Đây là một câu chuyện có thật của bác sĩ Trần Thanh Vy – bác sĩ bệnh viện Bình Dân, cô chia sẻ câu chuyện của mình trong buổi pháp thoại với đại đức Thích Phước Hoàng tại chùa Pháp Hoa, q3, tp – Hồ Chí Minh, có chư Tôn đức, tăng ni và trên 1000 Phật tử, khiến nhiều người xúc động.
Chồng cô cũng là một bác sĩ, đồng thời là một Phật tử, anh tên Phan Anh Tuấn, pháp danh Thiện Hạnh, cả hai vợ chồng đều công tác tại bệnh viện Bình Dân –TP HCM. Sau một thời gian kết hôn, vợ chồng Thanh Vy có tin mừng. Khi thai kỳ được 2 tháng, cô đi siêu âm thì bác sĩ sản phụ khoa báo tin là cô mang thai song sinh và thật không may, hai thai nhi dính chặt vào nhau.
Bác sĩ khuyên cô nên lấy thai nhi ra ngoài, phá bỏ để tránh cho gia đình cũng như xã hội một gánh nặng sau này. Thanh Vy rất buồn và lo lắng, bản thân là bác sĩ nên cô cũng hiểu nếu sinh hai bé ra thì cả hai cũng không thể bình thường như bao đứa trẻ khác, khi hai cơ thể dính chặt vào nhau, sự sống trở nên mong manh, phải chịu nhiều đau đớn, bất tiện và rất nhiều hệ lụy kéo dài suốt đời.
Nhưng là một Phật tử, nên cô kiên quyết không giết bỏ những đứa con của mình. Cô về nhà nói với mẹ là bà Trần thị Hường, mẹ cô cũng là một Phật tử thuần thành, pháp danh Diệu Hoa. Bà Diệu Hoa mới hướng dẫn Thanh Vy thỉnh tượng Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật về thờ và trì chú.
Hàng ngày cô cúng hương hoa, trái cây và trì tụng 108 lần Chú Dược Sư, đồng thời phát tâm ăn chay trường. Mỗi lần trì tụng, cô để một ly nước trên bàn thờ, với tâm hướng về Đức Phật Dược Sư cùng lời cầu nguyện cho thai nhi được vẹn toàn, trì tụng xong thì thỉnh ly nước đã được trì chú ấy rồi uống.
Kì lạ thay, trước ngày siêu âm tái khám, Thanh Vy bỗng nằm mơ thấy tay mình đang nâng bức tượng Bồ tát và bức tượng nhích nhích trên tay Thanh Vy. Sau đó cô nhìn lên bàn thờ thì thấy tượng Đức Dược Sư phóng ánh hào quang, Người mỉm cười và nói:
– Như vậy là ý nguyện của con đã thành rồi đó.
Thanh Vy mừng quá, lòng cô hoan hỷ vô cùng khi được nhìn thấy Phật. Cảm xúc dâng trào, xong thật đáng tiếc, cô chưa kịp quỳ lạy Phật thì giấc mơ ấy chuyển cảnh, cô thấy mình đi siêu âm tại bệnh viện. Người khám cho cô là một bác sĩ nam. Vị bác sĩ nói hai thai nhi không còn dính nhau nữa, do đã xuất hiện một màng vách ngăn ở giữa, tách đôi hai thai nhi.
Vị bác sĩ nói hai thai nhi không còn dính nhau nữa, do đã xuất hiện một màng vách ngăn ở giữa, tách đôi hai thai nhi. ( Ảnh minh họa )
Giật mình bừng tỉnh trong đêm, tâm trạng cô bồi hồi, hạnh phúc và âu lo xen lẫn vì không hiểu giấc mơ ấy báo hiệu gì, có khi nào cô lo lắng suy nghĩ cho ngày mai quá mà có giấc mơ như vậy chăng?
Qua ngày hôm sau, Thanh Vy đi siêu âm thì thật trùng hợp làm sao, người khám cho cô cũng là một bác sĩ nam. Sau khi siêu âm thật kỹ, bác sĩ nói hai thai nhi bậy giờ đã nằm tách biệt và xuất hiện một vách ngăn ở giữa. Đúng y chang như trong giấc mơ của cô vậy.
Thật kì diệu làm sao, nhờ thành tâm cầu nguyện Đức Dược Sư và trì Chú Dược Sư mà cô được cảm ứng không thể nghĩ bàn, hai đứa con của Thanh Vy được chào đời bình an và khỏe mạnh đến giờ.
Một linh ứng nữa của gia đình cô mà không thể không kể đến , đó là bà Diệu Hoa mẹ cô bị bệnh viêm gan siêu vi C, cái bệnh này rất khó chữa và tốn kém. Thế là mẹ cô cũng trì tụng Kinh Dược Sư và hàng ngày bà trì 108 lần Chú Dược Sư vào ly nước để uống.
Khoảng vài tháng sau, đi khám lại thì bác sĩ kết luận không còn thấy bệnh đó nữa. Tận sâu trong lòng mọi người trong gia đình cô luôn cảm ân sự gia hộ của Đức Phật Dược Sư. Phật pháp vi diệu, mong mọi người phát tín tâm và thực hành theo , chắc chắn sẽ được cảm ứng không thể nghĩ bàn.
___________________________
BÌNH PHỤC NHANH CHÓNG
( Cư sĩ Hương)
Một linh ứng rõ ràng nữa mà tôi được chứng kiến, xin kể lại để cúng dường các đạo hữu. Đó là hồi tôi làm thông dịch viên cho một công ty Bảo Hiểm, lần đầu tiên gặp bà Debbie, cũng là một nhân viên bảo hiểm tại đó. Sau khi tôi hoàn tất công việc, hai chị em có ngồi nói chuyện và bà tâm sự cùng tôi là bà có một cô con gái 18 tuổi, mới mổ cột sống và bác sĩ không chắc chắn cô ấy có đi lại bình thường được chăng?
Bà Debbie rất phiền não về việc này, sợ rằng trong tương lai con mình sẽ trở nên tàn tật, rồi cả cuộc đời phía trước của con bé không biết sẽ đi về đâu khi tuổi đời còn quá trẻ đây? Tôi bèn gửi tặng cho cô bé đó bài chú Dược Sư, và dặn dò bà Debbie nhắn nhủ cô bé chỉ cần giữ niềm tin khi đọc chú, thì dù cô bé không phải là Phật Tử, nhưng chắc chắn sẽ được cảm ứng.
Cô bé sau khi nhận được bài chú Dược Sư thì rất vui mừng và hàng ngày chăm chỉ trì đọc Chú Dược Sư như lời tôi dặn dò.
Tại viện điều dưỡng, lúc đó có một y tá người Thái Lan, có lẽ cô này cũng là Phật tử nên khi thấy cô bé đọc chú, thì dặn cô bé xin tôi thêm bức hình của đức Phật Dược Sư, để khi đọc chú thì chăm chú nhìn vào bức hình, sẽ nhiếp tâm hơn. Bé nhắn cho tôi, thật tuyệt vời không gì hơn, tại sao lại không nhỉ, và tôi đã gửi ngay hình Phật tặng cho cô bé.
Chỉ vài tuần sau, bà Debbie thật mừng rỡ khi gặp tôi. Bà ôm chầm lấy tôi và cám ơn rối rít, con bà đã không còn phải ngồi xe lăn nữa mà đã tập đi lại được rồi!
Các bác sĩ vô cùng ngạc nhiên vì cô bé lành bệnh trong một thời gian kỷ lục. Tôi nói với bà Debbie rằng nhờ lòng tin của cô bé mà đạt được sự nhiệm mầu của thần chú Dược Sư.
Đức Phật Dược Sư là một vị giác ngộ có lòng từ bi vĩ đại đối với tất cả chúng sinh. Ngài bảo vệ chúng sinh khỏi bệnh tật cả thể chất và tinh thần, những nguy hiểm, những chướng ngại trong cuộc sống, và giúp họ loại bỏ ba chất độc đó là sự dính mắc, hận thù và vô minh, đó là nguồn gốc của mọi đau khổ trên cõi đời này.
Ước gì con gặp Phật sớm hơn
Để không sân hận với tủi hờn
Niềm vui đã đến do hành Pháp
Sâu thẳm trong tim- sự biết ơn!
Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật __()__
( Câu truyện có thật của một thành viên trong nhóm )
Chị tên là Phương Ngọc, năm 1991, chứng kiến cảnh người cha bị bệnh sỏi ống mật, ngày đêm đau đớn mà thuốc thang không thuyên giảm, chị liền đến quỳ dưới tượng Phật, thành tâm thành ý, nguyện xin đổi 10 năm cuộc đời minh để cha được lành bệnh .
Điều kì diệu đã xảy ra, bệnh tình của cha chị không thuốc mà dần khỏi, cho đến nay cũng không phát tác trở lại, nhưng cũng từ đó, cuộc sống của chị dần lâm vào bế tắc.
Luật nhân quả đôi khi thật khó hiểu, chị những tưởng sẽ giảm 10 năm tuổi thọ vì điều nguyện của mình, nhưng không, mà là chị phải chịu qua 10 năm lận đận, khốn khó. Kể từ khi cha lành bệnh, chị gặp hết gian nan này đến khó khăn khác.
Đầu tiên là kinh tế lâm vào khó khăn, đến nỗi phải nhịn ăn sáng đế trả tiền thuê phòng, rồi phải thôi học, rời khỏi giảng đường đại học để lo kế sinh nhai…
Chị kết hôn nhưng nhanh chóng cuộc hôn nhân đó cũng đi vào ngõ cụt, kết quả, chị li dị và thêm gánh nặng nuôi hai đứa con thơ ăn học. Rồi không biết bao nhiêu xui xẻo, khốn khổ cứ đeo bám chị suốt 10 năm trời.
Nhân nào thì quả nấy, trời không phụ người có hiếu, qua hết 10 năm như lời nguyện của chị, cuộc sống đã sang một trang khác. Chị đăng kí học lại vào đại học y khoa Cần Thơ và tốt nghiệp một cách dễ dàng. Chị học thêm một năm ở bệnh viện. Từ Dũ, học xong lại được bác sĩ ở đó giới thiệu vào làm ở một bệnh viện khác với mức lương ngất ngưởng, công việc hết sức ưng ý và thuận lợi.
Đến nay, sự nghiệp chị đã ổn định, giàu có và thành đạt, con cái trưởng thành và rất ngoan ngõan, hiếu thuận. Chị cảm thấy mãn nguyện vì những gì gì mình đang có.
Chị chia sẻ câu chuyện của mình với mong muốn rằng mọi người sẽ có thêm chút niềm tin vào luật nhân quả, rằng trời luôn có mắt…
Cách đây đã lâu, có một bác đồ tể chuyên mua lợn về giết thịt để mang bán ở chợ. Nhà bác ta bên cạnh một ngôi chùa ( Biên Hòa). Hàng ngày, vào lúc mờ sáng là lúc sư cụ bên chùa theo lệ thường thức dậy tụng kinh. Và cũng theo lệ thường, sư cụ thúc chú tiểu dậy, gõ một hồi chuông mai.
Bấy giờ cũng là lúc bác đồ tể sửa soạn giết lợn, cho nên bác ta quen lấy tiếng chuông chùa làm chừng thức dậy làm việc hàng ngày. Cứ như thế, ngày nào cũng như ngày ấy không bao giờ sai lạc.
Một đêm nọ, sư cụ nằm mộng thấy một người đàn bà dắt năm đứa con nhỏ đến trước mặt mình rồi vái lấy vái để, miệng nói: “ Xin cứu mạng! Xin cứu mạng!” rối rít. Sư cụ hỏi người đàn bà:
– A Di Đà Phật! cứu mạng là cứu thế nào? Bần Tăng phải làm gì đây?
Người mẹ có bộ điệu hãi hùng ấy trả lời:
-Ngày mai xin Hòa thượng hãy cho đánh chuông chậm lại, như vậy mẹ con chúng tôi rất đội ơn.
Nhà sư tỉnh dậy không hiểu thế nào cả. Nhưng tờ mờ sáng hôm đó, vâng theo lời báo mộng, sư cụ chỉ lâm râm đọc kinh cầu nguyện mà không thức chú tiểu dậy thỉnh chuông.
Lại nói chuyện hôm ấy, bác đồ tể ngủ một giấc li bì. Mãi đến lúc mặt trời lên chừng một cây sào, tiếng chuông chùa mới bắt đầu vang rền làm cho bác giật mình choàng dậy.
Thấy trời đã quá trưa, bác không dám giết lợn như thường lệ, vì nếu làm thịt thi khi đưa ra đến chợ, chợ đã vắng người rồi. Tức mình vì lỡ mất buổi chợ, bác ta lật đật sang chùa trách sư cụ.
Sư cụ cho biết câu chuyện nằm mộng đêm qua để phân trần với ông hàng xóm, không phải lỗi tại mình.
Nhưng lúc bước chân về chuồng lợn của nhà mình thì bác đồ tể ngạc nhiên thấy con lợn cái trong chuồng mua ngày hôm qua toan giết thịt sáng đó đã đẻ được năm con lợn con. Vừa mừng vừa sợ, bác ta kể cho mọi người biết sự việc lạ lùng:
– Đúng là linh hồn người đàn bà ẩn trong con lợn cái đã tìm cách cứu bầy con của mình khỏi chết.Tự nhiên bác đồ tể đâm ra suy nghĩ. Bác thấy bàn tay của mình đã từng vấy máu biết bao nhiêu là sinh mạng.
Trong một lúc hối hận đến cực điểm, bác ta cầm cả con dao bầu chạy sang chùa bộc bạch nỗi lòng với sư cụ. Bác ta quả quyết cắm con dao của mình trước sân chùa, thề trước Phật đài từ nay xin giải nghệ.
(Trích “ Nhân Quả Tập Truyện” của Thiếu Tướng Tiến Sĩ Nguyễn Chu Phác)
Tôi có một ông bạn có chức, có quyền. Thấy ông cũng hay nghiên cứu ( tôi xin nhắc lại là “ nghiên cứu”) về đạo Phật và có ngợi ca đôi lời . Ông hay khuyên tôi nên đọc kinh ( Địa Tạng) và ( Bát Nhã Tâm Kinh).
Hầu như lần nào gặp tôi, ông cũng khoe mình theo đạo Phật nên chỉ muốn làm những việc thiện để phúc lại cho con cháu sau này.
Ông nói các cụ ta có câu: ” Nhất sinh hành thiện, thiện do bất túc!
Nhất nhật hành ác, ác tụ hữu dư.”
Tạm dịch:
Cả đời làm việc thiện vẫn chưa đủ!
Một ngày làm điều ác, ác đã có thừa.
Nên mình phải cố gắng làm theo để tích thiện cho con, cho cháu sau này.
Ít lâu sau, ông đến gặp tôi đưa một đơn tố giác cán bộ cấp trên, và yêu cầu tôi cùng kí vào đơn.
Ông nói:
– Bây giờ cậu ta cứ lên cấp vù vù, tiền vào như nước, còn mình thì cứ lẹt đẹt, toàn danh hão.
Trong đơn tố giác ông nêu ba tội:
+ Quan hệ nam nữ bất chính.
+ Tham nhũng.
+ Chuyên quyền độc đoán.
Đơn tố giác cả ba tội danh trên đều có chữ kí bịa, địa chỉ bịa, chứng minh nhưng cũng chỉ chung chung, không ai có thể xác minh được. ( Ảnh minh họa )
Đơn tố giác cả ba tội danh trên đều có chữ kí bịa, địa chỉ bịa, chứng minh nhưng cũng chỉ chung chung, không ai có thể xác minh được.
Tôi nói:
– Ông ấy là người tốt, không có ba tội danh như ông liệt kê đâu.
Ông bạn tôi cười đáp:
– Ông ngu lâu, viết như thế thì tội mấy nặng, mới gọi là tố giác. Hơn nữa đã gọi là thư nặc danh thì bịa thế nào chả được.
Tôi bảo:
– Anh theo Phật mà làm điều ác, dựng chuyện, bịa đặt, vu khống cho người ta như thế thì coi sao được? Ác quá!
Lúc này tôi mới giật mình để ý, ông bạn tôi nhếc mép cười nham hiểm, nhàn nhạt nói:
– Tôi hỏi là để thăm dò xem ông theo phe nào? Còn cái đơn này hay tương tự kiểu như này tôi đã gửi đi bốn, năm cái rồi. Mỗi đơn tôi viết một cách khác nhau, một kiểu khác nhau.
Tôi quá bất ngờ, chỉ biết thốt lên:
– Ác tụ hữu dư!
Anh ta quay sang cãi:
– Tôi đọc kinh Phật chỉ là để biết thế thôi! ( “Nhân quả “ với chả “Báo oán”), tôi chẳng tin gì cả! Với lại bây giờ chuyện như này thì nhan nhản, cứ vu cáo vào ai đương chức cũng trúng, tội nhiều ít làm sao mà người ta biết được? Phải cho bọn nó một phen…
Dáng vẻ ông ta lúc này rất ngạo mạn, hành vi thì hiểm độc vì ỷ mình cũng có ô dù.
Đơn tố giác của ông gửi đi mà mãi không có lay chuyển gì? Vì ở trên cũng tìm ra đây là đơn nặc danh, họ không thèm để ý truy xét…
Bẵng đi một thời gian, ông ấy đến gặp tôi, nét mặt già đi trông thấy, tiều tụy, hốc hác… Ông ấy nói với tôi, vừa thiểu não, vừa hoảng hốt cầu cứu:
– Mình nhận được tin đứa con trai duy nhất đang ở bên Mỹ bị tai nạn, đang nằm viện. Bạn nó điện về không rõ sống chết thế nào? Mình đang chuẩn bị sang bên ấy thì cơ quan an ninh gọi lên cảnh báo: ” Mình có thư tố giác là tham gia tổ chức chống phá Nhà Nước, có tên trong danh sách trên mạng”!
Mình bất ngờ quá quát lên: “Toàn là chuyện bịa đặt!”
Giải thích, cải chính mãi chưa thuyết phục được cơ quan an ninh, họ còn nói:
– Nếu không thừa nhận và hối cải thì còng số tám đang chờ đấy!
Kể với tôi xong ông quỵ xuống kêu lên:
– Trời ơi!!! Sao cái đứa nào nó bịa đặt mà ác thế???
Tôi bủn rủi tay chân, ruột gan nóng như lửa đốt, mồ hôi lạnh toát ra, có lẽ:
( TÔI PHẢI THEO PHẬT HỌC LẠI LUẬT NHÂN QUẢ)!
Tôi là một Phật tử tu tại gia, pháp danh Chơn Hiếu. Xin kể lại với quý vị câu chuyện kì lạ mà tôi đã trải qua.
Thời gian đó, đời sống của mẹ con tôi bị khủng hỏang, lận đận, trở ngại, khó khăn vô cùng. Một mình tôi phải gồng gánh, đứng mũi chịu sào trong cuộc sống bấp bênh. Đối đầu mọi mặt để nuôi sáu đứa con cho nên người hữu dụng khiến cho tôi phải lo nghĩ suốt ngày đêm, tinh thần sa sút tận cùng vì phải cố tìm lối thóat ổn thỏa để bảo bảo đời sống tương lai của các con tôi. Tôi phải lao tâm, tổn trí, mất sức, kiệt lực nên cuối cùng tôi bị suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể trầm trọng vì không ăn không uống, không ngủ được, đến nỗi uống một ngụm nước vào cũng bị đau bụng không thể tả, tê cứng thân thể, lục phủ ngũ tạng rối lọan. Đưa vô bệnh viện bác sĩ điều trị vẫn không hết đau, bác sĩ nói:
– Bệnh của chị không có thuốc chữa, chị phải tự chữa cho chị thôi.
Nghe bác sĩ nói thế làm tôi tuyệt vọng, khi đang đau ốm, sức tàn lực kiệt chỉ chông nhờ bác sĩ thôi, làm sao mình tự chữa trị cho mình được đây ?
Bệnh của chị không có thuốc chữa, chị phải tự chữa cho chị thôi. ( Ảnh minh họa )
Tôi lại nghĩ nhớ đến Bồ Tát từng đã cứu khổ tôi nhiều lần và hi vọng lần này Bồ Tát cũng sẽ chữa bệnh cho tôi, vì tôi không còn hi vọng nơi bác sĩ. Nằm trên giường bệnh tôi tha thiết niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát và khẩn cầu Ngài liên tục. Suốt ngày đêm tôi khấn niệm như thế, cầu cho tôi thoát khỏi bệnh để còn nuôi đàn con thơ dại cho lớn khôn. Tôi không sợ chết, chỉ thương các con bơ vơ không ai nuôi dưỡng khi tôi chết.
Vào một buổi trưa, tôi đang mơ màng, chập chờn trong giấc ngủ bất an. Bỗng nhiên trong đầu tôi hiện ra, thấy biết được một thứ dược liệu bỏ ngòai chợ có thể đem về làm thuốc, và còn biết cả cách làm thuốc tán cũng như cách uống. Sau đó tôi tỉnh lại, liền bảo con tôi tìm lượm về loại thuốc đó và làm theo cách thức mà tôi thấy lúc mơ mơ màng màng đó. Làm xong, con tôi đem vào bệnh viện lén bác sĩ cho tôi uống, khi đó tôi đang bị cơn đau thắt ruột gan đến nỗi tê cứng người, vì vừa hết thuốc giảm đau. Tôi uống liền hai muỗng cà phê thứ thuốc tán đó, vài phút sau cơn đau thắt ruột thắt gan liền hết ngay, y như thuốc thần và tôi cảm thấy trong người khỏe khoắn lạ kì.
Mọi người trong khu bệnh đó đều ngạc nhiên. Sau khi hết đau, tôi thấy đói bụng và đòi ăn. Con gái lớn của tôi thấy mẹ đòi ăn, mừng quá đi mua thức ăn cho tôi. Đến chiều tối, mọi khi cứ hết thuốc giảm đau của bệnh viện là ruột gan lại đau thắt lại, bữa nay không còn thấy đau nữa. Cứ thế, mỗi ngày tôi uống hai muỗng thứ thuốc thần đó trước bữa ăn, cơn đau biến mất và một thời gian ngắn sau tôi bình phục trở lại. Uy lực của việc trì niệm danh hiệu Quán Thế Âm thật là kì diệu, không thể nghĩ bàn.
Làm bạn : nếu bạn nào thắc mắc thần dược ấy cụ thế như thế nào thì bạn nên hiểu, thần dược chính là câu Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát ! Và lòng thành của mỗi người, cứ kiên trì niệm như thế sẽ được cảm ứng, mỗi người một cách khác nhau chứ không phải ai cũng phải uống loại thuốc như thế.
( Hạnh Đoan )
Đứa con gái đầu của một người quen của tôi – cư sĩ Diệu Ân, tên là Betty, rất xinh đẹp, nhưng cháu bị vướng căn bệnh lạ, khắp người nổi ghẻ, da sần đỏ sưng nhức giống như chứng bệnh vảy nến. Trị đủ thuốc mà không thuyên giảm.
Betty rất khổ tâm. Betty và mẹ thường tụng kinh sám, bố thí cúng dường để cầu mau hết bệnh. Chứng bệnh này kéo dài suốt mấy năm, tôi cho rằng đây có thể là bệnh nghiệp ( chưa thể dứt liền, có lẽ là do thời gian trả ác báo chưa hết).
Dạo gần đây, bệnh Betty đã thuyên giảm nhiều, đang dần khỏi hẳn. Một hôm, dì Phương của Betty nằm mơ thấy ông ngoại bé vốn là một cư sĩ ( mất đã lâu) giờ hiện thân đến với hình dáng một tu sĩ cao lớn, trang nghiêm. Ông nhắc nhở thế này : ” Betty bị bệnh như vậy là do đời trước nó hay ăn ốc. Bảo nó phải kiêng sát sinh và không được ăn ốc nữa”!
Tỉnh dậy, Phương kể chuyện mộng cho chị mình nghe. Diệu Ân giật mình nhớ lại, đúng là Betty rất thích ăn ốc, nó mê món này đến nỗi thường càu nhàu mẹ:
– Con thích ăn ốc mà mẹ cứ cấm cản hoài, cứ cho con ăn đi, được ăn thỏa thê rồi thì dù con có…chết cũng cam!
Hóa ra là vậy. Diệu Ân bảo tôi mỗi lần nhìn thấy Betty ngồi gẩy mấy cái vảy ghẻ trên minh, giống hệt cảnh ngày xưa nó ngồi gỡ mài ốc.
Hóa ra bệnh nghiệp của Betty là đây. Tôi chợt nhớ tới các giai nhân, người mẫu…thường tuyên bố họ thích ăn ốc nhất. Chuyện này có thể cảnh giác chút nào chăng? Betty rất đẹp, tôi thầm nghĩ nếu không bị chứng bệnh kia thì nó cũng thuộc hàng hoa hậu, hoa khôi. Nhớ tới câu nó nói: ” Cho con ăn rồi con…chết cũng được!”. Mà tôi buồn cười. Nói thì dễ, tưởng tượng chết cũng dễ, nhưng một khi vướng chứng bệnh lạ khiến giai nhân phải chết, cả lòng thì quả không sung sướng chút nào.
Sát sinh chính là đang tạo ác nghiệp, chẳng riêng gì loài ốc.
Viết tới đây tôi bỗng nhớ tới chuyện cô Nhã ở bên Mỹ, ( tên nhân vật đã được thay đổi vì lí do tế nhị). Nhã là Phật tử thuần thành, rất siêng tụng kinh niệm Phật, chuyên sang băng đĩa giảng kinh tặng biếu cho người.
Có lần Nhã than với tôi cô hay bị đau nhức đầu, đau như búa nện.
Tôi ngạc nhiên vì thấy bình thường Nhã ( tu) dữ lắm, vậy thì nguyên nhân gì khiến cho Nhã hay bị nhức đầu?
Tính Nhã dịu hiền, luôn hi sinh lo cho gia đình. Chồng Nhã hiền thiện, tốt tính; tối ngày chăm chỉ làm việc nuôi vợ con. Gia đình họ sống cực kì hòa thuận hạnh phúc, đến nỗi họ nguyện đời đời kiếp kiếp xin được sống bên nhau.
Cho dù gặp thời buổi nhiều người kiếm việc khó khăn, họ vẫn ung dung thọ hưởng phúc báu thiện lành của mình, không phải bươn chải nhọc nhằn mà cuộc sống vẫn rất sung túc, nhàn hạ, muốn gì có đó. Đặc biệt cả nhà đều rất mộ đạo, vậy thì then chốt bệnh nhức đầu của Nhã nằm ở đâu?
Suy nghĩ mãi, có lần tôi hỏi Nhã:
– Vậy Nhã có hay… đập đầu cá không?
Nhã cười đáp:
– Dạ con không có sát sinh. Bên Mỹ này cái gì họ cũng bán sẵn, chế biến sẵn hết, còn cá thì…
– Thì sao?
Nhã từ tốn kể:
– Hai cậu quý tử nhà con rất thích ăn cá tươi. Nhất là cá lóc. Con ra chợ cứ việc chỉ con cá nào mình ưng ý, rồi ung dung bỏ đi mua hàng, một lát quay lại, thì mấy thằng Mễ ( Mexico) đã làm sẵn cho mình, nên con không nhìn thấy cảnh giết chóc.
– Thế thì, dù Nhã không giết, nhưng chọn cá sống rồi bảo người ta giết, thì tội cũng giống như mình làm. Trong giới cấm sát sinh: “Phật không cho tự giết hay bảo người giết, và nếu nghi người giết vật đó vì mình thì cũng không được phép ăn. Nhã không nhớ hay sao?”.
– Dạ… nhưng mà các cháu Hòa, Hiệp, hễ thức ăn không ngon thì chúng không nói gì, nhưng chẳng động đũa tới, con sợ chúng ốm gầy rồi sinh bệnh…mà ăn cá chết mùi vị của nó nhạt nhẽo lắm, không có ngon như cá tươi sống ..ạ!
– Vâng! Bây giờ cô nóng ruột vì con trai ăn không được tươi ngon nên đành để người đập đầu cá cho nó ăn, sau này khi mấy con cá tìm đến…báo oán theo đúng luật nhân quả. Chừng đó các con cô sẽ lãnh hậu quả đau đớn tổn thương tương tự… Cô có kham nổi không? Thà là bây giờ chịu cho chúng ăn dở một chút mà ngày sau không bị ác báo ( vẫn là giải pháp hộ mình tốt nhất). Cô không thấy gương thân quyến của Phật: “Cả dòng họ Thích Ca trong tiền kiếp xa xưa ( từng là dân chài) vì giết một đàn cá lớn ăn thịt mà sau này đến khi những con cá đầu thai làm người ( là vua Tỳ Lưu Ly và đội quân của ông) nó đã truy sát giết cả dòng tộc Ngài hay sao?”.
– Dạ con hiểu rồi, con sẽ không làm vậy nữa!
Vài tháng sau, Nhã phone cho tôi, kể rõ tự sự:
– Thưa cô, giờ thì con chừa sát sinh thực rồi. Hồi trước con hứa với cô mà con còn lưỡng lự, vì quá thương gia đình, muốn chồng và con được ăn ngon. Nhưng tuần rồi, con ra chợ vừa chỉ vào con cá mình ưng ý xong, ngay lúc con quay lưng đi, thì thằng Mễ ( người Mê Xi Cô) đập đầu con cá một cái ( bốp), con ở cách đó chừng vài bước, nhưng đầu con lập tức nhức bưng bưng và con quỵ xuống, ngoái lại nhìn hàng cá, con liền hiểu hết mọi chuyện. Con biết vì sao mình thường bị nhức đầu rồi. Cô nói đúng, con xin sám hối và nguyện từ nay bỏ hẳn sát sinh, con đã tỉnh ngộ và hiểu hẳn rồi cô ạ!
(Trích “Hiện Tượng Báo Ứng Nhân Quả”- Hạnh Đoan )
(Trích ” Những chuyện có thật về Nhân Quả và Phật Pháp nhiệm màu” – Hoàng Anh Sướng)
Bà Nguyễn Thị Chi quê ở miền Trung, lên vùng Đức Trọng, Lâm Đồng lập nghiệp từ những năm 1980. Chồng bà tên Trung cùng quê, gia cảnh đều nghèo khó. Thời gian đầu hai vợ chồng đi làm thuê cuốc mướn sống tằn tiện qua ngày.
Sau vay mượn tiền của anh em họ hàng, bà mở quầy bán gà vịt tại chợ thị trấn. Lúc đầu, ngày bà chỉ túc tắc bán được một vài con. Những ngày giáp Tết hai mùa cưới, bà thịt cả trăm con, đủ loại gà, vịt, thỏ ,chó, ngan ngỗng… bà kể thu nhập trung bình mỗi ngày năm trăm ngàn. Những ngày đông khách bà kiếm vài triệu ngon ơ. Từ đấy, kinh tế nhà bà phất lên như diều gặp gió, cả làng ngưỡng mộ.
Một chiều nọ, có bà cụ già tay bị tay gậy đến nhà bà xin ăn. Nhận chút thực phẩm và ít tiền từ tay, bà cụ già ăn xin bảo: “Cô ơi! Nhà cô sắp có đại họa rồi đấy, cô nghe tôi nên dừng lại nghề sát sinh, phát tâm ăn chay niệm Phật để giải nghiệp, kẻo sau này hối hận cũng chẳng kịp đâu.”
Nghe vậy, bà Chi tức giận gắt gỏng: ” Bà này ăn nói luyên thuyên. Xéo ngay ra khỏi nhà tôi. Từ giờ đừng có vác mồm đến đây xin ăn nữa nhé.”
Một tuần sau, có gia đình ở thị trấn Liên Nghĩa tổ chức đám cưới con trai, đặt bà Chi làm một tạ thịt chó. Chồng bà phải mất hai ngày xuôi ngược khắp nơi thu mua cả thảy được chín con. Buổi chiều, trong lúc ngồi đun nước sôi chuẩn bị làm thịt, nhìn vào cái lồng nhốt chó bỗng dưng bà bị hút vào con chó cái màu vàng. Nó có chửa bụng khá to, nằm bệt dưới lồng vì mệt. Chợt bắt gặp ánh mắt của bà Chi đang nhìn, con chó vàng liền nhỏm dậy.
Nó dúi cái mõm qua ô lồng sắt, mắt nhìn bà như van lơn, ư ử kêu như van xin tội tình. Bà Chi chợt rùng mình. Bà hớt hải chạy lên nhà bảo chồng:
– Ông ơi, con chó vàng nhốt ở lầu dưới gốc cây ngọc lan đang có chửa. Nó vừa van xin tôi đấy. Hay là mình để nuôi vài tuần, chờ nó đẻ xong rồi giết thịt sau ông nhé.
– Bà có điên không đấy? Con chó biết nói à mà bà lại bảo là nó van xin bà. Vớ vẩn!
Nói đoạn, ông bước huỳnh huỵch ra sân, cầm cái chày bằng gỗ lim đen bóng. “Đốp!” Bà Chi chạy ra đến nơi đã nhìn thấy con chó vàng nằm chết duôi, không kịp tru lên một tiếng. Hai mắt nó ướt nhẹp. Mổ bụng, lôi ra năm con chó con còn chưa đủ hình hài, bà Chi bỗng thấy sống lưng ớn lạnh.
Bà Chi chạy ra đến nơi đã nhìn thấy con chó vàng nằm chết duôi, không kịp tru lên một tiếng. ( Ảnh minh họa )
Sáu giờ chiều mới làm thịt xong chính con chó. Ông Trung chồng bà phải huy động thằng Tuấn, con trai cả đang học lớp 12 nghỉ học thêm để phụ ông trở lên thị trấn.
Hai bố con đi hai xe. Buổi tối, bà Chi chờ mãi không thấy chồng và con về. Sốt ruột, điện thoại cho chồng thì nghe tiếng gắt: “ Tôi với thằng Tuấn đang uống rượu trên đám cưới, khuya mới về. Bà cứ ngủ trước đi.”
Mười một giờ đêm chồng con vẫn chưa về, ruột bà Chi nóng như lửa đốt. Tiếng chuông điện thoại kêu reng. Tiếng thằng Tuấn hốt hoảng: ” Mẹ ơi! Bố con bị tai nạn chết rồi!”
Sau này, thằng Tuấn kể, tan bữa tiệc cưới, hai bố con phóng xe về. Bố đi trước, con đi sau. Đột nhiên, xe ông Trung đâm thẳng vào gốc cây bên đường. Xe máy đổ rầm, ông Trung ngã vật xuống đường, đập đầu vào tảng đá, chán ông vỡ toang.
Sau cái chết của chồng, nhớ lại lời dặn của bà cụ ăn xin hôm nào, bà Chi thấy rờn rợn. Lẽ nào lời tiên tri về đại họa giáng xuống nhà bà là thật? Nhiều đêm không ngủ, nằm vắt tay lên trán, bà cũng định bụng dừng lại nghề giết mổ. Nhưng nghĩ đến khoảng lãi tiền triệu, tiền trăm mỗi ngày, bà lại thấy tiếc. Vả lại, hai thằng con trai đang tuổi ăn tuổi lớn. Bà không cố gắng ky cóp, sau này lấy đâu ra tiền mà lo lắng tương lai cho chúng.
Một hôm bà Chi bảo Tuấn:
– Con học xong lớp 12 thì ở nhà giúp mẹ. Học hành tốn kém. Ra trường lương ba cọc ba đồng sống sao nổi.
Tuấn nghe lời mẹ. Vài tháng sau, nó trở thành anh đồ tể sắc tay. Tìền kiếm như nước. Gái trong vùng mê Tuấn như điếu đổ. Nhiều gia đình muốn gả con cho Tuấn vì Tuấn vừa khỏe mạnh, chịu thương chịu khó lại kiếm được tiền. Cuối cùng, Tuấn quyết định lấy cô Kim, hoa khôi của thị trấn.
Cưới con trai đầu, bà Chi làm cỗ tưng bừng suốt ba ngày ba đêm. Khách mời dự đông nườm nượp. Gà, vịt giết không biết bao nhiêu mà kể. Bá Chi khan hết cả tiếng nhưng mặt vẫn ngời ngời như hoa. Song niềm vui ngắn ngủi chẳng tày gang.
Trước hôm đón dâu một ngày, đêm muộn, khi khách về hết, chú rể lụi hụi mắc lại đèn chùm trong phòng ngủ, chẳng hiểu hí hoáy thế nào mà bị điện giật chết. Ngày cưới trở thành ngày tang. Bà Chi ngã ngửa người, khóc ngất lên ngất xuống.
Gắng gượng lo xong đám tang cho con, bà Chi lăn đùng ra ốm. Suốt ngày nằm bệt trên giường. Mỗi bữa chỉ giúp được vài thìa cháo loãng. Đúng ba tháng, mười ngày, bà mới nhóc nhách ngồi dậy, lần thành giường tập đi. Bà bắt đầu tin vào luật nhân quả, vào ác nghiệp sát sinh mà mình gieo rắc suốt mười mấy năm.
Bà thỉnh mời các nhà sư đến nhà, lập đàn tế lễ giải nghiệp suốt ba ngày ba đêm. Rồi mua cả tạ lươn, ốc, cá phóng sinh… Bà bảo thằng Công, con trai út bà: ” Mẹ cả đời vất vả hành nghề sát sinh cũng chỉ vì muốn tạo dựng tương lai tốt đẹp cho con. Con gắng học cho tốt, có công ăn việc làm đàng hoàng, tử tế, đỡ khổ con ạ.”
Công đang học lớp 12 trường huyện. Nó học rất giỏi, mơ ước thi vào trường đại học An Ninh. Một buổi chiều, đi đá bóng cùng đám bạn về, nó thấy đau đầu gối chân trái. Cứ nghĩ là do chạy nhiều nên nó cứ cắn răng chịu đau. Mấy tuần sau, đầu gối sưng to, nhức nhối suốt ngày đêm không ngủ, bà Chi đưa nó đến bệnh viện tỉnh Lâm Đồng khám.
Xét nghiệm khối u to như quả trứng gà, bác sĩ kết luận nó bị ung thư xương. Nó khóc ầm lên. Bà Chi thì chết lặng. Nghe bác sĩ tư vấn, bà Chi đưa thằng Công xuống bệnh viện Chợ Rẫy điều trị.
Năm tháng sau, khối u càng to, bà chuyển nó về bệnh viện đa khoa Sài Gòn, điều trị thêm năm tháng nữa. Bác sĩ khuyên nên cắt chân nhưng thằng Công giãy nảy. Nó mới 18 tuổi đầu, cắt chân đến tận đùi thì đâu còn ước mơ trở thành chiến sĩ an ninh.
Bà Chi nuốt nước mắt đưa con về nhà, chữa trị bằng Đông y. Cứ nghe đồn ở đâu có thuốc hay, thầy giỏi là bà lần mò tìm đến. Của nả trong nhà lần lượt đội nón ra đi. Cho đến lúc sạch sành sanh cũng là lúc khối u ở chân Công to như cái cối đá lỗ.
Da căng mọng, tím tái, gân xanh nổi chằng chịt trông chả khác chi cái mề gà. Một ngày, khối u vỡ ra. Máu mủ chảy lênh láng khắp giường. Mùi hôi thối bốc lên nồng nặc. Ruồi nhặng từ đâu bay đến ào ào. Bà Chi phải giăng mùng kín mít suốt ngày. Chốc chốc, bà cầm cái quạt, đập đánh “độp” vào thành màn xác ruồi rơi rào rào. Thế mà một lúc sau, cả cái màn lại đen kịt ruồi bâu. Mùi hôi thối bốc ra cả những nhà xung quanh. Hàng xóm phải đóng cửa nhà kín mít.
Công người gầy guộc chỉ còn da bọc xương. Khối u ở chân trông càng to càng khủng khiếp. Vết loét ngày càng lan rộng, trông như miệng con chó thui. Nó kêu la rền rĩ suốt ngày đêm vì đau đớn. Nghe người trong thôn mách dùng nhựa con cóc nhỏ lên vết loét, khối u sẽ khỏi, bà Chi đi bắt liền năm con, dùng dao chặt đứt đôi chân rồi quét lên thành miệng vết loét. Tiếc rẻ, bà dùng vải xô, bó chặt thân năm con cóc lên trên.
Thằng Công hét toáng lên như con lợn bị chọc tiết. “ Xót quá mẹ ơi! Con không chịu được nữa đâu. Mẹ giết con đi. Con đau đớn lắm.”
Một buổi chiều, một nhà sư già bộ hành ghé vào nhà bà xin cốc nước. Biết hoàn cảnh éo le của bà, nhà sư bảo:
– Cháu nó bị thế này là do gánh nghiệp sát sinh của chị. Mệnh cháu hết rồi. Không cứu được đâu. Chi bằng, chị đưa cháu đến Quán Thế Âm Tịnh Thất ở xã Hiệp An, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Ở đó có Ban Hộ Niệm Phật A Di Đà. Chị nhờ sư trụ trì và các Phật tử trong Ban Hộ Niệm tụng kinh niệm Phật, trợ niệm, trợ duyên, giải nghiệp cho cháu bớt đau đớn, ra đi thanh thản, vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc.
Sư chú Hiền ở chùa Quán Thế Âm kể:
– Lúc ra mở cửa, vừa nhìn thấy cái chân voi với khối u khủng khiếp bốc mùi hôi thối nồng nặc, máu mủ chảy tong tỏng. Tôi muốn buồn nôn sởn hết cả da gà. Đã nhận hàng trăm ca hộ niệm nhưng chưa bao giờ tôi thấy có người bệnh nào lại trong tình trạng kinh khiếp đến như vậy. Nhưng nhìn vào khuôn mặt xác xơ, khổ đau tột cùng của người mẹ cùng lời van xin đến tội tình: “ Xin sư thầy rủ lòng thương cứu vớt. Mẹ con con đã hết đường sống rồi.”
Nhìn cảnh cháu Công còn da bọc xương nằm rên rỉ, tôi không đành lòng chối từ. Tôi liền thưa chuyện với sư trụ trì, Đại đức Thích Giác Nhàn. Thầy bảo: “ Cửa Phật từ bi che chở mọi khổ đau của kiếp người. Con cứ nhận họ vào.”
Từ hôm đó, hàng ngày, vào mỗi buổi sáng và chiều, sư chú Hiền, sư chú Sơn và 40 Phật tử trong Ban Hộ Niệm, đã ngồi xếp bằng thành vòng tròn, tụng Kinh niệm Phật cho Công.
Mùi hôi thối bốc ra nồng nặc khắp căn phòng. Một số người không chịu được đã chạy ra ngoài nôn thốc nôn tháo. Tiếng kêu la của Công nhiều khi áp cả tiếng mõ, tiếng chuông.
Hai sư chú và các Phật tử vẫn dốc lòng nhất tâm hộ niệm suốt hai tiếng. Máu mủ từ vết loét to ngoạc nhỏ tỏng tỏng xuống tấm mền lót bên dưới. Một lúc, lại phải thêm tấm mền khác. Ngày ba lần, sư chú Sơn đi găng tay y tế, luồn qua miệng khối u, thọc sâu vào bên trong đến tận khuỷu tay, móc dần những cục thịt thối ra để cho Công bớt đau.
Chú làm ân cần dịu dàng, khuôn mặt Chú hiền từ. Vừa làm chú vừa nói với Công: ” Sư chú biết con đau lắm. Nhưng nếu con cứ kêu rên như thế sẽ khiến con càng đau, càng mệt. Con hãy nương vào lời tụng niệm A Di Đà Phật mà các bác, các cô chú ở đây đang tụng cho con. Và con hãy tụng theo. Sư chú tin, con sẽ bớt đau.”
Công làm theo. Từ ấy, nó thấy bớt đau nhiều.
Sư chú Sơn kể: “ Mấy ngày sau, Công không kêu rên nữa. Cậu thành tâm niệm Phật, điều kỳ lạ là mùi hôi thối bớt dần. Ai cũng ngạc nhiên và càng tin vào sự vi diệu của đạo Phật. Vì thế, càng hết lòng hộ niệm cho cậu ấy.”
Một tháng sau, vào buổi sáng, khi sư chú Sơn đang lựa tay khẽ khàng móc từng mảng thịt thối trong khối u khổng lồ, Công nhẹ nhàng bảo:
– Chú Sơn ơi! Tối qua con nằm mơ thấy Phật Di Đà về đón con đi. Ngài mặc áo vàng rực, tay cầm đóa sen vàng. Ngài mỉm cười với con chú ạ!
– Thế con có sợ chết không? – Chú Sơn hỏi!
– Con chỉ sợ đau chứ không sợ chết. Chú vẫn bảo con: ” Nếu con thành tâm niệm Phật hàng ngày, con sẽ được vãng sanh về Cõi Tây Phương Cực Lạc là gì.”
Sư chú Sơn mỉm cười gật đầu. Công bảo:
– Con muốn gặp mẹ con.
Khi mẹ ngồi bên, Công nói, giọng nhẹ nhàng nhưng rành rọt:
– Mẹ ơi! Con bị bệnh thế này là do mẹ tạo nghiệp sát sinh suốt 15 năm đó. Mẹ đừng làm nghề giết mổ gà vịt nữa nhé. Dù cho phải đi ăn xin mẹ cũng không được làm. Mà mẹ chuyển hẳn sang ăn chay trường đi. Còn ăn mặn là cộng nghiệp cho những người làm nghề giết mổ.
Buổi chiều hôm ấy, Công trút hơi thở cuối cùng trong tiếng mõ, lời Kinh của Ban Hộ Niệm Chùa Quán Thế Âm. Công ra đi nhẹ nhàng, thanh thản. Không rên la, không đau đớn. Khuôn mặt hồng hào như người đang ngủ. Điều kì lạ là toàn thân tỏa mùi thơm như hương trầm và mềm mại. Mềm đến độ sư chú Sơn nhấc cả hai tay của nó lên, lắc lư. Cổ tay, những ngón tay trắng hồng của nó lắc lư theo như múa.
Cả khán phòng bỗng vang lên ” A Di Đà Phật” như tiếng reo vui niềm tin của những người con Phật vào Phật pháp nhiệm màu. Cũng ngay buổi chiều hôm ấy, mẹ cậu đã xin sư trụ trì xuống tóc đi tu.
______________________
Hỏi:
– Tôi thường nghe nói rằng con cái sung sướng nhờ phước đức cha mẹ ông bà để lại, và ngược lại ( đời cha ăn mặn, đời con khát nước). Nếu ta làm điều tốt tạo phước đức thì những người xung quanh ta cũng được hưởng nhờ cho dù họ chẳng làm phước gì cả phải không?
Đáp:
– Phước đức của một người có thể ảnh hưởng tới những người xung quanh ( gồm cả ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu lẫn cả những người sống gần ta như hàng xóm, đồng nghiệp…). Có những cách ảnh hưởng như sau:
1. “Đồng thanh tương ứng”: ông bà cha mẹ tạo phước đức, thì nhân quả sắp xếp cho họ sinh ra những người con, cháu đã tạo phước trong quá khứ, khi sinh ra chúng được sung sướng, vinh hiển. Phước đó tự chúng đã tạo trong qúa khứ, còn ông bà cha mẹ do cũng có phước nên sinh ra con cháu vinh hiển để được hưởng tiếng thơm… ngược lại ông bà cha mẹ tạo ác nghiệp cũng tương tự như thế.
2. Các vị đã tạo công đức tái sinh lại làm cháu chắt của chính mình để hưởng phước( làm ác thì ngược lại ).
3. ” Chiêu cảm tội phước”: người có phước lớn hoặc nghiệp nặng có thể chiêu cảm khiến cho phước hoặc nghiệp xấu của những người xung quanh trổ ra khi họ xuất hiện. Như một người cha làm việc ác quá lớn, sau đó một thời gian con anh ta bị tai nạn chết. Đáng lí đứa con phải hai kiếp sau mới bị tai nạn chết, nhưng nay quả báo ấy trổ ra luôn ở hiện tại ( thực ra phước hay tội tiềm ẩn của mỗi người đều rất nhiều, đứa con đâu có thiếu gì nghiệp ăn mặn, sát sinh từ vô lượng kiếp qua). Hay một người chồng do phước báo lớn nên chắc chắn lấy được vợ đẹp, nhưng khi lấy vợ anh ta lại chọn một người nhan sắc bình thường, không đẹp, một thời gian sau, dung mạo của người vợ sẽ thay đổi, trở nên xinh đẹp, đó là do phước của người vợ, có điều đáng lí phải ba kiếp sau cô ta mới đẹp được như thế, nhưng do phước của chồng chiêu cảm khiến phước của cô ta trổ ra sớm. Có một số người rất đặc biệt, đi tới đâu là mọi người xung quanh xui xẻo đến đó, cũng do nguyên lí này.
4. ” Bình thông nhau”, do có duyên sâu nặng và nợ nần với cha mẹ, con cái có thể chịu tội thay cho cha mẹ, sự chịu tội này coi như trả xong món nợ với cha mẹ ( Như chuyện ” Phúc lành” đã đăng trong nhóm ‘Luân hồi & nhân quả’ ). Thường thì ta sẽ gặp trường hợp ngược lại, là do cha mẹ có nợ với con cái, nên phước của cha mẹ con cái hưởng ( của thừa kể) đây coi như trả nợ. Các chúng sinh có duyên nợ sâu đậm với nhau cũng tương tự như vậy.
(Trích ” Những chuyện có thật về Nhân Quả và Phật Pháp nhiệm màu” – Hoàng Anh Sướng)
Làng Phú Thành ( tên địa danh đã được thay đổi) có nhiều người hành nghề đồ tể. Nhưng nổi đình nổi đám nhất vẫn là gia đình anh Trung ( tên nhân vật đã được thay đổi vì lí do tế nhị) có truyền thống ba đời làm nghề sát sinh. Ông nội Trung vốn là người chuyên giết mổ gia súc, chế biến thức ăn cho binh lính Pháp tại các doanh trại thời Pháp thuộc.
Thừa hưởng nét tài hoa của ông nội, bố Trung nấu nướng rất ngon. Quán lòng lợn tiết canh của ông trên con đê đầu làng lúc nào khách cũng đông nườm nượp.
Nổi tiếng thế nhưng phải đến đời Trung cơ nghiệp của gia đình đồ tể giàu truyền thống ấy mới thực sự phất. Sáu tuổi đầu, Trung đã được bố tẩm bổ mỗi sáng một bát tiết tươi và quả mật lợn nóng hổi. Không biết có phải nhờ công dụng của cả núi mặt lợn khổng lồ ấy không mà Trung lớn nhanh như thổi ,khỏe như trâu.
Và nghiễm nhiên, Trung trở thành người kế thừa nghiệp đồ tể của tổ tiên. Kỹ năng giết mổ lợn của Trung đạt đến trình độ thượng thừa. Nhanh như chớp, một nhát chày ngang gáy, con lợn quay lơ, không kịp kêu một tiếng ( đốp). Con thứ hai đổ gục. Cứ thế chỉ trong vài tích tắc cả đàn lợn nằm lăn quay. Mười chín tuổi, Trung đã đòi cưới vợ. Vợ Trung tên Hương 18 tuổi, đảm đang, tháo vát, con ông chủ tiệm thịt chó nổi tiếng làng bên.
Lấy Hương, Trung như hổ mọc thêm cánh. Kinh doanh càng phát đạt. Dịp gần Tết, mỗi ngày thịt cả chục con, Trung kiếm tiền như nước. Năm 2000, vợ chồng Trung xây cất ngôi biệt thự ba tầng rộng rãi, với lối kiến trúc nửa tây nửa tàu vênh váo vươn khỏi lũy tre làng.
Ở một làng thuần nông như Phú Thành, ngôi biệt thự đó hoành tráng, rực rỡ, xa xỉ như cung vua phủ chúa. Có điều, trầm trồ với vẻ lạ mắt của ngôi biệt thự hoành tráng thế thôi, chứ nói về gia đình Trung, người dân Phú Thành nổi tiếng về truyền thống hiếu học, trọng chữ nghĩa, nhiều người thành danh trong xã hội, vẫn có gì đó khinh miệt:
– Ối dào! Dân đồ tể ý mà, nhiều tiền thật đấy nhưng thất học thì cũng chẳng vẻ vang gì!
Các bậc cao niên trong làng thì ngồi uống trà với nhau rủ rỉ:
– Cái nghề sát sinh là bạc phúc lắm. Tôi cứ ngấm ngầm theo dõi suốt mấy chục năm nay, ở cái làng này, phần lớn gia đình làm nghề đồ tể đều có hậu vận không tốt, gặp họa cho đời sau. Như vợ chồng ông Long mổ lợn ở đầu thôn.
Hai vợ chồng ở với nhau suốt mấy chục năm mà không có nổi mụn con. Về già, cả hai vợ chồng đều bị tai biến nằm liệt giường liệt chiếu, thối tha thối thịt. Đến lúc chết, chính quyền xã phải đứng ra lo tổ chức ma chay.
Rồi anh Trí, chủ cửa hàng thịt chó gần chùa làng, 39 tuổi đã mắc bệnh ung thư gan. Bộ xương to như cái trống. Nằm kêu rên ư ử suốt ngày đêm. Đau đớn vật vã đến tận lúc chết.
Mà nói đâu xa, ông nội tay Trung kia, sáng sớm tinh mơ nồi đun chảo nước sôi làm lợn. Chả biết trúng phong hay ngủ gật, ngã vật xuống đất, đầu vùi vào chảo lửa. Đến lúc vợ con phát hiện, nhấc dậy thì cả cái mặt bị lột da, trắng bệch như phủ lợn vừa cạo lông. Cả nhà chết khiếp.
Ông bố Trung, khi đó mới ngoài 50 tuổi. Buổi trưa, ra đình làng uống nước với cụ thủ từ. Vừa rít điếu thuốc lào, ông kêu tức ngực, khó chịu trong người. Ông lững thững đi về nhà nằm nghỉ. Lát sau, nghe tiếng kêu cứu thất thanh của bà vợ: ”Ôi làng nước ơi! ông nhà tôi bị làm sao thế này”.
Hàng xóm chạy đến, thấy ông nằm bất động trên giường, lay không cựa, gọi chẳng thưa. Khi bác sĩ đến kiểm tra mạch, đo huyết áp, bỗng dưng toàn thân ông co giật đùng đùng, rồi học ra một đống máu. Ông chết một lúc rồi mà dòng máu tươi vẫn rỉ ra từ miệng. Nhìn cảnh ấy, ai cũng hãi. Cho nên, mọi thứ trên đời đều rất vô thường và đều có nhân có quả. Sung túc như vợ chồng tay Trung đấy nhưng chẳng biết hiểm họa ập đến lúc nào đâu.
Trung thất học từ bé, lại sớm tiếp xúc với máu me, giết chóc nên ăn nói lỗ mãng. Trung chẳng có thú vui gì ngoài thú bia rượu và đàn bà. Đam mê nhục dục, Trung không tiếc tiền cho việc bồi bổ sức khỏe. Sau này, kết thân với mấy tay lái buôn ngựa ở Bắc Giang, Sơn La, nghe họ quảng cáo về công dụng của cao ngựa bạch, Trung đâm mê, chuyển sang sưu tầm loại cao này. Cứ chủ nhật cuối cùng của tháng, Trung mua cả con về, giết mổ tại nhà. Thịt đem ra chợ bán. Xương nấu cao, một phần để dùng, một phần bán.
Một hôm, tay lái buôn từ Sơn La đem xuống cho Trung một con ngựa trắng. Mắt thau đồng, móng trắng, môi trắng hồng, không có đốm đen, buổi tối soi trước bóng đèn thì thấy hai mắt ngựa đỏ rực như than lửa. Bộ phận sinh dục, mũi, mõm có màu hồng đỏ, bốn chân có móng sừng, màu cước ánh bạc. Đây là giống ngựa rất quý hiếm. Trung sướng rơn như bắt được vàng. Tay lái buôn dặn:
– Con này đang có chửa. Nếu bác sợ thì hãy chờ khi nó đẻ xong hãy thịt.
Ngót 30 năm làm nghề giết mổ, lại vốn vô thần vô thánh, Trung không biết sợ là gì. Tối hôm đó, vợ Trung đi xuống nhà dưới, cạnh chuồng nhốt ngựa. Nghe qua cửa sổ, bỗng chị hét toáng lên. Trung hớt hải chạy xuống, quát lớn:
– Cái gì thế? Có sao không?
Chị vợ mặt cắt không còn giọt máu, nói hổn hển qua hơi thở đứt quãng:
– Mình ơi! Tôi vừa nhìn xuống chuồng, thấy có người đàn bà đang nằm ôm con khóc. Rướn mắt nhìn kỹ lần nữa, tôi vẫn thấy họ. Người mẹ ấy nhìn tôi ánh mắt như van lơn,trông tội nghiệp lắm. Sợ quá, tôi mới hét lên.Tôi nghĩ đó là điềm xấu. Mình đừng giết con ngựa bạch ấy nhé!
Trung ngửa cổ cười ha hả:
– Bà xem phim ma cho lắm vào rồi nhìn người tưởng ngựa, nhìn ngựa tưởng người. Chưa biết chừng, có ngày, bà nhìn tôi lại tưởng là chó, cho một nhát dao là toi đời. Thôi, lên giường đi ngủ. Bà bị điên đến nơi rồi!
Tờ mờ sáng, mọi người đã tụ tập đông đủ ở sân nhà Trung. Dụng cụ giết mổ đã chuẩn bị xong. Chảo nước sôi reo ùng ục. Thằng Kiên, con trai út của Trung ,16 tuổi, lực lưỡng như bố, hăm hở vào chuồng dắt ngựa.
Nó kéo mũi, rồi đánh, chửi, con ngựa vẫn nằm im, không chịu đứng lên. Thấy vậy ,Trung và mấy người bạn huỳnh huỵch vội chạy vào. Vừa nhìn thấy Trung, con ngựa bỗng nhổm dậy, hai chân trước quỵ xuống như van xin. Từ trong đôi mắt màu thau đồng của nó, hai dòng nước mắt ứa ra.
Anh Chiến, bạn của Trung thấy vậy liền khuyên Trung không nên thịt nhưng Trung phủi tay, không tin vào chuyện nhảm nhí ( đốp). Cánh tay lực sĩ buồn cuộn cơ bắp của Trung vung chiếc vồ thép nhanh như một tia chớp giáng thẳng xuống đầu ngựa. Con ngựa ngã khụy xuống nền gạch.
Nhanh như cắt, Trung rút con dao nhỏ xíu, cỡ hai đầu ngón tay, xiên một nhát thật ngọt ở cổ. Tính ra mất 15 phút, con ngựa to tướng chỉ còn lại đống bầy nhầy lòng phèo nằm giữa sân, thịt xương đã thành đống riêng biệt. Tội nghiệp chú ngựa con chưa thành hình, Trung sai vợ đem rửa sạch với nước gừng rồi cho vào chiếc bình ngâm rượu.
Buổi chiều hôm ấy, như thường lệ, vợ Trung sai thằng con thứ chở xe máy đi đến các đại lý thu gom tiền. Trung ở nhà mở tiệc linh đình, rượu cao ngựa bạch, uống với thịt bắp ngựa bạch. Bỗng nghe tiếng ngoài ngõ lao xao. Tiếng ai đó gào to:
– Ông Trung ra ngoài đường quốc lộ mà nhận xác vợ con về.
Trung vội vã buông bát, leo lên xe phóng như điên. Ra đến đầu làng, giáp đường quốc lộ, đã thấy đám đông xúm đen xúm đỏ. Cố hết sức chen, lách, vừa vào đến bờ mương, Trung đứng chết lặng.
Dưới lòng mương, xác hai mẹ con nằm bẹp. Hai bánh trước xe ô tô tải đè ngang ngực. Máu mũi ,máu mồm,máu tai chảy lênh láng. Giữa lòng xe tải chiếc xe Honda Lead vỡ vụn. Sau này, người tài xế xe tải trình báo với công an huyện: “Đang lái xe với tốc độ 50km/giờ, đột nhiên, anh nhìn thấy con ngựa trắng cao lớn đứng ngay đầu xe. Anh hốt hoảng đánh vô lăng sang trái, đúng lúc chiếc xe Lead chở vợ con Trung vừa tới. Xe lao đầu xuống mương”.
Lái xe may mắn thoát chết. Run run mở cửa xe bước xuống, tài xế rợn người khi nhìn thấy xác hai người bị bánh trước của xe ô tô đè lên. Hắn vội vã bỏ chạy.
Vụ tai nạn rùng rợn với cái chết thương tâm của hai vợ con Trung xảy ra vào cuối tháng 9 thì đến đầu tháng 11, người con trai cả của Trung sinh năm 1974 tự dưng lăn đùng ra chết. Cậu này không làm nghề mổ. Được ăn học tử tế, làm giám đốc một doanh nghiệp ở Quảng Ninh. Đang tuổi sung sức làm ăn, người vâm váp, khỏe mạnh, không bệnh tật gì.
Thế mà một đêm, đang ngồi xem ti vi anh đột nhiên kêu mệt, đau đầu nên vào buồng ngủ. Nửa đêm, anh lên cơn co giật. Máu mũi, máu mồm ộc ra. Gia đình vội vàng đưa đến bệnh viện nhưng anh đã chết trên đường đi cấp cứu. Cái chết của cậu con trai cả khiến Trung hoang mang.
Trung đi xem bói. Thầy phán rằng gia đình bị một oan hồn báo oán. Trung kể lại việc giết con ngựa bạch mang thai cho thầy nghe. Thầy bảo, đó là do linh hồn con ngựa báo oán. Từ hôm đó, Trung bắt đầu sì sụp cúng bái. Sắm đủ lễ lạt, rước các thầy chùa về lập đàn giải nghiệp oán, cầu siêu cho linh hồn con ngựa, tốn kém hàng trăm triệu đồng.
Mọi thứ tạm yên được một thời gian. Ăn tết xong, người con trai thứ ba của Trung lăn đùng ra ốm. Cậu này đô con như lực sĩ, mổ lợn nhanh thoăn thoắt, tương lai kế thừa ngôi vị đồ tể của Trung.
Đêm cậu kêu mất ngủ. Ngày chán ăn, người cứ mệt rũ ra. Thỉnh thoảng, chợp mắt được một tí thì nằm mơ toàn ác mộng, ngựa đá, chó cắn, xe đâm, la hét ầm ĩ. Gia đình đưa đi khắp các bệnh viện Đông y , Tây y điều trị nhưng các bác sĩ chẳng phát hiện ra bệnh gì. Người càng gầy yếu. Mùa hè năm đó, cậu trút hơi thở cuối cùng.
Cái chết của cậu khiến Trung sợ hãi. Trung bắt đầu nghĩ đến những lời đồn thổi của dân làng về hậu vận của mình, bắt đầu tin vào luật nhân quả. Chỉ trong vòng chưa đầy 1 năm mà gia đình Trung mất 4 mạng người : Vợ và ba thằng con trai. Bây giờ, chỉ còn mỗi thằng con trai út, 17 tuổi, đang học lớp 11 trường huyện.
Tạm gác lại chuyện mổ xẻ, giết thịt, Trung chăm sóc con từng bước. Đích thân ngày 2 buổi đưa đón con đi học. Về nhà, Trung giữ rịt nó ở nhà. Không bóng đá, không đi bơi. Thế rồi, buổi trưa nọ, trong lúc Trung ngủ say, cậu út lẻn ra ngoài , đi bơi cùng đám bạn.
Trước cửa đình làng có hồ ba mẫu rất rộng, nước trong. Mùa hè, đám thanh niên và trẻ con trong làng ra hồ bơi ì ùm suốt ngày. Cậu út của Trung bơi rất giỏi. Vậy mà hôm ấy chẳng hiểu sao, nó lại bị chết đuối. Mãi chiều muộn mới vớt được xác nó lên bờ.
Vừa nhìn thấy xác con bụng trương phềnh, da trắng bợt như con lợn vừa bị cạo lông, Trung hộc lên một tiếng : “Ối con ơi!”. Đột nhiên, máu đen từ mũi, từ miệng xác con ộc ra như tháo cống. Ai chứng kiến cảnh đó cũng phải khiếp đảm.
Cái chết tang thương của đứa con cuối cùng khiến Trung hoàn toàn suy sụp. Trung suốt ngày ngập chìm trong rượu. Rượu vào là khóc, là chửi, là than. Cho đến một ngày không thấy tiếng khóc, tiếng chửi, tiếng than của Trung, hàng xóm kế bên chạy qua nhòm qua khe cửa.
Họ hốt hoảng khi nhìn thấy Trung nằm sõng soài trên nền gạch, máu chảy lênh láng. Phá của vào, mọi người rùng mình khi nhìn thấy trên yết hầu Trung một vết cắt ngọt, sâu, máu vẫn còn đang đùn ra. Tay phải Trung vẫn nắm chặt con dao nhỏ, sắc nhọn bằng hai ngón tay, con dao mà chủ nhật cuối tháng ấy, Trung đã dùng để xỉa một nhát thật ngọt vào yết hầu con ngựa bạch.