(Quang Tử)
Vào triều Thanh, ở thôn Lý, có một phụ nữ làm dâu trong một gia đình theo nghề nông, sớm trưa hai buổi, bà thường mang cơm ra đồng cho những người lao động trong nhà ăn.
Một khoảng thời gian đó, mỗi khi đi hay về đem cơm, bà đều thấy thấp thoáng có một phụ nữ đi theo, khi bên phải , khi bên trái, khi ẩn khi hiện. Sinh nghi, bà hỏi những người cùng xóm đang đi hay về cạnh bà, có thấy phụ nữ ấy không. Họ đều trả lời không thấy gì cả, nghe vậy bà rất sợ hãi, vì biết đó là một hồn ma.
Về sau, khi bà đang ở nhà, cũng thấy phụ nữ ấy hoặc ở hiện ra ngoài vườn hoặc ở gần bờ thành chứ không vào trong nhà. Một vài lần bà đánh bạo, thử đến gần để nhìn cho rõ, phụ nữ ấy liền chạy ra xa, bà vào nhà thì phụ nữ ấy lại trở về chỗ cũ.
Bà đành từ xa dùng tâm hỏi phụ nữ ấy rằng:
– Bà là ai vậy? Tại sao cứ đi theo tôi mãi như thế?
Oan hồn ấy đáp ( tâm truyền tâm):
– Kiếp trước bà và tôi cùng làm thiếp cho một phú ông danh tiếng, bà ganh tôi được ông ấy cưng chiều, nên vu khống tôi đã gian dâm với người đàn ông khác. Vì thế mà tôi bị ông ấy giết chết trong ẩn khuất đầy oán hận. Do vậy, đời này tôi tìm bà để trả thù, nhưng trớ trêu thay, đời này bà là người dâu hiếu thảo thường được nhiều vị thiện thần đi theo bảo vệ, tôi không thể đến gần để báo thù được.
Vì thế, ngày nào tôi cũng đi theo bà để tìm cơ hội tốt. Nhưng với sự bảo hộ của thiện thần như vậy, chắc có lẽ không bao giờ tôi báo thù được. Vậy thì, tôi đề nghị với bà, hãy phát tâm niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà một vạn câu hồi hướng công đức ấy cho tôi, để vừa giải oán thù, vừa giúp tôi siêu thoát.”
Bà ấy nghe vậy rất vui mừng, liền phát tâm niệm Phật, bà niệm một câu thì thấy vong hồn người phụ nữ ấy lạy một lạy, khi niệm xong một vạn câu thì không thấy phụ nữ ấy nữa! Sự kiện này, do bà ấy khi về già thuật lại vậy.
(Trích “Duyệt Vi Thảo Đường bút ký” -Kỉ Hiểu Lam triều Thanh)
NGHỊCH LÝ Ở ĐÂU ?
Không dông dài, tôi sẽ nói luôn :
Người sống chúng ta có thân thể vật chất, nên bị cản trở không thể thấy được những sinh linh trong vô hình, không thấy được các vị chư thiên, thần linh, vong hồn, ngạ quỷ … nên rất nhiều điều ta không biết. So với một vong hồn người đã khuất, thì hiểu biết của con người bị giới hạn rất nhiều.
Nhưng ngược lại, do vì có thân thể vật chất, nên con người có thể làm được những điều mà vong hồn, thậm chí một số vị thần linh, hay chư thiên cũng không làm được, hoặc có làm nhưng hiệu quả kém xa, đó là khả năng tu hành.
Chỉ khi có thân xác, ta niệm Phật, tụng kinh, trì chú, bố thí, làm từ thiện, phóng sinh, ấn tống, giữ giới hay mọi việc công đức khác, thì phước đức sinh ra mới thù thắng, siêu việt.
Đây là một nghịch lý trớ trêu, ví dụ như chuyện trên, vong hồn biết câu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật !” công đức vĩ đại, có thể nhờ đó mà siêu thoát được, nhưng không thể tự niệm mà siêu thoát.
Còn người sống, việc niệm Phật chẳng phải việc khó khăn gì, nhưng thường lại chẳng biết được câu niệm Phật vi diệu đến mức nào, thấy nhiều người cũng đi chùa, tu tập này kia, cũng niệm Phật mãi mà cơ thể vẫn trơ trơ, không thay đổi gì đáng kể, nên nhiều kẻ xem thường.
Đâu biết rằng, những người tin theo lời Phật, nguyện cầu Vãng Sinh, cả đời họ niệm “Nam Mô A Di Đà Phật ” tích lũy công đức vô vàn, vừa bỏ thân xác này là được sinh về một thế giới an lạc, sung sướng vĩnh cửu.
Việc đó thì phải đến khi chết, trở thành những vong linh, con người ta mới thấy, mới biết, mới tin, nhưng khi đó thì cũng đã muộn rồi, chỉ đành tiếc rẻ “Giá như sớm biết được điều này từ khi còn sống, ta sẽ bớt đua chen với đời, để dành thời gian, công sức tu hành nhiều nhiều một chút, giờ cũng đã lên đến cảnh giới nào rồi”
Nếu như bạn đọc được đến đây, hiểu ra vấn đề, nhận thấy được kiếp người vốn rất đáng quý, không phải vì con người có thể buôn bán làm ăn, tích chứa của cải, cũng không phải vì làm người có thể kết hôn sinh con nối dõi, cũng không phải vì có thân xác thì có thể hưởng thụ đủ thứ vui thú như tiệc tùng, du lịch, mua sắm …
Không, tất cả những thứ ấy chết một phát là tan biến sạch, thậm chí chưa chết chúng cũng có thể đã đổ vỡ, mất sạch rồi.
Kiếp người đáng quý, đó là vì làm người thì có thân xác, có thân xác thì tu hành mới hiệu quả, mỗi việc thiện làm được, đều sinh phước báo rất to lớn, mà không cõi giới nào so sánh được, thậm chí so với người ở cõi Tây Phương Cực Lạc tu hành, thì tu ở cõi ta Bà này nhanh hơn gấp hơn 36.500 lần.
Đức Phật dạy trong kinh Vô Lượng Thọ:
“ … tu một ngày một đêm ở cõi Ta bà hơn làm lành ở cõi Vô Lượng Thọ cả trăm năm.
Tại sao vậy?
Cõi nước của đức Phật đó đều hành thiện tích đức, không có một chút ác. Tu thiện ở Ta bà mười ngày đêm hơn làm lành ngàn năm ở các cõi Phật khác.
Tại sao vậy?
Vì cõi nước Phật ở phương khác thì phước đức tự nhiên có, không có duyên để làm ác, chỉ có thế giới Ta bà này thiện ít ác nhiều, toàn là khổ độc chưa từng ngừng nghỉ…”
Nếu bạn hiểu ra được Nghịch lý này rồi, vậy xin chúc mừng bạn! Bạn đã có được một kim chỉ nam vô cùng quý giá để chỉ lối cho mình biết phải đi về đâu, trong khi đa số nhân loại vẫn đang lòng vòng trong một mê cung danh lợi đua chen không lối thoát.
Hãy đem công sức, thời gian, vận dụng tối đa những gì bạn có thể để siêng năng tu tập, tích lũy công đức, để một ngày kia chắc chắn phải đến, khi mà mắt nhắm, tay xuôi, khi mà phước nghiệp cả đời đến lúc kết sổ, quyết định sẽ sinh về đâu, bạn có thể mỉm cười mãn nguyện, vì đã không uổng phí một kiếp người.
(Quang Tử)
NHỮNG CHUYỆN LINH ỨNG VỀ TƯỢNG PHẬT – TƯỢNG BỒ TÁT
CHUYỆN THỨ 1.
CHỈ CẦN MỘT LẦN LỄ BÁI TƯỢNG ĐỊA TẠNG BỒ TÁT, CÓ VÀO ĐỊA NGỤC CŨNG ĐƯỢC CỨU
Mùa hạ năm trước, tôi đưa mẫu thân đến miền Trung thăm người em mấy năm không gặp. Vừa bước vào gian giữa, thấy nhà có thờ hai thánh tượng Bồ-tát Địa Tạng, đèn nhang nghi ngút, trông hết sức trang nghiêm và thanh tịnh, tôi chắp tay xá. Đúng lúc dì đang lễ Phật. Chờ dì lễ xong, ngồi xuống ghế đâu vào đó, tôi cung kính thưa:
– Thưa dì! Dì quay về nương tựa Tam Bảo bao lâu rồi?
Dì cười hết sức sảng khoái:
– Thật cảm tạ sự gia hộ của 10 phương chư Phật, Bồ- tát, nếu không có duyên với Tam Bảo, dì bị đọa vào địa ngục rồi.
Tôi không hiểu ý dì muốn nói, lòng đầy nghi vấn, thưa hỏi:
– Là nhân duyên gì? Vì sao dì phát tâm quay về nương tựa Tam Bảo? Không ngờ chỉ có mấy năm không gặp, dì có nhiều thay đổi đến vậy!
Dì nhìn chăm chăm thánh tượng Bồ-tát, hồi tưởng:
– Mấy năm trước dì đến thăm nhà một người bạn cũ, thấy có thờ thánh tượng Bồ-tát Địa Tạng. Nhìn tôn tượng bỗng nhiên lòng dì hoan hỉ vô cùng, không hiểu động lực nào khiến dì chắp tay xá, sau khi ra về cũng không còn nhớ việc này . Giờ nghĩ hối hận vô cùng.
Trước đó, bất luận ngày lễ gì, dì cũng giết rất nhiều súc vật để cúng tế. Ngày 23.03 âm lịch hai năm trước, nhân ngày thị hiện của thánh mẫu Ma Tổ, nhà nhà đều giết súc vật cúng tế; nhà dì là nhà giàu có tiếng trong vùng, lại là tín đồ kiền thành của Ma Tổ, đương nhiên giết nhiều gà vịt cúng tế hơn các nhà khác.
Dì làm 20 mâm cỗ, mời bạn bè đến ăn uống nhậu nhẹt ca hát. Vô minh che lấp, dì cứ ngỡ như vậy là hãnh diện và công đức nhiều lắm, lại nghĩ mình khuyến hóa nhiều người tin Ma Tổ như vậy, nhất định sẽ được Ma Tổ gia hộ.
Ăn uống no say, hơn 8 giờ mọi người ra về hết. Dì chiêu đãi khách, chạy lên chạy xuống, bận rộn cả ngày, hết sức mệt mỏi. Khách vừa về, dì bảo người ở lấy nước nóng cho dì tắm, rồi lên giường nằm nghỉ. Nhưng không hiểu sao, nằm lăn qua lăn lại mãi vẫn không thể chợp mắt.
Đêm khuya tĩnh mịch, bỗng mưa gió ầm ầm, dì cảm thấy rờn rợn trong người. Dì ngửi thấy trong phòng đầy mùi máu tanh, lại nghe tiếng gà, vịt… kêu la. Khó chịu, muốn ói, hơi thở khó khăn, muốn gọi nhưng gọi không được, toàn thân cứng đờ, dì ngất lịm đi lúc nào không biết.
Sáng sớm hôm sau tỉnh lại, toàn thân đau buốt, tay chân nhấc không nổi, cử động không được, hai mắt thâm quầng, mặt mày xanh xao… Bệnh nặng phát khởi, nằm mê man, hơi thở yếu dần. Trong mê, dì thấy mình đến một nơi rất sâu tối tăm không gì sánh được. Dì sợ hãi, hoảng hốt kêu cứu. Bỗng phía trên xuất hiện một làn ánh sáng, chiếu thẳng đến thân, giúp dì hết sợ hãi, an ổn vô cùng.
Một vị tăng dung mạo như trăng tròn, đắp ca-sa, đi ra từ ánh sáng đó, vị ấy đưa tay kéo dì lên, dì được cứu thoát. Dì đi theo thầy đến một nơi rộng rãi sáng sủa, thầy nhẹ nhàng nói:
” Bần tăng là Bồ-tát Địa Tạng mà mấy năm trước con lễ bái ở nhà bạn con đó! Vì con giết hại quá nhiều sinh mạng, do đó chúng đến đòi, bằng mọi giá cũng không chịu buông tha, nhất định sau khi chết con sẽ bị đọa vào địa ngục, thọ khổ vô lượng. Song nhờ một niệm chí thành, sinh tâm hoan hỉ khi chiêm ngưỡng hình tượng thầy, được miễn tội địa ngục, khỏi chịu khổ báo. Hiện tại nghiệp xấu ác trong con vẫn còn, từ đây về sau nên chí thành sám hối, phát nguyện làm mới, tuyệt đối không được sát sinh nữa, thương yêu bảo hộ chúng sinh, thường xuyên bố thí, làm thiện tích chứa phước đức.”
Nói xong Người liền ẩn mất. Tỉnh dậy, dì vẫn còn nhớ như in những chuyện xảy ra trong giấc mộng, kể lại cho cả nhà nghe, mọi người bán tín bán nghi, không biết thật hay giả. Nhưng thấy bệnh của dì khởi sắc rõ rệt, dì đã trở về từ cõi chết, có thể nói đây là kì tích.
Dì đến chùa đảnh lễ xin quay về nương tựa Tam Bảo, thỉnh thánh tượng Bồ-tát về thờ phụng cúng dường. Sáng sớm mỗi ngày đều trì niệm thánh hiệu Bồ-tát, buổi tối kiền thành tụng một quyển kinh Địa Tạng Bồ-Tát Bổn Nguyện, hồi hướng công đức cho những sinh linh bị dì giết từ vô lượng kiếp đến nay, nguyện cho chúng được nghiệp chướng tiêu trừ, hóa giải lòng thù hận, sớm chuyển sinh về đường lành, cũng từ đó dì không nuôi súc vật và giết hại sinh linh nữa.
Dì thường xuyên cúng dường Tam Bảo, nghe Phật pháp, ấn tặng kinh sách Phật giáo, rộng kết duyên Phật, không làm các việc ác, chăm làm các điều lành, khéo léo khuyên người hồi đầu làm thiện.
Cả gia đình đều sống trong tình thương yêu, hòa nhã vui vẻ, được mọi người chọn là gia đình văn hóa, mọi người xung quanh không ai không hâm mộ, học tập theo.
Dì hết sức hạnh phúc tuy vẫn chưa phai lòng hổ thẹn.
Đến đây, dì quá vui mừng nói không ra lời nữa. Tôi nghe những chuyện dì trải qua cùng hiển mộng khuyên người không giết hại của Bồ-tát Địa Tạng, liền sinh khởi tâm tôn kính Bồ-tát, sợ hãi sát sinh.
Trở về, tôi khuyến hóa gia đình và hàng xóm không được sát sinh cúng tế, bằng không, sẽ bị những sinh linh mình giết đến đòi mạng, nhất định mình sẽ đọa lạc vào ba đường xấu ác. Không kết duyên lành với Phật pháp, làm sao mình biết cầu Bồ- tát Địa Tạng đến giải cứu.
CHUYỆN THỨ 2. ĐỊA NGỤC VỊ KHÔNG, THỆ BẤT THÀNH PHẬT Vào triều nhà Đường, có một ngôi chùa, hiệu là Khai Thiện Tự, ở núi Chung Sơn. Trong chùa ấy có một pho tượng Địa Tạng rất xưa nên không biết ai tạo đem cúng vào đó. Sau quan Đô đốc xứ Dương châu, tên là Đặng tông, bị lâm bệnh mà từ trần, nhưng nơi ngực của ông còn hơi nóng nên gia quyến trong nhà chưa khởi cuộc tẩm liệm. Qua ngày sau, quan Đô đốc vùng sống lại, chỉ khóc mà không nói một lời chi cả. Chừng một lúc trong mình thật khỏe lại như thường, ông bèn bảo con cháu dắt ông đi đến chùa Khai Thiện tự, rồi ông bạch hỏi một vị Tăng trưởng rằng: _ Ở trong chùa của thầy đây có thờ pho tượng Địa Tạng Bồ Tát nào cao chừng ba thước không? Tôi muốn xin vào đảnh lễ cúng dường. Vị Tăng trưởng bèn bảo người dắt quan Đô đốc đến chỗ thờ đức Địa Tạng, thì ông lễ lạy vừa xong, rồi bạch xin cho ông thỉnh tượng ấy trở về nhà để thờ. Vị Tăng trưởng hỏi duyên cớ, thì quan Đô đốc tỏ vẻ cung kính mà đáp lại rằng: _ Bạch thầy! Khi tôi chết thì thấy một vị quan Tứ phẩm dẫn tôi đến trước bệ rồng mà chầu lệnh Diêm Vương Ngài liền phán rằng: ” Ngươi chưa đến số chết, phải sớm trở về dương gian, nhưng những kẻ ở dương thế không khi nào thấy được các sự trừng phạt giữa chốn Âm ty này, nay ngươi có dịp đến đây, thì ta cho phép ngươi đi xem các địa ngục cho biết.” Diêm Vương truyền lệnh đòi một vị quan mặc áo rộng màu xanh đến, rồi bảo tôi đi theo ông quan ấy ra khỏi điện, thẳng qua phía Đông Bắc vừa được năm sáu dặm đường, gặp một cái thành mà vách bằng sắt. Bỗng nhiên tôi thấy trong thành ấy lửa cháy lên đỏ rực cả bốn phía, làm cho trăm ngàn tội nhân trong ấy chịu khổ một cách rất thảm thiết. Khi ấy, tôi thấy có một vị sa môn, tướng mạo đoan trang, ra vẻ một người từ bi khoan hậu, đi ngay vào trong ngục mà giáo hóa và an ủi các tội nhân, thì ngọn lửa kia đang cháy dữ lại dần dần tắt mất. Tôi xem rồi bèn rảo bước tới một cái thành khác cũng vách bằng sắt, trong thành có mười tám cái ngục, tội nhân ở trong đó cũng chịu nhiều hình phạt rất thống khổ, nhưng cũng có vị sa môn kia đến dạy dỗ và an ủi như tôi đã thấy nơi ngục trước vậy. Tôi đều có đi xem các cửa ngục cả, đến chừng tôi tính quay gót mà về, thì vị sa môn ấy bước tới hỏi tôi rằng: _ Ngươi biết ta chăng? Tôi đáp lại rằng: _ Bạch thầy! Tôi không được biết thầy. Vị sa môn ấy nói rằng: _ Ta đây là Địa Tạng Bồ Tát, hồi xưa Trí Pháp là đệ tử của Trí Tạng pháp sư, có tạo tượng của ta để thờ trong chùa Khai Thiện Tự. Ta đây thường cứu độ chúng sanh đương chịu khổ nơi chốn Tam đồ nên mỗi ngày ta đi khắp trong mười tám cái ngục lớn và vô số ngục nhỏ mà dạy bảo và an ủi những tội nhân bị hành phạt nơi các chốn ấy. Tôi quan sát thấy vị sa môn ấy toàn thân đều sáng rực, trang nghiêm, đẹp đẽ lạ thường, được một lát thì Ngài biến mất. Nay tôi đến chùa thấy được pho tượng đức Địa Tạng Bồ Tát quả thiệt y như tôi đã thấy vị sa môn kia vậy, nên tôi muốn thỉnh về nhà thờ phượng cúng dường. Vị Tăng trưởng nghe quan Đô đốc Đặng tông nói vừa dứt lời, thì ngài hoan hỉ tán thán và bảo ông lấy kiểu tượng đức Địa Tạng mà vẽ ra, hay là tạo cốt tự ý ông, chớ không cho ông ấy thỉnh tượng. Quan đô đốc nghe vị tăng trưởng nói như vậy bèn mướn một người thợ thiệt khéo, đến vẽ bức tượng đức Địa Tạng rồi đem về nhà để thờ phượng rất long trọng.
CHUYỆN THỨ 3 HAI BỨC TƯỢNG PHẬT Thích Huệ Cảnh, người Truy Châu, xuất gia tu ở chùa Ngộ Chân. Sau khi thế phát, Sư gắng công khai giới khổ hạnh. Lòng mến cảnh Tịnh độ, Sư tạo hai tượng Phật Thích Ca và Phật A Di Đà, hằng lễ bái cúng dường. Đến lúc sáu mươi bảy tuổi, ngày rằm tháng giêng, Huệ Cảnh nằm mộng thấy một vị Sa môn thân sắc vàng ròng, bảo rằng: – Ngươi muốn thấy Phật và cảnh Tịnh độ chăng? Đáp: – Thưa, từ lâu tôi rất ước mong được chiêm ngưỡng! Sa môn trao bát cho và bảo: – Hãy nhìn vào trong bát! Huệ Cảnh tiếp lấy và nhìn vào, bỗng như lạc đến cõi khác, thấy cảnh Tịnh độ rộng rãi trang nghiêm, các thứ báu đẹp lạ. Đất toàn bằng vàng ròng, đường sá có dây vàng làm ranh giới. Cung điện lầu các trùng điệp không cùng tận, trong đó các thiên đồng vui vẻ nhàn du. Chúng Bồ tát, Thanh văn đông như mây, rộng như biển, hội lại vây quanh đức Thế Tôn nghe thuyết pháp. Lúc đó, Huệ Cảnh thấy vị Sa môn đi trước, mình nối gót theo sau, lần tới chỗ Phật. Đến nơi, vị Sa môn bỗng biến mất. Huệ Cảnh chắp tay đứng trước kim dung, bỗng nghe Phật hỏi: – Ngươi có biết vị Sa môn dẫn đường đó chăng? Đáp: – Bạch Thế Tôn! Con không được biết. Đấng Từ Tôn bảo: – Đó là Phật Thích Ca Mâu Ni, còn ta là Phật A Di Đà, hai vị mà người đã tạo tượng. Phật Thích Ca như ông cha, ta như bà mẹ, chúng sinh ở thế giới Ta bà như con khờ dại thơ ngây, lầm rớt xuống bùn lầy. Cha vào nơi bùn sâu bồng con lên, để trên bờ cao ráo sạch sẽ, mẹ lại ôm con nuôi nấng, dạy bảo đừng nên trở lại chốn bùn nhơ. Chúng ta cũng như thế. Phật Thích Ca dạy dỗ chúng sinh mê tối trược ác ở cõi Ta bà, làm vị mở đường dẫn lối về nơi Tịnh độ. Còn ta ở cõi Tịnh độ còn bổn phận nhiếp hóa, khiến cho các chúng sinh ấy không còn luân hồi thối chuyển. Huệ Cảnh nghe nói vui mừng khấp khởi, muốn đến gần tham bái đức Thế Tôn, nhưng cảnh tượng bỗng biến mất. Tỉnh giấc, Sư cảm thấy thân tâm an vui, như vào thiền định. Từ đó, Sư càng tin tưởng sự cúng lễ tượng hai đức Như Lai. Một hôm, Huệ Cảnh lại mộng thấy vị Sa môn khi trước bảo: – Hai mươi năm sau, ngươi sẽ sinh về Tịnh độ. Nghe lời ấy, ngày đêm Sư lại thêm tinh tấn tu hành, không khi nào biếng trễ. Đến năm tám mươi chín tuổi, một hôm nọ, Huệ Cảnh từ giã đại chúng, rồi an nhiên vãng sinh. Đang lúc ấy, có vị tăng ở phòng bên, nằm mộng thấy trăm ngàn Thánh chúng từ phương Tây đến rước Sư đi. Trên hư không, tiếng âm nhạc dìu dặt rồi xa nhỏ lần, nhiều người khác cũng được nghe biết. (Trích lục: Tân Lục)
CHUYỆN THỨ 2. ĐỊA NGỤC VỊ KHÔNG, THỆ BẤT THÀNH PHẬT Vào triều nhà Đường, có một ngôi chùa, hiệu là Khai Thiện Tự, ở núi Chung Sơn. Trong chùa ấy có một pho tượng Địa Tạng rất xưa nên không biết ai tạo đem cúng vào đó. Sau quan Đô đốc xứ Dương châu, tên là Đặng tông, bị lâm bệnh mà từ trần, nhưng nơi ngực của ông còn hơi nóng nên gia quyến trong nhà chưa khởi cuộc tẩm liệm. Qua ngày sau, quan Đô đốc vùng sống lại, chỉ khóc mà không nói một lời chi cả. Chừng một lúc trong mình thật khỏe lại như thường, ông bèn bảo con cháu dắt ông đi đến chùa Khai Thiện tự, rồi ông bạch hỏi một vị Tăng trưởng rằng: _ Ở trong chùa của thầy đây có thờ pho tượng Địa Tạng Bồ Tát nào cao chừng ba thước không? Tôi muốn xin vào đảnh lễ cúng dường. Vị Tăng trưởng bèn bảo người dắt quan Đô đốc đến chỗ thờ đức Địa Tạng, thì ông lễ lạy vừa xong, rồi bạch xin cho ông thỉnh tượng ấy trở về nhà để thờ. Vị Tăng trưởng hỏi duyên cớ, thì quan Đô đốc tỏ vẻ cung kính mà đáp lại rằng: _ Bạch thầy! Khi tôi chết thì thấy một vị quan Tứ phẩm dẫn tôi đến trước bệ rồng mà chầu lệnh Diêm Vương Ngài liền phán rằng: ” Ngươi chưa đến số chết, phải sớm trở về dương gian, nhưng những kẻ ở dương thế không khi nào thấy được các sự trừng phạt giữa chốn Âm ty này, nay ngươi có dịp đến đây, thì ta cho phép ngươi đi xem các địa ngục cho biết.” Diêm Vương truyền lệnh đòi một vị quan mặc áo rộng màu xanh đến, rồi bảo tôi đi theo ông quan ấy ra khỏi điện, thẳng qua phía Đông Bắc vừa được năm sáu dặm đường, gặp một cái thành mà vách bằng sắt. Bỗng nhiên tôi thấy trong thành ấy lửa cháy lên đỏ rực cả bốn phía, làm cho trăm ngàn tội nhân trong ấy chịu khổ một cách rất thảm thiết. Khi ấy, tôi thấy có một vị sa môn, tướng mạo đoan trang, ra vẻ một người từ bi khoan hậu, đi ngay vào trong ngục mà giáo hóa và an ủi các tội nhân, thì ngọn lửa kia đang cháy dữ lại dần dần tắt mất. Tôi xem rồi bèn rảo bước tới một cái thành khác cũng vách bằng sắt, trong thành có mười tám cái ngục, tội nhân ở trong đó cũng chịu nhiều hình phạt rất thống khổ, nhưng cũng có vị sa môn kia đến dạy dỗ và an ủi như tôi đã thấy nơi ngục trước vậy. Tôi đều có đi xem các cửa ngục cả, đến chừng tôi tính quay gót mà về, thì vị sa môn ấy bước tới hỏi tôi rằng: _ Ngươi biết ta chăng? Tôi đáp lại rằng: _ Bạch thầy! Tôi không được biết thầy. Vị sa môn ấy nói rằng: _ Ta đây là Địa Tạng Bồ Tát, hồi xưa Trí Pháp là đệ tử của Trí Tạng pháp sư, có tạo tượng của ta để thờ trong chùa Khai Thiện Tự. Ta đây thường cứu độ chúng sanh đương chịu khổ nơi chốn Tam đồ nên mỗi ngày ta đi khắp trong mười tám cái ngục lớn và vô số ngục nhỏ mà dạy bảo và an ủi những tội nhân bị hành phạt nơi các chốn ấy. Tôi quan sát thấy vị sa môn ấy toàn thân đều sáng rực, trang nghiêm, đẹp đẽ lạ thường, được một lát thì Ngài biến mất. Nay tôi đến chùa thấy được pho tượng đức Địa Tạng Bồ Tát quả thiệt y như tôi đã thấy vị sa môn kia vậy, nên tôi muốn thỉnh về nhà thờ phượng cúng dường. Vị Tăng trưởng nghe quan Đô đốc Đặng tông nói vừa dứt lời, thì ngài hoan hỉ tán thán và bảo ông lấy kiểu tượng đức Địa Tạng mà vẽ ra, hay là tạo cốt tự ý ông, chớ không cho ông ấy thỉnh tượng. Quan đô đốc nghe vị tăng trưởng nói như vậy bèn mướn một người thợ thiệt khéo, đến vẽ bức tượng đức Địa Tạng rồi đem về nhà để thờ phượng rất long trọng.
CHUYỆN THỨ 3 HAI BỨC TƯỢNG PHẬT Thích Huệ Cảnh, người Truy Châu, xuất gia tu ở chùa Ngộ Chân. Sau khi thế phát, Sư gắng công khai giới khổ hạnh. Lòng mến cảnh Tịnh độ, Sư tạo hai tượng Phật Thích Ca và Phật A Di Đà, hằng lễ bái cúng dường. Đến lúc sáu mươi bảy tuổi, ngày rằm tháng giêng, Huệ Cảnh nằm mộng thấy một vị Sa môn thân sắc vàng ròng, bảo rằng: – Ngươi muốn thấy Phật và cảnh Tịnh độ chăng? Đáp: – Thưa, từ lâu tôi rất ước mong được chiêm ngưỡng! Sa môn trao bát cho và bảo: – Hãy nhìn vào trong bát! Huệ Cảnh tiếp lấy và nhìn vào, bỗng như lạc đến cõi khác, thấy cảnh Tịnh độ rộng rãi trang nghiêm, các thứ báu đẹp lạ. Đất toàn bằng vàng ròng, đường sá có dây vàng làm ranh giới. Cung điện lầu các trùng điệp không cùng tận, trong đó các thiên đồng vui vẻ nhàn du. Chúng Bồ tát, Thanh văn đông như mây, rộng như biển, hội lại vây quanh đức Thế Tôn nghe thuyết pháp. Lúc đó, Huệ Cảnh thấy vị Sa môn đi trước, mình nối gót theo sau, lần tới chỗ Phật. Đến nơi, vị Sa môn bỗng biến mất. Huệ Cảnh chắp tay đứng trước kim dung, bỗng nghe Phật hỏi: – Ngươi có biết vị Sa môn dẫn đường đó chăng? Đáp: – Bạch Thế Tôn! Con không được biết. Đấng Từ Tôn bảo: – Đó là Phật Thích Ca Mâu Ni, còn ta là Phật A Di Đà, hai vị mà người đã tạo tượng. Phật Thích Ca như ông cha, ta như bà mẹ, chúng sinh ở thế giới Ta bà như con khờ dại thơ ngây, lầm rớt xuống bùn lầy. Cha vào nơi bùn sâu bồng con lên, để trên bờ cao ráo sạch sẽ, mẹ lại ôm con nuôi nấng, dạy bảo đừng nên trở lại chốn bùn nhơ. Chúng ta cũng như thế. Phật Thích Ca dạy dỗ chúng sinh mê tối trược ác ở cõi Ta bà, làm vị mở đường dẫn lối về nơi Tịnh độ. Còn ta ở cõi Tịnh độ còn bổn phận nhiếp hóa, khiến cho các chúng sinh ấy không còn luân hồi thối chuyển. Huệ Cảnh nghe nói vui mừng khấp khởi, muốn đến gần tham bái đức Thế Tôn, nhưng cảnh tượng bỗng biến mất. Tỉnh giấc, Sư cảm thấy thân tâm an vui, như vào thiền định. Từ đó, Sư càng tin tưởng sự cúng lễ tượng hai đức Như Lai. Một hôm, Huệ Cảnh lại mộng thấy vị Sa môn khi trước bảo: – Hai mươi năm sau, ngươi sẽ sinh về Tịnh độ. Nghe lời ấy, ngày đêm Sư lại thêm tinh tấn tu hành, không khi nào biếng trễ. Đến năm tám mươi chín tuổi, một hôm nọ, Huệ Cảnh từ giã đại chúng, rồi an nhiên vãng sinh. Đang lúc ấy, có vị tăng ở phòng bên, nằm mộng thấy trăm ngàn Thánh chúng từ phương Tây đến rước Sư đi. Trên hư không, tiếng âm nhạc dìu dặt rồi xa nhỏ lần, nhiều người khác cũng được nghe biết. (Trích lục: Tân Lục)
ĐỌC TỤNG THẦN CHÚ- KHÁI NIỆM CƠ BẢN CHO NGƯỜI BẮT ĐẦU
(Quang Tử)
Đọc chú Đại Bi, đọc chú Vãng Sinh hay Lục Tự Đại Minh Chú … đó không phải điều gì xa lạ đối với đa số những người tu theo Phật Pháp.
Tuy nhiên, nhiều người dù đọc tụng nhiều năm, ít nhiều gặp được những linh ứng, xong vẫn còn rất mơ hồ khi được hỏi những câu như “Thần chú là gì ?”, “Tại sao đọc thần chú không hiểu gì hết mà lại linh ứng ?” , “Đọc thần chú sẽ được những công đức gì ?”
Ở bài viết này, Quang Tử sẽ cố gắng giải thích một cách dễ hiểu nhất, để mọi người cùng sáng tỏ.
https://youtu.be/Qvr9D_2uBxI
I. THẦN CHÚ LÀ GÌ?
Thần chú, còn gọi là chân ngôn, hay Đà La Ni (hoặc Đà Ra Ni) hiểu một cách nôm na, đó là những những mật mã bí ẩn hàm chứa chân lý và năng lượng tinh hoa của Vũ trụ, được các đức Phật và các vị Bồ Tát dùng trí tuệ của các ngài dồn nén lại trong những âm thanh cô đọng, từ ngữ cô đọng, tạo ra những câu thần chú hoặc những bài thần chú.
Vì được dồn nén, cô đọng lại, nghĩa lý trong mỗi câu từ của thần chú là trùng trùng điệp điệp, sâu xa thăm thẳm không thể dùng tư duy của phàm phu mà hiểu được, chỉ có trí tuệ của các đức Phật, các vị đại Bồ Tát mới hiểu đầy đủ và đúng nghĩa của thần chú.
Vì lẽ đó, thần chú không có dịch nghĩa, người trì tụng chỉ cần đọc với niềm tin mà không cần hiểu nghĩa, là đã có thể phát huy công năng của thần chú. Điều này khác với pháp môn đọc tụng kinh điển, cần phải hiểu rõ nghĩa mới có thể thực hành.
Đọc với niềm tin mà chẳng hiểu nghĩa, việc này giống như khi chúng ta bị bệnh, chúng ta ra gặp dược sĩ, mua thuốc, uống vào là có thể khỏi bệnh.
Các chuyên gia, giáo sư, tiến sĩ, dược sĩ… với trình độ chuyên môn cao thâm về y học, đem hiểu biết của mình điều chế các dược liệu với tỉ lệ chính xác, cùng với quy trình điều chế phức tạp để tạo ra các viên thuốc.
Bệnh nhân muốn hết bệnh, chỉ cần uống thuốc với liều dùng phù hợp, thì sẽ khỏi bệnh dù chẳng hiểu các viên thuốc ấy thành phần là gì, được điều chế như thế nào.
Không phải vì các giáo sư tiến sĩ của ngành y không muốn cho bệnh nhân hiểu rõ thành phần và cách điều chế của thuốc trước khi uống. Mà là vì việc đó quá khó khăn với trình độ của bệnh nhân.
Cần mất rất nhiều năm, thậm chí là nhiều chục năm nỗ lực học tập nghiên cứu mới đủ trình độ để hiểu rõ thành phần cấu tạo, cách thức điều chế, nguyên lý hoạt động của một viên thuốc, nếu phải đợi lâu như thế để hiểu rõ, rồi mới uống thuốc, vậy thì bệnh nhân đã chết cả hết rồi.
Vì thế, nên bệnh nhân chỉ còn một cách: tin tưởng vào bác sĩ, vào hãng dược, uống thuốc theo chỉ dẫn mà không cần hiểu gì, là vẫn có thể khỏi bệnh.
Việc này lại cũng giống như dùng chìa khóa để mở hòm kho báu đang khóa kín. Người được trao cho chiếc chìa khóa, không cần phải biết bên trong ổ khóa cấu tạo như thế nào, các trục bi, rãnh khớp sắp xếp như thế nào, chỉ cần đút chìa vào ổ khóa, vặn một cái, kho báu mở ra là có thể đem vàng bạc, châu báu đi tiêu xài.
Cũng như vậy, những người có duyên, quyết định chọn pháp môn trì tụng thần chú để tu tập, thì chỉ cần tin tưởng vào trí tuệ và năng lực của các đức Phật và Bồ Tát, đã tổng trì ra các thần chú, y theo đó đọc tụng thì sẽ được kết quả vi diệu.
Nếu không tin, vậy tốt nhất chúng ta nên chọn một pháp môn khác, Phật Pháp có rất nhiều pháp môn khác nhau cho chúng ta lựa chọn, không hợp môn này ta có thể chọn một khác, điều đó cũng không sao cả.
Cũng phải nói thêm, thần chú không phải chỉ duy nhất đạo Phật mới có, mà các tôn giáo khác, các tín ngưỡng dân gian cũng có thần chú, nổi bật có thể kể ra như các thần chú của Lão giáo mà các đạo sĩ thường dùng để trừ ma, hay như các thần chú của thầy bùa, thầy Pháp trong dân gian.
Điều khác biệt của thần chú trong Phật giáo, là luôn đem tới những điều tốt lành cho người trì tụng, không sợ phản ứng phụ, và luôn chứa đựng hạt giống Bồ Đề, chứa đựng những chủng tử của Phật, khiến người trì tụng luôn luôn tăng trưởng duyên lành, cho đến một tương lai xa xăm nào đó có thể thành Phật.
– Vậy các thần chú của đạo Phật hiện nay được lưu truyền như thế nào?
Khởi thuỷ, vào thời Đức Phật, hoặc chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, hoặc các đại Bồ Tát sẽ tuyên thuyết ra các thần chú. Sau khi Đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn, ngài A Nan đã kết tập các thần chú lại trong những kinh điển, không chỉ chứa câu thần chú, mà còn miêu tả rõ hoàn cảnh mà Đức Phật hoặc các vị Bồ Tát thuyết ra thần chú, cùng với công năng, cách hành trì… những thần chú được công khai truyền dạy đó, gọi là thần chú phổ thông, ai có duyên muốn đọc tụng cứ đọc.
Ví dụ như chú Đại Bi do Quán Thế Âm Bồ Tát thuyết trong kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, chú Lăng Nghiêm được đức Phật Thích Ca thuyết trong kinh Lăng Nghiêm, chú Bảo Khiếp Ấn được Phật Thích Ca thuyết trong kinh Nhất Thiết Như Lai Tâm Bí Mật Toàn Thân Xá Lợi Bảo Khiếp Ấn Đà-la-ni. Chú Vãng Sinh do Phổ Hiền Bồ Tát thuyết trong kinh Niệm Phật Ba La Mật … cùng với hàng ngàn thần chú được lưu truyền công khai trong rất nhiều kinh điển khác.
Nếu muốn biết rõ chúng ta hãy dành nhiều thời gian nghiên cứu trong các tạng kinh của Đức Phật để lại, không nghiên cứu mà biết rõ hết được, nó là chuyện hái sao trên trời.
Tuy nhiên, có rất nhiều thần chú mang đặc thù riêng, không phải ai cũng được phép đọc tụng, Đức Phật và các vị Bồ Tát chỉ truyền thụ riêng cho những người đủ căn duyên, đủ trình độ, đủ đức hạnh, và lưu truyền bí mật từ thế hệ này sang thế hệ khác, gọi là mật chú. Vì là bí mật, nên chúng ta cũng không cần tìm hiểu sâu làm gì, hàng ngàn thần chú phổ thông đã là quá đủ để mọi người hành trì theo.
II. CÔNG ĐỨC, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI ĐỌC TỤNG THẦN CHÚ
Mỗi một thần chú sẽ chữa đựng những công năng riêng, đăc thù riêng, xong thông thường sẽ có chung các đặc tính sau:
1. Tiêu trừ nghiệp chướng
Nhờ đó người đọc có thể thoát được các hoạn nạn, tai ương, bệnh tật, đau khổ…
2. Tăng trưởng phước lành
Nhờ vậy người đọc có thể gặp được nhiều may mắn, tăng thêm trí tuệ, đức hạnh, gặt hái nhiều điều tốt lành…
3. Tạo ra công năng đặc thù của thần chú
Ví dụ như chú Lăng Nghiêm có công năng trừ tà, phá ma chướng cực mạnh, chú Vãng sinh giúp người đọc tiêu nghiệp và sớm được vãng sinh về Tịnh Độ. Chú Biến Thực có công năng biến phẩm vật ra thật nhiều, chú Đại Bi là vạn năng, chữa bệnh cũng được, tăng trưởng trí tuệ, thần thông cũng được, mau chóng đắc đạo cũng được.
Muốn biết rõ công năng của từng thần chú như thế nào, chỉ có cách là đọc kỹ trong kinh điển thuyết ra thần chú đó.
4. Chiêu cảm sự gia hộ của vị Phật, vị Bồ Tát thuyết ra thần chú đó.
Đây là một điều vi diệu mà không phải pháp môn nào cũng có. Hầu hết các pháp môn trong đạo Phật, người tu phải tự dựa vào sức mình, gọi là tự lực. Nỗ lực hành trì bao nhiêu, thì được hưởng thành tựu bấy nhiêu.
Riêng có 2 pháp môn, là trì tụng thần chú, và niệm danh hiệu chư Phật – Bồ Tát, sẽ nhận được thêm tha lực. Tha lực là như thế nào ?
Khi trì tụng thần chú nào đó, hay niệm danh hiệu vị Phật – Bồ Tát nào đó, ngoài những công đức do nỗ lực tụng niệm mà có được, người tu còn nhận được sự gia hộ đặc biệt của vị Phật hoặc Bồ Tát – vị bổn tôn đã thuyết ra thần chú đó, cộng thêm rất nhiều thiện thần, hộ pháp trợ giúp cho sớm thành tựu, gọi là tha lực.
Vừa có công đức do nỗ lực của bản thân mình, vừa nhận thêm tha lực của chư Phật – Bồ Tát, bởi thế nên những người tu theo hai pháp môn này, thường nhanh gặp được những linh ứng vi diệu.
5. Tăng trưởng Bồ Đề Tâm
Hiểu một cách đơn giản, Bồ Đề Tâm là hạt giống ban đầu để có thể trở thành Phật. Một khi đã gieo trồng, hạt giống này vĩnh viễn không bị hư hoại, mà chậm rãi nảy mầm, lớn lên dần dần.
Trải qua vô số kiếp, dù có đầu thai luân chuyển nhiều kiếp không còn nhớ gì nữa, dù có được làm người, hay phải phải làm súc sinh, ngạ quỷ, phải vào địa ngục, Bồ Đề Tâm cũng không mất đi, mà sẽ âm thầm dẫn dắt ta hướng về cái thiện, hướng về Phật Pháp để tu hành, tích lũy công đức lớn dần cho đến khi thành Phật mới thôi.
4 đặc tính đầu (tiêu nghiệp, tăng phước, công năng đặc thù, gia hộ) là hiện tại có thể thấy được, nhiều hay ít tùy thuộc mỗi người, còn đặc tính thứ 5 (gieo chủng tử Bồ Đề) phải vô lượng kiếp sau mới thấy.
4 đặc tính đầu cần phải đáp ứng khá nhiều yêu cầu khi hành trì mới đạt được, phạm phải những điều cấm kỵ sẽ mất đi ( cụ thể sẽ nói rõ ở bài sau) còn đặc tính thứ 5, hễ có đọc là chắc chắn đã gieo được giống Bồ Đề Tâm, chẳng bao giờ mất.
Với người trí tuệ có hạn, thích những thành quả đến ngay, thì sẽ coi 4 đặc tính đầu là quan trọng hơn đặc tính thứ 5.
Nhưng với người có trí tuệ nhìn xa, xa đến vô lượng kiếp, thấu hiểu được sự lên xuống, được mất vô thường của mọi thứ, sẽ hiểu ra đặc tính thứ 5 – gieo chủng tử Bồ Đề để tương lai có thể thành Phật mới thực sự là điều trọng đại.
(Quang Tử)
________________
Ở bài tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu về các yếu tố khiến tăng hoặc giảm công đức khi đọc tụng thần chú.
VÍ DỤ về BÁT NHÃ : CÁI GÌ THẬT ? CÁI GÌ ẢO ?
Đầu năm Khai Hoàng triều đại nhà Tùy, trong một ngôi làng nọ ở vùng ngoại ô của huyện Ký Châu, có một cậu bé 13 tuổi, thường xuyên ăn cắp trứng gà của nhà hàng xóm để nướng ăn.
Một buổi sáng sớm, khi người dân trong làng còn chưa thức dậy, cha cậu bé nghe có tiếng người gọi cửa bên ngoài, gọi tên con trai ông. Người cha liền bảo cậu bé ra mở cửa. Người gõ cửa là quan nha, ông ta nói với cậu bé: “Quan phủ có lệnh kêu gọi cậu đi làm nô dịch”.
Cậu bé nói: “Vậy thì đợi tôi vào phòng chuẩn bị quần áo và một ít lương khô, rồi sẽ đi cùng với các ông”.
Người gõ cửa trả lời: “Không cần đâu”. Thế là họ đưa cậu bé ra khỏi làng.
Khi đến cửa phía Bắc của tòa thành, quan sai ra lệnh cho cậu bé vào trong thành. Khi vừa vào trong, thì cửa thành đóng lại. Trong thành không thấy có một người nào, chỉ là một tòa thành trống không.
Bỗng cậu cảm thấy khắp nơi trên mặt đất là than nóng, là ngọn lửa đốt cháy vào tận mắt cá chân, chân cậu bé bị lửa cháy tới nóng bỏng làm cậu kêu la ầm ĩ.
Vừa khi đó nhìn thấy cửa phía Nam đang mở, cậu liền vội vàng chạy lại hướng cửa phía Nam, nhưng vừa định nhảy qua đó, thì cửa bỗng nhiên bị đóng lại. Cậu bé lại chạy ra cửa phía Đông, rồi cửa phía Tây, cửa phía Bắc, nhưng cửa thành ở các hướng đó đều bỗng nhiên bị đóng sập lại khi cậu sắp chạy tới.
Lúc này người trong thôn bắt đầu ra đồng làm việc, tất cả mọi người đều nhìn thấy cậu bé đang chạy quanh tứ phía, miệng không ngừng kêu khóc.
Mọi người đều sôi nổi bàn tán: “Thằng bé này có phải bị điên rồi không? Sao sáng sớm đã chạy ra đây lại còn không ngừng nhảy nhót chơi đùa ở đây?”.
Vào giờ nghỉ trưa, khi những người đi làm đồng đã trở về, người cha đi tìm con và hỏi: “Mọi người có nhìn thấy con trai tôi ở đâu không?”.
Người đi làm đồng trong thôn trả lời: “Nó ở khu ruộng phía Nam của thôn ấy, nhảy nhót chạy đùa tứ phía, chúng tôi gọi mãi mà nó không thèm quay lại”.
Cha cậu bé vội vàng đi theo hướng mọi người chỉ, tìm mãi mới thấy cậu con trai đang điên cuồng nhảy nhót một mình. Nhưng thật kỳ lạ, người cha chỉ gọi một tiếng, cậu bé bỗng ngừng hẳn những hành động kỳ quặc.
Lúc đó cậu bé bỗng phát hiện ra rằng, tất cả than hồng, lửa bỏng đều không còn nữa. Vừa nhìn thấy cha, cậu bé ngã lăn ra đất và khóc òa. Cha cậu phát hiện phần da thịt dưới đầu gối đều đã bị phỏng và lở loét, giống như là bị nướng chín rồi. Hỏi cậu câu gì cậu bé cũng không trả lời.
Người cha chỉ còn cách ôm con về nhà và tìm cách chữa trị, nhưng điều trị cách nào cũng không khỏi, phần dưới đầu gối cứ như một bộ xương khô.
Hàng xóm của cậu vì để tìm hiểu rõ sự tình, đã đi tới nơi cậu bé chạy nhảy để xem xét, phát hiện ra những dấu chân mờ nhạt của cậu bé, nhưng trên nền đất không hề có dấu vết của việc nhóm củi đốt lửa.
Mọi người đều bàn luận phân tích một cách sôi nổi, mọi người đều cho rằng, cậu bé này vì thường xuyên ăn cắp trứng gà rồi nướng ăn, nên mới gặp phải báo ứng như vậy.
Có người còn cảm thán mà nói: “Chỉ là một cậu bé mười ba tuổi làm việc xấu, mà còn gặp báo ứng như vậy; thế thì người lớn chúng ta, quan chức làm việc xấu làm sao thoát khỏi không bị báo ứng chứ?”
Từ đó trở đi người già người trẻ trong thôn, đều tự giới cấm làm điều xấu và tín ngưỡng Thần Phật.
Trong “Hoa Nghiêm Kinh” có nói: Con người ta trước lúc lâm chung, có thể nhìn thấy nơi mình sẽ được phúc báo trong tương lai.
Còn những người làm việc ác tạo nghiệp, có thể nhìn thấy cảnh tượng của địa ngục, quỷ đói, súc sinh, khi nhục thân còn chưa chết đi, nghiệp lực đã xuất hiện rồi.
Còn những người tích đức hành thiện, trước khi chết, thì có thể nhìn thấy cảnh tượng cung điện sân vườn, thiên nữ trên trời, là vì họ đã đắc được thiện báo.
Trong chuyện trên, mọi người ai cũng thấy là mảnh ruộng bình thường, chỉ riêng người chịu quả báo thấy là tòa thành lửa, ở trong đó bị thiêu đốt đau đớn. Nhưng không phải là ảo tưởng, vì chân cậu bé bị đốt phỏng nặng, đến mức tàn phế. Vậy phải hiểu như thế nào ? Chỉ có những kinh chuyên về Bát Nhã như kinh Kim Cang, kinh Lăng Nghiêm mới lí giải rõ ràng điều này: tất cả thân xác, cảnh vật, sự việc…mà mỗi người thấy, đều là ảo giác biến hóa ở trong CHÂN TÂM . CHÂN TÂM này rỗng suốt, không có hình ảnh, âm thanh, mùi vị, cảm giác, ý nghĩ… gì cả, mà là Khoảng không bao la không sinh không diệt, chứa tất cả những thứ trên .(Quang Tử tạm gọi là khoảng không, vì cũng không biết gọi bằng gì cho dễ hiểu hơn, trong kinh Phật thường ví như ‘hư không’) Nếu nghiệp đồng như nhau, mọi người trong một khu vực, một đất nước, một thế giới… sẽ nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy… những cảnh vật, con người … giống nhau. ( Nhưng thật ra cái thấy của mỗi người cũng khác nhau chút chút, chẳng giống nhau hoàn toàn, như người cận, người viễn, người loạn thị, quáng gà với người thị lực tốt sẽ thấy khác nhau) Nhưng nếu nghiệp khác nhau, thì một là họ sẽ ở những chỗ khác nhau, như người ở Việt Nam không thấy được con người, cảnh vật ở Mĩ, và ngược lại. Hoặc người ở trần gian không thấy được cảnh trong địa ngục và ngược lại. Hai là dù đứng cùng một chỗ, nhưng mỗi người tùy theo nghiệp sẽ thấy cảnh vật khác nhau. Ví dụ như cùng ở một chỗ , chúng ta chỉ đếm được có 10 người hiện hữu, nhưng cô Phan Bích Hằng và những người có mắt âm dương sẽ đếm được mấy chục vị, cả người lẫn ma, còn như HT Tuyên Hóa, Quả Khanh có thể đếm được rất đông đến hàng trăm gồm cả người , ma, quỷ, thần… và cả rồng nữa. Thực ra tất cả những cảnh đó đều là huyễn hóa như chuyện trong giấc mơ, KHÔNG CÓ THỰC. Nhưng sẽ có người hỏi, giả sử coi như là giấc mơ, mọi thứ không thật có, vậy tại sao, khi đứng trước Lăng Bác, hay Vạn Lí Trường Thành chẳng hạn, tất cả hàng vạn, hàng triệu người đều nhìn thấy, sờ thấy rõ ràng ? Thời nay có một thứ khiến chúng ta dễ hình dung ra, đó là Game Online. Mỗi người chơi game đều có một màn hình ( coi như đó là Tâm của mỗi người, khác là màn hình chỉ có 14 inch, còn Tâm thì bao la không giới hạn ) Trong trò chơi, mỗi người có một avatar ( tương đương với thân xác của mình, chỉ khác là avatar nó không biết đau thôi) Avatar này có sinh có diệt, chết rồi thì hồi sinh lại ( mấy game thủ rành cái này lắm), còn thân xác của chúng ta cũng sinh rồi diệt, chết rồi thì đầu thai kiếp khác. Tuy nhiên, phàm phu chúng ta không nhận ra rằng, dù thân xác sinh ra rồi già, chết đi, đầu thai qua kiếp khác, thì cái CHÂN TÂM rỗng không kia vẫn cứ như thế, chúng ta vẫn luôn luôn có Tâm, bất chấp cái thân chết mục ra thành tro bụi, dù sinh lên trời, rồi quay xuống làm người , làm súc sinh, hay vào địa ngục, cảnh vật xung quanh thay đổi không ngừng, nhưng Tâm thì vẫn thế, vẫn nhìn thấy mọi thứ, vẫn nghe thấy, ngửi thấy, sờ thấy …mọi thứ. Giống như trong game, cái avatar thì sinh rồi diệt, rồi lại hồi sinh… nhưng cái màn hình 14 inch và cái loa thì vẫn cứ còn nguyên ( Khác biệt giữa thực tế và ví dụ là : CHÂN TÂM thì vĩnh cửu, không bao giờ mất, còn cái máy tính, màn hình, cái loa thì vài năm là cho ra bán ve chai ) Điểm thứ hai, đó là những người cùng chơi một game online, trong màn hình máy tính của mỗi người đó, họ đều nhìn thấy, nghe thấy ( công nghệ phát triển hơn, chắc người ta còn ngửi thấy, sờ thấy … nữa) những hình người, những tòa thành, những thanh đao, những con ngựa, những cảnh vật giống nhau. Vậy thế chúng có thật không ? Tất nhiên là KHÔNG, chúng vẫn cứ là huyễn hóa, không hề có thật, dù ai trong game onlinne cũng đều thấy, đều biết chúng. Mọi con người, sự vật, sự việc trên thế gian này cũng lại như thế, dù ai ở cùng một vị trí đều thấy người đó, hay vật đó, màu sắc, hình dáng, âm thanh, mùi vị … như nhau, nhưng người đó, vật đó vẫn cứ là ảo, là giả, là huyễn hóa mà thôi. Chẳng qua do nghiệp tương đồng, nên ở trong CHÂN TÂM mỗi người, hiện ra cảnh vật giống nhau, người này hỏi người kia, người kia hỏi người kìa, một nhóm người ( có khi cả tỉ người ) đều thấy như nhau, và kết luận là người đó, vật đó ” CÓ THẬT”, song không phải ! Chỉ cần Nghiệp sai khác nhau, không tương đồng nhau, thì lập tức ta sẽ thấy cảnh vật, con người… khác đi dù vẫn đang ở cùng một vị trí. Câu chuyện cậu bé 13 tuổi trên là một ví dụ, mọi người xung quanh ( do nghiệp tương đồng) thấy là mảnh ruộng bình thường, nhưng cậu bé đó, do nghiệp sai khác, nên thấy là tòa thành lửa đốt. Hay ví dụ khác, con người và các linh hồn, các cô hồn ngạ quỷ dù cũng ở một vị trí như nhau, nhưng nhìn thấy sự vật, cảnh vật khác nhau. Con người thì thấy mỗi mình mình đứng đó, còn các vong linh thì thấy có một người cộng thêm dăm bảy hồn ma nữa ( các nhà ngoại cảm như Phan Bích Hằng cũng thấy vậy) Con người thì thấy bầu trời màu xanh, còn vong linh thì có vong cũng thấy là màu xanh, nhưng có vong thấy màu đỏ đỏ đen đen… tùy nghiệp lực. Cùng đứng trước một dòng sông, con người, các loài sinh vật chim, thú… ai cũng thấy là nước mênh mông, các vong linh bình thường cũng thấy là nước, vậy mà rất đông các loài ngạ quỷ chỉ thấy là đất cằn khô khốc, hoặc là thung lũng rực lửa. Ngẫm cho kĩ, ta sẽ thấy dòng sông nước, hay đất cằn, hay thung lũng lửa… đó đều là ảo ảnh, tùy nghiệp mỗi người, mỗi chúng sinh mà hiện ra trong CHÂN TÂM mỗi người, mỗi chúng sinh một khác, chúng không có bản thể chân thật, giống như hình ảnh trong Game online, không hề tồn tại, không hề đáng để bám víu, nuối tiếc, chấp giữ. Các Đức Phật, các vị Đại Bồ Tát thấy rõ chân lí này, nên tu tập Bát Nhã Ba La Mật – trí tuệ viên mãn của Bậc Thánh, buông xả mọi hình tướng : thân xác, cảm giác, ý nghĩ, hệ điều hành mọi hoạt động, sự thấy biết ghi nhớ. ( sắc, thọ, tưởng, hành , thức) hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm, mọi chuyện ( sắc, thanh , hương, vị, xúc, pháp)..v.v…vì rằng chúng không hề thật có, không thể sở hữu, không thể nắm giữ được ( tiếng Hán là ” Bất khả đắc”, hay “Vô sở đắc”) . Trở về với CHÂN TÂM rỗng không bao la vô tận, không hình tướng, không sinh không diệt, không bám chấp, không luân hồi chuyển kiếp, không có khổ đau, vĩnh hằng, vắng lặng, đó mới là CHÂN THẬT NIẾT BÀN. Bát Nhã Tâm Kinh dạy rằng : “… Do không có sở đắc, Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật, tâm không ngăn ngại, do không ngăn ngại, nên không hề sợ hãi, xa rời mộng tưởng điên đảo, đạt đến Cứu Cánh Niết Bàn.” Hỏi : – Vậy theo lời Quang Tử nói. Thân xác này khi chết đi sẽ tan hoại. Vậy 5 uẩn đó không có uẩn nào là chủ tể vậy 5 uẩn đó có tan hoại không ? Nếu có thì nó sẽ đi về đâu. Nếu không tan hoại thì sẽ đi về đâu. Ảo giác của tâm mà bạn nói khi thân này chết đi nó có còn tồn tại hay tan rã. Vậy tự tánh hay bản ngã khi mất đi hoặc biến đổi sẽ như thế nào. Còn theo mình thì 5 uẩn đó riêng rẽ. Không có uẩn nào làm chủ. Nhưng 5 uẩn đó khi quyện chặt vào với nhau sẽ tạo thành một ông chủ. Mà chính ông chủ đó sẽ thọ nghiệp báo mà chuyển sanh sang 6 cõi hoặc đạt các cảnh giới khác. Mô phật. Phật pháp vô biên. Đường học còn lu mờ. Xin bạn hoan hỷ chỉ dạy Quang Tử : – Bạn thân mến, con người cũng như mọi chúng sinh khác được cấu tạo từ 5 thứ : thân xác (sắc) – cảm xúc (thọ) – vọng tưởng (tưởng) – hệ thống thần kinh điều khiển (hành) – tri thức ( thức), gọi là 5 ấm , hay 5 uẩn. 5 uẩn liên tục sinh diệt trong từng giây phút, không dừng nghỉ bao giờ. Chẳng qua là thân vừa sinh ra giống thân vừa diệt đi đến 99,99%, nên ta bị ảo giác là nó còn nguyên. Chứ thực tế sau 10 năm nhìn lại, ta sẽ thấy thân khác đi rất nhiều so với 10 năm trước mà ta chẳng hay biết, nó đã bị thay thế hoàn toàn. Thế nên đương nhiên sau khi chết thì 5 uẩn tan hết. Sau đó đầu thai qua kiếp khác, lại có 5 uẩn mới, đến khi chết, chúng lại tan hoại. Rồi lại qua kiếp khác, lại có 5 uẩn mới … mọi chuyện lặp đi lặp lại vô số lần không có hồi kết…gọi là luân hồi. Vậy những cái 5 uẩn đó, hay gọi cho dễ hiểu là những cái thân đó – tâm đó, đã đi về đâu ? Thực ra, chúng chẳng đi đâu, về đâu đâu cả. Giống như ta đem một mớ đinh, ốc vít, gỗ, cưa, búa, tua vít…. để lộn xộn trên bàn, thì chúng không thể gọi tên là một vật gì, mà là một đống nguyên vật liệu. Sau đó ta thêm vào 1 giờ lao động khéo léo, dùng cái đống nguyên vật liệu đóng ra một CÁI GHẾ. Ta cho rằng từ giây phút này, CÁI GHẾ được sinh ra đời, nhưng thực ra, trước đó nó cũng đã có mặt trên bàn rồi, chẳng qua hình dạng, công dụng của nó khác mà thôi, vậy ta gọi là sinh ra, thực chất là không từ đâu đến, mà chỉ là một sự thay hình đổi dạng thôi. Sau đó, ta lại dùng tua vít, cưa, búa… và thêm vào 15 phút lao động, tháo CÁI GHẾ ra từng mảnh nhỏ đặt trên bàn. Bây giờ, không còn hình dạng CÁI GHẾ như lúc nãy nữa, ta gọi là CÁI GHẾ chết đi. Nhưng thực sự tất cả mọi bộ phận của nó vẫn ở trên bàn chứ chẳng đi đâu cả, chỉ là một sự thay hình đổi dạng khác mà thôi. Vậy ta gọi là CHẾT, nhưng thực chất là không đi về đâu cả. Từ đầu đến cuối, mọi thứ vẫn ở cả trên bàn, nhưng lúc thành hình một cái ghế, ta gọi là SINH, lúc không còn hình cái ghế, ta gọi là DIỆT. Kì thực. mọi thứ vẫn ở đó, không từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu, chẳng qua tâm ta chấp vào các hình dạng biến đổi khác nhau mà đặt tên, mà vui khi nó sinh ra, buồn khi nó diệt đi. Các thân 5 uẩn trong sinh tử luân hồi cũng vậy, không từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu, mà nó cứ biến đổi liên tục khi hình tướng này, khi hình tướng khác, không bao giờ dừng nghỉ ( Vô thường ), chẳng ai đứng ra điều khiển quá trình này, mà tự chúng biến đổi theo quy luật nhân quả ( Vô ngã) tạo ra đủ loại đau khổ ( Khổ : sinh, lão, bệnh. tử, ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc, ngũ ấm xí thịnh khổ ) mà thực chất là thể tánh thì vẫn cứ như thế, (giống như mọi bộ phận, hay mọi nguyên vật liệu của cái ghế vẫn luôn ở trên bàn) Chấm dứt sự bám chấp vào các hình tướng biến đổi khác nhau, ta sẽ không còn bị đau khổ khi một thứ sinh ra hay diệt đi, vì thực ra thì mọi thứ vẫn còn nguyên, không sinh không diệt (Quang Tử)
Trong chuyện trên, mọi người ai cũng thấy là mảnh ruộng bình thường, chỉ riêng người chịu quả báo thấy là tòa thành lửa, ở trong đó bị thiêu đốt đau đớn. Nhưng không phải là ảo tưởng, vì chân cậu bé bị đốt phỏng nặng, đến mức tàn phế. Vậy phải hiểu như thế nào ? Chỉ có những kinh chuyên về Bát Nhã như kinh Kim Cang, kinh Lăng Nghiêm mới lí giải rõ ràng điều này: tất cả thân xác, cảnh vật, sự việc…mà mỗi người thấy, đều là ảo giác biến hóa ở trong CHÂN TÂM . CHÂN TÂM này rỗng suốt, không có hình ảnh, âm thanh, mùi vị, cảm giác, ý nghĩ… gì cả, mà là Khoảng không bao la không sinh không diệt, chứa tất cả những thứ trên .(Quang Tử tạm gọi là khoảng không, vì cũng không biết gọi bằng gì cho dễ hiểu hơn, trong kinh Phật thường ví như ‘hư không’) Nếu nghiệp đồng như nhau, mọi người trong một khu vực, một đất nước, một thế giới… sẽ nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy… những cảnh vật, con người … giống nhau. ( Nhưng thật ra cái thấy của mỗi người cũng khác nhau chút chút, chẳng giống nhau hoàn toàn, như người cận, người viễn, người loạn thị, quáng gà với người thị lực tốt sẽ thấy khác nhau) Nhưng nếu nghiệp khác nhau, thì một là họ sẽ ở những chỗ khác nhau, như người ở Việt Nam không thấy được con người, cảnh vật ở Mĩ, và ngược lại. Hoặc người ở trần gian không thấy được cảnh trong địa ngục và ngược lại. Hai là dù đứng cùng một chỗ, nhưng mỗi người tùy theo nghiệp sẽ thấy cảnh vật khác nhau. Ví dụ như cùng ở một chỗ , chúng ta chỉ đếm được có 10 người hiện hữu, nhưng cô Phan Bích Hằng và những người có mắt âm dương sẽ đếm được mấy chục vị, cả người lẫn ma, còn như HT Tuyên Hóa, Quả Khanh có thể đếm được rất đông đến hàng trăm gồm cả người , ma, quỷ, thần… và cả rồng nữa. Thực ra tất cả những cảnh đó đều là huyễn hóa như chuyện trong giấc mơ, KHÔNG CÓ THỰC. Nhưng sẽ có người hỏi, giả sử coi như là giấc mơ, mọi thứ không thật có, vậy tại sao, khi đứng trước Lăng Bác, hay Vạn Lí Trường Thành chẳng hạn, tất cả hàng vạn, hàng triệu người đều nhìn thấy, sờ thấy rõ ràng ? Thời nay có một thứ khiến chúng ta dễ hình dung ra, đó là Game Online. Mỗi người chơi game đều có một màn hình ( coi như đó là Tâm của mỗi người, khác là màn hình chỉ có 14 inch, còn Tâm thì bao la không giới hạn ) Trong trò chơi, mỗi người có một avatar ( tương đương với thân xác của mình, chỉ khác là avatar nó không biết đau thôi) Avatar này có sinh có diệt, chết rồi thì hồi sinh lại ( mấy game thủ rành cái này lắm), còn thân xác của chúng ta cũng sinh rồi diệt, chết rồi thì đầu thai kiếp khác. Tuy nhiên, phàm phu chúng ta không nhận ra rằng, dù thân xác sinh ra rồi già, chết đi, đầu thai qua kiếp khác, thì cái CHÂN TÂM rỗng không kia vẫn cứ như thế, chúng ta vẫn luôn luôn có Tâm, bất chấp cái thân chết mục ra thành tro bụi, dù sinh lên trời, rồi quay xuống làm người , làm súc sinh, hay vào địa ngục, cảnh vật xung quanh thay đổi không ngừng, nhưng Tâm thì vẫn thế, vẫn nhìn thấy mọi thứ, vẫn nghe thấy, ngửi thấy, sờ thấy …mọi thứ. Giống như trong game, cái avatar thì sinh rồi diệt, rồi lại hồi sinh… nhưng cái màn hình 14 inch và cái loa thì vẫn cứ còn nguyên ( Khác biệt giữa thực tế và ví dụ là : CHÂN TÂM thì vĩnh cửu, không bao giờ mất, còn cái máy tính, màn hình, cái loa thì vài năm là cho ra bán ve chai ) Điểm thứ hai, đó là những người cùng chơi một game online, trong màn hình máy tính của mỗi người đó, họ đều nhìn thấy, nghe thấy ( công nghệ phát triển hơn, chắc người ta còn ngửi thấy, sờ thấy … nữa) những hình người, những tòa thành, những thanh đao, những con ngựa, những cảnh vật giống nhau. Vậy thế chúng có thật không ? Tất nhiên là KHÔNG, chúng vẫn cứ là huyễn hóa, không hề có thật, dù ai trong game onlinne cũng đều thấy, đều biết chúng. Mọi con người, sự vật, sự việc trên thế gian này cũng lại như thế, dù ai ở cùng một vị trí đều thấy người đó, hay vật đó, màu sắc, hình dáng, âm thanh, mùi vị … như nhau, nhưng người đó, vật đó vẫn cứ là ảo, là giả, là huyễn hóa mà thôi. Chẳng qua do nghiệp tương đồng, nên ở trong CHÂN TÂM mỗi người, hiện ra cảnh vật giống nhau, người này hỏi người kia, người kia hỏi người kìa, một nhóm người ( có khi cả tỉ người ) đều thấy như nhau, và kết luận là người đó, vật đó ” CÓ THẬT”, song không phải ! Chỉ cần Nghiệp sai khác nhau, không tương đồng nhau, thì lập tức ta sẽ thấy cảnh vật, con người… khác đi dù vẫn đang ở cùng một vị trí. Câu chuyện cậu bé 13 tuổi trên là một ví dụ, mọi người xung quanh ( do nghiệp tương đồng) thấy là mảnh ruộng bình thường, nhưng cậu bé đó, do nghiệp sai khác, nên thấy là tòa thành lửa đốt. Hay ví dụ khác, con người và các linh hồn, các cô hồn ngạ quỷ dù cũng ở một vị trí như nhau, nhưng nhìn thấy sự vật, cảnh vật khác nhau. Con người thì thấy mỗi mình mình đứng đó, còn các vong linh thì thấy có một người cộng thêm dăm bảy hồn ma nữa ( các nhà ngoại cảm như Phan Bích Hằng cũng thấy vậy) Con người thì thấy bầu trời màu xanh, còn vong linh thì có vong cũng thấy là màu xanh, nhưng có vong thấy màu đỏ đỏ đen đen… tùy nghiệp lực. Cùng đứng trước một dòng sông, con người, các loài sinh vật chim, thú… ai cũng thấy là nước mênh mông, các vong linh bình thường cũng thấy là nước, vậy mà rất đông các loài ngạ quỷ chỉ thấy là đất cằn khô khốc, hoặc là thung lũng rực lửa. Ngẫm cho kĩ, ta sẽ thấy dòng sông nước, hay đất cằn, hay thung lũng lửa… đó đều là ảo ảnh, tùy nghiệp mỗi người, mỗi chúng sinh mà hiện ra trong CHÂN TÂM mỗi người, mỗi chúng sinh một khác, chúng không có bản thể chân thật, giống như hình ảnh trong Game online, không hề tồn tại, không hề đáng để bám víu, nuối tiếc, chấp giữ. Các Đức Phật, các vị Đại Bồ Tát thấy rõ chân lí này, nên tu tập Bát Nhã Ba La Mật – trí tuệ viên mãn của Bậc Thánh, buông xả mọi hình tướng : thân xác, cảm giác, ý nghĩ, hệ điều hành mọi hoạt động, sự thấy biết ghi nhớ. ( sắc, thọ, tưởng, hành , thức) hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm, mọi chuyện ( sắc, thanh , hương, vị, xúc, pháp)..v.v…vì rằng chúng không hề thật có, không thể sở hữu, không thể nắm giữ được ( tiếng Hán là ” Bất khả đắc”, hay “Vô sở đắc”) . Trở về với CHÂN TÂM rỗng không bao la vô tận, không hình tướng, không sinh không diệt, không bám chấp, không luân hồi chuyển kiếp, không có khổ đau, vĩnh hằng, vắng lặng, đó mới là CHÂN THẬT NIẾT BÀN. Bát Nhã Tâm Kinh dạy rằng : “… Do không có sở đắc, Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật, tâm không ngăn ngại, do không ngăn ngại, nên không hề sợ hãi, xa rời mộng tưởng điên đảo, đạt đến Cứu Cánh Niết Bàn.” Hỏi : – Vậy theo lời Quang Tử nói. Thân xác này khi chết đi sẽ tan hoại. Vậy 5 uẩn đó không có uẩn nào là chủ tể vậy 5 uẩn đó có tan hoại không ? Nếu có thì nó sẽ đi về đâu. Nếu không tan hoại thì sẽ đi về đâu. Ảo giác của tâm mà bạn nói khi thân này chết đi nó có còn tồn tại hay tan rã. Vậy tự tánh hay bản ngã khi mất đi hoặc biến đổi sẽ như thế nào. Còn theo mình thì 5 uẩn đó riêng rẽ. Không có uẩn nào làm chủ. Nhưng 5 uẩn đó khi quyện chặt vào với nhau sẽ tạo thành một ông chủ. Mà chính ông chủ đó sẽ thọ nghiệp báo mà chuyển sanh sang 6 cõi hoặc đạt các cảnh giới khác. Mô phật. Phật pháp vô biên. Đường học còn lu mờ. Xin bạn hoan hỷ chỉ dạy Quang Tử : – Bạn thân mến, con người cũng như mọi chúng sinh khác được cấu tạo từ 5 thứ : thân xác (sắc) – cảm xúc (thọ) – vọng tưởng (tưởng) – hệ thống thần kinh điều khiển (hành) – tri thức ( thức), gọi là 5 ấm , hay 5 uẩn. 5 uẩn liên tục sinh diệt trong từng giây phút, không dừng nghỉ bao giờ. Chẳng qua là thân vừa sinh ra giống thân vừa diệt đi đến 99,99%, nên ta bị ảo giác là nó còn nguyên. Chứ thực tế sau 10 năm nhìn lại, ta sẽ thấy thân khác đi rất nhiều so với 10 năm trước mà ta chẳng hay biết, nó đã bị thay thế hoàn toàn. Thế nên đương nhiên sau khi chết thì 5 uẩn tan hết. Sau đó đầu thai qua kiếp khác, lại có 5 uẩn mới, đến khi chết, chúng lại tan hoại. Rồi lại qua kiếp khác, lại có 5 uẩn mới … mọi chuyện lặp đi lặp lại vô số lần không có hồi kết…gọi là luân hồi. Vậy những cái 5 uẩn đó, hay gọi cho dễ hiểu là những cái thân đó – tâm đó, đã đi về đâu ? Thực ra, chúng chẳng đi đâu, về đâu đâu cả. Giống như ta đem một mớ đinh, ốc vít, gỗ, cưa, búa, tua vít…. để lộn xộn trên bàn, thì chúng không thể gọi tên là một vật gì, mà là một đống nguyên vật liệu. Sau đó ta thêm vào 1 giờ lao động khéo léo, dùng cái đống nguyên vật liệu đóng ra một CÁI GHẾ. Ta cho rằng từ giây phút này, CÁI GHẾ được sinh ra đời, nhưng thực ra, trước đó nó cũng đã có mặt trên bàn rồi, chẳng qua hình dạng, công dụng của nó khác mà thôi, vậy ta gọi là sinh ra, thực chất là không từ đâu đến, mà chỉ là một sự thay hình đổi dạng thôi. Sau đó, ta lại dùng tua vít, cưa, búa… và thêm vào 15 phút lao động, tháo CÁI GHẾ ra từng mảnh nhỏ đặt trên bàn. Bây giờ, không còn hình dạng CÁI GHẾ như lúc nãy nữa, ta gọi là CÁI GHẾ chết đi. Nhưng thực sự tất cả mọi bộ phận của nó vẫn ở trên bàn chứ chẳng đi đâu cả, chỉ là một sự thay hình đổi dạng khác mà thôi. Vậy ta gọi là CHẾT, nhưng thực chất là không đi về đâu cả. Từ đầu đến cuối, mọi thứ vẫn ở cả trên bàn, nhưng lúc thành hình một cái ghế, ta gọi là SINH, lúc không còn hình cái ghế, ta gọi là DIỆT. Kì thực. mọi thứ vẫn ở đó, không từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu, chẳng qua tâm ta chấp vào các hình dạng biến đổi khác nhau mà đặt tên, mà vui khi nó sinh ra, buồn khi nó diệt đi. Các thân 5 uẩn trong sinh tử luân hồi cũng vậy, không từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu, mà nó cứ biến đổi liên tục khi hình tướng này, khi hình tướng khác, không bao giờ dừng nghỉ ( Vô thường ), chẳng ai đứng ra điều khiển quá trình này, mà tự chúng biến đổi theo quy luật nhân quả ( Vô ngã) tạo ra đủ loại đau khổ ( Khổ : sinh, lão, bệnh. tử, ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc, ngũ ấm xí thịnh khổ ) mà thực chất là thể tánh thì vẫn cứ như thế, (giống như mọi bộ phận, hay mọi nguyên vật liệu của cái ghế vẫn luôn ở trên bàn) Chấm dứt sự bám chấp vào các hình tướng biến đổi khác nhau, ta sẽ không còn bị đau khổ khi một thứ sinh ra hay diệt đi, vì thực ra thì mọi thứ vẫn còn nguyên, không sinh không diệt (Quang Tử)
LÀM THẾ NÀO VƯỢT QUA CHƯỚNG NGẠI VỮNG BƯỚC TU THEO PHẬT ?
(Trích “Niệm Phật Thập Yếu” – HT Thích Thiền Tâm)
Người tu có ba chướng là: phiền não chướng, nghiệp chướng và báo chướng, mà sức nghiệp chướng lại nặng nề nguy hiểm hơn hai thứ kia.
Nhưng tại sao khi chưa tu thì chẳng có chi, đến lúc tu hành càng cao lại thường gặp nhiều chướng nạn?
– Đó cũng bởi chúng ta là phàm phu thời mạt pháp, cố nhiên phần đông chướng duyên đều nặng.
Nhưng không phải do tu hành nên phát sanh chướng nạn, mà đó là sức chuyển nghiệp, chuyển quả báo nặng thành quả báo nhẹ, chuyển quả báo đời sau thành quả báo hiện tại.
Giả sử ta có mười phần nghiệp chướng, do công đức tu nên tiêu trừ được bảy phần, còn phát hiện ra ba phần. Và đáng lẽ quả báo ấy đến sau mới trả, nhưng nhờ sức tu niệm, nên chỉ chịu quả nhẹ trong kiếp này để mau được giải thoát.
Như Giới Hiền luận sư tiền kiếp là một vị quốc vương đem binh đi đánh dẹp các nơi, tạo nghiệp sát quá nhiều, đáng lẽ đến đời này sau khi hưởng phước thừa rồi chết, sẽ phải bị đọa vào địa ngục.
Nhưng nhờ luận sư chí tâm tu hành và hoằng dương Phật pháp, nên mỗi ngày ông bị một cơn bệnh trạng như có nhiều lưỡi gươm vô hình đâm chém trong thân.
Như thế trải qua hai năm bệnh mới dứt. Do duyên đó mà Giới Hiền luận sư tiêu được nghiệp địa ngục, sanh lên cõi Đâu Suất Đà Thiên.
Lại như ông Ngô Mao tiền kiếp cũng tạo nghiệp sát, đáng lẽ phải đọa làm heo bảy kiếp cho người giết. Nhưng nhờ ông trường trai niệm Phật, nên khi thọ số mãn, bị giặc đâm bảy dao trả nghiệp xong một lần, rồi được vãng sanh về Cực Lạc. Nói tóm lại, nôm na gọi đó là trạng thái dồn nghiệp. ( Nghiệp nặng tương lai dồn lại thành một khối nhẹ hơn nhiều, chịu ngay trong hiện tại)
Tuy nhiên, không phải mỗi người tu đều bị trả quả. Có người càng tu càng có điểm tốt, càng được an thuận, không bị trở ngại chi. Đó là do vị ấy những kiếp về trước không tạo nghiệp chi quá nặng, hoặc đã từng tu niệm và có nhiều căn lành.
Nhưng luận theo phần đông, đại khái nếu không gặp những chướng ngại lớn, cũng vấp phải những chướng ngại nhỏ (gọi lả khảo)
Những duyên nghiệp khảo đảo gây chướng ngại cho người tu, có rất nhiều chi tiết sai biệt. Nay chỉ xin tóm tắt đại cương qua sáu điểm:
1. Nội Khảo:
– Có người trong lúc tu tập, bỗng khởi lên những tâm niệm tham lam, giận hờn, dục nhiễm, ganh ghét, khinh mạn, nghi ngờ, hoặc si mê dễ hôn trầm buồn ngủ.
Những tâm niệm ấy đôi khi phát hiện rất mãnh liệt, gặp duyên sự nhỏ cũng dễ sanh cau có bực mình. Nhiều lúc trong giấc mơ, lại thấy các tướng thiện ác biến chuyển. Trong đây những tình tiết chi ly không thể tả hết được.
Gặp cảnh này, hành giả phải ý thức đó là do công năng tu hành nên nghiệp tướng phát hiện. Ngay lúc ấy, nên giác ngộ các nghiệp tướng đều như huyễn, nêu cao chánh niệm, tự nhiên những tướng ấy sẽ lần lượt tiêu tan.
Nếu không nhận thức rõ ràng, tất bị nó xoay chuyển làm cho thối đọa.
Tiên đức bảo: “Chẳng sợ nghiệp khởi sớm, chỉ e giác ngộ chậm,” chính là điểm này.
Có người đang lúc dụng công, bỗng phát sanh tán loạn mỏi nhọc khó cưõng nỗi. Ngay khi ấy, nên đứng lên lễ Phật đi kinh hành, hoặc tạm xả lui ra ngoài đọc một vài trang sách, sửa năm ba cành hoa, chờ cho thanh tĩnh sẽ trở vào niệm Phật lại.
Nếu không ý thức, cứ cưỡng ép cầu cho mau nhất tâm, thì càng cố gắng lại càng loạn. Đây là sự uyển chuyển trong lúc dụng công, ví như thế giặc quá mạnh tợ nước tràn, người chủ soái phải tùy cơ, nên cố thủ chớ không nên ra đánh.
Có vị tu hành, khi niệm Phật bỗng thấy cô tịch như bản đàn độc điệu dễ sanh buồn chán, thì không ngại gì phụ thêm trì chú, quán tưởng, hoặc tụng kinh.
Nhân tiện, xin thuật ra đây một việc để cho các bạn đồng tu thêm phần nhận thức.
Có một nữ Phật tử đến chỗ tôi buồn khóc thưa thật rằng: mỗi khi cô niệm Phật tụng kinh độ vài mươi phút là ngủ gục lúc nào không hay, có khi tiểu tiện ngay trước bàn Phật. Do đó cô sợ tội bỏ luôn không dám tụng niệm.
Tôi khuyên cô nên chuyên sám hối trong một thời gian. Quả nhiên ít lâu sau cô dứt hẳn nghiệp tướng ấy, lại nằm mơ thấy nhiều vỏ ốc, đập mỗi vỏ ốc ra thấy một hạt sen.
Cô này nghiệp si nặng, vỏ ốc là hiện tướng của nghiệp si, đập vỏ ốc thấy hạt sen là phá si mê mà thành tựu nhân lành giác ngộ vãng sanh về cõi Phật.
Lại có một vị sa di trần thuật lại rằng: Cứ ít đêm chú nằm mơ, thấy ba bốn mươi người cầm dao gậy đến đánh chém. Chú thay đổi trì Đại Bi rồi Chuẩn Đề chân ngôn đều không thành tựu, vì mỗi lần tụng độ ít biến là nhất đầu cả ngày, uống thuốc cũng không khỏi.
Biết mình nghiệp nặng, chú phát nguyện lạy Tam Thiên Phật để sám hối. Nhưng khi lên chùa lễ Phật thì thấy một người tướng mạo cao lớn hung dữ đến xô té không cho lạy.
Do đó chú đến buồn khóc bảo: Có tội thì sám hối tu hành, nhưng sám hối tu hành không được, chẳng biết phải làm sao? Tôi nghe xong suy nghĩ, biết vị này nghiệp sát nặng, Đây là lỗi ở chỗ chỉ biết cầu riêng phần mình mà không cầu cho các vong oan gia trái chủ, và cách dụng công phá nghiệp không khéo uyển chuyển.
Do đó tôi khuyên chú mỗi đêm nên thử lạy Tiểu Sám Hối theo Kinh Pháp Hoa, rồi quỳ tụng chú Vãng Sanh hăm mốt biến, đoạn niệm Phật độ năm trăm câu để cầu tiêu tội, và nguyện hồi hướng công đức cho các vị oan gia trái chủ được mau siêu thoát.
Cứ hành trì như thế trong một thời gian, nếu thấy yên ổn, có thể lần lượt tăng thêm. Chú sa di y theo lời, quả nhiên trạng thái ấy dứt tuyệt.
Trên đây là những nghiệp tướng khảo đảo bên trong, nếu không biết giác ngộ uyển chuyển phá trừ, tất sẽ thành ra chướng nạn.
2. Ngoại Khảo:
– Đây là những chướng cảnh bên ngoài làm duyên khó khăn thối đọa cho hành giả. Chứng cảnh đó là sự nóng bức, ồn ào, uế tạp, hoặc chỗ quá rét lạnh hay nhiều trùng kiến muỗi mòng.
Gặp cảnh này cũng nên uyển chuyển, đừng chấp theo hình thức, chỉ cầu được an tâm. Chẳng hạn như ở cảnh quá nóng bức, chẳng ngại gì mặc áo tràng mỏng lễ Phật, rồi ra ngồi chỗ mát mà trì niệm, đến khi xong lại trở vào bàn Phật phát nguyện hồi hướng.
Hoặc gặp chỗ nhiều muỗi, có thể ngồi trong màn thưa mà niệm Phật. Như ở miền bắc Trung Hoa vì thời tiết quá lạnh, các sư khi lên chánh điện tụng kinh, cũng phải mang giày vớ và đội mũ cẩn thận.
Có hàng Phật tử vì nhà nghèo, làm lụng vất vả, đi sớm về khuya, hoặc nợ nần thiếu hụt, rách rưới đói lạnh, vợ yếu con đau, không có chỗ thờ cúng trang nghiêm.
Trong hoàn cảnh ấy sự tu tập thật ra rất khó, phải có sự nhẫn nại cố gắng như bà lão ăn xin niệm Phật, mới có thể thành công.
Hoặc có người vì nhiều chướng nghiệp, lúc không tu thì thôi, khi sắp vào bàn Phật lại nhức đầu chóng mặt sanh đủ chứng bệnh, hay có khách viếng thăm và nhiều việc bất thường xảy đến.
Gặp những cảnh như thế, phải cố gắng và khéo uyển chuyển tìm phương tu hành. Sự cố gắng uyển chuyển tùy trường hợp sai biệt mà ứng dụng không thể nói ra hết được.
Nên nhớ gặp hoàn cảnh bất đắc dĩ, phải chú trọng phần tâm đừng câu nệ phần tướng mới có thể dung thông. Cõi Ta Bà ác trược vẫn nhiều khổ lụy, nếu không có sức cố gắng kham nhẫn, tất sự tu hành khó mong thành tựu.
3. Nghịch Khảo:
– Trên đường đạo, nhiều khi hành giả bị nghịch cảnh làm cho trở ngại. Có người bị cha mẹ anh em hay vợ chồng con cái ngăn trở hoặc phá hoại không cho tu.
Có vị thân mang cố tật đau yếu mãi không lành. Có kẻ bị oan gia luôn theo đuổi tìm cách mưu hại. Có người bị vu oan giá họa, khiến cho ngồi tù chịu tra khảo hoặc lưu đày. Có vị bị sự tranh đua ganh ghét, hoặc bêu rao nhiều tiếng xấu xa, làm cho khó an khó nhẫn.
Điều sau này lại thường xảy ra nhiều nhất. Những cảnh ngộ như thế đều do sức nghiệp. Lời xưa từng nói: có những tiếng khen, những vinh dự bất ngờ, không đáng khen mà được khen; và có những sự kiện thật ra không đáng khinh chê, lại diễn thành cảnh khinh hủy chê bai trọn vẹn.
Để chứng minh điểm này, tôi xin thuật một vài việc nhỏ:
Trước đây vào thời Pháp thuộc, có một vị hòa thượng được triều đình Huế ban cho bằng Tăng Cang, và phong tặng hiệu chùa là Sắc Tứ. Do đó đi đâu hòa thượng đều có xe ngựa và bê son tích trượng theo hầu, thậm chí lúc lên xuống đò cũng có người võng.
Một tên du đảng thấy thế bất mãn chửi thề, rồi tuyên ngôn để đến ngày rằm tháng bảy sẽ lên chùa xài mắng hòa thượng một trận trước mặt các tín đồ.
Đến ngày ấy, tên du đảng sau khi uống rượu xong, ở trần vắt áo lên chùa, gặp dịp một người Phật tử đem con rùa nhờ hòa thượng chú nguyện thả nơi ao sen.
Tên du đảng thấy quang cảnh ấy, y bỗng cảm động, trở về kêu đồng bọn lên chùa quy y, rồi từ đó đi đâu cũng khen hòa thượng là bậc hiền lành đạo đức. Cho đến việc hầu hạ võng giá, y cũng nói là do thầy mình có phước.
Một câu chuyện khác, có hai Phật tử ở xa đến viếng thăm một vị thượng tọa đồng hương đã từng quen thân từ trước. Khi đến chùa thì vị thượng tọa vừa đi khỏi cách đó độ mười lăm phút.
Hai người gạn hỏi, ông thị giả nói thầy vừa đi khỏi; hỏi mấy vị khác, họ không biết bảo là mới thấy thầy ở đây. Chỉ một chút đó mà hai Phật tử ấy sanh lòng nghi ngờ vị thượng tọa không muốn tiếp mình, từ biệt luôn không đến chùa, rồi đi đâu cũng chê bai vị thượng tọa nọ gồm những điều không đức hạnh.
Thật ra, cung cách của vị hòa thượng trước không đáng khen gì mấy mà được khen quá nhiều. Và hành động vô tâm của vị thượng tọa kể sau không có gì đáng chê, lại bị hiểu lầm khinh hủy. Thế gian cho đó là điều may rủi, thuyết nhân quả nhà Phật nhận định là lúc nghiệp duyên tội phước hiện ra.
Một việc nhỏ đã như thế, thì tất cả các nghịch cảnh khác đều do túc nghiệp, hoặc hiện nghiệp xui khiến. Khi gặp những cảnh này hành giả chỉ nên ẩn nhẫn sám hối, chớ buồn phiền oán trách mà thối thất đạo tâm.
4. Thuận Khảo:
– Có người không gặp cảnh nghịch mà lại gặp cảnh thuận, như cầu gì được nấy, nhưng sự thành công đều thuộc duyên ràng buộc chớ không phải giải thoát.
Có vị khi phát tâm muốn yên tu bỗng cảnh danh lợi sắc thanh chợt đến, hoặc nhiều người thương mến muốn theo phụng sự gần bên.
Thí dụ như người xuất gia khi phát tâm tu, bỗng có kẻ đến thỉnh làm tọa chủ một ngôi chùa lớn; hoặc như người tại gia thì có thơ mời làm tổng, bộ trưởng, hay một cuộc làm ăn mau phát tài.
Đây là những cảnh thuận theo duyên đời quyến rủ người tu, rồi dẫn lần đến các sự phiền toái khác làm mất đạo niệm. Người ta chết vì lửa thì ít, mà chết vì nước lại nhiều, nên trên đường tu cảnh thuận thật ra đáng sợ hơn cảnh nghịch.
Cảnh nghịch đôi khi làm cho hành giả tỉnh ngộ dễ thoát ly niệm tham nhiễm, hoặc phẫn chí lo tu hành. Còn cảnh thuận làm cho người âm thầm thối đạo lúc nào không hay, khi bừng tỉnh mới thấy mình đã lăn xa xuống dốc.
Người xưa nói: “Việc thuận tốt được ba. Mê lụy người đến già.” Lời này đáng gọi là một tiếng chuông cảnh tỉnh. Thế nên duyên thử thách của sự thuận khảo rất vi tế, người tu cần phải lưu ý.
5. Minh Khảo:
– Đây là sự thử thách rõ ràng trước mắt, ai cũng thấy mà chính mình không tự tỉnh ngộ. Chẳng hạn như một vị tài đức kém cỏi, nhưng xui gặp kẻ quen thói nịnh bợ, cứ luôn mồm khen là nhiều đức hạnh, tài năng, có phước lớn, khiến cho vị ấy nghe nhiều mà tin, sanh ra tự kiêu tự đắc, khinh thường mọi người, làm những điều càn dở, kết cuộc bị thảm bại.
Hoặc một vị có đủ khả năng tiến cao trên đường đạo, nhưng đang tu thì bị kẻ khác nói ra nói vào, như bảo ăn chay sẽ bị bệnh, niệm Phật trì chú nhiều sẽ bị đổ nghiệp, (hay tụng kinh Địa Tạng ma theo, tụng kinh Pháp Hoa đổ nghiệp, Phật Pháp thời nay không còn độ người được nữa, tu sẽ gặp nhiều việc không lành … những cái đó ai hiểu Đạo một chút đều không nghe lọt lỗ tai, nhưng người kia lại tin) rồi sanh ra e dè lo sợ, thối thất đạo tâm.
Hoặc có những cảnh tự mình biết nếu tiến hành dễ rước lấy sự lỗi lầm thất bại, nhưng vì tham vọng hay tự ái, vẫn đeo đuổi theo. Hoặc đối với các duyên bên ngoài, tuy biết đó là giả huyễn nhưng không buông bỏ được, rồi tự chuốc lấy sự buồn khổ vào tâm.
Như có một vị sư đổ ra nhiều công của mướn thợ chẻ đá, thợ mộc, thợ hồ, xây cất một cảnh chùa to trên núi. Khi ngôi tự viện vừa hoàn thành, thì sư cũng vừa kiệt sức mang bệnh nặng. Lúc sắp chết, ông sai đệ tử võng đi quanh chùa rờ từ viên đá buồn khóc tiếc than! ( Nếu vị sư ấy đem công sức tâm huyết xây chùa ấy, dồn vào sự tu hành, thì khi viên tích được về cõi Phật an lành, đâu đến nỗi tiếc than như vậy)
Lại trước đây có một tăng sĩ địa vị trong đạo khá cao, tánh tình chân thật rộng rãi ưa bố thí, nhưng vấp phải một khuyết điểm là hay tự đắc tự kiêu.
Vài chính trị gia trước giải phóng thấy được chỗ đó, thuê một nhà tướng sĩ đến giả vờ thăm chơi, rồi thuận tiện nhìn qua khen sư nhiều phước tướng, tất được vô số người ủng hộ, danh vọng càng thành đạt tiến cao.
Ông ấy lại nói thêm, nếu sư thích hoạt động, sẽ thành một tay lãnh tụ, và như ở ngoài đời có thể làm đến tổng thống. Sư nghe xong tuy khiêm nhường đôi tiếng, nhưng lộ vẻ cực kỳ hoan hỷ.
Nhân đó, các chính trị gia than vản thời thế, thương dân chúng khổ não, vận nước suy đồi, rồi dần dà thuyết phục lôi cuốn sư vào một cuộc vận động chính trị. Và cũng bởi đó, sư dần bỏ tu, sau bị hoạn nạn thê thảm trong một thời gian khá lâu.
Thế nên kẻ dễ dãi nhẹ dạ thường hay bị phỉnh gạt. Khi chưa diệt được tham vọng dễ bị người khác dùng tiền tài, sắc đẹp hoặc danh vị cuốn lôi. Cho đến nếu còn tánh nóng nảy khí khái, tất dễ bị người khích động, gánh vác lấy những việc phiền phức vào thân.
Đây là những cạm bẩy của đời mà cũng là của đạo, xin nêu ra để khuyên nhắc cùng nhau, nếu không dè dặt những điểm đó, sẽ vương vào vòng chướng nghiệp.
Đối với những duyên thử thách như thế, hành giả phải nhận định cho sáng suốt, và sanh lòng quả quyết tiến theo đường lối hợp đạo mới có thể thắng nó được.
6. Ám Khảo:
– Điều này chỉ cho sự thử thách trong âm thầm không lộ liễu, hành giả nếu chẳng khéo lưu tâm, tất khó hay biết.
Có người ban sơ tinh tấn niệm Phật, rồi bởi gia kế lần lần sa sút, làm điều chi thất bại việc ấy, sanh lòng lo lắng chán nản trễ bỏ sự tu. Có vị công việc lại âm thầm tiến triển thuận tiện rồi ham mê đeo đuổi theo lợi lộc mà quên lãng đường lối tu hành.
Có kẻ trước tiên siêng năng tụng niệm, nhưng vì thiếu sự kiểm điểm lỗi mình, phiền não ở nội tâm mỗi ngày tăng thêm một ít, lần lượt sanh ra biếng trễ, có khi đôi ba tháng hay một vài năm không niệm Phật được một câu.
Có người tuy sự sống vẫn điều hòa đầy đủ, nhưng vì thời cuộc bên ngoài biến chuyển, thân thế nhà cửa nay đổi mai dời, tâm mãi hoang mang hướng ngoại, bất giác quên bỏ sự trì niệm hồi nào không hay.
Trên đây đều là ảnh hưởng diễn biến của nghiệp chướng, hoặc phước báo vốn do chính những việc thiện ác từ kiếp trước của mỗi người, chẳng phải ai khác bày ra thử thách. Nhưng nó có sức thầm lôi cuốn hành giả làm cho bê trễ sự tu trì, nên gọi là “khảo”.
Khi mới tu, ai cũng có một lòng hướng thiện làm khởi đầu, nhưng lần lượt bị những duyên nghiệp trong ngoài, một trăm người đã rớt hết chín mươi chín.
Lời xưa nói: sự tu hành năm đầu thấy Phật như ở trước mặt, năm thứ hai Phật đã về tây, sang năm thứ ba ai muốn hỏi đến Phật hay bảo niệm Phật, phải trả tiền mới chịu nói tới.
Lời ngụ ngôn này cũng chỉ vào những điểm ở trên, hành giả cần phải lưu tâm chú ý.
10 CÁCH BIẾN KHÓ KHĂN THÀNH TRỢ THỦ
Trong luận Niệm Phật Bảo Vương Tam Muội có thuyết minh về Thập Bất Cầu Hạnh, nghĩa là mười hạnh không cầu, để phá mười điều chướng ngại lớn. Mười điều chướng ngại này gồm nhiếp tất cả chướng ngại. Cho nên nếu nắm vững mười hạnh không cầu đây, thì tất cả chướng ngại đều phải tiêu tan. Mười hạnh ấy là: 1. Thân không cầu không bệnh. Thân không đau bệnh thì tham dục dễ sinh. Tham dục sinh thì phá giới thoái đạo. 2. Cuộc đời không cầu không hoạn nạn. Đời không hoạn nạn, thì kiêu xa dễ khởi. Khi lòng kiêu mạn xa hoa khởi lên, sẽ khinh dễ, đè lấn tất cả mọi người. 3. Tu tâm không cầu không chướng ngại, tâm không chướng ngại thì sự học sẽ vượt bậc. Học vượt bậc tất có lỗi chưa được cho là mình đã được, đã thông suốt. 4. Lập hạnh không cầu không bị ma chướng. Hạnh không ma chướng thì sức thệ nguyện không bền chắc. Nguyện không bền chắc sẽ có lỗi chưa chứng cho là mình đã chứng. 5. Mưu sự không cầu dễ thành tựu. Sự dễ thành tựu thì sinh niệm khinh lờn. Niệm khinh lờn sinh, tất mang lỗi tự đắc cho rằng mình đủ đức hạnh tài năng. 6. Giao hảo không cầu mình được lợi ích. Mình được ích lợi thì hư mất đạo nghĩa. Đạo nghĩa hư mất, tất chỉ thấy lỗi của người. 7. Đối với người không cầu được sự thuận thảo. Người thuận thảo thì mình dễ tự kiêu. Và lòng đã kiêu căng, tất chỉ thấy phần phải của mình (mà không thấy được phần thiếu sót). 8. Làm ơn không cầu báo đáp. Cầu báo đáp thì lòng có chỗ tính toan. Đã có tính toan tất sẽ ham lợi khoe danh. 9. Thấy lợi không cầu mình được phần. Cầu được phần thì lòng si nổi động. Khi lòng si nổi dậy, tất sẽ bị mối lợi nhơ làm tiêu hủy thanh danh. 10. Bị oan ức không cầu biện minh. Cầu biện minh thì lòng nhân- ngã còn chưa dứt. Tâm nhân- ngã thị phi chưa dứt, tất mối oán hận sẽ từ đó nảy sinh ra nhiều. Suy qua các điểm trên, ta thấy cuộc đời đầy nỗi chướng ngại, mà có thể khái quát lại trong 10 điều: 1. Thân đau bệnh 2. Gặp hoạn nạn 3. Sự tu học bị ngăn trở 4. Khi lập hạnh ma chướng phá 5. Mưu sự thất bại 6. Bạn bè phản phúc lãnh đạm 7. Nhiều kẻ chống đối 8. Làm ơn mắc oán 9. Người mưu chiếm lợi danh 10. Chịu nỗi oan ức Trong mười điều này, luận Bảo Vương Tam Muội đã dùng mười hạnh không cầu để phá trừ. Thế thì trong phước có họa, trong họa có phước, trong thông có ngại, trong ngại có thông. Vì hiểu lẽ này nên các bậc tu hành khi xưa đã dùng “sự chướng ngại làm duyên tiến đạo.” Tiên đức có bảo: “Nếu không bị người làm xúc não, tất đạo quả của mình khó thành tựu.” Bởi sự khinh hủy chửi mắng, giá họa vu oan, và mọi chướng ngại khác là “cái mức để đo lường đạo lực của người tu.” Nếu gặp những chướng duyên đó mà vẫn nhẫn nại an nhiên được, tất chứng tỏ người ấy đã tu tiến đến mức khá cao. Bằng chẳng thế, làm sao đo lường được mức tu tiến của mình? Thật ra không phải người tu mong cầu sự chướng ngại, mà vì đường đạo đầy nổi bất trắc khó khăn, nên cần luôn luôn cảnh giác đặt mình trước mọi nỗi chướng duyên, để khi lâm cảnh vẫn an nhiên không rối động. Diệu Hiệp đại sư bảo: “Mười hạnh trên, duy người trí huệ hùng tâm mới áp dụng nổi. Nếu biết xét soi giác ngộ, giữ vững mười điều này, thì tuy vào cảnh giới ma không bị ma làm thối chuyển. Dù cho ở trong cảnh sắc thinh, danh lợi, thương ghét, thị phi, thạnh suy, đắc thất… vẫn được an nhiên.” Cho nên nếu không biết, thì tất cả sự tốt đẹp thuận lợi có thể thành duyên chướng đạo. Như xét thấu tất cả bệnh khổ cùng ma chướng đều giả dối không căn, tất nó cũng không làm chi được. Đối với mười điều trên, lối xử dụng của bậc trí lực là: 1. Lấy bệnh khổ làm thuốc hay. 2. Lấy hoạn nạn làm giải thoát. 3. Lấy chướng ngại làm tiêu dao. 4. Lấy các ma làm bạn pháp. 5. Lấy việc khó làm an vui. 6. Lấy bạn xấu làm giúp đỡ. 7. Lấy kẻ nghịch làm vườn hoa. 8. Lấy sự quên việc thi ân như quên bỏ chiếc dép rách. 9. Lấy thanh đạm làm giàu sang. 10. Lấy sự oan ức làm duyên tiến đạo. Xem đây suy rõ sự hay dở, được mất vẫn tùy tâm. Thế nên, người mới tu rất sợ chướng duyên, bậc tu lâu có khi lại muốn thử đương đầu với chướng cảnh. Xin thuật ra đây một đôi chuyện để làm ví dụ: Thuở xưa, ngài Thần Quang sau khi đắc pháp với tổ Đạt Ma, liền hạ mình đi làm mướn, như bửa củi, giã gạo hoặc gác cửa cho người. Có kẻ đến hỏi: “Ngài là bậc kế truyền Tổ vị, sao lại thấp mình đi làm những việc tầm thường như thế?” Ngài đáp: “Ta muốn hàng phục cái tâm của ta, chẳng phải chỗ ông biết!” Để so sánh về các hạnh tu, xin kể tiếp thêm vài chuyện: – Một sư cô nọ muốn dứt trừ lỗi lầm, nguyện kiết thất và tịnh khẩu ( không nói 100%) trong ba tháng. Buổi chiều kia, cô đang ngồi bên cửa sổ lần chuỗi niệm Phật. Có ông đạo trông thấy liền nói chuyện với người bạn, bảo cô nhiều nghiệp, nhiều tánh xấu. Cô nghe nóng giận đỏ mặt, nhưng vẫn làm thinh tiếp tục niệm Phật. Giây lát ông đạo bảo: -Tôi rình thấy cô này lấy một ông ở bên hàng xóm. Cô giận quá, nhịn không được nói lớn tiếng lên: -Huynh nói tôi lấy ai phải xác nhận lại, chớ tôi không chịu bỏ qua vụ này đâu? Ông đạo cả cười đáp: – Đó là tôi cố ý thử cô mà thôi. Cô đã nguyện tịnh khẩu sao lại còn nói chuyện? Vả lại tịnh khẩu là cốt để tịnh tâm, mà cô tịnh tâm không được, thì tịnh khẩu có ích gì? Sư cô ấy nghe xong chợt tỉnh ngộ, hổ thẹn làm thinh. Trong hai đoạn trên, ta thấy sư cô nọ muốn phá phiền não, song chỉ theo hình thức mà thôi. Còn ngài Thần Quang biết tất cả phiền não đều không, và cội gốc do nơi tâm chấp ngã, nên mới giả làm kẻ thấp hèn chịu người sai mắng, để xem tâm nhân-ngã thị phi còn động chăng để dứt trừ. Để kết luận, bậc trí lực chẳng những không ngại chướng duyên, mà còn mượn chướng duyên để tu tiến. Các vị ấy không còn chấp nê hình thức, vì hình thức chỉ là phương tiện mà nội tâm mới là cứu cánh.THÀNH TỰU – BẠN NGHĨ CÁI GIÁ CỦA NÓ LÀ BAO NHIÊU ?
( Quang Tử)
Có hai phiến đá nằm cạnh nhau trên núi. Trải qua trăm triệu năm sương gió, xét về hình dáng cũng như thành phần cấu tạo bên trong, hai phiến đá cũng y chang nhau, chả có mấy khác biệt.
Một ngày kia, một số người thợ đá lên núi, thấy đẹp, nên đem cả hai về để điêu khắc.
Phiến đá thứ nhất được những người thợ tạc thành tượng Phật, đặt trong chùa, ngày ngày được người ta lễ bái, tôn kính.
Phiến đá thứ hai, thì được người ta chẻ ra thành khối vuông vức, dùng làm đá lót đường đi ngay dưới bức tượng Phật.
Một ngày, phiến đá lót đường vì quá bức xúc, nói với bức tượng Phật :
– Thật quá bất công, cùng là đá như nhau, mà anh thì được người người cung kính, dâng hoa, lễ bái. Còn tôi thì bị người người dẫm dưới chân, chẳng ai coi ra gì…
Bức tượng Phật thâm trầm hỏi lại :
– Khi tạo ra anh, những người thợ đã đục bao nhiêu nhát ?
– Uhm… cũng không nhiều lắm. Họ rất chuyên nghiệp, chỉ dăm bảy nhát là đã chẻ tôi ra thành các phiến vuông vức. Anh nhắc mới nhớ, mỗi nhát đục họ nện xuống, thật là đau đớn, may mà chỉ có dăm bảy nhát.
– Còn tôi, tôi phải chịu đến cả hàng triệu nhát lớn nhỏ, mỗi nhát cũng đều đau đớn y như anh đã chịu. Tôi phải trải qua những gian khổ, khắc nghiệt hơn anh cả triệu lần, nên thành tựu tôi đạt được sẽ cao hơn anh rất nhiều. Cuộc đời không có bất công gì cả, mọi thứ tốt đẹp đều có giá của nó.
Phiến đá lót đường từ đó không còn than vãn gì nữa.
___________
Quang Tử xin lạm bàn đôi chút cùng các bạn.
Thành tựu và gian khổ, hầu như ai cũng thích cái thứ nhất mà tránh né cái thứ hai. Nhưng vốn cả hai là một không thể tách rời, chỉ là cái trước, cái sau mà thôi. Vậy nên đã né tránh gian khổ, thì cũng làm gì có thành tựu ?
Nếu bạn đang thấy chán nản, và than vãn rằng, tôi cũng theo Đạo Phật, cũng đi chùa này, cũng tu môn kia, mà sao mãi chả thấy kết quả gì, cuộc sống vẫn đầy những khổ nạn, buồn phiền. Bạn chán nản, và có cảm giác như Phật Pháp đã hứa suông với bạn.
Hoặc giả sử, bạn thắc mắc khi thấy một số người niệm Phật, hay đọc tụng kinh chú : ‘’Sao mà linh ứng nhanh thế ? không biết có thật không nhỉ ? Tôi đọc mãi có thấy gì đâu ?’’ hoặc ‘’ Tôi sống tốt với mọi người lắm mà, sao đời tôi toàn đau khổ thế này ? Trong khi mấy kẻ ác ngoài kia thì cả đời giàu có, thành đạt ?’’ Rồi còn rất nhiều câu hỏi phản biện khác không thể trả lời nổi khi đối mặt với thực tế.
Nếu nghĩ như thế, tức là bạn cần học thêm khá nhiều. Không, phải nói là cực kì nhiều. Cần phải là người ‘’dùi mài kinh điển’’ rất sâu, nghiên cứu nhân quả rất nhiều, mới thông suốt được những câu hỏi trên.
Những người đã thấu triệt, họ đều đã mất rất nhiều thời gian, bỏ ra bao nhiêu công sức và nơ-ron thần kinh để tìm hiểu, đọc sách, đọc kinh, nghiền ngẫm, tìm thầy, lắng nghe và ngẫm nghĩ, thực hành.
Cái gì cũng có giá của nó, người chỉ bập bõm tìm hiểu qua loa những bài giảng đó đây trên mạng, không trải qua những đêm trằn trọc, những ngày suy tư, nghiền ngẫm về sự biến hóa phức tạp của nhân quả, của đạo lý năm này qua tháng khác.
Rồi không bỏ công sức ra thực hành, để trải nghiệm thực tế những lí thuyết mình đã nghe, đã đọc, đã ngẫm. Mà chẳng qua chỉ là nghe giảng loáng thoáng đâu đó rồi tin, lại tưởng như mình đã hiểu rõ lắm rồi.
Thế thì cái hiểu ấy chỉ lớt phớt trên da, không có đủ sâu và rộng, đủ cân nặng để thấu triệt Nhân quả, hiểu ra ngọn ngành các vấn đề được.
Hoặc giả sử như bạn muốn tìm ai đó hỏi một câu, mà mong sau khi nghe câu trả lời là hiểu được rõ ràng vấn đề, thế thì không có đâu.
Làm sao đem cả kho tri thức cả trăm, cả ngàn cuốn sách, cùng bao tháng ngày nghiền ngẫm, bao vất vả thực hành, nén lại mà truyền đạt qua một vài câu nói ngắn gọn được ?
Nếu thật sự muốn hiểu rõ, lời khuyên dành cho bạn : Hãy đầu tư ! Đầu tư thật nhiều công sức, thời gian, sự kiên trì để tìm hiểu, không bỏ cuộc thì sẽ đến một ngày bạn thông suốt thôi. Kinh sách không có giấu giếm cất trong kho, thậm chí luôn miễn phí trên các trang web Phật Giáo. Chỉ cần mở điện thoại, tra google là có thôi.
Còn chỉ là lướt lướt Facebook, xem tin bài đây đó, chắp ghép lại mà hiểu, thì rất tiếc, chừng đó thôi thì còn cách rất xa để bạn thật sự hiểu được một điều gì.
Xong tôi cũng sẽ trả lời sơ qua, để bạn giải tỏa được một phần nào đó.
Con người ta, ai cũng đã từng trải của rất nhiều kiếp sống, luân hồi vô số kiếp, và mỗi kiếp thì ai cũng đã từng làm rất nhiều việc. Mỗi việc đó thì đều sẽ đem lại một kết quả, việc thiện thì tạo ra phước báo, việc bất thiện thì tạo ra quả báo đau khổ, không chỉ ở kiếp đó, mà kéo dài qua nhiều kiếp sau.
Có thể bạn đã nghe qua điều này rất nhiều, thậm chí phát chán. Xong bạn đã từng ngẫm lại những điều này chưa ?
– Những người từng trải qua nhiều kiếp tu hành, họ ăn chay, tụng kinh niệm Phật, kính Pháp trọng Tăng, thờ Phật hết mực chân thành.v.v… Xong những kiếp đó nhiều khi họ tu mãi mà chưa thấy kết quả gì. Giờ họ đầu thai qua kiếp này, dù không nhớ nữa, xong những công sức tu hành của kiếp trước không mất đi, họ chỉ cần khởi tâm tu hành, là sẽ rất nhanh thành tựu, gặp nhiều linh ứng vi diệu.
Nếu bạn không được như họ, vậy hãy hỏi ‘’Kiếp trước, trong khi họ vất vả tu hành, thì bạn đã làm gì ?’’
– Những người giàu sang, thành đạt, bất luận là giờ họ tốt bụng hay xấu xa, độc ác, thì ở những kiếp trước, họ đều đã bỏ tiền ra, bỏ sức ra rất nhiều để bố thí, giúp người này, cứu người kia, tạo phước nhiều, nay thì họ mới có thể thành đạt sung sướng như vậy.
Nếu ai vừa bố thí, vừa tu tâm dưỡng tính, thì nay vừa giàu vừa đức hạnh. Ai chỉ biết bố thí mà không lo tu sửa nội tâm, thì nay vừa giầu vừa ác, sau này quả báo họ sẽ chịu, cũng chẳng bắt ai chịu thay.
Bất luận thế nào, họ cũng đang nhận lại xứng đáng những gì họ đã tạo ra. Nếu bạn không được như họ, và thắc mắc. Vậy hãy hỏi ‘‘Vào kiếp xưa, trong khi những người này bố thí tạo phước, thì mình đã làm cái gì ?’’
Luật nhân quả là vậy đấy, nó công bằng, nhưng nó diễn tiến rất chậm. Muốn nhanh cũng không được. Giống như trồng cái cây thôi, bạn từng thấy cái cây nào tối hôm trước trồng mà sáng hôm sau nó đã thành cây đại thụ chưa ?
Mọi thành tựu tốt đẹp khi tu tập theo những điều Đức Phật đã dạy trong kinh, chắc chắn sẽ đến. Vì Đức Phật không có hứa suông. Tuy nhiên, có thành tựu, không có nghĩa là thành tựu ngay lập tức.
Những ai thành tựu quá nhanh, được linh ứng quá dễ dàng, dù chỉ mới tu tập đôi chút, đều là những người tiền kiếp từng tu tập nhiều, gieo trồng duyên lành với Phật Pháp từ lâu rồi. Quả đã chín mọng, chỉ đụng nhẹ là rụng xuống.
Còn những ai từ nhiều kiếp qua, trong khi Phật dạy không được ăn mặn sát sinh, thì không tin, không nghe. Cứ giết hết con này đến làm thịt con kia, ăn cho thỏa thích.
Trong khi Phật dạy phải nhẫn nhục, thì phớt lờ, mặc tình sân hận, mắng người này, chửi người kia.
Trong khi Phật dạy phải bố thí, phải cho đi, thì chỉ thích nhận về, lấy được cái gì về cho mình là lấy, chằng nghĩ đến hậu quả.
Trong khi Phật dạy phải tinh tấn tu tập, tụng kinh, niệm Phật, trì chú, thiền định, buông bỏ bản ngã… thì hoặc không tin, không quan tâm, hoặc lười biếng viện cớ không chịu làm.
Trong khi Phật dạy siêng năng làm thiện, kiên quyết bỏ ác, thì làm ngược lại, việc thiện thì làm được chút xíu cho là nhiều, việc ác phạm nhiều mà cho là mình vô tội.v.v…
Trải qua nhiều kiếp giờ nghiệp chướng quá nhiều, phước báo thì chẳng có bao nhiêu. Quả báo ập đến bị bệnh tật, đói nghèo, bị người này giật nợ, bị người kia ngược đãi, tai họa dồn dập, khổ đau nhiều thứ… lúc này mới lo sợ, tìm đến Phật Pháp mong có cách gì nhanh nhanh tai qua nạn khỏi.
Khi sung sướng chẳng thiết lo tu
Hoạn nạn mới chạy về ôm chân Phật
Nhưng Đức Phật dù từ bi cũng không thể bẻ cong luật nhân quả. “Nước xa không cứu được lửa gần”, dù các pháp môn của Phật Pháp rất vi diệu, nhưng cũng không thể chớp mắt là có kết quả ngay.
Thế giới này không vận hành theo cách bạn muốn.
Không nên nghĩ rằng hễ mình có chuyện đau khổ là chư Phật – Bồ Tát phải cứu cho mình không khổ nữa, hễ tìm đến Phật Pháp là phải linh, phải xong việc, phải được như mình cầu, xem Phật Pháp như cái “nút ấn thần kì”, nhấn xuống là mọi thứ phải đâu vào đấy.
Không, thực tế còn do nhân quả nghiệp báo quyết định. Đức Phật đã từ bi giảng dạy rất rõ, rất kĩ, tha thiết, ân cần khuyên lơn mọi người phải học hiểu nhân quả, phải thuận theo nhân quả mà bỏ ác hành thiện. Nếu cứ cố tình làm ngược lại mà gây ra hậu quả, thì … đành chịu thôi.
Vậy nên, đêm nay trước khi đi ngủ, thay vì lướt lướt mãi cái điện thoại mà chẳng thu hoạch được gì, bạn hãy thử vắt tay lên trán, để suy ngẫm những điều này, chắc chắn bạn sẽ thu hoạch được rất nhiều điều quý giá cho cuộc đời bạn.
Mọi điều tốt đẹp trên đời, mọi điều thành tựu mà bạn thấy người ta vẫn đạt được, đều phải trải qua rất nhiều gian khổ, rất nhiều nỗ lực, rất nhiều sự chờ đợi qua thời gian lâu xa mới có được.
Nếu như bạn muốn đạt được những thành tựu ấy, vậy bạn quyết định sẽ bỏ ra bao nhiêu ?
____________
Cuối cùng, Quang Tử sẽ kể cho bạn một câu chuyện, trích từ sách Niệm Phật Thập Yếu của HT Thích Thiền Tâm. Nó sẽ là một minh chứng rất rõ ràng cho những điều trên, và tiếp cho bạn những động lực để bạn có một sự khởi đầu cho những nỗ lực sau này.
Tiền Vạn Dật, tự là Dực Sơn, quê ở Thường Thục, trấn Mai Lý, người đời nhà Thanh bên Trung Hoa.
Buổi thiếu thời, Vạn Dật nối nghiệp gia đình, chuyên bán rượu. Sau ông đổi nghề, giữ giới không sát sinh, tu tịnh nghiệp, hết sức sửa đổi lỗi lầm trước.
Vạn Dật chỉ có một trai, chẳng may bị bệnh lao, dù có niệm Phật nhưng rồi cũng qua đời.
Người láng giềng chê cười, bảo tại lo tu hành nên con chết. Ông nghe nói mỉm cười, vẫn an nhiên thờ Phật như cũ.
Một đêm, lửa bén cháy nhà, Vạn Dật chắp tay ngửa mặt trên hư không vái rằng: “Nghiệp con nặng, đáng chịu thiêu hủy gia sản, nguyện xin đừng tổn thương đến những nhà gần bên.”
Sau khi lửa tắt, chỉ có nhà ông tiêu ra tro, các gia cư gần đó đều không sao cả. Cố gắng lo chỗ ở tạm xong, Vạn Dật lại khuyên mẹ là Ngô Thị trường chay niệm Phật, bà mẹ y theo lời. Tiếp theo ông cũng tự ăn chay trường, nhưng vì tập quán cũ hãy còn, thường hay uống rượu.
May nhờ có người thân thích là cư sĩ Tạ Phụng Ngô khuyên can, ông cố gắng lần lần dứt trừ được.
Mùa xuân năm Đạo Quang thứ hai mươi hai, vợ ông đau bệnh mà chết, từ đó Vạn Dật vẫn sống trong cảnh lẻ loi.
Nhiều người khuyên nên tái hôn, ông cự tuyệt và bảo: “Đã có con mà bị chết sớm, tái thú nữa để làm gì? Vả lại chí tôi ở nơi xuất tục, có phải khăng khăng trong sự nối dõi đâu!”
Mùa hạ năm ấy, ông đau bệnh lạc huyết, ý muốn được Vãng sinh Cực Lạc, thoát khỏi cõi trần khổ đau này càng tha thiết, vẫn cố gắng gia công niệm Phật. Đến đầu tháng bảy, bệnh ông thêm nặng, ăn vào liền ói mửa ra hết.
Phụng Ngô sang viếng thăm, nhân an ủi bảo cho biết: ‘’Cổ đức đã có một vị nhịn ăn để cầu thấy Phật.’’
Vạn Dật nghe nói, mừng rỡ bảo: “Nếu có việc rất tiện lợi như thế, tôi sẽ gắng sức làm theo.”
Liền hôm sau, ông tắm gội sạch sẽ, đến trước bàn Phật niệm hương phát nguyện giữ thanh trai trong bảy ngày, xuất tiền mua vật mang phóng sanh, để cầu về Tịnh Độ.
Kế đó, ngày đêm ông niệm Phật không dứt, lúc khát chỉ ăn trái dưa mà thôi. Có người hỏi: “Suốt đêm không ngủ như thế, có mệt mỏi chăng?”
Vạn Dật đáp: “Nhờ không ngủ mới niệm Phật được nhiều. Khi tôi không bệnh thì chẳng được an nhàn. Nay nhân lúc bệnh được rảnh rang, phải gắng sức, có mệt nhọc gì đâu!”
Bảy ngày vừa mãn, bởi tuyệt thực nên kiệt sức, thần thức ông hôn mê. Người nhà cho ăn chút cháo loãng, liền buồn dạ no hơi, hôn loạn càng thêm.
Xong Vạn Dật vẫn một lòng, chắp tay để trên gối, nguyện xin đốt ngón tay cúng dường Phật.
Phụng Ngô nói: “Lúc này mà anh phát được tâm nguyện ấy, thì cũng đồng như đã đốt ngón tay rồi. Thôi chi bằng rũ sạch muôn duyên, nhất tâm cầu về Cực Lạc là hơn!”
Ông nghe nói liền nhắm mắt niệm Phật, ban sơ như còn gắng gượng, kế đó nhờ dùng sức dũng mãnh, nên thần chí lần lần an định. Duyên may, lại nhờ mười mấy người bạn đồng đạo hay tin đến trợ niệm, nên ngày đêm trong nhà ông tiếng niệm Phật nối nhau không dứt.
Đến chiều bữa mùng mười, Vạn Dật tự nói thấy một vị đi lại trước đầu giường, bảo cả dưa và trái cây đều chớ ăn, hỏi thì xưng là sứ giả ở thượng giới.
Qua ngày hôm sau, ông bỗng thấy Tây Phương Tam Thánh (tức Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát) tướng tốt quang minh hiện đứng giữa hư không trước mặt. Ông muốn vượt lên ngồi vào kim đài, chợt nghe tiếng bảo: “Thân ngươi còn chưa sạch!”
Kế đó các tướng đều ẩn mất. Vạn Dật liền bảo nấu nước thơm để mình tắm gội. Tắm xong, Tam Thánh hiện ra như trước. Ông gọi người nhà lại nói: “Tôi đã dạo chơi Tịnh Độ, thấy vô số hoa sen, mình ngồi trên một đài hoa, vui không thể tả!” Lại tự chỉ thân mình nói: “Đây không phải thân tôi.”
Sáng sớm ngày mười hai, Vạn Dật từ biệt mẹ và thưa rằng: “Phật cùng chư Thánh chúng đã đến đầy nhà.”
Nói xong, liền chắp tay niệm Phật mà qua đời. Lúc bấy giờ, ông được ba mươi bảy tuổi.
Như cư sĩ Tiền Vạn Dật đây, phát tâm tu thì liền gặp nghịch cảnh, vợ con chết hết mà tâm ban đầu không thối thất. Bị bệnh khổ liên miên nhưng chánh niệm vẫn bền. Vì sao vậy ?
Vì ông hiểu được nhân quả, ông biết rằng những đau khổ đó là do nghiệp ông đã tạo khi xưa ở kiếp nào đó, thì nay ông phải chịu, thế thôi. Chứ đâu phải hễ tu một cái là mọi nghiệp chướng vô lượng kiếp qua ông đã tạo cao như núi, sâu như biển sẽ tự nhiên biến mất hết đâu.
Vậy chứ ông Vạn Dật ấy ăn chay, niệm Phật, không phải cho hiện tại hết khổ, thì để làm gì ?
Xin thưa, là để thành tựu cho tương lai. Tầm nhìn của ông ấy rất xa, một kiếp người ngắn ngủi này đâu có đáng gì phải ôm giữ. Uy quyền, giàu sang, vợ đẹp, con cháu vinh hiển .v.v… gì gì đi nữa thì chết một cái là mất sạch thôi mà.
Đau khổ, hoạn nạn, ấy cũng là rất bình thường. “Đời là biển khổ”, chẳng phải trên đời ai cũng khổ sao, không gặp khổ này cũng gặp nạn khác thôi.
Ông ấy tu là để sinh về cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà, vĩnh viễn không còn chịu đau khổ của cõi trần này nữa, an nhiên tự tại, thẳng tiến tu hành cho đến khi đắc Đạo chứng Thánh quả.
Để thành tựu được kết quả vi diệu thù thắng đó, thì trên bước đường tu hành, có gặp trở ngại, khó khăn, thậm chí là đau đớn, thê thảm, thì cũng là vô cùng xứng đáng.
Như vậy bạn nhé, sau này trên bước đường tu học, đừng mong rằng sẽ nó sẽ trải thảm đỏ, che lọng hoa cho bạn đi.
Không, thường thì nó rất chông gai và đầy đau khổ. Bạn chịu đựng được, nỗ lực hết sức không chùn bước cho tới cùng, thì bạn sẽ đạt được những phần thưởng xứng đáng ở cuối con đường.
Và những khi muốn buông xuôi bỏ cuộc, hãy nhớ đến ông Vạn Dật này, và tự hỏi : “Liệu những đau khổ mình chịu, đã bằng ông Vạn Dật này chưa???”
6 KIẾP LY KÌ CỦA THOI PHÁNH
Tôi là Thoi Phánh, một tay tán gái có hạng. Tên của tôi nghe rất là ngộ, vì tôi là người Hoa sống trên đất Việt, nhưng mà kệ tôi có cái tên lạ thế nào, hễ cô nào lọt vào mắt xanh của tôi, là thế nào tôi cũng cua đổ được.
Kiểu người như tôi thì mấy ông thầy bói thường bảo là sinh nhầm cái giờ có sao đào hoa chiếu. Mãi đến gần đây khi gặp được một cơ duyên đặc biệt, tôi mới biết chẳng phải như vậy. Đó là do một nhân quả kéo dài 6 kiếp trước của tôi mà ra, chuyện khá là ly kỳ, còn ly kỳ hơn mấy lần gặp ma mà tôi đã kể cho Quang Tử viết truyện lần trước.
Tôi sinh năm 1966, lớn lên trong một gia đình có truyền thống Phật giáo, tại khu Bến Đình, thành phố Vũng Tàu. Nhưng mà bạn đừng nghĩ rằng, hễ sinh ra trong gia đình Phật tử, ông bà cha mẹ hay niệm Phật đi chùa thì con sinh ra sẽ ngoan, sẽ sống đúng như giáo lý Phật dạy. Như tôi đây, tôi chẳng có ngoan gì lắm đâu.
Tâm lý tôi khá là nặng về dâm dục, có lẽ là mạnh hơn những người khác. Chẳng thế mà tuổi trẻ tôi nổi tiếng với những thành tích trăng hoa mây mưa, quen hết cô này đến cặp với cô khác, ăn nằm với người này người khác, nhiều đến mức tôi khó lòng mà nhớ hết được tên từng cô. Đến khi lấy vợ cũng phải lấy đến ba cô vợ mới chịu thôi.
Tôi cũng có may mắn được một vị chân sư giáo hóa, mà dần cũng tỏ ngộ được Phật Pháp, hiểu được đạo lý Nhân quả. Tự soi lại mình, tôi biết mình trăng hoa như vậy, là phạm vào giới tà dâm, nhưng mà tôi không dừng lại được.
Bạn đừng có nghĩ rằng, nhận ra một việc làm đó là sai, thì con người ta sẽ thôi không làm nữa. Đó là một ảo tưởng của những kẻ ngây ngô, thích “vào rừng mơ bắt con tưởng bở”.
Vì thực tế, đa số hành động của con người bình thường, bị chi phối bởi tình cảm, bởi nhu cầu, bởi cảm xúc bên trong “trái tim”, chứ không chịu tuân theo lý trí, sự hiểu biết của “bộ não”.
Trừ ra những người tinh thần cực mạnh, có ý chí quật cường mới khống chế được tình cảm, dục vọng thôi, mà mấy người đó thì hiếm lắm.
Biết mình đang phạm tội dâm, ấy mà vẫn phạm nhiều lần, tôi thật rất áy náy. Chẳng biết vì sao tôi nặng ái dục đến mức vậy.
Tôi cứ ôm giữ điều trăn trở ấy mãi trong lòng, và thường xuyên lạy Phật, niệm Phật, niệm “Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát” , xin Người cho tôi được biết nguyên do của hai việc này.
Sau mấy chục năm cầu nguyện, cuối cùng chư Phật – chư Bồ Tát thương tình đã thị hiện khiến cho tôi được thấy thật. Đó là ngày 15/10/2019, tôi được chư Phật gia hộ mà có được một giấc mơ tiền kiếp.
Trong giấc mơ ấy rất sống động, rõ ràng, khác với giấc mơ mờ nhạt bình thường, cảm giác ở đây chân thật y như cuộc sống thực vậy.
Kiếp đó là vào thời Tống bên trung Quốc, tôi được sinh làm con trai của tể tướng. Từ nhỏ đã lớn lên trong nhung lụa, lớn lên nhờ thế lực của cha ( cha tôi lại còn là thân thích của Hoàng thượng), tôi lại được làm quan lớn. Chẳng cần mô tả nhiều chắc bạn cũng hình dung ra về sự uy quyền và sung sướng của tôi.
Mà khổ, sướng quá thì thường sinh tật. Trừ những ai có nguyện lực sâu dày thôi, chứ hầu hết khi hưởng phước báo nhiều thì con người ta dễ dàng trở nên ích kỉ, tham lam, kiêu căng, ác độc…
Sẵn quyền lực trong tay, tôi tha hồ muốn làm gì thì làm. Trong phủ của tôi, ngoài thê thiếp ra, còn có rất nhiều a hoàn, nữ tỳ xinh đẹp. Tôi thì lại háo sắc, thế nên tôi đã nhiều lần cưỡng hiếp các cô nữ tỳ trong phủ, tổng cộng là 5 cô.
Họ chịu ấm ức, tủi nhục trong lòng, mà chẳng biết thưa với ai. Ai sẽ cho họ công bằng, khi mà kẻ hãm hại họ là con tể tướng, là thân thích với vua ? Thế nên 5 cô nữ tỳ đành nuốt hận vào tim, chỉ biết câm lặng nguyền rủa tôi mà thôi.
Nhưng mà vũ trụ tự có sự công bằng của vũ trụ, sự công bằng ấy mang tên là luật nhân quả, và cái luật nhân quả này thì cực kỳ thẳng thừng và khốc liệt. Có thể phải chờ lâu, nhưng chắc chắn quả báo sẽ tới, kẻ cưỡng hiếp sẽ phải bị cưỡng hiếp, đó là luật.
Hình ảnh thay đổi, và tôi thấy kiếp sau đó hiện ra. Tôi đầu thai làm một cô bé nhà nghèo. Phước báo được làm thân nam, được làm quan làm tướng, có uy quyền, có giàu sang phú quý…đã hết sạch.
Do tôi phá quá mà, có phước báo quyền lực, tài sản trong tay, không chịu đem làm việc thiện, lại sa đọa trong tội lỗi, thì phước báo sẽ hết sạch, kèm thêm những quả báo khốc liệt chờ đón, đó là quy luật.
Năm tôi- tức cô bé nhà nghèo đó lên 12 tuổi, mẹ tôi chết. Không bao lâu sau tôi bị chính cha ruột cưỡng hiếp, ông ta hành hạ tôi đủ kiểu cứ như thể tôi là kẻ thù vậy.
Rồi cuối cùng, ông ta bán tôi vào lầu xanh, lấy tiền tiêu xài. Cuộc đời tôi cứ tàn tạ, chết dần chết mòn trong chốn thanh lâu đầy tủi nhục.
Cứ thế liên tiếp 5 kiếp liền, kịch bản giống hệt nhau, tôi sinh làm con gái nhà nghèo, 12 tuổi mẹ chết, cha ruột cưỡng hiếp rồi bán vào lầu xanh, bị người đời giày vò và khinh bỉ.
Chắc không nói bạn cũng đoán được nhân quả đã an bài như thế nào với tôi. Đúng vậy, 5 cô nữ tỳ bị tôi cưỡng hiếp khi làm con tể tướng, đã đầu thai lại làm 5 người cha trong 5 kiếp liên tiếp sau đó.
Họ đã trả thù tôi bằng cách cưỡng hiếp tôi rồi bán vào lầu xanh lấy tiền.
Nếu chỉ nhìn sự việc hạn hẹp trong mỗi kiếp đó, như cách những kẻ thiển cận vẫn nghĩ, người ta sẽ lên án 5 người cha ấy là những kẻ táng tận lương tâm, là đồi bại, là vô nhân tính, rồi than trời trách đất đủ kiểu.
Nhưng khi nhìn nhận sự việc một cách tổng thể nhiều kiếp sống, một tầm nhìn xa, xuyên suốt luân hồi đầy trí tuệ, ta thấy được vũ trụ luôn tuân theo quy luật công bằng của nó, một sự công bằng thẳng thừng, đầy khắc nghiệt, và chúng ta gọi đó là quy luật Nhân Quả Nghiệp Báo.
Có thể nhiều người không thích cái cách mà luật nhân quả vận hành, hoặc chê là luật nhân quả sao lâu quá, sao không cho quả báo trong một kiếp luôn đi. Hay cảm thấy kinh sợ vì độ khốc liệt của nó.v.v… Rồi lại tự đặt ra đủ các câu hỏi “ nếu như”, “ giá mà”…
Còn tôi, với tư cách vừa là nạn nhân, vừa là hung thủ, chỉ là đổi vai sau mỗi lần chuyển kiếp, tôi nhận ra luật nhân quả, vốn là một quy luật khách quan của vũ trụ, chẳng phải do ai tạo ra để mà than vãn, mà trách cứ được. Chúng ta sống trong vũ trụ ấy, thì phải tuân theo quy luật, thế thôi.
Giống như mặt trời trời mọc ở hướng đông, lặn ở hướng tây, tỏa nắng trên Trái Đất, chỗ nhiều nắng quá thì thành sa mạc nóng bức, chỗ ít nắng quá thì đóng băng lạnh giá.
Đấy là quy luật tự nhiên, đã sống trên trái đất, thích hay không thích cũng phải chịu, chỉ có kẻ ngu mới đi kiện mặt trời vì cái tội làm chỗ nóng, chỗ lạnh như vậy.
Đối với các quy luật tự nhiên, chúng ta chỉ có thể tìm hiểu kĩ lưỡng, hiểu rõ quy luật vận hành và thích nghi, như các nhà khoa học vẫn làm. Còn bạn, bạn muốn làm một kẻ than vãn, oán trách quy luật tự nhiên, hay muốn làm một người hiểu rõ quy luật tự nhiên và thích nghi, cái đó tùy bạn chọn lựa.
Trở lại với câu chuyện, năm kiếp liền tôi chịu quả báo thê thảm. Ở tiếp thứ năm, tôi đã đầu thai sang Việt Nam. Giống 4 kiếp trước, 12 tuổi thì mẹ chết, cha ruột cưỡng hiếp rồi bán vào lầu xanh.
Gần chỗ lầu xanh ấy, có một ngôi chùa do một Ni sư trụ trì. Do tôi có duyên với Phật pháp từ nhiều kiếp ( có thể do nhân cúng dường nhà sư trước khi chết), nhìn thấy chùa là lập tức sinh tâm cung kính, mến mộ.
Ngoài những lúc phải tiếp khách, khi rảnh rỗi, tôi thường leo lên núi, đi tìm hái những cây thuốc. Công việc ấy ấy rất vất vả và nguy hiểm. Rắn rết thì khắp nơi, lại hay phải cheo leo trên những vách đá hiểm trở, nhưng một khi tôi đã quyết tâm thì không gì cản được.
Hái được thuốc rồi thì đem về bán cho các các hiệu thuốc đông y, cũng chả được bao nhiêu tiền, gom góp nhiều lần cũng chỉ được vài đồng bạc lẻ.
Tôi đến trước chùa, muốn vào trong để đem tiền bán thuốc cúng dường Tam Bảo, nhưng nghĩ mình thân thể ô nhục, tôi không dám bước vào mà chỉ đứng mãi ở cổng chùa. May gặp lúc sư cô trụ trì đi ngang, thấy tôi cứ đứng mãi đó nên lại gần hỏi chuyện:
– Sao con không vào chùa mà cứ đứng mãi đây ?
Tôi vừa nói, mà nước mắt cứ rơi lã chã, kể lại hết sự tình từ bé đến giờ. Kể xong tôi khẩn khoản :
– Con xin sư cô hãy đem số tiền này vào cúng dường Tam Bảo, và khấn với đức Phật giúp con, đây là tiền mồ hôi do con lao động chân chính mà có để cúng dường, xin chư Phật chứng minh.
Sư cô nghe tôi nói xong thì cũng cảm động muốn rớt nước mắt, sư cô ôm tôi vào lòng mà nói :
– Chư Phật nhận cái tâm của con, chứ người đâu có dùng đến những phẩm vật. Đồng tiền này Phật sẽ chứng, con yên tâm.
Vài hôm sau, tôi lâm trọng bệnh. Mụ tú bà chẳng thèm quan tâm chữa trị gì cho tôi cả, nghĩ rằng tôi sắp chết, chẳng còn giá trị sử dụng gì, nên cho người quăng tôi ra đống rác như một món phế thải.
May sao gặp lúc sư cô hôm trước đi cầu siêu ở làng kế bên, trên đường về đi ngang qua đống rác chỗ tôi nằm. Thấy tôi như vậy sư cô liền đem về chùa, tìm cách thuốc thang chữa trị đến khi khỏi hẳn.
Sư cô cho tôi trú ngụ ở một cái chòi cất sau chùa, ở cùng với tôi còn có hai cô gái ăn xin khác, cũng là sư cô thương tình cho ở nhờ trong chùa, không phải lang thang vất vưởng ngoài đường.
Hai cô ăn xin ấy, giờ tôi tạm đặt tên cho dễ gọi (chứ kì thực tôi không nhớ kiếp trước họ tên gì) một cô tên An, một cô tên Bảo, cũng trạc tuổi tôi. An thì thương tôi hơn, đi xin được cái gì ngon thì đều về chia cho tôi ăn cùng. Đã vậy lại còn hay chăm sóc tôi tận tình, bón cơm, đút thuốc, giặt giũ quần áo… giúp tôi khi tôi còn chưa khỏi bệnh.
Còn Bảo thì chỉ vui vẻ ngoài miệng thôi, chứ không giúp tôi gì cả. Đến khi tôi bình phục, thì họ trở thành hai người bạn thân của tôi.
Một hôm vào buổi trưa, cả 3 ngồi trong chòi ăn trái cây, chuyện trò tán dóc. Bảo nhìn tôi rồi buột miệng nói:
– Nhìn cô đẹp như vậy, cô mà làm đàn ông, thì tôi sẽ chấp nhận làm vợ, có con thì tôi sẽ tự nuôi.
Thực ra đây chỉ là câu nói đùa, luyên thuyên giết thời gian cho vui. An nghe thế cũng cao hứng thêm vào :
– Ừ, nếu cô mà là con trai, tôi cũng sẽ làm vợ cô, con tôi cũng sẽ tự nuôi, không buồn bực gì cô.
Mấy câu nói giỡn chơi, tưởng chừng như vô thưởng vô phạt, giống bao câu nói đùa vốn luôn đầy rẫy trong cuộc sống, ấy thế mà nhân quả không thể bỏ sót.
Bọn tôi nói rồi quên, nhưng nghiệp báo lại chẳng hề quên, vẫn lặng lẽ an bài cho những kiếp sau từ những câu nói đùa ấy. Cụ thể như thế nào, đến cuối truyện bạn sẽ rõ.
Lại kể thêm, hồi đấy có một cô Phật tử hay đến chùa thắp hương lễ bái. Cô ta tên Cúc, nhà thì cũng chẳng khá giả gì, ấy vậy mà tính nết kiêu kỳ, khinh bỉ mấy kẻ nghèo hèn chúng tôi ra mặt. Dạng người này tôi cũng chẳng ưa tiếp xúc gần.
Xong ‘cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng’, hôm đó cô Cúc đi chùa, dẫn theo cậu em trai. Cậu này trông thấy tôi nhan sắc yêu kiều, mắt cứ dán chặt vào tôi mà nhìn say đắm, thấy tôi ở đâu là cứ lẽo đẽo bám theo.
Cô chị – tức là Cúc thấy vậy thì gai mắt. Xông đến kéo cậu em mình lại, tiện thể chỉ vào mặt tôi mà nguyền rủa:
– Nhà ngươi hết cái kiếp này cũng đừng mong lấy được chồng. Mà có lấy được chồng, thì người ta cũng chỉ chơi cho có con, rồi bỏ đó trong nuôi mà thôi.
Nói xong Cúc còn liếc tôi với ánh mắt đầy mỉa mai rồi quay lưng kéo cậu em đi. Không dưng lại bị người ta nguyền rủa một cách vô lý như vậy, tôi giận tím người, ánh mắt tóe lửa, nhìn theo bóng cô ta đầy căm hận.
Kiếp đó tôi cũng không sống thọ, một thời gian sau, tôi lại lâm bạo bệnh rồi qua đời.
Đến đây thì tôi tỉnh dậy, bồi hồi nhớ lại, tôi thấy mọi việc còn rõ in như đang ở trước mắt. Trầm ngâm thật lâu, xâu chuỗi mọi việc, tôi chợt kinh nhạc nhận ra, những kiếp trước ấy liên hệ chặt chẽ đến kiếp này của tôi như thế nào.
Kiếp trước tôi gắng sức lên núi hái thuốc, lấy tiền ấy thành tâm cúng dường Tam Bảo. Nhờ phước đó, những nghiệp chướng thủa xưa được tiêu trừ.
Kiếp này tôi sinh làm đàn ông, lớn lên trong gia đình Phật tử. Từ thời còn trẻ đã làm đâu trúng đó, tiền bạc dư giả. Và cho đến tận bây giờ, sự nghiệp tôi luôn thuận buồm xuôi gió, làm ăn phát đạt.
Kiếp này tôi lấy đến ba cô vợ. Cô vợ thứ nhất quê ở Tiền Giang, chính là cô gái ăn xin tên Bảo, do kiếp trước nói đùa, buột miệng rằng: “Nhìn cô đẹp như vậy, cô mà làm đàn ông, thì tôi sẽ chấp nhận làm vợ, có con thì tôi sẽ tự nuôi.”
Nói thế thôi mà giờ thành vợ thật, ây luật nhân quả thật không phải thứ giỡn chơi được. Ngẫm lại cả đời tôi tuôn ra không biết bao nhiêu câu nói đùa như vậy, lại đầy những câu nguy hiểm… Chết thật, sau này theo Nghiệp lực nhân quả đều sẽ thành hiện thực hết. Nghĩ đến đây mà toát hết cả mồ hôi, từ giờ nói năng phải cẩn thận mới được.
Sau này tôi với cô vợ đầu tình cảm nguội lạnh dần, rồi ly hôn. Đó là vì kiếp trước, tôi không nợ ân nghĩa của cô ta nhiều. Con thì cô ấy nhận nuôi, xong tôi thỉnh thoảng vẫn gửi tiền về chu cấp.
Cô vợ thứ hai, quê ở Trà Vinh, thật là oan gia ngõ hẹp, chính là Cúc – cô Phật tử kiêu kỳ, từng nguyền rủa tôi “có lấy được chồng, thì người ta cũng chỉ chơi cho có con, rồi bỏ đó trong nuôi mà thôi.”
Tôi lấy cô ta về, hễ cô ta mở miệng nói câu gì, là kỳ lạ lắm, tôi liền nổi nóng, chửi mắng thậm tệ, chửi cho cô ta “tắt bếp” mới thôi. Gia đình tôi khi đó không khác chi cái địa ngục, cả năm chẳng được mấy ngày trôi qua yên bình. Đó là vì nhân duyên kiếp trước, oán hận nhau, nguyền rủa nhau mà kết thành ác duyên.
Trong khi thiện duyên khiến người ta hội ngộ với nhau trong vui vẻ, thân ái. Thì ác duyên, cũng có thể khiến người ta đến với nhau, thậm chí làm vợ chồng, làm người thân trong nhà, nhưng sẽ toàn là những mâu thuẫn, những cãi vã, oán hận nhau, cho đến khi hết duyên, hết nợ mới rời xa ra được.
Đó là nỗi khổ mà trong kinh Phật gọi là Oán Tắng Hội – ghét bỏ mà cứ phải gặp.
Cuộc hôn nhân đầy tiếng chửi bới ấy nhanh chóng kết thúc. Tôi lại li dị, con cô ta nhận nuôi. Sau đó cô ta cắt liên lạc, tôi muốn gửi tiền chu cấp cũng không biết gửi đường nào.
Nhân quả có một điều rằng, chửi mắng người ta như thế nào, chính mình sẽ bị như thế đó. Và cô ta đã nhận được đúng những gì cô ta nguyền rủa người khác trong tiền kiếp.
Tôi lấy người vợ thứ ba, quê ở Mỹ Tho, chính là An đầu thai. Giống như Bảo, trong lúc đùa vui, An cũng nói : “Nếu cô mà là con trai, tôi cũng sẽ làm vợ cô.”
Câu nói ấy là nhân, mà kiếp này cô ấy thành vợ của tôi là quả. Nhân quả như bóng theo hình không sai chạy. Hơn nữa An kiếp trước chăm sóc tôi rất nhiều, nên tôi mang nợ cô ấy. Giờ thành vợ chồng, thì tôi thương cô ấy, chăm lo cho cô ấy nhiều hơn hết. Ngay cả khi cô ấy nổi nóng nó chửi tôi, thì tôi cũng chỉ cười xòa, chẳng hề cáu giận. Tôi luôn là người chiều chuộng, quan tâm, lo lắng cho cô ấy đủ điều, thế nên gia đình cũng yên ấm đến giờ.
Hồi còn trai trẻ, tôi đi qua biết bao nhiêu cuộc tình, với người nào, tôi cũng có cảm giác như đã quen từ lâu. Tôi với họ gặp nhau, yêu đương, ân ái, rồi nhanh chóng chia tay. Giờ thì tôi đã biết, những cô bạn gái ấy, chính là những khách làng chơi, đã qua đêm với tôi trong năm kiếp làm làm gái lầu xanh.
Suốt nhiều kiếp của tôi đều có dính líu liên quan đến ái dục, không cưỡng hiếp thì lại làm gái lầu xanh, tạo thành một thói quen xấu thâm căn cố đế, Phật pháp gọi là tập khí. Chẳng trách tôi lại nặng về ái dục đến như vậy.
Giờ thì mọi khúc mắc của tôi đều đã được giải đáp. Chung quy đều là do luật nhân quả sắp xếp một cách chính xác từ chính những việc tôi đã làm trong trong các kiếp quá khứ.
Kiếp kiếp nối nhau đảo qua, lộn lại. Khi thì tạo phước, rồi hưởng phước. Trong khi hưởng phước thì bản ngã bốc khởi, tạo ra nhiều tội, rồi lại chịu quả báo, thành một chuỗi vòng lặp bất tận, nối nhau vô số kiếp dài dằng dặc.
Nhưng mà để làm cái gì ? Luân hồi nhiều kiếp như thế rốt cuộc tôi thu nhặt được những gì?
KHÔNG GÌ CẢ !
Sinh mạng, tiền tài, danh vọng, quyền uy, nhan sắc, sức khỏe… chết rồi đầu thai một cái, là tan thành khói bụi. Kể cả phước báo, hay nghiệp chướng, người ta hay nói là có thể đem theo qua kiếp sau. Nhưng rồi sao, qua nhiều kiếp thì nó cũng hết thôi.
Mọi thứ sẽ tan biến hết không chừa lại gì, giống như trẻ con xây lâu đài trên cát, mỗi đợt sóng thủy triều lên sẽ cào bằng tất cả. Đời là vô thường.
À, đúng rồi, có một thứ trường tồn lâu dài, đó là đau khổ. Không cần biết sinh ra ở đâu, thân phận ra sao, kiếp nào cũng đầy những sinh – lão- bệnh- tử, vui thì chóng qua, buồn thì mau đến, cạm bẫy cám dỗ thì giăng đầy, chết được sinh thiên thì khó, chứ vào địa ngục thì liên tục.
Cái luân hồi này thật là khắc nghiệt, chẳng thế mà đức Phật dạy, cần phải tu hành để thoát khỏi luân hồi sinh tử sao ?
Bây giờ thì tôi mới nhận ra, thâm ý sâu xa của Phật pháp, không phải như người đời vẫn tưởng, đạo Phật là để người ta đến xì xụp khấn vái, cầu tài cầu lộc, cầu bình an, hay cầu siêu thoát… những cái đó chỉ là phương tiện để dẫn dắt chúng sinh tìm về gieo duyên với Phật.
Còn mục đích thực sự của Phật pháp, là giúp chúng sinh giải thoát khỏi luân hồi, vĩnh viễn không còn sinh lão bệnh tử khổ đau muôn kiếp nữa.
Thật là sâu xa, thật là vi diệu, thật may mắn cho tôi vì từ nay tôi đã ngộ ra được chân lý ấy, mà dần buông bỏ, mà dần tu tập hướng đến Giải Thoát.
Nhưng thật tiếc thay, ngoài dòng đời rộng lớn, bao la người với người kia, sẽ có mấy ai có thể hiểu được. Cứ mãi chìm sâu trong dục vọng mà trầm luân sinh tử, khổ đau muôn kiếp, chẳng biết đến bao giờ mới tìm đường thoát ra ?
( Quang Tử, viết lại từ lời kể của Thoi Phánh)
CÔNG ĐỨC & CÁCH LÀM DÂY CHUYỀN CHÚ LĂNG NGHIÊM
GIỚI THIỆU
Trong Đạo Phật có một bí quyết đặc biệt do chính Đức Phật Thích Ca truyền dạy để chống lại mọi sự quấy phá của các loại ma chướng gặp phải khi thiền định, các loại bùa ngải, thư yếm do có người ngầm hãm hại, các loại tà ma yêu mị .v.v… đó chính là chú Lăng Nghiêm huyền thoại. Chuyện kể rằng thời Đức Phật, Ngài A Nan bị một dân nữ tên Ma Đăng Già dùng một lá bùa yêu yểm thuật, khiến cho Ngài bị lu mờ tâm trí, xém chút nữa là cùng Ma Đăng Già làm chuyện ân ái. May nhờ Đức Phật tuyên đọc thần chú Lăng Nghiêm, sai Văn Thù Bồ Tát đem thần chú Lăng Nghiêm đến giải cứu cho Ngài A Nan. Khi âm thanh của chú Lăng Nghiêm vang lên, các bùa chú của ngoại đạo liền mất hết tác dụng, Ngài A Nan tỉnh lại, còn Ma Đăng Già cũng tắt hết tâm ái dục, cùng theo ngài Văn Thù đến gặp Phật, nghe pháp xong liền chứng quả vị A La Hán. Nhờ nhân duyên đó mà thế gian từ đó có được chú Lăng Nghiêm – pháp bảo vô giá, đối trị tất cả ma chướng, bùa ngải, yêu thuật … cho đến nay, đa số các chùa chiền ở nhiều quốc gia vẫn duy trì thời khóa đọc chú Lăng Nghiêm vào sáng sớm. Còn đối với người bình thường, việc học thuộc chú Lăng Nghiêm không hề dễ dàng, vì thần chú rất dài. Và ngay đến việc duy trì đọc mỗi ngày, cũng không phải ai cũng làm được. Tuy nhiên ta vẫn còn một cách khác, chỉ cần làm một lần là cả đời được sự bảo hộ của thần chú Lăng Nghiêm, đó là chép thần chú đeo trên người. Cụ thể hơn, mời các bạn đọc tiếp phần dưới đây:CÔNG ĐỨC BIÊN CHÉP – ĐỌC TỤNG – ĐEO CHÚ LĂNG NGHIÊM TRÊN NGƯỜI
(Đức Phật Thích Ca tuyên thuyết trong kinh Lăng Nghiêm, quyển 7) “ … Hàng hữu học các ngươi chưa ra khỏi luân hồi phát tâm chí thành tu chứng quả A La Hán, nếu chẳng trì chú này (chú Lăng Nghiêm) mà ngồi đạo tràng, muốn khiến thân tâm xa lìa các ma sự thì chẳng có chỗ đúng. A Nan! Nếu có chúng sanh trong các thế giới, tùy theo vật dụng trong đất nước, hoặc lá, giấy, vải trắng để biên chép chú này, đựng trong túi nhỏ, nếu người ấy ngu muội chẳng thể tụng nhớ thì đeo trên mình, hoặc để trong nhà, nên biết người ấy trọn đời chẳng bị các thứ độc hại. A Nan! Nay ta vì ngươi thuyết chú này, cứu giúp thế gian được đại vô úy, thành tựu trí xuất thế gian cho chúng sanh. Sau khi ta diệt độ, chúng sanh trong đời mạt pháp, có người biết tự trì tụng, hoặc dạy người khác trì tụng chú này, nên biết những chúng sanh trì tụng như thế, lửa chẳng thể đốt, nước chẳng thể chìm, độc chẳng thể hại, cho đến tất cả ác chú của các Thiên Long, quỷ thần, yêu tinh, ma mị đều chẳng thể dính mắc, tâm được chánh thọ, tất cả bùa chú, yểm cổ, kim ngân độc dược, cỏ, cây, sâu, rắn, độc khí muôn loài, vào miệng người ấy đều thành cam lồ. Tất cả ác tinh, quỷ thần, dù có độc tâm hại người, đối với người ấy cũng chẳng thể khởi ác; các ác quỷ vương Tần Na, Dạ Ca cùng các quyến thuộc, đều thọ ơn Phật, thường gia hộ người ấy. A Nan nên biết! Chú này thường có tám vạn bốn ngàn vô số chủng tộc Bồ Tát Kim Cang Tạng Vương, mỗi mỗi đều có quyến thuộc, ngày đêm hộ vệ. Giả sử có chúng sanh nơi tâm tán loạn, chẳng thể vào Tam Ma Địa, miệng niệm tâm trì, thì các vị Kim Cang Vương thường theo ủng hộ thiện nam tử ấy, huống là người có tâm quyết định vào Đạo Bồ Đề, các vị Bồ Tát Kim Cang Tạng Vương này, khiến người ấy phát ra thần thức, thân tâm tinh tấn, ngay đó được nhớ lại những việc từ tám vạn bốn ngàn hằng sa kiếp đến nay, đều rõ ràng chẳng có nghi hoặc. Từ kiếp thứ nhất cho đến thân cuối cùng, đời đời chẳng sanh vào các loài Dược Xoa, La Sát, quỷ bệnh tật, quỷ thúi, quỷ yểm mị, quỷ hút tinh khí, cùng các loài ngạ quỷ có hình vô hình, có tưởng vô tưởng, và những xứ ác độc. Thiện tri thức ấy, hoặc đọc tụng, biên chép, hoặc đeo giữ và cúng dường tâm chú này thì kiếp kiếp chẳng sanh vào những nơi nghèo nàn hèn hạ và chỗ chẳng an lành. Các chúng sanh này, dẫu cho tự thân chẳng làm phước nghiệp, mười phương Như Lai cũng ban công đức cho họ, do đó được trong vô số kiếp thường với chư Phật đồng sanh một chỗ, vô lượng công đức như chùm quả ác xoa, đồng một chỗ huân tu, trọn chẳng chia cách. Cho nên, Tâm chú này hay khiến người đã phá giới được giới căn trong sạch, người chưa đắc giới khiến cho đắc giới, người chẳng tinh tấn, chẳng trí huệ, chẳng trong sạch, chẳng trai giới, thảy đều thành tựu. A Nan! Thiện nam tử ấy, giả sử trước kia có phạm giới cấm, thì sau khi trì chú, các tội phá giới chẳng kể nặng nhẹ, đều được tiêu diệt, dù đã uống rượu, ăn ngũ tân, và các thứ bất tịnh, tất cả chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Thiên Tiên, quỷ thần, chẳng cho là có lỗi; dù mặc y áo rách rưới, khi đi khi đứng, đồng như trong sạch; dù chẳng lập đàn, chẳng vào đạo tràng, cũng chẳng hành đạo, mà trì tụng chú này, với công đức vào đàn, hành đạo, chẳng có sai khác. Nếu trước kia tạo các tội nặng ngũ nghịch, vô gián, những tội Tứ khí, Bát khí của Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni, thì khi tụng chú này rồi, cũng như gió mạnh thổi tan đống cát, những nghiệp nặng như vậy đều trừ sạch, chẳng còn mảy may. A Nan! Nếu có chúng sanh từ vô số kiếp đến nay, có tất cả những tội chướng nặng nhẹ, tuy trong các đời trước chưa kịp sám hối, nay nếu biết đọc tụng, biên chép chú này, giữ đeo trên mình hay để nơi chỗ ở, thì những nghiệp tích chứa từ trước, đều tiêu như nước sôi làm tan băng tuyết, chẳng bao lâu sẽ được vô sanh nhẫn. Lại nữa A Nan! Nếu có người đàn bà chưa có con, mong cầu có thai, chí tâm tưởng niệm, hoặc đeo chú này, thì được sanh những đứa con trai gái có phước đức trí huệ, cầu sống lâu được sống lâu, cầu phước báo được phước báo, cho đến cầu thân mạng sức mạnh đều được như thế. Sau khi chết, tùy nguyện vãng sanh trong mười phương quốc độ, chắc chắn chẳng sanh nơi biên địa, dòng hạ tiện, huống là các tạp hình! A Nan! Nếu các quốc độ, châu huyện, làng xóm bị nạn đói kém, ôn dịch; hoặc những nơi bị bịnh loạn, giặc cướp đánh nhau và tất cả những nơi có tai nạn khác, viết thần chú này dán nơi bốn cửa thành, và những thấp miếu hoặc trên các tràng phan, khiến chúng sanh trong nước thừa phụng chú này, cung kính lễ bái, nhất tâm cúng dường; khiến nhân dân mỗi mỗi đeo chú trong mình, hoặc để nơi chỗ ở, thì tất cả tai nạn thảy đều tiêu diệt. A Nan! Nếu chúng sanh nơi các quốc độ, hễ chỗ nào có chú này, thì Thiên Long vui mừng, mưa gió thuận thời, ngũ cốc được mùa, dân chúng an vui; những tai chướng do tất cả ác tinh biến quái ở mọi nơi, đều chẳng sanh khởi, người chẳng chết yểu, gông, cùm, xiềng, xích, chẳng dính vào mình, ngày đêm ngủ yên, thường chẳng ác mộng. A Nan! Cõi Ta Bà này có tám vạn bốn ngàn tai biến ác tinh, do 28 đại ác tinh làm thượng thủ; lại có 8 đại ác tinh làm chủ, xuất hiện trên đời với nhiều hình dạng, hay gây các tai họa kỳ lạ cho chúng sanh. Hễ có chú này thì thảy đều tiêu diệt, trong phạm vi 12 do tuần, các tai biến hung dữ, trọn chẳng thể xâm nhập. Cho nên Như Lai thuyết chú này, bảo hộ người tu hành sơ học đời vị Lai, vào Tam Ma Địa, thân tâm thư thái, được đại yên ổn chẳng bị tất cả tà ma, quỷ thần, và những oán thù, nghiệp cũ nợ xưa từ vô thỉ đến quấy hại. Ngươi và hàng hữu học trong chúng, với người tu hành đời vị Lai, y pháp trì giới trong đạo tràng, được vị thầy truyền giới trong sạch, đối với tâm chú này chẳng sanh nghi hoặc, thì cái thân do cha mẹ sanh của người này, nếu chẳng được tâm thông, mười phương Như Lai bèn thành vọng ngữ. Nói xong, vô số Kim Cang đều nhất thời đảnh lễ bạch Phật: Như lời Phật dạy, chúng con xin thành tâm bảo hộ người tu đạo Bồ Đề. Bấy giờ, Phạn Vương và Đế Thích, Tứ Thiên Vương cũng đồng thời đảnh lễ bạch Phật: Nếu có người tu học như thế, chúng con xin hết lòng bảo hộ, khiến họ suốt đời việc làm thỏa nguyện. Còn có vô số Quỷ Vương chắp tay đảnh lễ bạch Phật: Chúng con cũng thệ nguyện hộ trì cho người ấy, khiến tâm Bồ Đề mau được viên mãn. Còn có vô số Nhật Nguyệt Thiên tử, Phong Sư, Vũ Sư, Vân sư, Lôi Sư, cùng với Điện Sư, Tuần Quan, Chư Tinh và quyến thuộc đảnh lễ bạch Phật: Chúng con cũng bảo hộ người tu hành ấy an lập đạo tràng, được vô sở úy. Còn có vô số Sơn Thần, Hải Thần, Phong Thần, cõi Trời Vô Sắc, tất cả tinh kỳ trên mặt đất, dưới nước và trên không, đồng thời đảnh lễ bạch Phật: Chúng con cũng bảo hộ người tu hành ấy được thành Bồ Đề, trọn chẳng ma sự. Khi ấy, tám vạn bốn ngàn ức hằng sa Bồ Tát Kim Cang Tạng Vương trong hội, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ bạch Phật: Như chúng con tu thành Bồ Đề đã lâu, mà chẳng thủ chứng Niết Bàn, thường theo chú này, cứu giúp những người chơn tu Tam Ma Địa trong đời mạt pháp. Thế Tôn, những người tu tâm cầu chánh định như thế, dù ở đạo tràng hay lúc kinh hành, cho đến lúc đi dạo chơi, con và đồ chúng thường theo hộ vệ người ấy. Dẫu cho Ma vương, Đại Tự Tại Thiên muốn tìm cách quấy phá, trọn chẳng thể được. Các quỷ thần nhỏ phải cách xa người ấy ngoài mười do tuần, chỉ trừ khi họ đã phát tâm tu thiền chánh pháp thì mới được gần người ấy. Thế Tôn, nếu những ác ma hay quyến thuộc ma, muốn đến xâm nhiễu người ấy, thì con dùng chày Kim Cang đập nát đầu họ như vi trần, khiến người ấy việc làm thỏa nguyện. _________________________CÁCH CHÉP CHÚ LĂNG NGHIÊM ĐEO VÒNG CỔ
* KĨ THUẬT LÀM TƯƠNG ĐỐI KHÓ, BẠN CẦN ĐẢM BẢO ĐỌC KĨ PHẦN HƯỚNG DẪN DƯỚI ĐÂY NHIỀU LẦN. ( Đây là kinh nghiệm cá nhân admin đã từng làm nhiều chiếc, bạn có thể làm cách khác tùy sở thích của mỗi người, bạn không chép tiếng Phạn mà chép tiếng Việt cũng được, nhưng làm khác đi so hướng dẫn dưới đây thì admin không biết được có cho vừa vào bình không, bạn có thể thử làm cách khác và cho mọi người biết kết quả) Bạn cũng có thể đặt mua mặt dây chuyền chú Lăng Nghiêm in sẵn trên mạng, tuy nhiên uy lực không thể nào so sánh kịp với thần chú tự tay chép, vì đó là lòng thành của bản thân, dồn sức tâm huyết vào chép, nên công đức gấp bội, uy lực gấp bội ) Bướic 1. Mua bình inox (như trong hình) :











CHÚ LĂNG NGHIÊM
(I) 1. Namas tathāgatāya sugatāya Arhate samyak-saṃbuddhāya 2. Namas tathāgata-buddhakoṭy-uṣṇīṣaṃ 3. Namas sarva-buddha-bodhisattvebhyaḥ 4. Namas saptānāṃ samyaksaṃbuddha-koṭīnāṃ saśrāvaka-saṃghānāṃ 5. Namo loke arhantānāṃ 6. Namas srota-āpannānāṃ 7. Namas sakṛdāgamīnāṃ 8. Namo loke samyag-gatānāṃ Samyak-pratipannānāṃ 9. Namo devarṣīnāṃ 10. Namas siddhyā vidyā-dharaṛṣīnāṃ śāpa-anu-graha-sahasamarthānāṃ 11. Namo brahmaṇe 12. Nama indrāya 13. Namo bhagavate rudrāya Umā-pati-sahāyāya 14. Namo bhagavate nārāyaṇāya Pañca-mahā-mudrā-namaskṛtāya 15. Namo bhagavate mahākālāya tripura-nagara-vidrāāpaṇa-kārāya adhi-muktiśmaśāna-nivāsini mātṛ-gaṇanamas-kṛtāya 16. Namo bhagavate tathāgatakulāya 17. Namaḥ padma-kulāya 18. Namo vajra-kulāya 19. Namo maṇi-kulāya 20. Namo gaja-kulāya 21. Namo bhagavate dṛḍha-sūrasenā-pra-haraṇa-rājāya Tathāgatāya arhate samyaksaṃbuddhāya 22. Namo bhagavate Namo’mitābhāya tathāgatāya Arhate samyak-saṃbuddhāya 23. Namo bhagavate’kṣobhyāya Tathāgatāya arhate samyaksaṃbuddhāya 24. Namo bhagavate bhaiṣajyaguru-vaiḍūrya-prabha-rājāya Tathāgatāya 25. Namo bhagavate Saṃpuṣpitā-sālendra-rājāya Tathāgatāya arhate samyaksaṃbuddhāya 26. Namo bhagavate Śākyamunaye tathāgatāya Arhate samyak-saṃbuddhāya 27. Namo bhagavate ratna-keturājāya tathāgatāya arhate Samyak-saṃbuddhāya 28. Tebhyo namas-kṛtvā idaṃ Bhagavatas tathāgata-uṣṇīṣaṃ Sita-ātapatraṃ namo’parājitaṃ Pratyaṅgiraṃ 29. Sarva-bhūta-grahanigrahaka-kara-hani para-vidyā 30. Chedanīṃ akāla-mṛtyu-paritrāyaṇa-karīṃ 31. Sarva-bandhana-mokṣaṇīṃ 32. Sarva-duṣṭa-duḥ-svapnanivāraṇīṃ 33. Caturaśītīnāṃ grahasahasrāṇāṃ vidhvaṃsanakarīṃ 34. Aṣṭa-viṃśatīnāṃ Nakṣatrāṇāṃ pra-sādana-karīṃ 35. Aṣṭānāṃ mahā-grahāṇāṃ Vidhvaṃsana-karīṃ 36. Sarva-śatru-nivāraṇam 37. Ghorāṃ duḥ-svapnāṃ ca Nāśanīṃ 38. Viṣa-śastra-agni-udakaraṇaṃ 39. Aparājita-ghora mahā-balacaṇḍa mahā-dīpta mahā-teja Mahā-śveta-jvala mahā-bala Pāṇḍara-vāsinī ārya-tārā bhṛkuṭīṃ ce va vijaya 40. Vajra-maletiḥ vi-śrutapadmakaḥ vajra-jihvaś ca mālā Ce va aparājitā-vajra-daṇḍaḥ Viśālā ca śānta śveteva pūjitā Sauma-rūpā 41. Mahā-śvetā-ārya-tārā mahābala-apara 42. Vajra-saṃkalā ce va vajrakaumārī kulaṃ-dharī 43. Vajra-hastā ca vidyā 44. Kāñcana-mallikāḥ Kusumbhaka-ratnaḥ 45. Vairocana-kulīyāya arthauṣṇīṣaḥ 46. Vi-jṛmbha-mānī ca vajrakanaka-prabha-locanā 47. Vajra-tuṇḍī ca śvetā ca Kamala-akṣaś śaśi-prabhā 48. Ity-iti-mudrā-gaṇas sarve Rakṣaṃ kurvantu imān mamaasya (II) 49. Oṃ ṛṣi-gaṇa-pra-śastas Tathāgata-uṣṇīṣaṃ 50. Hūṃ trūṃ jambhana hūṃ Trūṃ stambhana 51. Hūṃ trūṃ para-vidyā-saṃbhakṣaṇa-kara 52. Hūṃ trūṃ sarva-yakṣarākṣasa-grahānāṃ Vidhvaṃsana-kara 53. Hūṃ trūṃ caturaśītīnāṃ Graha-sahasrānāṃ Vidhvaṃsana-kara 54. Hūṃ trūṃ rakṣa rakṣa māṃ 55. Bhagavāṃs tathāgatauṣṇīṣaṃ 56. Pratyaṅgire mahā-sahasrabhuje sahasra-śīrṣe koṭisahasra-netre 57. Abhede jvalita-ataṭaka mahāvajra-udāra-tri-bhuvanamaṇḍala 58. Oṃ svastīr bhavatu mama Imān mama-asya (III) 59. Rāja-bhayāś cora-bhayā Agni-bhayā Udaka-bhayā Viṣa-bhayāḥ Śastra-bhayāḥ Paracakra-bhayā Dur-bhikṣa-bhayā Aśani-bhayā Akāla-mṛtyu-bhayā Dharaṇi-bhūmi-kampaka-patabhayā Ulkā-pāta-bhayā Rāja-daṇḍa-bhayā Nāga-bhayā Vidyud-bhayās Suparṇa-bhayā 60. Yakṣa-grahā Rākṣasī-grahāḥ Preta-grahāḥ Piśāca-grahā Bhūta-grahāḥ Kumbhāṇḍa-grahāḥ Pūtana-grahāḥ Kaṭapūtana-grahās Skanda-grahā Pa-smāra-grahā Unmāda-grahāś Chāya-grahā Revatī-grahā 61. Jāta-āhārīnaṃ Garbha-āhārīnaṃ Rudhira-āhārīnaṃ Māṃsa-āhārīnaṃ Medha-āhārīnaṃ Majja-āhārīnaṃ Jāta-āhārīnīṃ Jīvita-āhārīnaṃ Pīta-āhārīnaṃ Vānta-āhārīnam Aśucya-āhārīnīṃ citta-āhārīnīṃ 62. Teṣāṃ sarveṣāṃ sarvagrahānāṃ vidyāṃ chedayāmi Kīlayāmi 63. Pari-vrājaka-kṛtaṃ vidyāṃ Chedayāmi kīlayāmi 64. Ḍākinī-kṛtaṃ vidyāṃ Chedayāmi kīlayāmi 65. Mahā-paśupati-rudra-kṛtaṃ Vidyāṃ chedayāmi kīlayāmi 66. Nārāyaṇa-kṛtaṃ vidyāṃ Chedayāmi kīlayāmi 67. Tattva-garuḍa-kṛtaṃ vidyāṃ Chedayāmi kīlayāmi 68. Mahā-kāla-mātṛ-gaṇa-kṛtaṃ Vidyāṃ chedayāmi kīlayāmi 69. Kāpālika-kṛtaṃ vidyāṃ Chedayāmi kīlayāmi 70. Jaya-kara-madhu-kara-sarvaartha-sādhaka-kṛtaṃ vidyāṃ Chedayāmi kīlayāmi 71. Catur-bhaginī-kṛtaṃ vidyāṃ Chedayāmi kīlayāmi 72. Bhṛṅgi-riṭi-nandikeśvaragaṇa-pati-sahāya-kṛtaṃ vidyāṃ Chedayāmi kīlayāmi 73. Nagna-śramaṇa-kṛtaṃ Vidyāṃ chedayāmi kīlayāmi 74. Arhanta-kṛtaṃ vidyāṃ Chedayāmi kīlayāmi 75. Vīta-rāga-kṛtaṃ vidyāṃ Chedayāmi kīlayāmi 76. Vajra-pāṇi-guhya-guhyakaadhipati-kṛtaṃ vidyāṃ Chedayāmi kīlayāmi 77. Rakṣa māṃ bhagavann imān Mama-asya (IV) 78. Bhagavat-sita-ātapatranamo’stute 79. Asita-nala-arka-prabhasphuṭa-vi-kas-sita-ātapatre 80. Jvala jvala dara dara bhidara Bhidara chida chida hūṃ hūṃ 81. Phaṭ phaṭ phaṭ phaṭ phaṭ Svāhā hehe phaṭ 82. Amoghāya phaṭ Apratihata phaṭ Vara-prada phaṭ Asura-vidāraka phaṭ 83. Sarva-devebhyaḥ phaṭ Sarva-nāgebhyaḥ phaṭ Sarva-yakṣebhyaḥ phaṭ Sarva-gandharvebhyaḥ phaṭ 84. Sarva-pūtanebhyaḥ phaṭ Kaṭa-pūtanebhyaḥ phaṭ Sarva-dur-laṅghitebhyaḥ phaṭ 85. Sarva-duṣ-prekṣitebhyaḥ Phaṭ Sarva-jvarebhyaḥ phaṭ Sarva-apasmārebhyaḥ phaṭ 86. Sarva-śramaṇebhyaḥ phaṭ Sarva-tīrthikebhyaḥ phaṭ Sarva-unmādakebhyaḥ phaṭ 87. Sarva-vidyā-rājaācāryebhyaḥ phaṭ Jaya-kara-madhu-kara-sarvaartha-sādhakebhyaḥ phaṭ 88. Vidya-ācāryebhyaḥ phaṭ Catur-bhaginībhyaḥ phaṭ Vajra-kaumārī-vidyā-rājebhyaḥ Phaṭ 89. Mahā-praty-aṅgirebhyaḥ Phaṭ Vajra-saṃkalāya praty-aṅgirarājāya phaṭ 90. Mahā-kālāya mahā-mātṛgaṇa-namas-kṛtāya phaṭ Viṣṇave phaṭ Brāhmaṇiye phaṭ agniye phaṭ 91. Mahā-kāliye phaṭ Kāla-daṇḍiye phaṭ Mātre phaṭ Raudriye phaṭ Cāmuṇḍiye phaṭ Kālā-rātriye phaṭ Kāpāliye phaṭ Adhi-muktaka-śmaśāna-vāsiniye Phaṭ 92. Ye ke cittās sattvāsya mama Imān mama-asya (V) 93. Duṣṭa-cittā Amitrī-cittā 94. Oja-āhārā Garbha-āhārā Rudhira-āhārā Vasa-āhārā Majja-āhārā Jāta-āhārā Jīvita-āhārā Mālya-āhārā Gandha-āhārāḥ Puṣpa-āhārāḥ Phala-āhārās Sasya-āhārāḥ 95. Pāpa-cittā Duṣṭa-cittā Raudra-cittā 96. Yakṣa-grahā Rākṣasa-grahāḥ Preta-grahāḥ Piśāca-grahā Bhūta-grahāḥ Kumbhāṇḍa-grahās Skanda-grahā Unmāda-grahāś Chāyā-grahā Apa-smāra-grahā Ḍāka-ḍākinī-grahā Revatī-grahā Jāmika-grahāś Śakunī-grahā Raudrā-mātṛ-nāndika-grahā Ālambā-grahā Ghatnu-kaṇṭhapaṇinī-grahāḥ 97. Jvarā ekāhikā dvaitīyakās Traitīyakāś cāturthakā nityajvarā viṣama-jvarā vātikāḥ Paittikāś ślaiṣmikās sāṃnipātikās sarva-jvarāś śiro’rtīr Vārddha-bādha-arocakā 98. Akṣi-rogaṃ Mukha-rogaṃ Hṛd-rogaṃ Gala-grahaṃ Karṇa-śūlaṃ Danta-śūlaṃ Hṛdaya-śūlaṃ Marman-śūlaṃ Pārśva-śūlaṃ Pṛṣṭha-śūlam Udara-śūlaṃ Kaṭi-śūlaṃ Vasti-śūlaṃ Ūru-śūlaṃ Nakha-śūlaṃ Hasta- śūlaṃ Pāda-śūlaṃ Sarva-aṅga-pratyaṅga-śūlaṃ 99. Bhūta-vetāḍa-ḍākinī-jvarā Dadrukāḥ kaṇḍūḥ kiṭibhā lūtā Vaisarpā loha-liṅgāḥ 100. Śastra-saṃ-gara viṣa-yoga Agne udaka māra vaira kāntāra Akāla-mṛtyo 101. Try-ambuka trai-lāṭa vṛscika Sarpa nakula siṃha vyāghra Ṛkṣa tarakṣa mārā jīvīs teṣāṃ Sarveṣāṃ 102. Sita-ātapatra-mahā-vajrauṣṇīṣaṃ mahā-praty-aṅgiraṃ 103. Yāvad-dvādaśa-yojanaabhy-antareṇa sīmā-bandhaṃ Karomi vidyā-bandhaṃ karomi Tejo-bandhaṃ karomi paravidyā-bandhaṃ karomi “Tadyathā Oṃ Anale Viśade Vīravajra-Dhare Bandha Bandhani Vajra-Pāṇiḥ Phaṭ Hūṃ Trūṃ Phaṭ Svāhā”LÀM SAO KHI TỰ DƯNG KHỞI NIỆM PHỈ BÁNG PHẬT ?
Hỏi :
– Xin chào Quang Tử, cho tôi xin hỏi một vấn đề, đó là khi tôi niệm Phật, hay tu tập, tôi hay khởi những vọng niệm rất thô tục, như muốn phỉ báng Phật. Danh hiệu Phật nhưng lại bị những vọng tưởng đó khởi lên thành những từ ngữ “nhạy cảm”. Hễ tôi niệm Phật thì các từ ngữ ấy cứ xen vào câu Phật hiệu, không biết phải làm sao ? Xin Quang Tử có cách nào giúp tôi dẹp bỏ những vọng tưởng đó không ạ ?
Trả lời:
– Bạn thân mến, những người mới tu tập thường gặp vấn đề này, trong tâm tự dưng khởi lên những ý nghĩ phỉ báng Phật, những hình ảnh, âm thanh hoặc câu từ dâm dục xen lẫn câu niệm Phật như muốn bôi nhọ Phật, càng muốn dứt trừ chúng, thì chúng lại càng bùng phát mạnh hơn. Điều này dẫn đến tâm lí lo sợ, khiến những người mới tu không dám tu tập nữa.
Thực ra, những ý nghĩ phỉ báng đó là do các loại ma chướng bên ngoài tác động vào. Chúng không muốn cho ai tu tập mà được giải thoát, nên tác động vào tâm những người đang tu, tạo ra các vọng tưởng phỉ báng Phật bằng đủ loại cách thức khác nhau để người ta nản mà bỏ tu tập. Đồng thời đây cũng là do nghiệp chướng từ quá khứ của bản thân.
Nếu vì lo sợ mà bỏ dở việc tu tập , ấy là ma đã thành công phá hủy một sự nghiệp tu hành đang chớm nở, nên nhất định thế nào cũng không được bỏ dở công phu tu tập. Vậy làm như thế nào để chấm dứt tình trạng này ?
HÃY PHỚT LỜ NÓ ĐI !
Hãy tự nhủ rằng, những ý nghĩ phỉ báng đó là của ma chướng cài vào, chẳng phải của mình, và mặc kệ chúng. Vì càng chú ý nhiều, càng cuống cuồng tìm cách dập tắt, thì những ý nghĩ, những vong tưởng phỉ báng đó lại càng khởi lên nhiều. Phớt lờ chúng đi, không thèm quan tâm, chúng lại nhanh chóng tan biến.
Rất nhiều người đã dựa theo cách trên để vượt qua ma chướng này. Bạn hãy kiên trì áp dụng một thời gian, vì cũng không nhanh chóng mà hết ngay được. Chúc bạn thành công !
TRÌ NIỆM QUÁN ÂM BỒ TÁT CHỒNG LIỀN HẾT BỆNH
Ở Việt Nam nói riêng, và những nước A Đông nói chung, luôn có rất nhiều người dù là Phật tử hay chẳng phải Phật tử, xong vẫn có một lòng tin tưởng vào danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, hễ gặp hoạn nạn là lập tức xưng niệm. Có thể do được cha mẹ khuyên dạy, cũng có thể do tập quán của cộng đồng, xong đa phần chỉ là nghe người khác kể lại mà tin, chứ không có một niềm tin sâu chắc.
Với tôi thì khác, tôi đã tự mình thể nghiệm và có một kinh nghiệm quý báu, có lẽ đến khi chết cũng không thể quên. Tôi tên Thanh Huyền, năm nay 30 tuổi. Hiện tại, tôi cùng chồng và con gái đang sống ở Hà Nội.
Tôi bắt đầu ăn chay niệm Phật từ năm 2012, khi đó tôi vừa tốt nghiệp Đại Học. Không hiểu nhân duyên gì nhưng tôi dám chắc là mình đã có thiện căn với Phật đạo, tôi biết pháp môn Niệm Phật và hành trì từ đó tới giờ không ngưng nghỉ ngày nào. Càng hành trì tôi lại càng cảm thấy có nhiều điều vi diệu không thể nghĩ bàn ( bất khả tư nghì).
Và lần đáng nhớ nhất, mới vừa đây thôi, là một lần khiến tôi và chồng tôi được phen hú vía. Chuyện là như thế này: Ngày lễ 30/4/2020 vừa rồi, cả gia đình tôi về quê nghỉ lễ 4 ngày tại Nam Định. Cũng như mọi gia đình khác chúng tôi mong muốn có những phút giây quây quần vui vẻ đầm ấm bên gia đình, bè bạn.
Sống ở Hà Nội, ít có cơ hội tiếp xúc với anh em bạn bè ở quê nên khi được nghỉ lễ về chồng tôi vui lắm. Anh bình thường rất ít khi đụng tới chén rượu, nhưng lần, do lâu ngày không gặp mặt lại là chỗ thân tình, anh uống rất nhiều.
Thường chồng tôi say rượu chỉ ngủ một giấc là khỏe lại. Vậy mà hôm nay anh chằn chọc khó ngủ, lăn qua lộn lại, thở khò khè rất khó chịu. Mùi rượu bia phả ra từ miệng khiến tôi cũng khó chịu lây. Tôi nghĩ thôi kệ, lát là ngủ được nên không để ý lắm, cứ mặc anh ấy nằm đó.
Nhưng linh tính mách tôi có gì đó không ổn. Quả đúng như vậy, lát sau anh kêu đau bụng và lưng, làm cách nào cũng không được. Mà chồng tôi vốn bị bệnh sỏi thận, trước kia từng bị đau quặn thận phải đi bệnh viện cấp cứu mới đỡ.
Tôi bắt đầu lo lắng. Đến lúc không thể chịu đựng được nữa, anh ấy nói giọng rất thều thào, yếu ớt như người sắp hết hơi: “Em ơi, ….em……em… ơ, …ơi…….ơi.! Đau quá, đau quá, anh đau quá rồi, đưa anh đi viện không anh chết mất”
Tôi nghe xong tâm thần phát hoảng, mặt cắt không còn giọt máu, tay chân run lẩy bẩy, miệng lắp ba lắp bắp: “ Sao anh? Giờ là 1h sáng, muộn thế này lấy ai mà đưa anh đi bệnh viện đây ?”
Tôi bắt đầu rối trí, tóc tai bù xù hết cả lên, lật đật gọi điện anh trai tới chở chồng vào bệnh viện. Khuôn mặt chồng tôi bắt đầu đổi sắc, lúc tím tái, lúc đỏ au lên. Không cần nói ai nhìn cũng thất kinh nếu nhìn thấy mặt anh ấy lúc đó.
Trong lúc hoảng sợ tột độ, không hiểu do Phật lực gia trì hay thế nào mà tôi sực nhớ ra danh hiệu ngài Quán Âm mà mình vẫn thường hay trì tụng.
“ Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát ! Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát …” – tôi vừa xoa bụng chồng vừa niệm lớn danh hiệu Bồ tát Quán Âm, mà lúc ấy tôi niệm nhiếp tâm một cách mạnh mẽ, khác hẳn bình thường, y như là tiếng con thơ gọi mẹ khẩn thiết.
Mười phút trôi qua!
Chồng tôi dần đỡ hơn, mặt không còn biến sắc nữa. Thêm 15 phút sau, anh trai tôi đến nơi sẵn sàng chở đi bệnh viện cấp cứu, bỗng dưng chồng tôi bảo, anh khỏi đau rồi, không cần đi viện nữa đâu.
Mọi người đều ngạc nhiên, riêng tôi thì thấy thật vi diệu. Nhưng tôi vẫn nhờ anh trai ngủ lại đêm hôm đó vì sợ lỡ chồng lại đau tiếp, nhỡ có chuyện gì thì tôi sẽ ân hận cả đời.
Anh nằm xuống và bắt đầu thiếp ngủ đi, miệng cũng lẩm nhẩm cái gì đó mà tôi nghe không rõ. Tôi gần như thức trắng đêm, đến sáng mới chợp mắt được một chút. Sáng hôm sau, khi nói chuyện, chồng tôi bảo lúc đó anh cũng niệm thầm cả danh hiệu Phật A Di Đà và danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, và cảm nhận rõ rệt cơn đau dịu dần sau khi niệm.
Qua lần cảm ứng đó, chồng tôi tin sâu Phật Pháp hơn và phát nguyện bỏ hẳn rượu bia. Còn bản thân tôi, lần đầu tiên được sự gia trì và cảm ứng ngay tức khắc như vậy, không còn điều gì có thể làm tôi xoay chuyển lòng tin với Phật Pháp và pháp môn Niệm Phật nữa, dù có bị xô vào hầm lửa lớn hay ai có nói gì tôi vẫn tin tưởng vào mẹ Quan Âm.
Mong rằng qua câu chuyện này của tôi, các bạn sẽ càng có niềm tin mạnh mẽ hơn vào Phật Pháp, tin sâu nhân quả, luôn nhớ đến danh hiệu ngài Quan Âm mà tụng niệm để được thoát khổ, được giải thoát đúng như theo lời kinh Phổ Môn.
( Minh Kiên, viết lại từ lời kể của Thanh Huyền – Thanh Cao,Thanh Oai, Hà Nội)










