SỐNG THỬ – PHÁ THAI & CÁI KẾT NÃO LÒNG

Hùng là trai trưởng cháu đích tôn của dòng họ Vũ vì thế ai cũng kì vọng vào anh có thể sinh một đứa con trai. Ấy vậy mà lấy vợ đã gần 10 năm, nhưng vợ chồng Hùng không thể nào có được một đứa con, dù đã chạy chữa khắp nơi từ Nam ra Bắc. Ai nói ở đâu có phương thuốc gì, cầu xin thế nào Hùng đều đưa vợ đi khám thử nhưng đều vô vọng. Ai cũng nói Hùng đẹp trai nhưng cưới được cô vợ không ra gì, có mỗi chuyện đẻ cũng không được. Chỉ có gia đình Hùng mới hiểu tất cả là do anh, anh cũng gánh một phần trách nhiệm và có thể là báo ứng mà anh phải gánh chịu vì tội lỗi trước đây của mình. Thời sinh viên, Hùng từng yêu sâu đậm một cô gái tên là Duyên. Duyên là cô gái dịu dàng lại xinh xắn nên Hùng đã tốn công theo đuổi một thời gian dài mới được cô gật đầu đồng ý. Ngày Duyên chấp nhận dọn về sống thử, Hùng đã hạnh phúc, vui mừng biết bao vì cuối cùng anh cũng được cận kề sớm tối với bạn gái. Vậy mà sau ba năm yêu đương, khi Duyên báo tin mình mang thai thì Hùng chẳng còn vui vẻ chút nào. Anh không tin đứa con đó là của mình, nhất sau khi anh bắt gặp Duyên được một người đàn ông chở về nhà bằng xe hơi sang trọng. Ghen tuông mù quáng khiến anh đánh đập, chửi bới và ép Duyên phải phá bỏ đứa con trong bụng cô để chứng minh rằng cô yêu anh. Anh tin rằng đứa con là của người đàn ông kia chứ không phải là của anh. Sau bao trận hai người cãi vã, rốt cuộc Hùng cũng không thể chịu nổi mà nói lời chia tay với Duyên. Chỉ một thời gian ngắn, sau Hùng lại chìm đắm vào cuộc tình với một cô gái khác, cũng là người vợ hiện tại của anh. Anh không biết rằng vì quá đau khổ, tuyệt vọng nên Duyên cũng đã phá bỏ đứa con chỉ mới tròn hai tháng tuổi của mình. Tàn nhẫn hơn, cô dường như đã mất hết lý trí mà mang bào thai đỏ hỏn đó bỏ vào hộp bánh biếu gia đình nhà Hùng để báo thù. Hôm Duyên đến chơi và biếu bánh bố mẹ Hùng, ông bà cũng chẳng nghi ngờ gì mà đón nhận. Nhưng khi vừa bóc hộp bánh từ trên ban thờ xuống sau khi cúng cho các cháu ngoại ăn, bố Hùng đã sợ hãi tột độ khi thứ ông nhìn thấy không phải bánh quy bình thường mà lại là bào thai nhỏ. Hoảng sợ, cầu xin tổ tiên nhưng trong thâm tâm bố mẹ Hùng có lẽ cũng hiểu được phần nào hành động điên dại vì tình của Duyên. Ông bà cũng chẳng thể oán trách được ai khi sự việc đến mức này cũng là do con trai của ông bà. Sau hôm phá thai được vài tháng, Duyên không may bị tai nạn xe máy ở ngay ngã tư gần nhà khi đi làm về đêm khuya. Vụ tai nạn kinh hoàng khiến Duyên bay mất một mảng da đầu, phải nằm liệt giường trong phòng cấp cứu và hồi sức suốt một tháng. Sức khỏe dần hồi phục thì Duyên lại trở thành người điên dại thật sự. Cô bị trầm cảm và tự nhốt mình trong phòng không ra ngoài, cũng không tiếp xúc với bất cứ người lạ nào. Về phần Hùng, anh biết Duyên bị tai nạn cũng có ghé thăm vài lần nhưng cô không chịu gặp. Dần dần, anh cũng quên mất người con gái từng yêu thương mà ngỏ lời cầu hôn với người bạn gái mới của mình. Hai người nhanh chóng kết hôn nhận lời chúc phúc của gia đình, họ hàng và bạn bè, ai cũng nói Hùng và vợ mới cưới thật xứng đôi vừa lứa. Anh cũng hạnh phúc vô cùng và ngày càng bộn bề công việc vì muốn chăm lo cho cuộc sống của hai vợ chồng.
Hai người nhanh chóng kết hôn nhận lời chúc phúc của gia đình, họ hàng và bạn bè, ai cũng nói Hùng và vợ mới cưới thật xứng đôi vừa lứa. ( Ảnh minh họa )
Thời gian trôi nhanh cũng đã gần 10 năm, hai vợ chồng Hùng và Linh vẫn sống rất hạnh phúc. Nhưng mỗi lần đi gặp gỡ bạn bè hay đối tác một mình, anh lại bắt gặp vợ mình không đi tìm, thì cũng ngồi ở nhà đợi anh với ánh mắt tủi hờn vì lo sợ anh sẽ bỏ rơi cô. Linh không nói gì nhưng lòng anh đau nhói vì anh biết rằng vợ anh không thể đẻ được cho anh một đứa con, dù trai hay gái gia đình anh đều vui vẻ. Anh cam đoan rằng bản thân từ ngày lấy Linh chưa một lần ngoại tình, anh thương vợ nhiều hơn vì cô luôn bị làng xóm lời ra tiếng vào cũng vì chuyện này. Hai vợ chồng Hùng đã chạy chữa khắp nơi nhưng đứa trẻ vẫn không có duyên đến với vợ chồng anh. Ngày đưa Linh đến viện tái khám, Hùng giật mình khi nhìn thấy Duyên, người yêu cũ của anh đang thơ thẩn ngồi ở hành lang bệnh viện. Cô ấy vẫn như thế, không cười không nói, lúc nào cũng chỉ đăm đăm nhìn vào con búp bê trong tay rồi tự lẩm nhẩm. Bỗng Hùng rơi nước mắt vì nhận ra lỗi lầm của bản thân khi đã quá muộn. Anh đã hủy hoại cuộc đời của hai người con gái, vì tính ghen tuông, ích kỉ của mình. Anh phải làm sao để chuộc lỗi với Duyên đây? Còn người vợ luôn tự trách bản thân không thể đẻ cho anh nữa. Bài học cuộc sống: Là một người đàn ông thì nên ( dám làm dám chịu), đừng nên để ghen tuông che mờ lý trí để rồi có những quyết định sai lầm mà phải trả giá bằng cả cuộc đời. Trước khi quyết định việc gì đều nên tìm hiểu nguyên nhân, suy nghĩ cho thấu tình đạt lý. Đã làm cô gái của mình tổn thương thì cũng nên chịu trách nhiệm với cô gái đó, trước khi đến với một cô gái khác. Nhất là với các bạn trẻ hiện nay trước khi quyết định phá thai nên suy nghĩ cho kỹ lưỡng. Cho dù có lý do gì thì đứa nhỏ trong bụng cũng là vô tội, là giọt máu mủ của mình. Tôi tin chắc những ai đã từng suy nghĩ hời hợt rồi phá bỏ đứa con đều đang sống trong day dứt, hối hận vì những gì họ đã làm. Nếu không muốn những ngày tháng sau này phải đau đớn, dằn vặt thì tốt nhất là không làm những điều trái với lương tâm và luân thường đạo lý. ( Nghi Ân/Theo Thethaovaxahoi.vn )

BẦY KHỈ ĐỀN ƠN THA MẠNG

( Theo báo Lao Động.) “Tôi đã có dịp đến xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, Thái Nguyên để mục sở thị tận mắt về cái hang thần bí mà người dân nơi đây luôn tôn kính, hang nằm ở đại bàn bản Hợp Thành. Nó có nhiều tên như hang ma Ba Tổng, hang Quan Tài, hoặc hang Tiền, nhưng người dân nơi đây thường gọi bằng cái tên “hang ma Ba Tổng”. Sự kỳ bí của nó khiến bao người phải ghê sợ, kể cả những người bản địa cũng ít người dám bén mảng tới lãnh địa hang ma. Nằm ở độ cao cách thung lũng dưới chân núi khoảng 600m, đường lên hang ma Ba Tổng vô cùng hiểm trở, dốc đá cheo leo, một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu thẳm. Vào những đêm rằm, người ta vẫn nghe thấy tiếng hú hét vang vọng khắp núi rừng, xuất phát chính hang ma Ba Tổng này.
Hình ảnh ông Nam bên hang đá.
Nhưng có một người thợ săn lão luyện đã dám đặt chân tới đây. Và câu chuyện trong những lần đặt chân tới hang ma này đã khiến người thợ săn ấy phải từ giã sự nghiệp. Để tìm hiểu rõ câu chuyện, tôi đã tìm đến người thợ săn để nghe câu chuyện ly kỳ của ông. Ông là Hoàng Văn Nam, ngưởi ở bản Hợp Thành, một thời từng là tay súng “bách phát bách trúng” nổi tiếng nơi đây. Ngồi bên ấm trà trong buổi chiều, ông Nam chậm rãi nhớ lại từng chi tiết của chuyến săn định mệnh ấy với khách. Trong ký ức của ông Nam vẫn chưa bao giờ quên câu chuyện này: “Đó là một buổi trưa cuối năm 1997, như mọi buổi đi săn khác, sau khi ăn xong, tôi vác đồ nghề lên vai, dắt theo đàn chó săn tinh nhuệ, cùng ba người anh em nữa, thẳng tiến lên núi rừng Ba Tổng”. Đồ nghề của ông là những cái bẫy sắc ngọt dùng để săn thú và khẩu súng săn đã theo ông chinh chiến hơn chục năm trời. Sau khi đặt bẫy, cả mấy thợ săn. Nhìn thấy cảnh con khỉ cầu xin được tha chết và cả gia đình con khỉ ấy dắt díu nhau vào hang, người thợ săn như thức tỉnh. Bao nhiêu năm cầm súng, giờ đây, ông bỗng chùn bước bởi cảnh tượng chứa đựng cái tình chan chứa của nhà khỉ. Câu chuyện về một người thợ săn lão luyện buông súng bỏ nghề sau một chuyến săn định mệnh đã trở thành một huyền thoại sống nơi rừng núi đất chè, ngồi hút thuốc và ngồi đợi kết quả thu được. Mãi một lúc không thấy động tĩnh gì, ông cùng anh em quyết định truy lùng theo kiểu đánh động theo thế gọng kìm. Lùng sục một lúc lâu, bốn người thợ săn nhìn thấy một con khỉ đầu bạc rất to xuất hiện trên ghềnh đá. Cả bốn người chưa từng thấy con khỉ nào lạ lùng đến thế. Nghĩ là một chiến lợi phẩm ngon lành, mọi người cẩn thận, tỉ mỉ tiếp cận mục tiêu, cố không để con khỉ bỏ trốn. Khi cách con vật tầm 30m, những tiếng súng vang lên, con khỉ đầu bạc trúng đạn và hoảng hốt chạy trốn. Không thể đánh mất chiến lợi phẩm, những người thợ săn lành nghề rượt theo cho kỳ được. Lần theo vết máu, ông Nam tới trước cổng hang Ba Tổng – nơi người dân bản địa ít dám đặt chân tới. Con khỉ bị chảy máu ở chân, nó ngồi trên phiến đá ngay trước cửa hang, cách ông Nam và đồng đội chừng 10m. Lúc này, cả bốn người giương súng săn, nhắm bắn thẳng vào con vật tội nghiệp. Nhớ lại giây phút đó, ông Nam nói: “Kỳ lạ thay, chẳng phát súng nào trúng, dù con khỉ vẫn ngồi đó và chẳng thèm bỏ trốn như ban đầu. Nó giương đôi mắt ngân ngấn hai dòng lệ, nhìn chằm chằm vào những người thợ săn. Bất chợt, nó lôi ra từ đâu một nắm quả rừng, chìa ra phía chúng tôi ý như muốn cho để cầu xin sự sống”. Ông Nam kể lại rằng, chưa bao giờ trong đời đi săn của mình, ông lại được chứng kiến cảnh tượng đầy xúc động đó. Nhưng, việc của một gã thợ săn là giết thú rừng, nên mặc dù tấm lưng đã ướt nhẹp mồ hôi, ông vẫn quyết tâm phải bắn hạ bằng được con vật đáng giá ấy. Điều ông không bao giờ nghĩ đến, chính là lúc ông giơ khẩu súng săn bén mùi thịt rừng của mình lên thì bất chợt có thêm hai con khỉ nữa xuất hiện, một to, một nhỏ. Chúng nhìn chằm chằm vào những người thợ săn, rồi chắp tay vái lấy vái để, miệng phát ra những tiếng kêu ú ớ như cầu xin tha mạng. Chứng kiến cảnh tượng đó, bất giác ông Nam và những người anh em buông thõng súng xuống, không ai bắn nữa, rồi cứ đứng như trời trồng, để mặc ba con khỉ dìu nhau vào hang ma lẩn trốn. Cuộc chạm trán đầy bất ngờ và sự đối đầu không lường trước giữa một gia đình khỉ với những người thợ săn lão luyện như ông Hoàng Văn Nam đã khiến bản tính ông thay đổi ít nhiều. Sau đó, tâm tính ông hiền lành hơn, sự vô cảm dường như không còn nơi chất chứa. Chứng kiến tình cảm của những con vật ấy, ông Nam cảm thấy ám ảnh. Những lần sau, ông vẫn tiếp tục đi săn, nhưng không còn săn những con thú lớn mà chỉ tìm bắt những loài động vật nhỏ mà thôi. Tiếp đó, khi kể lại câu chuyện thoát chết trong gang tấc nhờ sự “cứu mạng” của bầy khỉ, mà đứng đầu là con khỉ đầu bạc, ông Nam vẫn không khỏi rùng mình. Đó là cả một “sự tích”, một “câu chuyện thần thoại” trong đời thực mà ông Nam may mắn được làm nhân vật chính. Đó cũng là nguyên cớ khiến ông quyết định bỏ nghề, “rửa tay gác kiếm”, không còn vương vấn gì đến cái nghiệp “sát sinh” thú rừng nữa. Những năm đó, “vì không còn đi săn thú lớn nên tôi cũng không cần nhiều chó săn như trước. Mỗi lần đi, tôi chỉ mang theo một chú chó để huấn luyện dần. Trong một lần đi săn, tôi mang theo chú chó chuyên bắt rắn. Khi tôi và con chó của mình tới trước gềnh núi đá dựng đứng trước hang ma Ba Tổng (một địa điểm từ trước tới nay ông chưa từng đặt chân khám phá), tôi quyết tâm chinh phục một lần, ông kể. Nói là làm, ông Nam bám tay leo lên những ghềnh đá sắc nhọn, cao tầm 7m để tiến vào một cái hang sâu phía trên vách núi. Thế nhưng, thật không may, lúc ông đang thận trọng bám từng nắm tay chắc nịch vào mỏm đá thì bất ngờ tay ông chạm phải một con rắn hổ đang trườn bò phía trên vách núi. Theo bản năng, con rắn phình hai cái mang to như bàn tay người, rồi đớp lấy tay gã thợ săn. Nhanh như cắt, tay trái ông Nam bám chặt vào mỏm đá, tay phải theo phản xạ buông khỏi phiến đá để tránh sự tấn công của con rắn. “Rồi tôi bị trượt tay, té ngã xuống quãng đất trống phía dưới ghềnh đá. Trong lúc va đập ngã xuống, tôi mơ hồ như có cái gì đó kéo tôi lại và tôi ngất đi”, lời ông Nam. Tỉnh lại, ông thấy mình nằm trong khe đá, ông không hiểu sao mình lại mắc được vào đây, bởi chỉ chút nữa là ông đã ngã xuống vực thẳm. Gần đó, bầy khỉ đầu bạc vẫn ngồi gần chỗ ông nằm, chúng không hề hoảng sợ mà chỉ ngồi nhìn. Điều bất ngờ hơn là ông nhận ra con khỉ đầu bạc đã xin ông tha chết trong lần đi săn trước. Ông tin rằng, chính bầy khỉ đã cứu mạng ông trong phút nguy cấp đó. Sau sự thoát chết thần kỳ ấy, ông Hoàng Văn Nam lẳng lặng trở về, rồi nhất quyết bỏ nghề mặc sự can ngăn của bạn bè, người thân. Ông cho rằng, “ăn của rừng rưng rưng nước mắt”, cái gì cũng có cái giá nhất định của nó. Ông khuyên con cháu không được theo nghề sát sinh, nhất định phải sống làm người lương thiện. Theo ông, không làm điều ác cũng như một sự trả ơn với núi rừng.

QUẢ BÁO THÊ LƯƠNG CỦA NGƯỜI BÁN TRỨNG LỘN.

Một câu chuyện có thật và lan truyền hết khu vực cách đây hai năm về trước… Ngày đó tôi – một du học sinh, đang học ở Phú yên, thường thường tối cách hai ba ngày thì ra quán trứng cô Năm ăn hai trứng tẩm bổ. Nhưng mà, dạo này sao mà không thấy cô Năm bán trứng nữa, gần cả tháng trời, cứ ngày nào đi qua thì cũng không thấy cô Năm bán. Một ngày đẹp trời mùa Thu tháng 9, tôi đi chợ lần đầu tiên trong đời, ra đến chợ mới biết là hàng chợ búa vì nhiều chuyện ghê luôn, đám kia tụm bốn ngồi tám chuyện đời thường, đám tụm ba của những cô tiểu thương ngồi tán dóc cho qua thời gian ế ẩm…. Tôi đi đến hàng trứng để mua trứng gà về luộc, đang loay hoay lựa chọn trứng đem về thì tôi nghe một câu chuyện của những bà cô tiểu thương ở hàng trứng này. Nội dung câu chuyện như sau: ” Bà Năm trứng lộn bị trả báo vì bán trứng vịt lộn đấy, con trai thì bị tai nạn chết thê thảm, còn con gái út học ở sài gòn thì đột nhiên nhảy lầu tự tử vì tình. Bà Năm nghe hai tin dữ này thì phát điện, tối ngày cứ la và cười , lăn bò chứ không đi đứng được gì. Ăn cơm không ăn, bóc đất ăn, thậm chí ị ra , bà Năm vẫn không biết gì bóc ăn luôn, bọn tui đến thấy mà thương quá, một gia đình ngày xưa chưa có chuyện gì thì bà Năm thuộc dạng khá giả, một ngày bán được ba trăm trứng lãi gần chín trămngàn, vì thế mà lo được cho con gái út ăn học ở sài gòn, bà mua vàng tích trữ cũng gần một ký, giờ số vàng đó không biết bà cất đâu.”. Tôi sững người và ngạc nhiên không tin những lời người đó nói là thật, đi theo lời đồn đến nhà bà Năm. Vừa bước vào ngõ nhà bà Năm, nghe tiếng rên la và hú . Nhìn vô nhà, thật đúng như những gì người ta đồn, bà Năm không nhận biết được mình là ai, việc mình đang làm, cứ luôn miệng cười, cười xong rồi khóc, hết khóc rồi la hét, chửi thề, rồi lột quần áo ra, xé áo. Trong nhà không còn vật dụng sắt nhọn nào, đề phòng bà Năm không biết mà giỡn chơi nguy hiểm tính mạng. Tôi nghe hóng tình hình của bà con lối xóm và ra về trong sự nặng trĩu, vậy là sau sáu năm buôn bán trứng vịt lộn, cuối cùng bây giờ, bà Năm không còn gì cả, hai đứa con đều tử nạn, còn bản thân bà thì bệnh khùng điên, không nhận thức được gì, bị giam nhốt trong phòng dưới sự giám sát của mấy ông anh em trong nhà, còn một ký vàng bà dành dụm, giờ không biết để đâu. Tôi tĩnh tâm ngồi thiền trong chùa Vĩnh Nghiêm quận 3. Hôm nay được diện kiến sư thầy, vốn là đi theo ông anh cũng mê Phật pháp và thích nghe thầy giảng giải. Tôi đi theo ông anh và có duyên với chùa Vĩnh Nghiêm. Một ngôi chùa tâm linh và huyền bí nhất mà tôi biết đến. Tôi: – Nam Mô A Di Đà Phật! Con xin kính chào Sư thầy…! Sư Thầy: – Nam Mô A Di Đà Phật! – Thưa thầy, con có những điều băn khăn trong thế giới hiện tại, những đều này con muốn nhận được lời khuyên và sự giải đáp của thầy, Nam Mô A Di Đà Phật. – Nam Mô A Di Đà Phật! Con có điều gì thắc mắc hãy nói với thầy! – Thưa thầy, một người từng có một gia đình đủ ăn đủ mặc, con cái học hành ngon ngoãn, nhưng trớ trêu thay, biến cố cuộc đời đã đẩy cả gia đình ấy vào một bi kịch, con trai thì bị tai nạn chết thê thảm, con gái thì nhảy lầu tự tử cũng không toàn thây, người mẹ già ấy đã không chịu được bi kịch một lúc mất hai người con nên phát điên dại, chẳng còn nhận thức. Con kính hỏi thầy, phải chăng đều là nghiệp báo của việc sát sanh, vì người phụ nữ con đề cập đến từng bán trứng vịt lộn, một ngày người phụ nữ này luộc hơn 300 trứng. – Nam Mô A Di Đà Phật. Mọi thứ điều có nhân có quả, việc làm của mình trong hiện tại chưa có quả thì sẽ trong tương lai hoặc trong khiếp khác. Việc sát sanh là một điều thuộc vào điều cấm kị trong Phật giáo, nghiệp này rất nặng và quả báo thật to lớn. Con hãy tự nghĩ như thế này, một ngày người phụ nữ kia luộc hơn 300 trứng, tức là 300 sinh linh, một tháng 9000 trứng và một năm hơn 100 ngàn trứng vịt lộn, cứ thế mà nhân lên cho nhiều năm thì biết bao nhiêu sinh linh bị chết dưới tay người đấy, những sinh linh này sẽ đi kiện và có những sinh linh không muốn đầu thai mà cố theo người phụ nữ này để làm cho người này tán gia bại sản. Mọi việc mình làm đều có nhân và quả, con làm việc thiện, tích đức giúp đời thì sẽ được quả thiện, giết người, cướp giật, nói láo hại người và sát sanh thì sẽ được quả ác, tội ác của mình do chính mình gieo trồng chứ không một ai mà gieo trồng cho mình được. Ví như có câu: ” Gieo xuống đất lấy cây lấy quả – đập vào người chảy máu chảy thân”. Câu này muốn nói cho con hiểu, chính mình gieo cây để rồi cây đó lại đánh lại mình. Người phụ nữ này đã bị quả báo ở hiện tiền còn đương tại thế, sau này chết xuống biết bao nhiêu kiếp và bị đày đọa nơi địa ngục tối tăm. Một người luộc bán để có tiền lo cho gia đình, nhưng họ lại bị tội vào tội sát sanh, còn mấy thành viên kia không bị tội gì. ” Nhiều người hưởng mà một người có tội”. Nghiệp sát sanh là một nghiệp báo rất dữ, không muôn đời nào hết nghiệp này. Con có nghe câu chuyện “Cô Ba Bán Cháo Gà” ở Mỹ Tho chưa, người phụ nữ này một ngày giết rất nhiều gà, đêm nằm mơ thấy ông nội mình về báo mộng, người phụ nữ này hoảng sợ, và kể chuyện phiêu lưu ở địa ngục, ở trời . Sau khi phiêu lưu, người này không bán cháo gà mà một lòng hướng phật, làm những việc tích đức để sám hối những việc sát sanh trước kia. Đức Phật có lòng từ bi hỷ xả và không oán hận một ai, nếu ai đó đã sát sanh mà một lòng hướng thiện, quyết tâm từ bỏ thì sẽ được bao dung và hoan hỷ của Đức Phật. – Nam Mô A Di Đà Phật! Bạch sư thầy, thầy hãy nói cho con biết, muốn người phụ nữ kia hết bị điên dại thì có cách nào không sư thầy? – Gia đình hãy hồi hướng và sám hối cho người phụ nữ này, hồi hướng là làm những việc thiện, việc tốt cho mọi người mà giúp người phụ nữ này bớt được tội lỗi phần nào của nghiệp báo sát sanh, còn sám hối thì đọc kinh cho người phụ nữ này nghe, để tâm không bị điên đảo và bị mê hoặc bởi những vong linh mình sát sanh mà khỏi điên đảo. Ngày rằm, đầu tháng nên đọc kinh cho người ấy nghe, nếu được thì đọc luôn luôn, và niệm chú Đại Bi để giúp người phụ nữ này khỏi u mê và điên đảo. – Thưa thầy, vậy nghiệp báo này, sẽ còn qua nhiều kiếp khác. – Tội lỗi sẽ bớt đi nếu thành tâm sám hối và quyết một lòng hồi hướng phật, còn đã gây nghiệp sát sanh mà không tin nhân quả, luôn tạo nghiệp trướng thì muôn đời chịu đầy đọa nơi địa ngục và luân hồi các kiếp sẽ có những nhân quả mình gây nên tạo nghiệp và không bao giờ thoát khỏi vòng luân hồi OÁN- HẬN. ( Nguồn thế giới huyền bí )

PHÍ PHẠM ĐỒ ĂN TRẢ NGHIỆP CHẾT ĐÓI.

( Câu chuyện này do người dì của Quang Tử kể từ lại ) Nhiều năm trước, khi dì mới về nhà chồng, cha chồng dì là một người giàu có nhất nhì làng thời bấy giờ (ở xã Xuân Hòa,Bắc Ninh). Vì nhiều tiền,nên đồ ăn thức uống trong nhà đều tòan những món thượng hạng. Ngày này qua tháng khác,gia đình ông nấu nướng linh đình. Ông có thói quen ,khi nấu là phải nấu thật nhiều, nhìn cho ( no mắt), đương nhiên ăn không hết .Thức ăn thừa, ông bắt vợ con đổ vào thùng rác. Thời ấy, dân mình còn nghèo, làng xóm xung quanh không biết bao nhiêu người đói khổ ,chạy ăn từng bữa, trẻ con nheo nhóc không có miếng gì ăn, nhìn thùng rác nhà ông mà thèm chảy nước miếng. Có mấy người vì quá khổ, dằn lòng muối mặt qua nhà ông xin thức ăn thừa về cho con ăn đỡ đói,vậy mà ông lạnh lùng xua tay ,nhất định không cho.Thà cho thức ăn vào thùng rác chứ không chịu giúp người, hành động tàn nhẫn ấy khiến không ít người óan ghét.
Thà cho thức ăn vào thùng rác chứ không chịu giúp người, hành động tàn nhẫn ấy khiến không ít người óan ghét. ( Ảnh minh họa )
Nhiều năm trôi qua, gia cảnh nhà ông suy dần, không còn ( lắm tiền nhiều bạc) mà ăn uống phí phạm như trước nữa. Rồi, ông bị mù ,có lẽ vì thấy người ta khổ mà làm ngơ không cứu. Chưa hết, ông bị một chứng rất lạ .Rõ ràng ông vừa ăn xong,ăn rất nhiều ,nhưng chỉ một lát, chưa đầy một tiếng đồng hồ sau, ông lại cảm thấy đói _ một cảm giác đói cồn cào giày vò không dứt và ông lại đòi ăn! Khổ cái, con cháu giờ cũng khó khăn ,đâu có sẵn thức ăn cho ông ăn cả ngày như thế nổi. Nên ông lúc nào cũng trong tình trạng đói, nhìn rất thê thảm. Một hôm,nhà hàng xóm có đám giỗ, mùi thức ăn thơm phức bay sang khiến ông chịu không nổi, ông bèn mò mẫm đi ra tường rào, trèo qua nhà hàng xóm, không may thế nào lại té ngã gẫy chân, thật khổ chồng thêm khổ… Cuối cùng,sau nhiều năm bị cái đói dày vò, ông chết, chết trong cơn đói bất tận. ( Quang Tử )

NỖI ÁM ẢNH CỦA CON ĐƯỜNG THỊT CHÓ.

Vào những năm 90, khi chưa giải toả để xây cầu Thủ Thiêm như bây giờ, con đường Ngô Tất Tố, quận Bình Thạnh là một khu vực tấp nập quán thịt chó, tương tự như khu Nhật Tân ở Hà Nội. Các quán Cầy tơ bảy món ngày nào cũng thơm lừng mùi nướng, mùi chiên, mùi gia vị ướp thịt…. Trong số những chủ quán thịt cầy ở đường Ngô Tất Tố đó, có một ông chủ có tay nghề lão luyện, có tiếng là một tay sát chó có hạng, chỉ cần một búa, những con chó chỉ kịp ẳng lên một tiếng là chết ngay. Thấm thoát mà cũng đã mấy năm kể từ ngày mở quán, cuộc sống của họ cũng khá thoải mái, mỗi ngày họ giết khoảng một tới hai con chó để phục vụ cho các thượng đế, lượng khách cũng ổn định. Ông có ba đứa con trai, khi đó, đứa lớn nhất tầm 12 tuổi, đứa kế tầm 10 tuổi và đứa bé nhất tầm 5 tuổi. Mọi việc đều suôn sẻ cho đến một ngày nọ, đứa con trai 12 tuổi của ông bỗng nhiên mắc một căn bệnh lạ. Ngày thì sợ ánh sáng, đêm thì thích chui vào gầm bàn kêu lên những tiếng nghe như ai oán, dần dà, căn bệnh ngày càng nặng hơn. Đêm nào đứa trẻ cũng tru những tiếng não nề, lạ một điều là đôi mắt cậu bé nhìn trong đêm cứ sáng quắc. Vợ chồng chủ quán buồn lắm, ông đem con chạy chữa khắp nơi, ai chỉ nơi đâu có thầy hay thuốc giỏi là vợ chồng đều lặn lội dẫn con đến chữa. Nhưng tuyệt nhiên, căn bệnh của con ông không hề giảm sút. Lúc này, quán ông lại càng đông khách, do một phần người ta hiếu kì, muốn đến nhìn tận mắt đứa trẻ mắc chứng bệnh lạ này. Một lần nữa, nỗi đau của ông lại chồng chất khi đứa con trai thứ hai của ông cũng bị chứng bệnh lạ như anh trai của nó. Đêm đêm, hai anh em đứa gầm giường, đứa kẹt tủ thi nhau tru rên những tiếng bi ai thống thiết. Lúc này, hàng xóm ai cũng ngờ ngợ ra là tiếng kêu rên như tiếng chó tru ai oán. Người ta rỉ tai chủ quán một cách nhỏ nhẹ, khuyên lơn họ bỏ nghề. Nhưng vốn không tin trên đời này có sự báo ứng, họ bỏ ngoài tai tất cả những lời khuyên lơn chân tình của hàng xóm. Mỗi tuần họ đều đặn dẫn hai đứa con đi chữa trị đủ chỗ, những mong một ngày nào đó con họ sẽ hết bệnh. Bao nhiêu tiền của tích cóp mấy năm họ đều dồn vào việc chữa trị bệnh cho con. Nhưng tai ương vẫn chưa chịu buông tha gia đình họ. Đứa con trai nhỏ nhất vào một ngày nọ, tự dưng sợ ánh sáng. Lo sợ đứa con tỉnh táo duy nhất bị giống hai anh, vợ chồng ấy liền vội vàng mang con đi khám và bốc thuốc. Nhưng cuối cùng, cũng như hai anh nó, đứa út cũng đã tru lên những tiếng thống khổ về đêm. Từ đó, trong đêm ba cặp mắt sáng quắc, tiếng tru này nối tiếp tiếng tru kia làm hàng xóm ai cũng không chịu nổi. Lúc này, như sực tỉnh, cả hai vợ chồng từ từ dẹp quán, họ buồn bã dẫn ba đứa con đi biệt xứ, đến nay đã khoảng 20 năm không biết sống chết thế nào. Lại nói thêm về những quán gần đó, sau khi chứng kiến tận mắt cảnh tượng báo ứng gia đình nhà nọ, họ sợ sệt đến nỗi lần lượt người sang quán, kẻ giải nghệ. Giờ đây, đoạn đường Ngô Tất Tố ngay chân cầu Thủ Thiêm đã được mở rộng. Dấu tích các quán cầy tơ cũng không còn, nhưng vài người sống lâu năm tại đây vẫn còn nhớ câu chuyện năm xưa. ( Sưu tầm: Thùy Hương )

THOÁT CHẾT NHỜ CÂU NIỆM PHẬT.

Nguyễn Ngọc Mỹ Hạnh 9 tuổi (2010) cha của cháu là Bùi Ngọc Châu 42 tuổi và mẹ là Nguyễn Thị Hương 37 tuổi ( bé lấy họ mẹ, tên lót của cha) cư ngụ Phường 11, quận Bình Thạnh, TP.HCM. Như mọi ngày bình thường cháu Hạnh vẫn mạnh khỏe vui chơi, nhưng hôm đó vào ngày 08 tháng 9 năm 2010, khoảng gần 11 giờ đêm đang xem tivi bỗng nhiên bé bị ngất xỉu. Sau một lúc sơ cứu không hiệu quả gia đình và bà con chòm xóm vội chở đi cấp cứu ở bệnh viện Nhân Dân Gia Định các bác sĩ đã chẩn đoán là chứng bệnh “ viêm não Nhật Bản” ! Một ngày nằm ở phòng cấp cứu thấy không khả quan, các bác sĩ nơi đây cho chuyển bé Hạnh đến bệnh viện Nhi Đồng 2 và được nhập viện vào ngày 09 tháng 9 năm 2010, trong sự thương yêu tận tình chăm sóc của tất cả các y, bá sĩ, hộ lý…. Qua 21 ngày hôn mê sâu, không ăn uống, dù cho nền y học hiện đại cộng với tình thương yêu và dốc hết sức cứu chữa của các y bác sĩ nơi đây, nhưng sức khỏe của bé Hạnh mỗi ngày mỗi cạn kiệt và suy hô hấp nặng, cuối cùng các bác sĩ đành phải bó tay, rút ống dưỡng khí và cho xuất viện về nhà lo phần hậu sự. Hôm đó là ngày 29/10/2010 trước khi gia đình đưa bé về nhà, vị bác sĩ trưởng khoa nhân từ đã nói với ba mẹ cháu “ người ta bảo còn nước thì còn tát, nhưng cháu nó đâu còn giọt nước nào nữa mà tát !” Bác sĩ còn nói : “Nếu tôi mà có phép nhiệm mầu, tôi cũng phải cứu cháu nhưng rất tiếc. Chỉ có Phật Trời mới cứu được cháu.” “Chỉ có Phật Trời mới cứu được cháu !” Vâng! Vị Bác sĩ này đã nói đúng! Cháu Hạnh từ bệnh viện về đến nhà chỉ còn là một bộ xương cách trí, thoi thóp trong hơi thở như một con mèo quặc quẹo sắp sẽ ra đi. Bà con lối xóm người người đến thăm, ai ai cũng xót xa thương cảm (nhìn trong nhà giấy báo che hết bàn thờ, tủ rương, hình ảnh thờ lật úp vào trong, cảnh tang tóc mà ta thường thấy khi nhà có người chết). Ông ngoại cháu đã mua đất xong, mướn người đào huyệt mộ, và đã lo xong hòm, vải, trà khô… những thứ cần thiết cho hậu sự. Nhưng mọi việc đổi thay khi tôi (ở cạnh nhà) nghe cháu Hạnh từ bệnh viện trả về cũng qua thăm. Là một người Phật tử sau khi xem xét cháu Hạnh, tôi nói với ba mẹ cháu: “ Nếu anh chị đồng ý tôi sẽ mời Ban Hộ Niệm đến niệm Phật cho cháu, nếu cháu hết số thì sẽ về với Phật, nếu còn phước thì tai qua nạn khỏi.” Ba mẹ cháu đồng ý, thế là tôi gọi điện thoại, một lát có một nhóm Phật tử đến cùng tôi thiết lễ bàn Phật. Sau 1 giờ tụng kinh sám hối và niệm Phật hồi hướng cầu nguyện cho cháu Hạnh xong ai nấy từ giã trở về nhà, còn lại những người gia đình, bỗng thấy bé chớp mắt và sau đó cháu mở cặp mắt yếu ớt nhìn mọi người.
một lát có một nhóm Phật tử đến cùng tôi thiết lễ bàn Phật. ( Ảnh minh họa )
Ngạc nhiên và mừng rỡ, gia đình cháu Hạnh chạy qua gặp lại tôi mong sao mời được Phật tử tiếp tục đến niệm Phật. Thế là chỉ mấy cú điện thoại của tôi mà gần cả trăm người đến thay nhau niệm Phật vang trời, niệm suốt mấy ngày mấy đêm. Nào là Đoàn Phật tử Ban trợ niệm Chùa Vạn Đức Thủ Đức, Cô Thanh Lý làm trưởng ban. Đoàn Phật tử Ban Hộ niệm ở Gò Vấp Bác Huệ Nguyện dẫn đầu. Các Phật tử chùa Hoằng Pháp, Phật tử các chùa ở Bình Thạnh, các chị tiểu thương chợ Gò vấp, Phật tử chùa Như Lai và các Phật tử khắp nơi trong các quận huyện trong Thành phố Hồ Chí Minh, thông tin nhau qua điện thoại, tự túc mang theo lương thực, không quản ngày đêm cùng niệm câu “Nam mô A Di Đà Phật”. Những người mà trước giờ gia đình cháu Hạnh chưa hề quen biết! Khu phố nơi đây mọi ngày bình yên nay bỗng ồn ào hẳn lên, ngày cũng như đêm rất khuya thế mà không biết Phật tử từ đâu ùn ùn kéo đến tay cầm chuỗi, đồng phục áo dài lam từng tốp thay nhau niệm Phật vang trời, bà con lối xóm vui mừng đến thăm cháu Hạnh cũng chắp tay đồng thanh niệm Phật. Sau một tuần, bé tỉnh táo lại nhưng đôi lúc co giật làm kinh. Để tiếp tục điều trị cho cháu Hạnh, ngày 04 tháng 11 năm 2010 ba mẹ cháu đến BV Nhi đồng 2 xin hồ sơ bệnh án về mục đích là chuyển bé đến khoa Thần Kinh bệnh viện Chợ Rẫy. Thấy Ba mẹ cháu Hạnh vừa đến mọi người ùa ra hỏi han ( ai cũng nghĩ rằng Bé Hạnh đã chết ) nhưng khi nghe Bé Hạnh đã khỏe, và ăn uống lại rồi, ai nấy thật sự không tin, cứ tưởng đùa ! Mọi người ngỡ ngàng khi nghe ba mẹ cháu Hạnh nói bé đã sống lại rồi. Điều kỳ diệu nào đã làm cho bé Hạnh từ cõi chết trở về? Bác sĩ (trưởng khoa) khi cho cháu Hạnh xuất viện cũng đã có nói “ Chỉ có Phật Trời mới cứu được cháu!” Vâng ! Nhờ Phật Trời cháu Hạnh đã sống lại ngay buổi niệm Phật đầu tiên và tỉnh dần sau những buổi niệm Phật tiếp theo, thật sự cháu Hạnh đã sống lại nhờ câu niệm: NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT của số đông Phật tử qua mấy ngày đêm. Khi không còn phương điều trị được nữa, bệnh viện cho cháu Hạnh xuất viện về nhà là sẽ chết, điều đó tập thể y, bác sĩ tại khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 2 và tất cả mọi người không ai chối cãi. Nhưng tại sao niệm Phật mà Cháu Hạnh sống lại? Quý vị thử nghĩ đi, chiếc đèn kia ít dầu quá, sắp cạn rồi đèn sẽ tắt. Nhưng nhờ nhiều người thương tình đến, người tiếp cho 1 ít dầu, thì đèn sẽ đầy dầu lại và tiếp tục sáng! Người sống thọ, sống khỏe, sống vui là nhờ cái Phước Nhân đời trước đã tạo. Cháu Hạnh kiếp trước thiếu tu nên thiếu phước, giờ mạng sống đã cạn, nhưng còn chút duyên nào đó đối với Phật Pháp nên được nhiều người đến niệm Phật để tiếp phước, nhờ phước đó mà cháu Hạnh thoát cơn nguy hiểm, mạng sống tăng thêm.
Quý vị thử nghĩ đi, chiếc đèn kia ít dầu quá, sắp cạn rồi đèn sẽ tắt. Nhưng nhờ nhiều người thương tình đến, người tiếp cho 1 ít dầu, thì đèn sẽ đầy dầu lại và tiếp tục sáng! ( Ảnh minh họa )
Vậy cho nên chúng ta, ngay từ bây giờ ai nấy cũng nên thành tâm niệm câu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT để tăng thêm phước thọ. Nếu đang bệnh tật, ngoài thuốc men điều trị, cũng nên niệm Phật hằng ngày ( đó là phương thuốc A Di Đà !) Mà cháu Hạnh đây đã trải qua bao nhiêu kiếp trước tạo nghiệp gì đó không lành nên giờ bị chứng bệnh nặng ( nghiệp bệnh ), mạng sống sắp tàn, may nhờ còn chút duyên lành nên gặp số đông Phật tử đến trợ niệm tiếp phước cho ( mà phần đông là Phật tử ở xa không ai là người quen với gia đình mới lạ chứ, thậm chí tôi cầm máy gọi cũng đâu có quen nhiều người, chỉ biết số điện thoại đó là của Ban Hộ Niệm thôi). Đã qua rồi cơn nguy hiểm, gia đình tiếp tục xin nhập viện Nhi Đồng 1, gần 1 tháng nằm viện và được trở về nhà, tuy thần kinh còn co giật liên tục, nhưng gia đình mong tôi ghé châm cứu mỗi ngày. Cháu Hạnh giờ hoàn toàn tỉnh táo, hết co giật, nói được, ăn ngủ tốt, đùa giỡn suốt ngày.Tuy nhiên vẫn phải thường xuyên đến bệnh viện tái khám theo dõi.
Cháu Hạnh.
Hôm nay, ngoài sự tri ơn Phật Trời đã cứu sống con mình, ba mẹ cháu Hạnh tỏ lời biết ơn đến với quý Phật tử trong các Ban Hộ Niệm không quản ngày đêm mưa gió đến niệm Phật cầu an cho cháu. Cám ơn các y, bác sĩ đã tận tâm chăm sóc cháu Hạnh thời gian qua. Riêng ba cháu Hạnh, lúc mọi người đang chuẩn bị lo hậu sự cho cháu, thì ba cháu vì quá thương con gái út, ba cháu có tự đập đầu vào tường và ngất xỉu, anh tự vận để theo con, nhưng mọi người ngăn cản kịp thời. Giờ đây, đã qua rồi cơn biến cố gia đình và thấy sự nhiệm mầu quá sức tưởng tượng của câu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT. Ba của cháu anh Châu đã từng vô tù ra tội vì tánh khí hung hăng quậy phá,  nên có biệt danh “ Châu điên” (dân Sở Thùng ấy mà) nay đã nguyện xuống tóc, tại gia thờ Phật A Di Đà, bỏ ác làm lành, tập ăn chay, tu học. Câu niệm NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT đến nơi đâu sự mầu nhiệm đến đó. (Lương y Phan Văn Sang – 87 Nguyễn Văn Nghi, P.7, Q. Gò Vấp)

SÁM HỐI VỚI HEO.

Thùy Hương – thành viên của group ‘Nhân quả- Luân hồi’ (…tiếp theo bài ” Sám hối với ốc”) Kính thưa quý vị độc giả, tôi là một Phật tử ở TP.HCM, tôi có nhân duyên rất lớn với Bồ Tát Địa Tạng. Câu chuyện tôi sắp kể ra đây cũng nhờ trì tụng kinh Địa Tạng và thành tâm sám hối nên căn bệnh viêm họng hạt, biến chứng sang bệnh xoang của tôi đã lành hẳn, không những thế, còn giúp tôi nhớ lại được một tiền kiếp của mình. Vào năm tôi 18 tuổi, khi vừa tốt nghiệp PTTH, tôi phát hiện ra mình bị một chứng bệnh lạ, khoảng từ 3-5h sáng mỗi ngày, khi giấc ngủ say nhất thì tôi đều rất ngứa trong cuống họng. Tôi ngứa đến nỗi phải thò tay vào trong họng để gãi, hoặc khọt khẹt rất mạnh trong cổ cho đã ngứa. Vì lười biếng đi khám nên tôi toàn ra hiệu thuốc tây nói triệu chứng và mua thuốc về uống. Nhưng cuối cùng, tôi cũng phải đi bệnh viện khám vì quá khó chịu. Bác sĩ của bệnh viện Tai –Mũi –Họng TP.HCM chuẩn đoán tôi bị viêm họng hạt mãn tính, cả đời phải sống chung với nó, dù có chữa cũng không khỏi. Nghe vậy, tôi đành chấp nhận vì bác sĩ đã nói vậy thì làm sao mà chữa hết được. Cứ thế tôi uống thuốc ngày này qua tháng nọ, một năm có 365 ngày thì tôi uống không sót một ngày nào. Nếu như quên thuốc chỉ một ngày thì tờ mờ sáng hôm đó lại ngứa cổ ngay. Đến năm 23 tuổi, một người bạn chỉ tôi đi đốt những nốt hạt trong họng. Tôi cũng đi, và đây quả thật là khoảng thời gian khá thoải mái vì tôi không còn cảm giác ngứa nữa. Nhưng cũng chẳng bao lâu sau. Tôi lại trở lại triệu chứng ngứa cuống họng như lúc trước. Một lần nữa tôi lại đi đốt các hạt viêm trong họng. Cũng như lần trước, sau khoảng thời gian ngắn là bệnh của tôi lại tái phát. Lần này, tôi lại đến bệnh viện xin đốt hạt viêm, sau khi thăm khám, bác sĩ bảo rằng không thể và cũng không nên đốt vì cuống họng bên trong của tôi đã mỏng lắm rồi. Nghe vậy, tôi rất buồn vì lại phải làm bạn với thuốc cả đời. Tôi luôn tự hỏi tại sao người khác bệnh chữa hết, còn tôi lại không hết? Khi lập gia đình, sinh đứa con đầu lòng, trong thời gian ở cữ, tự dưng tôi nghe hơi thở của mình có vị tanh. Vì nghĩ cơ thể vừa trải qua sinh nở nên còn yếu, tôi để mặc nó với niềm tin là ra tháng sẽ hết Nhưng không, tôi vẫn ngứa cuống họng và hơi thở vẫn thấy mùi tanh. Tôi liền đi khám và lần này bác sĩ thông báo với tôi rằng, tôi bị vẹo vách ngăn, bệnh viêm họng hạt đã biến chứng sang bệnh xoang. Vậy xem như cả đời này tôi phải sống chung với bệnh viêm xoang, vì có lẽ ai cũng biết viêm xoang khó mà chữa lành bệnh. Tôi uống đủ thứ thuốc, ai chỉ gì uống nấy, bệnh tuy không nặng hơn nhưng cũng không thuyên giảm chút nào. Cho đến khi hội đủ duyên lành, tôi biết đến kinh Địa Tạng. Ban đầu, tôi chỉ đơn giản trì tụng xong là hồi hướng cho chúng sanh. Nhưng về sau, vì bệnh tật bức bách, tôi muốn đem công đức tụng kinh để cầu được gặp thầy hay thuốc giỏi để chữa lành bệnh viêm xoang. Khi tìm hiểu giáo lí nhân quả, tôi tự suy diễn rằng những kiếp trước mình buộc mũi trâu nên kiếp này bị bệnh xoang hành hạ. Tôi tự suy nghĩ vậy nên ung dung trì tụng kinh Địa Tạng và hồi hướng cho chúng. Bây giờ, mỗi lần nghĩ lại thì tự mắc cười vì suy diễn của mình. Có lẽ do nhân duyên nhiều đời nhiều kiếp đã trì tụng kinh Địa Tạng, nên tôi thường gặp cảm ứng khi trì tụng. Ngày nào như ngày nấy, tôi trì tụng đều đặn, cứ sắp xếp được giờ nào thì tôi tụng theo giờ ấy. Ngày nào cũng tỏ lòng kính ngưỡng với Bồ tát Địa Tạng. Cho đến một buổi trưa năm 2012, như thường lệ, tôi đang cung kính tụng kinh, thì có một hiện tượng rất lạ xảy đến với tôi. Giữa ban ngày ban mặt, tôi đang rất tỉnh táo tụng kinh, bỗng dưng nhìn thấy chung quanh mình rất, rất nhiều heo. Nằm kế bên tôi là con heo nái như đang mang thai. Xung quanh là các con heo khác nhiều vô kể. Tôi định thần, nhìn kĩ lại, rõ ràng chúng đang nằm ngoan ngoãn nghe tôi trì kinh, hình ảnh rất thực. Cho là mình đang bị ảo giác, tôi xếp bằng theo thế kiết già, nhắm mắt, tĩnh tâm hầu xua đuổi những vọng tưởng không mong muốn. Lạ kì thay, khi tôi định thần, tâm như nhập vào cõi hư không thì thấy một hình ảnh rất rõ. Tôi thấy một người đàn ông mập mạp, đeo tạp dề, chân mang ủng, có râu quai nón. Tạp dề vấy đầy máu. Ông ấy đang thoăn thoắt dùng con dao cắt cổ những con heo. Có một con heo con, vì biết mình sắp chết nên ghì chặt hai chân sau xuống nên nhà, miệng kêu éc éc nghe rất thê lương. Nhưng với sức mạnh của một người đàn ông vạm vỡ, ông lôi hai chân trước của nó đi một đoạn, và cuối cùng con heo ấy cũng bị giết chết. Tôi thấy rất rõ và chân thật như đang ở đó vậy. Trong cái cảnh tôi đang thấy thì thời gian tầm 4-5h sáng. Nhưng sau khi nhìn thấy cảnh đó, tôi lại chìm vào an nhiên, để cho tâm thanh tịnh khoảng gần 20 phút, tôi mở mắt ra, thật lạ kì, bầy heo chúng vẫn nằm đó, rất ngoan. Không ồn ào gì cả. Chợt hiểu ra, nhờ oai thần của kinh, tôi vừa thấy kiếp trước của chính mình – là một gã đồ tể chuyên mổ heo – lúc này tôi chấn động thật sự. Buông quyển kinh đang còn trì tụng dở dang. Tôi quay lại vừa dập đầu khóc, vừa sám hối tội lỗi. Chưa bao giờ trong cuộc đời của tôi khóc to đến như vậy. Tôi lạy không biết bao nhiêu lạy, sự ân hận lên đến cực điểm. Tôi cứ lạy, miệng thì liên tục sám hối và nước mắt tuôn ra không ngớt. Và thế là từ từ đàn heo như tan dần vào không trung. Do tôi quá nhập tâm lạy và sám hối, nên cũng không để ý là tôi đã không còn trông thấy đàn heo nữa. Kể từ đó, ngày lại ngày, tôi đều đặn chân thành sám hối tội lỗi của mình, không những với bầy heo mà với tất cả những loài vật mà tôi đã từng giết hại. Thời gian sau đó, cũng trong những khi tụng kinh Địa Tạng, những hình ảnh tiền kiếp lại hiện lên trước mắt tôi, đều là về kiếp làm đồ tể. Tôi thấy gã đồ tể đó là người Trung Quốc, xem xét trang phục thì chỉ cách thời nay khoảng một thế kỉ là cùng. Tuy sát sanh nhiều, nhưng đôi khi gã cũng thắp nhang bái Phật. Gã cũng giúp vài người no bụng, ai lỡ đường nhưng hết tiền lộ phí, gã sẵn sàng thết đãi bữa cơm ngon. Có lần, khi đang chặt thịt để bán, gã nhìn thấy một người co rúm vì lạnh, gã cởi phăng cái áo đang mặc, choàng lên người ấy. Một lần, gã đang say sưa làm công việc giết mổ. Bỗng nhiên tôi nghe “hự” một tiếng, gã ngã lăn ra đất. Tay chân cứng đờ, toàn thân không cử động được. Thì ra gã đã chết, chết ngay trong lò giết mổ của gã, có lẽ bị đột quỵ hay đại loại thế. Gã chết mà máu mồm ọc ra liên tục, mắt cứ trợn trừng không nhắm lại được, một cái chết đau đớn. Tôi giật mình, mồ hôi tứa ra đầm đìa, sự sợ hãi tột độ. Sau lần đó, tôi không còn thấy những cảnh tiền kiếp ấy hiện ra nữa. Quay trở lại căn bệnh viêm xoang của tôi. Tôi uống thuốc quả thật rất là ngán, uống từ 18 tuổi đến năm 34 tuổi (chỉ nghỉ được một thời gian ngắn khi đốt những hạt viêm họng). Số tiền tốn vào tiền thuốc không biết bao nhiêu mà kể. Nếu không uống thì lại ngứa cuống họng vào khoảng thời gian 3-5h sáng – chính là khoảng thời gian đồ tể giết heo. Sau gần hai năm tụng kinh sám hối tội lỗi kiếp xưa, nghiệp xấu tiêu tan, oán thù với bầy heo chắc đã được hóa giải, khiến tôi gặp một duyên lành. Có một người chỉ tôi dùng cây xương cá (hay còn gọi là cây giao) nấu lên và hít. Tôi cũng thử hít, tuy nhiên không hi vọng bệnh mình khá hơn vì tôi đã thử quá nhiều cách rồi, hơn nữa đâu phải ai dùng cách này cũng khỏi bệnh đâu. Tôi nấu nước và hít đúng 21 ngày. Ban đầu rất khó hít, nhưng sau quen dần, tôi liều bỏ thuốc không uống nữa. Theo dõi vài hôm sau, tôi đã không còn bị ngứa cuống họng nữa. Hơi thở cũng không nghe tanh. Tôi đi chụp hình xoang thì bác sĩ báo cho tôi một tin rất vui, lỗ xoang đã được thông – tôi đã hết bệnh. Khi nghe bác sĩ nói như vậy, tôi chạy nhanh về nhà, vội quỳ trước bàn thờ và cám ơn những con heo đã tha thứ cho tôi. Cám ơn sự linh ứng, màu nhiệm của Phật pháp đã hoá giải mối oán thù từ nhiều đời nhiều kiếp giữa tôi và bầy heo. Cho đến nay ( 2017) là đã gần 4 năm. Tôi không bệnh lại, nhưng thỉnh thoảng vẫn chảy nước mũi, xong chỉ cần nghỉ ngơi vài tiếng là khỏi. Hiệu lực sám hối và trì tụng kinh thật không thể nghĩ bàn. Chỉ cần thành tâm y giáo phụng hành, thì khi đủ nhân duyên, mọi điều mong cầu tất sẽ linh ứng. Cho đến thời điểm này, mỗi ngày tôi đều mỗi sám hối. Lòng luôn kính thờ, quy ngưỡng Địa Tạng Vương Bồ Tát. Đối với Ngài, tôi quả thật có nhân duyên rất sâu đậm, bản thân tôi có nhiều chuyện linh ứng liên quan đến Ngài. Mong rằng những ai có nhân duyên với Tam Bảo, đều hiểu sâu nhân quả, ngoài việc tu tập, làm thiện, còn luôn biết hồi hướng phước báu cho oan gia quá khứ, sám hối chân thành mọi ác nghiệp, để nghiệp nặng hoá nhẹ, nghiệp nhẹ hoá lành.

” CON ƠI ! HÃY THA THỨ CHO MẸ” – CẦU SIÊU THAI NHI & SỰ LINH ỨNG KÌ DIỆU

(Quang Tử ) Khoảng tháng 6/2017, có một người phụ nữ trẻ nhắn tin facebook cho tôi, cô kể rằng từ mấy năm nay, người cô bị đau nhiều chỗ nhưng khi đi khám thì không tìm ra nguyên nhân bệnh. Hai vai và gáy thường bị nhức và cảm giác như có gì đó rất nặng đè lên, lại thường xuyên bị đau đầu. Cô thừa nhận trước kia cô đã từng phá thai một lần, đi xem vài nơi người ta nói có một vong linh em bé luôn đeo theo. Cô kể thêm rằng, thỉnh thoảng cô hay nằm mơ thấy một đứa bé nhìn cô đầy oán hận, nó thường khóc bằng một giọng đầy ai oán, trong cơn mơ ấy, hễ cô cứ lại gần đứa bé để dỗ nó thì đứa bé lại biến mất, điều đó khiến cô hết sức lo lắng và day dứt. Tôi hỏi thăm thì cô giới thiệu cô tên Kim Yến ( vì ngại nên cô không cho tôi đăng tên thật) , sinh năm 1986, hiện sống tại TP. HCM. Tôi khuyên cô nếu sắp xếp được thời gian thì xuống Vũng Tàu, cùng với đạo tràng chúng tôi làm lễ Sám hối- cầu siêu cho thai nhi cùng các oan gia trái chủ khác. Cô liền nhận lời. Không lâu sau, cô xuống Vũng Tàu cùng chúng tôi quét dọn, làm công quả tại tháp thờ Xá Lợi Phật và cúng Sám hối oan gia với chúng tôi một buổi. Có lẽ cô thấy hợp, nên mấy hôm sau, cô quyết định xuống cúng Sám hối – cầu siêu cho thai nhi và oan gia liên tục hẳn một tuần. Buổi tối hôm đó, sau khi sám hối với oan gia xong, cô bắt đầu thấy đau bụng, đến đêm thì cơn đau càng dữ dội, mọi người chuẩn bị định chở đi cấp cứu. Xong trước khi đi, cô nhắn tin hỏi tôi. Tôi liền khuyên cô nên trì tụng Diệt Định Nghiệp Đà Ra Ni : “ÔM PRA MA NI ĐA NI XOA HA” xem như thế nào. Rất may bên cạnh cô có một Phật tử đã lớn tuổi, cũng tụng thần chú này cùng với cô, gia tăng thêm hiệu lực. Thật kì lạ, chỉ vài phút sau, cơn đau êm dần rồi biến mất, cô vừa tụng thần chú, vừa chìm vào giấc ngủ an lành. Sáng hôm sau dậy, cô cảm thấy khỏe mạnh như chưa có chuyện gì cả. Lí giải về chuyện này, tôi giải thích với cô rằng, khi sám hối với oan gia, một số vong linh oan gia ôm giữ lòng thù hận sâu nặng, họ muốn hành hạ lần cuối trước khi buông bỏ hẳn mối thù với mình để siêu thoát. Cứ tiếp kiên trì sám hối, cầu siêu cho họ, mọi chuyện sẽ êm thôi. Cứ thế, cô kiên trì cúng sám hối- cầu siêu cho thai nhi và oan gia trái chủ, ngày 2-3 lần, liên tục một tuần. Đến ngày thứ sáu, cô nằm mơ và lại thấy đứa bé hiện về, khác với những lần trước, nó không khóc lóc ai oán nữa, mà nó mỉm cười với cô. Cô ôm nó vào lòng trong niềm hạnh phúc… Tỉnh dậy, cô cảm thấy lòng mình nhẹ nhõm, thanh thản và an lành hơn rất nhiều. Cô tin rằng, vong linh thai nhi của cô cuối cùng đã tha thứ cho cô và được siêu thoát an lành. Cô kể lại cho anh chị em chúng tôi với một giọng rất phấn khởi. Bệnh của cô cũng đã tiêu tan, gần như hết hẳn chỉ trong thời gian ngắn. Cô từ biệt chúng tôi, trở về với cuộc sống nhộn nhịp vốn có của Sài Gòn, mang theo về sự bình an trên thân thể, lẫn trong tâm hồn. ___________ Nếu bạn hoặc người thân của bạn cũng gặp trường hợp tương tự, bạn có thể in bài NGHI THỨC SÁM HỐI- CẦU SIÊU THAI NHI sau đây ( chính là Nghi thức mà cô Kim Yến đã thực hành) và tự cúng tại nhà, trước bàn thờ Phật ( hoặc không có bàn thờ Phật cũng vẫn được). Kiên trì nhiều lần chắc chắn sẽ có kết quả. Link NGHI THỨC SÁM HỐI – CẦU SIÊU THAI NHI : http://nhanqua.com.vn/nghi-thuc-sam-hoi-cau-sieu-cho-thai-nhi/ http://nhanqua.com.vn/nghi-thuc-sam-hoi-cau-sieu-cho-thai-nhi/

Câu chuyện chấn động thế kỉ 21: NGƯỜI VỀ TỪ ĐỊA NGỤC.

(Quang Tử – biên tập từ bài giảng “20 tầng Địa ngục” của ni sư Diệu Hân ) Vào năm 2002 tại TP. HCM, một chuyện hết sức rùng rợn, li kì đã xảy ra. Nó đã khiến không biết bao nhiêu người dựng tóc gáy, toát mồ hôi vì kinh sợ. Đó không phải một câu chuyện ma, mà là một trải nghiệm du hành vào cõi Âm Phủ của một ni sư pháp danh Diệu Hân ( tên khai sinh là Nguyễn Thị Quân). Những trải nghiệm cực kì sống động, chân thật như đang ở trước mắt, cùng với giọng kể mộc mạc, bình dị của cô như đưa chúng ta vào thế giới khủng khiếp mà các tôn giáo đều mô tả, nhưng chẳng có mấy người tin là thật, đó là Địa Ngục. https://youtu.be/G3MuMhDWXRY Ni sư Diệu Hân hiện tu tại am Bát Nhã ở 365b/1, đại lộ Nguyễn Văn Linh nối dài, xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh, TP – HCM. Cô là một Sa Di Ni hết sức đặc biệt, từ nhỏ đã có thể khai mở mắt âm dương, thấy được rất nhiều loại ma quỷ, từ những vong linh vất vưởng, đến những loại quỷ hình thù kinh dị, dữ tợn, đặc biệt, cô còn được phúc lành diện kiến với các vị Bồ Tát trong siêu hình. Chính nhờ điều đó, cô được học rất nhiều đạo lí quý báu, do chính các vị Bồ Tát chỉ dạy, làm hành trang quan trọng trên con đường tu hành sau này. Cô trải qua một tuổi thơ hết sức dữ dội. Lớn lên lấy chồng sinh con, nhưng cuộc sống cũng đầy những đau thương. Sau nhiều năm nếm trải đủ mùi vị cay đắng của thế gian, cuối cùng, cô xuất gia, nương nhờ cửa Phật để tìm một con đường giải thoát khỏi những bi ai của nhân thế. Tuy nhiên, con đường tu hành cũng chẳng hề bằng phẳng, cô gặp phải nhiều thử thách, nhiều sự khinh chê, dè bỉu. Sau này, cô rời khỏi đại chúng trong chùa, về nhà tự cất một cái am nhỏ tu một mình. Và câu truyện đặc biệt li kì, rùng rợn của cuộc đời cô, đã xảy ra trong khoảng thời gian này. Ngày 1/11/2002 lúc hai giờ sáng, tại am nhỏ của mình, cô đang nằm trên võng thì chợt thấy linh ảnh Đức Phật hiện ra, hào quang rực rỡ, Phật chỉ thẳng tay về phía cô, rồi linh ảnh Phật dần mờ đi. Cô mừng rỡ bật dậy thắp nhang cúng Phật, thì cô nhận thấy mắt mình có chút vấn đề. Hai mắt sụp xuống, mở lên như mọi khi không được, chỉ he hé được một chút. Qua hôm sau vẫn không khá hơn chút nào, cô đành lần mò ra tiệm thuốc Tây gần đó, cô vẫn nhớ rõ, tiệm thuốc đó tên là Thái Hòa. Dược sĩ khám thì thấy mắt không có bệnh gì. Cô bèn nài nỉ ông bán cho ít thuốc ngủ, về ngủ thật nhiều may ra mắt sẽ trở lại bình thường. Van nài mãi, cuối cùng cô cũng mua được hai viên thuốc ngủ. Về nhà, cô dặn mọi người để yên để cô ngủ một giấc thật dài, rồi uống thuốc và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ, khi đó khoảng mười giờ sáng. Cô thấy mình lạc vào một khung cảnh đẹp đẽ, cây cối xanh tươi. Có một chiếc cầu rất dài, cô bước lên cầu đi được một lúc, thì cầu đổ sụp xuống, cô té nhào xuống sông. Cô thấy dòng sông rất đẹp, cô muốn bơi vào bờ, nhưng bơi mãi không vào được. Thật lạ, bờ sông ở ngay đó nhưng bơi mãi không thể tới. Lúc đó,cô cảm thấy chới với, hốt hoảng, và sợ hãi … Dần dần, dòng nước đó đưa cô ra cửa biển, nước trở nên rất lạnh, buốt thấu tim gan. Cô nhìn quanh thấy không chỉ có mỗi mình mình, mà có đến vô số người khác cũng trôi dạt theo dòng nước vào biển lạnh này, người Tây có, người ta có, Âu có, Á có, già trẻ nam nữ … đều có. Người cô bị lạnh quá, trở nên cứng đờ ra. Quá sợ hãi, cô nghe thấy một giọng từ trên cao nhắc hãy niệm Phật, cô nghe theo cố hết sức niệm Phật, mãi mới phát âm được chữ “…Phật !… Phật”. Dần dần, niệm được “…A Di Đà Phật!”, rồi đầy đủ câu “ Nam Mô A Di Đà Phật!”, nhờ đó, cô cảm thấy dễ chịu hơn rất nhiều. Và cô quay sang chụp lấy hai người xung quanh, niệm Phật giúp họ. Lát sau, họ hết lạnh, và một người quay sang nói: “ Cô ơi, con chết đã được mười mấy ngày rồi”, người còn lại cũng nói đã chết hai mấy ngày rồi, và đây chính là biển ngâm người chết trong vòng 49 ngày. Nghe đến đây, Ni Diệu Hân rụng rời vì nghĩ rằng mình đã chết, cô thấy hết sức đau khổ. Nhưng sau này, cô mới biết thực ra cô xuống đây để chứng kiến cảnh địa ngục, để trở lại nhân gian tường thuật cho người đời biết, chứ cô chưa có chết. Cứ thế, dòng nước cuối cùng đưa cô tới một cửa biển, người người lớp lớp chìm nổi, dày đặc, đông vô số kể. Nơi đó xuất hiện một tòa thành to lớn, phía sau là núi cao vời vợi không nhìn thấy trời đâu ( trong kinh gọi là núi Thiết Vi) Cô dạt vào bờ, bước lên tòa thành đó, và kinh hoàng nhận thấy các vị đầu trâu mặt ngựa, các vị quỷ vương… đủ mọi hình thù kinh dị, dữ tợn, vị nào vị đó to lớn khủng khiếp, số lượng đông đảo vô cùng. Một vị quỷ vương dẫn cô đến một cánh cửa, cánh cửa ấy tự động mở ra, ánh hào quang bừng sáng, và cô nhận thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, và Chuẩn Đề Bồ Tát, uy nghi ngự trên đài. Lập tức cô cúi đầu quỳ lạy ba vị Bồ Tát. Sau đó, cô được ba vị Bồ Tát hướng dẫn phát lồ, sám hối các ác nghiệp. Sám hối xong, hai vị quỷ vương dẫn cô vào các địa ngục, bắt đầu chuyến du hành khủng khiếp có một không hai. Cô được biết, mỗi bước chân mà hai vị ấy dẫn mình đi, tương đương với hai ngàn dặm chứ không phải như bước chân bình thường, nghĩa là địa ngục thực sự vô cùng khổng lồ, không dựa vào thần thông của các vị quỷ vương, không thể đi hết. Cửa ngục đầu tiên mở ra, trên cửa ghi chữ tàu gì đó cô không hiểu, hỏi ra mới biết đó là ngục bất hiếu. Đập vào mắt cô là những chông sắt ghê rợn trên một bàn trông khổng lồ, có hình tròn, số lượng người trên bàn chông đó đông không thể tính kể. Các quỷ vương đẩy những tội hồn lơ lửng trên không trung, rồi bị các tảng đá từ trên cao đè xuống, cắm phập vào chông sắt to như ngón tay, máu tuôn ra xối xả. Hình phạt đó, cũng như mọi hình phạt khác, cứ lập đi lập lại nối nhau không ngừng. Chỗ khác, có những bàn băng lạnh, tội hồn nằm, ngồi ngổn ngang trên đó, lạnh thấu xương tủy. Hai vị quỷ vương nói, đó là quả báo do bỏ cha mẹ chịu đói, chịu lạnh. Còn chung toàn ngục này là do 12 loại tội bất hiếu, khi còn sống đã phạm khiến tội hồn phải vào đây chịu khổ, như hỗn xược cha mẹ, phá tiền của cha mẹ, đánh đập, giết cha mẹ, bỏ mặc cha mẹ đói lạnh… Tiếp theo, Ni Diệu Hân được dẫn vào địa ngục thứ hai, tên là Vô Gián. Ngục này do phạm 80 tội danh khác nhau mà tội hồn phải vào đây, như mua gian bán lận, cướp đoạt hại người, cho vay nặng lãi, bóc lột người làm công, anh em tranh giành gia tài v.v… Các hình phạt ở đây rất đa dạng, như đổ nước đồng sôi vào mồm, móc lưỡi kéo ra chặt, hay chặt tay, chặt chân, cho rắn, bò cạp cắn xé, bị quỷ địa ngục đâm lòi ruột kéo ra.v.v… Các tội hồn gào thét kinh hồn. Giả sử mà có máy quay ghi lại, thì không bộ phim kinh dị nào có thể so sánh được, đảm bảo ai xem rồi thì thà chết cũng không dám phạm tội. Tiếp đến, cô được dẫn vào ngục Đại Thập Ác, các hình cụ rất nhiều, cối xay, đinh đâm, cột đồng lửa.v.v.. Có một vạc dầu cực kì khổng lồ, như một cái hồ lớn, bên trong người người lúc nhúc chìm nổi, gào thét. Tội hồn phải đọa vào đây vì các tội : giết vợ, giết chồng, giết con, phá thai, gian dâm, loạn luân, hành nghề mại dâm, khinh chê, phỉ báng người khác.v.v… Cô đặc biệt ấn tượng với hình phạt Kim châm, dành cho những người phạm tội châm chích, kích bác, khinh chê lườm nguýt người khác, ăn xén ăn bớt.v.v.. Các tội hồn bị trăm ngàn cây kim sáng loáng, dài khoảng một gang tay, từ hư không hiện ra phóng vào người, xuyên qua từng thớ thịt, cứ thế kim phóng không ngơi nghỉ, thật đáng sợ. Tiếp đến là Địa ngục Hỏa Thiêu, đâu đâu cũng là lửa cháy rực, dành cho những người làm thầy giáo, cô giáo, học trò phạm tội, như thầy dạy dấu nghề, dạy sai giáo án, không có lương tri, hại trò, trò đánh thầy, giết thầy.v.v… Tiếp nữa là ngục Thập Nhị Tội Ác, dành cho 12 đại tội gây nguy hiểm cho xã hội, gồm: 1- chạy xe cố ý đâm chết người 2- cai ngục thả tử tù 3- làm tiền giả 4- xây nhà không đúng chất lượng 5- xây cầu đường cẩu thả không đúng chất lượng 6- buôn bán chất nổ 7- buôn bán ma túy, chất gây nghiện 8- đầu cơ phá hoại nền kinh tế 9- quan tòa bao che tội phạm 10- bức hại, tàn sát nhân dân 11- thông đồng ngoại bang hại nước 12- mượn danh quốc gia ép, hại nhân dân.v.v.. Những tội hồn bị vào đây rất khó được thoát ra mà siêu sinh cõi khác. Trong ngục có một biển nước lạnh giá, dưới nước là các quái vật hung dữ, bên trên là đủ thứ hình cụ nhìn lạnh xương sống. Và, ni sư Diệu Hân rụng rời khi nhận ra người dì họ của cô đang ở trong đó, trong biển người trùng trùng điệp điệp. Bà bị các đầu trâu mặt ngựa kéo thân xác, chặt chém liên tục, máu thịt vương vãi đầm đìa. Nếu cố vùng vẫy bỏ chạy thoát ra, lập tức sẽ bị các hình cụ, móc sắt bên trên ập tới, đâm nát thân. Cô cố gọi người dì, nhưng tội hồn ở đây giống như không có tai, không thể nghe thấy được. Khi còn sống, vào thời trước giải phóng, người dì này hành nghề buôn bán ma túy từ Campuchia về bán trong nước. Cuộc sống giàu sang, tiền bạc, nhà cửa, xe cộ …thừa mứa, con cái ăn xài phung phí. Sau Giải phóng 1975, báo ứng hiện tiền ập đến, gia sản tiêu tán không còn gì, con cái bất hiếu, lưu lạc mỗi đứa một nơi. Ngày bà lìa đời tiền mua cỗ quan tài cũng không có. Nhưng người đời chỉ nhìn được chút ít quả báo đó mà thôi, chứ đâu biết báo ứng còn gấp triệu tỉ lần thê thảm hơn thế ở dưới địa ngục này. Cô cũng ngạc nhiên nhận ra một người quen khác, đó là ông hàng xóm cũ của cô trên đường Nhật Tảo, TP HCM. Khi còn sống, ông làm chủ một hãng in lớn, thời đó, cô thường chơi thân với con gái thứ hai của ông. Ông vào địa ngục này vì tội in tiền giả. Khi còn sống, ông đã bị bắt và tuyên án tử hình. Chết rồi vào địa ngục này đã hai mươi mấy năm, bị các tảng đá đập nát thân thể, máu me be bét, cực kì khốn khổ, cứ thế đến ngàn muôn kiếp. Cô muốn ở lại thêm, nhưng các vị quỷ vương đã đẩy cô đi nhanh, đến các ngục khác. Ngục tiếp theo là Hỏa Ốc ( Nhà lửa), dành cho các bậc tri thức không có lương tâm, như nhà văn viết truyện lệch lạc, y bác sĩ tha hóa, điều chế, buôn bán thuốc giả, in ấn kinh sách sai lệch… Các tội hồn bị quỷ đóng đinh vào đầu, óc máu tung tóe, chết rồi hoàn lại thân xác, tiếp tục đóng đinh. Hoặc bị cột đá rơi từ trên cao xuống giã xác thân tan nát, như người ta dùng chày giã cua vậy. Hoặc bị quỷ dữ móc ruột, móc họng rồi ăn nuốt một cách rùng rợn… cứ thế nối tiếp không biết đến khi nào thôi. Tiếp đến, hai vị quỷ vương đưa cô đến ngục Hỏa Ưng, thuộc Đại địa ngục A Tỳ, dành cho những cư sĩ, những người hủy báng Tam Bảo, lạm dụng, trộm cướp của Thường Trụ, lấn quyền điều hành trong chùa, khinh chê, bức hại bậc chân tu, Tăng Ni, Phật tử; đánh đập, chửi rủa Bồ Tát hiện tiền, phá hủy tượng Phật, chùa chiền, hành dâm trong chùa, lợi dụng Tam Bảo để buôn bán cắt cổ.v.v… với những đủ thứ hình phạt như ăn giòi, sói lửa cắn xé, quả cầu lửa thiêu đốt, chim ưng mổ mắt.v.v… Đặc biệt, có những con chim đại bàng khổng lồ, một cái móng vuốt cũng to gấp mấy lần cái bàn tay con người, nhìn thôi là lạnh xương sống, chúng bay xà xuống chụp đầu các tội hồn, móc mắt, xé xác… Rồi có những con quỷ to lớn, lông lá xồm xoàm, mắt to như quả cam, hung tợn xé xác tội hồn ăn thịt. Hai vị quỷ vương chỉ một tội hồn cho cô xem, khi còn sống, bà tên là Diệu Tích, là Phật tử một chùa lớn ở Sài Gòn. Năm 1972, bà nắm được chút quyền lực trong chùa, thường chửi mắng Hòa thượng, đánh đập tăng ni, gây sự với các Phật tử công quả khiến ai ai cũng sợ khiếp vía. Vào ngục A Tỳ này rồi, bà bị chó xé xác, bị giòi đục khoét, bị lửa cháy thiêu đốt liên tục, gào thét đau đớn. Ngục kế tiếp cô được dẫn tới, tên là Đại A Tỳ. Đúng như tên gọi, ngục này lớn hơn nhiều các ngục khác, mang một vẻ âm u, rùng rợn khó tả. Ngục này dành cho những thầy tu của các tôn giáo khác nhau, như Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, và nhiều các tôn giáo nhỏ, giáo phái tự xưng, các tà đạo, yêu mị của dân tộc thiểu số khác, do núp bóng Tôn giáo mà làm chuyện xằng bậy nên phải vào đây. Gồm hàng trăm thứ tội khác nhau, như đánh mắng bậc chân tu, lạm dụng tài vật của Tam Bảo, phá giới, tu không giới hạnh, đưa người nhà vào nắm quyền trong chùa, giả danh người xuất gia chuộc lợi, xây chùa giả chuộc lợi, giảng sai chánh pháp, mê hoặc người đời vào tà đạo.v.v… Cô được các vị quỷ vương chỉ cho một ông sư đã lên chức Thượng tọa, khoảng hơn bảy chục tuổi, mặc áo màu vàng, đang ngồi trên bàn chông, bị chó cắn xé tay chân, trên đầu thì quạ mổ mắt, máu me đầm đìa, ghê sợ. Ông này đi tu từ nhỏ. Lớn lên được bậc tiền nhiệm giao cho làm trụ trì một chùa ở Sài Gòn. Ông là người thông minh, có học thức về Phật Pháp, thông thạo kinh sách, được tín chúng Phật tử kính ngưỡng, cúng dường rất nhiều, khiến ông sinh tâm kiêu mạn. Ông khinh thường các bậc tu hành khác, thường lấy tiền cúng dường để tư lợi riêng khiến đại chúng trong chùa bị thiếu hụt. Sau này ông còn lấy tiền đó mua nhà cho họ hàng đứng tên. Vì tội như thế, ông bị giảm 15 năm tuổi thọ, bị Hành Bệnh quỷ vương dày vò bằng bệnh tật, liệt giường liệt chiếu cho đến khi chết. Chết rồi bị đưa vào đây muôn vàn thống khổ. Các vị quỷ vương còn chỉ thêm hai chú cháu cùng nối tiếp nhau làm trụ trì một chùa khu Chợ Lớn, thường lấy tiền chùa tiêu xài việc tư, đưa cha mẹ vào chùa bắt tăng ni phục vụ, và nhiều tội khác. Bây giờ, họ có hình thù kì dị, cổ nhỏ bụng to, mang gông xiềng xích, bị quỷ sứ đổ nước đồng sôi lên người, đau đớn khôn xiết. Chuẩn bị rời khỏi ngục này, chợt có năm vị quỷ vương hiện đến chặn ni sư Diệu Hân lại. Họ tuyên bố chính cô sẽ phải chịu hình phạt trong ngục này, vì những tội mà cô đã gây ra trước kia. Nghe tới đây, cô giật mình kinh sợ. Các tội danh của cô phải chịu hình phạt gồm: chê sư phụ không có đạo hạnh, phá thai, ăn trộm gà về giết thịt, làm chứng người khác gian dâm, khiến vợ chồng bỏ nhau, chê bai đại chúng xuất gia, không chịu về chùa nhập chúng tu hành. Cô hết sức bất ngờ, không thể lường được chính mình cũng sẽ phải thọ hình nơi đây. Rất nhanh chóng, các vị quỷ vương đưa cô đến chảo dầu. Nó rất to lớn, chứa được muôn vạn người chứ không phải cái chảo nấu bếp ta thường thấy, dầu trong chảo sôi sùng sục, độ nóng khủng khiếp. Các vị quỷ vương thảy cô vào chảo dầu. Vì đã chuẩn bị trước, cô lập tức niệm Phật liên tục. Thật vi diệu, dù xung quanh là dầu sôi sùng sục, nhưng cô không thấy đau đớn gì hết. Tưởng như thế là đã thoát nạn, nhưng không. Một vị quỷ vương lôi cô ra, ấn tay vào cổ ni sư Diệu Hân, đọc thần chú khóa khẩu, không cho cô có thể niệm Phật được nữa. Có lẽ vì họ muốn cô nếm mùi đau đớn của cực hình, sau này mới nghiêm trì giới hạnh được. Đọc chú xong, họ thảy cô lại vào chảo dầu sôi với độ nóng ghê hồn. Lần này thì không tài nào niệm Phật được nữa, cô phải hứng chịu cái đau đớn tột độ, nó nhức buốt tới tận xương tủy. Cái nóng khiếp đảm của chảo dầu sôi sùng sục, như kim châm vào từng thớ thịt, như xé tan thân xác, lời lẽ khó tài nào miêu tả được. Cứ như thế suốt hai canh giờ ( tức 4 tiếng đồng hồ), cô chìm nổi, giãy giụa trong chảo dầu kinh hồn ấy. Xong xuôi, cô được đưa ra. Một vị tên Ác Độc quỷ vương với bàn tay to lớn, xương xẩu, ghê rợn bắt đầu thực thi hình phạt tiếp theo với cô. Vị đó tát vào mặt cô từng nhát, từng nhát một, tát đến đâu, máu thịt tuôn ra đến đó. Cứ thế kéo dài một canh giờ ( tức 2 tiếng đồng hồ). Tiếp đến, các vị quỷ vương đem ra một rổ đầu gà rất lớn, banh miệng ni sư Diệu Hân ra, nhồi từng cái, nhét từng cái đầu gà vào họng cô. Cảm giác đau đớn như rách toạc cổ họng. Cô trợn mắt hứng chịu cực hình ấy cho đến khi nuốt trọn hết thúng đầu gà. Rồi lại bị quỷ vương vỗ đầu cho ói ra hết, xương gà, mỏ gà móc vào họng. Lúc nhét vào thì đỡ đau hơn, nhưng khi ói ra thì đau đớn tăng gấp trăm lần, cô cảm thấy thống khổ ghê gớm, nước mắt đầm đìa. Hình phạt này kéo dài khoảng một canh giờ (tức 2 tiếng đồng hồ), đây là do khi trước, cô hay mua đầu gà về cho con ăn. Chịu xong các hình phạt đó rồi, cô lại được dẫn đi đến các ngục khác. Có một ngục tên là “ Sơn hà xã tắc” có lẽ dành cho những quan chức, những những lãnh đạo đất nước phạm tội phải vào đây. Nhưng cô không được cho vào xem, mà đi qua các ngục khác. Có một ngục tên là ngục Ăn Giòi, dành cho người đổ bỏ thức ăn, khinh chê người phục vụ, ngang ngược, hống hách… tội hồn bị triệu triệu con giòi rúc rỉa, hoặc có người phải bốc những con giòi đó cho vào mồn ăn, nhìn nổi hết da gà. Có một ngục tên là Tham Lợi, dành cho những người bóc lột sức lao động của cấp dưới, tham lam, ăn bớt tiền công.v.v… Họ vào đây bị bắt ăn toàn là sỏi đá, hoặc tệ hơn, bắt ăn những sắt nóng đỏ, đau đớn gào khóc. Lại một ngục khác tên là Sát Sinh, tội hồn ở đây, khi còn sống, giết con vật bằng cách nào, thì bị quỷ hành hình bằng đúng cách đó. Ví như lấy búa đập đầu trâu, thì bị quỷ đập nát đầu bằng búa. Hay khi xưa dùng dao cắt cổ gà, thì giờ cũng bị quỷ dùng dao cắt cổ lại. Cứ thế nên trong ngục này hình cụ đủ muôn nghìn loại khác nhau. Rồi có một ngục hành hình bằng cột đồng cháy rực, cùng chảo dầu sôi, dành cho những kẻ tà dâm, ngoại tình, mua bán dâm, buôn bán phụ nữ làm gái lầu xanh, truyền bá dâm dục.v.v… Lại có ngục tội hồn bị quỷ xé miệng, cắt lưỡi, chọc sắt nóng vào mồm.v.v… vì tội khinh chê dè bỉu, ăn không nói có, thị phi nhiều chuyện, chửi mắng hỗn xược… Ngoài ra còn rất nhiều ngục khác, dành cho đủ hạng người trong xã hội tạo ác, từ dân đầu đường xó chợ, đâm thuê chém mướn mạt hạng, đến tầng lớp tri thức như luật sư, giáo viên, bác sĩ, nghệ sĩ, nhà văn, diễn viên… Tội danh thì muôn trùng sai khác, tội tày trời có, tội tầm thường có, nặng có, nhẹ có, ứng với mỗi tội lại hiện ra các thứ hình phạt khác nhau, mỗi mỗi đều cực kì đau đớn, rùng rợn. Tội hồn ngục nào cũng thế, đâu đâu cũng máu me đầm đìa, xương thịt vương vãi, gào thét kinh hồn, đau đớn khôn xiết… Cứ chết đi lại hoàn lại hình hài cũ, tiếp tục hình phạt nối nhau. Một ngày một đêm, chết đi sống lại nghìn muôn lần thống khổ. Sau khi đi qua các Địa ngục rồi, cô được đưa đến một khu tập hợp vong linh rất đông đúc, người người lớp lớp đứng hồi hộp chờ đợi. Nếu vẫn còn dư báo, thì bị các quỷ vương đọc thần chú biến hình thành các loại súc sinh, như thành gà, trâu, chó, rắn, rết.v.v… cho vào bao đưa đi đầu thai làm kiếp súc sinh, tiếp tục đền trả nợ cũ. Nếu nghiệp nhẹ hơn thì được tái sinh làm người nghèo đói, tàn tật, hèn hạ…Họ phải đi qua một cây cầu bằng trúc, gặp một người phụ nữ rất đẹp (có lẽ là Mạnh Bà). Bà cho từng vong linh uống một thứ nước gì đó, rồi mới đưa đi đầu thai làm người. Cuối cùng, các quỷ vương đưa cô trở lại chỗ ban đầu, diện kiến, cung kính đảnh lễ ba vị Quán Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát, Chuẩn Đề Bồ Tát. Đảnh lễ xong, các vị Bồ Tát bảo cô hãy niệm Phật. Cô liền làm theo, thì thấy mình bay bổng lên không trung, trở lại thế gian, nhập vào xác, lúc đó là 12 giờ trưa, kết thúc chuyến đi với những trải nghiệm rùng rợn, kinh hoàng nơi Địa Ngục. _______________ Địa Ngục là một danh từ có mặt trong từ điển của mọi quốc gia Đông sang Tây, Âu đến Á. Từ những nền văn minh lớn, đến những lời truyền miệng của những dân tộc thiểu số khắp thế giới, từ những tôn giáo lớn như Phật giáo, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, đến các tín ngưỡng nhỏ lẻ ở mọi đất nước, đâu đâu cũng đề cập đến địa ngục. Nếu như địa ngục là một sản phẩm của trí tưởng tượng, một biểu tượng mang tính chất tượng trưng thôi, tại sao Đông Tây kim cổ, ngàn xưa tới giờ, ở khắp nơi trên thế giới, dù bị địa lí, bị các đại dương ngăn cách, con người lại có thể tưởng tưởng ra cùng một thứ giống nhau như vậy ? Câu trả lời rất đơn giản, vì địa ngục là có thật. Vì đó là sự thật, nên ở mọi nơi đều xuất hiện những bằng chứng cho thấy sự tồn tại của địa ngục. Các bậc trí giả ở mọi nền Văn minh đều xác quyết đó là sự thật, thậm chí mô tả tỉ mỉ về địa ngục. Ấy thế từ xưa đến nay, luôn có rất nhiều người cho rằng địa ngục là một sản phẩm của trí tưởng tượng, nhằm răn đe là chính, chứ không phải sự thật. Để rồi họ mặc sức xuôi theo dục vọng mà làm đủ thứ tội ác lớn nhỏ, vì cho rằng chết là hết, sẽ chẳng có hình phạt gì cho những tội lỗi của họ. Đâu biết được rằng, phía sau cái chết là địa ngục với quỷ dữ, với đao kiếm, với lửa cháy dầu sôi, cùng đủ thứ quả báo kinh khủng đang chờ đợi họ. Nếu ngay từ đầu, họ thức tỉnh sớm, bằng trí tuệ hay bằng niềm tin cũng được, nhận ra một chân lí rằng, Địa ngục là sự thật, Báo ứng là sự thật, mà nói ‘không’ với các tội lỗi và sự sa đọa. Thế thì đâu đến mức phải có đến triệu triệu, tỉ tỉ vong linh bị đầy đọa trong dầu sôi, trong lửa cháy, trong núi dao, rừng kiếm, gào thét đau đớn, ngàn vạn năm không biết khi nào thoát ra. Hi vọng câu chuyện này, không nhiều thì ít, sẽ giúp cho thế nhân thoát khỏi những tà kiến phủ nhận Báo ứng, chối bỏ Địa ngục, tìm lại được sự thực, sáng lên được một chút chân lí, mà sớm dập tắt được ngọn lửa đau khổ, đã và đang nhen nhúm trong từng hành vi của chính mình. (Quang Tử, biên tập từ bài giảng của ni sư Diệu Hân ) Xem video gốc do ni sư Diệu Hân giảng:

GIANG HỒ MỘT THỜI… VÀ THẢM CẢNH KHI VỀ GIÀ

Luật Nhân Quả luôn tồn tại trong thế giới này, nhưng nó diễn tiến rất chậm, nhiều năm, nhiều chục năm, thậm chí nhiều kiếp sau quả báo mới đến. Điều đó khiến nhiều người không tin rằng nhân quả là sự thật. Xong đôi khi, có những sự báo ứng nhãn tiền, diễn ra nhanh chóng trước mắt ta, giống như một lời tuyên bố hùng hồn, dù muốn tin hay không luật nhân quả vẫn luôn tồn tại. Nhà ông Năm Rô ở đường Võ Duy Ninh, quận Bình Thạnh, TP – HCM là một ví dụ điển hình. Nhắc đến nhà ông, là người ta thấy ngay được sự báo ứng nhanh chóng của luật nhân quả. Trước kia, khi còn trẻ, ông Năm là một tay xã hội đen cộm cán, chuyên bảo kê, đâm thuê chém mướn, không việc ác nào mà ông không làm. Vợ của ông dựa hơi chồng cũng hống hách vô cùng, gặp ai cũng chửi bới người ta bằng những từ ngữ khó nghe. Do gia đình ông quá dữ dằn nên ai ai cũng khiếp sợ và không dám tiếp xúc để tránh phiền phức. Được nước, ông càng lấn lướt không xem ai ra gì. Hai ông bà sanh được sáu người con. Cuộc sống cứ thế dần trôi, những đứa con của ông cũng lớn lên và lập gia đình. Đứa con trai thứ hai lấy vợ và sinh được một thằng cháu trai đích tôn. Quả thật, nhờ phúc phần nào đó còn sót lại, nên nhà ông mới sinh được cháu đích tôn nối dõi tông đường. Nhưng có phúc mà không biết bồi bổ, vun đắp, cũng như cây không tưới nước thì cây sẽ dần dần khô héo và chết. Gia đình ông Năm cũng vậy, liên tiếp những tai ương bắt đầu giáng xuống dồn dập vào gia đình ông sau những năm tháng làm đủ chuyện xấu ác. Anh con trai cả bị ung thư. Khi bệnh ở giai đoạn cuối, anh cùng bạn bè ngồi nhậu cho khuây khoả, bà mẹ thấy vậy thì ra chửi như tát nước vào mặt, không hiểu tại sao tự dưng anh ộc máu tươi chết ngay tại chỗ. Con trai thứ hai và con dâu của ông trở chứng, theo rủ rê của đám bạn nên bị nghiện xì ke ma túy, tiền bạc kiếm được bao nhiêu đều đốt hết dâng nàng tiên nâu. Cho đến một ngày cả hai đều phát hiện mình bị vướng phải căn bệnh thế kỉ HIV, bị căn bệnh dày vò mấy năm, rồi cả hai đều phải chết khi tuổi còn xuân. Đứa cháu đích tôn cũng không thoát khỏi nghiệp báo, cũng nghiện, cũng HIV giống như ba mẹ của nó và chết khi tuổi còn quá trẻ. Còn anh con trai thứ ba cũng có bệnh trong người, làm việc nặng không được phải sống bám vào vợ. Cô con gái út thì mắc bệnh thế kỉ HIV nên chết. Cô có đứa con trai thì mắc chứng bệnh giống bệnh down. Ngoài ra , ông bà còn có hai đứa cháu ngoại sau này đều phải sang Campuchia làm gái.
Ngoài ra , ông bà còn có hai đứa cháu ngoại sau này đều phải sang Campuchia làm gái. ( Ảnh minh họa )
Về phần hai ông bà ( hiện khoảng 70 tuổi), giờ sống cảnh già cô quạnh, cuộc sống nghèo túng, chứng kiến con cháu kẻ chết người sống, gia đình li tán, chẳng đứa nào sống chung chăm sóc, lòng dạ tan nát. Những căn bệnh bắt đầu kéo nhau tới dày vò đêm ngày, làm thân thể ông bà ngày càng héo hắt. Cả hai ông bà đều bị bệnh tiểu đường, riêng bà thêm bệnh khớp và đau cột sống. Ngày trước bà vênh mặt chửi người ta bao nhiêu, giờ thì lưng còng, đầu khum xuống gần đụng đầu gối. Đáng ra, khi tuổi về già thì có con cháu nương tựa, giờ hai vợ chồng già chỉ biết dựa vào nhau mà sống. Những người xung quanh ai thấy cũng đều cho đây là quả báo. Câu chuyện được họ đem ra làm đầu đề mỗi khi bàn về nhân quả. Đừng nghĩ cuộc đời sẽ mãi bằng phẳng, để rồi đến khi nghiệp xấu tới có hối cũng không kịp. Có thể bạn sẽ thắc mắc, ông bà Năm tự làm tự chịu, sao tai họa lại đổ xuống đầu con cháu? Thực ra, toàn cảnh bức tranh quả báo rất lớn, những gì ta thấy ở hiện tại chỉ là một phần nhỏ. Trước mắt, do nghiệp báo của ông bà chiêu cảm khiến những đứa con có sẵn nghiệp xấu sinh vào làm con cháu họ, chứ không phải tại ông bà Năm mà chúng phải gánh nghiệp. Việc chứng kiến con cháu li tán, kẻ chết người sống, và những bệnh tật tuổi già mới chỉ là hoa báo, còn quả báo chính thức, cực kì khủng khiếp thật ra đang chờ họ ở bên kia thế giới trong ba ác đạo ( địa ngục, quỷ đói, súc sinh), và ở nhiều kiếp sau nữa. ( Sưu tầm )