Ý NGHĨA & CÔNG ĐỨC của TỤNG KINH

Công đức tụng đọc kinh điển ( đọc là nhìn vào kinh mới đọc được , còn tụng là không nhìn kinh mà đọc thuộc lòng ) là vô cùng mạnh mẽ và vi diệu không thể cân đong đo đếm được, giải trừ tội chướng, tăng trưởng phước đức, trí tuệ vô lượng. Ý nghĩa của việc tụng Kinh cũng giống như việc cài đặt các phần mềm vào máy tính, tụng đọc Kinh điển hiểu một cách sơ lược là nhiếp tâm ý của bạn vào lời dạy vàng ngọc của Đức Phật, khiến cho thân – khẩu – ý của bạn hòa vào lời Kinh, diệt trừ mọi thứ bất thiện, phát sinh vô số hạnh lành trong hiện tại và tương lai, tạo ra công đức tuyệt đối. Ý NGHĨA của TỤNG KINH  Tâm ý của chúng sinh giống như một mảnh đất trống. Dựa trên mảnh đất này mà cây cối sinh sôi, ra hoa, trổ quả, xong không biết là cây gì, hên thì cây xoài, cây Bồ Đề…, xui thì cỏ dại, cây độc… Tiến trình mà ” cây cối” hình thành trong “mảnh đất tâm” của chúng sinh như sau : Đầu tiên là giai đoạn HỌC HỎI, tiếp thu những kiến thức bên ngoài vào đầu, nếu những kiến thức ấy sai lầm, thì gọi là Tà Kiến, nếu đúng với chân lí, đưa đến an vui giải thoát thì gọi là Chánh Kiến. Như con người vẫn hàng ngày vào trường học, đọc sách, xem báo, xem ti vi, lướt web, lướt facebook, đọc các dòng slogan ở khắp các pano, biển quảng cáo, tờ rơi khi đi ngoài đường, quan sát cách sống của mọi người xung quanh.v.v…. đó chính là đang gieo hạt giống tư tưởng vào tâm mình. ( Xem ra thời đại này hạt giống khá là phức tạp, gì cũng có, rất hên xui, mà xui nhiều hơn hên. Ví như các quảng cáo sản phẩm đa số là xạo thôi, nhưng xem đi xem lại quá nhiều lần khiến nhiều người cũng bị tin theo một cách vô thức) Tiếp theo, nhờ giai đoạn HỌC HỎI làm nhân mà hình thành quả là giai đoạn 2 : TƯ DUY. Dựa trên những kiến thức ( chưa xác định đúng sai) đã thu thập vào trong tâm. Con người bắt đầu gạn lọc, suy xét, lí luận để tạo dựng nên hệ tư tưởng cho chính mình. Quyết định xem mình tin theo cái gì, hình thành quan điểm cá nhân. Nếu tin, chấp nhận theo những kiến thức nào, thì giống như ta giữ lại những hạt giống đó (hoặc tốt, hoặc xấu chưa xác định) trong mảnh đất tâm của mình, và ngược lại, không tin, không chấp nhận kiến thức nào, thì giống như ta đã nhổ bỏ hạt giống của những kiến thức ấy ra khỏi đầu, tương lai không mọc ra cây giống ấy nữa. Ở giai đoạn này, tùy theo phước trí tuệ mà độ phân tích sâu cạn khác nhau, người hời hợt sao cũng được, thấy người ta sao thì mình theo vậy, lười suy tư nên sẽ nhẹ dạ cả tin, tùy theo những người dẫn dắt mà đi theo, hên thì theo người có Chánh kiến, xui thì theo những người Tà kiến. Nhưng những người phước trí tuệ lớn thì sẽ săm soi từng chút, vặn vẹo, lí sự, phân tích, bóc tách từng vấn đề một cách kĩ lưỡng để xây dựng nên hệ tư tưởng cho chính mình. Đương nhiên, người xây dựng hệ tư tưởng càng kĩ thì tư tưởng càng kiên cố, khó lay chuyển. Nếu tư tưởng đó đúng thì gọi là kiên định lập trường, nếu sai thì gọi là cố chấp, bảo thủ. Vậy cái gì quyết định đúng hay sai ? Chính là duyên phước. Nếu tiền kiếp được kết duyên với các thiện tri thức, với Chánh kiến, với Phật Pháp, hay có phước đã thường ấn tống kinh sách đúng với Chánh pháp, hay đã gieo trồng chủng tử Bồ Đề.v.v…, thì tư tưởng thường sẽ lập luận theo hướng đúng. Ngược lại, thường kết duyên với ác tri thức, thu thập nhiều tà kiến suốt nhiều kiếp vào tâm, hay tạo nhiều nghiệp ngu si trong tiền kiếp, gieo rắc nhiều tư tưởng sai lệch cho chúng sinh, phỉ báng Phật Pháp, công kích lẽ phải, bẻ cong chân lí vì tư lợi, hay nói sai sự thật vì ngu si không rõ đen trắng.v.v… mà tư tưởng sẽ có xu hướng suy nghĩ theo chiều sai, dệt nên một hệ tư tưởng sai lầm. Cuối cùng, nhờ giai đoạn TƯ DUY làm nhân mà hình thành quả là giai đoạn cuối : HÀNH ĐỘNG. Ở giai đoạn này, tư tưởng đã khá cứng cáp, nó như một hệ điều hành đã cài đặt xong, như một ông vua đã đăng quang ngôi vị thống lĩnh, nó sẽ điều khiển cả thân khẩu ý theo những gì đã lập trình. Người có tư tưởng sai lầm sẽ thường tạo các ác nghiệp , bằng cả thân – khẩu – ý. Người có hệ tư tưởng chân chính, thì thường cả thân , khẩu, ý thường theo các thiện nghiệp. Người thu thập cả tà kiến, chánh kiến vào tâm, tư tưởng đan xen cả đúng lẫn sai, thì khi tạo ác, khi làm thiện. Và Phước hay Tội theo sau những hành động đó, tạo nên sướng khổ, buồn vui, may rủi, vinh nhục kiếp này và nhiều kiếp sau. Tuy nhiên, cũng phải nói kĩ lại điểm này. 3 bước trên đây không phải là cố định vĩnh cửu, vì rằng thế gian cái gì cũng vô thường. Cả học hỏi, hay tư duy , hay hành động đều có tuổi thọ của nó, hết hạn thì nó sẽ biến mất. Giống như năm nay ta gieo toàn hạt giống cỏ dại, cây độc trên mảnh đất tâm của mình. Năm sau thì ta thu hoạch toàn gai góc, độc dược. Nhưng không có nghĩa là vĩnh viễn mảnh đất của ta lúc nào cũng toàn gai góc, độc dược. Theo thời gian, chúng sẽ chết. Và năm sau sẽ mọc ra cây gì tùy thuộc vào hiện tại, chúng ta gieo gì tiếp cho vụ mùa sau. Nếu như ta lại lấy những hạt giống của những cây xấu có sẵn ấy tiếp tục gieo, thì tương lai mình lại tiếp tục thu được những vụ mùa gai góc, độc dược. Xong nếu ta chán cái cảnh gai góc, độc dược ấy rồi. Ta quyết định đi lựa những giống cây tốt ở những nơi khác về trồng, như ta tìm giống cây xoài Cát Hòa Lộc, hay cây nho Mĩ, cây Bồ Đề Ấn Độ.v.v… trồng và nhổ bỏ những cỏ dại, cây độc dược đang có trên đất của mình, thì những vụ mùa sau , những gì ta thu hoạch được sẽ khác. Nói tóm lại, là chúng nối tiếp nhau thành một chuỗi liên tục trên dòng thời gian vô lượng kiếp, cứ HỌC HỎI sinh TƯ DUY, TƯ DUY sinh HÀNH ĐỘNG , HÀNH ĐỘNG sinh NGHIỆP QUẢ, ( thực ra cái nào trong 4 cái trên đều có thể sinh ra 3 cái còn lại, bổ trợ cho nhau, sinh ra nhau liên hoàn ) rồi tiếp tục lặp lại chuỗi ấy vô số lần trong mảnh đất tâm của mình mà hình thành luân hồi sinh tử 6 nẻo. Kết luận cuối, tụng kinh, hay thấp hơn là đọc kinh, nghe kinh, chính là gieo hạt giống của cây Bồ Đề vào mảnh đất tâm của mình, ở giai đoạn thứ nhất – Học hỏi. Và theo nhân quả, thì sẽ sinh ra giai đoạn 2 – Tư duy- sinh ra giai đoạn 3 – Hành động , cuối cùng lãnh thọ các phước báo, tiến trình này là tự nhiên, không thúc đẩy cũng sẽ diễn ra, còn nếu thúc đẩy thêm thì nó càng diễn ra nhanh hơn, cuối cùng sẽ trổ ra quả Bồ Đề, tức thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Điểm đặc biệt của cây Bồ Đề Phật Pháp, mà mọi giống cỏ dại, độc dược .v.v… đều không có, chính là khả năng bất tử. Cây Bồ Đề không bao giờ chết, chỉ cần gieo một hạt giống xuống thì dù nhanh, hay có khi rất chậm, hạt giống ấy chắc chắn sẽ lớn dần lên thành cây Bồ Đề cao lớn, bất diệt, và sẽ đưa ta thoát khỏi luân hồi sinh tử này chứng thành Thánh quả. Trong quá trình cây Bồ Đề lớn lên, thì đồng thời cỏ dại, độc dược… vẫn mọc, và cạnh tranh nước, chất dinh dưỡng, ánh sáng với cây Bồ Đề, tức là đồng thời thiện và bất thiện trong tâm mình cạnh tranh nhau, bên thì muốn thoát khỏi những thấp kém hèn mọn để vươn lên như các bậc Thánh, bên thì muốn xuôi theo những dục lạc, chiều theo những tập khí xấu ác để chìm xuống . Quá trình này rất vất vả vì tư tưởng giao tranh, giằng xé nội tâm, cần phải hỗ trợ bằng cách tu nhiều pháp môn khác nhau để nhổ “cỏ phiền não”, chặt “cây dại tập khí” liên tục, bón phân , tưới tắm cây “Bồ Đề Phật Pháp” liên tục để cây nhanh lớn. Lợi thế của ta là cây cỏ dại, độc dược… thì đều có tuổi thọ, chúng vô thường, sinh rồi diệt, chỉ là chúng có khả sinh sôi mạnh, lứa trước chết rồi, để lại hạt giống sinh lứa sau thôi, chứ không phải bất tử như cây “Bồ Đề Phật Pháp”. Chính vì lẽ đó, tụng kinh tạo được công đức vô biên vô lượng, ngay cả khi chưa hình thành giai đoạn tư duy, hay hành động, vẫn có vô số điều lành đến ngay với những người trì tụng kinh điển. Đó là sự thật rõ ràng, có hàng trăm ngàn dẫn chứng trong thực tế như Quang Tử đã đăng, ai thực hành rồi đều sẽ nhanh chóng nhận ra. Rồi tiếp theo sau đó, suốt vô lượng kiếp sau, sẽ tiếp tục sinh ra những thành tựu vĩ đại nối nhau không dứt, cho đến khi thành tựu Phật Quả Vô Thượng. Tất cả bắt đầu từ việc tụng trì kinh điển Như Lai.

KHI SỐNG KHÔNG NHẬN RA ĐIỀU NÀY, CHẾT THÌ ĐÃ MUỘN

(Cảm nghĩ sau một đám tang người bạn thân _ Ngọc Dung ) Cuộc sống kéo dài trong mấy mươi năm, trong mấy năm, hay trong mấy tháng, mấy ngày ???? KHÔNG ! cuộc sống của mỗi chúng ta chỉ tính trong từng hơi thở. Nếu thở ra mà không hít vào được là coi như xong rồi đó. Đời vô thường đến đỗi chẳng có gì là thật, đều như ảnh hiện, mộng huyễn. Nếu thân ta là THẬT SỰ CỦA TA, cớ sao giây trước là người, giây sau đã là một hồn ma, ta không thể điều khiển được. Nếu thân ta là thật của ta, cớ sao chỉ trong vài giờ sau khi tắt thở cái thân đó lại vô dụng không thể nhúc nhích, chẳng cách nào sử dụng được và bốc mùi. Nếu cảnh này là thật đáng sống, cớ sao lại có nóng kinh hồn, có lạnh buốt da, có bão tố, có chiến tranh máu ngập sông núi, có bệnh tật người người rên la ? Nếu cảnh này là vui thì sao lúc nào cũng sáng bừng như ban ngày, mưa nắng thuận hòa, không phân biệt mùa, gió hiu hiu thổi làm con người nhẹ nhàng dễ chịu quanh năm ? Nếu thân này là thật CỦA TA, thì sao ta không bắt nó trường tồn bất tử, mà phải chịu theo quy luật của nó :có sinh, già, bệnh, chết ? Nếu tình cảm này là thật tại sao phút giây này yêu, phút sau lại không yêu ? Nếu tình cảm này là thật do ta điều khiển, thì sao ta không bắt nó lúc nào cũng yêu như lúc ban đầu ? Vậy đó ! Cuộc sống biến đổi vô thường trong từng giây một . Giây sau ta đã già hơn giây trước, cuộc đời mấy mươi năm chỉ như giấc mộng, như sát na trong vô lượng a tăng kì kiếp của tâm thức mỗi chúng ta. Chúng ta may mắn đã tu hành nhiều đời, nhiều kiếp nên kiếp này được làm người. Cơ hội được làm người khó như “con rùa mù dưới đáy biển, trăm năm mới ngoi lên mặt nước 1 lần và đầu chui vào đúng lỗ thủng của mảnh gỗ nổi trên mặt biển. Cơ hội làm người khó như 100 năm có vị tiên nữ đem dải lụa quệt trên ngọn núi cao 1 lần đến khi trái núi đó thành mặt đất bằng phẳng” Cơ hội làm người có khó không ? Nếu không khó, cớ sao con kiến nhiều hơn con người, con tôm con ốc gấp nhiều tỷ lần chúng ta, châu chấu, cào cào nhiều vô số kể…. Cơ hội làm người quả thật quá khó. Cần phải giữ được 5 giới mới được làm người bất kể người đó là ai: Không sát sinh, không trộm cắp, không từ dâm, không uống rượu, không nói dối. Chúng ta, ai giữ được 5 giới này thì lên tiếng ? Riêng tôi, tôi không giữ được . Vậy phải chăng khó thì chúng ta không cần làm, chỉ làm việc dễ??? Tâm của chúng ta thường không thích làm thiện, chỉ thích làm ác. Nếu thích làm thiện thì tại sao chỉ nghĩ đến nỗi đau của mình, của thân quyến mình mà không nghĩ đến nỗi đau của người, của thân quyến người. Tâm chúng ta thường ích kỉ, bỏn xẻn, hưởng thụ, ham danh vọng, quyền thế, ưa xảo nịnh. Đây là tâm ác, luôn nghĩ đến mình bỏ mặc người khác nghĩ gì. Chúng ta không giữ được 5 giới là không được làm người, vậy có nên giữ nữa không? NÊN, HÃY NÊN GIỮ ! Giữ được chừng nào tốt chừng đó, giữ được giới nào tốt giới đó, giữ giới và sám hối những tội lỗi của mình đã gây ra và không tái phạm nữa. Phàm làm người là vô minh, có ai là không sai đâu ? Biết sai mà sửa là quý, là biến lỗi to thành lỗi nhỏ, lỗi nhỏ thành lỗi nhỏ hơn, biết sai mà vẫn sai thì thật là nguy hiểm, đáng buồn lắm ! Mọi thứ đều là ảo, là giả, như mộng huyễn, sương đêm, như ảnh ảo. Chỉ có TÂM mỗi chúng ta là thật, tôi không nói những cái vọng tưởng suy nghĩ lăng xăng trong đầu, đó không phải TÂM. Cũng không phải cảm xúc vui buồn, giận ghét, khi sướng, khi khổ. Không, đó không phải TÂM. Vì sao ? VUI SƯỚNG rõ ràng không phải là BUỒN KHỔ, vậy mà lúc này vui sướng, lúc sau lại buồn khổ, thay đổi bất thường như thế thì cái nào mới là TÂM ? Cũng không phải cái mớ kiến thức khi nhớ, khi quên, cái biết, cái không , lệ thuộc vào hoàn cảnh. Không, chúng chỉ là những áng mây thất thường bay qua bầu trời TÂM. Bầu trời vốn bản chất thật là trong suốt, không màu, không mùi, không mây, không mưa, không nắng, không mặt trời, mặt trăng, không ngày, không đêm, nghìn tỉ năm trước đến nghìn tỉ năm sau không thay đổi. Chỉ là mặt trời, mặt trăng, vì sao, mây, mưa, gió .v.v… lướt qua, lướt lại trên BẦU TRỜI, thiên biến vạn hóa ra đủ thứ hình trạng khi tươi sáng, khi tối tăm, rồi lại nhanh chóng tan biến. Người ta nhìn lên BẦU TRỜI thấy chúng, lại cho rằng chúng là BẦU TRỜI. Không, nhầm rồi, chúng chỉ là những vị khách của BẦU TRỜI. Còn chân thực BẦU TRỜI chỉ có khoảng không vô tận, không sinh, không diệt, không sáng, không tối, chứa hết tất thảy những vị khách không mời như trăng, sao, gió, mây .v.v… kia, bất tử với thời gian, mặc kệ những vị khách kia sinh diệt vô thường như thế nào, BẦU TRỜI vẫn AN NHIÊN VĨNH CỬU. TÂM chân thật của mỗi người cũng vậy, là khoảng không gian tâm thức vô tận, chứa tất cả những vọng tưởng suy nghĩ, cảm xúc vui buồn, kiến thức nhớ quên.v.v… Mặc kệ thân xác sống chết, chuyển từ kiếp này sang kiếp khác, TÂM vẫn không thay đổi, vẫn dung chứa tất cả. Mặc kệ cảm xúc lúc vui lúc buồn, lúc thích thú, lúc chán nản… TÂM vẫn bao la vô tận, chứa hết thảy những cảm xúc đó, nhưng chẳng phải là chúng. Mặc kệ làm khi làm việc này, khi tạo việc khác, mặc kệ là kiến thức khi nhớ, khi quên, mặc kệ là kiếp này làm vua, hay kiếp khác làm ăn mày, hay tệ hơn, làm một con kiến, con phù du, hay làm một thân ngạ quỷ, địa ngục.v.v… biến hóa muôn hình vạn trạng trong 6 nẻo luân hồi. TÂM vẫn thế, không sinh không diệt, vì TÂM chính là KHOẢNG KHÔNG VÔ TẬN dung chứa tất cả những thứ vừa kể đó. Bạn hãy nhìn kĩ vào cái smartphone trên tay bạn ( hay tivi, ipad cũng như vậy), bất kể là hình ảnh nào hiện ra trên màn hình, khi thì sáng, khi thì tối, khi thì phim hành động, khi thì phim tình cảm sướt mướt, khi thì game, khi thì MV ca sĩ, khi thì facebook, khi thì Youtube, cũng có khi tắt nguồn tối đen.v.v… muôn hình vạn trạng biến ảo. NHƯNG , biến thế nào thì biến, cái smartphone vẫn ở đó, dung chứa tất cả các hình ảnh ảo hóa liên tục từ cảnh này sang cảnh khác mà bản chất không thay đổi. Đây chỉ là ví dụ, mà vi dụ thì không 100% giống thật, smartphone thì vài năm hư hỏng sẽ quăng sọt rác, nhưng TÂM thì vĩnh cửu không diệt, smartphone thì chỉ 5 inch ( hay ti vi mất trăm inch hết cỡ) nhưng TÂM thì vô hạn không có biên giới. Xong nếu có trí tuệ, thông qua ví dụ smartphone bạn sẽ nhìn ra được chân lí về TÂM thật sự của bạn. Vứt hết tất cả hình ảnh, âm thanh, ứng dụng đi, smartphone của bạn sẽ là đồ bỏ đi. Nhưng nếu buông xả tất cả suy nghĩ, cảm xúc, hành động, kiến thức.v.v… đi, không sở hữu – vô sở đắc bất cứ hình tướng gì, TÂM sẽ trở nên vô tận, bất sinh bất diệt, trở lại trạng thái vốn có, đó là an nhiên vĩnh hằng, chính là NIẾT BÀN, chính là KHÔNG TƯỚNG. Trong Bát Nhã Tâm Kinh, Phật dạy: ” Vì không sở đắc , Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật, TÂM không còn ngăn ngại, vì không ngăn ngại, nên không có gì để sợ hãi, xa lìa tất cả hình tướng biến hóa của giấc mộng điên đảo, đạt đến CỨU CÁNH NIẾT BÀN.” __________ TÂM như bóng theo hình không rời xa ta, ta làm ác tâm ta kiếp sau hiện ra cảnh giới ác, tâm thiện kiếp sau TÂM ta HIỆN RA cảnh giới thiện. Cũng chính ta, nhưng ta ăn cắp có phải ta sẽ phải vào tù không ? Cảnh trong tù đã khác xa với cuộc sống của chúng ta rồi. Ta làm ác, đêm ngủ không ngon giấc, chẳng như các bậc chân tu ăn ngày 2 bữa rau cà, tương, muối mà ngủ mấy tiếng giấc sâu. Cảnh đã khác nhau ngay trong cuộc sống hằng ngày rồi ạ. Chỉ có NHÂN QUẢ là thật: nhân nào quả đó, ta gieo hạt lúa không thể có bắp ngô, ta gieo cây cải không thể có quả đào. Nếu ta làm xấu => không thể có kết quả tốt, cuộc sống tốt. Nếu ta không tiết kiệm => ta sẽ không có tiền, nếu ta cho vay nặng lãi => ta sẽ có lúc mất hết chỗ tiền cho vay..vv. Lúc trước tôi cũng ham mê chơi lắm, ước được đi chỗ nọ, chỗ kia, mặc đồ này, đồ kia. Giờ thì không còn ưa thích, không ngưỡng mộ những người hay đi chơi nữa rồi. Mà tiếc thay cho họ. Có tiền thích là đi chơi, chẳng nghĩ đến nỗi đau, thiếu thốn của bao người xung quanh. Mặc hàng hiệu mà làm gì khi tâm xấu bẩn. Có phải nhân cách được thể hiện bằng đồ trang sức hay không? Chẳng phải vì tôi nghèo tôi không có đồ trang sức, tôi không được đi chơi mà tôi nói vậy. Vì tôi thấy những thứ đó như ảo ảnh, như mộng huyễn mà thôi. Chắc ít có ai mà không có cái dây nào đeo cổ, đeo tay như tôi nhỉ? Tôi không những không thích mà còn thấy nó vướng víu vô cùng, tôi không đeo gì thấy thoải mái hơn nhiều. Tôi có tâm trạng này vì sự ra đi đột ngột của người bạn. Anh ấy sáng đi làm bình thường, vì mệt nên về nghỉ sớm, anh thấy khó thở và thế là anh ấy đi. Anh ấy có bị bệnh hen suyễn từ xưa, anh ấy chỉ hơn tôi có 2 tuổi, ngày sinh của anh 10.8.1981. Anh là người tốt, yêu vợ, thương con, chăm sóc bố mẹ, chăm chỉ làm việc. Nghĩ đến 2 bé gái con nhỏ, thật là đau lòng. Tôi chưa dám về gặp anh lần cuối, trong tâm thực sự không muốn về, không muốn thấy cảnh vợ, con anh sống như không sống vì cú sốc này. Ốm lâu tâm lý người thân được chuẩn bị sẵn đã đành, đây sáng chào chồng, chào bố đi làm, trưa về đã không còn chồng, không còn bố. Vô thường đến thế là cùng phải không ạ? Ai biết ngày mai chứ. 9h sáng anh còn truy cập Zalo, lát sau anh đã đi rồi. Chỉ muốn nghĩ đến anh như một người bạn đi đâu lâu không gặp, không muốn thấy anh nằm đó. Sự ra đi vội vàng của anh đã đánh thức tôi, biết trân trọng mọi mối quan hệ xung quanh mình hơn. Biết đâu, mai đó sẽ không còn. Việc dễ làm hôm nay nhưng ngày mai sẽ không dễ, thậm chí cực khó. Sức khỏe khi có không trân quý, khi ốm rồi lại lo nhờ bác sĩ. Vậy hãy sống như thể là chỉ còn sống được nốt hôm nay. Giữ gìn những điều tốt đẹp và xa rời những điều xấu ác. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật! Nguyện chúc anh về cõi an lành, nguyện chúc anh sớm giác ngộ Phật Pháp, tinh tấn niệm Phật. Thân trung ấm cũng có thể được vãng sanh, anh cố gắng nhe! Chỉ cần anh niệm Phật và nguyện sinh về cõi Tây Phương Cực Lạc, Đức Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật sẽ đón anh về thế giới của Ngài. Chỉ tạm biệt anh, mình còn gặp nhau nhe! Nam Mô A Di Đà Phật! Nam Mô A Di Đà Phật! Nam Mô A Di Đà Phật…. Ai muốn biết NHÂN QUẢ rõ ràng xin hãy xem video ngay dưới bài viết này. Xin mọi người hãy niệm Phật, hồi hướng cho anh Đoàn Thái Truy sinh ngày 10.8.1981 tại thôn Đồng Tiến, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Để anh được về cõi an lành! Nam Mô A Di Đà Phật! Nam Mô A Di Đà Phật! Nam Mô A Di Đà Phật!…. ( Tâm sự Mrs Ngọc Dung Trần )

ĐỜI CHỈ LÀ GIẤC MỘNG

“Tất cả các pháp hữu vi Khác nào mộng huyễn, khác nào điện, sương Như bóng nước như ảnh tượng Xét suy như thế cho thường chớ quên” (Trích Kinh Kim Cang) Đây là 4 câu thơ cuối trong Kinh Kim Cang do Đức Phật thuyết, 4 câu này rất nổi tiếng, nhưng tôi cũng như rất nhiều người khác, đọc đi đọc lại vẫn không hiểu gì cả, chỉ cảm thấy thích thích vì những lời Phật dạy toát ra vẻ cao siêu vô cùng. Thỉnh thoảng thầy của tôi có phân tích, giảng giải, nhưng tôi vẫn chưa thể thực sự lĩnh ngộ. Cuối cùng, sau khi trải qua một giấc mơ đặc biệt, thì tôi đã giải mã được 4 câu thơ huyền thoại ấy, không phải hoàn toàn thì ít nhất cũng được vài phần, thế thôi thì cũng đủ khiến tất cả những mịt mù trong tôi tan biến. Tôi kể lại với các bạn giấc mơ này: “Trong giấc mơ ấy tôi cùng rất nhiều người đang ngập trong biển nước. Trên một con tàu lớn , có nhiều phòng, có thể hình dung như tàu Titanic.. Tôi dùng hết sức bơi như chưa bao giờ được bơi. Bởi lẽ để sống xót thì phải tìm đường thoát ra khỏi con tàu này thì mới gặp được cứu hộ. Tôi phải mở rất nhiều cánh cửa trong các căn phòng để tìm đường , mà cánh cửa nào cũng rất nhiều xác chết nổi lềnh bềnh, thậm chí đã bốc mùi ghê tởm trong nước. Một cảnh tượng thật kinh hoàng, một con tàu chết! Cơn sợ hãi lên đến cùng cực làm tôi càng có ý chí vùng vẫy thoát khỏi nơi đó. Và trong mơ thật may mắn, cuối cùng tôi cũng ra được con tàu ấy , lên tới mặt nước. Xung quanh có rất đông người cũng thoát ra được như tôi, và mọi người đang giơ tay lên để nắm lấy tay những người cứu hộ.” Đến đây tôi tỉnh giấc, khác với mọi khi là nằm xuống ngủ tiếp, bỗng dưng tôi nảy ra một số câu hỏi, và nhờ thế, tôi đã tìm ra “mật mã” để giải được 4 câu thơ huyền bí kia. Điều này mang một ý nghĩa hết sức to lớn, không phải chỉ với mình tôi đâu, mà nó thực sự sẽ giúp cho bạn rất nhiều. Lúc nãy trong giấc mơ, mọi thứ đều hết sức chân thật, sống động, không khác gì lúc tỉnh táo. Hình ảnh sắc nét, âm thanh rõ rệt, mọi sự chạm xúc y như thật, các cảm xúc, ý nghĩ, hành động không khác gì cuộc sống thật. Chính vì thế, trong mơ, tôi khẳng định rằng cảnh chìm tàu đó là thật, thế nên tôi rất sợ. Ấy thế mà, vừa tỉnh giấc một cái, mọi thứ biến mất. Hóa ra, cái mà ban nãy trong mơ tôi TƯỞNG LÀ THẬT đó, hoàn toàn chỉ là CẢNH ẢO. Hình ảnh rõ mồn một ấy, âm thanh sống động đập vào tai ấy, cảm giác sờ chạm mọi vật, tâm lí hoảng loạn, cùng những động tác bơi, lặn ấy, những việc tôi đã làm ấy… tất cả đều không hề tồn tại, chỉ là HUYỄN HÓA mà thôi. VẬY CÁI GÌ LÀ THẬT ? Có phải cuộc sống khi chúng ta tỉnh dậy này là THẬT ? Trước giờ, theo thói quen tôi vẫn cho rằng như thế, chắc bạn cũng giống như tôi, cũng như mọi người ai cũng cho rằng như vậy. Nhưng có chắc chắn như vậy không ? Trong quá khứ, tôi đã trải qua rất nhiều chuyện trong đời. Tất nhiên đó hẳn phải là sự thật rồi, giờ tôi nhớ lại quá khứ, và đồng thời so sánh với giấc mơ vừa trải qua. Ồ, chúng rất giống nhau. Nếu như trong cảnh thật của quá khứ, có hình ảnh, âm thanh, chạm xúc, mùi vị, có cảnh, có chuyện này chuyện kia, có các vấn đề… ( đạo Phật gọi là sắc, thanh, hương, vị, xúc, Pháp) thì trong giấc mơ cũng có đủ mọi thứ, có khi rõ nét, có khi mờ nhạt, nhưng vẫn là có đủ cả. Nhất là giấc mơ vừa rồi, hình ảnh nước tràn ngập khắp nơi, nỗi sợ của tôi, nỗ lực bơi để thoát khỏi cái chết của tôi, nó còn thật hơn cả khi tôi tỉnh nữa. Trong quá khứ, khi gặp những vấn đề trong đời sống, tôi có thể suy nghĩ. Trong mơ tôi cũng suy nghĩ được. Trong quá khứ, tôi có thể hành động, làm việc này việc khác, gặp người này người kia, yêu ghét, hỉ nộ ái ố.v.v… Trong mơ, tôi cũng làm được. Trong những cảnh quá khứ, tôi cho rằng mọi thứ là thật. Thế thì trong mơ, tôi cũng nghĩ mọi thứ là thật, chẳng khi nào nằm mơ mà tôi biết mình đang mơ cả. Và bây giờ, nhìn lại 2 thứ : quá khứ và giấc mơ, chúng đều đã tan biến, thật hay giả gì thì giờ cũng không còn, cái sót lại chỉ là chút kí ức lưu trong tâm, một lúc nào đó tôi quên đi mất thì dù là quá khứ thật đã xảy ra, hay cảnh mộng trong tâm, đều chẳng còn lại gì. Như vậy, chúng cũng giống nhau thôi. Bây giờ tôi biết vụ đắm tàu kia là ảo, chắc chắn rồi, tôi không cần sợ gì hết. Nhưng chẳng phải quá khứ của tôi cũng thế sao ? Tôi là người theo chủ nghĩa luân hồi, không phải tôi theo bằng niềm tin, mà là tôi biết điều đó, vì đã đọc qua nhiều sách, chứng kiến nhiều việc về luân hồi. Ở đây tôi không chứng minh việc này với các bạn, hãy để lúc khác, hoặc bạn có thể tìm hiểu ở những sách khác. Cái tôi muốn nói là, kí ức về những kiếp trước của tôi, hoàn toàn không có gì. Chúng là quá khứ tôi đã trải qua, vậy mà giờ không sót lại gì, còn thua cả giấc mơ, vì ít nhất tôi có thể nhớ lại được chuyện trong mơ, còn kiếp trước lại chẳng nhớ gì. Giả sử, tôi tu luyện đến một mức nào đó, có thể nhớ được tiền kiếp. Ồ, thật tuyệt. Nhưng… chẳng phải chúng cũng không hơn gì những kí ức về giấc mơ sao ? Tôi không thể nào quay lại quá khứ, cũng giống như không thể mơ lại lần nữa giấc mơ kia. Mọi thứ trong mơ, tỉnh dậy không thể sở hữu được, rõ ràng như thế, người ta hay có câu “vàng trong mộng” để ám chỉ điều này. Nhưng những thứ tôi đã có trong quá khứ, chúng được coi là thật đấy, vậy mà đâu có khá hơn gì, bây giờ tôi không thể lôi ra mà tiếp tục sử dụng được, 2 cái này như nhau, bạn hãy ngẫm nghĩ kĩ điều này, nó rất quan trọng. Đức Phật gọi là “bất khả đắc”, nghĩa là không thể có được, không thể sở hữu được. Tôi biết một chị, chị ấy nhớ lại được kiếp trước từng là hoàng hậu, cuộc sống vương giả đầy vàng bạc sung sướng. Nhưng giờ chị ấy đã đầu thai một kiếp khác, làm một người bình thường. Chị ấy không thể nào lấy lại được những vàng bạc, quyền uy, thân thể, tài năng… kiếp trước ra mà tiếp tục sử dụng được. Chúng đã tan biến, y như mọi thứ trong giấc mộng, cũng đã tan biến, 2 cái tan biến này giống hệt nhau, không khác, đúng là BẤT KHẢ ĐẮC. Nãy giờ chúng ta đã nói về quá khứ, ngồi ở thì hiện tại mà nhận định, chúng cũng không hơn gì giấc mộng. Vậy còn hiện tại và tương lai ??? Cái hiện tại bây giờ, chẳng phải cũng sẽ biến thành quá khứ vào ngày mai sao ? À không, chỉ vài giây, vài phần trăm giây sau, sẽ lập tức biến thành quá khứ sao ? Còn tương lai, rồi thì chúng cũng sẽ trở thành hiện tại, và cuối cùng thành quá khứ. Tất cả cùng một bản chất. Quá khứ – hiện tại – tương lai, chúng chỉ giống như những phân cảnh nối tiếp nhau trong MỘT GIẤC MƠ BẤT TẬN. Mọi thứ trong đó, tiền tài, danh vọng, gia đình, bạn bè.v.v.. kể cả thân xác này, kể cái gọi là “TÔI” này, luân phiên xuất hiện, để rồi luân phiên biến mất, đều là BẤT KHẢ ĐẮC – không thể sở hữu được. Kiếp này, giả sử tôi gọi một cái thân xác người nữ tên Mai, người Việt Nam là “TÔI”, cái TÔI này thích những chàng trai, thích làm đẹp. Kiếp sau, mọi chuyện đã khác, lúc ấy có thể tôi đã là một người đàn ông ở Mĩ, ở Úc, hay ở đất nước xa xôi nào đó, với một cái tên khác hẳn, giả sử là David chẳng hạn, khi ấy thì David mới thật là “TÔI”, cái tôi này đã khác trước, giờ nó thích những cô gái, thích World Cup. Kiếp sau nữa, mọi chuyện lại thay đổi, David chết, giả sử đầu thai thành một con mèo đực (chuyện đó hoàn toàn có thể xảy ra), lúc đấy mèo mới chính là “TÔI” – không tên, không biết nói tiếng người, suốt ngày “meo meo”, không còn thích con trai hay con gái nữa, mà thích mèo cái, không quan tâm World Cup hay make up nữa, mà thích chuột. Trong 3 cái “Tôi” ấy : Mai – David – con mèo, cái nào thật ? Đây là giả sử 3 kiếp, nhưng thực tế thì tôi, cũng như bạn, như mọi người khác đều có vô số kiếp sống cả. Khi ở trong kiếp nào, thì tôi cho rằng cái đó là “TÔI”, nhưng cái “TÔI” ấy lập tức biến mất khi qua một kiếp sống khác, mọi thứ thân xác của tôi, tài sản của tôi, gia đình của tôi, chồng con của tôi, giới tính của tôi, sở thích của tôi, tài năng của tôi, đất nước của tôi… tất tần tần cũng sẽ lập tức tan biến. Không hề có một cái gì CÒN ĐÓ mãi cả. Ồ, giờ thì tôi đã hiểu, Đức Phật nói “ vô thường” nghĩa là gì, mọi thứ không có cái gì tồn tại mãi cả, chúng đều là những hình tướng biến đổi không ngừng, thay thế cho nhau, luân phiên soán chỗ nhau, mà không một cái gì vĩnh cửu. Ấy vậy mà tôi cứ quá quan trọng chúng, hỉ – nộ – ái – ố theo chúng mà chuốc lấy phiền muộn. Ai khen tôi đẹp, tôi vui. Ai chê tôi xấu, tôi buồn. Nhưng xấu hay đẹp gì thì chẳng phải đều sẽ chết, mục rã thành xác thối, thành xương, tan dần thành bụi sao ? Qua kiếp sau rồi đều quên hết sao ? Vậy buồn vui đó đâu có ý nghĩa gì. Được thêm cái gì, tôi mừng. Mất đi cái gì, tôi tiếc. Nhưng chẳng phải mỗi kiếp trôi qua, mọi thứ đều biến mất, thậm chí tôi còn chẳng nhớ mình đã có gì, mất gì. Chỉ là những cảnh ảo mộng huyễn hóa, được rồi sẽ mất, ngẫm ra chưa bao giờ được, như “vàng trong mộng”, vốn chưa bao giờ được, vì nó có thật đâu. Vậy sao phải chạy theo chúng, bám chấp lấy chúng để bùng lên những tham vọng điên cuồng, rồi chuốc lấy những mất mát chua xót, đau khổ ? Hiểu được điều này, tôi thấy thật nhẹ nhõm, giống như trút xuống một gánh nặng vô hình nào đó trước nay vẫn đè lên tâm hồn. Tất nhiên, đây chỉ là một phần nhỏ thôi, chứ không phải tất cả, nhưng cũng ý nghĩa lắm rồi. Đức Phật gọi đó là “ điên đảo mộng tưởng” quả không hề sai. Tôi đã tỉnh giấc mơ bị đắm tàu. May mắn sao, giấc mơ ấy lại khiến tôi tỉnh cả cái giấc mơ mang tên “cuộc đời” này. Tuy nhiên còn rất nhiều nghi vấn khác xung quanh vấn đề này, vì tôi cũng chỉ là mới bắt đầu thôi. Trên kia mới chỉ là một ý trong vô số ý của kinh Kim Cang, mà kinh Kim Cang cũng chỉ là một trong số rất nhiều kinh điển của Đức Phật. Tôi biết tôi còn phải học rất nhiều, rất rất nhiều nữa. Nhưng ít nhất, tôi cũng đã chạm được vào một cái mốc quan trọng trong hành trình tâm linh vô số kiếp. Hi vọng tôi sẽ còn có thể chia sẻ cùng các bạn trong một bài viết khác, cùng viết về một chủ đề “giấc mộng” này. Nếu bạn thực sự muốn tìm hiểu sâu hơn, xin cmt phía dưới, nói lên thắc mắc của bạn để chúng tôi viết tiếp những phần tiếp theo cho phù hợp. (Diệu Ngọc)

THOÁT HỎA HOẠN NHỜ QUAN ÂM BỒ TÁT.

Hơn năm ngày trôi qua, sau trận hỏa hoạn khủng khiếp nhất thành phố HCM vài năm gần đây. Dư âm của nó vẫn không ngừng lan rộng. Tại hiện trường, bảy ngôi nhà gần kề trên đường Trần Quốc Thảo, phường 7, quận 3 bị thiêu rụi hoàn toàn chỉ còn trơ lại cốt thép đen nhẻm. Những hộ dân được di dời đến nơi ở tạm bợ chờ thời gian khắc phục sự biến. Trong khi đó, cơ quan chức năng vẫn phong tỏa hiện trường nhằm điều tra nguyên nhân sự việc. Cho đến bây giờ người ta vẫn chưa thể ước lượng chính xác khối tài sản khổng lồ bị “bà hỏa” nuốt trọn. Ngoài ra, trong vụ cháy này có một câu chuyện nhuốm màu tâm linh huyền bí được người dân trong khu vực không ngừng truyền tai nhau. Câu chuyện được kể rằng ngôi miếu nhỏ và tượng đức Quan Thế Âm Bồ Tát phù hộ độ trì giúp gia chủ giảm thiểu tối đa thiệt hại sau trận cuồng hỏa.
Tượng thờ Quan Âm không hề có chút dấu tích của ngọn lửa. ( Ảnh minh họa )
Hiện mỗi ngày, có hàng trăm lượt người lưu thông trên đường Trần Quốc Thảo dừng lại quan sát chứng tích của sự việc ly kỳ đó. Tượng thờ Quan Âm không hề có chút dấu tích của ngọn lửa. Từ vị trí đặt tượng trên sân thượng tòa nhà ba tầng tạo thành một đường thẳng phân chia khu vực cháy và khu vực không bị ảnh hưởng. Có rất nhiều người còn quay phim, chụp hình lại hiện trường kỳ lạ đăng tải lên mạng xã hội khiến dư luận không ngừng xôn xao bàn tán. Họ nói rằng, chính tượng Quan Âm đã làm đảo chiều gió khiến ngọn lửa đột ngột đổi hướng. Theo ghi nhân, ngôi nhà thờ tượng Quan Âm do người phụ nữ tên Hương, 51 tuổi làm chủ. Bà Hương cho biết, hôm ấy, những thành viên trong gia đình bà nghe tiếng nổ dữ dội, sau đó ngọn lửa bốc cháy từ quán karaoke sát vách. Sức gió lúc đó rất lớn cộng thêm việc ngọn lửa gặp các vật dụng dễ cháy đã bùng phát. Bà và người thân chưa kịp định thần thì cả đám lửa lớn bao trùm cháy về hướng nhà bà. Họ chỉ biết bỏ chạy tán loạn nhằm bảo vệ tính mạng chứ không kịp để ý đến mọi thứ xung quanh. Gia đình bà chạy thoát được ra ngoài thì cũng là lúc ngọn lửa đột ngột đổi hướng. Bà Hương trầm tư: “Khi chạy ra, tôi chỉ nghĩ, giữ được tính mạng là tốt rồi còn ngôi nhà và toàn bộ tài sản chắc chắn sẽ bị thiêu rụi. Tôi không hề hay biết sự việc sau đó diễn ra như thế nào. Sau này mới nghe nhiều người chứng kiến kể lại ngọn lửa cháy đến tượng Quan Âm thì dừng lại”. Một nhân chứng cho biết, “ngọn lửa bốc lên cao trông rất khủng khiếp. Nó lan nhanh sang tòa nhà ba tầng bên cạnh. Nhưng khi đám cháy bắt đầu lan tới vị trí thờ Quan Âm thì bất ngờ có một cơn gió lớn thổi qua. Cơn gió làm đổi hướng cháy ngọn lửa lan liên tiếp về các tòa nhà phía dưới. Lúc đó nhiều người kinh ngạc bảo chính Quan Âm hiển linh để cứu tòa nhà. Chứng kiến cảnh tượng hy hữu đó khiến tôi như lạnh gáy. Sự việc khiến người dân càng sùng kính hơn vào việc thờ tự đức Phật, Quan Âm Bồ Tát. **************** (31). Tại Minh Huy, có người họ Uông ngụ ở Côn Sơn, đối diện với nhà Vương Trưởng lão. Người họ Uông này phát nguyện trì trai niệm Phật đã ba năm và dự định sẽ đến Phổ Đà Bảo sơn để chiêm bái cúng dường Đức Quan Âm Đại sĩ. Vào ngày Nguyên Đán, ông sắm sửa hành trang xuống thuyền, bổng nhiên hiệu buôn bên cạnh nhà ông bị hỏa hoạn, người nhà vội đi tìm báo tin cho ông biết, và hối thúc phải trở về nhà gấp để lo phòng hỏa hoạn sẽ lan sang hiệu buôn của ông. Người họ Uông bình tĩnh đáp: – Tôi đã trải qua ba năm chí thành nguyện trường trai niệm Phật, mong được đến Bảo Sơn cúng dường chiêm bái Bồ Tát, hôm nay đâu vì một cái tiệm mà thay đổi chí hướng. Tiệm cháy thì đành chịu, Tôi không thể về. Nói rồi chiếc thuyền của Ông nhổ neo, dương buồm hướng về phía Hải Nam mà lướt sóng. Sau khi chiêm bái cúng dường Đại sĩ “ Bồ Tát” trở về Côn Sơn thì Ông thấy các hiệu buôn bốn phía quanh nhà Ông cùng với nhà Vương Trưởng lão đều thành một đống tro tàn đổ nát, duy chỉ có hiệu buôn của Ông vẫn còn nguyên vẹn. Dân chúng thời ấy đều truyền tụng câu chuyện này và tán thán là điều chưa từng có. (Trích Hiện quả tùy lục)
Quán Thế Âm Bồ Tát .
_______________________________ (32). Triều nhà Thanh, Phật tử Thái Tư Nhương, phụng mạng triều đình thực hiện việc giám sát các tuyến vận tải đường thủy tại cửa sông Hoàng Hà. Ông đến Giang Tây, một thị trấn nằm bên bờ sông Hoàng Hà thuê một dãy nhà lớn của dân địa phương để làm công sở. Dãy nhà này không có vách ngăn, bốn phía để trống, nằm liền kề với nhà dân chúng. Ngày 11 tháng 5, thị trấn Giang Tây bị hỏa hạn, tất cả các gia đình đều lo cứu hỏa và dời đồ vật ra ngoài. Trong lúc đó, Phật tử Tư Nhương vẫn ngồi yên bất động. Gia nhân thấy vậy rất sợ hãi, đã mấy lần đến thỉnh xin ông ra ngoài tránh nạn lửa nhưng ông không nao núng và không ra khỏi chổ ông ngồi. Ngọn lửa càng lúc càng dữ dội, lan sang các nơi bên cạnh và thiêu cháy các nóc nhà sát chổ của Tư Nhương. Tuy nhiên có điều rất lạ là khi lửa đến nơi nóc nhà của Tư Nhương thì lướt qua khu nhà này và tiếp tục thiêu hủy mấy nóc nhà kế tiếp rồi mới tắt. Dân chúng xung quanh thấy ly kỳ bèn gạn hỏi: – Ngài có pháp thuật chi mà được như vậy? Tư Nhương đáp: -Tôi hoàn toàn không có pháp thuật chi cả. Lúc lửa cháy dữ dội, chỉ kiền thành trì tụng Chú Đại Bi của Quán Thế Âm Bồ Tát để cầu xin Ngài cứu độ cho qua nạn lửa mà thôi. Có một người nghe xong bèn nói: – Thần chú của Phật linh hiển là lẽ dĩ nhiên, chúng tôi không bao giờ dám phủ nhận, nhưng chúng tôi thấy bao nhiêu người trì tụng mà ít thấy người cảm được sự linh ứng. Vậy mà Ngài dám cả gan ở trong biển lửa, ngồi yên bất động, đây chẳng phải là việc hy sinh thân mạng một cách oan uổng hay sao? Phật tử Tư Nhương lại ôn hòa giải thích: – Quý vị nói đúng. Gia đình tôi từ thời tổ tiên đến nay, qua nhiều đời đều chí thành trì tụng Thần chú ấy nên được thoát ly tất cả tai nạn đao, binh, thủy, hỏa, v.v… những việc này không thể nào kể hết được. Chính bản thân tôi trì tụng Chú Đại bi đã hơn 20 năm, mỗi khi gặp cấp nạn thì chí thành khẩn thiết trì tụng liền được cảm ứng. Trước đây, vào niên hiệu Càn Long năm thứ 29 nhà Thanh vào lúc mùa Xuân, lúc ấy tôi đang ở Kinh Sư, nhà tôi nằm trên phía nam hồ Đầm. Một ngày nọ, xóm nhà này phát hỏa, lại nhằm lúc gió Nam thổi mạnh, ngọn lửa nương theo sức gió nên cháy lan dữ dội. Lúc đó, tôi biết mình không thể nào dời đồ đi cho kịp nên nhất tâm thành kính trì Chú Đại Bi. Chưa xong một biến thì gió đổi hướng, ngọn lửa chuyển sang hướng khác, nhờ đó mà nhà tôi còn nguyên vẹn. Vì vậy, tôi tin chắc rằng thần chú Đại Bi này có năng lực chuyển tất cả ách nạn. Nếu lòng tin không chân thật thì tôi đâu dám khinh thường sanh mạng, dấn thân vào chổ hiểm nguy như thế. (Trích Tín tâm Lục) __________________________________- (33). Phật tử Châu Văn Trị tự là Thiếu Tiên, người ở Dư Giao. Trong niên hiệu Gia Khánh nhà Thanh, ông đổ cử nhân. Thiếu Tiên là người chánh trực, nhân hậu, lại đặc biệt có đức hiếu hạnh. Khi nhậm chức học chánh ở Châu Hải Ninh, ông có biên lời tựa cho một quyển sách tên là Thuyết Tiêu Lâu Ích Thọ Tỏa ngọa ký, trong ấy có một đoạn văn ngắn kể về một việc hỏa hoạn như sau: Niên hiệu Đạo Quan, năm thứ tư nhà Thanh, vào ngày mùng 7 tháng 9 năm Giáp Thân, xóm nhà phía Bắc bị hỏa hoạn, xóm nhà này lại nằm sát hướng Đông nhà tôi ở. Tôi thường ngày trì tụng Thần chú Bạch Y của Quán Âm Đại Sĩ không gián đoạn, vì thế trong lúc hỏa hoạn cấp bách này, tôi cũng vẫn thành tâm trì tụng. Chỉ trong chốc lát, hơn mười nhà đã thành đống tro tàn, ngay sau đó một trận cuồng phong bổng nổi dậy, gió đột nhiên chuyển sang hướng tây nên Thuyết Tiêu Lầu của tôi bắt đầu chìm vào biển lửa, không làm sao dập tắt được. Tôi liền chí thành trì niệm Bạch Y Thần Chú. Ngay lúc thập tử nhất sanh ấy, thì trời bổng đổ xuống một trận mưa to mặc dù bầu trời rất quang đãng, gió cũng ngừng hẳn, nhờ đó mà mọi người dập tắt được lửa dữ, tất cả mọi người trong nhà tôi ai cũng đều kinh sợ. Cũng trong ngày ấy, thì phụ thân tôi đang đi vào trong núi, khi ông trèo lên đỉnh núi nhìn về hướng nhà tôi thì xa xa, ông trông thấy có hai người mặc bạch y cao chừng một trượng, đứng ở hai hướng đông và tây trên nóc nhà của tôi, và cùng làm động tác giống như người đi chửa lửa. Thời gian sau đó, tôi nhớ hôm ấy là ngày 30 năm Mậu Thìn, một xóm nhà dân ở phía sau căn lầu thờ Pháp bảo ở Hải Dương của tôi lại bị hỏa hoạn, gió tây bắc thổi mạnh nên đưa ngọn lửa áp sát thẳng đến lầu Pháp bảo. Dù thời tiết lúc đó vào mùa đông, trời rất lạnh nhưng các cánh cửa, song cửa sổ, vách tường đều nóng như lửa than. Khi ấy, tôi vẫn ở dưới lầu chí thành tụng chú. Chỉ trong nháy mắt, gió đã dừng lại. Thế là tôi được sự che chở của Phật lực, tính đến lần đó đã là lần thứ hai.” (Trích Nhiếp Vân Đài Canh Tân Trai Tùy bút) _________________ NHÀ KHÔNG THỂ CHÁY. ( Bùi Thị thu Huyền “Quảng Ninh” kể về chuyện của chính gia đình mình ) Vào rằm tháng 6 năm 2014, trước hôm đó, là một ngày nắng to và nóng ở Hạ Long. Tối đó, gia đình tôi gồm 5 người, cùng nhau lên tầng hai bật điều hòa nằm ngủ. Bên cạnh nhà tôi là hai quán bán đồ ăn đêm, lúc nào cũng 3h sáng họ mới bán xong.
Theo đúng lí thì lửa cháy như thế sẽ phải lan thẳng sang nhà tôi, nhưng không hiểu sao nó không lan sang, mà nó chạy thẳng lên tầng trên nhà bác Quý. ( Ảnh minh họa )
Quán ăn nhà bác Quý sát vách nhà tôi, để bếp gas, bếp lò ngay cạnh nhau. Mẹ tôi đã khuyên nhiều lần là nên cẩn thận, không nên để cạnh nhau như thế, mà bác Quý vẫn ko nghe. Lúc 1h sáng rằm tháng 6 năm 2014, bếp gas bị rò rỉ gas nên bếp lò bên cạnh bốc cháy. Bàn bày đồ ăn và ô che cháy đen thui. Bên trong nhà các vật dụng đều nóng chảy hết, sun xoăn lại hết. Cháy hết các vật dụng đó, lửa cháy to chuẩn bị sang nhà tôi. Theo đúng lí thì lửa cháy như thế sẽ phải lan thẳng sang nhà tôi, nhưng không hiểu sao nó không lan sang, mà nó chạy thẳng lên tầng trên nhà bác Quý. Trong khi đó, năm người nhà tôi vẫn ngủ ngon lành, không ai cảm thấy gì cả. Xóm làng nhìn thấy cảnh tượng đó đều chạy toán loạn, nhà nào có xe con, xe chở hàng đều chở gia đình họ ra ngã ba hoặc xuống quân khu ba để lánh nạn. Các bác trong tổ dân phố đều gọi điện cho bố, mẹ tôi nhưng không ai nhấc máy cả. Cả nhà ngủ ngon đến 5h sáng. Sáng hôm sau, bố mẹ tôi vẫn thức dậy làm việc bình thường, tất cả xóm ra kể chuyện cho mẹ tôi biết. Mẹ hoảng hốt kể lại cho gia đình tôi nghe. Các bà hay đi chùa bảo: Nhà mày có phúc lắm đấy, lửa cháy mà không sao. Sau đó mẹ tôi lên bàn thờ lạy Đức Phật, gia đình tôi may mắn như vậy cũng chắc là do tối nào trước khi đi ngủ cả nhà đều niệm Phật. Mẹ tôi hay đi chùa, phóng sanh, đọc kinh, ấn tống sách… Tôi cũng được thừa hưởng thiện căn đó nên cũng học tập mẹ, đọc kinh Địa Tạng, kinh Nhân quả.. Mong câu chuyện nhỏ này sẽ giúp mọi người tinh tấn hơn trên con đường tu tập.

ẢO ẢNH LUÂN HỒI

Sống Ảo Đời Vô Thường: – Tôi xin hỏi bạn trả lời giùm hai câu này ạ… nếu được tôi thật hoan hỉ : Một – lúc chưa sinh ta ra…ta là ai ? Hai – lúc sinh ta rồi….ai là ta ? Trả lời : Khi chưa sinh, ta là ảo ảnh mang tên kiếp trước Sinh ra rồi, ta tiếp bước cảnh ảo gọi kiếp này. Chết rồi ảo ảnh luân hồi qua kiếp khác, Lại đem cuộc đời ấy, kiếp ấy gọi là ta. Những ảo ảnh nối nhau liên tiếp Ta là cái nào trong vô tận kiếp liên miên ? Nhân quả tuần hoàn rồi Vô thường tan biến Chung quy chỉ như các giấc mộng nối liền Vô biên kiếp hãi hùng và khổ sở Sinh ra liền diệt mất, có gì sở hữu được ? Vì tất cả vốn là ảo ảnh hóa hiện Sao lại nhận ảo ảnh thiên biến để làm Ta ??? Buông hết đi, không ta, không người, không thọ giả… Không cầu được gì thì sẽ là chẳng mất CHÂN TÂM thật tướng dần hiển hiện Không sinh chẳng diệt, Tâm bất biến vĩnh hằng Bình an vô tận không gợn chút lăn tăn Là Niết Bàn – tạm đặt tên như vậy Hết Ta, hết khổ, hết lằng nhằng.

VIỆC NÀO LÀ VIỆC THIỆN ? PHƯỚC KHÁC ĐỨC CHỖ NÀO ?

Hỏi : – Ta làm một VIỆC NHƯ THẾ NÀO GỌI LÀ VIỆC THIỆN, VÀ LÀM VIỆC THIỆN NÀO THÌ ĐƯỢC PHƯỚC VIỆC NÀO KHÔNG ĐƯỢC PHƯỚC. Giữ giới có được phước không ? https://youtu.be/6NPL5ExV2tA?t=18s Đáp : Làm việc thiện là làm cho chúng sinh bớt khổ cho đến hết khổ. Như bố thí tài vật là làm cho kẻ khác đỡ khổ do túng thiếu, chữa giúp cho người bệnh tật là giúp họ bớt khổ về thân xác, phóng sinh là giúp chúng sinh thoát khổ dao thớt chiên xào.v.v…. Giữ giới không sát sinh là tránh đau khổ do giết hại cho chúng sinh ngay từ đầu. Các giới khác cũng tương tự… Bố thí pháp, đặc biệt là chánh pháp của Đức Phật có thể đưa con người ta đến chỗ chấm dứt mọi đau khổ nên là công đức vĩ đại nhất. Như thế cả bố thí ( bao gồm bố thí tài vật, công sức, thời gian, bố thí sự an toàn, bố thí pháp…) và giữ giới, không làm những việc tổn hại tới mình, tới các chúng sinh khác đều là việc thiện. Mà hễ là việc thiện thì đều có phước, cho dù giữ giới tưởng như chưa ảnh hưởng tới ai nhưng vẫn tạo ra phước, trong kinh Hiền ngu có chuyện 2 người nhờ giữ 8 giới Bát quan trai mà người được làm vua ,người được sinh thiên, và còn rất nhiều chuyện khác. Và ta cần lưu ý, có những việc tưởng như có phước, như bao người khác ăn nhậu, đàng điếm… thấy giống như bố thí nhưng không có phước, chỉ có tội và nợ thôi, vì những việc đó khiến chúng sinh chìm sâu thêm trong đau khổ chứ không có bớt khổ, như thế là bất thiện, và còn phải lưu ý khi làm thiện cho chúng sinh này mà hại tới nhiều chúng sinh khác, như vậy coi như bị lỗ, nên tránh, nếu bắt buộc phải chọn lựa thì nên chọn việc hại ít chúng sinh mà có thể làm lợi nhiều hơn cho nhiều chúng sinh khác. ____________________________ Hỏi : – Phước và đức có khác nhau như thế nào? Đáp: – Phước là quả báo của việc thiện, còn đức là cái tốt trong tâm. Hai cái có khi đi chung, có khi không đi chung. Về cơ bản, đức sinh ra phước, như người hào phóng (đức) sẽ được giàu sang ( phước), nhưng cũng có khi phước sinh ra đức như người cúng dường tượng Phật ( phước ) nhờ đó kiếp sau trở thành người hiền thiện. Đức & phước khi không đi chung với nhau hay gây ra sự hoài nghi về nhân quả, nhưng đây là điều vẫn hay xảy ra, do có rất nhiều trường hợp phức tạp, đơn cử như người làm phước vì động cơ xấu, như tặng quà cho trẻ mồ côi để tạo danh tiếng tốt, cứu trợ bão lụt vì mục đích quảng cáo… những người đó sau này sẽ giàu có mà rất ích kỉ và huyênh hoang, tự đại. Hoặc những người đức độ mà chịu nhiều khổ sở, ta nên biết trong quá khứ vô lượng kiếp, không phải lúc nào họ cũng đức độ như vậy, kiếp xưa họ cũng đã tạo nhiều ác nghiệp vậy, nên hiện tại họ vẫn phải chịu ác nghiệp, còn nhờ cái đức hiện tại mà tương lai họ sẽ có quả báo tốt đẹp trong tương lai. Vấn đề này rất phức tạp, cần phải viết nhiều quyển sách mới diễn tả hết được,không thể nói hết trong một vài câu.

NGHIỆP CÓ THỂ TIÊU MẤT KHÔNG ? BẰNG CÁCH NÀO ?

Kim Hoa : – Quang Tử cho mình hỏi: NGHIỆP ĐÃ GÂY CÓ THỂ TIÊU hoặc MẤT ĐI KHÔNG? VÀ BẰNG CÁCH NÀO? Khi xa xưa dòng họ Phật Thích Ca bị thảm sát, dù đã biết trước nhưng không thể ngăn chặn, như vậy Nghiệp đã gây thì phải trả đúng không? Có rất nhiều câu chuyện về việc trả Nghiệp của nhiều Thầy, nhiều nhà tu hành. Có câu ” Đức năng thắng số” …. mình nên hiểu thế nào đối với các nhà tu hành có nghiệp mà vẫn phải trả nghiệp ? Cám ơn Quang Tử. https://youtu.be/nmZoqtmy6Uw?t=7m6s Quang Tử : Các bạn thân mến, Quang Tử xin mạn phép trả lời các câu hỏi theo cái nhìn nông nổi, hạn hẹp của cá nhân, nếu có gì sai sót, xin quý đạo hữu chỉnh sửa giúp : 1. Nghiệp đã gây ra, nếu để yên không tác động gì vào đó thì dù có để lâu trăm triệu kiếp hay lâu hơn, dù có trốn sang hành tinh xa xăm nào khác thì Nghiệp cũng tìm đến tạo ra quả báo được. Nhưng nếu biết làm theo các cách mà Đức Phật chỉ dạy thì có thể làm cho nghiệp giảm bớt thậm chí tiêu hết hẳn. Có rất nhiều cách: – Sám hối :làm tiêu trừ các nghiệp nhẹ, bào mòn các nghiệp nặng – Tạo công đức thật nhiều để cầu tiêu trừ nghiệp chướng, tùy vào công đức đó nhiều hay ít, có thể khiến các nghiệp bị hao mòn cho đến tiêu sạch cả. Các công đức như niệm Phật, lạy Phật , tụng kinh, trì chú, giúp người, cứu vật phóng sinh, ấn tống, bố thí v.v… Ta nên kết hợp cả 2 cách trên, thực hành kiên trì, bền bỉ thì sẽ làm tiêu trừ các ác nghiệp quá khứ một cách chắc chắn và mạnh mẽ. 2. Riêng về sự kiện dòng tộc Thích Ca bị tàn sát, không phải chuyện dễ luận bàn. Cuộc đời Đức Phật không giống như phàm phu chúng ta, chúng ta bị dòng nghiệp như thác nước cuốn, chuyện gì cũng không biết trước, chuyện gì cũng do nghiệp lực an bài từ trước, đến đâu hay đến đó chứ chúng ta không tự tại sắp xếp kiếp sống hiện tại của mình được. Nhưng Đức Phật thì khác, ngay cả trước khi thành Phật, trước khi sinh xuống thế gian thì Ngài đã là Đại Bồ Tát Nhất Trú Bổ Xứ, thần lực vô biên, phước đức ngập tràn vũ trụ, Ngài hoàn toàn tự tại sắp xếp mọi sự việc diễn ra trong kiếp thành Phật của mình, từ ngày sinh, nơi sinh, dòng tộc, cha mẹ, từ chúng hội đệ tử, thời gian thành Phật, v.v…tất cả từng sự việc từ nhỏ đến lớn đều do Ngài khéo léo dùng phước đức sắp xếp, để cho từng việc từng việc một đều để lại một những bài học sâu xa cho hậu thế, hoặc để khiến cho chúng sinh tạo lập được những công đức thù thắng. Theo như tầm nhìn hạn hẹp của cá nhân Quang Tử, dòng tộc Thích Ca bị tàn sát đương nhiên là do ác nghiệp đã thành thục từ quá khứ, nhưng không phải là không thể nào hóa giải, mà quan trọng hơn, đó là một bài học vô cùng ý nghĩa để lại cho hậu thế. Chúng sinh cõi này đa số thường sinh tâm ỷ lại, thường thích đạt được những kết quả tốt đẹp, lớn lao… nhưng không muốn bỏ ra nhiều công sức, thay vào đó họ thích cầu xin thần Thánh ban phước, giải tội.. cho họ ( Như vậy rất là khỏe ! Ta có thể thấy những người như thế ở khắp nơi, khắp các tôn giáo, họ suốt ngày van xin thần Thánh, ỷ lại vào sự từ bi và thần lực của các Bậc Thánh, nhưng nếu nói họ bỏ công sức ra tu tập như lời dạy của Thánh Hiền, thì họ sẽ lảng tránh, thoái thác ) những người như thế không hiểu được rằng, dù các vị Thánh có thể dùng phước đức của các Ngài gia hộ cho họ, nhưng không phải là hoàn toàn, mà đó là một sự hỗ trợ, còn cái chính vẫn là bản thân mỗi người phải gắng sức tu tập, từ bỏ việc ác, siêng tu phước đức…chứ nếu một người thường xuyên làm việc ác, không lo tu tập, chỉ cần cầu xin Thần Thánh là mọi việc trót lọt, êm đẹp hết, bao nhiêu tội – nghiệp được tiêu trừ hết thì cần gì phải tu hành, cần gì phải lo sống tốt, cứ thế chỉ khiến cho xã hội ngày càng tệ hại hơn, càng chẳng có Đạo lí gì cả, đó không phải điều mà các Đức Phật, các Bậc Thánh muốn. Sự kiện dòng tộc Thích Ca là một tiếng chuông dõng dạc cho những ai thích ỷ lại vào Thần Thánh , vào chư Phật mà không tự mình lo tu tập, lo sám hối ác nghiệp, lo tích chứa công đức. Họ nhìn vào đó mà nhận ra rằng ” Chính họ hàng thân tộc của Đức Phật, nếu có nghiệp xấu, cũng phải chịu quả báo như thường, ta nay chẳng phải thân thích của Phật, tạo ra ác nghiệp, nếu không tự thân lo tu tập, sám hối… chỉ trông mong van xin Phật mà lại có thể thoát được quả báo, thì thật vô lí” Nhờ bài học này, người có trí, biết suy xét sẽ nỗ lực tự mình tu tập theo lời Phật dạy, thay vì chỉ biết van xin, ỷ lại vào Phật mà trông mong thoát tội được phước. Đó mới là điều quan trọng. 3. Ác nghiệp của mỗi người chúng ta, gây ra từ vô số kiếp trước là cực kì to lớn. May mắn cho chúng ta là khối ác nghiệp ấy không trổ ra cùng trong một kiếp ( như thế thì không ai chịu nổi hết) mà chúng rải ra trả từ từ trong nhiều kiếp, mỗi kiếp đều đã ấn định là có bao nhiêu nghiệp xấu, bao nhiêu phước báo sẽ trổ ra thành các việc thành bại,được mất, may rủi… trong đời. Nếu một người khéo tu tập sám hối, tạo phước đức, thì ta có thể làm cho các nghiệp xấu được ấn định phải trả trong kiếp này tiêu mất, như thế ta sẽ thấy cuộc sông rất dễ chịu, không thấy các điều bất hạnh, mà toàn là an lành, hạnh phúc, may mắn. Song đó chỉ là kiếp này thôi, qua kiếp sau thì các món nghiệp từ vô số kiếp xưa vẫn tiếp tục phải trả, vẫn cứ bệnh tật, xui xẻo, đủ thứ đau khổ … dài dài nhiều kiếp. Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu một người nào đó tu hành một cách quyết liệt, tích chứa công đức với một khối lượng khổng lồ, chứ không phải tu tàn tàn , sơ sài ? Nếu tu một cách quyết liệt như thế, vậy thì, thay vì chỉ làm tiêu trừ các nghiệp được ấn định xảy ra trong kiếp hiện tại, người đó sẽ làm tiêu trừ, hao mòn cả cái khối nghiệp khổng lồ tích chứa từ nhiều kiếp xa xưa. Cái khối nghiệp ấy thay vì phải đọa vào địa ngục, súc sinh, hay phải chịu những quả báo thảm khốc như bị đâm, bị chém, tai họa khốc liệt… nhiều nhiều kiếp, thì nay nhờ quyết tâm tu tập, tạo ra những công đức vĩ đại… khối nghiệp từ xa xưa kia sẽ được gom lại, tiêu nhỏ lại thành một quả báo nhẹ hơn nhiều, người tu hành quyết liệt kia chỉ cần hứng chịu quả báo đó ( ví dụ như một vài căn bệnh, một vài trận đòn, một sự sỉ nhục…) thì các kiếp sau không phải gặp những ác báo liên miên nhiều kiếp nữa. Đây gọi là chuyển nghiệp nặng thành nhẹ. Ta thường thấy những vị Đại tu hành nổi tiếng hay gặp những ác báo như thế, ví như Ngài Đường Huyền Trang ( Đường Tăng), cuối đời Ngài bị bệnh nặng. Trong giấc mơ ngài thấy thần hiện ra, nói với Ngài là nhờ trận ốm thập tử nhất sinh này, vô số tội nghiệp quá khứ liền được tiêu trừ cả. Như vậy, khối nghiệp cực lớn đã chuyển thành nghiệp nhẹ, trả một lần là xong, không dây dưa nhiều kiếp. ___________________ Văn Dự : – Anh Quang Tử ơi cho em hỏi chút, “tất cả các pháp đều do nhân duyên hòa hợp tạm thời do nghiệp dẫn dắt”. Chỗ “nghiệp dẫn dắt” là nghiệp nhiều kiếp trước, vậy toàn bộ suốt quãng đời của mình đến chết đều do nghiệp kiếp trước dẫn dắt mọi hành động cử chỉ, ý nghĩ đều vào khuôn khổ rồi, vậy nếu toàn bộ nghiệp kiếp trước dẫn dắt thì kiếp này mìh chỉ trả nợ thôi và vân vân thêm nhiều kiếp hết nợ nghiệp dẫn dắt nữa thì có một điểm dừng. Và như nghiệp dẫn dắt, vậy ý nghiệp mìh vừa khởi lên trong kiếp này cũng đã bị Nghiệp quá khứ chi phối vào khuôn khổ phải không anh ? Quang Tử : – Nghiệp là một dòng nối tiếp nhau chứ không chia cắt rời ra kiếp trước – kiếp hiện tại – kiếp sau. Ta cần sửa lại là Nghiệp quá khứ ( tức là nghiệp đã tạo ) – Nghiệp hiện tại ( tức nghiệp đang làm) và Quả tương lai ( tương lai tính từ giây phút hiện tại, đến khi chết, và qua cả những kiếp sau, chứ không phải “toàn bộ suốt quãng đời của mình đến chết ” đâu, vì tính từ lúc này cho đến khi em chết, đó là tương lai rồi ) Trong đó, Nghiệp quá khứ chi phối RẤT LỚN đến hiện tại và tương lai, chứ không phải là TOÀN QUYỀN ấn định hiện tại và tương lai. Cái ta có thể thay đổi chính là những việc trong hiện tại, và nhờ đó, một phần ít nhiều của tương lai được sắp xếp lại. Nói ‘một phần ít nhiều của tương lai’ là vì tương lai được hình thành bởi cả 2 : Nghiệp quá khứ và nghiệp hiện tại. Nếu hiện tại không có tạo phước tội gì đáng kể, thì tương lai sẽ y theo sự sắp xếp của Nghiệp quá khứ mà diễn ra. Muốn tương lai thay đổi, không theo điều khiển của Nghiệp quá khứ nữa, ta cần nỗ lực tạo ra những Nghiệp lành trong hiện tại. Nỗ lực như thế nào ? Đó là cần thuận theo Nhân quả, gieo trồng thật nhiều phước đức cả về thân – khẩu – ý, nhờ vậy, tương lai sẽ dần thay đổi theo ý muốn của ta. Tóm lại, dù Nghiệp quá khứ đã ấn định như thế, nhưng nếu trong hiện tại ta biết cách và cố gắng, vẫn có thể thay đổi tương lai được không nhiều thì ít. Chứ nếu chỉ có một chiều : Nghiệp quá khứ ấn định cho hiện tại và cả tương lai, không thể thay đổi, thì vĩnh viễn chúng sinh không ai tu thoát khỏi luân hồi sinh tử được. Tầng cơ bản là như thế, nhưng xét kĩ ở tầng sâu xa. Người mà có khả năng hiểu biết nhân quả, để biết cách và đủ sức làm thay đổi Nghiệp quá khứ, thì cũng phải là có phước trí tuệ gieo trồng từ quá khứ, chứ không phải là ngẫu nhiên. Và những người như thế không phải nhiều nhặn gì so với vô số người không biết. Vậy truy nguồn gốc tiếp, vì đâu người này có phước trí tuệ đó? Người khác thì không? Do vì có các bậc Thiện Tri Thức trong Phật Pháp giáo hóa (Thiện Tri Thức tối thượng là các Đức Phật, dưới là các vị Bồ Tát, các vị Thanh Văn, Duyên Giác, các đệ tử Phật, những người hiểu thấu Đạo lí…) một số người nghe theo lời dạy của các bậc Thiện Tri Thức mà tạo được phước trí tuệ . Nhờ đó đến kiếp sau trí tuệ mở ra, mới có thể tin hiểu được Nhân quả và thực hành theo Đạo lí, nhờ thế mới chuyển hóa được Nghiệp quá khứ. Còn những người không nghe lời giáo hóa, thì không làm phước gì, vì thế trí tuệ không mở ra, không tin hiểu Nhân quả, không sống theo Đạo lí được, thì không sao mà có thể chuyển được khối Nghiệp khổng lồ của quá khứ , thế thì cứ y theo Nghiệp quá khứ mà trôi lăn, đầy đọa trong sinh tử. Vậy truy nguồn gốc tiếp, vì đâu người này có duyên mà nghe theo lời các bậc Thiện Tri Thức, người khác thì không ? Là do có nợ ân nghĩa với các bậc Thiện Tri Thức. Các bậc Thiện Tri Thức muốn đem Đạo lí dạy cho chúng sinh, trước tiên cần gieo duyên khiến cho chúng sinh mắc nợ mình, sau này nói Đạo lí chúng sinh mới nghe theo. Nếu không có duyên có nợ gì, chúng sinh sẽ có trăm ngàn cách khác nhau để không nghe. Hoặc là không tin, hoặc là cảm thấy chán không muốn nghe, hoặc quên, hoặc lười nhác, hoặc bận việc, hoặc bị ngoại cảnh lôi kéo sang hướng khác, hoặc không hiểu, .v.v…. mà đơn giản nhất là không gặp, không tiếp xúc gì với các bậc Thiện Tri Thức. Là do các bậc Thiện Tri Thức khi gieo duyên, không thể đồng loạt cứu giúp hết thảy chúng sinh, vì chúng sinh đông quá, nên sẽ có chúng sinh này được cứu giúp trước, chúng sinh kia thì phải để sau. Ví dụ như khi đi phóng sinh, ta bình đẳng muốn thả hết những con vật sắp bị giết trên đời, nhưng túi tiền có hạn, ta chỉ mua được một phần nhỏ trong số những con bị giết thôi. Kiếp sau chỉ những con vật được ta phóng sinh mới nghe theo lời ta nói, còn vô số những con không được ta cứu thì không nghe, mọi chuyện đơn giản là vậy. Cầu siêu, hiến máu, bố thí, tặng quà. v..v.. đều sẽ như thế. Dù có cứu giúp cho mọi chúng sinh trong cả một Phật sát vi trần thế giới, thì cũng luôn còn vô lượng chúng sinh trong vô biên Phật sát vi trần thế giới khác chưa được cứu. Quay lại vấn đề ban đầu, ở hiện tại kiếp này , nếu biết cách và dốc sức, thì có thể thay đổi một phần nào đó khối nghiệp quá khứ. Chỉ một phần nhỏ thôi vì khối Nghiệp quá khứ vô cùng khổng lồ. Muốn thay đổi toàn bộ khối Nghiệp khổng lồ đó cần nỗ lực trong nhiều, rất nhiều kiếp sau nữa. Trong đó, nghiệp về sức khỏe dễ chuyển nhất. Tiếp theo là nghiệp về tiền bạc, … khó chuyển nhất là phước trí tuệ, đây là món đắt giá nhất, quý báu nhất, nên phải gom số công đức vô cùng to lớn, tích lũy nhiều kiếp mới tăng tiến được. Ví như cùng tạo công đức phóng sinh 1000 con rùa như nhau, một người cầu giàu có, thì vài chục năm thôi là nứt đố đổ vách rồi, một người khác cầu trí tuệ, thì sau mấy chục năm vẫn chưa thấy gì nhúc nhích. Qua nhiều kiếp sau mới nhích lên từ từ. _____________________ *Lưu ý : Đây là những chia sẻ kinh nghiệm – quan điểm cá nhân của Quang Tử trong quá trình nghiên cứu kinh điển của Đức Phật, không đại diện cho tông môn nào. Các bạn có thể xem đây là một lời khuyên chân thành từ một đồng đạo. Nếu có gì thiếu sót, Quang Tử mong nhận được sự đóng góp của các bậc thiện tri thức mọi nơi. Xin chân thành cảm tạ !

SỐNG LẠI NHỜ KINH ĐỊA TẠNG.

( Lọat bài về những thành viên trong nhóm ” Luân hồi & nhân quả” ) Tôi tên Thu Hương, là một Phật tử ở DakLak ( thôn 14 xã Eadar, huyện Eakar, Daklak), hôm nay xin được tâm sự với mọi người về sự linh ứng vi diệu của Kinh Địa Tạng mà bản thân tôi từng được trải nghiệm. Truyện là về bà ngoại tôi, bà là người có niềm tin sâu chắc vào Phật Pháp, thường ngày bà hay tụng Chú Đại Bi và niệm Phật. Gần đây, bà lâm bệnh nặng, gia đình tôi đưa bà lên bệnh viện theo dõi thì bà đã hôn mê, bất tỉnh. Tay chân và người bắt đầu lạnh, lưỡi bắt đầu cứng lại. Bệnh viện họ quyết định trả bà về, gia đình tôi ai cũng nghĩ là bà sẽ không qua khỏi. Ba và chị gái tôi ở xa cũng đã về để gặp bà lần cuối. Những ngày đó, tâm trí tôi rối bời, không hiểu vì sao một Phật tử tinh tấn như vậy, khi lâm chung lại hôn mê đến thế? Tôi liền phát tâm tụng kinh Địa Tạng hồi hướng công đức cho bà. Khi tụng hết quyển Trung ( Kinh Địa Tạng chia làm 3 phần: quyển Thượng, Trung và Hạ ), thì lưỡi bà đã thấy ướt và cử động được, đến chiều tay chân cũng cử động được, thật vi diệu. Cũng hôm đó, tôi có nói với bà nên sám hối, và nhờ thêm người gì sám hối thay cho bà những nghiệp chướng sát sinh trong quá khứ khiến bà bị hôn mê lúc này. Sang hôm sau, tôi tụng hết quyển Hạ, thì bác sĩ cho rút ống ở mũi ra, bà bắt đầu ăn được nửa chén cháo, và có thể nhờ người nhà đỡ dậy. Cũng từ đó bà khỏe dần lên. Cho đến hôm nay ngày 5, tháng 6, năm 2016 từ một người bệnh viện quyết định trả về, bà tôi đã bình phục và có thể đi lại được .Gia đình tôi ai cũng vui mừng khôn siết, và hết lòng cảm ân Phật Pháp đã cứu sống bà. Kinh Địa Tạng quả là vi diệu không thể nghĩ bàn.

NHỮNG CÂU CHUYỆN KÌ LẠ VỀ CHÚ ĐẠI BI.

( Lọat bài về những thành viên của grroup “Luân hồi & Nhân quả”) Tôi tên là Lệ Nghi, là một Phật tử sống tại TP.HCM, câu chuyện sau đây của tôi là một bằng chứng về sự linh ứng lạ lùng của chú Đại Bi, một thần chú rất nổi tiếng trong đạo Phật. Khi đó, bà ngoại của tôi được gần 90 tuổi, một hôm không may bà bị té ngã. Gia đình đưa bà vào bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình TP.HCM. Bác sĩ nói là bà ngoại tôi già yếu quá, băng bó vết thương, về nằm tịnh dưỡng thôi, chứ không đảm bảo gì là sẽ lành được vì người già mà, xương khớp cực kì khó lành. Nghe bác sĩ nói vậy gia đình tôi buồn lắm. Sau đó, tình cờ tôi nhớ đến chú Đại Bi, lúc đầu tôi cũng không nghĩ rằng chú Đại Bi linh nghiệm tức khắc, tôi chỉ nghĩ rằng chắc là mình tin, mình cầu nguyện cho bà thì được đến đâu, hay đến đó, quan trọng là thành tâm. Tôi liền thử lấy chú Đại Bi ra đọc, và cầu nguyện cho bà ngoại sớm mau lành được vết thương, sớm đi lại được. Tôi nhớ tôi đọc chỉ được có một, hai lần, hoặc cùng lắm được khoảng ba lần chú Đại Bi thôi. Không ngờ sau đó, bà tôi lành vết thương và tập đi lại được. Thật là vi diệu! Ban đầu, tôi không nghĩ là bà ngoại sẽ khỏi nhanh, vì tôi từng nghe nếu ai đọc được một ngàn hai trăm lần Chú Đại Bi thì cầu gì được nấy, cầu bệnh tật sẽ khỏi…tiêu trừ được tà ma…còn tôi chỉ đọc chưa đến được mười lần ( chỉ có hai, ba lần) có lúc nhớ thì đọc, có lúc quên thì thôi, đâu có nhiều nhặn gì, vậy mà vẫn linh nghiệm thần kì như thế. Phải chăng do chư Phật,  Bồ Tát thương tình mà gia hộ thêm cho bà tôi chăng? ******************************** Một Phật tử sống ở Vũng Tàu, pháp danh là Khải Pháp Quý, anh ta có trồng một cái cây sanh  (loại cây giống cây si, chuyên dùng để uốn bon sai). Điều đáng ngại là, phải đến một nửa số lá trên cây bị rệp cắn phá. Chúng uốn lá lại thành tổ của chúng, mở ra có khi thấy cả mấy chục con, nhìn rất ghê.
Chúng uốn lá lại thành tổ của chúng, mở ra có khi thấy cả mấy chục con, nhìn rất ghê. ( Ảnh minh họa )
Anh ta có từng đọc qua cuốn ( Báo ứng hiện đời), biết chút ít về nhân quả nên không dám dùng thuốc sâu để xịt. Thay vào đó anh ta thỉnh thỏang tụng chú Đại Bi vào bình nước, mỗi lần khỏang năm đến bảy biến (một biến tức là đọc xong một lần), rồi phun nước đó lên cây, cầu Quán Thế Âm Bồ Tát gia hộ cho đám rệp này được tiêu nghiệp mà siêu sinh cõi lành. Lạ thay, chỉ khoảng hơn tháng sau, lũ rệp biến đi đâu hết, cái cây trở lại xanh mướt, không còn chút dấu vết nào của rệp. Suốt thời gian dài sau cũng không thấy rệp quay trở lại, trong khi nếu dùng thuốc sâu, chỉ diệt sâu rệp ngay lúc đó, nhưng chỉ một, hai tuần sau chúng sẽ quay trở lại đầy rẫy. Thần lực chú Đại Bi thật kì diệu. ********************************** Một chủ vựa cây cảnh ở dưới miền Tây ( nick facebook là Ngoan Bao) cũng sử dụng phương pháp như trên. Ban đầu, thấy sâu rầy bò loi nhoi khắp các cây, trông sang các vựa cây khác cũng tương tự, họ cũng phun thuốc sâu liên tục mà cũng chẳng hết. Anh quyết định mở lối đi riêng, anh tụng chú Đại Bi sáng 7 lần, tối 7 lần và 15 lần các lọai chú khác trong quyển Đại Bi Thập Chú, hồi hướng công đức đó cho đám sau rầy. Chỉ một hai tháng sau, anh ngạc nhiên thấy vườn cây của mình sâu rầy biến đi đâu hết, chỉ còn lại rất ít. Những chủ vựa cây khác cũng thấy lạ lùng, vì họ dã dùng mọi loại thuốc mà kết quả chẳng ra sao, thậm chí sâu lờn thuốc còn cắn phá mạnh hơn . Thực ra những chúng sinh đến gây bất lợi cho chúng ta trong cuộc sống, dù là người , là vong linh, là, súc sinh, thậm chí nhỏ như con sâu, con rệp… đều là do các món nợ nần từ nhiều kiếp trước. Nếu không có nợ, không có nghiệp xấu từ quá khứ, tuyệt nhiên không ai có thể gây hại cho ta. Thế nên muốn dứt trừ các oan chướng này, chỉ có cách là trả cho xong nợ, diệt cho sạch nghiệp bằng việc sám hối, và tạo công đức như niệm Phật, tụng kinh, tụng chú, phóng sinh… hồi hướng cho các chủ nợ. Nợ hết, nghiệp dứt, tự nhiên các ( oan gia trái chủ) kia sẽ bỏ đi thôi.

GIÚP NGƯỜI CÓ TRÁI NHÂN QUẢ KHÔNG ?

David Nguyen‎ : – Hi anh Quang Tử. Cũng đã khá lầu rồi không được trao đổi với anh về Pháp, mặc dù mình cũng vẫn thường xuyên theo dõi facebook. Hôm nay mình có một câu muốn tham khảo, học hỏi kiến thức của anh và những bậc cao minh trong diễn đàn. Mình cũng thường cho rằng về nhân quả thì ai làm nấy chịu nhưng có một số việc thì mình không biết phải đối diện với nó như thế nào cho phải. https://youtu.be/nmZoqtmy6Uw?t=19s Ví dụ : Những vấn nạn trong xã hội do sự điều hành yếu kém của nhà nước để xảy ra ảnh hưởng nặng nề cho nhân dân như vụ cá chết, thực phẩm độc hại và các vấn đề môi trường, học tập, chính trị …, nếu mình không lên tiếng, không quan tâm và nói rằng nhân ai gieo người đó chịu thì đến lúc nào đó người chịu thiệt hại sẽ là chính bản thân mình. Hoặc trường hợp mình thấy một cô gái bị chồng đánh đập ức hiếp mà mình không biết làm sao. Mình có nên can thiệp không? Khi mình không lên tiếng, thì tâm mình sẽ không bị cuốn theo những sự việc đó mà xao động và buồn bực đau khổ, nhưng lúc đó mình lại thấy mình vô trách nhiệm với xã hội với người khác…. Mong anh giúp mình hiểu thêm, cám ơn anh nhé. Quang Tử : – Bạn thân mến, câu hỏi của bạn rất hay, và cũng là câu hỏi thường gặp với những ai thường suy xét về nhân quả. Nói rằng ” nhân quả ai làm nấy chịu” là xét trên bình diện quá khứ – hiện tại, người đã gieo nhân trong quá khứ thì hiện tại bắt buộc phải nhân lãnh quả báo do việc làm quá khứ của mình, không hề oan ức gì cả, hiểu được như vậy thì mỗi người phải có tinh thần tự chịu trách nhiệm với số phận của mình, không oán trời trách đất, không đổ lỗi cho xung quanh, không gieo rắc thêm hận thù, thêm xung đột… để tạo thành nghiệp mới trong tương lai. Song nhân quả không hề cứng ngắc, Luật nhân quả không hề cấm mọi người xung quanh giúp đỡ người có đang chịu quả báo khổ, cũng không phải là không có cách gì hóa giải các nghiệp xấu. Như người bị bệnh, chắc chắn là do nghiệp, nhưng ta hoàn toàn có thể dùng phước của mình , ví dụ như dùng tiền bạc, ta cầm tiền ra mua thuốc tặng cho người đó, và thế là người đó uống vào liền được khỏi bệnh. PHƯỚC CỦA NGƯỜI NÀY CÓ THỂ BÙ ĐẮP CHO NGHIỆP XẤU CỦA NGƯỜI KHÁC. Giờ ta sẽ đi sâu thêm vào vấn đề… Luật Nhân quả không phải chỉ có mỗi bình diện quá khứ – hiện tại, mà nó là một chuỗi liên tục nhân quá khứ – tạo ra quả hiện tại , ngay ở hiện tại này lại đồng thời gieo nhân tương lai – tạo ra quả tương lai. Thế nên một mặt ta bình thản chấp nhận hoàn cảnh khổ đau của hiện tại, không oán trách , không gieo thêm hận thù, vì biết đó là do nghiệp mình tự làm, mình tự chịu. Mặt khác ta phải lo tiếp tục gieo nhân cho tương lai ngay trong lúc chịu khổ ở hiện tại, Luật Nhân quả không hề bắt buộc bạn phải chịu khổ mà không cho phép hóa giải, Luật Nhân quả cũng không hề cấm mọi người xung quanh giúp đỡ người chịu quả khổ. Nhưng ta phải thực hiện đúng cách mới giải quyết được vấn đề. Ví dụ, người vợ bị ông chồng ngược đãi, nếu chỉ nhìn trong hiện tại , thì ta chỉ thấy người vợ chịu oan ức, còn ông chồng sai. Nhưng nhìn bằng con mắt nhân quả, thì ta hiểu được rằng, người vợ trong kiếp trước có tạo một nghiệp xấu gì đó, nên ngày nay mới chịu cảnh khổ như vậy, không phải vô tội hoàn toàn, còn ông chồng thì đang gieo quả báo đau khổ trong tương lai. Đối với người vợ, để tự cứu mình, thay vì oán trời bất công, hận chồng vũ phu, tìm cách báo thù… thì nên sám hối nghiệp quá khứ, tạo công đức hồi hướng cho ông chồng coi như trả nợ , nghiệp hết, nợ hết thì tự nhiên ông chồng sẽ hết hành hung vợ thôi. Có 2 cách trả nợ, cũng là 2 cách đối mặt với nghiệp quá khứ . Một là cắn răng chịu cho tới khi nghiệp hết, nợ hết, như vậy thường rất lâu và cực kì khổ sở. Hai là sám hối nghiệp quá khứ, tạo thêm nhiều công đức trong hiện tại để bù đắp cho nghiệp xấu khi xưa ( như niệm Phật, tụng kinh , tụng chú , phóng sinh, ấn tống.v.v..) để hồi hướng cho chủ nợ, cách này giải quyết được vấn đề một cách nhanh chóng, êm đẹp, có thể nói là hoàn hảo, vừa giải hết nghiệp mau lẹ, vừa tăng trưởng thiện căn cho mình. Còn đối với những người xung quanh có tâm muốn giúp đỡ người vợ kia, Luật Nhân quả không hề cấm họ giúp đỡ, ngược lại, những người như thế dù có thành công hay không đều nhận được phước báo trong tương lai. Còn người thấy cảnh khổ mà bỏ mặc, thì người đó đang tạo nhân xấu cho chính mình, quả báo là sau này nếu có lâm vào cảnh khổ, người đó cũng sẽ bị mọi người xung quanh bỏ mặc. Có 2 cách giúp, một là can thiệp bằng phước báo sẵn có của mình, như sức khỏe ( đánh lộn với ông chồng để cứu người vợ chẳng hạn ), tiền bạc, tài ăn nói ( khuyên nhủ ông chồng), quyền lực ( bắt giam ông chồng, xử phạt …) .v.v… nếu phước của người muốn giúp đủ lớn, thì có thể tạm thời thành công, tạm cứu người vợ ra khỏi cảnh đánh đập , nhưng chỉ là tạm thời thôi ( dù thế luật nhân quả vẫn ghi nhận phước báo cho người giúp đỡ kia ) Nhưng do nghiệp còn nên sau một thời gian thì người vợ tiếp tục bị hành hung, không cách này thì cách khác, vì chuyện này chỉ chấm dứt khi nghiệp hết, nợ hết mà thôi. Còn cách giúp thứ 2, đó là phải làm sao cho nghiệp của người vợ tiêu hẳn thì cảnh khổ mới chấm dứt. Hoặc là ta khuyên nhủ , giải thích cho người vợ hiểu nhân quả, biết sám hối, biết tạo công đức hồi hướng cho chồng để trả nợ….hoặc chính người muốn giúp tạo công đức hồi hướng cho người vợ được thoát khổ cũng được, nhưng cách này lâu hơn cách trên. Để giải quyết trọn vẹn vấn để, chúng ta nên dùng cả 2 cách, ngay hiện tại ta có thể dùng phước sẵn có của mình để can thiệp, tạm thời giúp người vợ thoát cảnh bị hành hung, sau đó giải thích cho người vợ hiểu rõ nhân quả để lo sám hối, tạo công đức … Những điều ngang trái khác cũng như vậy, như những bất công trong xã hội, những nỗi khổ của người dân xuất phát từ nhà cầm quyền, thì một mặt ta dùng hết sức mình để giúp người dân giải quyết khó khăn trước mắt ( bằng tiền bạc, bằng cách thuyết phục.v.v.. tùy khả năng mỗi người ). Có nghĩa là phước của mình có thể bù đắp cho nghiệp của người khác, nhưng chỉ ảnh hưởng trong một chừng mực nào đó mà thôi, chứ không giải quyết hết được vấn đề . Muốn giải quyết hết vấn đề, thì phải làm sao cho người dân tiêu trừ được nghiệp quá khứ, tăng trưởng công đức lành. Chỉ khi đa số người dân trong nước đó dứt trừ được các nghiệp xấu quá khứ, tạo được nhiều phước báu, thì tự nhiên Nhân quả sẽ sắp xếp cho họ gặp được những Nhà Lãnh đạo kiệt xuất, công chính , liêm minh… có tài quản lí đất nước. Nói chung , nhân quả rất linh hoạt, nếu ta nắm rõ nhân quả, và biết can thiệp một cách khéo léo thì có thể giải quyết trọn vẹn mọi vấn đề , dù là vấn đề của thế gian hay xuất thế gian .