồi bà la lên thất thanh. Mộng đến đây, do sợ quá nên bà tỉnh giấc. Lúc tỉnh dậy, bà kể toàn bộ giấc mơ cho chồng nghe:
– Ông ơi, sao tôi nằm chiêm bao thấy kỳ lạ quá, thấy thằng Bê nó mời hai vợ chồng mình đi ăn đám giỗ. Nó đem chén nước có hình bông súng cho mình súc miệng. Tui ra bếp thấy vợ nó cắt cổ mẹ nó làm giỗ ông à, chỉ còn một cái tay, cái tay kia vợ nó xé làm gỏi rồi….
Ông Mười bảo:
– Chỉ là mơ không có thật, thức dậy là tỉnh rồi còn gì phải sợ nữa, bà suốt ngày toàn chiêm bao bậy bạ.
Bà Mười kể thấy chồng vẫn không nghe, nên bà mới gọi cháu ngoại kể cho nó nghe để giải tỏa chút tâm lí, kiếm thêm đồng minh.
Không ngờ đến 7 giờ sáng hôm sau thì cậu Bê đến khách sạn, thưa rằng:
– Dì Mười dượng Mười ơi, bữa nay là đám giỗ mẹ con. Con mời dì dượng đến nhà con dự tiệc giỗ.
Bà Mười nghe qua mới giật mình sao mà giống trong mơ quá. Trong khi đó, hai ông bà chỉ vô tình đi Vũng Tàu nghỉ mát cùng cháu ngoại chơi mùa hè thôi, chớ không hề biết ngày giỗ kỵ của mẹ cậu Bê này. Bà liền kéo ông ra nói :
– Đó, thấy chưa ông, thấy chưa, chiêm bao tui thấy hay chưa…..
Ông Mười quay sang khều bà:
– Thôi bà, bà giữ dùm cái miệng bà lại đi, đừng có nói bậy nói bạ. Người ta nghèo khổ, đến ngày giỗ mẹ người ta. Người ta có lòng mời thì mình nghĩ tình nhín chút thời gian đến dự, chứ khước từ thì người ta tủi thân.
Ông quay sang nói với cậu Bê:
– Không sao đâu con, con về đi. Khoảng 9-10 giờ dì dượng sẽ ghé qua dự giỗ.
Đến hơn 9 giờ sáng, ông Mười kéo bà Mười đi đến nhà cậu Bê thì bà bảo:
– Thôi tui sợ lắm, rõ ràng tui thấy là đám giỗ má thằng Bê, tụi nó giết má nó để cúng giỗ cho má nó mà. Tui sợ lắm, tui không đi đâu, ông đi một mình đi.
Ông Mười nói:
– Chiêm bao chỉ là mộng, đâu có thật đâu mà bà lo. Đi đi, có tui đây nè bà đừng có sợ gì cả.
Sau cùng thì ông cũng dẫn được bà Mười cùng cháu ngoại ghé sang nhà cậu Bê dự đám giỗ. Vừa đến nhà, ngồi vào ghế thì cậu Bê mới rót nước vào hai cái tách:
– Con mời dì dượng uống miếng nước xúc miệng rồi vô bàn ăn cơm với tụi con.
Nhìn vào tách nước, quả nhiên trên tách có in hình bông súng. Bà Mười lên tiếng:
– Đó ông thấy chưa, hồi hôm tui nói rồi, y hệt như vậy luôn.
Ông Mười khều nhẹ:
– Bà làm ơn giữ cái miệng lại dùm tui đi.
Bị chồng nói hoài nên bà hậm hực:
– Vậy để tui ra đàng sau coi tụi nó làm cái gì để cúng má nó?
Khi bà đi ra phía sau nhà bếp thì thấy ở cây xà ngang nhà bếp treo tòn ten một con gà đã bị cắt cổ, chỉ còn một cánh. Còn cánh gà kia thì bị cô vợ cậu Bê đem xé phay trộn gỏi rồi. Bà sợ quá, la lên:
– Ông Mười ơi, đúng rồi đó, con gà này chỉ còn có một cánh à. Trong chiêm bao tui thấy rõ ràng, nó làm thịt mẹ nó rồi nó cắt cổ treo ở trên xà ngang, chỉ còn một cánh tay, cánh tay kia bị vợ thằng Bê nó xé trộn gỏi rồi. Bây giờ xảy ra y hệt như vậy luôn rồi.
Bà vội kể hết sự tình trong giấc chiêm bao cho gia đình cậu Bê này nghe. Vừa nghe xong thì cậu này rùng mình toát mồ hôi lạnh, dẹp luôn, không ăn không uống gì nữa cả.
Cậu chỉ bới ba chén cơm trắng lên cúng mẹ, còn lại thịt gà gì bỏ hết. Cũng từ ngày hôm đó thì cậu Bê cũng ăn chay niệm Phật luôn, vì không ngờ chính mình lại “giết mẹ để cúng giỗ cho mẹ”.
Sau này cả ông Mười cũng phát tâm ăn chay niệm Phật.
Một câu chuyện có thật khác tại TP HCM, rùng rợn không kém, do sư cô Thích Nữ Như Lan kể lại.
( Bạn có thể nghe Audio dưới đây )
____________________
MẸ ĐẦU THAI THÀNH VỊT, BỊ CON CẮT CỔ
Ở đường Dương Bá Trạc, quận 8, TP. HCM, vào khoảng những năm 1970, có một người chuyên bán cháo vịt, tên là cô Hai. Quán cháo vịt của cô bán rất chạy, khắp vùng ai cũng biết tiếng “cô Hai cháo vịt”. Khách tới ăn đông đến mức một buổi chiều có thể bán hết 20 con vịt .
Do sợ mua vịt làm sẵn ở bên ngoài không được ngon, nên cô Hai luôn tự tay mình ra chợ lựa từng con vịt còn sống về làm thịt.
Do có kinh nghiệm nhiều năm, cô Hai chỉ cần cầm con vịt lên là biết được con nào da nhiều, con nào mỡ nhiều, con nào thịt dai, con nào thịt bở… Sau đó đem về đích thân cắt cổ từng con làm thịt.
Suốt khoảng 20 năm bán cháo vịt như vậy, số lượng vịt bị cô giết quả là một con số …toát mồ hôi, trên 140.000 con
Một hôm, sau khi làm thịt mấy chục con vịt xong, cô cảm thấy đau đầu nên để việc cho các con làm tiếp, còn cô đi vào trong nhà nằm ngủ một giấc.
Trong giấc mơ, cô thấy mẹ của mình ( đã chết mấy chục năm về trước) trở về tìm cô. Điều kinh ngạc là cổ của bà bị ai cắt không rõ, đầu không đứt ra hẳn mà lủng lẳng trên cổ, máu chảy đầm đìa , nhìn rất kinh dị.
Bà hằm hằm tiến đến nắm lấy đầu cô Hai, giọng xuống bàn, và oán trách rằng:
– Tao nuôi mày khôn lớn, trưởng thành … để bây giờ mày cắt cổ tao !
Cô Hai liền nói:
– Con cắt cổ mẹ hồi nào mà mẹ nói như vậy ? Mẹ chết rồi, mẹ chết mấy chục năm rồi mà giờ má nói con cắt cổ mẹ ? Mẹ chết vì bệnh mà sao đổ thừa là con cắt cổ chứ ?
Bà mẹ liền nắm đầu cô đập xuống giường và lớn tiếng :
– Tại mày không biết nên mày nói như vậy. Mày mới cắt cổ tao đây, tao đau đớn chừng nào. Giờ tao về tao trả thù mày.
Khi đó cô Hai giật mình thức giấc, quá sức kinh hoàng, cô liền ngồi hồi tưởng lại, và nhớ ra. Quả là hồi trưa , trong số mấy chục con vịt bị cô giết , có một con vịt, sau khi bị cô cắt cổ xong, do cô đưa dao hơi quá tay nên cái đầu nó gần đứt giống như treo lủng lẳng trên cổ. Vậy mà con vịt này không chịu chết ngay, mà nó giãy giụa, vùng ra chạy được một đoạn mới ngã vật ra chết. Giờ cô nhớ lại mới thấy cái cổ con vịt ấy lủng lẳng y hệt cổ của mẹ cô trong giấc mơ.
Xâu chuỗi lại sự việc, cô Hai kinh hoàng hiểu ra rằng, mẹ mình đã đầu thai thành con vịt đó, và chính tay cô chứ không ai khác đã cắt cổ mẹ mình.
Nhận thấy luân hồi này thật là oan trái, nghiệt ngã, nghiệp sát thật đáng sợ, từ đó cô bỏ nghề bán cháo vịt , thương hiệu “ Cô Hai Cháo Vịt” dần chìm vào quên lãng, nhưng ác nghiệp cô đã gây ra, cùng những mối oán hận, những sự trả thù của những con vật bị giết trong những kiếp sau, sẽ còn theo cô không biết đến khi nào mới dứt.
Tĩnh Am Đại Sư có nói trong bài văn Khuyến Phát Tâm Bồ Đề:
“Đánh lừa bật máu ai hay cái bi thảm của mẹ ta
Dắt lợn vào lò đâu biết cha ta đau đớn.”
Hai câu thơ này là một lời cảm thán của Đại sư từ hai câu chuyện có thật ở Trung Quốc. Câu chuyện thứ nhất:
Khi xưa ở Nam Kinh có một gia đình có truyền thống nuôi lừa, cha truyền con nối. Rồi người cha mất đi, để lại 2 mẹ con phải sống cảnh mẹ quá con côi. Mẹ nuôi con khôn lớn rồi cũng tạ thế, người con tiếp tục truyền thống nuôi lừa.
Một thời gian sau, người con có nuôi một con lừa cái. Ròng rã 18 năm, con lừa đã cống hiến tất cả sức lực cõng vác cho chủ không nề hà gian khổ.
Nhưng đến khi già quá rồi, mỗi lần chở hàng nặng ra chợ để bán, nó không nhanh nhẹn được như xưa, nên người con thường dùng roi đánh vào lưng lừa rất mạnh để nó đi nhanh hơn.
Mỗi lần đánh như vậy, con lừa 2 hàng nước mắt chảy dài. Thực chất vì tuổi già nên con lừa không đủ sức kéo. Người chủ cứ tưởng con lừa này ăn no rồi làm biếng nên đánh cho nó sợ. Một hôm nọ, người con này nằm mộng thấy người mẹ đã khuất từ lâu đứng bên đầu giường nói:
– Trước kia ân oán nợ nần giữa con với mẹ vốn đã trả đủ, nhưng sau đó, mẹ lại ăn trộm của con 18 đồng tiền vàng, nên mẹ phải đầu thai trở lại làm thân lừa để trả nợ cho con suốt 18 năm. Con có biết suốt 18 năm qua mẹ đau khổ biết dường bao? Mỗi lần con dùng roi đánh vào thân lừa, mẹ đau thấu xương. Đau đớn hơn nữa là chính đứa con ruột của mình đánh đập tàn nhẫn mà mẹ không nói cho con nghe được.
Giờ đây mẹ đã trả xong nợ cho con rồi. Ngày mai này mẹ ra đi. Trước khi ra đi mẹ về báo mộng cho con. Mẹ khuyên con rằng kể từ nay con dừng tay lại, đừng nhẫn tâm giết hại các loài vật vì biết đâu đó là cha mẹ của con nhiều đời nhiều kiếp. Chính mẹ của con đầu thai đây mà con nào hay nào biết, lại đánh đập tàn nhẫn mẹ suốt 18 năm qua đó.
Giật mình thức dậy, người con không biết hư thật ra thế nào, cậu ta mới chạy ra chuồng lừa thì biết rằng con lừa già đó đã chết rồi. Sau đó anh ta bán hết lừa và đi tu.
Câu chuyện thứ hai:
Có một tên đồ tể hằng ngày dắt heo đến lò mổ, mỗi ngày giết ít nhất 3 con. Một hôm nọ, anh ta ngủ dậy trễ, đang trên đường dẫn heo đến lò thịt để mổ, con heo bỗng ghì lại không chịu đi. Anh ta đánh đập tàn nhẫn mà con lợn vẫn không chịu đi. Có một khách bộ hành đi ngang qua, bắt gặp cảnh đó nên bảo:
– Anh cứ để đó tôi sẽ có cách cho nó đi. Nói rồi người này liền gọi: “Lý Đẩu, Lý Đẩu! Lại đây!”
Tức thì con heo liền lại gần người khách. Người chủ bất ngờ hỏi:
– Anh có biết Lý Đẩu là tên ai không mà anh gọi vậy? Lý Đẩu chính là tên của người cha đã khuất của tôi đấy. Anh không phải là dân vùng này, vậy tại sao anh biết và gọi tên con heo là Lý Đẩu?
Người khách bảo:
– Lý Đẩu là con heo này, và cũng chính là cha của anh. Do cha anh kiếp trước sát sanh quá nhiều, bây giờ tái sanh lại làm heo để trả nghiệp.
Tên đồ tể kinh ngạc nhìn con heo, cứng lưỡi không nói được gì, chỉ biết đứng ngây dại ra đó. Khi quay lại thì người khách biến mất, hoá ra người khách ấy chính là Bồ Tát hoá thân để chỉ rõ nhân quả, điểm hóa cho người đồ tể.
Có một sự thật quan trọng mà 99% người đời nay không tin, không biết. Đó là bất kì ai, sau khi chết rồi sẽ đều phải đầu thai chuyển thế trong 6 nẻo, là cõi Trời – cõi A Tu La – cõi người, cõi súc sinh, cõi ngạ quỷ và địa ngục. Khi có phước kha khá một chút thì sinh lại làm người, kém hơn thì làm cô hồn ngạ quỷ, nếu nghiệp nặng, phước ít, thì đầu thai thành súc sinh, cũng là bình thường.
Và khổ một điều, nếu đầu thai thành súc sinh, sẽ không đi đâu xa, mà thường sẽ đầu thai quanh quẩn chỗ những người thân quyến, bằng hữu, những người có duyên nợ với mình như con cháu, họ hàng, bạn bè.v.v… hay những người chủ nợ mà khi còn sống chưa trả hết nợ cho họ.
Điều đó có nghĩa là những con vật quanh ta, như chó mèo, trâu bò, gà vịt.v.v… nuôi trong nhà, thường là thân bằng quyến thuộc bằng hữu của ta nhiều kiếp trước, phước hết nghiệp nặng, nên đầu thai thành súc sinh, vì có duyên nên sinh trong nhà ta, hoặc cách này cách khác, được ta đem về nuôi.
Thậm chí không cần nuôi trong nhà, ta ra chợ chọn mua những con vật ngoài đó về làm thịt thôi, do nhân duyên sắp đặt, ta cũng sẽ chọn đúng những con vật có duyên nợ từ tiền kiếp với mình mà mua, chứ không duyên thì cũng sẽ không gặp.
Và như những câu truyện trên các bạn đã thấy, giết thịt những con vật ấy để ăn, để bán, để đãi khách, thậm chí là để làm đám giỗ, cũng chính là giết hại những người thân bằng quyến thuộc từ nhiều kiếp của chính mình. Đó là một sự thật hết sức đau lòng mà không phải ai cũng biết.
Vì rằng đại đa số các con vật không có năng lực báo mộng như trong truyện trên đây cho ta biết. Chỉ có rất ít những con vật trong kiếp xưa có gieo một chút ít công đức nào đó, mới đủ năng lực tâm linh để báo mộng mà thôi.
Vì lẽ đó, Đạo Phật vẫn luôn chọn không sát sinh là giới luật đầu tiên mà người đệ tử nào cũng phải giữ gìn. Và luôn hướng cho tất cả mọi người ăn chay, để tránh cho mọi người nghiệp chướng nặng nề, tránh đi thảm cảnh oan oan tương báo, cốt nhục tương tàn trong lục đạo luân hồi.
Mong rằng ngày sẽ càng nhiều người thấu hiểu được điều này mà dừng tay tạo nghiệp, từ bỏ sát sinh, tránh gieo rắc khổ đau cho chúng sinh, cũng là cho chính mình.
( Lương Y Sư Lê Thuận Nghĩa)
Đầu tuần này, tôi vừa kết thúc một chuyến đi xa. Mệt mỏi. Vì những chuyến bay xuyên lục địa liên tục, vì không có thời gian tu tập và sự ăn uống dưỡng sinh bị rối loạn, vi lằng nhằng rắc rối không rõ ràng giữa chuyện tình cảm riêng tư và đam mê nghề nghiệp.
Thông thường khi gặp những tình trạng tinh thần bất an, hoặc quá mệt mỏi sau những ca trị liệu cần phải hao tổn nhiều nguyên khí và công lực. Tôi thường ra kè cảng gần chợ cá ở Hamburg ngồi, thư giãn và tĩnh tọa. Với tôi, một không gian nhỏ, có mây trời, có màu xanh ngọc bích và có tiếng sóng vỗ rì rầm là đủ.
Chỉ cần trong khoảng thời gian non già một tiếng là tôi có thể tái sinh trở lại nguyên khí và có tâm năng như khi chưa bị rối loạn và tổn thương.
Tôi thường ra kè cảng vào buổi chiều các thứ sáu hàng tuần, nếu không phải đi đâu xa. Nhưng tuần này, tôi lại ra đó vào chiều thứ ba. Trời đã trở lạnh, tối nhanh, gió mạnh, nhiệt độ đã xuống đến dưới 5 độ. Chẳng hiểu vì sao tôi lại cứ bần thần không yên và có nhu cầu phải ra kè cảng cho kỳ được trong tình trạng thời tiết mà chỉ có khùng mới ra đó ngồi để hóng gió đông.
Chiều đó hải âu chao liệng nhiều hơn thường lệ, và chúng cứ gào rít queng quéc loạn xạ cả không gian như có điều gì đó bất thường. Tôi không để ý đến chúng. Sau khi có đủ thời gian tĩnh toạ hành công, tôi nhìn sóng và tìm tứ, ghép vần cho cảm xúc bài thơ Cướp Biển 4: “chỉ chém gió ta là tên cướp biển, chứ thực ra biển cướp nát ta rồi.”
Đang mơ màng với một em nào đó giữa trùng khơi xa vô tận tụy, thì có một con hải âu sà xuống bên cạnh. Giống hải âu rất nhát gan. Chúng có thể chao liệng dày đặc bên ngọn buồm của một thuyền đánh cá nào đó, hoặc lúc cúc sà xuống dưới một kè đá nào đó ở bến cảng. Nhưng chúng chả bao giờ tiếp cận con người gần gủi như giống bồ câu hoang ở các thành phố lớn của châu Âu.
Tôi hơi ngạc nhiên, khi con hải âu này lại sà xuống gần bên cạnh tôi và giương đôi mắt tròn xoe nhìn tôi và lích nhích rít lên nhè nhẹ một cách thân thiện. Tôi tiến lại gần, nó không bay đi mà nằm ọp xuống như chờ đợi. Tôi thò tay như làm bộ bắt nó, nó cũng không bay đi. Ngạc nhiên, tôi túm lấy nó, nâng lên. Thì thật bất ngờ, phát hiện ra hai chân nó bị vướng quắn vào nhau bằng một búi dây tơ ni long. Tôi gỡ búi tơ ni long ra, thì thấy một chân nó bị gãy gần kheo bàn chân.
Trong túi da nâu luôn mang theo mình như vật bất ly thân của tôi, bao giờ cũng đầy đủ dụng cụ đồ nghề y tế. Tôi dùng cuộn băng taping màu đỏ và chẻ nhỏ que đè lưỡi khám miệng ra, bó lại chân cho nó.
Bó xong chân tôi thả nó ra, xùy xùy cho nó bay đi. Nó vẫn không chịu bay, lại còn giương mắt tròn xoe ra nhìn, rin rít trong mỏ. Tôi bắt lại nó, nhìn thẳng vào mắt nó và nói với nó như nói với một con người: “Mày đừng sợ, không sao đâu, cái băng keo này thấm nước thì từ từ nó sẽ tự động rã ra, tao chắc chắn là một vài ngày sau, khi chân mày liền lại, thì cái băng keo này cũng rã nước mà rơi ra thôi.”
Thật lạ, lần này thì con hải âu rủi ro này, bay vút lên không trung và rít lên từng tràng thật lảnh lót. Riêng tôi, rất hài lòng với bản tình ca của biển này. Tuy có chút ngạc nhiên, nhưng tôi cũng không thật để tâm lắm. Vì tôi đã quá quen với bản năng giao tiếp vô ngôn của các loài linh thú.
Điều làm tôi sững sốt nổi da gà, là sáng hôm sau, khi tôi đang ngồi uống trà sáng thì nghe tiếng lảnh lót quen quen bên trên khoảnh vườn ngoài ban công nhà tôi ở. Thật không tưởng tượng nổi, trên khoảnh trời nhỏ này, trong những con hải âu đang bay lượn ấy, có một con có cái chân băng màu đỏ. Và còn ớn lạnh hơn, nó ngậm một con cá nhỏ như ngón tay và chỉ cùng bầy đàn của nó bay đi khi thả con cá nhỏ lên khu vườn nhỏ trong khuôn viên nhà tôi.
Tôi xuống vườn, nhặt con cá lên và nhìn nó trân trân, với những lùng bùng câu hỏi trong đầu. “ Lập trình ngôn ngữ tư duy” nào cho trường hợp này?
Nhìn con cá bằng ngón tay đã chết, tôi chợt nghĩ đến vòng luẩn quẩn của sự sinh tồn tự nhiên. Những bữa tiệc linh đình của loài người, được làm ra từ thịt của các loài muông thú, sẽ được họ tận hưởng với mỹ từ nghệ thuật ẩm thực. Nhưng họ nào biết trong thế giới của loài vật, loài người quả thật là một loài ác thú khủng khiếp nhất hành tinh xanh này.
Loài hải âu kia sẽ xem loài cá nhỏ đang bơi lội dưới dòng nước trong xanh kia là tuyệt phẩm cho sự sinh tồn của nó. Và loài cá kia sẽ xem những loài tôm tép nhỏ khác là “nghệ thuật đời sống” của nó, khi nuốt những con vật nhỏ bé ấy vào miệng.
Tôi không có nhiều trải nghiệm tâm thức về chuyện con hải âu này. Và cũng không phải thêm thắt mắm muối cho câu chuyện để muốn rao giảng về việc ăn chay. Vì vạn vật đều có linh tính riêng của nó. Điều trải nghiệm đáng nói, là sau chuyện này, tôi không thể ăn được tôm cá nữa.
Trước đây, tuy không ăn thịt, nhưng thỉnh thoảng vẫn ăn tôm cá, để bổ sung nguồn năng lượng khí hậu thiên khả dĩ cho quá trình hành công trị bệnh. Nhưng bây giờ lại cảm thấy ghê tởm chính mình khi phải đụng đũa đến những thứ đó.
Có thể tôi là người cổ hủ, lập dị và cố chấp, nhưng với tôi, thì tôi cảm thấy an lành hơn cho tâm thức của mình.
Quay lại chuyện con hải âu xấu số. Đây không phải là lần đầu tiên tôi tiếp cận với những chuyện như thế này với các loài linh thú.
Hồi tôi còn lên bốn lên năm gì đó, trong một làn chơi nước lũ, tôi bị dòng nước xoáy cuốn đi, nếu không có con chó vện nhà tôi lao xuống trong dòng nước xiết kéo tôi vào bờ, thì tôi đã chết từ dạo đó. Và cũng từ đó tôi đã xem thú vật là thân hữu và kèm theo một chút cố chấp trong giao tiếp là rất ghét những người ăn thịt chó.
Việc trải nghiệm trường năng lượng vô đối của lòng yêu thương không vụ lợi thông qua sự trì luyện các môn khí công dưỡng sinh tương ứng, đã cho tôi một trường năng lượng phòng vệ khả dĩ, mà khi trong một hoàn cảnh nào đó, nó được phát tiết ra trong tình trạng vô thức sẽ tạo ra một trường giao tiếp vô ngôn với thế giới xung quanh.
Loài vật với bản năng giao tiếp dưới các dao động năng lượng, sẽ rất dễ dàng tiếp cận với trường năng lượng phòng vệ này. Không thể có một logic nào cho việc lập trình ngôn ngữ tư duy này. Vì chính tôi cũng không hề cố ý có lập trình này khi giao tiếp với các loài vật ấy. Tôi không nhận được phản hồi ngôn ngữ từ chúng, vì tôi không hiểu tiếng nói của chúng. Nhưng ngược lại, chúng hiểu và biết được tôi là ai thông qua sự tiếp nhận dao động năng lượng của chúng.
( Bác sĩ Nguyễn Trọng Hùng- Hùng Y)
Tôi đã kể lại câu chuyện “Vì sao không nên ăn thịt chó” trên link:
https://www.facebook.com/permalink.php…
được hàng vạn người đọc và tranh cãi khá quyết liệt. Chuyện này hoàn toàn có thật.
Nói về chuyện ăn thịt chó, bản thân tôi cũng có ăn và ăn rất nhiệt tình. Tất nhiên ngày đó tôi chẳng tin gì vào chuyện âm dương, tâm linh, Phật pháp. Đến một ngày tự nhiên tôi không thích ăn thì tôi không ăn nữa vậy thôi. Các bạn rủ tôi vẫn đi nhưng thường tôi ăn gà hoặc cá còn mặc kệ các bạn đả kích, chế diễu…
Một ngày kia người ta gọi là “căn quả” đã đến, tôi khai mở được mắt âm dương thấy được các linh hồn, được gặp một số việc cõi bên kia, giống như thế giới bên ấy muốn chứng minh cho tôi, những việc mà tôi không tin, nghi ngờ, nhạo báng là có thật. Sau câu chuyện vì sao không nên ăn thịt chó gần ba năm, tôi gặp một câu chuyện thế này:
Một con chó đến gặp và nói chuyện với tôi, đúng hơn là linh hồn của một con chó, xin được cầu nguyện cho nó, sớm được siêu thoát, sớm được quay trở lại làm kiếp người.
Tôi hỏi:
– Chó ơi! mày làm sao thành người được. Phải lên đến kiếp khỉ, tinh tinh, rồi mới đến kiếp người được, theo thuyết tiến hóa mà.
Chó:
– Không tôi là người, linh hồn của tôi đã nhập vào con chó.
– Là người làm sao lại nhập vào chó được, khó tin quá.
Chó:
– Bằng chứng đầu tiên là tôi được nói chuyện với ông đây. Tôi là kẻ chết đường chết chợ, không nơi nương tựa, không người thờ cúng, chết vì đói, khát nhiều ngày. Linh hồn tôi cứ lang thang. vật vờ đây đó, cái đói, cái cô đơn cứ hành hạ, dầy vò khốn khổ từng phút từng giây.
– Chẳng lẽ thế giới bên ấy chỉ có mình mày là linh hồn, họ đi đâu cả rồi?
Chó:
– Khốn nỗi, khi sống tôi là kẻ chẳng ra gì, nên khi chết có ai gần tôi đâu. Các linh hồn khác đều xa lánh tôi. Có chăng chỉ là một lũ ma quỷ, đói khát, bất hạnh, vật vờ như tôi mà thôi. Mỗi khi có chút gì có thể ăn được, là cả lũ lại sâu xé lẫn nhau dành cướp cho bằng được, mà chủ yếu là đồ cúng, ngoài bãi tha ma. Thi thoảng có nhà cúng vong ngoài cửa, được một mâm con con, mà có đến trăm, ngàn vong đói, khát, sâu xé lẫn nhau. Hơn nữa đâu có phải lúc nào cũng biết ai cúng mà đến tranh cướp.
– Nhà chùa, nhà đền thường rất hay cúng lễ sao không vào đấy kiếm ăn ?
Chó:
– Lúc sống tôi có bao giờ vào đền vào chùa cúng lễ gì đâu. Có công đức, cúng dường, đóng góp xây dựng, thì khi chết mới có thể vào đó xin ăn được. Hoặc có thầy cao dầy công đức xin cho vào, thần linh cai quản nơi đó mới chấp thuận. Mà ông biết đấy nhiều lúc tôi đi theo một đám vong, vào nhà nào đấy, đang thuê thầy cúng lễ, xin cho vong được vào chùa nghe kinh, giảng pháp, hưởng lộc rơi lộc vãi, mà thấy đến chính ông thầy cúng cũng còn bị các ngài đuổi ra. Mười thầy thì có đến chín thầy rưỡi lừa lọc dối trá gia chủ, thần linh, Phật, Thánh…
– Sao không tìm thầy tốt mà theo để thầy lễ xin cho?
Chó:
– Ông ơi thầy tốt lúc nào cũng có cả vạn vong đi theo, dễ gì mà chen vào được. Con chưa đến gần chúng đã đánh cho tơi tả. Có người con thấy, theo hết thầy này đến thầy khác mà mấy trăm năm vẫn chưa vào chùa vào đền, vẫn chưa siêu thoát được.
– Chuyện lằng nhằng quá. Hãy vào đề cụ thể đi. Vì sao mày lại vào kiếp chó, mà vào để làm gì, để bây giờ muốn ra không được lại phải nhờ đến ta. Mà ta hỏi có nhiều vong người nhập vào kiếp chó như mày không?
Chó:
– Thưa ông nhiều vô khối, có cả những vong trước là thầy mo, thầy cúng và không thiếu sư tăng, sư ni nữa kia. Nhiều vong đói khát, khổ sở không người thờ cúng, không nơi nương tựa, bị tất cả xa lánh, đã lang thang, vất vưởng ở cõi này, cả trăm năm, không còn hy vọng thành người, cũng mơ ước được nhập vào làm chó như con.
– Mày láo thật đấy, đã gọi là thầy, là tăng, là ni họ là người hiểu biết rất nhiều làm sao mà thành ma đói được?
Chó:
– Ông ơi! Con ở bên này đã mấy trăm năm rồi, nên biết nhiều chuyện. Các thầy phần đông dọa đệ tử, tín chủ chuyện nọ, chuyện kia, bày đặt cúng lễ, hết đàn này, đàn khác. Mua sắm đồ lễ, vàng mã, hết một đồng, khai là ba đồng, năm đồng. Khi lễ không được thì lại đổ cho tín chủ không thành tâm, đồ lễ ít quá, phải đi đền này, phủ nọ, chùa kia mới được. Nhiều tăng, ni tiếng là ở trong chùa nhưng cũng chẳng tín Phật, ăn mặn, sát sinh, hầu đồng… Không thiếu thầy còn vụng trộm tình ái, ăn thịt chó, như ngoài đời. Có bức tượng khai giá cao gấp ba đến bốn lần, hay hứa là tượng này dành riêng cho ” con cúng dường” nhưng thu tiền của năm đến bảy Phật tử. Chuyện bớt tiền cúng giường xây chùa của phật tử mua xắm nhà cửa, phân phát cho cha, mẹ, anh, em không hiếm. Chính vì các thầy biết sai mà vẫn làm, nên tội nặng gấp mấy người thường, đến làm chó cũng khó. Chúng con gọi loại này là thầy lừa.
– Mày là người vì sao mày chịu làm chó ăn bẩn như thế, mày không thấy ghê tởm à?
Chó:
– Lúc trước con được gặp một lũ người đã từng làm kiếp chó và đã bị giết thịt, làm bạn. Chúng khuyên con: ” Đã làm chó mà không biết dọn tất cả những cái dơ bẩn, do con người thải ra, thì ai nuôi chúng con làm gì?” Chúng khuyên con phải luyện tập, phải luôn quán tưởng, đấy là những thức ăn ngon nhất, sẽ cảm nhận thấy cái hương thối ngầy ngậy, bùi bùi… Nhưng nhiều năm, nhiều trăm năm, bị cái đói luôn hành hạ, ám ảnh nên chúng con, ăn tất cả những thứ gì có thể ăn được, vì biết đâu chiều nay, ngày mai, tuần sau, tháng sau, năm sau, lại chẳng có gì để ăn. Mục đích của con nhập vào chó để được ăn mà lại.
– Sao không chọn làm chó nhà giầu có được ăn ngon được tắm rửa hàng ngày. Đã làm chó rồi mà không biết đường chọn.
Chó:
– Ông ơi! Có ai được quyền chọn cuộc đời cho mình đâu. Có đến 80 – 90% là chó quê, còn lại là chó thành phố, mà trong lũ chó thành phố cũng chỉ được 20% là nhà tử tế. Sự khác nhau giữa chó quê và chó thành phố là chó quê thì mau bị làm thịt nhưng sống khá tự do. Chó thành phố thì thường được nuôi lâu, ăn ngon nhưng không được tự do, lại rất hay bị đánh đập, hành hạ không thương tiếc. Không gian chật hẹp, người thành phố hay cáu bẳn, họ thường chút giận lên thân mình chúng con, đá văng vào tường, đập cho tung máu mồm máu mũi là chuyện thường. Chó thành phố, có khi chỉ một đến hai người trong gia đình yêu quý, chăm sóc chiều chuộng, những người còn lại có cơ hội là hành hạ, đạp, đá không tiếc chân tay.
Nó buồn rầu kể tiếp:
– Khi con đã quyết định, thôi thì tạm làm kiếp chó một thời gian để được ăn, được có cảm giác được sống. Con đi tìm và chọn cho mình mình một con chó đang mang thai, sắp đến ngày sinh nở. Khi con chó con vừa chui ra khỏi bụng mẹ là con nhập vào ngay. Bà mẹ chó này sinh ra năm đứa con, một con bị đập chết ngay sau vài ngày, vì vú mẹ chỉ đủ nuôi 4 con. Còn lại bốn đứa, sau 2 tháng là chúng con, đứa thì bị cho, đứa thì bị bán. Quả thực có trời mà biết, sinh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm, thậm chí cùng giờ nữa ( tử vi giống nhau). Nhưng đứa nào sung sướng vào nhà phố, đứa nào khổ vào nhà quê, thì con chịu, vì chẳng bao giờ gặp lại. Lần đầu tiên sau nhiều năm con được rúc vào cái bụng ấm áp, được mút bầu sữa bùi bùi, ngọt ngọt, con tưởng như không gì có thể hạnh phúc hơn thế nữa.
– Nói vậy là mày vẫn luyến tiếc kiếp làm chó?
Chó:
– Không! Có người nói theo ông thì có cơ hội làm người vì ông có cách thức lễ lạt, đơn giản, không tốn kém. Cách hiểu về Phật pháp của ông đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện, tu hành, sám hối như: kính cha, mẹ, thờ ông bà tổ tiên, là đã thực hành được 20% những điều Phật dạy. Từ bỏ được tham lam, tiền bạc, danh vọng, dục vọng là tu được chữ tham. Bỏ được ghen tuông, chấp mê, từng lời ăn, tiếng nói, giận dữ, khinh rẻ, coi thường người khác… là tu được chữ sân. Biết sai mà tránh không làm, không dùng lời lẽ dối trá, ngụy biện, hay bất kỳ lý do gì để thực hiện là tu được si… là được 50% trong phần còn lại.
– Vậy sao mày không tu, không sửa đi để được làm đầu thai lại làm người?
Chó cười buồn:
– Không thể xác lấy gì để tu, tu là sửa, là lấy công, lấy đức chuộc tội của kiếp này, kiếp trước và rất nhiều kiếp trước nữa. Không có mồm, sao nói lời sám hối, không có tay, giúp được ai để mà thể hiện công đức. Không có tim, sao biết trao gửi yêu thương. Không tiền bạc, cám dỗ lấy gì san sẻ, hay thử thách lòng tham. Không cha, mẹ, vợ, con, anh, em, bạn bè lấy gì thể hiện lòng hiếu, thuận. Không có cuộc đời sao biết đã sửa, đã vượt được đến đâu. Nhiều, nhiều lắm, điều cần tu, cần sửa, chỉ có xác thân, mới thực hành, thể hiện được ông ơi!
– Lạ nhỉ, sao mày biết nhiều thế?
Chó:
– Tiếng kinh kệ, tiếng giảng pháp nơi này, con nghe nhiều nên cũng thấm, cũng hiểu đôi điều. Mà ông ạ! Con lo lắm, khi được đầu thai lại làm người, không biết con có còn nhớ được; mình cần phải làm gì? Phải tu nhân tích đức, như hằng mong muốn, hay lại xa vào vòng quay vật chất, sắc dục, đua chen danh lợi, điên cuồng?
Tôi biết trả lời sao được. Bỗng nhớ đến kinh Vu Lan Báo Hiếu, tôi nói:
– Hãy phát nguyện những điều mong muốn thì sẽ được. Bà Thanh Đề vì căm ghét các nhà sư nên luôn nguyện ước kiếp sau có cơ hội để trả thù, báo oán, rửa hận. Bà đã làm được. Ngài Mục Kiền Liên luôn nguyện ước nếu còn có kiếp sau xin được là con bà Thanh Đề, để cứu bà chuộc lỗi. Cả hai ước nguyện đều thành. Bà Thanh Đề ước điều ác, bà được ác, nhưng phải vào địa ngục. Ngài Mục Kiền Liên ước điều lành, đã được điều lành, cứu được mẹ, làm được nhiều điều phúc thiện, mà thành A La Hán – Bồ Tát.
Nghe đến đây nó lẩm bẩm:
– Thì ra mọi việc thật giản đơn. Hãy ước nguyện thì tất được. Ước nguyện được làm con nhà có đạo, ước có cơ hội làm điều thiện, ước gặp được thầy để học tha thứ, yêu thương, ước tránh xa được tàn ác, sát sinh, ước được làm người tử tế.
Bây giờ linh hồn chó này không còn độc ác, đuổi cắn người nữa, mà thích nằm gần cửa phòng khám để nghe chuyện mọi người.
Cám ơn mọi người đã đọc đến dòng cuối này. Trân trọng!!!
________________________
LẠM BÀN VỀ NGUYỆN
Quang Tử
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy:
Tâm dẫn đầu các pháp.
Tâm làm chủ, tạo tác.
Nếu nói hay hành động,
Với tâm niệm bất tịnh,
Khổ não liền theo sau,
Như xe theo bò kéo.
Phần cuối của cuộc đối thoại người – hồn ma một chú chó này, ta càng hiểu rõ hơn lời Phật dạy. Tất cả mọi hành động của chúng ta, đều có nguồn gốc từ một ước nguyện, một sự phát tâm nào đó trong quá khứ. Vì sao có kẻ gặp một người không quen biết, nhìn qua thấy ghét, nói qua nói lại vài câu là xông vào đánh nhau và đánh gãy chân người ta? Có lẽ do kiếp trước người kia từng va quẹt vào anh ta, rồi chạy mất không lời xin lỗi, anh ta trong lúc tức giận đã lầm bầm nguyện ” mày mà để tao gặp lại, tao đánh cho mày què chân!”
Nhờ câu nguyện đó làm nhân, mà kiếp này thành quả, đó là hành động đánh gãy chân người kia. Vô số những hành động khác cũng đều có nguồn gốc là những câu nguyện như vậy.
Bạn hãy nhớ, nguyện ước là nhân, và quả của nó là hành động, và hành động này lại làm nhân, để tạo thành quả báo kiếp sau, chuỗi nhân – quả này nối tiếp liên tục sản sinh ra vô lượng kiếp sống. Nguyện càng lớn, thì càng cần nhiều thời gian và nhiều nhân duyên để thành hiện thực.
Những lời nguyện nhỏ bé, như ước nguyện thành bác sĩ, thành kĩ sư… giúp đời, sẽ nhanh thành tựu trong khoảng một vài kiếp. Những điều nguyện lớn lao hơn sẽ cần một thời gian nhiều kiếp hơn để tích lũy công đức rồi mới thành hiện thực được. Ví dụ như một người ước sẽ làm vị Tổng Thống, ban ra các điều luật, thay đổi hệ thống giáo dục, làm cho nhân dân trong nước văn minh hơn, đạo đức hơn, thánh thiện hơn… thì từ khi phát nguyện, qua những kiếp sau, dù không nhớ, nhưng vì lời nguyện đã phát dẫn dắt, anh ta sẽ trải qua hàng chục kiếp liên tiếp tạo nhiều điều phước thiện, gieo duyên với quần chúng, tích lũy đủ phước để được làm Tổng Thống. Khi phước đã đủ,nhân duyên chín muồi, anh ta sẽ đắc cử Tổng Thống ( hoặc một chức vụ tương tự) và thực hiện đầy đủ những ước nguyện đã phát, như thay đổi giáo dục làm cho con người thánh thiện hơn…
Vậy điều nguyện nào là lớn lao, vĩ đại nhất?
Chính là nguyện thành Phật, cứu độ tất cả chúng sinh. Phật gọi điều nguyện này là Phát Bồ Đề Tâm, người nào phát điều nguyện như thế gọi là Bồ tát Sơ Phát Tâm.
Do phát nguyện cầu thành Phật, hoặc cứu độ tất cả chúng sinh, người phát nguyện do được lời nguyện dẫn dắt, dù nhớ hay không nhớ, người đó cũng sẽ trải qua vô số kiếp học Phật Pháp, tu tất cả công hạnh của Bồ Tát , thường được gặp các Đức Phật để cúng dường, nghe Phật thuyết pháp…càng ngày càng tinh tấn hơn, thánh thiện hơn, phước trí sâu dày hơn…và cuối cùng, sau vô số kiếp tu hành vất vả, vị đó chắc chắn sẽ thành Phật.
Mười phương ba đời chư Phật ban đầu đều do phát những điều nguyện như thế mà cuối cùng được thành Chánh Đẳng Chánh Giác. Như vào kiếp xưa rất lâu xa, có một vị Bà la môn tên là Hải Tế ( còn gọi là Bảo Hải) Ngài nguyện sẽ thành Phật ở cõi đời xấu ác để hóa độ chúng sinh, nay Ngài đã thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Hay xưa vô số kiếp trước, có một vị tỳ kheo tên là Pháp Tạng, phát lên 48 lời nguyện, cầu thành Phật ở thế giới thanh tịnh để cứu độ chúng sinh, nay Ngài ấy cũng đã được thành tựu như những nguyện đã phát, trở thành Phật A Di Đà của thế giới Tây Phương Cực Lạc.
Tóm lại, mọi điều ước, mọi điều nguyện, dù thiện hay bất thiện, dù nhỏ bé hay lớn lao, theo dòng nhân quả nhiều kiếp, đều sẽ thành hiện thực. Như vậy, hiểu rõ điều này, bạn đã nắm được chìa khóa để điều khiển vô số kiếp sau của mình, hoàn toàn không khó phải không?
Bạn có thể thực hiện ngay và luôn, không cần nghi lễ phức tạp nào, ( nhưng nếu thành tâm cúng dường hương hoa, quỳ trước tôn tượng của Phật mà phát nguyện thì càng tốt ) chỉ cần tâm thành thật và phát lên những ước nguyện. Tất nhiên chỉ nên nguyện những điều tốt đẹp, vì lời nguyện xấu sẽ dẫn bạn vào địa ngục, vào khổ đau. Hãy nguyện rằng ” Tôi nguyện sẽ làm người sống để tạo nên hạnh phúc cho mọi người “, hay ” Tôi nguyện sẽ biến thế giới này thành một thiên đường, người với người sống chỉ để thương yêu” vân vân và vân vân…
Không ai đánh thuế những ước mơ, bạn không cần một điều kiện như thế nào mới được quyền phát nguyện cả, bạn thậm chí đang là một người xấu tệ, tội lỗi đầy mình, nhưng dù thế thì cũng không ai cấm bạn phát lên những điều nguyện tốt đẹp cả. Thậm chí ngược lại, phải phát lên những điều nguyện tốt đẹp, lớn lao, rồi những tâm xấu ác mới có thể theo đó mà chuyển hóa dần dần.
Cuối cùng, đừng bỏ lỡ cơ hội, khi bạn đang có thân người, hiểu biết đạo lí, hãy nhanh chóng, dũng mãnh phát Bồ Đề Tâm: ” Nguyện thành Phật, nguyện cứu độ tất cả chúng sinh ra khỏi biển khổ luân hồi sinh tử.”
Nhờ điều nguyện như thế dẫn dắt, mà vô số kiếp sau bạn sẽ luôn tìm được con đường chân chính để đi theo, bạn sẽ làm được vô số việc thiện lành, hưởng vô số phúc báo vi diệu, đạt được vô số trí tuệ, thần thông của Bồ Tát …và cuối cùng ,dù lâu, nhưng chắc chắn sẽ thành Phật – bậc thầy của Trời người, đấng tối tôn trong pháp giới vũ trụ.
Hãy suy nghĩ và hành động. Mọi việc đều nằm trong tầm tay của bạn.
Nhiều năm trước, tại một hội trường lớn có một vị học giả nói với mọi người rằng Phật là tuyệt đối không tồn tại.
Lúc mọi người muốn ông ta chứng minh lời mình nói là đúng, ông ta liền cao giọng nói như thách thức Đức Phật:
– Đức Phật nếu quả thực người có linh, hãy xuống đây, trước mặt rất đông mọi người hãy giết chết ta đi, thì chúng tôi sẽ tin là người thực sự có tồn tại.
Ông ta cố ý lặng yên chờ mấy phút nữa, đương nhiên là Đức Phật không xuống để giết chết ông ta. Ông ta liền nhìn mọi người xung quanh và nói:
– Mọi người thấy rồi đấy, Đức Phật vốn dĩ là không tồn tại.
Vị học giả phủ nhận Đức Phật ( Ảnh minh họa)
Bất ngờ có một người phụ nữ nông thôn, trên đầu quấn một chiếc khăn, nói với ông ta:
– Tiên sinh, lý luận của ông rất cao minh, ông là một học giả uyên bác. Tôi chỉ là một phụ nữ nông thôn, không thể phản bác lại ông, chỉ muốn hỏi ông một câu hỏi ở trong tâm trí của tôi: Từ trước đến nay đã nhiều năm rồi, tôi luôn tin vào Phật, tin vào những lời dạy bảo của Phật và cảm thấy vô cùng thoải mái.
Bởi vì trong lòng luôn tràn ngập niềm tin vào Phật , điều đó đã đem lại cho tôi sự bình yên và hạnh phúc to lớn nhất. Tôi hỏi ông: Nếu như khi tôi chết, phát hiện rằng những gì tôi tin vào Đức Phật hết thảy đều không tồn tại, nhưng cả đời này của tôi đã tin vào Phật, vậy tôi sẽ bị tổn thất cái gì?
Vị học giả suy nghĩ một hồi lâu, cả hội trường yên lặng, người nghe cũng rất đồng ý với suy luận của người phụ nữ này, ngay cả vị học giả cũng thán phục suy nghĩ logic này. Ông thấp giọng trả lời:
– Phu nhân, ta nghĩ bà không bị tổn thất cái gì cả.
Người phụ nữ nông thôn lại nói với vị học giả:
– Cảm ơn câu trả lời của ông, trong tâm tôi có một thắc mắc, nếu khi mà ông chết, ông thấy những gì Đức Phật răn dạy là đúng sự thật, nhân quả, nghiệp báo, lục đạo luân hồi là có tồn tại thật. Tôi muốn hỏi ông sẽ mất những gì?
Vị học giả suy nghĩ một hồi lâu và không nói được lời nào.
____________________
Vị học giả trong câu chuyện trên, không có được tinh thần khách quan của một nhà khoa học cần phải có, ông ta nói cái này không có, cái kia không đúng… bằng những lập luận rất trẻ con: Không thấy thì là không có. Vậy không lẽ trước khi Colombus tìm ra châu Mỹ vào năm 1492, thì có thể kết luận luôn là trước đó châu Mỹ không tồn tại sao ?
Cũng như nhiều người khác, chẳng phải nhà khoa học chân chính gì cả, nhưng lại hay tự phong cho mình là sứ giả của Khoa học, ảo tưởng rằng “Ta đây biết hết !”, họ thường chẳng bỏ công ra nghiên cứu, tìm hiểu những chuyện xảy ra trong thực tế gì cả, mà vội vàng kết luận Phật Giáo là mê tín, là sai lầm bằng cái nhãn quan “biết tuốt” của mình. Trong khi Phật Pháp tồn tại hàng ngàn năm qua ở rất nhiều quốc gia, đã – đang và sẽ luôn chữa lành những căn bệnh, hóa giải những khó khăn, tiêu trừ những đau khổ cho hàng triệu, hàng tỉ người bằng những phương pháp đầy đủ cơ sở lập luận.
Nhiều người không đồng tình với cách lập luận của Phật Giáo, nhưng THỰC TẾ lại đồng tình. Đó, cái đó mới là quan trọng, một lí thuyết đúng thì nó sẽ có hiệu quả trong THỰC TẾ. Và bằng chứng về sự hiệu quả khi áp dụng Phật Pháp mà thực tế đã “đóng dấu” kiểm chứng là vô số.
Einstein nói về Đạo Phật
Trái ngược hẳn với những “ nhà khoa học tự phong”, nhà khoa học lỗi lạc nhất thế giới- Albert Einstein, người xứng đáng đại diện cho tinh thần khoa học chân chính, luôn khách quan và cẩn thận, sau khi nghiên cứu kĩ lưỡng về Đạo Phật, ông đã tuyên bố rằng :
“Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng những nhu cầu của khoa học hiện đại, thì đó là Phật giáo. Phật giáo không đòi hỏi phải xét lại mình để cập nhật với những khám phá gần đây của khoa học. Phật giáo không cần từ bỏ quan điểm của mình để đi theo khoa học, vì Phật giáo bao gồm khoa học cũng như vượt qua cả khoa học.”
Thưa quý vị, suốt hàng ngàn năm lịch sử, hàng triệu, hàng tỉ người ở các nền văn minh khác nhau, đủ mọi tầng lớp khác nhau vẫn theo Đạo Phật, họ quý kính và tôn thờ Đức Phật, dù lẫn trong đó cũng có những người mê tín, xong đó chỉ là một bộ phận. Còn lại có rất nhiều bậc trí giả cao minh, học vấn uyên thâm, còn có cả những nhà khoa học thuộc nhiều chuyên khoa khác nhau, họ cũng theo Đạo Phật, vì sao ?
Vì rằng, họ đã tìm hiểu và thấy được giá trị lợi ích thiết thực của Phật pháp đối với đời sống con người và xã hội, thấy được những gì Đức Phật dạy là chân lý. Họ nhận thấy đạo Phật không đơn thuần là một tôn giáo với những giáo điều mang tính gượng ép, mà Phật Pháp còn bao trùm cả khoa học, triết học, đạo đức học, nghệ thuật sống…Họ thấy cả một chân trời mới mà không thể tìm thấy ở nơi nào khác ngoài kinh điển Phật dạy.
Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều người theo Phật vì hưởng ứng theo số đông hoặc vì noi theo truyền thống tổ tiên để lại, hoặc vì hoàn cảnh cuộc sống gặp trắc trở gì đó nên mới tìm đến của chùa, cốt để giải quyết khó khăn của mình.
Họ cũng đi chùa, cúng bái, lễ lạy, nhưng ít khi bận tâm đến giáo lí của Đức Phật. Thật là một điều đáng tiếc, vì thực ra như thế, họ mới chỉ đến được trước cửa Phật, chưa có vào được bên trong nhà của Như Lai, chưa biết đến những kho tàng quý giá mà Đức Phật để lại.
Chúng ta nên theo Phật, không chỉ dựa vào niềm tin, mà còn cần dựa vào trí tuệ, vì Đạo Phật là Đạo của chân lí, của sự thật, sự thật như thế nào, biết đúng như thế, không thêm, không bớt.
Không chỉ như thế, những sự thật mà Đức Phật dạy còn là con đường dẫn chúng ta đến những thành tựu tốt đẹp, đến an vui và hạnh phúc, vậy nên chúng ta gọi đó là chân lý.
Bằng chứng là Phật Pháp từ hàng ngàn năm qua, đã vượt qua danh giới của mọi lãnh thổ, ngôn ngữ, văn hóa… soi sáng cho nhận thức của nhân loại.
Đạo Phật có mặt ở đâu, đều đem lại an lạc, hạnh phúc, xoa dịu những nỗi đau khổ cho con người, dù người đó ở nền văn hóa nào, màu da nào, giai cấp nào, trong hiện tại và tương lai, vẫn luôn là như vậy.
Bạn cần một dẫn chứng cụ thể hơn ? Vậy tôi xin đơn cử một câu chuyện với đầy đủ danh tính, người thật việc thật như sau:
“Cô Phạm Thị Minh Yến, hiện cư ngụ tại địa chỉ 104 lô P cư xá Thanh Đa, phường 27, quận Bình Thạnh, TP.HCM, phát hiện mình bị bệnh hở van tim khi mới 25 tuổi.
Đó là năm 1975, lúc đó cô đang mang thai đứa con thứ hai, cô đi khám thai định kỳ, bác sĩ cho biết là cô hở van tim khá nặng, chỉ được phép sinh cháu này xong thì phải đoạn sản.
Cho đến năm 2010, cô cảm thấy bệnh trở nặng, tim nhói đau như châm chích từng cơn, có lúc nóng ran và choáng váng, thường ngất đi rồi tỉnh lại, áp huyết tuột thường xuyên, sinh hoạt không còn bình thường như trước, yếu ớt chậm chạp. Vào ngày 14/6/2010, cô buộc lòng phải đi siêu âm tim, và đo điện tâm đồ tại bệnh viện Bình Thạnh. Kết luận của bác sĩ chuyên khoa Lê thị Kim Hồng như sau:
– Đóng vôi hai lá van, dày dính mép van.
– Hở van 2 lá 2/4 – hở van động mạch chủ 1,5/ 4, thiếu máu cơ tim cục bộ .
Theo cô được biết, đóng vôi hai lá van làm cho cơ tim cứng, hoạt động khó, chức năng của van bị giảm dần những khi huyết lưu thông lên não bộ. Trong trường hợp van cố gắng đàn hồi bị cứng …thì có thể đưa đến đột tử bất cứ lúc nào.
Thật là nghiệt ngã đến buồn cười … vì cô cũng là bác sĩ, nhưng bác sĩ bị bệnh thì cũng như mọi người thôi, suốt 40 năm, căn bệnh này luôn hành hạ cô, nhiều phen nguy kịch chết đi sống lại, phải đi cấp cứu, xong cũng chẳng chữa dứt được.
Cái chết mà đến mau với cô cũng như giải phóng kiếp đọa đày sớm, điều đáng mừng hơn đáng buồn.
Và cuối cùng, cô tìm đến pháp môn niệm Phật, một trong những phương pháp dễ thực hiện nhất của Đạo Phật.
Đơn giản là hàng ngày cô niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, lặp đi lặp lại chỉ một câu, vậy thôi. Thời gian cũng không cố định, lúc nào rảnh cô cũng niệm với lòng thành và tin tưởng, siêng năng, niệm hoài không ngừng nghỉ.
Thế rồi dần dần, cô thấy có giảm những triệu chứng mệt mỏi, ngất xỉu xuống khoảng 60%. Càng ngày cô cảm thấy sức khỏe càng tăng, cô không bị mệt nhiều như trước. Cô hoàn toàn đổi tướng, trẻ ra, tóc đen, thấy khỏe và hăng hái làm việc nhiều, chân cô không còn đau khớp nữa. Cô tăng cân và hồng hào, tươi tắn, học giỏi nên đã thi đậu lương y đa khoa rồi.
Ngày 15/12 /2011, cô đi siêu âm và đo điện tâm đồ, theo kết luận của bác sĩ chuyên khoa Lê Quang Thạnh, bệnh tim của cô đã bình phục.
Cô bắt đầu niệm Phật từ ngày 4/5 đến ngày 15/12/2011, tổng cộng được 7 tháng 11 ngày, cô niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” mà đã tan hết vôi hóa van tim, cũng có nghĩa là bệnh tim hơn 40 năm trời nay không chữa trị được, đã có thể lành mạnh như xưa! Đây là một sự mầu nhiệm không thể nghĩ bàn của tiếng niệm Phật.
Câu chuyện chữa bệnh bằng Phật Pháp của cô được cô chia sẻ công khai trên các diễn đàn, tất cả hồ sơ bệnh án, siêu âm, điện tâm đồ… của cô đều có lưu trữ đầy đủ, nếu bạn cần kiểm chứng, bạn có thể tìm đến địa chỉ của cô đã ghi ở trên, hoặc gửi email cho cô : minhyen1408@yahoo.com ”
Một câu chuyện này thực ra chỉ là một hạt cát nhỏ trong sa mạc mênh mông những chuyện linh ứng nhờ Phật Pháp từ ngàn xưa đến nay, đó là một sự thật không thể phủ nhận được.
( Vì có quá nhiều bằng chứng tương tự như trên, không thể đưa hết ra bài viết này, bạn muốn tìm hiểu vui lòng bấm vào đường link sau : http://nhanqua.com.vn/category/chuyen-nghiep-chuyen-linh-ung )
Tuy nhiên, hóa giải những vấn đề khó khăn trong cuộc sống, trong kiếp nhân sinh của chúng ta, không phải là giá trị cốt lõi của Đạo Phật. Đó mới chỉ là những phương tiện để chúng ta tiếp cận được với Phật Pháp, là những cánh cổng dẫn đến kho tàng quý giá ẩn chứa bên trong.
Chúng ta đến với đạo Phật không nên chỉ để cầu khẩn van xin những điều linh ứng, không nên chỉ để nương tựa uy lực của Đức Phật chỉ để cầu may mắn, bình an, mà quan trọng nhất là để làm theo những điều Phật dạy, để đi theo tiếng gọi của chân lý.
Chân lý ấy hướng về những sự thật của vũ trụ mà Đức Phật đã giác ngộ, đó là duyên sinh, là nhân quả nghiệp báo, là vô thường, khổ, không, vô ngã, là phương pháp tu hành đưa đến sự Giác ngộ, giải thoát khỏi mọi đau khổ trong luân hồi sinh tử này.
Hiểu được những chân lý ấy, khiến cho tư duy của chúng ta thăng tiến lên những trình độ mới, mở ra những kho tàng vô giá mà không có vàng bạc châu báu nào so sánh được, đưa chúng ta đến những chân trời mới, siêu việt ra khỏi kiếp người bé nhỏ.
Nếu những ai theo Phật mà chỉ dựa trên một niềm tin mơ hồ không suy xét, hoặc niềm tin dựa trên cảm tính, mà không phát triển tư duy, lý trí, đào sâu trí tuệ để hiểu rõ những lời Phật dạy, từ đó thực hành theo để trải nghiệm những thăng tiến về tâm linh, đức hạnh, thì sớm muộn niềm tin ấy cũng bị đổ vỡ.
Những người như thế chưa thực sự biết đến “kho báu” chân chính của Phật. Đạo tâm của họ mong manh, dễ dàng bỏ Đạo, mất niềm tin nơi Đạo Pháp, chính vì vốn người ấy chưa hiểu Phật Pháp thật sự là như thế nào.
Thế nên họ dễ dàng bị lôi cuốn, dụ dỗ, dễ bị lừa gạt, bị những kẻ tu hành giả mạo lợi dụng, cuối cùng sụp đổ niềm tin, hoặc tha hóa, bỏ theo tà đạo, hoặc rơi vào mê tín dị đoan, làm điều tà mị, lại gây hiểu nhầm cho những người khác.
Tóm lại, khi chúng ta tìm đến Phật Pháp, cần phải giữ một thái độ khách quan như một nhà khoa học, thận trọng quan sát thực tế để kiểm chứng đúng sai, thật giả. Tránh vội vàng đem thành kiến bản thân để phủ nhận cái này sai, cái kia không có. Đó là xu hướng sai lầm thứ nhất.Ngược lại, cũng không nên chỉ thuần có một niềm tin, ai nói gì cũng tin, chẳng màng đến tư duy, suy xét. Niềm tin mà không được soi sáng bới trí tuệ, sẽ dễ dàng đưa người ta vào mê tín, gây hiểu nhầm cho nhiều người khác. Đó là xu hướng sai lầm thứ hai.
Tránh được hai xu hướng sai lầm ấy, trí tuệ mới có “đất” để phát triển, hiểu đúng được chân lý.
Đầu tiên lấy thái độ khách quan để học hỏi, nghiền ngẫm những kinh điển của Phật để lại. May mắn cho chúng ta là thời nay kinh Phật vẫn còn, nếu thấy khó hiểu ta có thể đọc những kinh dễ hiểu một chút như kinh Thiện Ác Nhân Quả, kinh Nhân Quả Sai Biệt, kinh Pháp Cú, kinh Địa Tạng, kinh Vô Lượng Thọ…, rồi dần dần nghiên cứu những kinh cao siêu hơn như kinh Kim Cang, kinh Lăng Nghiêm, kinh Hoa Nghiêm, kinh Đại Bát Niết Bàn .v.v…
Sau đó đối chiếu với thực tế cuộc sống, không ngừng quan sát, nghiền ngẫm, so sánh, tham chiếu, và nhất là phải THỰC HÀNH để có được sự nghiệm chứng trong thực tế. Có được sự nghiệm chứng này rồi, ta mới thực sự thấm thía lời Phật dạy, điều đó khác xa so với bước đầu – học trên lí thuyết.
Kết hợp song song như thế, vừa nghiên cứu kinh điển, vừa đối chiếu với thực tế, ta sẽ tìm ra được chân lí, thực sự hiểu được lời Phật dạy.
Nhờ đó, chúng ta mới có thể phấn đấu hướng đến những gì tốt đẹp nhất, bằng những phương pháp trí tuệ nhất để đạt được mục tiêu an lạc hạnh phúc trong hiện tại và tương lai.
Biển Phật Pháp mênh mông, cần một kim chỉ nam để tìm ra hướng đi đúng
Người Phật tử trên bước đường tu học cũng giống như một con thuyền đang lướt sóng trên biển cả bao la không thấy biên bờ, sẽ phải gặp nhiều khó khăn gian khổ, nhiều chông gai thử thách, và nhất là rất dễ mất phương hướng.
Nhưng một khi con thuyền đã có được la bàn tốt, có được bản đồ chuẩn xác, biết đích xác đâu là bờ thì vấn đề còn lại chỉ là nhanh hay chậm.
Người Phật tử cũng vậy, một khi đã có niềm tin chân chính dựa trên trí tuệ, đã thấy rõ mục tiêu hướng đến, bằng sự tinh tấn nỗ lực sẽ mau chóng thành tựu, đạt được lý tưởng của mình.
Cuối cùng cầu chúc cho tất cả quý vị thân tâm thường an lạc, Bồ Đề tâm kiên cố, học hỏi, nghiền ngẫm, thấm thía sâu xa giáo lí của Phật dạy mà sớm viên thành Chánh Đẳng Chánh Giác, quảng độ chúng sanh.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật !
(Thiện Như – Quang Tử)
Thầy Thích Phước Tạng ( Chùa Phật Quang, BRVT) một lần có kể lại câu chuyện như sau: Một cậu thanh niên bị bệnh gan rất nặng, sau hai tháng nữa sẽ phải phẫu thuật, tỉ lệ thành công chỉ là 7-12%, ở cái tỉ lệ đó cậu thanh niên rất tuyệt vọng, chán ngán, đau khổ. Cậu và gia đình tới chùa để thắp hương, nói chuyện với thầy và kể sự tình cho thầy nghe, thầy an ủi và nói với cậu ấy rằng:
– Con người sống chết có số hết con ạ, ai rồi cũng sẽ về với cát bụi, chỉ là sớm hay muộn thôi, nhưng nếu sống thì hãy sống một cách thật ý nghĩa và ra đi phải thật thanh thản và bình an mới được, bây giờ con hãy làm việc thiện và coi như đó là món nợ con đã trả hết cho cuộc đời này, con cùng gia đình hãy giúp đỡ những người nghèo khổ, hãy nên phóng sanh, ăn chay, nếu nhà không nấu được thì đến chùa này để dùng bữa cùng các Phật tử, đến chùa thắp hương, học Phật pháp và khi ra đi thì ta cũng đã có cái gì đó để lại cho đời.
Cậu thanh niên cũng nói với gia đình là chi phí phẫu thuật cao mà tỉ lệ thành công gần như không có, nên hãy để cậu ấy ra đi và lấy số tiền phẫu thuật đem làm từ thiện để cậu ấy vui vẻ mà qua đời. Nhưng bố mẹ vẫn ép cậu phải phẫu thuật và từ thiện thì làm riêng . Khoảng một tháng thì cậu ấy không đến chùa nữa, thầy cũng thắp hương dâng Phật cầu nguyện cho cậu ấy.
Chắc các bạn cũng đóan được kết quả ra sao rồi, cậu ấy vẫn sống và từ đó gia đình đến chùa thường xuyên, cúng dường, làm từ thiện… Khi được hỏi trong thời gian qua gia đình cậu làm việc thiện như thế nào.
Cậu trả lời rằng cậu đã dành toàn bộ số tiền tiết kiệm của mình làm từ thiện, đồ đạc quần áo của cậu đem đi cho những đứa trẻ nghèo vì cậu nghĩ sẽ không còn dùng đến nữa, từ ngày đến chùa cả nhà ăn chay niệm Phật, thu mua cá ngòai chợ với số lượng lớn để phóng sanh xuống sông, cha mẹ anh chị thay nhau đi làm từ thiện, giúp người vô số.
Các y tá, bác sĩ trong bệnh viện cho đó là kì tích nhưng theo quan niệm dân gian “ Đức năng thắng số” thì việc này không có gì là lạ. Đơn giản vì cậu ấy và gia đình làm việc thiện nên quả báo đã xảy đến và phước đức đã đưa cậu ấy vượt qua ca phẫu thuật ” thập tử nhất sinh” một cách dễ dàng.
Làm việc thiện nhiều thì kỳ tích chắc chắn sẽ xảy đến. Trong cuộc sống đôi khi có những việc tưởng chừng như không thể vượt qua, nhưng cuối cùng thì nó cũng qua. Chỉ cần vững tin vào luật nhân quả, thấu đáo đường đi của nhân quả, ta sẽ tự tìm ra lối thóat cho chính mình.
Mình tên Nguyễn Thị Ngọc Bích, pháp danh Chân Thiện Ngọc, mình ở thành phố Thủ Dầu, tỉnh Bình Dương. Dưới đây là câu chuyện có thực do mẹ mình kể lại, mình ghi chép lại mong rằng có thế giúp ích cho quá trình biên soạn sách thiện của ban biên tập nhân quả báo ứng, và cũng hy vọng có thể khuyên được dù chỉ là một số ít người từ bỏ thói quen sát sinh, mà phóng sinh, hướng thiện hành đức.
Chuyện thứ nhất.
Ông cố mình ( ông ngoại của mẹ mình) sau giải phóng nhà nghèo không có gì ăn ông cố mình hay ra ruộng bắt ếch, nhái nhảy, bù tọt về nhốt lại để sáng hôm sau mới làm thịt.
Hôm đó, ông về ngủ thì mơ thấy có 39 vị thầy tu quỳ lạy từ trong nhà ra sân xin tha mạng, ông cố mình nói tui có quyền gì mà tha mạng cho các ông, rồi ông cố choàng tỉnh dậy ngỡ là chiêm bao bình thường rồi ngủ tiếp.
Sau giải phóng nhà nghèo không có gì ăn ông cố mình hay ra ruộng bắt ếch, nhái nhảy, bù tọt về nhốt lại để sáng hôm sau mới làm thịt. ( Ảnh minh họa )
Vừa chợp mắt thì lại mơ thấy y như vậy nên ông tỉnh dậy đi ra sau nhà tìm xem nhưng không thấy ai cả, chỉ thấy thùng ếch nhái rồi đi ngủ, lại cũng vẫn thấy 39 vị quỳ lạy xin tha mạng và nói là đang ở trong thùng.
Ông cố mình tỉnh dậy ra sau đếm thử thì đúng 39 con ếch trong thùng. Ông lấy làm kinh ngạc, sau đó ông thả ếch ra hết. Từ đó về sau không còn bắt, không giết, không ăn ếch nhái nữa.
________________________
Chuyện thứ hai.
Là câu chuyện của ông bà Hai ( con trai và con dâu của ông cố mình kể trên). Bà Hai làm nghề bán cá, lươn,… nên sát sinh cũng không ít.
Một hôm, trong thùng lươn bà bán hàng ngày, có một con lươn lớn bị đứt đuôi. Bà đập con lươn ấy hoài mãi chưa chịu chết, phải đợi một hồi lâu rồi nó mới chết để bán cho người ta.
Đêm đó bà nằm mơ thấy có một người phụ nữ mời bà vào nhà uống nước, sau đó người đó bảo là tiền thân của con lươn ấy.
Bà Hai giật mình tỉnh dậy, toàn thân sợ hãi bỏ nghề sát sinh, siêng năng đi chùa để sám hối tội lỗi sát sinh.