( TRÍCH “CON ĐƯỜNG SÁNG” )
– Thích Huyền Diệu –
Tại ngôi chùa Việt Nam Phật Quốc Tự ( Lâm Tì Ni,Ấn Độ), mỗi lúc nhàn rỗi tôi và thầy U. Nyaneinda, trụ trì chùa Miến điện thường ngồi chung cùng uống trà nói nhiều chuyện, trong đó có những chuyện về nhân quả đời này. Thầy và tôi có nhiều điểm giống nhau nên rất thân, tuy nhiên vẫn có nhiều điểm không giống nhưng chúng tôi biết hòa đồng nhân nhượng tôn kính lẫn nhau, nên mọi việc điều tốt đẹp. Chúng tôi đều đồng ý quan điểm bà con xa không bằng láng giềng gần, nên rất lưu tâm giúp đỡ những người sống gần chùa.
Gần chùa có một gia đình biết chùa cũng gần 20 năm, nên thầy cả rất tin tưởng và thương quý, đó là gia đình anh Yadaw Kuma. Anh là người thường xuyên giúp đỡ cho chùa mỗi khi có việc cần. Một hôm anh chạy qua chùa Miến điện (tôi cũng có mặt ở đó) anh ta xin mượn thầy cả 40 ngàn rupees để mua hai con bò sữa kiếm tiền nuôi con ăn học. Anh năn nỉ Thầy cả để mượn tiền và hứa sẽ hoàn trả đầy đủ trong vòng sáu tháng.
Những năm 1985, 40 ngàn rupees là tương đối lớn, bằng một năm thu nhập của những người lao động trung bình. Anh Yadaw Kuma ngày nào cũng qua chùa năn nỉ Thầy cả mượn tiền để lo cho gia đình và công việc. Trước tình cảnh thương tâm và nhiều ngày năn nỉ như vậy cuối cùng Thầy cả cũng xiêu lòng, Thầy lấy tiền chùa và đi mượn các chỗ khác cho đủ 40 ngàn rupees để cho anh ta mượn. Ngày cho anh Yadaw Kuma mượn tiền, Thầy có cho mời tôi qua uống trà và có lẽ cũng để làm chứng việc thầy cho anh mượn tiền. Khi thầy đưa tiền cho anh có sự hiện diện của tôi, Thầy nói đi nói lại nhiều lần đây là tiền chùa, tiền linh thiêng, tiền của những tấm lòng thành tâm cúng dường tam bảo, Thầy nói đúng ra thầy không có quyền lấy tiền cho anh mượn, nhưng vì thương hoàn cảnh của anh đang khó khăn nên giúp đỡ. Thầy đề nghị anh nên cố gắng trả lại cho chùa càng sớm càng tốt, chậm nhất là sáu tháng. Anh ta trả lời chắc nịch: “Nhất định con sẽ trả lại cho Thầy đúng kỳ hẹn, thầy đừng lo!”. Nói xong anh cầm số tiền lạy tạ Thầy cả ba lạy với vẻ mặt mừng khó tả, rồi anh ta quay sang tôi xá lia lịa nói cảm ơn, cảm ơn.
Không phải tiền của tôi mà anh ta cảm ơn ríu rít như vậy tôi lấy làm ngạc nhiên, sau này tôi mới hiểu anh ta tưởng tôi có cho Thầy cả mượn một số tiền nhưng thật ra tôi không có cho thầy mượn đồng nào cả, mà tôi chỉ là người có mặt để chứng kiến anh mượn tiền Thầy cả thôi.
Thời gian sáu tháng trôi qua khá nhanh, Thầy cả có nhắc anh trả tiền phần nào để xây dựng chùa nhưng anh cứ tìm cách trì hoãn. Vài ngày vài tuần vẫn không thấy anh trả, từ đó anh ít lui tới chùa vì sợ Thầy cả đòi tiền. Thế là một hôm nhân có sự hiện diện của tôi cùng uống trà ăn bánh ngọt mới từ Miến Điện gởi qua, Thầy nhờ chú thị giả qua mời anh Yadaw Kuma qua cùng uống trà ăn bánh. Khi anh ta qua thấy chúng tôi vui vẻ uống trà với nhau thì anh bỗng dưng òa lên khóc nức nở và nói vợ con đang đau nặng mà không đủ tiền đưa vợ đi nhà thương. Gặp cảnh thương đau như vậy tôi và thầy cả còn an ủi anh rồi mọi người mỗi người một ít đóng góp để anh kịp đưa vợ đi nhà thương. Vài hôm sau tôi gặp mấy người hàng xóm để hỏi thăm về bệnh tình của vợ anh ở nhà thương ra sao, mới vỡ lẽ là vợ anh ta không có bệnh đau gì cả, chị ta rất khỏe mạnh ở nhà cùng mấy đứa con lấy sữa bò bán kiếm tiền. Tôi thấy hơi ngạc nhiên và đem chuyện này nói lại cho Thầy cả biết trong một buổi uống trà nhàn rỗi.
Tôi thấy hơi ngạc nhiên và đem chuyện này nói lại cho Thầy cả biết trong một buổi uống trà nhàn rỗi. ( Ảnh minh họa )
Thầy cả nghe xong có vẻ trầm ngâm và linh tính có gì đó không tốt xảy ra. Thầy nói với tôi: “Có lẽ thằng Yadaw Kuma đã gạt lấy số tiền mà cách đây mấy tháng mình cho nó mượn. Mình thấy nó khó khăn nghèo khổ nên mượn giúp nó, nhưng tôi có cảm tưởng số tiền mình cho mượn và tấm lòng tốt của những người khác sẽ mất”. Tôi thấy Thầy nói với giọng trầm trầm và buồn buồn nên tôi vội an ủi: “Chắc thằng Yadaw Kuma đang gặp khó khăn nên chưa trả được thôi”, tôi nói với thầy vẫn còn hi vọng. Nhưng Thầy nói tiếp: “Mình vì thương người mà bị nạn”.
Sau đó khoảng một tuần lễ, nhân có lễ hội lớn tại Bồ Đề Đạo Tràng nhiều người đến dự trong đó có những nhân vật nổi tiếng của tiểu bang Bihar và địa phương, có lẽ Thầy cả cũng nhân cơ hội này chính thức đòi tiền lại cho dễ hơn chăng? Đúng như tôi đã nghĩ, khi lễ gần xong mọi người ra về khá nhiều, chỉ còn vài nhân vật thân với Thầy cả cùng ngồi với tôi uống trà, bất chợt thầy thấy hai vợ chồng Yadaw Kuma đi qua, thầy cũng mời lại ngồi uống trà thế là Yadaw Kuma cùng ngồi vào bàn uống trà và anh ta mở miệng khen năm nay lễ hội tổ chức rất lớn và rất vui, lại có những nhân vật cấp cao đến dự. Anh cũng tán thưởng khen các nhân vật VIP cùng ngồi uống trà ăn bánh. Mọi người cùng ngồi uống trà trò chuyện thì Thầy cả bất chợt nói với Yadaw Kuma nên trả lại phần nào số tiền cho chùa, để có mà sửa chữa một số nơi đang xuống cấp và hư nát. Khi thầy hỏi Yadaw Kuma một cách nhẹ nhàng và khiêm tốn thì anh liền hứ một cái thật lớn làm mọi người giựt mình để ý ngay, Yadaw Kuma lại hứ lên một cái nữa rồi nói một cách rất tự nhiên: “ Con đã trả tiền cho Thầy hết rồi mà sao thầy còn đòi nữa? Có thể mấy hôm trước Thầy bị bệnh nên trí nhớ bị quên chăng? Con đã trả tiền thầy ngay tại chỗ thầy đang ngồi đó”. Tôi thấy Thầy cả có vẻ ngạc nhiên sửng sốt trước những lời tự nhiên của Yadaw Kuma, nhưng thầy vẫn bình tĩnh nói: “Vậy sao, vậy sao!” rồi Thầy tiếp: “Nếu anh đã trả tiền cho chùa rồi thì anh hãy đứng dậy đưa tay lên trời nói đi nói lại 3 lần: ” Tôi đã trả tiền chùa rồi.” Thầy vừa nói xong Yadaw Kuma đứng dậy làm ngay. “ Con đã trả tiền cho Thầy đầy đủ rồi”! Anh nói đi nói lại năm lần chứ không phải ba lần như Thầy cả yêu cầu.
Tôi ngồi đó đếm rất kỹ bằng tiếng Hindi. Ai cũng phì cười vì giọng tiếng Hindi của tôi mang chưa đủ mùi cà ri nị, người nghe biết ngay là không phải dân Ấn Độ chính gốc. Tôi đếm rất nghiêm túc, tôi thấy anh Yadaw Kuma một tay đưa lên trời một tay đưa sau lưng mà nói. Nói xong anh ngồi xuống rót trà uống một cách tự nhiên, cách tự nhiên ấy làm mọi người rất tin tưởng vào lời hứa của anh mà chỉ riêng có Thầy cả và tôi biết sự thật mà thôi.
Sau đó, Yadaw Kuma và mọi người điều ra về hết chỉ còn hai chúng tôi ngồi lại uống trà trong bóng đêm với ngọn lửa bập bùng. Thầy cả và tôi ngồi yên lặng một khoảng hơi lâu không nói gì hết, màn đêm từ từ buông xuống, sương cũng bắt đầu dày đặc. Tôi thì nghĩ ngợi lung tung và tận sâu trong tâm hồn tôi thấy rất buồn cho nhân thế! Tôi nghĩ một người có đầy đủ đức độ như Thầy cả vậy mà họ vẫn nhẫn tâm đi lừa gạt Thầy, thật bất nhân và vô lương tâm! Thầy cả cho Yadaw Kuma mượn tiền là để giúp nó những lúc khó khăn chứ có ăn tiền lời đồng nào đâu, sao Yadaw Kuma có thể làm phiền một vị chân tu như vậy?
Thầy cả vẫn trầm ngâm không nói, Thầy suy nghĩ về lời nói của Yadaw Kuma đã hứa ( con đã trả tiền cho thầy rồi)! Ánh lửa bập bùng thỉnh thoảng lại nhỏ rồi to, tôi thấy nét mặt của thầy buồn buồn, tôi cũng buồn theo, sự lặng thinh vẫn tiếp diễn ánh lửa khi mờ khi lu tạo thêm vẻ thê lương của cuộc đời nhiều đen bạc, của sự vô ơn bạc nghĩa…
Đêm về khuya, trời càng lạnh, ngọn lửa cháy đỏ từ hồi chiều tới giờ cũng gần tàn, tôi muốn kết thúc buổi gặp gỡ đầy kỉ niệm và nhiều ấn tượng buồn này và cũng muốn làm vơi bớt nỗi buồn của người bạn thân: “Thôi chúng ta không nên buồn vì chuyện Yadaw Kuma lừa gạt lấy tiền chùa. Nếu kiếp trước mình gạt nó bây giờ nó gạt lại là huề. Còn không nó sẽ trả quả báo rất sớm”. Thầy thốt lời rất nhanh: “Tôi đồng ý quan điểm đó”! Thế là tôi chia tay Thầy để về còn tụng kinh niệm Phật, sáng mai còn làm việc khác.
Mấy ngày sau, khi gặp lại Thầy, Thầy vẫn nhắc lại việc Yadaw Kuma gạt tiền chùa mà còn dám thề thốt một cách tỉnh bơ. Thầy nói nhưng vẻ mặt thật buồn và rất thất vọng cho nhân thế! Tôi biết thầy đang buồn nên vội khuyên: ” Thầy nên quên chuyện đó đi để tâm hồn thoải mái mà lo những việc khác ý nghĩa hơn, thầy cứ yên tâm sự thật trước sau rồi cũng tỏ bày, Yadaw Kuma thế nào cũng trả quả báo thật sớm, vì đây là chỗ linh địa, tôi đã chứng kiến nhiều việc hiển linh! Thầy nghe tôi nói vậy, thế là thầy cười vui vẻ, hứa với tôi không nhắc đến việc của Yadaw Kuma nữa.
Khoảng một tuần sau, trời mờ mờ chưa sáng, ngoài sân sương mù còn dày đặc, thế mà thầy đến gõ cửa phòng tôi mời qua uống trà. Tôi hơi ngạc nhiên vì tôi với thầy thường hay ngồi uống trà khi hoàng hôn gần xuống, sao hôm nay lại được mời uống trà trong buổi sáng tinh sương. Tôi nói để tôi lạy Phật xong sẽ qua, tôi sang đến nơi thì đã thấy thầy có mặt tự bao giờ.
Thầy vui vẻ mời tôi ngồi xuống và nói hôm nay tôi có trà rất ngon mới từ Miến Điện gửi sang nên mời thầy qua thưởng thức. Tôi uống được khoảng hai tách thì thầy hỏi tôi có biết tin tức gì mới không. Thầy hỏi với vẻ mặt nghiêm trang đặc biệt. Tôi hỏi lại thầy có chuyện gì lạ phải không. Thầy bảo những lời tôi nói hôm trước linh thiêng lắm. Tôi hỏi lại có chuyện gì mà linh thiêng? Thầy từ từ kể lại trong sự xúc động: ” Tối qua anh Babulan, người làm công cho chùa Miến Điện đến báo tin vợ Yadaw Kuma không biết sao mà đau dữ dội, Yadaw Kuma phải gọi xe cứu thương chở vợ đi gấp để cấp cứu, khi vợ đến bệnh viện tạm ổn, Yadaw Kuma cho xe quay về nhà để lấy đồ ấm và một số đồ dùng cho vợ vì mùa đông ở xứ Ấn độ khá lạnh, khi về đến nhà thì tự nhiên hai con bò và một con trâu trong đàn gia súc lăng ra chết cách đó chỉ vài chục phút. Yadaw Kuma hốt hoảng khóc lóc thảm thiết, làng xóm xung quanh chạy tới xem, trong đó có Babulan. Nhờ vậy mới có tin tức báo cho thầy biết, tuy rất đau đớn khổ sở nhưng Yadaw Kuma vẫn cố giữ bình tỉnh để lấy đồ cho vợ là chị Devi Kumari đang nằm trong phòng hấp hối. Nhưng hỡi ôi! Anh vừa đem đồ ấm tới nhà thương thì bác sĩ đã báo tin vợ anh đã chết trước khi anh đến chỉ có năm phút. Theo nhiều người kể lại thì anh lăn ra đất tại bệnh viện mà khóc la thê thảm. Anh ôm xác vợ đưa về nhà mai táng vì theo truyền thống Ấn Độ không được để lâu. Anh cùng gia đình làng xóm đưa vợ anh đi thiêu thì không bao lâu sau đó hai con trâu khác và bốn con cừu trong số mười con cũng lần lượt chết đi, do căn bệnh gì tới nay không ai biết được. Nghe tin anh vừa đưa vợ đi vừa khóc lóc thảm thương như đứa con nít tám tuổi, chứng kiến cảnh ấy ai ai cũng xót thương cho Yadaw Kuma. Khi xác chị vợ thiêu xong, tro được rải xuống dòng sông Phănggu gần Gaya. Khi anh vừa về nhà thì sáu con cừu còn lại của anh cũng vừa mới chết khoảng một giờ trước. Dân chúng trong vùng đều bị chấn động, cứ nghĩ bệnh dịch đang bùng phát nên nhiều gia đình xóm Yadaw Kuma đã vội dọn đồ chạy đi nơi khác sinh sống. Nhưng sự thật không phải bệnh dịch, mà sự cố chỉ xuất hiện trong gia đình của Yadaw Kuma. Sau đó ba ngày, con của anh Yadaw Kuma lấy xe của bố chạy ra đường, không biết thế nào mà xe chở đá chạy ngược chiều cán con anh văng từng mảnh, nhưng chiếc xe yêu quý của Yadaw Kuma thì còn nguyên vẹn. Khi xe được đem về làng mọi người bàn tán đủ thứ, không ai giải thích được tại sao có chuyện lạ như vậy. Người thì tan xác, xe lại không bị gì! Nghe mọi người kể lại cái chết kinh hoàng của con anh, anh không tin nhưng khi cảnh sát đến tận nhà báo tin thì anh mới bật ngửa. Lại một trận khóc xảy ra, nhưng lần này nước mắt không còn để chảy vì tất cả đã khóc hết nước mắt cho người vợ thân yêu và đàn gia súc của anh.
Sau khi được cảnh sát báo tin anh cùng lên xe đi tới hiện trường thì anh mới tá hỏa như người mất hồn khi nhìn thấy đầu và tay của con, còn lại các phần khác thì văng tứ tung. Cái đầu máu mủ dính với bụi bặm nhìn rất thảm thương. Anh ôm đầu con vừa hôn vừa khóc thảm thiết. Còn anh tài xế chở đá khi gây tai nạn thấy cảnh khủng khiếp như vậy cũng hốt hoảng bỏ chạy, nhưng bị dân chúng bắt được giao cho cảnh sát. Yadaw Kuma ôm đầu con gào khóc như người điên loạn. Cảnh sát và mọi người khuyên anh nên bình tĩnh để còn đi lượm thịt xương của con anh, sợ để lâu sẽ bị hôi thúi quạ và kên kên tới giành ăn là sẽ gây khó khăn cho dân làng!
Gần một tiếng đồng hồ anh mới chịu nghe lời cảnh sát và mọi người khuyên. Sau đó anh cùng dân làng đi tìm những mảnh thịt con anh bị xe cán văng tứ phía, dân làng cũng tiếp tay với anh nhưng khi họ tìm thấy thịt hay xương của con anh họ la lên để anh tới nhặt, vì họ sợ xui xẻo nên không ai dám nhặt dùm, đó là tục lệ của vùng này. Nhờ vào mùa đông thời tiết lạnh nên việc tìm kiếm cũng khá dễ. Mất gần 4 giờ đồng hồ, nhưng mọi người tìm hoài vẫn không thấy cánh tay trái và cái chân phải đâu cả. Có người bảo có lẽ khi con anh bị xe cán thân thể văng tứ tung nên những con chó trong làng thấy và tha đi đâu nên không sao tìm được.
Yadaw Kuma bỏ thịt xương con vào cái thùng làm bằng tre, mướn xe định chở về sông Niranjara hỏa tán, nhưng anh lại quyết định đem xác con ra dòng sông Phanggu, nơi mà cách đây mấy ngày đã thiêu xác người vợ thân yêu của anh. Sau khi thiêu xong tro được các vị thầy tu rải xuống sông. Vị thầy tu Ấn Độ giáo bảo anh, anh đã làm gì ác lắm phải không, nên khi quăng tro con anh xuống dòng sông trong, tro có rất nhiều hình mặt kỳ dị hiện ra than khóc! Vị thầy tu Ấn Độ khuyên anh từ đây về sau nên làm việc lành lánh xa việc ác để cuộc sống sau này an vui hơn. Anh trả lời “Jiha Jiha” bằng tiếng Ấn Độ, có nghĩa là vâng vâng, và xá vị thầy người Ấn Độ kia lia lịa.
Khi về đến nhà thì anh đã kiệt sức vì vợ chết, con chết, đàn trâu bò cũng chết anh chẳng còn gì nữa ngoài thằng con út mới 12 tuổi và căn nhà nhỏ nằm hiu quạnh hoang vắng. Từ đó anh trở nên như người điên dại không cần gì nữa, cũng chẳng thèm ăn uống đầy đủ như thời còn vợ. Thế là anh cứ mua đồ ăn ngoài đường, ngoài phố cùng với đứa con út ăn cho qua ngày đoạn tháng. Ăn hoài cũng chán, thằng con út năn nỉ anh nấu cơm ở nhà ăn, anh trả lời ba không biết nấu nếu con biết nấu, nấu cho ba ăn với. Dù không biết nấu nhưng khi nghe ba nói như vậy nó cũng xuống bếp thế là hai cha con lần đầu tiên được ăn cơm nhà từ khi vợ anh chết. Nấu được một thời gian không biết vì sao khi hai cha con cùng ngồi ăn cơm tự nhiên lại nằm lăn ra ngủ ngay bàn ăn ngon lành. Rồi làng xóm phát hiện nhà anh bị cháy từ căn bếp, mọi người hốt hoảng vì sợ lan qua các nhà khác, khi họ kéo đến nhà anh thì vẫn thấy hai cha con vẫn ngủ ngon lành trong căn nhà đang cháy. Lửa bắt đầu lan sang căn phòng chính thì hai cha con bất chợt tỉnh dạy vội vã chạy ra ngoài, chỉ một lát sau nơi mà anh đã từng sống bên những người thân nay chỉ còn là đống tro tàn. Hai cha con ôm nhau mà khóc bên bờ ruộng thảm thiết. Không lấy được gì cả, vật mà duy nhất còn lại là cái quần đùi đang mặc trên người. Thật là vô thường! Thật là đau khổ cùng tận! Lừa gạt gom góp của người khác để làm của cho riêng mình, muốn mình và gia đình mình hưởng thụ mà không nghĩ đến luật quả báo trả vay. Kết cuộc phải lãnh một cái giá quá đắt cho chính hành động của mình. Trời cao có mắt, quả báo nhãn tiền. Chuyện này xảy ra gần chùa Miến Điện Bồ Đề Đạo Tràng. Còn nhiều chuyện nhân quả khác xảy ra nơi Đất Phật mà chúng tôi đã tận mắt thấy tai nghe, nếu có dịp tôi mong mỏi sẽ được thuận duyên kể tiếp.
Khoảng tháng 4 năm 2014, trong thời gian huy động ấn tống Ngọc Lịch Bửu Phiêu, tôi (Liên Hoa Thái Dương) đã tới thăm CLB Sức khỏe cộng đồng UNESCO để giới thiệu về cuốn sách. Sau khi nghe tôi trình bày xong, một thành viên trong CLB đã rất tâm đắc và đặc biệt xúc động với câu truyện ( Thiêu chết mèo cái), sinh sáu người con bị bệnh xương thủy tinh ( bởi vì chính anh này là một trường hợp tương tự).
Anh ấy là Trần K (vì một lý do tế nhị nên anh K đề nghị tôi giữ kín địa chỉ và số điện thoại liên lạc), sinh sống và làm việc tại Hà Nội. Cách đây một năm anh bỗng mắc phải chứng bệnh rất quái ác là ( Máu đặc – đa hồng cầu) với biến chứng rất nặng nề khi cuộc sống đang rất tốt đẹp với chức vụ cao, tài chính ổn định. Anh thường xuyên bị các triệu chứng như đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, chảy máu cam, xuất huyết tiêu hóa, và các biểu hiện tắc mạch như đau cách hồi, nhồi máu não. Đó là một loại ung thư máu thuộc dòng hồng cầu, tiến triển chậm.
Cách đây một năm anh bỗng mắc phải chứng bệnh rất quái ác là ( Máu đặc – đa hồng cầu) ( Ảnh minh họa )
Cuộc sống của anh bị đảo lộn hoàn toàn và anh có thể chết bất kỳ lúc nào. Nhiều lần anh tưởng như phải từ giã cõi đời vì Viện Huyết Học đã tuyên bố không thể chữa trị được.
Nhưng trong tuyệt vọng anh vẫn không từ bỏ khát khao được sống. Các cụ có câu (có bệnh thì vái tứ phương), anh quyết định thử nghiệm tất cả các phương pháp y học bổ sung khác như khí công y đạo, thiền định, yoga v.vv.. để tìm cho mình một cơ hội. Tình cờ anh được một người bạn cùng tập khí công khuyên nên tụng kinh sám hối. Không còn cứu cánh nào khác, anh nhất tâm hàng ngày tụng chú Đại Bi, kinh Pháp Hoa và hồi hướng xin tiêu trừ bệnh tật.
Một hôm, anh nằm mơ thấy một bà tiên áo trắng nói với anh rằng: “ Con có biết vì sao bị bệnh này không? Đó là tại vì con đã giết 12 con rắn. Con phải thành tâm sám hối thì bệnh tật mới được tiêu trừ”. Bà nói xong thì anh tỉnh giấc. Anh nhất thời suy nghĩ mình chưa từng giết rắn, tại sao lại có đến 12 con. Đến bữa cơm trưa, anh đem giấc mơ kể cho mọi người trong gia đình cùng nghe. Bố anh mới giật mình nhớ lại ông từng giết chết một con rắn trong vườn, sau đó còn ăn thịt nó. Và bố anh khẳng định cách đây khoảng gần chục năm chính anh K cũng từng giết một con rắn. Khi đó anh K mới nhớ lại, những năm trước có một lần khi đi làm về, anh thấy có một con rắn bò gần trước cửa nhà, không đắn đo anh dùng gậy gỗ đập chết con rắn rất dã man rồi cũng không nhớ gì về truyện đó nữa. Anh nói, có thể con rắn đó đang có mang 11 quả trứng …
Hiện nay anh K nhờ tập luyện khí công đều đặn và dùng một số dược liệu tự nhiên đã duy trì được sức khỏe và ổn định công việc, không cần dùng thuốc tây. Anh thực sự cảm thấy hối hận về việc mình đã làm.
Một vài con rắn không phải là điều gì to tát, nhưng Phật Tổ từng nói mọi chúng sanh đều bình đẳng, một mạng rắn cũng là một mạng chúng sanh vậy. Ông trời có đức hiếu sinh, con người không nên giết hại các loài vật khác một cách vô cớ. Trong dân gian từng ghi nhận rất nhiều truyện quả báo khi giết các loài đặc biệt nặng nghiệp như rắn, chồn, rùa, cóc .v.v.. Quả báo đích thực sẽ đến, chỉ là sớm hay muộn mà thôi. Mọi người xin hãy cẩn trọng hành động của mình.
( GHI CHÉP CỦA VÔ MINH THÁI DƯƠNG.)
( Sưu tầm : Diệu Âm Lệ Hiếu )
Năm nay tôi đã 31 tuổi, lấy vợ được ba năm, nhưng đến giờ chúng tôi vẫn chưa có con, dù đã rất mong mỏi, cũng đã đi khám, chữa trị nhiều nơi nhưng kết quả vẫn thế.
Cũng giống như bao thanh niên cùng trang lứa khác, tuổi trẻ tôi cũng mải mê với những cuộc tình, yêu đường và chinh phục. Thời sinh viên tôi có không biết bao nhiêu mối tình, có những cuộc tình đơn thuần chỉ là cảm tính, có những cuộc tình chỉ là tình một đêm, nhưng cũng có cuộc tình sâu sắc.
Người ta bảo đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma, sau những tình một đêm chóng vánh, tôi đã kịp để lại hậu quả cho hai trong số những cô gái mà tôi đã qua đêm. Nhưng chỉ là thoáng qua nên chúng tôi chấp nhận giải quyết êm đẹp với nhau, tôi trả tiền để các cô ấy đi phá thai, xong rồi lại như không quen biết.
Cho đến khi năm thứ 4 đại học, tôi có một mối tình khá sâu đậm với một người con gái trong suốt hai năm. ( Ảnh minh họa )
Cho đến khi năm thứ 4 đại học, tôi có một mối tình khá sâu đậm với một người con gái trong suốt hai năm. Tôi đến với cô ấy là tình cảm thật lòng và chân thành, không phải như các cuộc tình khác trước đó, tôi yêu nhưng lại chưa bao giờ xác định sẽ lấy cô ấy, bởi tính cách của chúng tôi không hợp nhau.
Cô ấy là một cô gái ( thuần), nhẹ nhàng và điềm tính, sống khá bảo thủ. Còn tôi, một người phóng khoáng, hiện đại và còn rất ham chơi. Sau gần hai năm yêu nhau, do một lần sơ sẩy, cô ấy đã có bầu. Lúc đấy, bạn gái tôi nhất quyết đòi giữ đứa bé lại, còn tôi vì lúc đấy đang tuổi trẻ, còn mải rong chơi và cũng chưa một lần xác định sẽ cưới cô ấy, nên tôi nhất quyết bắt cô ấy đi bỏ đứa bé.
Cô ấy không chịu và đã khóc lóc, van xin tôi rất nhiều, nhưng tôi vẫn cương quyết không cho cô ấy giữ thai. Cuối cùng dưới sức ép của tôi, bạn gái buộc phải đến bệnh viện để bỏ cái thai, và tất nhiên, tôi chịu mọi chi phí. Bỏ đi cái thai tôi như nhẹ đi một gánh nặng, lại vui vẻ và chơi bời như xưa, nhưng không lâu sau đó, cô ấy bỏ tôi ra đi bởi không thể chấp nhận một người tàn nhẫn và bạc bẽo như tôi.
Hơn một năm sau tôi gặp vợ tôi bây giờ, tôi lấy vợ trong niềm hạnh phúc vì cuối cùng tôi cũng đã tìm được người con gái phù hợp với mình. Cũng từ ngày quen và yêu vợ, tôi cũng bỏ luôn cái tính lăng nhăng của mình, tôi nghiêm túc và chín chắn hơn, chính vì vậy vợ mới đồng ý lấy tôi.
Thế nhưng, chẳng có hạnh phúc nào được trọn vẹn, chúng tôi cưới nhau đã được ba năm, nhưng mãi đến bây giờ vẫn chưa có con. Chúng tôi đã đi khám rất nhiều nơi, ai mách chỗ nào vợ chồng cũng đi, nhưng ở đâu mọi người cũng bảo, vợ chồng tôi đều khoẻ mạnh, không có vấn đề gì cả. Sau bao nhiêu năm trông mong mà vẫn không có con, tôi đã suy nghĩ rất nhiều về những chuyện trong quá khứ và tâm sự với mẹ mình về những gì đã xẩy ra. Mẹ tôi đã giật mình khi không biết rằng, tôi lại là một người đàn ông tồi tệ như vậy.
Từ sau đó, tôi và mẹ vẫn thường xuyên đi chùa, cầu siêu và làm lễ để mong xoá bớt được những tội lỗi trong quá khứ. Tôi đã đau khổ và dằn vặt rất nhiều, giờ đây, tôi mới thấm thía được luật nhân – quả trong cuộc sống. Tôi không dám kể cho vợ mình nghe, nhưng cô ấy cũng rất hay đi chùa để cầu phúc, cũng chỉ mong mỏi chúng tôi sẽ được trời thường và cho một đứa con.
Đã hơn một năm nay, cứ đến rằm tháng bảy là tôi và mẹ lại vào chùa để làm lễ cầu siêu cho những linh hồn mà tôi đã gián tiếp giết chết. Tuổi trẻ ai cũng mắc phải những lỗi lầm, có những lỗi lầm do vô tình mà mình mắc phải, nhưng cũng có những lỗi lầm do chính mình tạo ra. Và hằng ngày, tôi vẫn đang cố gắng, nhưng càng hy vọng tôi càng có cảm giác ghê sợ chính bản thân mình. Tôi phải làm sao để thoát ra khỏi lỗi lầm quá khứ này?
Chuyện này do cô Diệu An ở Pháp kể lại, nhân dịp phái đoàn tu tập ở Việt Nam Phật Quốc Tự – India từ ngày 01/11 đến 01/12/2010. Cô kể vào lúc 13h ngày 06/11/2010 tại VNPQT.
Sau ngày 30/04/1975 gần nhà cô Diệu An ở Phú Nhuận Sài Gòn, có Một gia đình sống kín đáo nhưng họ rất phong lưu. Gia đình có sáu người con gái đều đẹp và học giỏi. Sáu cô học một ngôi trường mà trước ngày 30/04/1975 chỉ có những người giàu có mới đủ điều kiện gửi con mình vào học, vì học phí rất cao, học phí đối với một học sinh còn cao hơn một viên chức hạng trung bình. Có thể nói gia đình họ phải có một gia tài lớn lắm !
Vào thời đó trai gái được đi học trường Tây nằm ngay trung tâm Sài Gòn có thể xem là người giàu có và có đạo đức. Những trường này nổi tiếng về cách đào tạo giáo dục khá kỹ lưỡng và chu đáo được chính phủ Pháp tài trợ từ lớp 1 đến 12, sau khi học sinh học xong trường này ra tìm việc rất dễ dàng vì các công ty luôn săn đón và mức lương cũng khá cao, còn học sinh nào học xong muốn tiếp tục con đường học tập thì đi ra nước ngoài học cao hơn. Phần lớn những người du học đều thành công tốt đẹp, chứ ít có ai học xong các trường này ra mà thất nghiệp cả. Học xong trường này bằng cấp rất có giá trị ở các nước Tây phương cũng như tương đương với bằng cấp của nước Pháp mà không cần phải thi lại.
Trở lại câu chuyện sáu người con gái gần nhà cô Diệu An. Khi cha các cô bị phát hiện là linh mục của nhà thờ ở Biên hòa Đồng Nai. Sự việc đó có một thời gian gây chấn động ầm ĩ ở Sài Gòn và vùng Biên Hòa, các con chiêng trong Đạo đã quyết liệt tố cáo và đòi trục xuất vị linh mục đó. Thế rồi nhờ sự khéo léo của giáo hội và tòa thánh, lần lần câu chuyện ấy cũng trôi vào lãng quên, sáu cô con gái chỉ sống với mẹ mà không thấy mặt cha, từ đó mọi người càng chú ý đến sáu cô hơn. Mỗi ngày, mỗi cô càng lớn thì càng xinh đẹp hơn, cho nên thu hút rất nhiều chàng trai… Nhưng rồi mọi người trong xóm đều bàng hoàng kinh ngạc khi biết sáu cô này đều làm nghề bán mình hay người dân quê thường gọi là làm đĩ mà xã hội Việt Nam bao đời rất khinh khi. Câu chuyện thương tâm này mỗi ngày mỗi lần rộng và mọi người cứ bâng khuâng tự hỏi, với trình độ, trí thức như vậy thì nguyên nhân nào thúc đẩy sáu cô gái đi vào con đường mà chẳng ai muốn vào. Có phải đây là định luật nhân quả cha mẹ làm các con phải gánh chịu?
( Sưu Tầm )
Câu chuyện bắt đầu từ những giấc mộng báo của vợ chồng anh Võ Thành Đẫm ( tên thường gọi là Út), 43 tuổi và chị Dương Thị Chơn ở ấp Đông An, xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Anh Đẫm kể, đêm đó anh nằm chiêm bao thấy cha anh báo mộng. Ông là Võ Văn Minh, đã chết cách nay tám năm, khi 78 tuổi, do bệnh tai biến. Trong giấc mơ đầu tiên vào đêm 21/10/2013, ba anh Đẫm hiện về, kêu:
– Út ơi! Ba chết rồi, đầu thai làm heo ở xóm ngoài. Trước mũi của ba có hai lằn rạch xuống, đó chính là… râu của ba. Còn ở đùi sau có một cái đém đen. Khi nào tới chuồng, thì ba nhảy lên mừng con.
Sáng ra, anh Đẫm đem giấc mộng kể cho vợ nghe, thì bị vợ kêu là mê tín, không tin. Sáu ngày sau, anh Đẫm lại được cha báo mộng y hệt lần trước. Anh cũng không nghĩ nhiều tới giấc mơ bởi cả ngày phải lo làm thuê kiếm sống. Nhà anh thuộc diện hộ nghèo, có hai đứa con lại bị thiểu năng.
Hai mươi ngày sau khi cha báo mộng lần thứ hai, anh Đẫm lại tiếp tục thấy ba về báo mộng. Ổng nói:
– Sao ba báo cho con hai lần mà con không đi tìm ba? Ba buồn, ba bỏ ăn nên bị người ta đè ra chích thuốc.
Vài ngày sau thì ba tui về báo mộng lần cuối. Ổng nói:
– Sao lo nhậu say xỉn hoài mà không đi tìm ba?
Rồi đêm 22/11, ba tôi lại về báo mộng cho bà xã tôi. Ổng nói:
– Vợ thằng Út ơi! Đi tìm ba đi. Ba khổ lắm, ba trông đợi lắm!
Nghe vậy, bà xã khuyên kêu tôi đi kiếm con heo. Nhưng tôi nói bà đi thì đi, tôi bận đi làm mướn. Sáng hôm sau, thì tôi đi làm hồ và vợ tôi thì âm thầm đi tìm ông già, anh Đẫm kể.
Sáng 23/11, vợ anh Đẫm bơi xuồng đi tới cái xóm có nhiều người nuôi heo. Khi vợ anh dò hỏi về chuồng heo như được mô tả trong giấc mơ, một người dân tại đây đã chỉ tới chuồng nuôi heo của chị Lê Mỹ Hạnh.
Trình bày xong với chủ nhà, vợ anh Đẫm liền đi ngay ra chuồng và bất ngờ thấy trong bầy có một con heo hình thù y như ông già tả trong giấc chiêm bao. Bà xã tôi kể lại sự tình và hỏi mua con heo đó, thì người ta chịu bán với giá 2,5 triệu đồng. Con heo nặng chừng 30kg và là dạng heo bò, có lông màu vàng và nhiều đốm đen.
Một điều hết sức lạ là khi gặp bà xã thì con heo liền mừng, nó nhảy lên đưa hai chân trước. Rồi hai lỗ tai nó ngoắc ngoắc. Khi đưa con heo lên xe chở về nhà thì nó ngồi êm ru như người ta ngồi xe vậy! – anh Đẫm nói. Chừng hai giờ sau khi con heo được chở về nhà anh Đẫm, nhiều người kéo tới xem. Khi đem heo thả trước sân thì nó không dám vô nhà.
Anh Đẫm ngẫm nghĩ có lẽ là mình quên trình cửu huyền thất tổ, nên đốt nhang cúng. Cúng xong, anh ra sân nói:
– Ba ơi, con trình cửu huyền rồi, ba vô đi. Lập tức con heo phóng lên cửa và chạy tuốt ra sau buồng. Lúc người ta tới coi đông quá, tui nói: “ Ba ơi, ra chào bà con đi”, thì ổng chạy ra ủi ủi vô giò nhiều người. Hễ tui kêu ổng đi đâu là ổng đi đó, anh Đẫm kể lại. Bà Phan Thị Sữa – nhà ở thị trấn Phú Hòa ( huyện Thoại Sơn), nghe tin nên đến coi.
Bà khẳng định chuyện anh Đẫm thả con heo ra sân nhưng con heo không chịu vào nhà. Sau khi thấy anh Đẫm cúng vái thì kêu con heo liền chạy vô nhà. Chính bà cũng lấy làm lạ về chuyện này nhưng không lý giải được. Chăm sóc ba, anh Đẫm đinh ninh con heo chính là cha mình hóa kiếp, nên anh không dám mua cám cho ăn. Ngày mới đem heo về nhà, anh nấu cháo tàu hũ ( đậu phụ) thì heo ăn chỉ một chén là ngưng. Mấy ngày sau, ngồi chơi, tiện tay thẩy bánh tây ra sân thử thì con heo chạy tới ăn ngấu nghiến ( một ngày ” ổng” ăn hết 1kg bánh).
Rồi tui pha nước trà đường cho ” ổng” uống. Trong chiêm bao, ba tôi kêu khi bắt ổng về thì cầu nguyện ba ngày, rồi giết ổng đi, để ổng siêu thoát. Nhưng con heo là cha tôi nên tôi đâu nỡ giết.
Câu chuyện ly kỳ về con heo lạ lan nhanh. Dân từ các tỉnh Đồng Tháp, Kiên Giang, Cà Mau… kéo đến nhà anh Đẫm xem heo cả ngày lẫn đêm. Vợ chồng tôi nằm mộng rồi đi tìm được con heo y như vậy nên tin đó là ba tôi. Cử chỉ và hành động hơi lạ, là tôi kêu gì làm nấy.
Khi tôi giăng mùng cho heo ngủ thì cả đêm nó không ị bậy gì trong nhà: anh Đẫm bộc bạch.
Bà Phạm Thị Cúc ( 68 tuổi, mẹ ruột chị Hạnh – người chủ con heo đã bán cho anh Đẫm) kể: “ Con Hạnh nuôi heo nái để đẻ rồi bắt con nuôi lớn, dành bán heo thịt. Hồi đó tới giờ nó không bán heo con. Nhưng hơn ba tháng trước, trong bầy heo bảy con vừa đẻ thì có một con lạ. Nó cứ hay nằm buồn buồn. Thấy vậy, con Hạnh mới sợ nó bệnh nên kêu thú y tới chích thuốc ( anh Đẫm nằm mộng cũng được cha báo vụ chích thuốc này). Khi nó nặng gần 30kg thì tường của cái chuồng cao hơn một thước mà heo cứ phóng ra ngoài, nên con Hạnh ghét. Con Hạnh nói, mặc kệ mầy, mầy phóng ra cho muỗi cắn chết luôn. Vậy rồi cứ tới khuya thì con Hạnh thấy nó phóng vô chuồng trở lại. Trong khi cả bầy thì sáu con kia không con nào phóng ra được.
Con heo sau khi về nhà con trai được 41 ngày không bệnh mà tự dưng chết, chấm dứt một kiếp làm heo.
( Sưu Tầm )
( Diệu Âm Lệ Hiếu kính ghi lại từ lời kể của anh Trần Ngọc Thanh – Đĩa giảng Phương Pháp Trì Niệm Danh Hiệu Đức Phật A Di Đà kỳ 25 – Thầy Thích Giác Nhàn)
Anh Trần Ngọc Thanh, sinh năm 1971, sống đường 30/4, P.12, Tp.Vũng Tàu, tỉnh BR-VT. Cha mẹ anh có 3 người con, 2 nữ 1 nam, có mình anh là con trai. Khi anh được 19 tuổi, ba anh đưa anh về nhà nội phụ chú anh làm nghề giết mổ heo. Tiền lương phụ việc không nhiều nhưng do không biết Phật pháp nên chỉ nghĩ có một cái nghề để mưu sinh.
Anh theo nghề sát sanh này 12 năm ròng rã. Tiền làm bao nhiêu dùng để chơi đánh bài, đánh bi da, gái gú… Anh kể mỗi đêm giết khoảng 4-5 con heo, còn vào những ngày Tết, do mọi người đều có nhu cầu mua thịt heo về kho Tết nên vào những dịp lễ giết rất nhiều. Mỗi lúc kéo heo ra làm thịt, heo kêu la thảm thiết, bốn chân bẹt ra không chịu đi vì chúng cũng biết thân phận sắp chết.
Thế là anh dùng cái móc, móc vào họng heo để kéo chúng ra, rồi đập đầu chúng cho ngất. Sau đó lôi chúng lên cái bàn để sẵn dao thọc huyết nhọn chọc ngay cổ heo cho máu chảy ra. Có con chưa chết nó còn chạy lòng vòng một chặp sau mới chết.
Con nào mà huyết chưa ra hết thì dùng chân đạp vào bụng cho máu đổ ra hết, không hề có chút thương xót. Sau đó móc vào miệng heo rồi nhúng đầu heo vào chảo nước sôi và cạo lông. Sau khi cạo xong thì cắt đầu và mổ bụng, lôi hết bộ đồ lòng heo ra, rồi lấy mật heo nuốt vào bụng vì cho rằng bổ. Toàn bộ những thứ này được rửa sạch sẽ sau đó mang ra chợ bán.
Người ăn vào làm sao biết được miếng thịt họ đang ăn biết bao nhiêu là oán hận không cùng của súc sanh, bệnh tật cũng từ đây mà vào. Từng thớ thịt do sự sợ hãi, oán hận tràn ngập khắp các tế bào thì có gì mang lại sự bổ dưỡng cho cơ thể người?
Sau năm 31 tuổi anh giải nghệ và đi phụ làm lơ xe, sau đó làm tài xế lái xe tải. Năm 2002 người anh bắt đầu nổi u hạch, cứ như vậy cho đến 2007 thì người phát bệnh nổi khối u rất nhiều ( 40-50 cục u) và mệt mỏi, toàn thân nhức nhối rất khó chịu. Anh vào BV nhiệt đới Sài gòn xét nghiệm thì phát hiện ra bệnh viêm gan siêu vi B, đau gan lói hông. Khối u nhiều nên anh phải qua BV Ung Bướu để trị.
Bác sĩ không cho mổ, báo nếu mổ khối u sẽ phát tán đầy người mà chết. Đã vậy lại thêm chứng nhức đầu bưng bưng. Bệnh khổ ập đến liên tục khiến cho anh cứ than với vợ: “ Kiểu này chắc chết quá, sống hổng nổi”. Anh cũng có duyên được đi chùa cùng với vợ ở Kiên Giang nhưng cũng chưa biết cách sám hối mà ngày nào cũng còn thèm ăn thịt bò, heo, gà, vịt… trong khi vẫn đi tìm thuốc nam để trị hết bệnh. Làm sao hết bệnh đây?
Một duyên lành sót lại là anh có lần ghé quán cơm chay Liên Thành thì xem được đĩa thầy Giác Nhàn trình chiếu tại đây. Trong đĩa thầy khuyên nên ăn chay, phóng sanh, tụng kinh Vô Lượng Thọ, niệm Phật A Di Đà mới chuyển hóa được nghiệp bệnh. Ban đầu anh phát tâm ăn chay một tháng 4 ngày, đối với một tài xế như anh quá khó vẫn còn thèm mặn. Rồi nghe hoài đĩa giảng của Thầy Giác Nhàn, nhớ Thầy dạy anh nên khấn nguyện Quán Thế Âm Bồ Tát cầu Ngài gia hộ.
Anh hành trì được 2 năm, tháng nào cũng đi phóng sanh, duyên đưa đến anh chuyển nghề lái xe tải mà lái xe ôm ở bến xe Bà Rịa, vừa chạy xe ôm vừa niệm A Di Đà Phật nên khách “ bo” thêm cho 10, 20 ngàn. Vợ anh làm công nhân. Anh bảo hồi lái xe tải chở giấy cho một công ty bao bì nhưng tham lam, ăn cắp dầu và giấy bán để dành được 3 cây vàng.
Thế nhưng có vàng thì bệnh nặng quá bao nhiêu tiền vàng đổ ra vẫn không trị hết bệnh. Đến sau này được xem nhiều đĩa giảng của Đại Đức Thích Giác Nhàn, anh phát nguyện trường chay niệm Phật thì vợ anh cũng trường chay niệm Phật phóng sanh, tụng kinh Vô Lượng Thọ rồi cầu sanh Tây Phương Cực Lạc Thế giới.
Hiện giờ thì gan anh đã hết đau, đi khám BS bảo con siêu vi nằm yên rồi không quậy nữa nên anh không còn bị đau bụng bẹ sườn phải. Những khối u to cũng đã giảm nhiều, không còn đau nhức hành hạ, căn bệnh nhức đầu thì hết hẳn. Anh trở nên tự tin hơn, và tinh tấn hành trì theo pháp môn Thầy Giác Nhàn đã hướng dẫn. Ba anh cũng bị nổi hạch, bướu. Anh còn khuyên con gái anh nên niệm Phật, ăn chay, phóng sanh để đừng đi theo con đường của anh, sát sinh ăn thịt nhiều nên người đầy bệnh tật. Và giờ con gái anh đến giờ lại nhắc nhở anh lạy Phật, niệm Phật.
Bây giờ tiền làm ra hai vợ chồng anh tằng tiện để dành chút ít hàng tháng để phóng sanh chuộc lại lỗi lầm ngày xưa. Cũng nhờ cố công tạo phước lành này hai vợ chồng anh được người em giúp đỡ mở quán nước ở bến xe Hoa Mai để mưu sinh, không còn tạo nghiệp bất thiện nữa.
Anh đem bài học của mình, nhân quả mình đã tạo mà khuyên các vị Phật tử cố gắng ăn chay. Mình ăn thịt chúng sanh thì quả báo bệnh tật hành hạ thân thể đau đớn. Cố gắng phóng sanh, sám hối nghiệp chướng bằng cách tụng kinh, niệm Phật, lạy Phật để tạo phước lành. Tiền làm có giàu bao nhiêu đi nữa mà sát sanh ăn thịt hoài thì bệnh tật triền miên thì cuộc sống nào có sung sướng gì? Xin chư vị hãy phát tâm ăn chay, phóng sanh, niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, lìa khổ được vui.
GẶP PHẢI MỌI BẤT HẠNH, OAN TRÁI TRONG ĐỜI, KHÔNG CẦN BIẾT DO NGHIỆP DUYÊN GÌ, XIN QUÝ VỊ ĐỀU THÀNH TÂM SÁM HỐI, KIÊN TRÌ NIỆM PHẬT, KIÊN TRÌ TỤNG “KINH ĐỊA TẠNG ” HỒI HƯỚNG CHO CÁC ‘CHỦ NỢ ‘… KHỔ NÃO CHẮC CHẮN SẼ TIÊU TAN KHI NỢ NẦN ĐÃ TRẢ ĐỦ !
(Sưu Tầm )
Cũng như những du khách khác, khi vào chùa Mã Tộc, còn gọi là chùa Dơi, ngôi chùa nổi tiếng bậc nhất miền Tây, tôi hòa mình vào dòng người đi thẳng ra vườn cây cổ thụ trong khuôn viên chùa để xem đàn dơi. Phải công nhận, khu vườn dơi vô cùng kỳ thú, với hàng nghìn con dơi khổng lồ treo lủng lẳng kín ngọn cây. Mặc gió thổi khiến cây cối nghiêng ngả, mặc tiếng cười nói rổn rảng bên dưới, đàn dơi vẫn ngủ ngon lành, lấy sức sau một đêm miệt mài kiếm ăn. Ngôi chùa này là ngôi nhà an toàn nhất của chúng.
Sau khi thăm thú đàn dơi, tôi ngồi nghỉ ở chái chính điện ngôi chùa. Trên bậc thềm, một người đàn bà ăn mặc thời trang và một người đàn ông đang xì xụp chuẩn bị mâm lễ rất lớn, gồm đủ tiền vàng, gà luộc ngậm hoa, đặc biệt là một con heo vàng mã to như thật. Xưa nay, tôi chỉ thấy người đời làm vàng mã hình nhân, ngựa, rồng, xe cộ, máy bay, tên lửa … chứ tôi chưa từng thấy làm vàng mã bằng heo.
Xưa nay, tôi chỉ thấy người đời làm vàng mã hình nhân, ngựa, rồng, xe cộ, máy bay, tên lửa … chứ tôi chưa từng thấy làm vàng mã bằng heo. ( Ảnh minh họa )
Tò mò, tôi theo người đàn ông và người đàn bà đi vòng ra phía sau chính điện chùa Mã Tộc. Họ đặt mâm lễ trước một ngôi mộ. Tôi thực sự bất ngờ, khi sau ngôi chùa không phải là bảo tháp cất xá lị của các sư trụ trì như thường lệ, mà là những ngôi mộ được xây cất theo hàng lối, có cả bia. Nhưng kỳ cục hơn, trên mỗi bia mộ vẽ hình một chú heo rất béo tốt, đẹp mắt, da trắng hồng. Có ngôi mộ ghi “Bà Hợi”, “Ông Hợi”, “Năm Hợi” …
Khi người phụ nữ khấn vái xì xụp một hồi, thì sai người đàn ông hóa vàng. Tôi rảo bước đi theo để bắt chuyện tìm hiểu. Anh này cởi mở cho biết: Anh là em chồng của người đàn bà kia. Vợ chồng anh trai của anh vốn là chủ một lò mổ lớn nhất nhì thành phố Sóc Trăng. Mỗi ngày, lò mổ của vợ chồng anh trai hóa kiếp hàng vài chục chú heo.
Vợ chồng anh ta là người Kinh, từ Bắc di cư vào, lại vốn vô thần vô thánh, nên chẳng quan tâm đến chuyện heo năm móng hay ba giò như đồng bào Khmer ở đây thường kể. Lò mổ của anh này có bảy thợ, mổ heo từ ba giờ sáng, đến năm giờ thì thịt đã ra thịt, xương ra xương để các lái buôn đến chở đi. Thông thường, anh ta cắt đặt công việc từ chiều hôm trước cho trưởng nhóm mổ, nhóm thợ cứ tự động làm. Năm giờ sáng, vợ chồng anh ta mới phóng xe đến để kiểm soát đầu ra, phân phối cho các đại lý đến lấy hàng.
Thế nhưng, hôm đó, vợ chồng anh này đến mà chưa con heo nào được mổ. Đám công nhân ngồi hút thuốc lào, uống nước chè chờ vợ chồng ông chủ tới. Anh này hỏi lí do, thì hai thợ mổ là người Khmer bảo rằng, có hai con heo đã … ( thành tinh), là do con người … hóa kiếp thành heo, nên không dám mổ. Hóa ra, trong đàn heo chuẩn bị mổ có hai con heo mà đồng bào ở đây gọi là heo năm móng và ba giò. Mấy thợ mổ người Kinh thì không hiểu gì, nhưng riêng hai thợ mổ người Khmer quê ở huyện Vĩnh Châu thì rất sợ hãi. Hai anh này còn đốt nhang cắm ngay cửa chuồng heo rồi khấn lấy khấn để.
Hóa ra, trong đàn heo chuẩn bị mổ có hai con heo mà đồng bào ở đây gọi là heo năm móng và ba giò ( Ảnh minh họa )
Nhìn cảnh ấy, đám thợ còn lại cũng hãi, không dám mổ heo, thống nhất chờ ông bà chủ đến giải quyết.
Quá tức giân, anh này đã sai thợ mổ mang chày cho mình. Rồi anh kêu nhóm thợ kéo lần lượt hai con heo mà thợ mổ của anh sợ hãi lên bàn mổ. Anh này vốn là thợ mổ lâu năm, nên mổ heo rất thuần thục. Mặc cho người vợ can ngăn, anh vung chày đập bốp một cái, chú heo há miệng quay đơ. Tay trái nắm tai, tay phải chích nhẹ, con dao bầu thấu cổ chú heo, máu xối ồ ạt ra chậu.
Chú heo ( thành tinh) còn lại cũng chịu chung số phận. Để đám thợ không sợ hãi, anh trực tiếp cạo lông, rồi chỉ nhoáng nhoàng, thịt đã ra thịt, xương ra xương. Mổ xong, anh bảo: “Đây nhé, là heo chứ không phải là người nhé!”. Đám thợ còn lại thấy vía ông chủ thì chẳng sợ gì nữa, riêng hai anh thợ người Khmer thì mặt mũi tái nhợt, chân tay run lẩy bẩy.
Vụ mổ heo sẽ chỉ bình thường như vô vàn những lần mổ heo khác, nếu như không có sự kiện khủng khiếp diễn ra với ông chủ này. Ngay sáng đó, sau khi chọc tiết hai con heo năm móng và ba giò, trên đường chở vợ về nhà chiếc xe tải chạy ngược chiều đâm thẳng vào chiếc xe máy của vợ chồng anh ta, hất văng hai vợ chồng lên vỉa hè. Điều kỳ lạ là người vợ không hề xây xát, nhưng anh chồng thì bất tỉnh, máu me vương vãi khắp nơi. Cũng ngày hôm dó, đám thợ bỏ việc hết, không dám làm việc ở lò mổ này nữa.
Lò mổ đóng cửa từ đó, ông chủ nằm viện suốt hai năm trời, tiêu tốn bạc tỷ mới đi cà nhắc được. Chuyện xảy ra đã bảy năm nhưng vợ chồng chủ lò mổ vẫn còn hãi hùng. Từ đó đến nay, cứ vào ngày rằm, chị vợ lại chuẩn bị lễ lạt, hương khói ở nghĩa địa heo trong chùa Mã Tộc. Chị đã nhờ nhà chùa rước( linh hồn) hai chú heo ( thành tinh) mà chồng chị sát hại về ngồi chùa này để thờ cúng, khói hương, mong ( linh hồn) hai chú heo tha thứ.
Những câu chuyện rùng rợn về ( heo thiêng trả thù).
Nghe xong câu chuyện kinh hãi về ông chủ lò mổ bị heo ( thành tinh) báo oán, tôi vào chánh điện tìm gặp sư trụ trì. Tuy nhiên, bữa đó, Thượng tọa Kim Rêne, trụ trì chùa Mã Tộc đi vắng, chỉ có sư phó Tú Linh ở chùa tiếp khách. Sư phó Tú Linh bảo rằng, những chuyện đồn đại sợ hãi về những chú heo năm móng, ba giò có rất nhiều.
Chuyện này bắt đầu bởi một quan niệm mang tính chất tâm linh của người Khmer về những con heo quái thai. Người Khmer tin rằng những con heo có năm móng (năm móng chân, thay vì bốn móng như thông thường – PV) hoặc ba giò (một chân móng đen, một chân móng trắng gọi là heo ba giò – PV) chính là cố tinh của người.
Người ta còn đồn rằng, nếu gia đình nào nuôi phải thì sẽ gặp chuyện lục đục chẳng lành, còn nếu giết heo thì người giết heo, thậm chí cả nhà đó sẽ phải đền mạng. Nhà nào có heo này, muốn bán cũng không có ai mua, cho không ai dám lấy, cứ phải nuôi đến khi nó chết, đem mai táng cẩn thận, thì may ra mới thoát nạn.
Sư phó Tú Linh kể, ngay tại ngôi làng Mahatup, cạnh chùa Mã Tộc, cách đây 10 năm, có một người đàn ông đang ngồi câu, thấy một con heo vừa to vừa béo thủng thẳng tiến lại gần. Chân con heo này đeo một chiếc vòng bạc. Nhìn qua ông này biết con heo là loài quái thai năm móng, được gia chủ đóng cho chiếc vòng bạc, rồi thả rông. Nó cứ lang thang xin ăn.
Vốn vô thần vô thánh, lại đang lúc túng đói, ông ta liền dắt heo về chọc tiết. Ăn không hết, ông ta đem ra bán ngoài chợ. Không ai biết đấy là thịt heo năm móng, nhưng chẳng hiểu sao cả buổi chợ hôm đó, không ai tiến lại chỗ ông ta hỏi mua thịt heo. Ngay đêm hôm đó, ông tự dưng bần thần, đôi mắt từ đờ đẫn chuyển sang dại, rồi điên khùng luôn. Vợ chồng, con cái sinh ra lục đục, đánh nhau chí chóe. Ông này điên khùng một thời gian thì lăn ra chết. Sau vụ ấy, người dân trong làng nhìn thấy heo năm móng hoặc ba giò đi dọc đường là kính cẩn chắp tay hành lễ.
Bà cụ là phật tử quét dọn trong chùa Mã Tộc cũng kể lại một chuyện không kém phần kinh hoàng. Cách đây bảy năm, một ông chủ lò mổ chở đến chùa xác một con heo vừa bị chọc tiết, máu vẫn còn chảy ròng ròng. Ông chủ lò mổ này cùng gia đình vừa khóc vừa lạy, mong nhà chùa hóa giải kiếp nạn vì lỡ mua và giết một con heo năm móng.
Số là đám thợ mổ của ông không để ý, đến khi chọc tiết, làm lông mới nhìn đến móng chân nó, và đếm thấy có năm móng chứ không phải là bốn móng như thông thường. Nhà chùa lúc đó cũng làm lễ hóa giải. Ông này cũng xây mồ chôn heo tử tế, nhưng rồi ông ta cũng không thoát được sự báo oán của con heo ( thành tinh) này. Hiện ông ta bị tâm thần, suốt ngày lang thang ở thành phố Sóc Trăng.
Theo Gia Đình & Cuộc Sống
( Sưu tầm )
(Trích từ quyển Hiện tượng nhân quả báo ứng – Hạnh Đoan dịch)
Sưu tầm: Vô Thường
Diệu Ân có người em nhỏ tên Phương. Phương đi khám bệnh gặp một bà ngồi bên cạnh tên Lan, bị bệnh ung bướu rất nặng.
Bà Lan tâm sự, bà theo đạo Công giáo, là chủ một nhà hàng rất đông khách, nổi danh nhờ tài chế biến món ốc tuyệt ngon. Mỗi buổi sáng bà luộc 200kg ốc, mỗi ngày tiền lời thu được từ năm tới bảy triệu, kinh tế rất phất.
Nhưng dạo gần đây, bà bị bệnh nặng. Bà thường có cảm giác như lúc nào cũng có hàng ngàn con ốc đeo bám vào thân, rứt rỉa từng mảng thịt khiến toàn thân bà đau đớn, nhức nhối không kể xiết. Sau khi siêu âm, bác sĩ nói dưới mỗi tế bào của bà đều có dòi. Nghĩa là toàn thân bà dòi ẩn lúc nhúc, lúc nào bà cũng rên siết quằn quại.
Bà thường có cảm giác như lúc nào cũng có hàng ngàn con ốc đeo bám vào thân, rứt rỉa từng mảng thịt khiến toàn thân bà đau đớn, nhức nhối không kể xiết. ( Ảnh minh họa )
Bé Phương chỉ im lặng nhìn không biết nói gì. Theo nhà Phật thì đây chính là ác báo của nghiệp sát sinh, nhưng hiếm ai chịu tin. Đúng là bây giờ tuy bà rất giàu có, mỗi ngày lời rất nhiều, nhưng tiền đó vẫn không đủ để cho bà chữa bệnh, không mang hạnh phúc cho bà. Không biết bà phải chịu đựng bao lâu, nhưng quả là sự đau đớn này cứ kéo dài cho đến khi bỏ mạng, thử hỏi làm sao mà tái sinh được vào cõi thiện lành?
Nhân quả báo ứng chân thật không dối. Bạn tin sâu nhân quả mà làm theo lời Phật dạy thì tự bản thân bạn tránh được quả báo sát sinh. Nếu như bạn không tin, thiện căn bạn không có thì cũng đành chịu. Quả báo chưa đến thì bạn còn có thể sám hối, tích đức tu thiện để tránh được duyên ác; còn nếu quả báo đã đến rồi thì chỉ còn cách đón nhận mà thôi. Không thể oán trách ai cả, vì đều chiêu cảm từ chính hành động tạo tác của mình ( tự làm, tự chịu).
Nếu đủ thiện căn, bạn tin sâu nhân quả, làm lành lánh ác, ăn chay, phóng sinh, niệm Phật….cuộc sống của bạn sẽ tự nhiên được an vui mà thôi.
****
CHUYỆN CON GÀ TÂY VÀ ÔNG MỸ DA ĐEN
Gia đình chị Thoa cư ngụ ở bên Mỹ, gia đình mẹ chị đạo Phật, ba chị đạo Công giáo nên cả nhà phải theo đạo của ba. Nhưng khi chị Thoa ở tuổi xế chiều, ba mẹ đều đã qua đời, chị lại thích nghiên cứu về Phật giáo, ưa thăm viếng chùa.
Một Ni sư được chị kính tin quý trọng khuyên chị nên trì chú Đại Bi cho tiêu nghiệp! Chị vâng lời.
Sau khi Thoa trì chú Đại Bi được một tuần thì gặp ngày Lễ Tạ Ơn ở Mỹ. Cô bạn thân bèn làm thịt gà tây mời Thoa qua dự tiệc và còn biếu cho nửa con gà để đem về nhà ăn.
ô bạn thân bèn làm thịt gà tây mời Thoa qua dự tiệc và còn biếu cho nửa con gà để đem về nhà ăn. ( Ảnh minh họa )
Thoa đem thịt gà về nhà để vào tủ lạnh. Tối hôm đó chị nằm mơ, thấy trong tủ lạnh chỗ mình cất thịt gà tây lại là xác chết của một ông Mỹ đen, trông rất thảm thương, cũng có đầu mình, một bắp đùi…..hệt như phần thân con gà cất trong tủ. Chị hoảng hồn thức dậy, việc đầu tiên là mở tủ lấy bao thịt gà ra xem, người chị run bắn….
Sáng ra, chị vội vàng đem thịt con gà tây biếu cho nhà hàng xóm. Từ đó về sau, chị bỏ sát sinh, phát nguyện trường chay mãi mãi.
******
Và một câu chuyện thật ở miền Bắc ( bạn này được hộ niệm lúc lâm chung), bạn Duy Tiểu Tử kể lại:
Chuyện thật như vậy, có một gia đình trong ngõ ở đường Lạch Tray – Hải Phòng, gần cầu Vượt làm nghề bán ốc sinh nhai. Một ngày luộc, xào không biết bao nhiêu con ốc. Đến đầu năm 2014, cậu con trai trong gia đình này, sinh năm 1994 ( nếu nhớ không nhầm thì đang học ĐH Hàng Hải) đi dự đám cưới về bị tai nạn giao thông ảnh hưởng đến não.
Tôi và hai người em đều giật mình khi nhìn thấy gương mặt cậu mọc cục u hình con ốc quái ác to bằng 1/3 mặt cậu, trông rất đáng sợ, nó hút đến người cậu gầy trơ xương, yếu sức đến nháy mắt cũng khó khăn. Chân tay gầy guộc bé. Sắc tướng 21 tuổi mà nhìn như 40 tuổi. Bệnh viện trả về, chỉ nằm chờ ngày chết để giải thoát. Và cậu đã mất ngày 23/7 ( Âm lịch ) vừa rồi. Trước khi lâm chung cũng có duyên được ban hộ niệm cộng tu một số buổi và hàng ngày khai thị sách tấn cho cậu.
Ai nhìn cục u trên đều liên tưởng ngay đến một con ốc khổng lồ bám lên mặt vậy. Ba anh em tôi nhìn thấy mà đều ăn năn, cậu em nhỏ bệnh tật này chính là tấm gương cảnh cáo trước mặt chúng tôi vậy.
Quy luật bạn ăn miếng, bạn trả miếng. Bạn tin thì thay đổi. Bạn không tin, chúng tôi cũng chỉ biết lắc đầu không giúp được gì thêm.
MONG BẠN HÃY TIN SÂU NHÂN QUẢ, TÍCH ĐỨC HÀNH THIỆN, ĂN CHAY, PHÓNG SANH, NIỆM PHẬT NHẰM CẢI TẠO VẬN MỆNH CHO CHÍNH MÌNH.
Theo sư phó Tú Linh (chùa Mã Tộc, tức chùa Dơi, Sóc Trăng), con heo tên Năm Hợi chùa nhận vào năm 1989. Khi đó, chùa Dơi còn khá hoang vu, cây cối rậm rạp, dơi bay rợp trời, đậu dày đặc trong vườn cây cổ thụ.
Chùa Dơi còn khá hoang vu, cây cối rậm rạp, dơi bay rợp trời, đậu dày đặc trong vườn cây cổ thụ. ( hình ảnh chùa dơi )
Trong chùa có bà cụ Khiên, là người trông nom, quét dọn chùa. Đêm ấy, sau một ngày mệt nhọc vì quét dọn chùa, rẫy cỏ ngoài vườn, bà Khiên nằm ngủ mê mệt. Trong giấc mơ, Bồ Tát hiển linh bảo với bà rằng, ngày mai, sẽ có một nữ thí chủ đến chùa xin quy y.
Bà Khiên giật mình tỉnh giấc, toàn thân toát mồ hôi. Bà trở dậy, thắp hương trên chính điện. Bà Khiên tin rằng, Bồ Tát hiển linh đã thông báo với bà một tin trọng đại. Sáng hôm sau, bà Khiên dậy sớm hơn thường lệ. Vừa quét chùa bà vừa ngó chừng ra cổng xem có ai đến không.
Ngày đó, chùa Dơi rất vắng, lại chỉ có một cổng nhỏ, nên ai ra vào bà đều kiểm soát được. Gác cửa mãi đến tận trưa mà chẳng thấy nữ thí chủ nào như lời Bồ Tát báo mộng.
Nghĩ rằng giấc mộng không hiển linh nên bà Khiên tiếp tục công việc quét dọn của mình. Bà Khiên ngỡ ngàng khi phát hiện ở phía sau chùa, trong vườn dơi, có một con heo cái rất lớn đang ngủ ngon lành. Không biết heo nhà ai xông vào chùa, làm ô uế không gian thanh tịnh, nên tức mình, bà Khiên cầm chổi đập nhẹ vào mông, đánh thức nó dậy. Tuy nhiên, bà Khiên làm đủ trò mà con heo không chịu dậy, cứ ủn ỉn, rồi rên la.
Bà phải nhờ mấy du khách dùng que ngoáy vào tai, “cô nàng” mới chịu ngúc ngoắc cái đầu. Nhưng nó cứ đứng ì một chỗ, không chịu nhúc nhích. “Nữ thí chủ” đến chùa quy y! Một du khách bỗng hét lên: “Heo năm móng bà ơi! Heo này thiêng lắm, là cốt tinh của người đấy! Nó vào chùa là có duyên với nhà chùa rồi bà ạ”.
Lúc này, bà Khiên mới nhìn xuống chân con heo ấy, hóa ra là heo năm móng thật.( heo bình thừơng có 4 móng ) Khi ấy, bà mới giật mình nhớ lại giấc mộng đêm qua. Thì ra, nữ thí chủ đến chùa quy y chính là “nàng heo” này.
Bà Khiên không đuổi heo đi nữa, mà dùng nước lá tắm cho vị khách kỳ lạ này như rửa bụi trần. Nhà chùa nghe chuyện bà Khiên kể, rồi chứng kiến những biểu hiện lạ của “thí chủ mới đến cửa chùa”, cũng tin giấc mộng của bà Khiên là điềm báo của Phật. Vì thế, nhà chùa đã làm đủ các thủ tục cần thiết để nhận “cô heo” vào chùa. Bà Khiên chuẩn bị chỗ cho heo ở.
Với nhà Phật, con heo cũng là một kiếp sống, nên nhà chùa đối xử với heo như mọi thành viên trong chùa. Ban ngày nó chạy rong trong khuôn viên, tối chui vào ổ ngủ và đến bữa thì được các nhà sư mang đồ ăn cho. “Thí chủ “quy y kỳ lạ đó được mọi người đặt tên là Năm Hợi.
Nghĩ rằng nhà chùa có khả năng hóa giải nghiệp chướng heo “năm móng, ba giò” nên người dân quanh vùng dắt những con heo này đến gửi nhà chùa nuôi.
Thế là trên trời có đàn dơi, dưới đất có đàn heo ủn à ủn ỉn suốt ngày. Cũng từ ấy “cô heo” Năm Hợi trở thành “đại tỉ” của đàn heo đặc biệt tới hơn chục con. Điều đặc biệt là đàn heo không nghịch ngợm, không ủi đất, không phá hoại lung tung và rất lịch sự, không ị bậy bạ ra chùa. Ngày nào cũng thế, bất kể nắng mưa, sáng sớm Năm Hợi dẫn đầu, “đàn em” theo sau, xếp hàng thứ tự từ lớn đến nhỏ, lục tục ra khỏi sân chùa đi… khất thực.
Chúng cứ lặng lẽ đi dọc đường, qua các khu chợ, khu dân cư. Đoạn đường đàn heo đi khất thực dài hơn 3km, qua chợ Sóc Trăng, vào tận thành phố, rồi trở về chùa đúng lúc nhà chùa sắp tụng kinh. Người dân hai bên đường thấy đàn heo đi qua thì bố thí cho đồ ăn.
Có lẽ đã “quy y cửa Phật” nên chúng rất hiền, tuyệt nhiên không càn quấy, phá phách gì ngoài đường, ngoài chợ. Người dân cũng rất… tôn trọng đàn heo. Nhiều bà lão khi thấy chúng đi qua nhà mình liền mời dừng lại chơi rồi… dâng trầu và các chú ỉn thảnh thơi nhai bỏm bẻm, miệng đỏ tươi nhìn rất ngộ Ở chùa, đàn lợn cũng ăn theo chế độ ăn ngọ, tức là chỉ ăn uống trước 12h mỗi ngày, sau giờ đó là không ăn gì nữa. Khẩu phần ăn của chúng đơn giản như các nhà sư, khất thực được thứ gì thì ăn thứ đó.
Đồ ăn chủ yếu là đồ chay. Thế nhưng chẳng hiểu sao chúng lại lớn rất nhanh. Cô “Năm Hợi” đạt kích cỡ khổng lồ nhất, nặng đến 400kg, trông lừng lững như một chú voi con. Năm Hợi ở chùa được 7 năm thì “viên tịch” vì tuổi già. Sư phó Tú Linh của chùa Mã Tộc cho biết, cuối năm 1996, “Năm Hợi” chọn một nơi yên tĩnh ở góc vườn chùa nằm nghỉ rồi “hóa” một cách thanh thản, như thể tránh cho du khách viếng chùa khỏi trông thấy hình ảnh buồn.
Chính những biểu hiện kỳ lạ này mà khi “Năm Hợi” chết, nhiều người đã đến hương khói, cúng vái và họ đều xưng hô là “cô Năm Hợi”. Sau khi “Năm Hợi”, cũng như những anh, chị heo khác ở chùa chết, cũng đều được các sư chôn cất trong nghĩa địa sau chùa. Lễ mai táng cũng đầy đủ thủ tục, như mai táng người đã khuất.
Sau khi Năm Hợi “hóa”, một ngày, có người đàn bà từ Sài Gòn tìm đến chùa, nước mắt sụt sùi bảo với các nhà sư : “Nhiều lần người mẹ quá cố của con báo mộng rằng, mẹ con đầu thai làm heo, tên là Năm Hợi, sống ở chùa Mahatup (chùa Dơi, chùa Mã Tộc). Con mong các nhà sư cho con được làm lễ cầu hồn để linh hồn mẹ con được siêu thoát”.
Nhà chùa đã đồng ý để người phụ nữ này đạt được ước nguyện. Lễ cầu siêu hoành tráng xong xuôi, thì người phụ nữ này chỉ đạo thợ xây ngôi mộ, vẽ hình một con heo béo tốt lên bia, ghi tên Năm Hợi, với cả ngày “hóa”