SÁM HỐI VỚI ỐC

( Thùy Hương – thành viên của group ‘Nhân quả- Luân hồi’ ) Tôi tên Thùy Hương, pháp danh Diệu Lan, hiện tôi 38 tuổi sống tại TP. HCM. Tôi xin chia sẻ cùng các bạn trải nghiệm nhân quả của chính bản thân mình, một số bạn có thể cho đó là chuyện khó tin, nhưng với tôi đó là sự thật, là một trải nghiệm hết sức quý giá. Từ những năm học cấp 2, khi chưa có duyên biết đến Phật Pháp, tôi rất thích ăn ốc. Mỗi ngày tôi đều ghé hàng ốc ăn vài dĩa, tôi cứ vậy mà ăn suốt gần 10 năm. Số ốc tôi ăn theo tôi nhẩm tính khoảng trên dưới một tấn rưỡi. Một con số quả thật kinh hồn phải không các bạn?
Mỗi ngày tôi đều ghé hàng ốc ăn vài dĩa, tôi cứ vậy mà ăn suốt gần 10 năm. ( Ảnh minh họa )
Nhiều năm sau, khi nhân duyên chín muồi, có rất nhiều phiền não, buồn khổ đến với tôi. Lúc đó, tôi chỉ biết cầu xin Đức Phật cho tôi vượt qua kiếp nạn mà thôi. Khi ấy, có một chị Phật tử nói với tôi rằng: ” Em đọc chú Đại Bi đi, cái gì cầu xin cũng sẽ được mãn nguyện”. Tôi liền nghe lời và đọc chú Đại Bi hằng ngày. Và rồi, một lần nữa nhân duyên lại đưa đẩy, khiến cho tôi gặp được Kinh Địa Tạng, tự nhiên trong lòng tôi cảm thấy quyển kinh này thật thân quen từ cái nhìn đầu tiên. Tôi liền thỉnh về trì tụng. Tôi trì tụng khoảng được một vài cuốn, hôm nọ tụng đến đoạn viết về sát sanh hại mạng, tôi bỗng rùng tôi khi nghĩ đến việc tôi đã ăn quá nhiều ốc. Ngay lúc đó, tôi đã chân thành dập đầu sám hối tất cả dòng họ nhà ốc đã bị tôi ăn thịt. Tôi không biết đã sám hối bao lâu. Nhưng quả thật tâm tư lúc đó rất chấn động, và tôi thấy hối hận thật nhiều. Kể từ hôm đó, tôi không dám ăn ốc nữa. Mỗi ngày tôi mỗi đều trì tụng kinh Địa Tạng và sám hối với những con ốc mà tôi đã ăn. Khi sám hối được vài ngày, có một đêm nọ, tôi mơ một giấc mơ mà cho đến bây giờ, mỗi lần nhớ lại tôi vẫn rất sợ. Tôi mơ thấy tôi vào một căn nhà ẩm thấp, có hàng ngàn đôi mắt nhìn tôi căm phẫn. Định thần nhìn kĩ lại thì… ôi thôi, bao nhiêu là ốc, ốc cha, ốc con, ốc cháu, …. tất cả đều nhìn tôi với đôi mắt căm hận. Tôi quá sợ hãi, nhưng không hiểu sao trong mơ vẫn có thể niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, tôi xin thành tâm sám hối với tất cả quý vị. Tôi niệm nhiều lần và giấc mơ kết thúc. Sáng ra tỉnh dậy, thật lòng mà nói tôi vẫn còn rất sợ. Do vậy, mỗi ngày tôi đều sắp xếp thời gian để trì tụng Kinh Địa Tạng và luôn luôn hồi hướng cho loài ốc, cũng không bao giờ quên chân thành sám hối với chúng. Tôi cứ trì tụng và sám hối như vậy mãi cho đến một ngày, tôi có một giấc mơ. Tôi lại thấy đi vào căn nhà ẩm thấp lúc trước. Nhưng lần này, khi bước vào thì tôi cảm giác căn phòng ấm áp, cũng có hàng ngàn đôi mắt nhìn mình, khác lần trước là những đôi mắt đó đầy vẻ yêu thương. Tự dưng trong lòng cảm thấy vui, tôi cũng niệm Phật và sám hối trong giấc mơ như lần trước. Bỗng đâu tôi nghe như có tiếng nói: “Đủ rồi!”, tiếng nói ấm, trầm, và chỉ vỏn vẹn hai chữ ấy mà thôi. Trong mơ, tôi thấy có những con ốc như bay lên (không biết bay đi đâu) nhưng nhìn chúng rất thư thái. Khi tỉnh lại, tôi ngẫm nghĩ chắc có lẽ do lòng tha thiết sám hối, nên đã cảm hóa được mối hận của dòng họ ốc rồi. Do đó, vài bữa sau tôi không sám hối nữa. Chuyện tôi sám hối và mơ về dòng họ nhà ốc cũng khá lâu rồi. Sau đó, tôi tuyệt nhiên không mơ thấy ốc một lần nào nữa. Nhưng cho dù đã chân thành sám hối, đã được sự tha thứ. Tuy vậy, dư báo -phần nghiệp còn sót lại vẫn xảy đến với tôi. Khoảng tháng 2 năm 2017, khi tôi sinh bé thứ hai được 8 tháng thì tôi bị nổi mề đay. Ai đã từng bị nỗi mề đay thì chắc cũng hiểu nó ngứa ngáy và khó chịu đến thế nào. Người ta gọi là nỗi mề đay sau sinh, khoảng một tháng là hết. Ban đầu tôi cũng nghĩ là một tháng hết cũng chẳng sao. Kệ, không quan tâm. Nhưng lạ một điều là tôi bị nỗi ngày càng nhiều. Và càng ngày càng ngứa và khó chịu hơn. Lúc này, tôi bắt đầu mua thuốc uống, và tốn cũng khá nhiều tiền. Tuy nhiên, nếu uống thuốc thì mề đay lặn, bỏ thuốc thì lại mọc nhiều hơn. Mề đây nỗi khắp người, nỗi cả trên cổ, trên mặt. Quả thật rất khó chịu. Tôi uống thuốc nhiều tháng như vậy, nhưng rất vô tư vì nghĩ “chắc mề đay sau sinh nó vậy” Cho đến buổi tối hôm ấy, tôi chưa kịp uống thuốc, “tới giờ” nổi mề đay. Tự dưng tôi nhìn kĩ những nốt mề đay… các bạn có biết tôi thấy gì không? Tôi thấy chúng giống như những con ốc đang bám vào da mình. Chúng bám theo đàn. Vì theo đạo Phật được ít lâu, có hiểu biết sơ sơ về nhân quả nên tôi biết đó chính là quả báo đang đến với mình. Kể từ hôm đó, tôi bỏ không uống thuốc trị mề đay nữa. Tôi để cho nó nổi thoải mái, không gãi, không bực bội oán trách. Mỗi lần mề đay nổi tôi lại vuốt ve, vỗ về và tâm tình với nó như hai người bạn. Tôi nhủ thầm: “Bấy lâu nay các bạn chịu nhiều đau khổ, thôi thì xem như tôi xin chuộc tội với các bạn vậy”. Nói thật, trước đó nếu ngày nào tôi không uống thuốc để lặn mề đay thì thật là khủng khiếp, nó ngứa kinh khủng. Cả người bứt rứt. Vậy mà từ khi nhận thấy hình những con ốc nỗi trên người mình, tự dưng tôi xem như đang trả quả báo, tôi chấp nhận như một điều đương nhiên, thậm chí vui vẻ trả nữa là đằng khác. Kì tích lại một lần nữa xuất hiện, sau gần một tháng chịu đựng và tỉ tê sám hối. Bỗng đâu các nốt mề đay không xuất hiện nữa, dần dần hết hẳn. Tôi cũng không nhớ và không biết tự khi nào tôi không bị những nốt mề đay gây ngứa nữa. Từ khi ăn ốc cho đến khi nhận quả báo là khoảng hơn 20 năm. Tôi trả quả ngay trong đời này. Nhờ cơ duyên đến với Phật Pháp, lòng thành tâm sám hối mà có lẽ quả báo nặng hoá nhẹ. Đây chính là sự nhiệm màu mà chỉ có ai đã từng trải nghiệm mới hiểu được. Nếu như còn vô minh, trôi lăn nhiều đời nhiều kiếp sau không biết tôi sẽ trả quả nặng như thế nào. Thùy Hương tháng 9/2017 ____________________ MỘT CÂU CHUYỆN TƯƠNG TỰ … Thiện Như Khi bị bệnh mà đông tây y đều bó tay không trị được, chỉ còn cách chịu đựng hoặc chờ chết, thì tại sao ta không thử phương pháp cuối cùng là y theo lời Phật mà sám hối, tụng kinh, trì chú ? Có rất nhiều người đã khỏi bệnh nhờ phương pháp này, điều đó có nghĩa là y học không phải phương pháp trị bệnh duy nhất. Nhiều người cố chấp bám vào khoa học, cho rằng chữa bệnh kiểu đó là mê tín. Vậy tại sao có nhiều trường hợp y học bó tay, bệnh nhân chỉ còn nước chịu đựng hoặc chờ chết, họ chuyển sang chuyên tâm sám hối, tụng kinh, niệm Phật… cuối cùng lại khỏi bệnh? Thực tế mới là câu trả lời xác đáng nhất. Trường hợp của tôi là một ví dụ : Khoảng đầu năm 2017, tôi làm bếp cho một nhà hàng món Hàn Quốc chuyên hải sản và các món nướng tại TP.Vũng Tàu. Do sát sinh nhiều nên tay bị lở loét, rất đau nhức, bật máu, lột cả da tay…
Do sát sinh nhiều nên tay bị lở loét, rất đau nhức, bật máu, lột cả da tay… ( Ảnh minh họa )
Tôi đã xức và uống đủ các loại thuốc không hết , đêm nào cũng không ngủ được vì hai bàn tay ngứa vì phải gãi vào nhau đến bật máu… Sau đó tôi được Add của Group “ NHÂN QUẢ & LUÂN HỒI “ hướng dẫn sám hối và niệm Phật , tụng chú Diệt Định Nghiệp Đà Ra Ni: “ÔM PRA MA NI ĐA NI XOA HA”, hồi hướng công đức cho các oan gia trái chủ gây nên bệnh ở tay ( những con vật bị tôi hại). Tôi thực hành theo được khoảng mấy tuần, tay tôi đã hoàn toàn khỏi tới tận bây giờ, mặc dù không hề bôi hay uống thuốc gì nữa… !!! Nếu như bạn rơi vào trường hợp giống như tôi , khi mà thuốc thang không còn hiệu quả gì… thay vì chịu đau, hãy thử làm như tôi đã làm, bạn sẽ thấy được hiệu lực phi thường của Phật Pháp, quả là không thể nghĩ bàn. Hướng dẫn tụng Chú Diệt Định Nghiệp :

CỨU CHÚNG SINH THOÁT ĐỊA NGỤC NHỜ TỤNG KINH ĐỊA TẠNG

Thùy Hương – thành viên của group ‘ Nhân quả- Luân hồi’ (…tiếp theo bài ” Sám hối với ốc”, ” Sám hối với heo”) Kính thưa quý vị đạo hữu, tôi rất cám ơn vì sau khi chia sẻ những câu chuyện sám hối của bản thân ( bài ‘ Sám hối với ốc’, ‘ Sám hối với heo’) đã có rất nhiều bạn cùng tôi thành tâm tự sám hối những lỗi lầm đã gieo Hôm nay, nhân ngày vía của Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát 29/7, tôi xin cúng dường đại chúng thêm một câu chuyện linh ứng khi trì tụng kinh Địa Tạng, mà chính bản thân tôi cũng chưa bao giờ dám nghĩ rằng mình có thể làm được Như đã kể ở hai bài trước, tôi thường trì tụng kinh Địa Tạng vào thời gian rảnh trong ngày. Những năm đầu khi tôi mới bắt đầu tụng kinh, vào một buổi tối nọ, cũng như mỗi ngày, tôi đang chăm chú vào kinh thì bỗng giật mình khi nghe thấy tiếng ‘leng keng’ rất lớn. Lắng tai nghe kĩ thì rõ ràng là tiếng xiềng xích khua nhau. Vì tôi biết lực tu mình còn non kém, nên lúc nào cũng tự nhủ mình phải tỉnh thức trước những cảnh giới xảy ra chung quanh. Tôi mặc kệ, vẫn chăm chú vào bài kinh còn dang dở. Nhưng âm thanh ‘leng keng’ vẫn tiếp tục vang lên bên tai, lần này lại có tiếng như móng tay cào xuống đất. Lúc này, tôi cảm thấy giận mình vô cùng vì không chịu tập trung trì kinh, lại phóng tâm nghe ngóng lan man làm cho bản thân không yên được. Để tịnh tâm, tôi liền nhắm mắt, hít thở thật sâu, khoảng một lúc sau, tôi nghe tiếng la rất lớn: “Cứu tôi, hãy cứu tôi..” Tôi tò mò nhìn xung quanh thì kinh hãi. Tôi thấy hai người mà dân gian thường gọi là “đầu trâu, mặt ngựa” rất cao lớn. Thật sự họ to lớn đến phát khiếp , trong vũ trụ quả thật có những người khác lạ so với chúng ta. Họ đều khoác bên ngoài một chiếc áo giáp cứng dạng như sắt, da sần sùi nhưng chắc nịch, chân mang giày da thú, tướng đi hơi khòm vì mang hình dạng nửa người nửa thú, mỗi người họ đều đang cầm một sợi dây xích dài quết đất. Thì ra tiếng leng keng phát ra từ đây. Hai vị ấy đang kéo lê chân một phụ nữ, cô ta quá nhỏ bé so với hai vị ngục tốt, cả thân hình cô ta chắc chỉ cao tới đầu gối của họ. Người phụ nữ mặc chiếc áo màu trắng, máu chảy rất nhiều, mái tóc ướt đẫm mồ hôi, vì bị ‘đầu trâu, mặt ngựa’ kéo hai chân nằm sấp, nên cô ấy cố hết sức ghì 10 ngón tay xuống nền đất, phát ra âm thanh ghê rợn. Thật ra, cô ta không hiểu mình đang bị đưa vào nơi địa ngục, mà chỉ là quá sợ hãi hai vị to lớn, mang thân hình người nhưng mặt thú kia. Dường như biết được rằng tôi đang nhìn về phía ấy, cô ta càng gào thét to hơn: ” Cứu tôi, cứu tôi đi…, làm ơn cứu tôi…” Vốn chỉ là một cư sĩ tu hành non nớt, tôi chỉ trố mắt nhìn mà không biết phải làm gì. Tôi sợ, thật sự sợ một ngày nào đó cũng sẽ bị kéo lê như cô ta, làm sao đây, tôi phải làm sao đây? Trong lúc đang hoang mang, chợt hai vị kia ngoảnh đầu lại. Phật ơi! Con chỉ muốn xỉu cho khỏi thấy cảnh này. Hai vị ấy nhe răng, nhìn là rụng rời chân tay, thú thật lúc ấy sợ quá, nên tôi nghĩ là nếu mà bị cắn một cái chắc cơ thể đứt làm đôi. Vì không biết phải làm sao, tôi cứ ngồi như trời trồng, cứ nhìn cô ta bị kéo lê ngày một xa dần… Khi ấy, bỗng dưng cô ta la rất to: “Hãy niệm Phật đi, niệm Phật cho tôi đi” Như quán tính, tôi liền nhanh nhảu niệm Phật: “Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ tát…” Tôi niệm liên tục, chân vẫn xếp bằng ngay ngắn. Hai tay chấp trước ngực. Lúc này, toàn bộ thân tâm tôi một lòng chỉ muốn cứu vớt cô ấy. Quý vị xin hãy thường niệm Phật, xin hãy niệm bất cứ khi nào, ở đâu nhằm huân tập thói quen đi vào tiềm thức, vì nếu không thường niệm Phật từ trước, những lúc nguy cấp này không thể cất lên câu niệm Phật được đâu. Tôi niệm được vài câu, một chuyện rất kì lạ xảy ra, hai vị ‘đầu trâu mặt ngựa’ bỗng đứng lại. Có vẻ họ ngạc nhiên, vì sao giữa lúc cùng quẫn này cô gái ấy vẫn biết nhờ tôi niệm Phật. Tôi nghe một tiếng “uỵch”, họ thả hai chân cô ta xuống và không kéo nữa. Bỗng nhiên, tất cả lại chìm vào hư không. Tôi vẫn ngồi đó nhưng tuyệt nhiên rất tĩnh mịch. Như thoát khỏi cơn mê, tôi lật đật tiếp tục bài kinh đang dang dở. Lần này, ngoài sám hối với các oan gia trái chủ ra, tôi còn hồi hướng và tự nhủ lòng phải làm chút việc lành mong sao cô ấy thoát khỏi địa ngục. Bình thường, mỗi lần trì kinh tôi chỉ tốn khoảng nửa tiếng (hết một phần ba quyển kinh Địa Tạng). Nhưng riêng hôm ấy, từ lúc khai kinh, thấy sự việc đó rồi tiếp tục tụng bài kinh thì mất hết 3 tiếng. Có lẽ, quá trình tôi quan sát thấy những gì vừa kể chắc cũng khoảng 2 tiếng. Bình thường, tôi cũng làm biếng trì kinh lắm. Nhưng sau khi nhìn thấy cảnh tượng kia thì ngày ngày rất siêng năng tụng trì. Thật ra, tôi muốn mau cứu cô gái kia hơn là sám hối cho bản thân tôi vì nghĩ rằng nếu không tinh tấn, không chí thành cứu vớt thì cô ta mãi mãi đoạ địa ngục, cơ hội trở lại thân người rất khó. Cứ vậy nên tôi luôn tranh thủ thời gian rảnh trong ngày để tụng kinh Địa Tạng, có ngày tụng ba lần hết một cuốn. Nghĩ lại thật hổ thẹn vì bấy giờ kém cỏi, không tinh tấn gì cả. Ngày qua ngày, tôi đều đặn hồi hướng công đức cho cô ấy. Lòng thầm mong cô ta dẫu sa địa ngục nhưng vẫn có ngày được trở ra đế chuộc tội. Tôi không bao giờ dám nghĩ là tôi sẽ đủ duyên để gặp cô gái ấy nữa. Khoảng nửa năm sau, trong một đêm, sau khi tụng kinh xong, tự dưng tôi thấy buồn ngủ. Vì cho rằng ban ngày đi làm, đêm về lại dụng công nên cơ thể mệt mỏi, tôi liền lên giường ngủ. Trong lúc mơ mơ màng màng, tôi thấy một người phụ nữ mặc một chiếc áo đầm phủ kín người màu xanh pha trắng, người này như đang mỉm cười với tôi. Ồ, đó chính là người phụ nữ hôm trước tôi thấy bị ‘ đầu trâu – mặt ngựa’ kéo lôi đi, nhưng giờ cô ta nhìn rất bình an chứ không sợ hãi như hôm trước. Tôi cố gắng nhướng mắt, gượng dậy nhưng không thể. Khoảng cách cô ấy đứng cách tôi rất gần, và không hiểu sao khi nhìn cô ta, lòng tôi dâng lên một niềm yêu thương, một sự gần gũi không thể nào tả xiết. Cô ấy nhìn tôi cười hiền từ, đầu khẽ gật nhẹ như muốn gửi lời cảm ơn. Rồi hình ảnh ấy dần tan biến vào hư không. Tôi không nói chắc quý vị cũng đoán ra được rằng, cô gái kia đã được thoát khỏi cửa địa ngục, có đúng không vậy thưa các bậc thiện tri thức? Tôi cũng vậy, lúc đó tôi thấy rất vui, ít ra cũng cứu được một chúng sinh thoát khỏi địa ngục. Sau này suy ngẫm thêm, tôi hiểu được một điều rằng. Nếu không lo tu tập siêng năng, thì chính tôi cũng sẽ bị kéo đi như thế chứ chẳng phải ngoại lệ. Vì lòng quý kính đức Địa Tạng Vương Bồ tát của tôi với Ngài rất sâu, nên bản thân tự có cảm ứng tốt. Rất mong tất cả quý vị hãy cùng tôi cố gắng sửa đổi thân tâm. Làm lành lánh ác. Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát độ sanh, độ tử cho chúng ta hằng ngày. Chỉ cần một sát na khởi niệm nghĩ tưởng, quy kính Ngài thì cho dù khó khăn muôn vạn, lửa địa ngục đốt cháy thân, Ngài cũng sẽ trợ duyên để giúp chúng ta tìm về bến giác. Một lần nữa con xin được niệm “Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ tát !!!”. Con xin Nguyện đời đời kiếp kiếp làm đệ tử của Ngài, bất thối chuyển.

ĐẦU THAI THÀNH TRÂU ĐỂ TRẢ NỢ ÂN TÌNH.

( Khuyết danh ) Nhờ cả một đời hành thiện, cứu giúp người khốn khó mà cha mẹ tôi, cùng cả gia đình tôi đã tích được đại đức, sống một cuộc sống bình an. Tháng 11/2014, tôi trở về quê nhà, nghe chị gái kể chuyện về con trâu trắng đầu thai, mà đích thân chị chứng kiến. Những năm đầu thập niên 50, nhà tôi ngụ ở một vùng núi phía Bắc, cha mẹ tôi là những người thuần phác, thiện lương, sống bằng nghề làm rẫy. Quanh năm suốt tháng chúng tôi chẳng kiếm được bao nhiêu tiền, cuộc sống của mỗi hộ dân thời bấy giờ đều rất túng quẫn, nói một cách tương đối thì gia đình tôi cũng có một cuộc sống khá hơn khối người. Những năm đó, rất đông người ở thành thị đều đến nông thôn tìm đất trồng trọt, mong sao kiếm được bữa cơm no, bụng không bị đói là tốt lắm rồi. Lúc này, có một người đàn ông lớn tuổi họ Bạch đến làng, dựng một căn nhà đơn giản ở ngay hốc núi, mỗi ngày đều khai hoang, trồng trọt.
Có một người đàn ông lớn tuổi họ Bạch đến làng, dựng một căn nhà đơn giản ở ngay hốc núi, mỗi ngày đều khai hoang, trồng trọt. ( Ảnh minh họa )
Về sau, căn nhà xuống cấp đến mức đổ sập xuống, không thể ở tiếp được nữa. Ông ta liền đến ở nhờ nhà của con gái nuôi trong làng, nhưng chẳng được bao lâu, người con gái nuôi ấy cũng đuổi ông ra khỏi nhà. Ông cụ lúc này đã bảy mươi ba tuổi rồi, không làm việc được nữa, lại không có tiền. Đến trưa, có mấy người qua đường không quen biết, đều bảo ông đến nhà ăn cơm, rồi sau đi đâu thì đi. Đến tối, lại có mấy người cũng không quen biết, bảo ông đến ngủ tạm tại nhà họ, hôm sau hãy đi tiếp. Mọi người trong làng đều biết cha mẹ tôi tốt bụng, luôn đối xử tốt với mọi người, ông cụ ấy cũng vậy, nên ông tìm đến nhà tôi, cầu xin ba mẹ tôi cho ông ở nhờ cho qua hết mùa đông này, sang năm sẽ nghĩ cách khác. Cha mẹ tôi thấy ông cụ có hoàn cảnh thực sự đáng thương, liền đồng ý với lời thỉnh cầu của ông. Tuy ông cụ không phải họ hàng thân thích gì với nhà chúng tôi, nhưng chúng tôi sống chung với nhau cảm thấy rất vui vẻ. Một nhà bảy tám người đều một tay cha mẹ chăm lo. Nhưng những ngày tháng tươi đẹp không được bao lâu, ông cụ đổ bệnh, không còn đứng dậy được nữa. Cha mẹ tôi tận sức chăm lo cho cuộc sống hằng ngày của ông, ông cụ vô cùng cảm động, nói rằng thật may mắn đã gặp được người tốt như ba mẹ tôi, ông còn nói rằng nếu bệnh khỏi rồi, sang năm sẽ báo đáp mọi người. Còn nếu như chết đi, kiếp sau nhất định sẽ trả mối ân tình này. Ông cụ nhờ cha tôi viết một bức thư cho em trai của ông. Cha tôi vẫn khuyên ông cụ, đừng suy nghĩ nhiều quá, bệnh sẽ sớm khỏi lại thôi, hết năm nay là sẽ tránh khỏi cái rủi của tuổi bảy mươi ba. Từng ngày, từng ngày trôi qua như vậy, không ngờ vào một ngày mùa đông năm ấy, ông cụ không còn tỉnh lại nữa, ông đã không qua nổi mùa đông năm này. Một thời gian sau ngày ông cụ mất, em trai của ông đã tìm đến để đón ông đi, nhưng không ngờ đã đến quá muộn. Ông ấy nói : – Ông ấy đi sớm quá, cảm ơn gia đình các vị đã cưu mang người anh của tôi. Kiếp sau, ông ấy sẽ đầu thai thành một con trâu trắng để báo đáp đại ân đại đức của mọi người. Cha mẹ tôi nghe vậy, không hiểu được tại sao người em trai của ông cụ lại biết như thế, xong cũng không để tâm. Những năm đó trong vùng chỉ có trâu đen, trâu nước thôi, chứ chẳng có ai nghe đến trâu trắng bao giờ. Nhiều năm sau, quả thật đến một ngày kia, trong bầy trâu nhà tôi, một con trâu cái đã đẻ ra một con trâu trắng. Con trâu trắng vừa mới sinh ra, lông trên người còn chưa khô hẳn, đi vẫn còn chưa vững, vậy mà nó đã chập chững từng bước, đi lên đường núi, nhắm thẳng hướng con mương mà đi. Thấy lạ, mọi người cũng đi theo nó xem sao, chứ không cản nó lại. Dọc đường đã đi qua bảy tám ngôi mộ, đều không dừng lại, cho đến khi đến trước ngôi mộ của ông Bạch. Khi ấy, nó không hề nhúc nhích mà đứng một hồi rất lâu. Mãi sau, trâu mẹ cũng tìm đến được nơi đó, nhưng con trâu trắng con vẫn không chịu dời đi. Phải đợi đến khi thằng cháu tôi làm việc ở ngoài đồng về, đi đến chỗ ngôi mộ ôm con trâu con này, nó mới chịu theo về nhà. Dần dần, con trâu trắng này cũng lớn lên thành một con trâu mẹ. Trong tất cả những con trâu trong bầy, nó là xuất sắc nhất, vừa lớn, vừa khỏe, lại đẻ được tốt. Mỗi năm đều đẻ được một chú trâu con, mà năm nào cũng có thể bán được giá rất cao, đám trâu lớn, trâu con này, người nào nhìn thấy cũng đều thích cả. Cha mẹ cứ thế sống tiếp những ngày tháng yên bình, hạnh phúc bên con cháu. Kinh tế luôn ổn định nhờ bầy trâu, sức khỏe lại rất tốt. Cho đến khi hai cụ mất, khoảng năm năm trở lại đây, đều là hưởng thọ 91 tuổi, mọi người đều nói, cha mẹ tôi trong suốt cuộc đời, luôn tích đức hành thiện, nên mới có một cuộc sống luôn hạnh phúc, khỏe mạnh cho tới khi qua đời, và ra đi một cách bình yên, thanh thản như vậy.

MẸ CHUYỂN SINH THÀNH CHÓ ĐÒI NỢ CON.

Có một đôi vợ chồn nọ nuôi một con chó nhỏ, và đặt tên cho nó là Lulu. Lulu lớn lên vô cùng xinh đẹp, bộ lông màu trắng của nó luôn được nữ chủ nhân chải chuốt và tắm sạch hàng ngày. Cả nhà họ đều yêu quý Lulu, mỗi ngày, họ đều cho nó uống sữa bò, và ăn thịt chân giò hun khói, chỉ cần Lulu thích ăn đồ gì, là vợ chồng họ liền mua về cho nó. Nhìn thấy Lulu như vậy, ai cũng nói nó là một con chó có phúc. Nhưng thật đúng là mọi việc không biết trước được điều gì, vì không bao lâu thì con Lulu đột nhiên lăn ra chết. Cả nhà họ khóc thương, mãi cho đến mấy tháng sau, đôi vợ chồng trẻ vẫn không hết buồn. Hàng xóm thấy vậy đều không hiểu nổi, họ bàn tán với nhau rằng: “ Chẳng phải nó chỉ là một con chó thôi sao ? Có cần thiết phải khổ sở như vậy không ? Lúc mẹ của họ chết, tôi không thấy họ rơi nhiều nước mắt như thế.” Lời nói tuy rằng có chua cay một chút, nhưng sự thật đúng là như vậy. Gia đình họ vẫn chưa nguôi nỗi buồn, thì vào một đêm nọ, người vợ mơ thấy mẹ chồng cô hiện về, và nói với cô: – Lúc mẹ sắp qua đời, hai con quá bận rộn làm ăn, mà không chăm sóc mẹ, kết quả là đã để mẹ lẻ loi, trơ trọi nơi góc nhà. Thậm chí, lúc mẹ qua đời, còn không có ai ở bên mẹ cả. Sau khi mẹ lìa trần, các con cũng không hề thương xót, mấy giọt lệ cũng chẳng rơi. Là con, nhưng các con đã không làm tròn bổn phận của mình. Con chó Lulu chính là mẹ đầu thai, đến để đòi món nợ các con còn nợ mẹ. Các con nghĩ lại sẽ thấy thời gian các con chăm sóc Lulu là bằng với thời gian các con bỏ mặc mẹ bị bệnh đấy. Ngoài ra, mẹ cũng nói cho con về lai lịch của Lulu để các con có thể kiểm chứng lời mẹ nói có đúng không. Lulu là do Yến Nhi mang về từ một người bạn học. Mà người bạn học này lại là bắt Lulu từ nhà cô của nó. Nhà cô người bạn học của Yến Nhi là ở Giang Tô. Mẹ của Lulu sinh được 5 con, nó là con chó đáng yêu nhất trong đó. Con hãy đi kiểm tra xem nhé! Duyên hết rồi, nợ cũng đã trả xong, mẹ phải đi đây!” Sau khi nói xong, mẹ chồng cô liền rời đi. Người vợ tỉnh lại, mướt mát mồ hôi, trong lòng cảm thấy có chút kỳ quặc. Mặc dù nửa tin nửa ngờ, nhưng lại thấy lời nói của mẹ chồng và hoàn cảnh rất rõ ràng như vậy nên cũng không khỏi băn khoăn suy nghĩ. Từng lời nói, cử chỉ và ánh mắt của bà rõ mồn một hiện ra trước mắt cô: Từ chuyện hai vợ chồng bỏ mặc mẹ ốm đau bệnh tật ở góc nhà đến chuyện hai vợ chồng họ mải kiếm tiền mà quên mất bổn phận làm con. Rồi cả việc mẹ chồng ra đi lúc không có người ở bên cạnh… Để kiểm chứng những điều trong mơ, người vợ đã gọi cô con gái của mình là Yến Nhi đến hỏi: “Con hãy hỏi lại bạn của con về lai lịch rõ ràng của Lulu xem.” Không ngờ, chỉ một cuộc điện thoại của Yến Nhi gọi cho người bạn học đã xác thực được hết thảy những lời nói mà người vợ nghe được mẹ chồng cô nói trong mơ đều là trùng khớp. Cuối cùng người phụ nữ đã kể lại câu chuyện này với mọi người xung quanh, ai ai cũng lặng yên trầm mặc lắng nghe. Sau khi kể xong, một người trong số họ thốt lên: “Hóa ra thiếu nợ người khác cái gì đều phải hoàn trả. Người xưa nói: “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo” quả là không sai.” ( Theo Letu.life Mai Trà biên dịch )

SIÊU ĐỘ CHO CHA

Thùy Hương – TP.HCM ( tác giả bài ‘Sám hối với ốc’, ‘Sám hối với heo’) Ba tôi khi còn sống tuy không biết nhiều về đạo Phật nhưng cũng thờ phụng bàn thờ Phật rất chu đáo và là một người hiền từ, sinh thời ông hay nhường nhịn và giúp đỡ người khác. Cuộc sống của ông trôi qua trong êm đềm cho đến tuổi xế chiều, những cơn bệnh bắt đầu lần lượt kéo tới. Đó cũng là quy luật của tuổi già, nhưng cũng từ đây, ông đã gặp những điều kì lạ, khá tâm linh mà rất khó lí giải. Căn bệnh tai biến của ông là chứng bệnh làm cho ông nhanh xuống sức nhiều nhất. Từ một người khi còn trẻ đi đứng nhanh nhẹn, khoẻ mạnh trở thành một người đi chậm chạp, hay vấp té. Hôm ấy, cả nhà tôi đóng cửa đi ăn và mua thuốc cho ông như thường lệ, ông thì ngủ trong phòng. Khoảng gần một tiếng sau khi chúng tôi về thì nghe ông kể lại là lúc nãy nằm ngủ không được, ông ra phòng khách tính ngồi cho thoải mái, không ngờ bị té. Nhưng cũng may, có ba người thanh niên đỡ ông vào lại trong phòng. Ba tôi kêu tôi nên cám ơn họ. Tôi và mẹ tôi nhìn nhau mà không nói được lời nào. Vốn tôi và mẹ sợ ông bị người ta vào hãm hại nên lúc ra ngoài đã cẩn thận khoá cửa ngoài rất chắc chắn. Khi về cửa vẫn khoá, vậy thì ba người thanh niên đỡ ba tôi là ai ? Tôi chợt nhớ ra, lúc xưa, trước sân nhà tôi có một chú lính bị bắn chết. Ba tôi biết chuyện nên lập bàn thờ thờ chú ấy, hai người còn lại có lẽ là anh trai đã mất lúc nhỏ của tôi và thêm một đứa trẻ cũng chết ba tôi tội nghiệp lập bàn thờ cho nó. Nghĩ vậy, tôi vội vàng đến thắp nhang cảm ơn vì đã giúp đỡ ba tôi khi chúng tôi đi vắng. Chuyện cứ thế trôi qua, ba tôi ngày càng yếu, dần dần ông đi không được, phải nằm một chỗ. Lúc này ông cũng nói ít rõ tiếng. Vốn tôi đã có nhân duyên sâu dày với kinh Địa Tạng nên ngoài trì tụng hồi hướng cho ba, tôi còn mở máy tụng kinh Địa Tạng cho ông nghe. Hôm đó, khi đang lúi húi làm việc, tự nhiên tôi nghe ba tôi xua đuổi ai đó, tôi tưởng vì nghe kinh ồn ào nên ba tôi giận đuổi tôi đi chỗ khác. Tôi nhìn ba tôi, thì thấy ông đang nhìn về phía tôi và hua tay xua đuổi. Tôi vừa hỏi vừa cười: ” Ba đuổi con hả?” Ông tiếp tục lấy tay xua đuổi và nói: ” Mấy người đi đi, nhà này của tôi, ai cho vào?”. Lúc này, tôi định thần lại một lúc và chợt hiểu ra, các hương linh đang tụ tập nghe kinh Địa Tạng. Thấy ba không thích như thế nên tôi không cho ba tôi nghe kinh nữa, thay vào đó là cho nghe nhạc niệm Phật. Vài tháng sau, khi đang cho ông ăn, tự nhiên ông kể tôi nghe tiếng được tiếng mất. Ông nói: – Đêm qua ba thấy hai ông, một ông mặt trắng, một ông mặt đen đến kêu ba đi.
Đêm qua ba thấy 2 ông, một ông mặt trắng, một ông mặt đen đến kêu ba đi. ( Ảnh minh họa )
Tôi nghe vậy tay run lên bần bật, chút nữa là đổ luôn chén cháo nhưng vẫn cố giữ bình tĩnh và hỏi tiếp: – Vậy ba nói sao? – Ba nói : ” Thôi tôi không đi đâu, tôi còn phải ở nhà coi nhà nữa” – Ba biết hai ông đó là ai không? Hình dạng như thế nào? – Hai ông một ông mặc đồ trắng, một ông mặc đồ đen, ông đen thì cầm cây giống cây đinh ba, ông trắng thì cầm cây giống cây phất trần. Hai ông đó ở đâu mà mặc đồ kì vậy con? – Con không biết ba à, chắc người ta giỡn đó ba – Ừ, ba nói không đi, hai ông đó cứ ép ba đi, ba nói phải hỏi ý hau mẹ con mày ba mới quyết định được. – Đúng rồi đó ba, ba không nên đi, ba đi rồi ai sẽ chăm sóc cho ba? – Ừ, bởi vậy ba hẹn hai ổng mấy ngày nữa hãy tới. Xin lưu ý với các vị độc giả, những câu trả lời của ba tôi rất lâu và khó khăn lắm mới nghe được vì lúc này lưỡi ông đã cứng lại nên phát âm rất khó khăn. Sau khi nghe ba tôi hẹn vài ngày nữa, tôi ôm ba tôi và khóc vì nghĩ rằng ba tôi sẽ bỏ tôi đi trong vài ngày nữa. Nhưng tôi có nghe nói đâu đó rằng một ngày trên cõi Ta Bà bằng cả năm dưới âm phủ. Quả thật, khi ngẫm nghĩ lại, từ lúc ba tôi kể chuyện cho đến khi mất là ông đã thọ thêm gần 4 năm nữa. Ông ra đi thanh thản, không đau đớn. Đó chính là quả lành mà ít ai có được. Có lẽ, khi còn trẻ ba tôi là một người hiền lành, lúc già lại được nghe kinh Phật nên có thể hẹn được thần chết – người mà thế gian gọi là Hắc Bạch Vô Thường. Từ chuyện của ba tôi, lúc đó tôi mới tin là mình có thể hẹn cái chết nếu như cả đời tu nhân tích đức. Sau khi ba tôi mất, tôi liên tục trì tụng kinh Địa Tạng và làm các việc thiện hồi hướng công đức cho ông. Nếu như ngày đó bận việc không trì kinh được thì tôi niệm danh hiệu Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát, sau khi niệm và trì tụng xong tôi luôn luôn thì thầm trong tư tưởng với ba tôi, khuyên ông đừng bám chấp vào điều gì nữa vì bây giờ ông đã mất, có muốn níu kéo cũng không được gì. Ròng rã khuyên nhủ như vậy cho đến một ngày, tôi mơ thấy ông về thăm tôi. Không hiểu sao, trong giấc mơ tôi vẫn biết ông đã chết. Tôi liền nói như giận dỗi: – Ba chết rồi còn về đây chi nữa, sao không đi đi? Nghe vậy ông hơi buồn và nói: – Mày nói vậy thì tao đi. Sáng thức dậy tôi rất giận mình vì đã nói câu nói làm cho ba buồn. Nhưng tôi còn buồn hơn khi biết ông vẫn còn vương vấn gia đình mà chưa siêu thoát lên các cõi cao hơn. Tôi liền đến bàn thờ đốt nhang khấn nguyện : ” Ba ơi, con và má hiện nay sống rất ổn, ba hãy vãng sanh đi, đừng bám chấp vào gia đình sẽ khổ thêm nhiều lắm”. Sau đó, tôi lại tiếp tục trì kinh, làm những việc cần làm để hồi hướng công đức cho ba. Bẵng đi một thời gian sau, tôi lại mơ thấy ông. Lần này tôi im lặng không nói gì hết, trông nét mặt ông rất vui, ông mặc chiếc áo thun xanh da trời và chiếc quần tây màu nâu nhạt – bộ quần áo ông rất thích mặc khi còn sống. Ba lại gần tôi, cười cười rồi vỗ vỗ nhẹ vào đầu tôi rồi nói: – Tội nghiệp con gái, cực khổ cho con quá rồi, thôi từ nay con không cần làm thiện hồi hướng cho ba nữa, lần này ba về thăm con lần cuối để báo cho con biết ba sẽ đi về cõi lành. Nói rồi ba khoan thai bước đi, không quay đầu nhìn lại tôi một lần nào nữa. Lúc đó, tôi chỉ nhìn theo và không nói được lời nào. Khi tỉnh dậy, tôi vội vã đến thắp hương cho ba, lòng vui mừng hớn hở vì biết ông đã đến một nơi nào đó rất an lành như lời ông nói. Tuy nhiên, cho đến bây giờ, mỗi lần làm điều gì, tôi vẫn thầm hồi hướng cho ba. Nguyện cho ba luôn được sanh vào nơi bình yên, hạnh phúc. Trong kinh Địa Tạng có dạy rằng, nếu như trong nhà có người thân qua đời, người còn sống làm những việc lành, hồi hướng công đức cho người đã khuất thì bằng cách này hay cách khác sẽ biết được nơi mà người mất ấy sẽ đi về. Bản thân tôi đã chứng nghiệm nhiều sự linh ứng màu nhiệm khi trì tụng kinh Địa Tạng, và câu truyện này là một trong số đó.

TIN QUỶ THẦN

Tôi có một người chị bà con cô cậu ruột, chị ấy ghiền trầu từ thời con gái nên ai cũng gọi chị là Ba trầu. Đi đâu chị cũng đem đủ đồ nghề; trầu, cau, vôi, thuốc; ghiền đến mức có lần chị nói bỏ chồng được chứ bỏ trầu không được. Chồng chị mất sớm để lại tài sản khá nhiều nên dù một mình phải nuôi bốn đứa con chị cũng không đến nỗi vất vả lắm. Khi các con của chị lớn khôn và có gia đình riêng, chị sống với đứa con trai út. Chị rất gắn bó với gia đình chúng tôi, đi đâu về ngang hay ghé thăm mẹ tôi khi thì miếng bánh khi thì một ít trái cây tươi. Đặc biệt, khi gia đình chúng tôi có tiệc tùng gì chị thường đến sớm một, hai ngày để phụ. Chị nấu nướng rất khéo nhất là những món đặc sản ai ăn vào cũng đều khen ngợi. Do gia đình khá giả, ít phải lo chuyện cơm áo gạo tiền nên chị hay đi dự tiệc tùng cúng quảy. Biết chị chỉ đi đám tiệc, đám giỗ mà không thấy chị đi chùa bao giờ nên có lần tôi hỏi chị nguyên nhân vì sao? Chị làm thinh một hồi mới đáp: Tại truyền thống gia đình và chị cũng không quen ăn chay. Chuyện chùa chiền, chị không mặn mòi nhưng nói đến cúng miếu chị rất sôi nổi. Có lần chị kể cho tôi nghe sự linh ứng của ngôi miếu cổ nằm trên đất vườn của chị. Đó là ngôi miếu đã được dựng lên từ thời mới khai hoang mở đất. Ngôi miếu đã được tu sửa nhiều lần, dù là miếu của riêng gia tộc nhưng do sự linh ứng nên người dân sống chung quanh vẫn đến cúng chung. Nghe rằng ai cầu xin điều gì đa phần đều được như nguyện vì vậy càng ngày càng có nhiều người đến lễ bái, hương khói quanh năm. Chị kể cách đây khoảng mười năm, có một người hỏi mua một cây me tây mọc cạnh miếu để làm bàn ghế. Do cây rụng nhánh hay trúng nóc miếu nên chị đồng ý bán nhưng khuyên ông ấy khấn vái xin phép thần miếu. Ông ta chỉ cười mà không khấn vái gì cả, ba cha con xúm nhau đốn cây chỉ trong vòng một ngày là xong. Đêm đó, người con trai lớn sau khi ăn cơm xong đi ra ngoài sân bỗng té xỉu phải đem đi bệnh viện cấp cứu, ở bệnh viện một ngày thì lăn đùng ra chết. Nửa tháng sau, đứa con trai thứ hai của ông mua cây nửa đêm đột nhiên giãy giụa mấy cái rồi tắt thở. Một tháng sau khi đốn cây, người đàn ông ấy qua nhà hàng xóm chơi và gục chết trên bàn do tai biến mạch máu não. Trong vòng một tháng, gia đình chết hết ba người mà ba người này đều liên quan đến việc đốn cây mọc trong đất miếu. Những người sống chung quanh biết chuyện này rất sợ hãi, đến dự đám tang rồi vội vã ra về vì sợ bị vạ lây. Sự kiện trên khiến họ càng tin tưởng vào sự linh ứng của ngôi miếu. Khi có việc gì khó khăn trong cuộc sống, họ thường đến miếu cúng vái cầu xin. Theo lệ thường, mỗi năm cúng hội miếu một lần, mỗi lần cúng một con heo, hai chục gà vịt nếu có ai phát tâm muốn cúng thêm cũng được. Chị kể, có năm con chị đi mua bán xa, cầu xin thần miếu phù hộ, đợt đó lời to, con chị cúng cả một con bò. Cúng xong đem đãi bà con lối xóm rất vui vẻ. Năm đó gia đình chị làm ăn rất phát đạt. Chị nói: ” Càng cúng lớn, càng hên”. Biết chị tin quá sâu nặng vào quỷ thần, tôi chỉ nhẹ nhàng phân tích cho chị hiểu. Thần chưa thoát khỏi luân hồi lục đạo, họ có quyền lực có thể giúp ta chuyện này chuyện nọ nhưng nhân quả thì ta gánh chịu. Việc giết vật quá nhiều để tế thần, chính ta là người chịu quả báo. Tốt nhất nên hạn chế sát sinh nếu cúng chay thì sẽ tránh được quả báo. Chị ấy cười bảo, truyền thống bao đời làm sao bỏ được, ai mà cúng đồ chay trong miếu bao giờ. Tôi lắc đầu chịu thua tính cố chấp của chị. Sau ngày mẹ tôi mất thì chị Ba trầu cũng ít ghé thăm. Có lần gặp chị ngoài chợ thấy chị gầy sút nhiều, tôi hỏi thăm thì được biết người con trai út của chị đi mua bán bằng thuyền máy do đêm tối bị đụng tàu, thuyền chìm mất hết tài sản còn người thì ngơ ngơ ngáo ngáo như bị ma nhập. Lớp rầu của, lớp rầu con, chị ăn không ngon ngủ không yên nên sức khỏe suy sụp. Tôi an ủi động viên chị. Ba tháng sau, nghe tin chị bệnh nặng, tôi đến thăm thì chị đã nằm liệt giường, mắt nhắm nghiền, thở khò khè, tôi lay gọi thì mở mắt nhưng nhìn với ánh mắt vô hồn. Lưng chị do nằm lâu bị lở loét nhiều mảng lớn ứ đầy máu mủ, nước vàng. Con chị phải rửa thay băng một ngày hai lần mà vẫn tanh hôi cả căn phòng. Có một điều lạ là chị ăn rất khỏe, một bà già ốm tong teo, hai mắt nhắm nghiền, thở khò khè mà một bữa ăn hết một tô cơm to tướng. Thật là lạ. Thấy chị quá yếu, tôi bàn với cô cháu dâu nên thờ Phật để sau này thuận tiện việc cúng cho chị. Không ngờ cô ấy chỉ tay vào hai khung hình thần độ mạng và bảo: ” Có thờ rồi”. Tôi rất buồn vì câu trả lời đó. Cô ấy thừa sức phân biệt được đâu là Phật, đâu là thần nhưng cố ý nói cho xong chuyện. Thôi thì nhà của chị, mình góp ý mà chị không nghe thì thôi. Chị Ba trầu mất vào đêm mười sáu tháng bảy. Tôi đi dự lễ tang trong tâm trạng u buồn vì vừa mất người thân vừa lo không biết thần thức của chị sẽ đi về đâu khi cả đời chỉ biết thờ thần, cúng miếu. Để cầu siêu cho chị, cháu tôi phải chạy mượn hàng xóm ảnh Phật. Lòng tôi lại thêm chua xót, mình là Phật tử mà không lo được cho chị một tấm hình Phật để cầu nguyện, âu cũng là duyên nghiệp. Vào ngày thứ mười lăm sau lễ tang của chị, đêm ngủ tôi nằm mơ thấy chị vào nhà tôi với vẻ mặt giận dữ, chị bảo: “Hai đứa con trai quậy muốn sập bàn thờ của tao”. Trong mơ, tôi nắm tay chị năn nỉ: “Chị bớt giận để em sửa bàn thờ lại cho”. Tôi giật mình tỉnh dậy, không hiểu có chuyện gì xảy ra. Sáng hôm sau, tôi vội đến nhà chị thì thấy bàn thờ chị vẫn nguyên vẹn, khói hương nghi ngút nên thấy lòng nhẹ nhõm. Vợ chồng đứa con trai út của chị tiếp tôi, tôi hỏi: ” Từ hôm đám tang chị Ba đến nay có xảy ra chuyện gì không mà sao hồi hôm nằm mơ thấy chị về với vẻ mặt giận dữ, chị ấy bảo anh em bây quậy muốn sập bàn thờ của chị”. Người con trai út xanh mặt thú nhận: “Hôm làm mộ mẹ con xong, con có tổ chức một buổi tiệc mời bà con, anh em cực khổ phụ đám mẹ con để tạ ơn. Không ngờ anh của con trong buổi tiệc đó lại đưa vấn đề đất đai ra đòi chia, con bảo anh ấy muốn gì thì cũng đợi qua một trăm ngày đám của mẹ, anh ấy không chịu cứ chửi bới dậy cả lên, con nhịn không được nên xảy ra xô xát”. May nhờ có bà con can ngăn nếu không chắc có đổ máu. Tôi lắc đầu nói, anh em tụi bây thiệt là tệ, mẹ mới mất có mười lăm ngày mà đã xào xáo. Người chết trong vòng bốn chín ngày vẫn chưa siêu thoát, rất dễ nổi giận trước những điều sai trái của thân nhân. Đứa con trai út của chị tỏ vẻ bồn chồn, lo lắng. Tôi đến thắp nhang bàn thờ chị, khấn thầm: ” Chị đừng giận nữa, con chị đã biết lỗi rồi”. Trước khi ra về, tôi căn dặn cháu cúng cơm nước, nhang khói cho đàng hoàng. Cháu đáp: ” Dạ, con nhớ”! Không ngờ đó là lần cuối cùng tôi gặp cháu. Ba ngày sau, tôi hay tin cháu bị đau bụng phải chuyển lên bệnh viện thành phố. Hai ngày sau, xe cứu thương chở cháu về, cháu mất tại nhà sau đó vì bệnh ung thư gan giai đoạn cuối không thể điều trị. Đến dự đám tang cháu, tôi ngỡ mình đang chiêm bao, vẫn cái rạp đó, vẫn dàn nhạc đó và mùi nhang khói đó… Vợ cháu khóc xỉu tới xỉu lui, con cái trong nhà đứa nằm mẹp cạnh quan tài, đứa trong phòng giãy giụa, gào kêu cha ơi cha hỡi. Ôi, cái thảm cảnh có người thân đột ngột ra đi thật kinh hoàng, người ngoài cuộc thấy còn chịu không nổi nói chi kẻ trong cuộc. Hai bàn thờ vải trắng xóa, khói hương nghi ngút, trống kèn inh ỏi. Chịu sao nổi hai đám tang xảy ra trong một tháng ở một căn nhà. Đợi đứa cháu dâu bình tĩnh lại, tôi khuyên nên thờ Phật để cầu nguyện. Cô ấy đồng ý chịu thờ, tôi vội về nhà đem ảnh Phật đang thờ vào để thờ tạm trong đám tang. Sau đó, tôi thỉnh một khung ảnh Phật mới nhờ các Sư cô chú nguyện vài ngày rồi mới thỉnh về cho cháu thờ. Ngày rước ảnh Phật về, thấy cô cháu dâu quỳ lạy Phật, nước mắt tuôn rơi đầm đìa, tôi xót xa thầm cầu nguyện Phật từ bi gia hộ cho gia đình còn lại của cháu tôi được yên ổn. Bây giờ khi tôi viết những dòng chữ này, những người còn lại trong gia đình của chị Ba trầu đều đã quy y Tam Bảo kể cả người con trai hay uống rượu rồi quậy cũng thỉnh tranh tượng đức Bồ Tát Quán Thế Âm về thờ. Sau khi thờ Bồ Tát một thời gian, anh ta đã bỏ rượu và có công ăn việc làm ổn định. Còn cô cháu dâu sau đám tang đã dẹp bỏ hai khung hình thần độ mạng, hết lòng thờ Phật, lễ lạy hàng đêm, các rằm lớn đều đến chùa cúng dường. Theo tục lệ của dòng họ, tuy không từ bỏ việc cúng miếu nhưng con cháu bây giờ chỉ cúng trái cây hoặc ra chợ mua thực phẩm về chế biến chứ không trực tiếp sát sanh như thời của chị Ba trầu. Âu cũng là sự thay đổi khá lớn đối với một tập tục lâu đời. ( DiệuThiên )

SĂN BẮN CHIM LINH THIÊNG BỊ TAI NẠN VÀ CHẾT THẢM KHỐC.

( TRÍCH “CON ĐƯỜNG SÁNG” ) HT – Thích Huyền Diệu. Chuyện này kể lúc 10 giờ, 30 phút từ chị Hòa bình, kể tại Việt Nam Phật Quốc Tự ngày 11/11/2010 lúc cùng phái đoàn uống trà ngắm mặt trời lặng. Chùa Bái Đính là một trong quần thể chùa cũ và mới rất đẹp ở Ninh Bình do công ty Xuân Trường tái kiến thiết lại rất đẹp, nhờ vậy mà cảnh hùng vĩ núi non này được phát hiện và bảo vệ, nên chim chóc nhiều loại đã về đây trú ngụ, đặc biệt là loài chim quý hiếm là Hồng Hoàng mà nhiều người thường gọi là linh điểu. Loài chim này chỉ đến những chỗ nào linh thiêng, yên tĩnh mà ở. Việt Nam nhiều đời nay các cụ thường gọi loài chim này là các vị hay là các ông các cụ để tỏ sự cung kính đối với linh điểu.
Việt Nam nhiều đời nay các cụ thường gọi loài chim này là các vị hay là các ông các cụ để tỏ sự cung kính đối với linh điểu. ( Ảnh minh họa )
Theo như anh Trường kể lại, loài chim này mỗi lúc đến một nhiều và chỉ xuất hiện khi có vị nào đức độ ghé thăm còn không các vị ẩn mặt. Việc xuất hiện nhiều loài chim đặc biệt này đã thu hút rất nhiều người yêu quý thiên nhiên, bảo tồn động vật quý hiếm, bên cạnh đó cũng đồng thời xuất hiện những con người thích săn bắn, sát hại chúng sanh. Sự giết hại loài chim đặc biệt này không phải vì đói kém mà đó là thú vui giải trí của loại người này. Họ cho rằng khi bắn được loài chim này thì được bạn bè khen cho đó là sự thành công của cuộc đời. Có rất nhiều người sau khi bắn chết chim, họ không đem về mà vứt luôn ở trong rừng gây ô nhiễm cho môi sinh, phát sinh bệnh tật cho các loài khác trong khu rừng và ảnh hưởng đến con người khi có việc đi vào rừng. Những con người thích săn bắn, sát hại loài linh điểu là những người có thế lực, uy quyền trong tay không ai dám khuyên can. Có người trong gia quyến của họ vì có lòng từ bi đề nghị đừng sát hại loài chim này nữa thì bị mắng nhiếc, chửi bới, đe dọa đủ điều, kể cả cắt đứt liên lạc với những ai dám khuyên can. Tại khu rừng Bái Đính mặc dù đã có luật và nghị quyết của chính phủ cấm săn bắn động vật quý hiếm, nhưng vì những vị này giàu có lại có thế lực ô dù bao bọc nên không ai làm gì được. Trong đó có một vị bác sĩ nổi tiếng của địa phương cũng hợp tác với những con người có chức quyền vào rừng săn bắn các loài linh điểu Hồng Hoàng. Dân chúng trong làng rất bất bình nhưng không ai dám lên tiếng vì sợ họ trả thù kết oán, chỉ biết than phiền trong im lặng. Không lâu sau đó bỗng có một tin kinh hoàng xảy ra. Có một vị bác sĩ trong đoàn săn bắn không biết do nguyên cớ gì từ trên lầu cao nhảy xuống đất chết một cách thảm thiết. Còn một người khác thì tự nhiên lấy súng bắn vào đầu tự tử. Hai người khác thì bị xe cán chết trên đường đi nhậu thịt rừng. Câu chuyện trên hoàn toàn là sự thật vì nó xảy ra không lâu. Mọi người muốn rõ chi tiết có thể liên lạc với anh Trường ở Chùa Bái Đính để tìm hiểu thêm.

DÙNG SÚNG BẮN VÀO CHÙA.

( Trích ‘Con đường sáng’ – Thích Huyền Diệu ) Chuyện này do anh Nguyên, phó viện trưởng đại học Tây Nguyên và Đại Học Tổng Hợp kể tại sân thượng Việt Nam Phật Quốc Tự – Ấn Độ , khi đoàn đang uống trà vào lúc 16 giờ 30, ngày 12, tháng 11, năm 2010. Vào những năm 1977-1978 Tây Nguyên vẫn chưa yên hẳn vì mặt trận Fulro và 1 số lính cách mạng vẫn còn đang hoat động. Sau thời kỳ chiến tranh một số lính đi tuần, mỗi khi đi ngang qua chùa miếu là các anh hay xả đạn bắn bừa vào chùa chiền nơi linh thiêng, một phần là do thú vui, một phần vì sợ có kẻ núp trong đó. Một số sĩ quan chỉ huy có tâm khuyên không nên bắn súng vào những nơi linh thiêng tâm linh đó, khi được khuyên thì các chú lính trẻ cũng dạ dạ vâng vâng… Nhưng khi không có các cấp trên đi chung thì họ vẫn xả súng bắn vào chùa, miếu, bắn rồi cười đùa rồi cho đó là chỗ thờ Phật, Trời mê tín dị đoan. Sau khi mặt trận Fulro ở Tây Nguyên hoàn toàn tan rã, các chú lính này được trở về đời sống thường dân, một số thì được thăng chức, một số thì được cử vào các công sở ban nganh khác. Khoảng 10 năm sau, anh Nguyên nhớ lại những đồng đội, anh đến thăm họ. Than ôi, từng người lần lượt đã chết trong những tai nạn thảm thiết không sao ngờ đến được, nhắc đến rất đau lòng. Ông bà xưa đã dạy nhân nào quả đó, gieo gió thì gặp bão.

PHÁ ĐÌNH CHÙA MIỄU BỊ CHẾT THÊ THẢM

Câu chuyện này được kể vào lúc cùng đoàn các nước uống trà ngắm hoàng hôn tại Việt nam Phật Quốc Tự – India vào lúc 10 giờ ngày 12 tháng 11 năm 2010. Anh Hùng sinh ra và lớn lên tại Hà nội, anh đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử nơi đất Thăng Long nghìn năm này. Sau khi Hà Nội được giải phóng, một số người đã hiên ngang đập phá chùa chiền, những nơi tôn nghiêm thờ phượng, họ còn chiếm luôn đất chùa làm của riêng. Rồi năm tháng trôi qua, anh Hùng đã quan sát thật kĩ những con người một thời đã từng tham gia đập phá chùa chiền, tất cả điều bị chết trong những tai nạn thật khủng khiếp. Tai nạn xảy ra hết sức lạ lùng mà mọi người không ngờ là như vậy. Như có người đi qua cầu thì bị gãy, rồi bị cây nhọn đâm chết giống như cá bị đâm để nướng. Cây cầu này hằng ngày có hàng trăm người qua lại mà chẳng có ai bị chết, chỉ có anh này đi qua thì lại xảy ra tai nạn kinh hoàng như vậy. Còn những người chiếm đất chùa đem bán cho kẻ khác kiếm được rất nhiều tiền cuộc sống trở nên giàu có phong lưu thì một ngày kia như thường lệ họ đi tập thể dục, bách bộ trên hè phố, không biết vì lí do gì có một chiếc xe tải mất tay lái lao lên trên hè phố cán chết hai ông bà đứt cả đầu, nhưng thân thể vẫn còn nguyên vẹn không bị gì hết. Gia đình này lại phải gánh chịu thêm một bi kịch nữa, tang lễ bố mẹ chưa xong thì con cái của ông bà này vì tranh giành của cải tài sản mà đánh nhau dữ dội khi quan tài chưa được an táng. Những người dân ở gần nhà thì cho rằng họ phải trả quả báo trong đời này không cần đến đời sau vì gây quá nhiều nghiệp quả, nhất là việc đi chiếm đất chùa rồi bán. ( Sưu Tầm )

SƯU TẬP DA THỊT.

Truyện này do chị Nga kể lại tại sân thượng VNPQT vào ngày 12/11/2010. Chị làm việc trong một bệnh viện ở Hà Nội. Chị nhớ rất rõ, có một vị bác sĩ T. rất nổi tiếng, vị bác sĩ này chuyên ghép da mặt người này sang người khác rất thành công. Ông hay có thói quen là rất thích đi lột da của các trẻ sơ sinh đã chết hoặc những người đã chết. Ông tẩm thuốc rồi đem vào phòng lạnh để khi nào có người cần thì ông ghép, nhưng phải trả cho ông một số tiền đắt đỏ, nhờ vậy ông có rất nhiều tiền và nhiều người biết đến không những ở Việt Nam mà nổi tiếng khắp nơi trên thế giới. Gia đình ông sống rất hạnh phúc. Ông có được một đứa con gái vừa đẹp lại thông minh cũng nổi tiếng ở Hà Nội. Lúc Cô bé mới 13 tuổi chưa biết yêu là gì vậy mà không biết bao nhiêu chàng trai lớn nhỏ săn đuổi, tán tỉnh và chọc ghẹo. Một hôm trên đường đi học về nhà, cô bị một đám thanh thiếu niên chặn đường trêu ghẹo. Cô hốt hoảng định bỏ chạy thì trong đám có một thanh niên tạt vào mặt cô một chai axit, cô đau đớn bỏ luôn tập sách ngoài đường chạy khắp nơi trong làng kêu cứu. Dân làng nghe tiếng cầu cứu vội chạy tới xem thì bọn thanh thiếu niên kia đã trốn đi đâu hết. Thấy vậy bà con dân làng gọi xe đưa cô bé đến bệnh viện cấp cứu. Vào phòng cấp cứu các y tá, nhân viên làm trong bệnh viện mới phát hiện đó là đứa con gái duy nhất của vị bác sĩ T. đang nổi tiếng ở Hà Nội, cho nên tất cả nhân viên bác sĩ chăm sóc cô bé rất tận tình, sau đó thì gọi điện báo tin cho vị bác sĩ đó biết. Khi ông đến nơi, thấy con gái mình bị phỏng quá nặng ông chết lặng cả người, lập tức ông đưa con mình vào phòng đặc biệt, đem những tấm da tốt nhất mà ông gìn giữ từ lâu để ghép cho con gái mình. Việc cấy ghép không thành công lắm vì có chỗ ghép được còn có chỗ không thành, thế là ông đưa con gái mình đến những bệnh viện Âu Mỹ để chữa trị, mất rất nhiều thời gian và tiền của, nhưng con gái ông không thể bình phục được như xưa, nhất là tinh thần, cô bé sống trong nỗi sợ hãi, lo âu, trầm mặc. Hằng ngày cô bé phải gánh chịu từng cơn đau đớn do những nơi cấy ghép da mới mà không biết là da của ai thay vào. Có thể nói đó là một tai nạn to lớn đã đến với vị bác sĩ nổi tiếng ấy. ( Sưu Tầm )