SIÊU ĐỘ CHO SÚC SINH

Tôi tên Đỗ Hòa, là một giáo viên cấp hai tại thành phố Vũng Tàu, trường THCS Võ Văn Kiệt. Tôi biết đến Phật Pháp từ thời còn là sinh viên. Khi đó, tôi chưa biết nhiều về những pháp môn vi diệu của đạo Phật, như chú Đại Bi, hộ niệm Vãng Sinh Tịnh Độ, Bát Nhã… mà chỉ đơn thuần là những lời cầu nguyện chân thành trước Đức Phật. Cách đây mấy năm, khoảng tháng 7 năm 2008, tôi phải ra thành phố Huế để tham dự kì thi tuyển vào đại học. Chỗ tôi thuê phòng trọ nằm gần một khu vườn rất đẹp, rất thơ mộng, một lũy tre êm đềm soi bóng lên một con suối nhỏ. Quả là ở Huế có khác, mọi thứ dường như đều có thể đi vào thi ca lãng mạn. Một buổi, khi ngang qua khu vườn ấy, một cơn gió mạnh bất chợt thổi lên, xô lũy tre ngả nghiêng trong gió, quăng một vật gì đó xuống đất. Tôi lại gần xem xét. Thì ra là một chú chim sẻ non, không biết bị cành tre kẹp hay sao đó, mà nội tạng vỡ cả ra ngoài. Thật đáng thương. Nếu như là bây giờ, chắc tôi sẽ tụng chú Đại Bi, hay hộ niệm cầu Vãng sinh cho chú chim non, nhưng khi ấy, tôi chưa biết đến những pháp môn vi diệu đó. Việc duy nhất tôi có thể làm, là niệm “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ! …” Được vài câu, tôi khấn như thế này: “Con nguyện đem phước của con chuyển cho chú chim này được tái sinh vào một nơi an lành tốt đẹp” Xá ba lần rồi đem chú chim ấy đi chôn, và không lưu tâm đến chuyện này nữa, vì khi ấy, tôi đang dồn hết tâm ý vào thi cử. Tối đó, tôi liền có một giấc mơ rất đặc biệt. Tôi thấy mình ở trong một khu vườn cực kì đẹp đẽ, nguy nga, chắc hẳn đó không phải là cảnh của thế gian này, vì vẻ đẹp ở đây vượt xa những gì tôi từng thấy. Một con chim vô cùng tuyệt mỹ bay tới gần chỗ tôi, nó lộng lẫy, đẹp đến mức văn phong hạn hẹp của tôi không có cách gì để miêu tả. Chỉ biết chắc chắn rằng trần đời không thể nào có một con chim đẹp đến thế, đây hẳn phải là một con chim tiên hay đại loại như vậy. Nó tiến lại gần tôi, cúi đầu chào tôi ba cái, rồi bay đi. Khi tỉnh dậy, tôi hiểu ra rằng, con chim mà tôi chôn hồi chiều đã được tái sinh vào cõi lành đúng như lời nguyện. Và nó đã quay lại báo mộng để cảm ơn tôi. Không biết có liên quan gì không, nhưng kì thi ấy tôi thi đậu. Và rồi vài năm sau, tôi trở thành một giáo viên như hiện giờ, đúng như nguyện vọng mà tôi ấp ủ từ lâu. Thỉnh thoảng nhớ lại chuyện này, tôi thấy một niềm vui nhè nhẹ, một sự bình an trong tâm hồn từ lâu đã chai sạn với dòng đời nghiệt ngã này. __________________ Về hướng ngược lại, tôi còn một câu chuyện khác liên quan đến một chú chó. Trước đó mấy năm, tôi đi nghĩa vụ quân sự tại Cam Ranh, trong đơn vị Đại đội Trinh sát của tôi có nuôi mấy con chó. Trong số đó có một con rất tinh khôn, bình thường cho nó ăn thì được chứ không bắt nó lại vuốt ve như các con khác. Cuối năm anh em trong đơn vị muốn bắt nó đem bán để lấy tiền làm việc khác, nhưng không sao gọi nó lại gần được. Mấy người thử thắt thòng lọng để chụp cổ nó, nhưng vì không có kĩ thuật nên thòng lòng không điều khiển được, muốn nó thẳng thì nó lại méo. Lúc đó tôi khéo tay nhất, nên tôi cố mày mò cải tiến lại cách thắt thòng lòng, cuối cùng tôi cũng làm được một cái thòng lọng như ý. Cái thòng lọng này làm bằng dây dù chắc chắn, cột một cách khéo léo vào một cây cọc vốn dùng làm cọc buộc màn (mùng), có thể dễ dàng sử dụng. Làm xong rồi tôi giao cho mấy người đồng đội dụ con chó vào phòng ăn cơm, đóng cửa lại. Sau một lúc hì hục với cây thòng lọng cải tiến này, mấy người đồng đội kia cũng bắt được con chó, cho vào bao đem đi bán vào quán thịt chó. Số phận của nó coi như được định đoạt. Câu chuyện dần trôi vào quên lãng, không còn lưu lại gì trong trí nhớ của tôi. Cho đến gần đây, cuối năm 2016, tôi nằm mơ một giấc mơ kì lạ. Trong mơ, tôi thấy cho chó ấy tìm đến chỗ tôi, trên cổ nó còn lủng lẳng cái thòng lọng bằng dây dù năm xưa tôi đã cột, còn nguyên cả cái cây cột màn, mọi thứ đều rất rõ ràng, sống động chứ không mờ ảo như những giấc mơ khác. Con chó nhìn tôi, ánh mắt lóe lên tia giận dữ, căm hận… Rồi nhanh như chớp, nó lao vào cắn một phát vào vai trái tôi. Tôi tỉnh dậy, bàng hoàng vì giấc mơ, điều đặc biệt là vai trái của tôi thấy đau buốt, phải đến 2 ngày mới hết. Biết là con chó đến đòi nợ, tôi liền thành tâm lạy Phật sám hối, rồi tụng 49 lần Bát Nhã Tâm Kinh hồi hướng cho nó, mong nó sớm được siêu sinh cõi lành. Và cho đến nay, tôi không còn thấy nó về đòi mạng nữa.

BẠN SẼ LÀM GÌ NẾU BÁC SĨ NÓI CON BẠN SINH RA CHẮC CHẮN BỊ DỊ TẬT ?

Chị Huệ, pháp danh Diệu Ân, nhà ở Biên Hòa, Đồng Nai đã kể cho tôi nghe câu chuyện nhiệm mầu Phật pháp của bạn chị như thế này:
Vợ chồng Liên là bạn thân của Diệu Ân, theo đạo Công giáo, họ đã có một bé trai. Ngày nọ, Liên thấy mình càng ngày mập ra, vòng bụng cứ to dần lên, đầu óc bần thần hay choáng. Chị Huệ, pháp danh Diệu Ân, nhà ở Biên Hòa, Đồng Nai đã kể cho tôi nghe câu chuyện nhiệm mầu Phật pháp của bạn chị như thế này:

Vợ chồng Liên là bạn thân của Diệu Ân, theo đạo Công giáo, họ đã có một bé trai. Ngày nọ, Liên thấy mình càng ngày mập ra, vòng bụng cứ to dần lên, đầu óc bần thần hay choáng. Liên đi khám bệnh thì bác sĩ cho uống thuốc tâm thần.

Tình hình vẫn không thuyên giảm nên có một hôm không chịu nổi nữa cô lên bệnh viện tỉnh để kiểm tra tổng quá.Vì Liên hay buồn nôn nên bác sĩ cho là bộ tiêu hóa cô có vấn đề. Ông cẩn thận kiểm tra, chẩn khám rất kỹ, cuối cùng phát hiện ra Liên đã có thai bốn tháng. Nghe kể đến đây tôi không kềm được đã ngạc nhiên hỏi lại:

– Lạ vậy, Liên đã từng sinh con, lẽ nào bản thân có thai mà lại không biết?

Diệu Ân cười đáp:

– Vậy mới có chuyện đáng nói! Bởi vì chu kỳ phụ nữ của Liên vẫn xảy ra đều đặn hàng tháng nên Liên không hề nghĩ rằng mình có thai. Khi phát hiện ra thì thai nhi đã được bốn tháng rồi, không thể phá. Nhưng do ảnh hưởng của thuốc an thần Liên đã dùng trong đợt điều trị vừa rồi nên đã ảnh hưởng đến não của thai nhi, khiến cho em bé sẽ bị dị tật, không bình thường. Liên rất lo lắng, nhất là khi đi siêu âm, bác sĩ quả quyết chắc chắn đứa bé sinh ra sẽ bị dị dạng.

Đi siêu âm, bác sĩ quả quyết chắc chắn đứa bé sinh ra sẽ bị dị dạng. ( Ảnh minh họa )

Cô buồn lắm, quyết định sẽ bỏ thai. Cô nói với Diệu Ân:

– Nhà em kinh tế đã không khá, sinh thêm một đứa nữa lấy gì mà nuôi? Đã vậy đứa bé còn mang dị tật, có khả năng bị liệt rất là cao. Làm sao em dám giữ em bé lại chứ!Diệu Ân vốn là một Phật tử thuần thành, có niềm tin rất sâu với Phật pháp, nên đã trấn an bạn:

– Em cứ niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm và lễ bái Đức Phật Dược Sư cầu cho bé đi. Bồ-tát Quán Âm rất linh, còn Phật Dược Sư vốn từ bi, có đại nguyện chữa lành bệnh cho chúng sinh. Không những vậy, ai chịu tụng niệm, lễ bái Ngài thì đời sau sẽ có dung nhan xinh đẹp. Em cứ làm như lời chị khuyên đi, an tâm sẽ sinh con ra bình thường. Nếu em đã làm y như lời chị dặn mà cháu bé sinh ra bị dị tật, chị hứa sẽ nuôi dùm cho em!

Nghe vậy Liên yên lòng. Anh chồng đạo Công giáo, nhưng thấy tình trạng thai nhi như vậy đành để vợ tùy ý thực hiện theo lời của Diệu Ân khuyên thử.

Thế là suốt năm tháng ròng rã, Liên ngày đêm khẩn thiết niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát và lễ sám Phật Dược Sư.Kết quả, tới ngày khai hoa nở nhụy, một bé trai khôi ngô tuấn tú chào đời. Chẳng những dung mạo xinh đẹp, mà mỗi ngày một lớn, bé rất thông minh, vượt xa hẳn anh mình về sắc vóc lẫn trí tuệ.

Chồng Liên sau biến cố này, anh liền đi thỉnh tượng Phật Dược Sư về thờ. Còn Liên thì luôn bảo với thằng bé:

– Này con, con phải biết ơn má Huệ, nhờ có má Huệ mà con mới được sinh ra đó nhé!

(Trích từ Nhân quả báo ứng – Hạnh Đoan dịch)

——————————————–

Lạm bàn ( Diệu Âm Lệ Hiếu ):

Lẽ ra thai nhi lần này chính thực là oan gia, trái chủ, quyết lòng tới đòi nợ hai vợ chồng cô Liên ( bởi vì cô Liên đến chu kỳ phụ nữ vẫn bình thường nên thụ thai mà không biết). Cũng chính nhờ người bạn Diệu Ân khuyên niệm Quan Âm, lạy Phật sám hối giúp tiêu nghiệp, hóa giải oan gia giữa đứa bé và hai vợ chồng cô Liên. Việc này rất nhiệm mầu chỉ có những người trong cuộc đã từng trải qua mới cảm nhận được sâu sắc. Có người thai nhi bị phán bệnh Down cũng nhờ ăn chay niệm Phật sám hối hồi hướng cho thai nhi, kết quả sinh ra em bé vô cùng xinh xắn, khỏe mạnh. Quả là chỉ có sám hối, ăn chay, niệm Phật lạy Phật mới giúp giải trừ nghiệp chướng giữa cha mẹ và thai nhi mà thôi. Bài học bạn cần ghi nhớ!

CỨU CHA BẰNG CHÚ ĐẠI BI và NIỆM PHẬT.

Ba tôi là tay làm cựa gà có tiếng ở quận 6 (TP.HCM) và cũng là tay sát cá nhất, nhì ở các hồ câu cá giải trí. Cựa gà là một cái móc kim loại hình giống cái cựa gà nhưng dài và sắc bén hơn nhiều. Gà được lắp cựa sắt vào mà “chiến” thì xem như tử chiến, vì những cú đá với cựa sắt sẽ đâm sâu vào đối thủ những nhát đâm chí mạng. Ba tôi làm nghề này đã 20 năm rồi, thu nhập cao lắm, những chú gà “chết trận” vì những cái cựa sắt của ba tôi chắc nhiều không đếm nổi. Ông bà ta thường nói ” Nghề nào sinh nghiệp nấy ” quả thật không sai. Mấy năm gần đây, mỗi khuya cứ từ một giờ, ba giờ là ba tôi lại kêu lên từng hồi như gà gáy. Hai con mắt tuy nhắm lại nhưng đảo qua đảo lại như mắt gà đá vậy. Ba kể, trong giấc ngủ ba thường xuyên thấy rất nhiều người đàn ông lực lưỡng, to khỏe chân đầy máu đến đòi mạng ba, rồi mê man nói nhảm. Thỉnh thoảng ba còn giẫy đành đạch như cá mắc cạn, tôi có lay người ba kêu ba dậy nhưng không được. Thật sự tôi rất sợ ba bị mấy vong hồn gà và cá báo oán, nhưng không biết làm gì ngoài ở bên cạnh ba mà tha thiết niệm “Nam Mô A Di Đà Phật “. Mỗi lần tôi niệm Phật như thế thì ba ngủ yên trở lại, hoặc còn tỉnh dậy và hỏi tôi: ” Nãy giờ có thấy ai không? ” Mà tránh được một lần chứ sao tránh được suốt đời, lần đó ba tôi trúng thương hàn, sốt mê man phải đưa đi bệnh viện! Lúc đưa ba lên xe cấp cứu, tôi thấy có một người đàn ông đô con, mặt mày hung dữ, chân đầy máu rượt theo chiếc xe như muốn giết người vậy. Tôi đưa tay chỉ cho nội coi đó là ai, thì nội thở dài, nói tôi bị hoa mắt. Thật ra thì nội biết đó là vong hồn gà trống đến đòi mạng rồi, nhưng nội không muốn tôi sợ nên nói thế. Sở dĩ có vong hồn gà đòi mạng, vì theo lệ là những con gà nào đá thua đều bị lấy làm thịt, chân đầy máu là vì chúng bị cựa đâm vào nhau, dù trực tiếp hay gián tiếp đều là hại chết chúng. Thế nên sau khi chết, chúng oán hận ba tôi. Có lần tôi ngủ mơ thấy một người đàn bà miệng đầy máu có vết thương to nhỏ dẫn theo cả trăm đứa con lí nhí, tôi nhờ nội giải mộng, thì mới biết đó là một trong những con cá sắp đẻ mà ba câu được. Vì oán hận ba tôi đã không để nó sinh con, mà khiến cả mẹ và chục ngàn đứa con đều chết, vậy nên chúng quyết đến báo thù. Chắc thế nên đôi khi ba tôi giẫy đành đạch như cá mắc cạn. Sau lần đó, tôi bắt đầu niệm Chú Đại Bi hằng đêm hồi hướng công đức cho ba, cầu cho ba giảm bớt nghiệp chướng, và cũng để hồi hướng cho những vong hồn oan gia trái chủ đang oán hận ba được siêu thoát. Mỗi đêm tôi tụng năm biến và niệm danh Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát đến khi ngủ mới thôi. Thật kì diệu, chỉ trong hai tuần ngắn ngủi thành tâm niệm Phật trì chú như thế, thì ba tôi đã ngủ ngon giấc, không bị mấy vong hồn oán hận theo báo thù nữa, tôi tin ba tôi đã giảm bớt nghiệp rồi. Đến nay đã hơn hai tháng, tôi vẫn đều đều tụng Chú Đại Bi, tôi đã thuộc lòng và đọc ro ro không cần nhìn sách nữa. Chỉ mới gần đây thôi, tôi mơ thấy rất nhiều người đàn ông, đàn bà đến cười với tôi rồi biến mất, tôi tin những vong hồn đó đã được siêu thoát. Nhưng tôi sẽ không dừng ở đó mà vẫn tiếp tục cầu an cho gia đình, tôi tin tưởng vào sự màu nhiệm của Phật pháp.

CẦU CON ĐƯỢC LINH ỨNG NHỜ CHÚ ĐẠI BI

Đây là một câu chuyện hoàn toàn chân thực, sau khi bạn đọc xong, bạn không thể không tin đó là sự thực. Chuyện bắt đầu từ mười năm trước, tức năm 1997, lúc đó tôi đã kết hôn được vài năm, trải qua biết bao gian nan khổ cực mới an cư lạc nghiệp. Tôi bắt đầu lên kế hoạch sinh con, qua vài tháng nhưng không có thai, lúc đó tôi bắt đầu lo lắng. Tôi đi kiểm tra chi tiết tại bệnh viện chuyên khoa, nhưng tất cả đều bình thường! Bác sĩ cũng kê cho tôi một ít thuốc uống, nhưng qua mấy tháng cũng không có kết quả gì. Tôi cũng đi kiểm tra tại bệnh viên chuyên khoa mấy lần, nhưng kết quả vẫn vậy. Bản thân tôi là một nhân viên làm trong bệnh viện, đối với y học cũng có hiểu biết nhất định. Nhưng không tài nào hiểu được vì sao tôi không thể có thai. Điều này làm tôi rất hoang mang, lo lắng.
Điều này làm tôi rất hoang mang, lo lắng. ( Ảnh minh họa )
Qua bạn bè và người thân giới thiệu, tôi chuyển hướng sang phối hợp điều trị đông y, thuốc sắc đông y không biết tôi uống bao nhiêu thang nữa. Cứ như vậy lại qua nửa năm, nhưng cũng không có dấu hiệu nào xuất hiện, tôi thực sự thất vọng và buồn chán. Bạn bè và người nhà thấy vậy khuyên tôi đi hỏi thần linh. Nói ra thật xấu hổ, bản thân vốn là một Phật tử, nhưng cũng chỉ là một phàm phu tục tử, không có gì đặc biệt hơn người khác cả, đứng trước tuyệt vọng, còn cái gì có thể thử được thì đều làm, chỉ mong có được đứa con mà thôi. Trong hơn nửa năm, tôi cả thảy mời thần linh ba lần, cũng dựa theo cách của họ hướng dẫn, nhưng cũng không có hiệu quả. Tây y, đông y, thần linh đều đã thử rồi, đi đi lại lại thấm thoát đã gần hai năm, thực sự số phận an bài, có thì ắt sẽ có, không có thì muốn cũng không được, nhưng tôi thực sự không cam tâm. Trong tình cảnh không còn cách nào khác, tôi quyết định dùng một trong những pháp môn mà tôi tu tập nhiều năm, là pháp môn phổ biến của các Phật tử, đó là trì niệm Chú Đại Bi và danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. Sau khi tắm rửa, mặc quần áo chỉnh tề, dựa theo nghi quỹ sám hối chuẩn bị : hương, hoa, nến, quả, trà, sau đó phát nguyện. Đệ tử tên là xxx, cầu xin Quan Thế Âm Bồ Tát từ bi xót thương, ban cho đứa con trai, để tận hiếu đạo, đệ tử nguyện mỗi ngày trì tụng Chú Đại Bi 20 lần, dù mưa dù gió, thời hạn là một năm. Cố gắng giữ Phật quy ngũ giới, hôm nay nguyện hành thọ, hộ trì Phật Pháp “ phóng sinh, bố thí, tán trợ Phật pháp và kinh thư ”, không dám vi phạm. Tôi phát nguyện từ tháng 9 năm đó, đến cuối năm sau vẫn không có, tôi bắt đầu hoài nghi có phải tôi làm không đúng pháp, hay là mệnh đã ấn định, trong lòng quả thực thất vọng không thể hình dung được. Thật không ngờ vài hôm sau sau tôi cảm thấy cơ thể có dấu hiệu khác thường liền đi khám. Sau khi bác sĩ kiểm tra, kết luận tôi có tin vui. Tôi sung sướng muốn òa khóc, Quán Thế Âm Bồ Tát quả thực linh ứng cho tôi một đứa con trai như ý muốn. Một năm sau, tôi lại dựa theo Đại Bi sám hối như nguyện trên, cầu xin một đứa con gái, cũng được như sở nguyện. Hiện nay con trai tôi đã 7 tuổi, con gái 5 tuổi, hai đứa đều rất đáng yêu. Chính nhờ Quan Thế Âm Bồ Tát, nhờ sự linh ứng của Chú Đại Bi mà tôi có được ngày hôm nay. Hôm nay, tôi viết lại chuyện này hoàn thành tâm nguyện và lời hứa với Bồ Tát sẽ mang sự thực này viết lại và kể cho mọi người được biết. Hy vọng có thể giúp được những ai trong hoàn cảnh như tôi tìm được lối thoát cho bản thân mình. Hãy thành tâm, cung kính trì tụng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát và Chú Đại Bi, nhất định sẽ được Ngài cứu giúp! ( Sưu tầm ) Hướng dẫn đọc Chú Đại Bi tiếng Phạn:

NÊN BÁO HIẾU CHA MẸ NHƯ THẾ NÀO?

Trong Lương Hoàng Sám có đoạn: Trong thiên hạ, ân cha mẹ là nặng hơn hết. Thế nên Phật dạy: “Trong thiên hạ, không có ân nào bằng ân cha mẹ”. Trong thời buổi hiện nay, mỗi gia đình chỉ được phép có một hai con, song đến khi con trưởng thành vì công tác mà phải lìa xa cha mẹ hoặc do phải ra nước ngoài kiếm tiền mà đành cách biệt song thân mấy trùng dương. Tôi cảm thấy hành vi này là không hiếu. Trừ phi vì việc công, quốc gia bắt buộc phải đi. Còn không thì dù cha mẹ có cho phép bạn đi xa kiếm tiền, nhưng thực sự trong lòng cũng đang ráng nén đau chịu khổ, vì nghĩ đến hạnh phúc của con mà đành hi sinh ( bởi vây nếu người con mưu cầu hạnh phúc thì phải bao gồm hạnh phúc cho cha mẹ và mình), nếu để cha mẹ sống trong buồn khổ, thì cho dù con có hưởng cuộc sống giàu sang phú qúy thì chẳng thể gọi là hạnh phúc. Người xưa có câu : “Phụ mẫu tại đường bất khả viễn du” (còn cha mẹ ở nhà chẳng nên đi xa)… Bởi đời người vô thường, chúng ta không biết lúc nào cha mẹ cần mình chăm sóc, càng chẳng biết lúc nào song thân ly trần, nếu để cha mẹ sống cô đơn buồn khổ thì e rằng đến lúc chúng ta có thể quay về phụng dưỡng thì song thân đã không còn, lúc đó dù ta có khóc nghẹn ngào, khóc đến mù mắt cũng không thể giảm thiếu được sự quở trách của lương tâm và sẽ phải ân hận suốt đời. Hiếu thuận không phải là chỉ lo cung cấp vật chất tiền bạc, dĩ nhiên ta phải nghĩ đến những nhu cầu cha mẹ cần. Ăn cơm xong thì con dâng trà, thấy tiết trời tốt thì dìu cha mẹ đi dạo, thường chia sẻ những điều thấy biết của mình và thỉnh ý cha mẹ để cho song thân vui vì cảm thấy con đối với mình có sự tôn trọng. Ta thường dâng những món cha mẹ thích ăn ( nhưng không nên sát sinh, hại vật để cung phụng), ta phải hướng dẫn cha mẹ đến với Phật pháp, quy y Tam Bảo, thực hành pháp, tu giác ngộ, để song thân hưởng phúc lâu dài. Nên tận dụng cơ hội lo cho cha mẹ và luôn nhớ rằng sẽ đến lúc mình không còn dịp để báo hiếu nữa. Trong Kinh Đại Thừa Bổn Sinh Tâm Địa Quán giảng rất rõ: Nếu có nam, nữ nào bội ân bất hiếu, khiến cha mẹ phát lời thán oán, tức thì tùy theo đó mà con phải đọa vào địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ… Người thế gian chỉ sợ thiên tai gió bão, nhưng họ không biết sức mạnh của oán niệm phát khởi từ cha mẹ còn mạnh và khủng khiếp hơn nhiều, đến nỗi cả chư Phật, Bồ Tát, chư Tiên cũng không thể cứu hộ. Trong đạo tràng này, nếu như có người bái sám nào ngay từ nhỏ đã mất cha mất mẹ, sớm bị mồ côi, mình lại chưa đắc thiên nhãn, chẳng biết thần thức cha mẹ hiện đang sinh vào đâu. Thì chỉ cần dốc sức in kinh, phóng sinh, làm việc thiện siêu độ, cầu cho cha mẹ. In kinh là giúp cho cha mẹ tăng trưởng trí huệ, phóng sinh trợ tăng phúc tiêu nghiệp, bố thí hành thiện giúp thêm phúc báu… Việc làm này nếu viên mãn rồi, giả như cha mẹ còn ở trong tam ác đạo, thì liền có thể được siêu bạt thoát khổ, sinh vào thiện đạo. Tuy chúng ta chẳng tạo được công đức cỡ vua Lương Võ Đế, nhưng nếu quý vị làm như trên thì song thân quyến thuộc cũng có thể tái sinh vào nhân gian, rồi tuỳ theo phúc điền nhiều it mà được hưởng phúc trong cõi người. Ta phải vì cha mẹ rộng trồng phúc điền, nếu cha mẹ đã sinh vào cõi thiện rồi, thì vẫn có thể giúp cha mẹ tăng thêm phúc báu, an vui trường tho. Kinh Địa Tạng giảng: “Vì người quá cố làm phúc, công đức có bảy phần thì người chết hưởng được một”. Phật nói: “ Tất cả duy tâm tạo”, phải biết người tự phát tâm tu có công đức rất lớn. Người trồng phúc tu huệ, cha mẹ bảy đời đều được thọ ích. Bảy đời: Là kể từ cha mẹ đời này trở về trước, đếm tính đến bảy đời. Nếu trong số này có đời cha mẹ nào bị đọa trong cõi súc sinh thì sẽ được siêu độ, còn nếu đã ở nhân gian hay lên trời thì cũng được tăng thêm phúc báu. (Trích “Nhân quả phụ giải Lương Hoàng Sám 2 – Quả Khanh”)

CHUYỆN LI KỲ VỀ CHÚ CHÓ NGHE KINH.

( Loạt bài về những thành viên trong nhón ” Luân hồi & nhân quả”) Tôi tên Thoại, nick facebook là Thoai Vu Duy Thoai, đây là một câu chuyện rất lạ lùng mà tôi chứng kiến tận mắt. Hôm đó, tôi sang nhà ông chú ( chú tên Vũ Duy Tư, hiện ở xóm 3 thôn Vân Đoài, Nam Hưng, Tiên Lãng, Hài Phòng). Ông có nuôi một con chó đã hơn chục năm, nó già và cũng đã rụng mấy cái răng rồi. Bình thường thấy tôi là nó sủa ầm ĩ, hôm nay thì lại ngồi im nhìn tôi, mặt nó rất buồn. Tôi ngồi xuống xoa đầu và nói với nó: ” Kiếp trước mày là người thân của ṭao hả ? Chắc do vô minh không biết Phật Pháp nên mày phải chịu cảnh súc sinh thế này.”
Tôi ngồi xuống xoa đầu và nói với nó: “Kiếp trước mày là người thân của ṭao hả? ( Ảnh minh họa )
Nói đến đây nó nằm hẳn xuống đất, mình nói tiếp: ” Một người mù chữ thì khổ một kiếp, nhưng một người mù Phật Pháp thì khổ vô lượng kiếp, mày phải nghe tao niệm Phật và niệm theo nha.” Rồi tôi niệm Phật với nó một lúc, sau đó tôi vào nhà hỏi chú Tư về chuyện con chó. Chú bảo ba ngày nữa sẽ thịt nó để liên hoan, tôi nói sơ qua với chú về nhân quả tội phước, nhưng chú không chịu tin. Trời xui đất khiến thế nào, đêm đấy chú ấy mơ một giấc mơ kì lạ về con chó chú nuôi bao năm nay, trong giấc mơ, chú chó kiếp trước chính là cụ tam đại ( tức ông nội) của chú, do kiếp đó giêt một người phụ nữ mang thai nên giờ đọa làm chó. Hôm sau, chú sang gặp tôi, kể cho tôi nghe và kêu tôi cùng với chú đọc kinh cầu vãng sanh cho chú chó ( nay biết thêm đó là cụ Tam Đại đầu thai). Thế là hai chú cháu thành tâm tụng kinh, còn chú chó thì nằm im nghe. Cứ thế chúng tôi tụng khoảng bảy ngày, lạ là trong hai ngày cuối, chú chó không ăn uống gì cả, chỉ nằm nghe kinh thôi. Đến buổi cuối cùng, tôi tụng Kinh Địa Tạng̣̣ được khỏang một tiếng, chú chó nằm im nghe và nhẹ nhàng ra đi lúc nào mà tôi chẳng hay biết. Một lát tôi sờ vào thì mới hay chú chó đã mãn kiếp rồi. Cầu cho chú được thác sinh nơi cõi lành, đời đời kiếp kiếp sau luôn hộ trì Tam Bảo, sớm thóat khỏi luân hồi đau khổ này.

GIẢI TRỪ VONG NHẬP.

Bà Trần Thị Tuyết Hạnh, năm mươi bảy tuổi, bị lâm bệnh ngay khi vừa nhập trại tỵ nạn ở đảo Phi Luật Tân. Bác sĩ chiếu khám cho bà nhiều lần và đưa bà ra khỏi trại để chụp hình nữa mà vẫn không tìm ra căn nguyên bệnh lý. Bà Hạnh đau rất kỳ cục, bà không chịu ăn uống và không ngủ trên cả tháng mà sức vóc không hề hấn gì. Mặt bà đỏ gay, con mắt láo liên và về chiều thì mí mắt sụp xuống, buồn rầu khóc thảm, lảm nhảm kể lể những chuyện đau buồn. Vì lý do mắc bệnh kỳ dị nên ban điều hành trại thương lượng cơ quan lo hồ sơ định cư cấp tốc cho gia đình bà Hạnh nhập cảnh Hoa Kỳ sớm để có thể đủ điều kiện thuốc thang trị liệu bệnh tình cho bà. Khi đến vùng San Francisco, người nhà cấp đưa bà Hạnh đến nhà thương trị liệu, song các bác sĩ giỏi đều bó tay chứng bệnh ” không chịu ăn, không chịu uống”, mà vẫn sống như thường của bà Hạnh. Hai tháng trôi qua, bệnh tình không thuyên giảm, người nhà vẫn tiếp tục đưa bà Hạnh đi khám bác sỉ cho có lệ và để ai nấy yên lòng. Một hôm có cụ Lành đưa đường, chồng bà Hạnh đem vợ đến chùa Từ Quang gặp tôi để nhờ giúp đỡ. Mới nhìn qua nét mặt, khí sắc của bà Hạnh là tôi biết ngay bà bị âm khí ám nhập. Tôi đưa ngay bà lên chánh điện để tra vấn cái vong linh đang nhập trong người bà. Bà Hạnh nhìn tôi với vẻ sợ hãi và run cầm cập như đang ở giữa băng tuyết. Bà cúi đầu khóc thút thít, nghẹn ngào và biểu lộ sự tức tối, uất ức. Tôi gạn hỏi hoài mà vong nhập kia không chịu khai báo một chút tung tích gì. Tôi bèn gọi các chú trong chùa trợ niệm và lấy chiếc mõ nhỏ đặt ngay trên đầu bà Hạnh tụng chú Ðại Bi thì bà Hạnh nhắm nghiền hai mắt, tóc trên đầu bà bay ngược như một cơn bão thổi mạnh, hai tay bà chấp lại như một búp sen và miệng the thé nói một giọng con gái độ mười chín, hai mươi tuổi. Tiếng người con gái này nói mình đã chết trên biển cùng mẹ ruột và nhiều người vì gặp bão, nên tàu chìm. Tôi hỏi các chi tiết khác thì vong linh nói mà phát âm không rõ, chỉ thốt lên the thé kêu đói, than lạnh rồi vật lăn giữa điện Phật bất tỉnh. Tôi và những người có mặt thấy thế xúc động quá, liền khai Kinh Phổ Môn tụng cầu an cho bà Hạnh và liên tục niệm danh hiệu Ðức Quan Thế Âm Bồ Tát; đồng lúc tụng niệm tôi lấy nước thờ trên bàn Phật và đọc thần chú Quán Âm, Tâm Kinh Bát Nhã rồi đem cho bà Hạnh uống. Khi bà Hạnh vừa uống xong ly nước thì liền tỉnh dậy và bà vội vàng nhảy tới bàn thờ vong, đưa tay bốc thức ăn bỏ vào miệng ngồm ngoàm như kẻ bị đói lâu ngày. Ăn đã đời, bà quơ tất cả đồ cúng nào là chuối, bánh, trái cây, khoai, bắp… trên bàn thờ cô hồn bỏ vào trong túi áo, lận trong lưng quần và trải tà áo tràng mà bà đang mặc gói tất cả thức ăn, chui vào trong góc bàn thờ linh và tiếp tục ăn như ma quỷ. Bà còn khóc và la lên là có nhiều người đang dành ăn và đánh tháo bà. Thấy hình ảnh kỳ quái của bà Hạnh, ai cũng sợ và nhiều người bỏ chạy xuống lầu. Tôi bình tĩnh niệm Chú Chuẩn Ðề và dùng lời nhỏ nhẹ, ngọt ngào kêu bà Hạnh ra ngoài và quỳ giữa chánh điện. Tôi lại tiếp tục “vấn cung” vong linh đang nhập vào trong bà Hạnh một lần nữa. Lúc này, vong linh mới nói rõ tên tuổi, ngày chết là nhu cầu muốn được nghe kinh siêu độ. Tôi liền viết bài vị thờ ngay lúc ấy, kêu các vị dưới bếp nấu cơm chay cúng vong và tôi khai Kinh Di Ðà cầu siêu hôm đó, có gần một trăm Tăng Ni và Phật tử, vì hôm đó là nhằm lễ sám hối Bố Tát gần đến mùa Vu Lan rằm tháng bảy. Sau khi tụng Kinh Di Ðà, niệm danh hiệu Phật, đến chổ quy y linh ký tự, thì bà Hạnh ngã xuống đất bất tỉnh. Ðộ chừng mười phút sau, bà Hạnh tỉnh dậy và trở lại người bình thường như mình đã ngủ một giấc thật dài. Gia đình bà Hạnh và mọi người hôm đó đều cảm kích và vô cùng mừng rỡ khi thấy bà Hạnh bình phục. Tôi bảo cụ Ðức Hạnh, cô Thanh Tịnh nấu cháo trắng để bà Hạnh ăn kẻo nhịn đói lâu ngày ăn cơm vào nặng bao tử, và đưa bà vào phòng nghỉ. Ngay tối hôm đó, bà Hạnh đòi về nhà vì thấy đã khỏe hoàn toàn. Sáng hôm sau, tự bà Hạnh và cả nhà đến chùa lễ tạ và xin quy y. Hôm chứng kiến lễ đưa vong linh cô gái Việt Nam chết trên biển ra khỏi người bà Hạnh và ký tự vong linh bất hạnh ấy tại chùa Từ Quang, cụ Tâm Huy chép miệng thành thơ rằng: Pháp Phật nhiệm mầu Cứu người khổ đau Quan Âm linh hiển Hạnh nguyện thâm sâu. Nguồn: Linh Ứng Quán Thế Âm < sưu tầm >

BỊ RẮN CẮN CHO ĐÚNG LỜI THỀ.

( Trích ” Hồi kí của Atoanmt” – tác giả :Atoanmt )

Ở Viêt Nam, tôi có bà Mẹ nuôi nhà gần biển, hôm cô em gái út trong nhà làm đám cưới, lúc tôi đang trên sân khấu đàn hát giúp vui, thì tên đệ tử của tôi, là cháu của cô dâu, khều tôi  xuống gấp. Tôi vội chạy ra sau, thì thấy bà chị thứ ba trong nhà vừa bị rắn Hổ cắn trên mu bàn chân trái, mọi người đang đỡ chị ấy ngồi ở một góc chứ không khiêng vào trong nhà, vì dưới quê đó, họ tin là nếu bị rắn cắn, mà khiêng ngang qua dưới cây đòn giông thì chết ngắc! Không cứu được!

Nghe nói cách nhà khoảng một ki lô mét, có thầy chuyên trị rắn cắn, người nhà đã chạy đi mời thầy đến. Còn tôi vội sai lấy giây, và lưỡi dao lam. Tôi dùng giây cột chặt đùi của chị, để ngăn không cho nọc rắn chạy lên tim, đồng thời, dùng hộp quẹt, đốt lửa sát trùng cái lưỡi dao lam, rồi lấy dao lam đó cắt ngang trên hai đốm chỗ bị rắn cắn. Sở dĩ tôi rọc như vậy, vì thấy máu bầm khô lại trên miệng vết cắn, nên tôi phải cắt để mở vết cắn ra, kế đó, tôi dùng cái ly uống rượi nhỏ, đốt nóng bên trong ly rồi ụp ngay trên hai chỗ dấu răng, để hút nọc. (Vì tôi biết nhà ở xa bệnh viện, nếu đưa đi, tôi nghĩ rằng chị sẽ chết trước khi đến bệnh viện, mà có đến, cũng sẽ nguy khi xếp hàng làm thủ tục nhập viện)! Lúc đó, máu trong chỗ vết cắn, bầm đen, chảy vào cái ly rất ít, chỉ đọng thành một vòng tròn quanh miệng cái ly uống rượu phía bên trong y như một cọng giây thun màu bầm đen nhỏ xíu mà thôi. Thấy vậy, ông anh cả nói tôi đi ra, để anh ấy hút máu nhanh hơn là giác. Nói xong, ông anh xúc một hớp rượu mạnh trong miệng, rồi mới ghé hút máu cho cô em, nhưng khi anh vừa phun ra phì phì được có hai lần, thì ông thầy thuốc rắn đến. Sau khi đã ra giá là phải trả cho ông hai chỉ vàng 24k sau khi hết bệnh! Vừa vào, ông nạt ngay: – Ai biểu mấy người cột cái đùi làm chi, tháo ra đi! Người nhà nghe thầy phán, vội tháo cọng giây mà tôi đã buộc ra. Trong khi thầy lấy một đống lá tươi, lá cỏ nhiều loại ra nhai, xong thầy bóp miệng của chị ba ra và nhét cái mớ thuốc đó vào, mà thầy nhét vào nhiều đến nỗi tôi thấy các lá thuốc và các lá như cỏ xanh đầy tràn cả ra khỏi miệng. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi chứng kiến một thầy trị rắn cắn, nên tôi rất ngạc nhiên và thấy ( chán)! Vì chưa gì ông thầy này đã phạm vào hai lỗi lầm rất nghiêm trọng, có thể làm chết người như chơi. Thứ nhất, là tháo sợi giây mà tôi đã cột để ngăn chặn phần nào nọc rắn chạy lên tim. Thứ hai là người khi bị rắn cắn, nọc rắn công phá, sẽ làm cho đờm tràn lên cuống họng, đã vậy ông ta lại nhét vào một đống lá thuốc, như vậy càng làm cho người bệnh thêm khó thở. Nhìn cách trị bệnh tào lao như vậy, tôi biết là không xong rồi, nên tôi lẳng lặng, vội chạy ra nhà trên, đến trước bàn thờ Phật còn đang có nhang thắp nghi ngút, tôi chắp tay thầm khấn nguyện đại khái như sau: Nam Mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật .v.v… –  Hôm nay là ngày thành hôn của em nuôi của con, con không biết nghiệp chướng nào khiến cho chị ba bị rắn cắn xin cho con lãnh cái nghiệp đó của chị! Con khẩn cầu xin chư Phật từ bi cho con dùng ấn phép ( tôi đã từng học bùa phép trước đó)  để giữ sinh mạng của chị ba lại, và con nguyện sẽ ăn chay một tháng, sám hối cho chị và hồi hướng công đức cho chị! Mới khấn đến đó thì, tôi nghe nhiều tiếng hét xôn xao lẫn tiếng khóc òa lên từ phía sau nhà, tôi vội rút đại ba cây nhang đang cháy trong lư hương ở bàn thờ Phật, đồng thời ngay bên dưới, chỗ vách tường có treo một quyển lịch. Loại mà mỗi ngày xé một tờ, nên tôi xé ra vài tờ lịch đó, rồi chạy vội ra nhà sau, chạm vào vai của ông thầy rắn đang chạy ra! Cả đám đông bà con đang bu quanh kêu khóc, khi họ thấy tôi tay cầm ba cây nhang đang cháy đi lại, tất cả mọi người đều nín bặt, tôi nói: – Bà con ra ngoài hết, cho chị ba dễ thở, còn hai người đang ngồi sau lưng đỡ chị thì ngồi lại! Lúc đó, thằng cháu con của bà chị hai, cũng là đệ tử của tôi, ghé tai tôi nói nhỏ: – Sư phụ! Hồi nãy dì ba trợn mắt lên mà nói mắt bị đui, không nhìn thấy gì cả, sau đó cổ kêu ọc ọc vài cái như nghẹt thở, rồi xỉu luôn, còn ông thầy rắn thì nói: “Kêu tôi tới trễ quá rồi, tôi chịu thua, chết tới nơi rồi, kiếm thầy khác đi”! Nói xong ổng chạy mất, trong khi cả vùng này lại chỉ có mình ổng là thầy rắn mà thôi. Tôi khẽ gật đầu, tiến lại thấy chị ba ngồi dựa lưng vào hai người phía sau, mắt mở trợn trắng bất tỉnh, mà miệng vẫn còn đầy lá cỏ lú ra. Tôi hít một hơi dài, thầm khấn, niệm chú và dùng nhang vẽ chữ phép trị rắn cắn lên trên vết thương ba lần, xong lấy tờ lịch đắp lên, vỗ tay lên trên tờ lịch một cái. Chỉ có thế mà chị ba bỗng hộc lên một tiếng lớn, khiến các lá thuốc cỏ bay ra, và chị nhìn tôi, ánh mắt có thần lại ngay! Chị đứng phắt dậy, quay ra sau khạc các lá thuốc còn lại ra, xong chị nói giọng tỉnh bơ: – Phải hồi nãy em khoán cho phị phải hông? Nên bây giờ chị thấy khỏe liền rồi Tôi thì sững sờ trước kết quả kỳ diệu của chữ phép, tôi không ngờ chỉ trong tích tắc mà người bệnh có thể phục hồi nhanh như vậy. Vì biểu hiện chị bị ( đui mắt), nghẹn đờm ở cổ, ngất xỉu là nọc rắn đã vào tim, coi như mười phần chết chín phần. Và rồi, trong lòng tôi dâng lên một nỗi xúc động cảm phục oai lực của Phật Pháp vô cùng. Nên tôi khoan khoái cười hì hì, cùng với đám đệ tử đi ra ngoài trước sân, trở lại ngồi vào bàn tiệc cưới nhậu tiếp! Vậy mà ngay sau đó, chị ba tiếp tục lo nấu nướng làm bếp tự nhiên, sang ngày hôm sau chị hoàn toàn bình thường như chưa từng bị rắn cắn, trong khi ông anh, mặc dù đã ngậm rượu sát trùng trước trong miệng, và cũng chỉ hút chỗ rắn cắn rồi phun ra ngay, vậy mà ông lại bị chóng mặt suốt ba ngày! Sau đó, tôi mới được kể là có lần, trong nhà hai chị em cãi nhau chị ba đã thề độc ý như sau: – Tao thề là tao sẽ không giúp mày nữa, kể cả đám cưới của mày! Tao mà giúp mày thì cho rắn hổ cắn tao đi! Lời thề trong lúc giận dỗi đã thành sự thật! Thế nên, bạn chớ bao giờ nghĩ rằng muốn thề thế nào thì thề, vì lời nói gió bay nhé. Kì thực, lời nói thì gió bay thật, nhưng nghiệp quả của câu thề thì không có bay đi đâu, đủ nhân, đủ duyên, vài năm, vài kiếp nó sẽ thành hiện thực. Còn tôi, vì trong lúc kích động trước cảnh sắp chết của bà chị nuôi, mà tôi đã khấn xin lãnh nghiệp cho chị. Nên sau đó tuy tôi ăn chay một tháng, nhưng tôi vẫn bị xui xẻo liên tục suốt ba tháng liền đó các bạn… ( Atoanmt – Việt kiều )

BỊ BỆNH 10 HƠN NĂM KHÔNG NGỦ, TỤNG KINH LẠY PHẬT MỘT NGÀY LIỀN KHỎI.

Mấy ngày gần đây, người dân thôn Lạc Sơn ( xã Phú Sơn, huyện Lâm Hà, tinh Lâm Đồng) bàn tán xôn xao về việc chị Tạ Thị Xuân Dung sinh năm 1967, đột nhiên chữa khỏi bệnh mất ngủ hơn 10 năm bằng cách tụng kinh, niệm Phật. Với vẻ mặt đầy ngạc nhiên xen lẫn hoài nghi, bà Nguyễn Ngọc Diệu 54 tuổi, ngụ thôn Lạc Sơn cho biết: – Tôi không thể tin nổi, không biết có thật không nữa. Mới tháng rồi, tôi còn bắt gặp chị Dung nửa đêm đi lang thang ngoài đường lớn. Bỗng nhiên, mọi người kháo nhau chị ấy chữa khỏi bệnh mất ngủ và sức khỏe còn tốt hơn trước, ngủ sâu hơn. Đặc biệt, chị Dung đi đâu cũng bảo chữa khỏi bệnh nhờ chú tâm tụng kinh, niệm Phật và nguyện ăn chay trường.
Khỏi bệnh nhờ chú tâm tụng kinh, niệm Phật và nguyện ăn chay trường. ( Ảnh minh họa )
Nhà vợ chồng chị Dung khá khang trang, nằm dưới một con dốc cách ven đèo Phú Sơn. Anh Nguyễn Xuân Hải sinh năm 1966, ngụ thôn Lạc Sơn, xã Phú Sơn, làm tài xế lái xe khách đường dài, chấp nhận gánh hết việc nhà thay cho người vợ mắc chứng mất ngủ kỳ lạ. Anh Hải cho biết: – Thời gian đầu mắc bệnh, vợ tôi thấy bực bội trong cơ thể, dễ nóng giận. Cô ấy lao vào làm việc quần guật, từ cuốc đất, làm cỏ, vác gạo đến quét dọn, rửa chén… Cô ấy làm đến độ cơ thể kiệt sức, mệt mỏi mà giấc ngủ vẫn không tìm đến. Làm việc, đi lại quá nhiều, vợ tôi mắc thêm bệnh thoái hóa cột sống, sức khỏe không còn tốt. Thế nên, nhiều việc tôi phải làm thay cho vợ. Thương vợ bất hạnh mắc phải căn bệnh kỳ lạ, tôi không dám nghĩ đến chuyện gì khác ngoài chí thú làm việc. Chị Dung tay cầm cuốn Kinh Lương Hoàng Sám, sắc mặt hồng hào, hồ hởi chia sẻ: – Tôi không biết phải diễn tả như thế nào về sự nhiệm mầu này. Có lẽ, từ ” vi diệu” mới nói được hết sự thực tâm ngưỡng vọng của tôi đối với Phật pháp. Mới bảy ngày trước, tôi còn sống vật vờ, hoảng loạn như một bà điên của thôn Lạc Sơn, vậy mà bây giờ tôi đã tìm lại được giấc ngủ của mình chỉ nhờ vào lòng hướng thiện, biết sám hối tội lỗi. Chị Dung bị mắc chứng bệnh mất ngủ vào tháng 9 năm 2002 (âm lịch): “Tự nhiên, đêm đó, tôi không ngủ được, trằn trọc nguyên một đêm. Những ngày kế tiếp, dù đêm hay ngày, tôi muốn được ngủ khoảng 15 phút cũng không thể nhắm mắt lại. Chồng tôi đưa đi khám ở bệnh viện Lâm Hà ở thị trấn Đình Văn, bệnh viện Hoàn Mỹ ở Đà Lạt. Nhưng các bác sĩ đều khẳng định tôi không bị bệnh, cấp cho tôi một số thuốc bổ rồi cho về.
Tôi muốn được ngủ khoảng 15 phút cũng không thể nhắm mắt lại. ( Ảnh minh họa )
Về nhà, chị Dung thay đổi tính nết, trở nên cộc tính, hung dữ. Anh Hải khẳng định: – Từ lúc mắc chứng mất ngủ, vợ tôi cực kỳ hung dữ. Tôi làm gì trái ý, đặt cái ly không đúng cách cũng bị vợ quát tháo om sòm. Biết vợ bị ức chế, tôi cố nhịn cho qua chuyện nhưng mức độ hung hăng của vợ ngày càng gia tăng. Có lần, Dung đang chế biến thức ăn, nghe tôi nói chuyện không hài lòng, liền lấy dao phóng về phía tôi. May mà tôi né kịp, không thì đã chết hoặc bị thương dưới mũi dao của vợ. Hồi nhỏ, hai đứa con cũng sợ vợ tôi kinh khủng. Thấy mẹ về, tụi nhỏ liền kiếm chỗ tránh mặt, đi đứng cũng thật nhẹ nhàng để không làm phiền mẹ nằm nghỉ. Lớn lên, mấy đứa nhỏ hiểu chuyện hơn nên không xa lánh nữa mà quay sang tìm thuốc chữa bệnh cho mẹ . Những đêm không ngủ cứ kéo dài, không còn tính được bằng ngày mà chuyển qua thành tháng, thành năm. Thấm thoát đã hơn 10 năm, chị Dung chưa đêm nào chợp mắt dẫu người mệt lả, uất ức làm đầu chị đau như bị đóng đinh. Hễ không ngủ, chị lại lầm lũi một mình ra đường lớn đi khắp thôn cho khuây khỏa đầu óc. Chị đi bộ cả đêm mà không sợ ma quỷ, hay cướp bóc đe dọa mạng sống. Nếu không nghĩ đến con cái còn nhỏ, lo chồng thân gà trống không thể nuôi dạy con, chị đã tìm đến cái chết để giải thoát căn bệnh oan nghiệt, dày vò cơ thể mình. ĂN CHAY TRƯỜNG VÀ LẠY PHẬT 600 LẦN MỘT NGÀY. Những đêm lạnh, chị Dung âm thầm đến các cổng chùa, đứng trước tượng Phật Quan Âm cầu xin để được khỏi bệnh. Nhưng mọi lời khẩn cầu đều không thành hiện thực, chị tiếp tục chìm trong chuỗi ngày tăm tối khi giấc ngủ bình yên vẫn chưa tìm về. Có hôm đã hai, ba giờ sáng, tôi vẫn lang thang ngoài đường, thấy có đôi vợ chồng bị hư xe, đang loay hoay sửa trên đèo vắng. Tôi đến gần ngỏ ý kêu họ về nhà mình để lấy dụng cụ sửa xe. Nhưng họ tưởng tôi không phải người, không ai bảo ai cứ im thin thít. Họ chỉ tin tôi là người khi tôi nổi điên, dậm chân bình bịch xuống nền đường vắng. Không ngủ được, tôi đâm ra chán ăn, miệng lúc nào cũng cảm giác đắng nghét, nhìn thấy thức ăn chỉ muốn đổ đi. Chồng bưng cơm lên tới nơi cho ăn tôi quát nạt bắt anh đem đổ. Những lúc như thế, tôi vô cùng hoang mang và chỉ muốn tìm đến cái chết. Thấy vợ bệnh, anh Hải thường xuyên đi chùa làm công quả, để mong chút việc tốt của mình có thể giúp vợ nhanh chóng trở lại bình thường. Đằng đẵng hơn chục năm, hai vợ chồng sống trong cảnh hoang mang, anh Hải thì lo vợ ngày càng dữ dằn, còn chị Dung cũng đau lòng nghĩ đến cảnh mình trở nên điên loạn. Khoảng đầu tháng 9 năm 2013 “ âm lịch”, anh Hải thực lòng đến thuật lại chứng mất ngủ kỳ lạ của vợ để trụ trì chùa Bửu Sơn tìm cách hóa giải. Anh Hải cho biết: – Tôi làm công quả nhiều năm trong chùa Bửu Sơn, cũng nghe danh trụ trì Thích Minh Châu có đạo hạnh hơn người. Thế nên, tôi mạn phép đến thưa bệnh của vợ cho trụ trì nghe qua. Tôi kể cho người nghe những biểu hiện kỳ lạ của vợ mà thuốc thang, cây lá, bài thuốc nào cũng không trị được. Thầy buồn rầu bảo tôi kêu vợ lên chùa cho nhập thất ngày ngày tụng kinh, niệm Phật xem có thay đổi được hay không. Nghe lời trụ trì chùa Bửu Sơn, anh Hải dẫn vợ lên chùa làm lễ nhập thất vào ngày 9 tháng 9 năm 2013 “ âm lịch”. Suốt từ ngày đó, cứ ba giờ sáng, chị Dung tắm rửa sạch sẽ, mặc áo phật tử đến thất cùng chị Hoa Phúc, một phật tử ở TP.HCM lên chùa Bửu Sơn để nhập thất. 7 giờ sáng, chị được ăn điểm tâm với cháo trắng rồi lại tiếp tục lạy Phật và tụng Kinh Lương Hoàng Sám, Diệu Pháp Liên Hoa. Ngay ngày đầu tiên, khi đang đọc kinh, bất giác, mắt chị Dung nhíu lại và cảm giác buồn ngủ dồn dập kéo đến. Thế nhưng, chị vẫn cố gắng tụng cho xong những quyển kinh mà sư thầy giao phó. Buổi tối của đêm đầu tiên nhập thất, chị Dung ngủ say sưa, không hề mộng mị. Cảm giác lâng lâng, tôi vui mừng khôn xiết, được ngủ một giấc ngon lành sau hơn 10 năm không khác gì chết đi sống lại. Mấy ngày ở thất, tôi bị cảm lạnh, nhưng vẫn cố làm theo lời sư thầy căn dặn. Mỗi ngày, tôi đọc hểt hai quyển kinh và lạy 600 lạy. Thế nhưng, lòng tôi vẫn phập phồng lo sợ chứng mất ngủ sẽ trở lại nên càng cố công đọc kinh, lạy Phật. Sau bảy ngày, tôi được ra thất và trở về nhà. Những giấc ngủ bình yên lại nhẹ nhàng tìm đến mà không cần gượng ép”, chị Dung vui vẻ cho biết thêm: “Dầu không còn ở thất, tôi vẫn tâm niệm ăn chay trường và ngày nào cũng tụng kinh niệm Phật. Chứng mất ngủ này có thể đến từ những ác nghiệp mà tôi gây ra ở kiếp này hay kiếp trước. Nay, tôi thành tâm sám hối nên nghiệp được tiêu trừ. Những ai cũng mắc phải căn bệnh lạ như tôi, xin lấy tôi làm gương, nên thành tâm sám hối để sớm có lại cuộc sống bình yên. NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT _()_ (TSTN)

NIỆM PHẬT THOÁT KHỎI BỆNH SUYỄN.

Tôi hiểu việc khỏi bệnh này là nhờ công đức niệm Phật và thực hành thiện nghiệp. Hôm qua, tôi điện thoại hỏi thăm sức khỏe của một người bạn học chung lớp cách nay hơn 30 năm, nhằm lúc đang bị bệnh nên cô ấy than với tôi rằng: “Không khí thì bao la mà hít vào sao khó khăn quá, nó cứ như bị chặn ngang cổ họng, mỗi lần hít vào thở ra đều phải gắng sức, thật khó chịu vô cùng”. Do cách xa hàng trăm cây số, tôi chỉ biết an ủi, động viên cô ấy, khuyên nên đi khám bệnh và chịu khó uống thuốc nghiêm chỉnh theo sự hướng dẫn của thầy thuốc. Cô ấy bảo đã đi khám rồi, uống thuốc vào thì bị vật, ói te tua, tôi khuyên cô nên đi khám lại để có hướng điều trị thích hợp. Nghe cô ấy thở dài chán nản, tôi thấy thấm thía câu nói của một bậc đại trí thời xưa: “Ta có họa lớn vì ta có cái thân”. Quả thật, sanh ra trên cõi tạm này, ai lại không vương bệnh đau một đôi lần trong đời. Đó là nói kẻ có phần, có phước ít bệnh, còn những người vô phước, không may mang bệnh tật cả đời, suốt kiếp làm người chỉ biết tối tăm mặt mũi, vật vã đau đớn vì bệnh, chẳng hề có được cái cảm giác của một thân thể khỏe mạnh cường tráng, ăn ngon, ngủ yên, thoải mái hưởng những điều tốt đẹp do cuộc sống mang lại. Thật khổ và tội nghiệp cho những mảnh đời như vậy. Trông người mà nghĩ đến mình, nhớ hơn 20 năm về trước, tôi cũng từng là một người sanh ra “nhằm ngôi sao xấu”, bệnh tật đã đến với tôi rất sớm, từ thời còn chập chững bước vào lớp một. Tôi bị mắc bệnh suyễn. Trong ký ức về tuổi thơ, tôi khó có thể quên được những lần khó thở đã hành hạ mình như thế nào khi bị lên cơn. Đúng như cô bạn tôi đã nói, không khí thì mênh mông mà lá phổi của tôi không thể hít vào một cách dễ dàng, các xương sườn phải co kéo, cánh mũi phập phồng cố mở rộng để lấy thêm chút ít hơi, bụng phình ra, thót vào mới có thể hô hấp trong tình trạng các ống khí, phế quản co thắt lại, tăng tiết đàm nhớt, tiếng không khí qua những chỗ tắc, hẹp, tạo nên âm thanh “cò cử” khót khét, khọt khẹt… thật khó chịu như bị tra tấn. Những lúc bệnh hành, dù muốn nằm cũng không thể nằm, tôi phải ngồi, gục đầu vào vách tường, vào thanh giường chịu đựng. Khi qua cơn rồi thì thân thể bèo nhèo, tay chân bủn rủn, mặt mày xanh mét, làm việc gì cũng rất mệt, ăn uống không biết ngon là gì. Thật thê thảm vô cùng. Cứ như thế, bệnh suyễn đã hành hạ tôi từ thời thơ ấu đến những năm trưởng thành, không có tháng nào không bị lên cơn. Những ngày trăng tròn mà dân gian gọi là tới con nước là thời điểm tôi kinh hoàng nhất, có chạy đâu cũng không khỏi bị căn bệnh quái ác này hành hạ. Cứ nửa đêm đột ngột ngứa mắt, ngứa họng, nhảy mũi vài cái là cơn khó thở như bầy ngựa hoang ào tới giẫm đạp lên lá phổi mỏng manh của tôi… Đau chân thì há miệng, bệnh tật thì phải thuốc thang, tôi cũng đã được điều trị bằng đủ phương pháp, từ đông đến tây y, chú trọng ăn uống, thay đổi không khí, vật lý trị liệu, thể dục thể thao… Tất cả các phương pháp đó đều chỉ có tác dụng tạm thời, một thời gian sau căn bệnh suyễn lại bùng phát trở lại. Tôi còn nhớ rất rõ lúc lần đầu tiên dùng thuốc trị suyễn, khi tôi khoảng sáu tuổi, bị lên cơn vào ban ngày. Lúc tôi đang khổ sở ngồi vịn hai tay vào thành ghế, thở khò khè thì một người anh bà con chú bác làm nghề bán thuốc tây ghé thăm, thấy tình trạng tôi như vậy, anh ấy lấy nửa viên thuốc suyễn cho tôi uống. Sau khi uống xong khoảng nửa tiếng thì tôi khỏe lại, cơn khó thở biến mất, thật sung sướng vô cùng. Kể từ đó, người tôi lúc nào cũng có thuốc tây trị suyễn trong túi áo, khi nào lên cơn khó thở thì lấy ra uống.
Kể từ đó, người tôi lúc nào cũng có thuốc tây trị suyễn trong túi áo, khi nào lên cơn khó thở thì lấy ra uống. ( Ảnh minh họa )
Thuốc nào cũng có tác dụng phụ, cứ mỗi lần dùng thuốc tây để cắt cơn xong thì tay chân tôi run rẩy, tim đập nhanh như ngựa phi, mắt mở trao tráo không cách nào ngủ được. Dùng thuốc một thời gian dài thì bị lờn thuốc, phải tăng liều lên, tác dụng phụ càng nhiều, rồi đến giai đoạn dùng liều cao cũng không có tác dụng, tôi phải đổi sang thuốc trị suyễn có pha chất corticoide với chất giãn phế quản mới cắt được cơn. Loại thuốc này tuy có hiệu lực cao nhưng tác dụng phụ của corticoide càng làm tôi thê thảm hơn. Những trận nhiễm khuẩn liên tục do bị suy giảm miễn dịch gây ra khiến tôi bị ho, sốt vừa hết đợt này thì gầy đợt khác đến tối mặt, tối mày, rồi mặt bị phù tròn như mặt trăng rằm, nổi đầy mụn trứng cá, bao tử bị loét… Về sau, có các loại thuốc xịt thẳng vào họng để hít, tác dụng phụ ít hơn nhưng chỉ có tác dụng cắt cơn tại chỗ chứ không thể giải quyết tận gốc căn bệnh. Đó là về phần dùng thuốc tây, còn về đông y thì tôi dùng không biết cơ man nào là thuốc bắc, thuốc nam, những bài thuốc chính thống, dân gian trị suyễn tôi đều nếm qua nhưng căn bệnh không hề thuyên giảm mà càng ngày càng nặng thêm. Một hôm, đọc trong một quyển sách nói về luyện tập cơ thể để giữ sức khỏe, tôi quyết định đi học võ để tăng cường hoạt động thể lực mong chống đỡ căn bệnh quái ác này nhưng vẫn vô ích. Dù đeo đuổi học võ cổ truyền hơn 5 năm kết hợp với chơi tạ tay, tạ đôi, bệnh suyễn vẫn không tha tôi, hàng ngày tôi vẫn phải xịt thuốc vào phổi để cắt cơn.
Hàng ngày tôi vẫn phải xịt thuốc vào phổi để cắt cơn. ( Ảnh minh họa )
Rồi tôi còn luyện cả yoga nhưng chẳng ăn thua gì căn bệnh này. Có lúc nản quá, tôi muốn tìm đến cái chết cho thoát khỏi nỗi khổ triền miên này nhưng bản năng sống trong tôi quá mạnh nên đã kiềm chế được những ý định dại dột. Tuổi thơ và thời trai trẻ của tôi là thế đó, một quãng đời khốn khổ nếu không nhờ đến Phật pháp, tôi chẳng bao giờ thoát ra được. Năm hơn 30 tuổi, tôi may mắn quen với một Phật tử chuyên tu thiền, với sự dìu dắt của người đó, tôi đã đến với Phật pháp. Sau những lần đến chùa lạy Phật, cúng dường, học giáo lý, tôi dần hiểu bệnh tật của mình là bệnh nghiệp, chỉ có thực hành theo lời Phật dạy mới mong thoát được. Ngoài ăn chay, lạy Phật, thực hành thiện nghiệp, hàng đêm và rạng sáng tôi đều tọa thiền. Tôi tọa thiền theo phép quán sổ tức, theo dõi hơi thở ra vào để tâm được định. Thực hành thiền định như vậy gần hai năm, tâm tôi dần yên bình, dù bệnh khổ vẫn còn nhưng không chán nản, oán trời trách đất nữa, tôi vui vẻ trả nghiệp đã tạo trong quá khứ. Một hôm, tôi được một vị Phật tử tặng cho bộ Phật học phổ thông do thầy Thích Thiện Hoa soạn thảo. Bộ sách này cung cấp rất nhiều kiến thức về giáo lý Phật pháp. Ngày nọ, khi đọc đến đoạn nói về thiền định, tôi rất chú ý một câu nói của tác giả: “Thiền mà kết hợp với niệm Phật giống như hổ thêm cánh”. Rồi tôi chợt nghĩ, bấy lâu mình tu thiền theo phép quán sổ tức, tuy đạt được chút định tâm nhưng bệnh khổ không dứt. Nay nghe thầy nói, niệm Phật công đức vô lượng, sao không kết hợp vừa thiền vừa niệm Phật để tăng thêm phước, biết đâu nhờ phước này mà hết bệnh. Thế là tôi quyết định vừa theo dõi hơi thở vừa niệm danh hiệu Phật A Di Đà. Ngoài kết hợp thiền với niệm Phật, tôi vẫn thường xuyên thực hành thiện nghiệp, đặc biệt là tôi thường bỏ công đi chặt những cây thuốc Nam để đem tặng cho một tịnh xá chuyên trị bệnh miễn phí bằng đông y cho dân nghèo. Lúc rảnh rỗi, tôi lại đến phụ sắc thuốc, phơi khô, cho vào bao để bảo quản nhằm phục vụ cho việc điều trị. Cứ như thế, thời gian trôi qua mau, sau hai năm kiên trì thiền định kết hợp niệm Phật, một hôm, lúc đang tịnh niệm, tôi bỗng thấy nháng lên hình ảnh Đức Phật A Di Đà sắc thân vàng rực rỡ, hình ảnh đó chỉ hiện lên trong khoảng một phần tư giây nhưng khiến tôi rất hoan hỷ vui mừng ” các vị tổ sư khuyên không nên bám chấp vào những hình ảnh này, vi rất nhiều trường hợp đó là ma vương biến hóa ra “. Tôi tiếp tục Thiền-Tịnh song tu không xao lòng cho đến năm 1992. Vào ngày vía Đức Phật A Di Đà, đêm đến, xong thời lễ bái, tôi tiếp tục tọa thiền và niệm Phật. Sau 45 phút tịnh niệm, tôi bỗng cảm thấy có một luồng hơi ấm từ đỉnh đầu lan tỏa xuống toàn thân rất dễ chịu. Qua thời công phu, tôi đi ngủ, cảm nhận thân tâm thoải mái chưa từng có trước đây. Đêm đó, tôi nằm mơ, thấy Đức Phật A Di Đà đưa tay xoa đầu tôi, Ngài nhìn tôi với ánh mắt từ bi vô lượng. Khi tỉnh dậy, lòng tôi mừng vô hạn, lòng thầm nghĩ, biết đâu Đức Phật đến xoa đầu ban phước giúp mình thoát khỏi bệnh khổ bấy lâu. Và kể từ ngày đó, tôi không còn phải uống những viên thuốc trị suyễn đủ thứ tác dụng phụ, không còn phải kè kè ống thuốc khí dung theo người. Tôi sống thoải mái như cánh chim thoát khỏi cảnh ràng buộc của chiếc lồng chật hẹp. Việc tôi khỏi bệnh một cách thần kỳ như vậy khiến nhiều người ngạc nhiên, nhất là thân nhân, họ hàng, bởi cái biệt danh Út suyễn họ đặt cho tôi không còn phù hợp nữa, bây giờ họ đặt tên mới cho tôi là Út chùa, vì tôi thường đến chùa tu tập. Từ ngày lành bệnh đến nay đã 20 năm, bệnh suyễn của tôi cũng không hề tái phát. Tôi có thể chắc chắn rằng mình đã khỏi bệnh và tôi hiểu việc khỏi bệnh này là nhờ công đức niệm Phật, công phu tọa thiền và thực hành thiện nghiệp mà có được. Hôm nay kể lại chuyện đời mình, tôi muốn nhắn gửi với những ai nếu không may mắc phải bệnh khổ hãy kiên trì sống, tu hành theo lời Phật dạy, chắc chắn không sớm thì muộn bạn sẽ thoát khỏi bệnh khổ. Phật tử Đức Nhẫn (Báo Giác Ngộ) Sưu tầm: Diệu Âm Lệ Hiếu.