Không cần phải tạo nghiệp, bạn vẫn sẽ đau khổ. Không cần ai hãm hại, bạn vẫn sẽ tổn thương. Không cần làm gì sai, bạn vẫn sẽ mất mát.
Vì 12 loại khổ đau đã được lập trình sẵn trong chính hành trình làm người – như từng cái bẫy đặt kín khắp con đường, thế nên Đức Phật dạy đời là biển khổ
Bạn có chắc mình đã hiểu rõ những loại khổ mà mình đang vướng phải? Hay bạn chỉ mới sống qua chúng mà chưa từng gọi tên?
Bài viết này sẽ vạch trần 12 loại khổ – một cách không né tránh, không tô hồng. Hãy đọc hết, hoặc lưu lại để đọc dần. Vì đây không phải chuyện của “ai đó”, mà là chính bạn.
Và câu chuyện của một người vô danh sau đây sẽ giúp bạn dễ dàng hình dung ra điều này.
CHUYỆN MỘT ĐỜI NGƯỜI …
“Tôi là một người bình thường, vô danh trên thế giới này, sống một cuộc đời như phần lớn mọi người đã sống. Để đến được với thế giới này, tôi phải được sinh ra như bao đứa trẻ khác. Hầu hết mọi người đều cho rằng việc sinh ra thì có gì đâu mà gọi là khổ.
Thực ra đó là vì các ký ức tuổi thơ từ khi trong bụng mẹ đến khi 2 tuổi đã bị quên lãng cả. Nhưng nếu nhớ lại được thì mọi người sẽ thấy việc ở trong thai gò bó, chật chội và quá trình được sinh ra không dễ chịu chút nào.
Và đây là thứ khổ đầu tiên tôi cũng như vô số những đứa trẻ khác đã nếm trải.
___________________________
🎯KHỔ SINH :
Khi một chúng sinh tiến nhập vào trong bào thai, các dây thần kinh cảm thụ dần phát triển, cảm nhận rõ nét được xung quanh, nhưng khi ấy da thịt thì vô cùng mỏng manh, chưa có lấy một chút sức chịu đựng nào.
Thế nên nhất cử nhất động của người mẹ mang thai đều có thể khiến thai nhi đau đớn, như cử động mạnh thì thai nhi chịu dằn xóc khổ sở, uống nước nóng thì thai nhi thấy bỏng rát, uống nước lạnh thì thai nhi thấy tê buốt.
Ngày này qua tháng khác bị giam nhốt trong bụng mẹ chật hẹp, tay chân lúc nào cũng phải giữ trong tư thế co quắp.
Đến ngày sinh nở, cả cơ thể phải quay đầu, chui qua sản môn chật hẹp, Đức Phật ví như một con voi phải chui qua một khe đá hẹp, bị dồn ép tột độ, toàn thân đau nhức kinh khủng
Vừa ra đến bên ngoài, liền bị bà đỡ – hay hộ sinh đem đi tắm rửa, kỳ cọ các thứ máu mủ, nước ối… làn da mỏng manh lập tức thấy như kim châm dao cắt. Rồi bắt đầu từ đó, mở ra cả một cuộc đời với đủ thứ áp lực, sóng gió, tùy nghiệp chướng nặng nhẹ mà khổ nhiều hay khổ ít.
Tuy nhiên thường ít ai nhắc đến nỗi khổ của sinh, lí do đơn giản là không ai còn nhớ. Khi trưởng thành, mọi kí ức khi ở trong thai, lúc mới chào đời, 1-2 năm tuổi hầu hết đều đã quên không nhớ được gì.
___________________________
Sinh ra không được bao lâu, vì cơ thể non nớt, yếu ớt, nên tôi thường xuyên bị bệnh, hết cảm đến sốt, hết sốt đến ho, hết ho đến phát ban…hàng chục loại bệnh khác nhau, chưa kể các tai nạn lớn nhỏ như đứt tay, trầy da, bỏng, bong gân, té gãy xương… khiến tôi thành khách hàng thân thiết của bệnh viện.
Và đây là loại khổ thứ 2 tôi gặp phải, đáng ghét ở chỗ, là chúng không có hết hẳn, mà sẽ đeo đuổi tôi đến suốt cuộc đời, bệnh này lành thì đến bệnh khác phát sinh, nặng nhẹ khác nhau, đủ kiểu.
Ở tuổi trưởng thành thì đỡ đỡ đi phần nào vì lúc đó sung sức, xong đến khi già đi thì bệnh mới thực sự là nghiêm trọng với những bệnh trầm kha, nan y như suy thận, viêm phổi, thoái hóa cột sống, ung thư… Tôi thắc mắc liệu trên đời từng có một ai chưa bao giờ bị bệnh tật gõ cửa không, nhưng mãi chẳng tìm ra người như thế.
___________________________
🎯KHỔ BỆNH:
Đây là nỗi khổ dễ hiểu nhất, không cần giải thích nhiều mọi người vẫn hiểu. Vì sao vậy ? Vì nó quá nhiều, quá phổ biến ai cũng từng trải qua, ai cũng đã nhìn thấy người người xung quanh mình trải qua, không nặng thì nhẹ.
Nguyên nhân thì đủ kiểu, có những bệnh do môi trường bên ngoài tác động khiến cơ thể bệnh, như thời tiết, khí hậu, vi khuẩn, virus, tác động vật lý… có những bệnh thì do bẩm sinh, do di truyền, do cơ địa, do các bộ phận bên trong cơ thể vận hành không điều hòa mà thành bệnh.
Liệt kê ra thì có đến hàng trăm ngàn loại bệnh nặng nhẹ khác nhau cùng với các thứ tai nạn đủ thể loại gây đau đớn cho cả cơ thể lẫn tinh thần.
___________________________
Rồi tôi lớn dần, tôi được ở bên những người yêu thương tôi, cha, mẹ, ông bà, anh chị em, bạn bè, thầy cô… và tôi rất yêu quý họ. Nhưng rồi chẳng hiểu sao, họ không ở mãi bên tôi, mà lần lượt rời xa tôi, không cách này thì cách khác.
Đầu tiên là ông tôi qua đời, rồi đến bà. Nhiều năm sau, mẹ tôi ra đi vì một bệnh lạ, không lâu sau bố bỏ tôi đi tìm hạnh phúc của riêng ông, chẳng bao giờ tôi gặp lại nữa.
Đến tuổi trưởng thành, khi trái tim đã đủ tuổi để loạn nhịp trước những người mình thầm thương trộm nhớ, tôi lại càng có nhiều người mà tôi thương yêu hơn. Họ bước vào cuộc đời tôi, rồi lại lần lượt rời xa tôi, có người là chia tay trong nước mắt vì không hợp, có người vì hoàn cảnh phải rời xa, có người là sinh ly tử biệt.
Mỗi lần thế, tôi cảm thấy rất buồn và đau khổ. Nhưng phải đến khi đứa con đầu lòng của tôi mất vì một căn bệnh nan y, tôi mới biết tột cùng đau khổ là như thế nào.
Không chỉ có những con người, cuộc sống cũng không ngừng ban cho tôi những điều tuyệt diệu, hương vị ngày tết khi cả gia đình quây quần, những chuyến du lịch cùng “người ấy” đến những nơi tuyệt đẹp, những buổi tụ họp tiệc tùng thú vị cùng hội bạn thân, rồi sắm được những món đồ rất giá trị, sở hữu được chiếc xe mơ ước… Tất cả chúng khiến tôi yêu thích bằng đủ kiểu khác nhau. Nhưng bạn biết gì không ?
Chúng đến và đi chứ không cái nào ở lại mãi với tôi. “Mọi bữa tiệc đều phải đến lúc tàn” và đó là lúc những cơn buồn đến với tôi. Hết tết, tự nhiên tôi thấy buồn. Tiệc tan, mọi người chào nhau mỗi người đi một ngả, tôi cũng buồn.
Chiếc xe đâm vào gốc cây bị hỏng nặng không sửa được, tôi buồn thối ruột. Chiếc điện thoại xịn sò tiết kiệm mãi mới sắm được, lỡ tay rơi mất từ lúc nào, tôi bần thần mất mấy ngày. Chú chó cưng gắn bó suốt mấy năm với tôi bị xe cán chết, tôi bỏ ăn cả tuần. Ngay đến cả bộ phim tôi yêu thích, cũng làm tôi buồn khi xem hết tập cuối, một cảm giác trống trải, hụt hẫng khi nó không còn tập nào nữa.
Cuộc sống ban tặng cho tôi những điều tuyệt vời, để rồi sau đó tịch thu lại bằng nhiều cách khác nhau. Thành ra, những thứ tôi yêu quý đều để lại trong tôi những vết thương trong lòng. Cuộc đời này trớ trêu thật.
___________________________
🎯KHỔ ÁI BIỆT LY:
Sống trong đời, tâm ta không ngừng sản sinh ra các tình cảm yêu thích đối với những thứ hợp ý mà mình tiếp xúc, dù là yêu thích một người, hay yêu thích một con vật, một đồ vật cụ thể hay một điều gì đó trừu tượng.
Nhưng cuộc đời này, mọi thứ đều phải tuân theo luật Vô thường, không gì tồn tại mãi, mọi thứ ta yêu thích thì đến một lúc phải tan hoại, hoặc phải chia xa với ta, và khi ấy, tâm sẽ phải hứng chịu một nỗi đau khổ, gọi là Ái biệt ly.
___________________________
Bên cạnh những điều tuyệt vời mà tôi gặp, đời còn đem đến cho tôi rất nhiều thứ phiền toái, tồi tệ. Hồi đi học thì tôi đến khổ với mấy đứa bạn học xấc láo, hung hăng hay bắt nạt tôi.
Rồi khi trưởng thành thì có hàng đống những kẻ nối dài vào danh sách này: gã sếp hung dữ, bảo thủ; khách hàng thô lỗ; những đồng nghiệp xấu tính, đố kỵ suốt ngày đâm chọc, nói xấu sau lưng; rồi cả bà hàng xóm phách lối, mồm không ngớt chửi bới nữa…
Những người tôi ghét và ghét tôi thì nhiều đếm không xuể, cứ ra ngõ là gặp, chả hiểu sao cứ đụng mặt hoài.
Rồi thì đến những hoàn cảnh khó chịu nhưng suốt ngày gặp phải, nào là cái nóng kinh hồn của mùa hè lại còn cúp điện, nào là tiếng ồn của mấy nhà hàng xóm hát karaoke inh ỏi bất chấp giờ giấc, thú thật, họ hát dở như đang đấm vào tai người nghe vậy, thế mà họ lại thích hát lắm.
Nào là cảnh kẹt xe lê thê cả tiếng đồng hồ dưới trời nóng bức đầy khói bụi, nào thiên tai bão lũ năm nào cũng càn quét mấy bận, nào những lần khủng hoảng kinh tế khiến tôi thất nghiệp .v.v… ti tỉ thứ tôi rất ghét, hành hạ đời tôi đến thảm. Không hiểu sao chúng lại nhiều thế, và tại sao tôi cứ phải gặp chúng mãi, hết cái này đến cái khác.
___________________________
🎯KHỔ OÁN TẮNG HỘI:
Ngược lại với Ái biệt ly là oán tắng hội. Cuộc sống luôn không thiếu những thứ khiến cho mình khó chịu, và sinh tâm ghét bỏ, nhưng vì nghiệp chướng, vì ác duyên nợ nần, ta lại thường xuyên tiếp xúc, gặp những thứ mình ghét bỏ. Và đây là một thứ khổ nhức nhối rất khó chịu.
Cũng như bạn, như bao người khác, tôi cũng có nhiều ước muốn. Không biết chúng từ đâu ra nhưng các thể loại mong muốn nhiều thật đấy, chúng không ngừng phát sinh.
Đi học thì tôi ao ước một lần được làm thủ khoa của trường, xong thế nào mà chỉ luôn đứng hạng nhì. Lớn lên, tôi muốn kết hôn với một người bạn đời lý tưởng, bên nhau hạnh phúc đi hết cuộc đời, ấy thế mà người tôi cưới lại chả giống tí nào với mong ước đó cả.
Dung mạo thì bình thường, nếu không muốn nói là tầm thường, vừa mập vừa thô kệch. Tính tình thì vô tâm, hay cáu gắt, mỗi lần bực cái gì lại hét toáng lên như cái còi tầu kê sát lỗ tai tôi vậy. Còn nhiều cái nữa, nhưng thôi, tôi chẳng muốn kể.
Khi đi làm, như bao người, tôi muốn làm sếp, lương khá khá một chút, sếp nhỏ cũng được, ấy thế mà bao năm trời tôi vẫn chỉ giữ chức nhân viên quèn, cố mấy cũng chả lên được, lương thì chỉ đủ sống, nhiều khi nhà có gì phát sinh là y như rằng chật vật.
Sau tôi xin nghỉ, vay mượn anh em, bạn bè một số vốn mở một công ty. Sau ba năm cày cuốc, nó cũng hoạt động tốt, doanh thu ổn. Tôi muốn mở rộng hơn, nên tìm thêm những nhân viên giỏi về làm. Nhưng thế quái nào những nhân viên mới tuyển về làm ăn rất bát nháo.
Họ có chuyên môn thật, nhưng lại thông đồng nhau bòn rút tiền công ty, bán dữ liệu cho đối thủ cạnh tranh, và trong 2 năm thôi, công ty tôi phá sản, tôi phải còng lưng đến tận 10 năm sau mới trả hết các khoản nợ.
Quái lạ, sao những thứ tôi muốn lại cứ ở ngoài tầm với vậy ? Đời tôi thảm quá vậy ?
___________________________
🎯KHỔ CẦU BẤT ĐẮC:
Cầu bất đắc là khổ với cái mình muốn mà chưa có, hoặc không có được. Tâm mong cầu của mỗi người hoạt động không ngừng nghỉ, nó không dừng lại khi các nhu cầu căn bản được đáp ứng, mà hễ có được cái này rồi nó lại muốn có cái khác, càng có nhiều thì lại càng muốn thêm nhiều thứ.
Tham muốn thì không ngừng nở rộng với vận tốc gió bão. Nhưng phước báo thì lại chạy theo vận tốc của ốc sên ( với người biết tạo phước) hoặc thậm chí còn thụt lùi (với người hay làm việc tổn phước).
Vậy nên người càng nhiều mong cầu, nhiều dục vọng, thì lại càng dễ bị khổ của cầu bất đắc dày vò. Loại khổ này gần giống với Ái biệt ly, xong Ái biệt ly là khổ vì mất đi cái mình yêu thích đang có, còn Cầu bất đắc là khổ vì chưa có và không có.
___________________________
Với bao nhiêu thứ tồi tệ ấy luân phiên nã pháo vào cuộc đời tôi, trong tôi không ngừng tuôn ra những thứ cảm xúc tiêu cực:
Khi gặp phải hoàn cảnh xấu, mất mát, đáng thất vọng, tôi buồn bã.
Khi gặp phải hoàn cảnh khốn đốn, bi đát hơn, mất mát nặng nề, tôi thấy đau thương.
Khi gặp phải bất lợi, khó khăn đang đến và sắp đến, tôi lo lắng.
Khi gặp phải phải hoàn cảnh trái ý, tôi bực tức.
Những cảm xúc tiêu cực này, tôi không hề muốn có chúng, nhưng chúng thì lại cứ xuất hiện và tồn tại trong tôi, mà lại nằm ngoài tầm kiểm soát của tôi. Nhiều khi tôi tự hỏi, chúng có phải là của tôi không ? Nếu là của tôi thì vì sao tôi không tài nào tắt được chúng ?
___________________________
🎯Khổ của những cảm xúc tiêu cực:
Buồn bã
Đau thương
Lo lắng
Bực tức
Đó là những cảm xúc tiêu cực phát sinh trong tâm khi ta gặp phải những hoàn cảnh trái ý nghịch lòng, thất vọng, mất mát, khó khăn, tổn hại, bi đát.v.v…
___________________________
Rồi sau bao năm tháng mài mòn hết sinh lực vốn có trong tôi, tôi thấy mình đã già nua từ bao giờ. Sức khỏe không còn sung sức như trước, tôi làm gì cũng khó khăn, mệt mỏi.
Sức đề kháng không còn tốt, tôi mắc đủ thứ bệnh lớn nhỏ, toàn thân thường xuyên đau nhức, nào là bệnh xương khớp, nào là tiểu đường, tim mạch… Dung mạo tôi tự hào một thời, nay lụ khụ, bệ rạc, nhăn nhúm.
Tuổi già không chỉ tàn phá cơ thể, mà nó còn tàn phá luôn cả tinh thần, đầu óc không còn minh mẫn nữa, tôi cứ nhớ nhớ quên quên mọi chuyện, trí lực chậm chạp, đã vậy cảm xúc lại cứ như thời trẻ con, dễ xúc động, dễ khóc như một đứa trẻ vậy.
Ôi, thật là chết tiệt, cái khoảng thời gian phải chịu đựng cảnh già nua này kéo dài thật lê thê, mãi chưa kết thúc. Sao Thượng Đế không cho tôi chết sớm hơn để mau thoát khỏi cái cảnh bị tù đày, hành hạ trong chính cơ thể của mình như thế này chứ ?
___________________________
🎯KHỔ LÃO:
Cơ thể con người cũng như bao thứ khác, phải chịu sự tàn phá của quy luật Vô thường, khi đã sống qua độ tuổi 50, con người ta sẽ đối diện với sự lão hóa. Đó là một nỗi khổ bào mòn một cách chậm rãi, càng già đi thì cơ thể xuống dốc về mọi mặt.
Sức lực yếu ớt, sức đề kháng suy giảm, mở cửa cho đủ loại bệnh hoành hành, đi lại khó khăn, dung mạo xấu dần, mọi năng lực từ thể lực, trí lực, thị lực, thính lực .v.v…sút giảm, khiến cho con người ta bất lực dần trước dòng chảy cuộc sống vẫn tiếp tục tiến về phía trước.
Rồi thì cuối cùng, cái khoảnh khắc ấy cũng đến: cái Chết. Dù chẳng muốn sống nữa đâu, nhưng không hiểu sao tôi vẫn sợ chết. Và khi nó đến thật kinh dị, bệnh tình tôi trở nặng hơn lúc nào hết, cơ thể bị dày vò trong những cơn quặn đau kéo dài tưởng chừng vô tận, mọi sức lực bị rút cạn khỏi tôi. Bệnh viện đã từ chối tiếp tục chữa chạy, trả tôi về nhà để mọi người chuẩn bị hậu sự.
Nhìn mọi người thân xung quanh khóc lóc, ủ rũ, càng khiến tôi day dứt, ở không xong, đi cũng không đành. Cuối cùng, một cơn đau khủng khiếp ập đến, trời đất quay cuồng, tối sầm lại. Một lúc sau, tôi thấy mình lơ lửng bên ngoài thân xác, ngoái lại nhìn những người thân đang cuống quýt khóc than. Thế là xong một kiếp người.
___________________________
🎯KHỔ TỬ:
Con người, cũng như bao sinh vật khác, không thể sống mãi bất tử, sớm hay muộn rồi đều phải đối mặt với cái chết. Có hàng trăm cách để chết khác nhau, có cái chết chậm rãi đến, có cái chết bất thình lình, có cái chết nhẹ nhàng, có cái chết tức tưởi, thảm khốc… chỉ rất ít trường hợp có được một cái chết an bình, còn đại đa số thì sẽ đón nhận cái chết với sự đau đớn đi kèm.
Nếu không phải do tai nạn, bị giết mà chết bất đắc kì tử, hay tự sát, thì thường người ta sẽ chết vì những căn bệnh nào đó, khoảnh khắc chết thường cũng chính là khi bệnh phát tác mạnh nhất, thân thể suy kiệt nhất, thần thức hỗn loạn, đau nhức khủng khiếp, tâm luyến ái, bám chấp vào sự sống giằng co với thực tế là thời hạn sống đã cạn, khiến cho thân tâm khổ sở. (Còn tiếp…)
(Trích “Thấu hiểu luật Vũ trụ” – Quang Tử )
🎯 Còn bạn, loại khổ nào khiến bạn “đau” nhất ? Bạn đã nhận ra, Phật nói đúng, “đời là biển khổ” chưa ?
_________________________
💭 Bạn là một Phật tử, nhưng mỗi lần đứng trước tượng Phật, bạn lại thấy lòng mình đầy bối rối: “Mình đã hiểu đúng lời Phật dạy chưa? Liệu những việc mình làm có thực sự đúng theo giáo lý, hay mình đang sai lầm mà không biết ?”
Nếu bạn từng tự hỏi như vậy, thì cuốn sách “Thấu hiểu luật Vũ trụ” (TG: Quang Tử) chính là ánh sáng dẫn lối mà bạn đang cần.
Điều gì làm nên sự đặc biệt của cuốn sách này với Phật tử?
1. Giải mã luật nhân quả trong từng khía cạnh của cuộc sống
Nhiều người trong chúng ta thường nghĩ nhân quả chỉ là “làm lành gặp lành, làm ác gặp ác”. Nhưng nhân quả còn phức tạp hơn thế rất nhiều! Cuốn sách này sẽ giúp bạn nhìn nhận rõ nhân quả không chỉ vận hành trong một kiếp người, mà còn trải dài qua lục đạo luân hồi.
2. Xóa tan những hiểu lầm tai hại về giáo lý Phật dạy
Đốt vàng mã, dâng sao giải hạn, cúng tế cầu tài… liệu có phải là cách để tích phước, hay chỉ là những mê tín không nằm trong lời Phật dạy? Cuốn sách sẽ giúp bạn phân biệt rạch ròi giữa giáo lý chân chính và những hủ tục, để bạn tự tin bước đi trên con đường tu học đúng đắn.
3. Giúp bạn thoát khỏi nỗi sợ tội lỗi và hoang mang
Rất nhiều Phật tử sống trong lo sợ: “Mình làm vậy có tạo nghiệp không? Mình có bị đọa địa ngục không?” Cuốn sách này sẽ giúp bạn hiểu rằng, mọi thứ đều có cách hóa giải, miễn là bạn biết sửa sai và gieo những hạt giống tốt từ hôm nay.
Vì sao bạn không nên bỏ qua cuốn sách này?
“Thấu hiểu luật Vũ trụ” không chỉ là một cuốn sách, mà là người bạn đồng hành giúp bạn:
• Nhìn thấu bản chất của cuộc đời qua góc nhìn Nhân quả, và luân hồi.
• Thấu hiểu cách tu tập đúng đắn để giảm nghiệp, tăng phước.
• Vững tin trên hành trình Giác ngộ, không còn bị lay động bởi những giáo lý sai lầm.
Hãy để cuốn sách trở thành ngọn đèn soi sáng con đường tu tập của bạn.
Bạn có thể đặt mua qua Zalo nhà sách Đông Tây Kim Cổ: 0348 051248
( Hiện đang freeship)
Đừng để sự mơ hồ khiến bạn lạc lối – hãy bắt đầu hành trình hiểu rõ giáo lý Phật dạy ngay hôm nay!
Bạn có tin vào chuyện oan gia đầu thai báo thù ? Người ta thù ghét nhau chỉ đơn thuần do mâu thuẫn hiện tại, hay vốn luôn có nguyên nhân sâu xa từ tiền kiếp ?
Đây là một câu chuyện rùng rợn từ thời nhà Tống, một bí ẩn kéo dài 30 năm giữa một vị Thiền sư và… một con cá, sẽ giải đáp cho thắc mắc này.
Kết mối oan gia
Vào thời vua Tống Thái Tổ, tại ngôi chùa Bạch Vân Tự nép mình giữa núi rừng, có một cậu bé Sa-di tên Văn Thông Huệ. Mới 7-8 tuổi, cậu đã xuất gia, ngày ngày gánh nước từ chân núi lên chùa. Một hôm, trong lúc gánh hai thùng nước nặng trĩu, cậu vô tình không để ý: một con cá từ gánh hàng của bà bán cá gần đó nhảy tọt vào thùng.
Oan gia đầu thai báo thù, bắt đầu chỉ từ một cơ sự nhỏ
Lên đến chùa, cậu phát hiện ra – con cá tanh hôi đã làm hỏng cả thùng nước sạch! Tức mình, cậu vớ lấy nó, đ.ậ.p mạnh mấy cái cho đến khi nó c.h.ế.t hẳn. Chuyện tưởng chừng nhỏ nhặt, rồi dần chìm vào quên lãng.
Nhưng không, đó chỉ là khởi đầu của một mối oan nghiệt kinh hoàng!
Ba mươi năm sau, cậu bé Sa-di năm nào giờ đã là Thiền sư Văn Thông Huệ, trụ trì chùa Bạch Vân, nổi tiếng với đạo hạnh cao thâm. Một ngày nọ, ngài bất ngờ nói với đại chúng:
– Ngày xưa có một công án, hôm nay sẽ kết thúc!
Đại chúng ngơ ngác:
– Công án gì vậy, thưa ngài?
Ngài chỉ mỉm cười:
– Đợi đến trưa nay, các ngươi sẽ rõ.
Oan gia đầu thai báo thù
Đúng giờ ngọ, khi ngài đang ngồi thiền trong Thiền đường, một đoàn binh hùng hổ kéo đến. Dẫn đầu là tướng quân Trương Tuấn – một người tu Tịnh độ, chuyên niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Vậy mà vừa bước vào, thấy Thiền sư, ông đột nhiên nổi trận lôi đình, mặt mày biến sắc, giương cung định bắn c.h.ế.t ngài ngay tức khắc!
Oan gia đầu thai báo thù
Thiền sư bình thản mở mắt, nói:
– Ta đã chờ ngươi 30 năm rồi.
Trương Tuấn sững sờ:
– Lần đầu gặp ngài, sao ngài nói đã chờ tôi? Mà tại sao tôi vừa thấy ngài đã tự dưng nổi nóng, muốn g.i.ế.t c.h.ế.t ngay lập tức? Tôi không hiểu!
Thiền sư chậm rãi kể lại câu chuyện 30 năm trước: con cá bị cậu bé Sa-di đ.ậ.p c.h.ế.t chính là Trương Tuấn trong kiếp này! Ngài nói:
– Ta đã sám hối suốt 30 năm, làm nhiều công đức hồi hướng cho ngươi. Nhờ vậy, ngươi mới được tái sinh làm tướng quân, lại biết niệm Phật. Nhưng oan nghiệt vẫn chưa tan, nên hôm nay ngươi đến đây đòi mạng ta.
Nghe xong, Trương Tuấn như bừng tỉnh. Ông buông cung, làm một bài kệ:
“Trả thù qua lại bao giờ dứt,
Kiếp kiếp gặp nhau há ngẫu nhiên.
Nếu không được sư giải thích,
Sao nay đứng thẳng vãng Tây Thiên.”
Đọc xong, ông chắp tay, niệm Phật một lúc rồi vãng sanh ngay tại chỗ! Thiền sư Văn Thông Huệ cũng làm một bài kệ, sau đó tọa thiền nhập định và viên tịch. Một người tu Thiền, một người tu Tịnh, cùng hóa giải oan nghiệt trong khoảnh khắc, để lại công án nổi tiếng được ghi trong Phật Tổ Cương Mục.
* Bạn nghĩ sao về câu chuyện này? Nếu thiền sư không sám hối và hồi hướng công đức cho chú cá, liệu chuyện gì sẽ xảy ra ? Hãy để lại ý kiến của bạn nhé!
Xem thêm những câu chuyện về oan gia:
Oan gia rắn báo thù, gây ra thảm án chu di thập tộcVideo Youtube: 96 Oan gia bò từ tiền kiếpNghi thức sám hối – hóa giải oan gia
Phật Pháp linh thiêng, Đức Phật từ bi, chính vì thế nên rất nhiều người tìm đến chùa lễ Phật cầu xin may mắn. Nhưng thực tế, có rất nhiều người cả đời đi chùa nhiều nhưng vẫn khổ đau. Tại sao lại như vậy ?
Sự khác biệt giữa Cầu Đạo với Cầu Lợi
_Quang Tử _
Trên đời vốn luôn có nhiều tôn giáo, nhiều tín ngưỡng thờ thần linh, các hoạt động tâm linh luôn rất sôi động bất kể đông tây kim cổ.
Chắc tôi không cần giới thiệu nhiều vì hẳn bạn đã từng nhiều lần nhìn thấy những dòng tín đồ đông đảo tụ tập khắp các ngôi đền, nhà thờ, chùa chiền, thánh địa khắp thế giới, bất kể là thời xưa khoa học chưa phát triển, hay là thời nay khi khoa học đã lên ngôi.
Xong, bạn cần phải hiểu một điều rằng: đó không phải vì có nhiều người khát khao tìm cầu chân lý, thành tâm học Đạo, những người như thế luôn hiếm hoi. Mà chủ yếu là vì nhu cầu được “Bề trên” che chở, phù hộ để tai qua nạn khỏi, ban phước phát lộc để toại nguyện các mong cầu là chủ yếu.
Vì sao đi chùa nhiều nhưng vẫn khổ ?
Nhìn bên ngoài có vẻ các tín đồ đều giống nhau, đều thành khẩn, đều cung kính cả. Xong bản chất bên trong tâm thì khác nhau rất xa.
♦ Người tìm đến những đấng thiêng liêng, trí tuệ để cầu Đạo, là họ mong muốn tìm ra một con đường, một giáo lý cao thượng để họ sống theo, từng bước chỉnh sửa bản thân để đạt đến những tầng cao mới. Khi đó, họ xem những đấng thiêng liêng là THẦY của họ và chú trọng đến giáo lý dạy như thế nào.
Hãy tự hỏi lòng “Ta đến với Phật, là cầu Đạo hay cầu lợi?”
♦ Còn những người tìm đến những đấng thiêng liêng, quyền năng để cầu xin một sự che chở, phù hộ cho bản thân có được những thứ mình muốn như quyền, uy, danh, lợi, tình, tiền… bảo vệ bản thân và gia đình khỏi những nguy hiểm, khổ nạn. Khi đó, họ xem những đấng thiêng liêng là bùa hộ mệnh của họ và chú trọng đến các sự linh ứng, màu nhiệm như thế nào.
Vì sao đi chùa nhiều nhưng vẫn khổ đau ?
Với động cơ như thế, họ cho dù có được nghe về các giáo lý phải sống như thế này, phải làm như thế kia, thì họ cũng chẳng quan tâm, chẳng nhớ, chẳng làm theo. Lập luận của họ rất giản đơn, “Tôi cúng lễ lên các Ngài, tôi thờ phụng các Ngài, các Ngài phải phù hộ độ trì cho tôi, không thì tôi bỏ đi chỗ khác”.
Vì sao đi chùa nhiều nhưng vẫn khổ
Một cuộc giao dịch một chiều với đấng thiêng liêng mà tự con người đặt ra, chứ chẳng hề có đấng thiêng liêng nào hiện ra ký kết vào giao dịch này cả. Thật nực cười, nhưng đời vẫn luôn nhiều kẻ tin vào việc vô lý như thế.
Và rồi sau đó thực tế diễn ra như thế nào?
Bất kể thần thánh linh thiêng như thế nào, có lòng từ bi muốn cứu giúp con người như thế nào, thì cũng đều phải tuân theo quy luật vận hành của vũ trụ. Quyền năng các Ngài có được cũng đều là do thuận theo luật Nhân quả, tạo phước tích đức rất nhiều kiếp mới có được. Không có lý nào những kẻ muốn sống ngược với đạo lý, đòi hỏi thần thánh phù hộ lại có thể bẻ cong quy luật vũ trụ, sống bất thiện, tạo nghiệp thật nhiều xong được hưởng an lạc, sung sướng cả.
Những kẻ mê tín tội nghiệp, họ không hiểu được rằng:
Luật Nhân Quả mới là quyền lực tối thượng, Thần linh cũng chỉ như công chức thực thi luật Nhân quả. Các bậc Thánh vượt thoát khỏi Tam Giới như Đức Phật, Bồ Tát cũng là dạy con người hiểu rõ luật Nhân quả, chứ đâu vị nào bẻ cong luật Nhân quả được.
(Trích sách “Thấu hiểu luật Vũ trụ” – Quang Tử )
“THẤU HIỂU LUẬT VŨ TRỤ”
– Chìa Khóa cho những người còn mơ hồ trên con đường theo Phật.
Bạn là một Phật tử, nhưng mỗi lần đứng trước tượng Phật, bạn lại thấy lòng mình đầy bối rối: “Mình đã hiểu đúng lời Phật dạy chưa? Liệu những việc mình làm có thực sự đúng theo giáo lý, hay mình đang sai lầm mà không biết ?”
Nếu bạn từng tự hỏi như vậy, thì cuốn sách “Thấu hiểu luật Vũ trụ” (TG: Quang Tử) chính là ánh sáng dẫn lối mà bạn đang cần.
Điều gì làm nên sự đặc biệt của cuốn sách này với Phật tử?
1. Giải mã luật nhân quả trong từng khía cạnh của cuộc sống
Nhiều người trong chúng ta thường nghĩ nhân quả chỉ là “làm lành gặp lành, làm ác gặp ác”. Nhưng nhân quả còn phức tạp hơn thế rất nhiều! Cuốn sách này sẽ giúp bạn nhìn nhận rõ nhân quả không chỉ vận hành trong một kiếp người, mà còn trải dài qua lục đạo luân hồi.
2. Xóa tan những hiểu lầm tai hại về giáo lý Phật dạy
Đốt vàng mã, dâng sao giải hạn, cúng tế cầu tài… liệu có phải là cách để tích phước, hay chỉ là những mê tín không nằm trong lời Phật dạy? Cuốn sách sẽ giúp bạn phân biệt rạch ròi giữa giáo lý chân chính và những hủ tục, để bạn tự tin bước đi trên con đường tu học đúng đắn.
3. Giúp bạn thoát khỏi nỗi sợ tội lỗi và hoang mang
Rất nhiều Phật tử sống trong lo sợ: “Mình làm vậy có tạo nghiệp không? Mình có bị đọa địa ngục không?” Cuốn sách này sẽ giúp bạn hiểu rằng, mọi thứ đều có cách hóa giải, miễn là bạn biết sửa sai và gieo những hạt giống tốt từ hôm nay.
Vì sao bạn không nên bỏ qua cuốn sách này?
“Thấu hiểu luật Vũ trụ” không chỉ là một cuốn sách, mà là người bạn đồng hành giúp bạn:
• Nhìn thấu bản chất của cuộc đời qua góc nhìn Nhân quả, và luân hồi.
• Thấu hiểu cách tu tập đúng đắn để giảm nghiệp, tăng phước.
• Vững tin trên hành trình Giác ngộ, không còn bị lay động bởi những giáo lý sai lầm.
Hãy để cuốn sách trở thành ngọn đèn soi sáng con đường tu tập của bạn.
Bạn có thể đặt mua qua Zalo nhà sách Đông Tây Kim Cổ: 0348 051248
( Hiện đang freeship)
Đừng để sự mơ hồ khiến bạn lạc lối – hãy bắt đầu hành trình hiểu rõ giáo lý Phật dạy ngay hôm nay!
Xem thêm:
Video Youtube: 21 câu hỏi đáp Phật Pháp & đời sốngSẽ ra sao khi từ bì không đi cùng trí tuệ ?7 lỗi nhỏ nhặt khiến bạn gặp xui xẻo
Giáo pháp của Đức Phật để lại cho thế gian là một hệ thống giáo lí vô cùng uyên thâm, rộng lớn, đưa con người thoát khỏi bao sầu khổ, gia tăng phước báo, thăng tiến tâm linh, trí tuệ. Thế nhưng vẫn luôn tồn tại những sai lầm tâm linh, do trải qua bao thế kỉ, đông đảo tín đồ không tìm hiểu sâu đạo lí, suy tư thấu đáo, vô tình gây ra rất nhiều tội lỗi, tổn hại phước đức của bản thân nghiêm trọng mà không biết. Sau đây là 4 sai lầm tâm linh trong số rất nhiều sai lầm thường gặp.
1. COI THƯỜNG DI LẶC BỒ TÁT
Trong nhiều kinh điển như ” Kinh Di Lặc Đại Thành Phật”, “Kinh Hoa Nghiêm”… Bồ tát Di Lặc được Đức Thích Ca Mâu Ni Phật thọ kí sau này sẽ trỏ thành vị Phật tiếp theo trên thế gian này. Ngài là vị Đại Bồ Tát chỉ còn một đời là thành Phật, đã viên mãn tất cả các công hạnh, siêu xuất tất cả Pháp giới, thành tựu rốt ráo tất cả trí tuệ, thần thông, Từ – Bi – Hỉ -Xả…là Bậc tối tôn trong Pháp giới bao la này.
Thế nhưng nhiều người không hiểu được điều ấy, nên sản sinh ra một số cách thờ Di Lặc Bồ Tát rất thiếu tôn trọng.
* Phổ biến nhất có thể nói là thờ Di Lặc Bồ Tát chung với Thần Tài & Thổ Địa, bàn thờ đặt dưới mặt đất, cao chưa tới hông một người bình thường.
Thử hỏi, khi một người đi ngang qua bàn thờ, thì tượng Ngài Di Lặc nhìn tới đâu ?? Nếu là tượng Quán Thế Âm Bồ Tát, có ai dám để thấp như vậy không ?
– Điều nên làm: thờ tượng Di Lặc Bồ Tát trên cao, trang nghiêm như thờ Quán Thế Âm Bồ Tát, đồng nhau không khác.
* Làm tượng Di Lặc Bồ Tát hai tay đội thoi vàng.Những sai lầm tâm linh thường gặp: Làm tượng Di Lặc Bồ Tát đội thỏi vàng
Một người được xem là bậc quân tử, cho dù chưa phải Thánh, cũng đã biết xem nhẹ tiền bạc. Huống chi Di Lặc Bồ Tát là Bậc Thánh Giải Thoát, từ vô lượng kiếp đã lìa bỏ tất cả ham muốn thế gian, sao có thể làm tượng Ngài hai tay đội thoi vàng trên đầu, khác nào nói Di Lặc Bồ Tát tôn thờ tiền bạc sao ?
Những kẻ tham đắm, tôn thờ tiền bạc, trong ánh nhìn của mọi người đã bị liệt vào hạng đáng xem thường, vậy mà người ta làm tượng Di Lặc Bồ Tát đội vàng như thế, khác nào với việc xem thường Bậc Đại Bồ Tát ?
– Điều nên làm: tẩy chay, không bao giờ thỉnh mua những tượng “bất kính” như thế.
2. LẠM DỤNG HÌNH PHẬT, TƯỢNG PHẬT BỪA BÃI
Hình Phật, tượng Phật bất kể to nhỏ, đẹp xấu đều phải hết lòng kính thờ, đặt nơi trang nghiêm, người làm được như thế mới thật là có tâm kính Phật.
Chẳng thà trong nhà không có hình Phật, tượng Phật, chỉ trong tâm niệm luôn hướng về Phật, nghĩ nhớ đến Phật mới gọi là “ thờ Phật trong tâm”, chứ tuyệt đối không nên dùng tượng Phật , hình Phật vào những việc linh tinh, tạp nhạp của đời thường, đó là phạm tội bất kính Tam Bảo.
* Có rất nhiều hãng sản xuất, vì nhiều lí do đã đem hình Phật – Bồ tát in trên bao bì sản phẩm để câu khách, như nhang đốt (hương), dầu gió, thuốc xoa bóp .v.v…. sau khi mua về, dùng xong xuôi, người ta vứt cái hình Phật – Bồ Tát in trên bao bì đó vào thùng rác chung với những thứ cặn bã khác, hoặc vứt ra đường cho mọi người dẫm đạp. Như thế thì rõ ràng là tội nhục mạ, trà đạp lên hình Phật – Bồ Tát rồi còn gì ? Cả người sản xuất và người tiêu dùng đều phải chịu hậu quả vì việc này.
Những sai lầm tâm linh thường gặp: lạm dụng hình Phật– Điều nên làm: Tẩy chay những sản phẩm như thế, không bán được hàng, các nhà sản xuất sẽ phải thay đổi lại.
Và, nếu bạn nhìn thấy những hình Phật – Bồ Tát bị vứt bỏ như thế, hãy dừng lại và nhặt hình Phật – Bồ Tát đó lên, đem về bỏ trong hộp, đặt nơi trang trọng, hoặc gửi những chùa nhận phục chế, tịnh hóa tranh tượng Phật cũ. Như thế bạn tạo được công đức vô cùng to lớn. Phước báo ( nếu không hồi hướng gì hết) của việc này là được địa vị cao, làm bậc tôn quý, nhiều người kính trọng.
* Quan hệ nam nữ, sinh hoạt bừa bãi, nhậu nhẹt, chửi thề, phóng uế, cởi trần, lõa lồ… trước hình hoặc tượng Phật – Bồ Tát.
Chỉ cần suy xét một chút , ai cũng thấy làm như vậy là bất kính với Tam Bảo, thậm chí, làm như vậy trước một người bình thường cũng đã là thất lễ, huống chi trước mặt Thánh.
Nhưng vì không để ý, nên rất, rất nhiều người phạm phải lỗi này. Vì sao? Vì hình Phật hiện nay, có thể nói là tràn lan, trong nhà người ta treo lịch có hình Phật, dùng móc khóa có hình Phật, dán decal hình Phật lên xe, nơi đâu cũng có hình Phật như thế, nên rất khó tránh khỏi những hành vi bất kính với hình Phật.
– Điều nên làm: không lạm dụng hình Phật – Bồ Tát dùng làm những vật sinh hoạt thường ngày như móc khóa, decal dán xe. Đặc biệt chú ý cử chỉ, hành vi trước bàn thờ Phật, bất kể lớn nhỏ.
* Tượng Phật có cô gái lõa lồ ngồi trong lòng.
Tượng Phật kiểu này không phổ biến, ít thấy, nhưng đó là hình thức phỉ báng Phật nặng nề nhất. Không hiểu người ta nghĩ điều gì mà tạo nên tượng Phật như vậy, chỉ cần nhìn qua là mọi người đã thấy rất phản cảm, bất kể là lí giải thế nào. Hiện trên cộng đồng mạng đang ra sức bài trừ những tượng như thế.
3. PHÓNG SINH SAI CÁCH
Phóng sinh là cứu mạng những con vật sắp bị giết, là một việc làm cực thiện, có phước báo rất lớn. Từ ngàn xưa, đệ tử Phật cả xuất gia lẫn tại gia thường đều hay phóng sinh, và thấy rõ được nhiều điều màu nhiệm phát sinh từ đây.
Nhưng theo thời gian nhiều thay đổi, phóng sinh đã trở thành một phong trào phổ biến để cầu phước. Khi đã thành phong trào, người ta phóng sinh là hùa nhau mà làm chứ chẳng hề suy xét, liệu mình phóng sinh như thế, có cứu được mạng chúng sinh hay không, có thật ích lợi cho các con vật đó không ? Vì lẽ đó, nên người ta phóng sinh cả những con vật vốn đang tự do, “không sắp bị giết“, và biến tướng thành một việc hại những con vật đó, khiến chúng thành ra “ bị giết thật”.
Cụ thể, đó chính là việc phóng sinh chim sẻ tại các cổng chùa. Chim sẻ vốn không thường bị người ta bắt làm thịt, nhưng vì có rất nhiều người thích phóng sinh, mà lại làm biếng ra chợ mua những con vật sắp bị giết thịt như gà, cá, ếch, ba ba…. rồi tìm chỗ an tòan để thả chúng (công đọan này rất vất vả)
Thế nên hình thành một dịch vụ là bắt những con chim sẻ vốn đang tự do bay lượn khắp nơi, nhốt vào lồng chờ người ta mua, rồi thả ra như cũ (?! ) Phóng sinh kiểu này rất dễ dàng, thuận tiện, nhìn những con chim được thả ra rất đẹp mắt, nhưng thật chẳng có tí phước nào mà chỉ có thêm tội.
Chính nhờ những người phóng sinh kiểu này nên mới có người đi bẫy chim, nên chim mới bị bắt, bị nhốt, xui xẻo thay nếu không ai mua thì chúng chết dần chết mòn trong lồng chật hẹp.
Những sai lầm tâm linh thường gặp: Phóng sinh sai cách
Sau này, những người bẫy chim phóng sinh có một số cải tiến mới, đó là họ cho chim uống thuốc hoặc tiêm thuốc, sau khi thả chim ra, chúng chỉ bay được là là gần nơi đã thả. Và, họ có thể bắt lại được một cách dễ dàng, tiếp tục bán để phóng sinh.
Nhiều phóng viên đã vào cuộc nghiên cứu hiện trạng này, và phát hiện được sau một mùa lễ lớn như lễ Vu Lan, số chim sẻ chết xung quanh các ngôi chùa là không kể xiết. Chúng chết vì bị đầu độc bằng thuốc, chết vì bị bắt đi, bắt lại nhiều lần. Chết vì có rất nhiều người muốn chúng được “phóng sinh “ ! Những cái chết này ai là chủ mưu, ai là tòng phạm, người bắt chim hay người mua chim, thật khó phân định được .
– Điều nên làm: nếu bạn muốn phóng sinh, trước hết bạn phải đảm bảo ít nhất 3 điều. Một là đảm bảo những con vật kia người ta không bắt để cho bạn mua phóng sinh, mà là để giết thịt, để giam hãm (VD như chim cảnh). Hai là đảm bảo có chỗ để thả chúng được an toàn, phù hợp môi trường, không ảnh hưởng tới người khác. Ba là không có ai theo dõi, để bắt những con vật bạn mới phóng sinh ngay sau khi bạn rời đi.
4. ĐỐT VÀNG MÃ
Từ xa xưa, theo tín ngưỡng của người Trung Quốc, người ta đốt vàng mã để cho người thân đã chết có tiền tiêu, có đồ dùng. Đây là theo quan niệm của người Trung Quốc, không phải của Đạo Phật, vì rõ ràng ở Ấn Độ – xuất xứ Đạo Phật không hề có tệ đốt vàng mã này.
Có rất nhiều điều vô lí trong vấn đề đốt vàng mã này.
Những sai lầm tâm linh thường gặp: Đốt vàng mã
Thứ nhất, ở trên trần gian này, có người sản xuất, có hàng hóa nên người ta mới dùng đến tiền để mua. Nhưng dưới cõi âm không có sản xuất,hàng hóa thì người âm dùng tiền để mua cái gì ???
Thứ hai, tất cả những nhà ngoại cảm nhìn thấy được người âm, giao tiếp được với người âm đều chưa bao giờ từng thấy người âm sử dụng những vật dụng mà người dương thế “đốt gửi xuống” bao giờ, tất cả đều do nghiệp lực quyết định cuộc sống người âm sướng hay khổ, sung túc hay thiếu thốn như thế nào .
Thế nên có rất nhiều vị Cao tăng, Đại đức lên tiếng phản đối việc đốt vàng mã này, nhưng đâu vẫn vào đấy. Người ta cứ đem tiền thật đổi lấy tiền giả, đồ mã để đốt !
Vậy làm như thế có tội gì không ? Xin thưa, ít nhất 2 tội : một là góp phần thúc đẩy phá rừng, đốn gỗ để sản xuất giấy, gây phá hủy môi trường. Hai là gây phí phạm tiền bạc.
– Điều nên làm: Người cõi âm thực sự cần điều gì ? Thực ra, họ không cần vàng mã, mà là cần Phước !
Có khi họ- những người âm biết điều này, nhưng cũng có khi do u mê, mập mờ trong chốn siêu hình, họ cũng chẳng hiểu được là họ cần cái gì, nên có khi họ báo mộng than thở, đòi đốt xuống cái này cái kia, nhưng có đốt gì xuống thì họ vẫn khổ sở, thiếu thốn như cũ. Vì Nghiệp lực bắt buộc họ phải chịu như vậy.
Vì thế, muốn họ được an lành trong thế giới bên kia, ta phải vì họ mà tạo phúc, cầu cho họ siêu thăng lên những cảnh giới cao hơn.
Bằng cách nào ? Có rất nhiều cách, đứng đầu là niệm Phật thật nhiều, tụng kinh Đại Thừa như Kinh Địa Tạng, kinh Phổ Môn… để cầu siêu cho họ. Rồi đem tài vật mà người quá cố để lại, hoặc tiền của mình tạo những công đức như đúc tượng Phật, ấn tống, phóng sinh, bố thí.v.v… rồi đem phước đó cầu cho họ được siêu thoát. Như thế, cả người sống lẫn người đã khuất đều được lợi lạc rất nhiều.
(Quang Tử)
“THẤU HIỂU LUẬT VŨ TRỤ”
– Chìa Khóa cho những người còn mơ hồ trên con đường theo Phật.
Bạn là một Phật tử, nhưng mỗi lần đứng trước tượng Phật, bạn lại thấy lòng mình đầy bối rối: “Mình đã hiểu đúng lời Phật dạy chưa? Liệu những việc mình làm có thực sự đúng theo giáo lý, hay mình đang sai lầm mà không biết ?”
Nếu bạn từng tự hỏi như vậy, thì cuốn sách “Thấu hiểu luật Vũ trụ” (TG: Quang Tử) chính là ánh sáng dẫn lối mà bạn đang cần.
Điều gì làm nên sự đặc biệt của cuốn sách này với Phật tử?
1. Giải mã luật nhân quả trong từng khía cạnh của cuộc sống
Nhiều người trong chúng ta thường nghĩ nhân quả chỉ là “làm lành gặp lành, làm ác gặp ác”. Nhưng nhân quả còn phức tạp hơn thế rất nhiều! Cuốn sách này sẽ giúp bạn nhìn nhận rõ nhân quả không chỉ vận hành trong một kiếp người, mà còn trải dài qua lục đạo luân hồi.
2. Xóa tan những hiểu lầm tai hại về giáo lý Phật dạy
Đốt vàng mã, dâng sao giải hạn, cúng tế cầu tài… liệu có phải là cách để tích phước, hay chỉ là những mê tín không nằm trong lời Phật dạy? Cuốn sách sẽ giúp bạn phân biệt rạch ròi giữa giáo lý chân chính và những hủ tục, để bạn tự tin bước đi trên con đường tu học đúng đắn.
3. Giúp bạn thoát khỏi nỗi sợ tội lỗi và hoang mang
Rất nhiều Phật tử sống trong lo sợ: “Mình làm vậy có tạo nghiệp không? Mình có bị đọa địa ngục không?” Cuốn sách này sẽ giúp bạn hiểu rằng, mọi thứ đều có cách hóa giải, miễn là bạn biết sửa sai và gieo những hạt giống tốt từ hôm nay.
Vì sao bạn không nên bỏ qua cuốn sách này?
“Thấu hiểu luật Vũ trụ” không chỉ là một cuốn sách, mà là người bạn đồng hành giúp bạn:
• Nhìn thấu bản chất của cuộc đời qua góc nhìn Nhân quả, và luân hồi.
• Thấu hiểu cách tu tập đúng đắn để giảm nghiệp, tăng phước.
• Vững tin trên hành trình Giác ngộ, không còn bị lay động bởi những giáo lý sai lầm.
Hãy để cuốn sách trở thành ngọn đèn soi sáng con đường tu tập của bạn.
Bạn có thể đặt mua qua Zalo nhà sách Đông Tây Kim Cổ: 0348 051248
( Hiện đang freeship)
Đừng để sự mơ hồ khiến bạn lạc lối – hãy bắt đầu hành trình hiểu rõ giáo lý Phật dạy ngay hôm nay!
Xem thêm:
Video Youtube: 21 câu hỏi đáp Phật Pháp & đời sốngSẽ ra sao khi từ bì không đi cùng trí tuệ ?7 lỗi nhỏ nhặt khiến bạn gặp xui xẻo
Chuyện sát sinh cúng giỗ, mổ heo giết gà trong đám tiệc, vốn là chuyện bình thường với mọi người. Thế nhưng đó chỉ là do mắt phàm chúng ta không biết sự thật đằng sau. Câu chuyện tâm linh đáng sợ sau sẽ mở ra một góc nhìn mới, khiến chúng ta phải giật mình nhìn lại vấn đềSát sinh cúng giỗ- tưởng bình thường nhưng rất đáng sợ
Giấc mộng kinh hoàng
Vợ chồng bà Mười là hai con người tính cách đối lập, nhưng số phận lại buộc chặt nhau bằng sợi dây của duyên phận. Bà hiền lành, nhẫn nại, một lòng theo Phật. Ông thì nóng nảy, ưa tiệc tùng, thường sát sinh để thiết đãi bạn bè. Dẫu bao lần bà khuyên nhủ, ông chỉ đáp trả một cách gắt gỏng:
– Sống là hưởng thụ, bà đừng mơ hồ chuyện kiêng kỵ.
Những ngày hè oi ả năm ấy, ông bà Mười cùng đứa cháu ngoại rủ nhau ra Vũng Tàu nghỉ mát. Thành phố biển rì rào tiếng sóng luôn biết cách cuốn người ta vào những ngày tháng yên bình, nhưng đêm đó, một giấc mơ kinh hoàng đã làm đảo lộn tất cả.
Trong giấc ngủ chập chờn, bà Mười thấy cậu Bê – đứa cháu gọi bà bằng dì – đến mời hai ông bà dự đám giỗ mẹ cậu. Bà thấy mình bước vào nhà, cậu Bê đưa hai chén nước có in hình bông súng, nói:
– Dì dượng súc miệng đi rồi vào bàn ăn.
Bà vừa súc miệng vừa hỏi:
– Hôm nay tụi bây cúng gì cho mẹ mày thế?
Rồi tò mò nhìn ra sau bếp, bà Mười sững sờ: người mẹ đã khuất của cậu Bê bị cắt cổ, một cánh tay treo lơ lửng trên xà nhà, cánh còn lại bị xé phay làm gỏi. Bà thất kinh, hét lên:
– Trời ơi, sao mày giết mẹ mày để cúng giỗ thế này hả, Bê?
Tiếng hét trong mơ kéo bà tỉnh giấc. Mồ hôi túa ra như tắm. Bà lay chồng dậy kể lại giấc mơ. Ông nghe xong, chỉ cười nhạt:
– Bà đúng là hay mơ nhảm. Tỉnh rồi thì thôi đi, đừng suy nghĩ linh tinh.
Sự thật đằng sau việc sát sinh cúng giỗ
Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa ló dạng, cậu Bê bất ngờ đến khách sạn. Cậu khẩn khoản mời hai ông bà đến dự giỗ mẹ. Nghe đến đây, bà Mười giật thót người, bà chỉ xuống đây nghỉ mát, không hề nhớ đến nay chính là ngày giỗ mẹ cậu Bê. Bà kéo tay ông, nói:
– Đấy, ông thấy chưa? Đúng như chiêm bao tôi nói mà!
Nhưng ông gạt phăng:
– Bà thôi cái trò mê tín đó đi. Người ta nghèo khổ, có lòng đến tận nơi mời mình. Mình phải đi dự cho đúng phép, không người ta lại bảo mình khinh thường.
Đến giờ hẹn, ông bà cùng đứa cháu ngoại ghé nhà cậu Bê. Vừa ngồi xuống, cậu Bê rót nước mời:
– Dì dượng súc miệng đi rồi vào ăn cơm với tụi con.
Bà Mười run rẩy nhìn vào chén nước, xem có hình gì không. Quả nhiên, là hình bông súng, in rõ mồn một. Bà nhéo tay ông Mười, miệng méo xệch:
– Ông thấy chưa, giống y chang trong mơ! Thế này thì chết mất.
Ly trà in hình bông súng, chứng thực cho giấc mơ đáng sợ về việc sát sinh cúng giỗ
Dù ông Mười khều nhẹ bà bảo “đừng nói lung tung”, thì bà cũng không ngồi yên nổi nữa. Bà bước từng bước nặng nề xuống bếp, và rồi ngay sau đó, người bà như muốn cứng đờ ra. Trước mắt bà là con gà bị cắt cổ, chỉ còn một cánh treo lơ lửng trên xà ngang, cánh kia đang được cô vợ cậu Bê xé làm gỏi. Tim bà thắt lại, bà hét lên:
– Ông Mười ơi, đúng như tôi thấy trong mơ rồi! Con gà y như mẹ nó… Một cánh treo, một cánh làm gỏi!
Sát sinh cúng giỗ mẹ – chuyện tâm linh đáng sợ
Không nhịn nữa, bà gọi mọi người lại và kể đầu đuôi giấc mơ đêm qua. Cả nhà cậu Bê, cả ông Mười đều sững sờ, mồm há hốc, một hồi lâu không ai nói được lời nào. Riêng cậu Bê toát mồ hôi lạnh, ngồi bệt xuống đất, toàn thân run rẩy.
Từ bỏ sát sinh
Từ ngày hôm đó, cậu bỏ hẳn thói quen sát sinh, chuyển sang ăn chay niệm Phật. Ông Mười, người vốn xem thường lời khuyên của vợ, cũng lặng lẽ thay đổi, từ bỏ sở thích cũ để cùng bà tu hành.
Nhiều năm sau, con gái ông bà Mười – người từng chứng kiến những thay đổi từ cha mẹ – quyết định xuống tóc, xuất gia cửa Phật. Ngày cô nhận pháp danh Diệu Thanh tại ngôi chùa trên cao nguyên Đà Lạt, ông bà Mười đứng từ xa nhìn con, lòng trào dâng niềm hạnh phúc.
Họ hiểu rằng, cơ duyên tu hành theo Phật của con gái là một điều nhiệm màu, không phải ai cũng có được. Trái với hiểu biết hạn hẹp của người đời, cho rằng chỉ những người chán đời, thất bại mới phải đi tu, ông bà Mười luôn ủng hộ con gái. Ít nhất, chắc chắn sẽ không có chuyện như gia đình cậu Bê xảy ra với hai ông bà. Còn sâu xa hơn, ông bà biết, chỉ có trí tuệ và lòng từ bi của Phật Pháp mới là ngọn đèn chân chính, soi sáng chúng sinh ra khỏi biển khổ luân hồi đầy trái ngang này.
(Viết lại từ bài giảng của sư cô Thích Nữ Như Lan)
Luận bàn:
(Quang Tử)
Có một sự thật quan trọng mà 99% người đời nay không tin, không biết. Đó là bất kì ai, sau khi chết rồi sẽ đều phải đầu thai chuyển thế trong 6 nẻo, là cõi Trời – cõi A Tu La – cõi người, cõi súc sinh, cõi ngạ quỷ và địa ngục. Khi có phước kha khá một chút thì sinh lại làm người, kém hơn thì làm cô hồn ngạ quỷ, nếu nghiệp nặng, phước ít, thì đầu thai thành súc sinh, cũng là bình thường.
Và khổ một điều, nếu đầu thai thành súc sinh, sẽ không đi đâu xa, mà thường sẽ đầu thai quanh quẩn chỗ những người thân quyến, bằng hữu, những người có duyên nợ với mình như con cháu, họ hàng, bạn bè.v.v… hay những người chủ nợ mà khi còn sống chưa trả hết nợ cho họ.
Điều đó có nghĩa là những con vật quanh ta, như chó mèo, trâu bò, gà vịt.v.v… nuôi trong nhà, thường là thân bằng quyến thuộc bằng hữu của ta nhiều kiếp trước, phước hết nghiệp nặng, nên đầu thai thành súc sinh, vì có duyên nên sinh trong nhà ta, hoặc cách này cách khác, được ta đem về nuôi.
Thậm chí không cần nuôi trong nhà, ta ra chợ chọn mua những con vật ngoài đó về làm thịt thôi, do nhân duyên sắp đặt, ta cũng sẽ chọn đúng những con vật có duyên nợ từ tiền kiếp với mình mà mua, chứ không duyên thì cũng sẽ không gặp.
Và như câu chuyện trên, cậu Bê chỉ ra chợ mua gà về làm giỗ cho mẹ, trong hàng vạn con gà lại chọn đúng con gà do mẹ mình đầu thai, nghiệp duyên sắp đặt thật chéo ngoe, ấy nhưng việc đó vẫn thường xảy ra.
Sát sinh những con vật ấy để ăn, để bán, để đãi khách, thậm chí là để làm đám giỗ, cũng chính là giết hại những người thân bằng quyến thuộc từ nhiều kiếp của chính mình. Đó là một sự thật hết sức đau lòng mà không phải ai cũng biết.
Tiếc rằng đại đa số các trường hợp, thì không có giấc mộng nào báo cho ta biết cả. Chẳng qua một số người cơ duyên mới gặp được, nên người đời vẫn cứ phạm phải những sai lầm tày đình như cậu Bê mà chẳng hay biết.
Vì lẽ đó, Đạo Phật vẫn luôn chọn không sát sinh là giới luật đầu tiên mà người đệ tử nào cũng phải giữ gìn. Và luôn hướng cho tất cả mọi người ăn chay, để tránh cho mọi người nghiệp chướng nặng nề, tránh đi thảm cảnh oan oan tương báo, cốt nhục tương tàn trong lục đạo luân hồi.
Mong rằng ngày sẽ càng nhiều người thấu hiểu được điều này mà dừng tay tạo nghiệp, từ bỏ sát sinh, bất kể là sát sinh cúng giỗ, cúng ma chay hay bất cứ dịp gì, tránh gieo rắc khổ đau cho chúng sinh, cũng là cho chính mình.
Mỗi bài viết là một ngọn đèn nhỏ, mong soi sáng phần nào trên hành trình tu học của bạn. Để những ngọn đèn ấy không ngừng cháy sáng, lan tỏa ánh sáng Phật Pháp đến khắp mọi nơi là tâm nguyện của chúng tôi, nhưng để hành trình này được bền bỉ, chúng tôi rất cần sự chung tay của bạn.
Nếu nhận thấy những bài viết này mang lại lợi ích cho bạn, cũng như nhiều người khác, xin hãy đồng hành cùng chúng tôi bằng cách ủng hộ kinh phí để duy trì hoạt động hoằng pháp.
Mọi đóng góp xin gửi về STK Vietcombank: 0081001314166(Dinh Bao Trung)
Dù nhỏ bé hay lớn lao, sự sẻ chia của bạn đều là động lực quý giá để chúng tôi tiếp tục hành trình ý nghĩa này. Chân thành tri ân!
Thờ cúng Táo thần là một truyền thống phổ biến ở các nước Á Đông, vào ngày 23 tháng chạp, nhà nhà lại nô nức cúng vái tiễn Táo Quân về trời, nhưng việc ấy hầu hết mang tính chất văn hóa, phong trào là chính. Ít ai ngờ tới, Táo Thần lại có thể bất ngờ xuất hiện, phơi bày những góc khuất của con người…Thờ cúng Táo thần ( Táo quân) đã thành một truyền thống của người Á Đông
Câu chuyện Du Đô, khi vận hạn bị dồn đến đường cùng
Đêm giao thừa lạnh lẽo, gió đông bắc thổi qua ngõ nhỏ, mang theo hơi thở của mùa đông khắc nghiệt. Trong căn nhà nhỏ xiêu vẹo ở Giang Tây, vào những năm Gia Tĩnh triều Minh, ánh đèn dầu le lói chiếu sáng khuôn mặt đầy nếp nhăn của Du Đô (1524 – 1612)
Ông ngồi bên bàn, mắt đăm đăm nhìn vào tờ giấy trắng, trên đó là những dòng chữ nguệch ngoạc, kể lể nỗi oán hận với trời cao. Vợ ông, người phụ nữ mù lòa, ngồi im lặng trong góc, đôi mắt vô hồn như đã chấp nhận số phận. Đứa con gái duy nhất còn lại, mặt mày ngơ ngẩn, ngồi bên cạnh, thỉnh thoảng lại thở dài.
– Trời ơi, sao ông trời lại bất công với tôi như vậy? -Du Đô lẩm bẩm, giọng đầy uất ức. – Tôi đã làm gì nên tội? Tôi đã sống lương thiện, làm việc thiện, vậy mà sao cuộc đời tôi lại khổ sở đến thế này?
Ông cầm tờ giấy lên, đọc lại lần nữa những lời than trách, rồi châm lửa đốt. Khói tờ giấy bay lên, hòa vào không khí lạnh lẽo của đêm khuya. Du Đô nhìn theo làn khói, lòng đầy hy vọng mơ hồ rằng trời cao sẽ thấu hiểu và ban cho ông một cơ hội.
Táo thần hiển linh, phơi bày những góc khuất
Bỗng, tiếng gõ cửa vang lên, chậm rãi nhưng đầy uy lực. Du Đô giật mình, đứng dậy cầm đuốc ra mở cửa. Trước mặt ông là một người đàn ông tuổi trung niên, mặc áo đen, đầu đội khăn vuông, khuôn mặt nghiêm nghị nhưng ánh mắt lại ẩn chứa sự từ bi. Người đàn ông chắp tay, cúi đầu chào:
– Tôi họ Trương, từ xa đến đây, nghe nói nhà ông có chuyện buồn khổ, nên đặc biệt tìm đến an ủi.
Du Đô vội vàng mời khách vào nhà, lòng đầy nghi hoặc nhưng cũng xen lẫn hy vọng. Trò chuyện đôi câu, ông kể lại cuộc đời mình, từ những ngày tháng tuổi trẻ đầy hoài bão, đến những thất bại chồng chất, con cái chết yểu, vợ mù lòa, và cảnh nghèo khó không lối thoát. Ông kết thúc bằng giọng đầy oán trách:
– Tôi đã làm việc thiện, sống lương thiện, vậy mà sao trời lại đối xử với tôi như vậy?
Người khách họ Trương lắng nghe chăm chú, rồi từ từ lên tiếng, giọng lạnh lùng nhưng đầy sức nặng:
– Ông Du Đô, ông có biết vì sao mình lại gặp khổ nạn như vậy không? Tâm ý xấu ác của ông thật quá nặng nề. Ông làm việc thiện chỉ vì hư danh, còn trong lòng thì đầy tham lam, dâm dục, ganh ghét. Miệng lưỡi ông độc ác, lời nói như dao găm, khiến quỷ thần phải nổi giận. Những việc thiện ông làm chỉ là hình thức, còn tâm ý xấu xa thì chất chứa đầy trong lòng. Ông nghĩ trời cao không thấu hiểu sao?
Du Đô sững sờ, mặt tái mét. Ông lắp bắp:
– Nhưng… nhưng tôi đã làm việc thiện, tôi đã giữ gìn đạo đức, sao lại có thể như vậy được?
Người khách họ Trương nhìn thẳng vào mắt ông, ánh mắt như xuyên thấu tâm can:
– Ông hãy tự hỏi lòng mình. Khi ông phóng sinh, có phải là vì lòng từ bi, hay chỉ là để người khác khen ngợi? Khi ông nói lời thiện, có phải là để giúp người, hay chỉ là để tỏ ra mình đạo đức? Ông đã từng nghĩ đến việc giết hại sinh linh, từng tham lam, dâm dục, và miệng lưỡi ông đã nói những lời độc ác, làm tổn thương người khác. Tất cả những điều đó, trời cao đều ghi chép rõ ràng.
Du Đô cảm thấy như có ngàn mũi tên đâm vào tim. Ông quỳ xuống, nước mắt giàn giụa:
– Xin ngài chỉ cho tôi cách sửa đổi. Tôi không muốn sống trong khổ đau như thế này nữa.
Bí quyết giải hạn
Người khách họ Trương đỡ ông dậy, giọng nhẹ nhàng hơn:
– Nếu ông thực sự muốn sửa đổi, giải hạn, cải mệnh cho mình, hãy bắt đầu từ tâm ý. Mỗi khi có ý niệm xấu, hãy dứt bỏ ngay. Làm việc thiện với tấm lòng chân thành, không mong cầu danh lợi. Hãy kiên trì, nhẫn nại, và tuyệt đối không được lừa dối chính mình. Chỉ khi tâm ý trong sạch, ông mới có thể thay đổi được vận mệnh.
Táo Thần hiển linh – hé lộ bí quyết giải hạn
Nói xong, người khách họ Trương đứng dậy, đi thẳng vào trong nhà. Du Đô vội vàng đi theo, nhưng khi đến bàn thờ Táo Thần, vị khách đã biến mất không dấu vết. Du Đô chợt hiểu ra, người khách kia chính là Táo Thần hiển linh để cảnh tỉnh mình.
Từ đó, Du Đô quyết tâm sửa đổi. Ông đổi tên thành Tịnh Ý Đạo nhân, mỗi ngày đều ghi chép lại lỗi lầm, cầu nguyện và làm việc thiện với tấm lòng chân thành. Dần dần, ông cảm nhận được sự thay đổi trong tâm hồn mình. Những ý niệm xấu dần biến mất, thay vào đó là sự bình an và thanh thản.
Kết quả, cuộc đời ông thay đổi kỳ diệu. Ông tiếp tục đi thi, và cuối cùng cũng đỗ tiến sĩ. Trong khi dạy học tại dinh phủ một vị quan lớn, ông bất ngờ tìm lại được đứa con trai thất lạc. Vợ ông gặp được con, mừng mừng tủi tủi, nước mắt giàn giụa, không ngờ nhờ vậy mà đôi mắt sáng trở lại.
Từ đó, gia đình ông sống hạnh phúc, con cháu đỗ đạt thành danh. Ông sống an lành đến tuổi già, thọ 88 tuổi. Cho đến lúc cuối, ông vẫn không quên căn dặn con cháu:
– Điều thiện ta làm, không phải để được khen, mà để nuôi dưỡng tâm lành. Ai làm được, trời cao tất sẽ chứng.
(Sưu tầm)
Luận bàn: bí quyết giải hạn
(Quang Tử)
Trong cuộc sống, chúng ta thường dễ dàng bắt gặp kiểu người hay than trời trách đất.
“Trời ơi, sao ông trời lại bất công với tôi như vậy ?”
“Trời không có mắt, sao không cho tôi cơ hội ?”
Họ luôn cho rằng mình sống rất tốt, nhưng cuộc đời thì lại thất bại thảm hại, xui xẻo đeo bám, không sao ngóc lên được.
Ở đây có một điều cần làm rõ, đó là:
“ Có thật là anh đã sống tốt không ? Hay đó chỉ là một sự giả tạo ?”
Nhiều người có thói quen ảo tưởng, luôn cho rằng mình là người tốt, là lương thiện, và tự tin nghĩ rằng “ Tốt như mình thì trời phải phù hộ là lẽ đương nhiên”, lỡ như xảy ra chuyện đau khổ gì đó, thì y như rằng lại ngửa mặt lên trời mà bảo trời không có mắt”
Không, cần phải bỏ ngay tư duy sai lầm này. Đối trước quy luật nhân quả, không hề có người oan. Dù mắt thường không thấy, nhưng Nhân Quả là cỗ máy điện toán siêu cấp, ghi chép đầy đủ mọi ý nghĩ, lời nói, việc làm của từng người không sót thứ gì từ kiếp này sang kiếp khác, luôn luôn công bằng và cực kì chính xác.
Một người có thể dùng mặt nạ giả tạo để lừa mọi người, thậm chí lừa dối chính mình, sai nhưng chẳng bao giờ nhận mình sai, tuy nhiên, quả báo thì vẫn cứ xảy đến, chối cãi, che đậy… không có tác dụng gì. Những quả báo đó, chính là bằng chứng cho những sai lầm họ đã phạm.
Ngay đây, nếu ai đủ trí tuệ và sự dũng cảm, dám thừa nhận những mặt tối của chính mình. Thì người đó sẽ nắm được bí quyết giải hạn, sửa đổi vận mệnh cho chính mình. Đó là hãy làm ngược lại.
1. Thay vì chối cãi, lảng tránh, hãy nhìn nhận lại bản thân một cách khách quan, công tâm để thấy rõ những sai trái, những lỗi lầm của mình. Thậm chí cần được ghi chép lại cẩn thận, như ông Du Đô đã từng làm.
2. Thay vì lấp liếm, hãy chân thành sám hối. Và đừng sám hối một cách chung chung, đại khái, mà hãy xoáy sâu vào những lỗi lầm đã được thừa nhận.
3. Thay vì tiếp tục lặp lại cái sai, hãy nỗ lực để từ bỏ chúng.
4. Thay đổi thói quen, siêng năng làm những việc thiện một cách thành thật, làm việc thiện không cần ai biết, ai khen, mà cứ làm, đơn giản vì đó là việc thiện cần phải làm, vậy thôi.
Bí quyết có thể gói gọn rất đơn giản như vậy, nhưng có làm được không thì đòi hỏi rất lớn vào sự tự giác, và nỗ lực của mỗi người. Điều thiện siêng làm, điều ác tránh xa, nội tâm chân thành sám hối, sửa đổi không ngừng, làm được thì mọi việc tự nhiên tốt đẹp, làm không được thì chuyện xấu ập đến, cũng không nên oán trời trách đất, mà chỉ nên tự vấn chính mình.
Mỗi bài viết là một ngọn đèn nhỏ, mong soi sáng phần nào trên hành trình tu học của bạn. Để những ngọn đèn ấy không ngừng cháy sáng, lan tỏa ánh sáng Phật Pháp đến khắp mọi nơi là tâm nguyện của chúng tôi, nhưng để hành trình này được bền bỉ, chúng tôi rất cần sự chung tay của bạn.
Nếu nhận thấy những bài viết này mang lại lợi ích cho bạn, cũng như nhiều người khác, xin hãy đồng hành cùng chúng tôi bằng cách ủng hộ kinh phí để duy trì hoạt động hoằng pháp.
Mọi đóng góp xin gửi về STK Vietcombank: 0081001314166(Dinh Bao Trung)
Dù nhỏ bé hay lớn lao, sự sẻ chia của bạn đều là động lực quý giá để chúng tôi tiếp tục hành trình ý nghĩa này. Chân thành tri ân!
Từ những ngày đầu biết đến ý nghĩa của việc phóng sinh, chị Phật tử với pháp danh Diệu Bảo đã dành dụm từng đồng bạc lẻ để cứu lấy sự sống. Những đàn cá, rồi lươn, ốc, ba ba… được đưa về dòng nước, tựa như những linh hồn bị giam cầm tìm thấy ánh sáng tự do. Nhìn chúng mừng rỡ tung tăng bơi lội, chị lại càng có thêm động lực cho những lần phóng sinh tiếp theo.
Phóng sinh cá về với tự do
Thế nhưng, hành trình ấy chẳng dễ dàng. Nhà chị ở xa sông hồ, mỗi lần phóng sinh, người phụ nữ chân yếu tay mềm phải chạy xe bao nhiêu cây số, chở theo những chiếc thùng, chiếc túi nặng trĩu, lặc lè. Mệt mỏi là vậy, nên chị ao ước có một mảnh đất gần hồ, nơi hạnh nguyện phóng sinh có thể dễ dàng thực hiện.
Thực tế thì sao? Giá đất ở Hà Nội đắt đỏ đến mức ý nghĩ mua một mảnh đất gần hồ nghe như câu chuyện cổ tích. “Mảnh nào cũng được, miễn là có nơi để an cư” – chị tự nhủ, dẫu trái tim vẫn thầm mơ về nơi lý tưởng ấy.
Mong ước thành hiện thực
Một buổi sáng như bao ngày, sau khi tụng kinh và hồi hướng, chị ngước lên bàn thờ Phật, dốc lòng cầu nguyện:
“Con không cầu lợi ích cho bản thân, chỉ mong tìm được một mảnh đất gần hồ để dễ dàng phóng sinh, gần chùa để niệm Phật. Nếu được, con xin phát nguyện dành hai triệu năm trăm ngàn đồng để phóng sinh.”
Từ đó, sau mỗi lần phóng sinh, chị lại khẩn cầu mong ước ấy với Phật.
Không ngờ, lời cầu ấy như có sức mạnh thần kỳ. Không bao lâu sau, vào một buồi tối, chồng chị – vốn chẳng mấy khi ủng hộ việc tìm mua đất – bỗng ngỏ ý dẫn chị đi xem một mảnh. Điều lạ lùng là mảnh đất này chẳng những gần chùa mà còn nằm ngay cạnh ba hồ lớn, đúng như chị ước nguyện!
Câu chuyện chưa dừng lại ở đó. Khi giá đất được cò báo lên quá cao, một người hàng xóm tốt bụng đã chỉ cho chị số điện thoại chủ nhà, nhắc chị tự liên hệ để tránh bị hét giá.
Thật bất ngờ, giá đất rẻ đến mức khó tin! Mọi thứ diễn ra suôn sẻ như thể có bàn tay vô hình sắp đặt: từ việc đặt cọc, sự hỗ trợ bất ngờ từ hàng xóm, đến việc chủ đất ân cần cho trả chậm mà không chút phiền hà.
Ngôi nhà mơ ước đến từ ước nguyện của chị khi phóng sinh
Mảnh đất ấy không chỉ hoàn hảo với ba hồ lớn và vị trí lý tưởng mà còn rộng hơn diện tích thực trên giấy tờ. Mong ước thành hiện thực, chị vui sướng đến không ngủ nổi. Giờ đây, dẫu có người trả gấp đôi, thậm chí gấp ba, chị chưa từng nghĩ đến việc bán nó.
Niềm vui ở lại từ việc phóng sinh
Chị luôn tâm niệm, phóng sinh không phải để cầu tài lộc hay phước báu cho riêng mình. Mỗi lần thả những con cá, con ốc trở về với dòng nước, chị chỉ có một mong mỏi duy nhất: giải thoát cho muôn loài. Lòng từ bi ngày càng mạnh mẽ, kiên định trong tâm chị.
Câu chuyện của chị khép lại trong tiếng tụng niệm vang vọng mỗi ngày trong căn nhà mới. Chị mỉm cười, không phải vì sở hữu được mảnh đất như mơ, mà vì thấy lòng nhẹ nhàng khi được sống trọn vẹn với hạnh nguyện. Khi chúng ta hành động bằng tình yêu thương và lòng chân thành, cuộc sống sẽ đáp lại bằng những điều nhiệm màu.
(Khuyết danh)
Mỗi bài viết là một ngọn đèn nhỏ, mong soi sáng phần nào trên hành trình tu học của bạn. Để những ngọn đèn ấy không ngừng cháy sáng, lan tỏa ánh sáng Phật Pháp đến khắp mọi nơi là tâm nguyện của chúng tôi, nhưng để hành trình này được bền bỉ, chúng tôi rất cần sự chung tay của bạn.
Nếu nhận thấy những bài viết này mang lại lợi ích cho bạn, cũng như nhiều người khác, xin hãy đồng hành cùng chúng tôi bằng cách ủng hộ kinh phí để duy trì hoạt động hoằng pháp.
Mọi đóng góp xin gửi về STK Vietcombank: 0081001314166(Dinh Bao Trung)
Dù nhỏ bé hay lớn lao, sự sẻ chia của bạn đều là động lực quý giá để chúng tôi tiếp tục hành trình ý nghĩa này. Chân thành tri ân!
Lịch sử Việt Nam ghi lại một sự kiện hết sức kỳ quái về việc vua Lý Thần Tông hóa hổ, toàn thân mọc lông như lông hổ, gầm thét, vồ cắn người, đến mức triều đình phải làm một cái cũi bằng vàng để nhốt vua. Nguyên nhân của sự việc này đến từ một chuyện trong tiền kiếp của nhà vua, chính là thiền sư Từ Đạo Hạnh.
Nhân gieo từ tiền kiếp
Từ Đạo Hạnh (1072–1116), là một thiền sư nổi tiếng của thời nhà Lý, ông sinh tại làng Láng, nên tục còn gọi là Đức Thánh Láng.
Trong một lần cùng hai người bạn đồng tu – Nguyễn Minh Không và Giác Hải – đi học phép tại Tây Thiên, Từ Đạo Hạnh đã lĩnh hội được nhiều pháp thuật cao cường. Thậm chí, ông có thể “rút đất,” thu ngắn khoảng cách đường đi, hay biến hình thành loài vật.
Trong một lần cao hứng, biết hai người bạn mình đang trên đường núi về chùa, ông ra nấp ở một góc, đợi hai người tới nơi, liền dùng phép hóa thành một con hổ để dọa Nguyễn Minh Không và Giác Hải. Không ngờ, không những hai người bạn không sợ, mà còn bình thản quan sát Nhân quả rồi nói:
– Muốn làm hổ thì kiếp sau sẽ thành hổ.
Lời nói khiến Từ Đạo Hạnh bừng tỉnh, ông vốn biết rõ về quy luật nhân quả, hiểu được người tu hành dù có thần thông cao cường cũng không thể thoát khỏi Nghiệp lực, xong nhất thời sơ sót gây ra cái nhân này. Ông hối hận mà thốt lên:
– Ngay cả Đức Thế Tôn viên mãn quả phúc vẫn chịu quả báo kim sương, huống chi ta ở thời mạt pháp này có thể nào tự giữ mình được? Ta nay sắp tạ thế, nghiệp qua kiếp sau quyết là khó tránh nổi. Ta với người có duyên, xin cứu giúp nhau.
Vua Lý Thần Tông hóa hổ xuát phát từ chuyện kiếp trước
Vua Lý Thần Tông hóa hổ
Năm 1116, ông trút bỏ thân xác, đầu thai thành Lý Dương Hoán, con trai của Sùng Hiền Hầu. Năm lên ba, được chọn làm người nối ngôi, trở thành vua Lý Thần Tông (1127–1138)
Đến một năm, đột nhiên nhà vua mắc một căn bệnh kỳ quái: toàn thân mọc lông cọp, gầm thét như hổ, phải nhốt trong cũi vàng.
Minh họa cảnh vua Lý Thần Tông hóa hổ
Trong lúc triều đình bối rối, tất cả ngự y thất thủ, không hiểu đây là bệnh gì mà chữa, thì nghe được trẻ con khắp kinh thành truyền nhau bài đồng dao:
“Bắc Nam có Tây Đông,Đáy bể ẩn có rồng,Vua mắc bệnh khó chữa,Hãy đón Nguyễn Minh Không.”Triều đình liền cho sứ giả mời thiền sư Nguyễn Minh Không vào cung chữa bệnh cho vua. Biết trong triều có nhiều người không tin ông có tài chữa được bệnh, ra vẻ khinh thường, thiền sư Nguyễn Minh Không lấy một chiếc đinh lớn đóng vào cột, thách các danh y nhổ ra khỏi cột. Khi không ai làm được, Nguyễn Minh Không chỉ dùng hai ngón tay đã rút đinh ra, khiến mọi người kính phục.
Khi ấy, thiền sư Nguyễn Minh Không mới bắt đầu chữa, ông sai lấy một vạc lớn đựng nước nấu sôi tới cả trăm lần, dùng tay quậy lên khoảng bốn lần, rồi thò tay vào trong vạc dầu đang sôi sùng sục lấy ra đủ 100 cái kim, rồi châm cứu cho vua.
Sư Minh Không chữa cho vua Lý Thần Tông hóa hổ
Bệnh liền bớt ngay. Sau khi khỏi bệnh, cảm phục tài năng, Vua Lý Thần Tông phong ông là Quốc sư, miễn thuế dịch cho vài trăm hộ.
Luận bàn về thần thông trong đạo Phật
Từ chuyện vua Lý Thần Tông hóa hổ, Quang Tử xin bàn thêm về cách nhìn nhận về thần thông. Trong Phật giáo, từ thời Đức Phật còn tại thế, Người đã thường xuyên cảnh tỉnh đệ tử không được lạm dụng thần thông, bởi vì chỉ sơ xảy, sẽ gây Nghiệp chướng, đồng thời sẽ gây hệ lụy tai hại cho người đời. Vì sao ?
Bởi vì người đời thường không đủ trí tuệ, hễ cứ thấy ai có thần thông là mê mệt tin theo, không còn biết Đạo lý gì nữa. Người tu hành, dù chưa chứng Thánh quả, thậm chí tu sai, đôi khi vẫn cứ xuất hiện thần thông. Người đời tin nghe theo những kẻ tu hành “nửa vời” như thế rất tai hại.
Giống như thời Đức Phật, ông Đề Bà Đạt Đa dù tâm địa xấu, làm ra đủ chuyện hại Phật. Nhưng vì đắc Thiền, vẫn xuất hiện thần thông.
Ông ta đã dùng phép hiện hình vào cung, biến hóa đủ thứ kỳ lạ, khiến thái tử A Xà Thế hoa mắt, trầm trồ thán phục, hết mực tin tưởng, từ đó nghe theo lời Đề Bà Đạt Đa xúi giục, gây ra những nghiệp chướng khủng khiếp: giết cha soán ngôi, sau đó phải chịu quả báo thê thảm.
Xét trên thời gian dài, lạm dụng thần thông không có trí tuệ, sẽ gây ra hiểu lầm, khiến người ta tu hành không phải vì cầu Giải Thoát, Giác Ngộ, mà chỉ vì mong có thần thông. Trong khi thực ra, lực của thần thông rất hạn chế, khi đứng trước Nghiệp lực, chỉ như trứng chọi đá, không thể chống đỡ dù chỉ một khắc.
Ta có thể thấy được rõ điều này qua sự việc ngài Mục Kiện Liên – đại đệ tử thần thông đệ nhất của Đức Phật, vào cuối đời khi bị ngoại đạo vây đánh. Dù ngài thừa thần thông để bay lên trời, hoặc biến mất, hoặc đánh thắng được cả đạo quân. Nhưng vì biết đã đến lúc trả Nghiệp kiếp xưa, thần thông vô ích khi quả báo đến, nên Ngài đã thu phép, để yên cho những kẻ ngoại đạo đánh đến chết.
Vậy nên người theo Phật tu học, cần nắm chắc bài học quan trọng này.
“Nhân quả mạnh mẽ vô vàn
Thần thông gặp Nghiệp, cũng tàn ra tro”
Từ đó tập trung sức lực và thời gian của mình, thay vì hoa mắt trước những người có thần thông, rồi răm rắp tin theo, thì hãy học sâu kinh điển, hiểu rõ các Quy luật của vạn vật, nhất là luật Nhân quả.
Rồi theo đó, vận dụng Nghiệp lực, nỗ lực gieo nhân lành, tránh xa việc bất thiện. Chỉ có con đường đó mới đảm bảo hạnh phúc vững bền.
(Quang Tử)
Mỗi bài viết là một ngọn đèn nhỏ, mong soi sáng phần nào trên hành trình tu học của bạn. Để những ngọn đèn ấy không ngừng cháy sáng, lan tỏa ánh sáng Phật Pháp đến khắp mọi nơi là tâm nguyện của chúng tôi, nhưng để hành trình này được bền bỉ, chúng tôi rất cần sự chung tay của bạn.
Nếu nhận thấy những bài viết này mang lại lợi ích cho bạn, cũng như nhiều người khác, xin hãy đồng hành cùng chúng tôi bằng cách ủng hộ kinh phí để duy trì hoạt động hoằng pháp.
Mọi đóng góp xin gửi về STK Vietcombank: 0081001314166(Dinh Bao Trung)
Dù nhỏ bé hay lớn lao, sự sẻ chia của bạn đều là động lực quý giá để chúng tôi tiếp tục hành trình ý nghĩa này. Chân thành tri ân!
Xem thêm:
Chuyện ly kỳ về chú chó nghe kinhVideo Youtube : 3 kiếp người 10 kếp thú
“Cứu vật vật trả ơn” là một câu tục ngữ từ xa xưa để lại, xưa đến mức nhiều người cho rằng nó chỉ là chuyện cổ tích. Ấy thế nhưng câu chuyện về Tái Hổ đã khẳng định lại, rằng đó không phải chỉ là cổ tích…
Bắt đầu bằng tấm lòng nhân ái
Một buổi sáng đông lạnh lẽo năm 1999, mưa phùn như ngọn roi quất vào cảnh vật u buồn của phố thị. Ông Phó Văn Khải, sống tại Cửu Giang, mở cánh cửa gỗ cọt kẹt ra, và một chú chó nhỏ lao thẳng vào nhà, chẳng chút e dè. Chú run rẩy, lấm lem bùn đất, và đôi mắt ủ rũ như ngọn đèn leo lét giữa đêm tối mịt mù. Không ai rõ chú từ đâu đến, nhưng ông Khải thấy trong đôi mắt ấy một lời khẩn cầu.
Nhìn cái bộ dạng gầy trơ xương đến thảm hại của nó, ông Khải nghĩ thầm: “Chắc là nó lang thang nhiều ngày chẳng có gì ăn. Tội nghiệp, cứ thế này nó chết đói mất. Thôi thì nuôi nó vậy.”
Cứu vật vật trả ơn – tất cả bắt đầu bằng một cử chỉ nhân ái
Chút bánh mì, một buổi tắm rửa sạch sẽ, và chú chó nhỏ lột xác thành một sinh linh kiêu hãnh. Bộ lông màu nâu đậm, ánh mắt sắc bén, dáng vẻ uy nghi như hổ con, khiến ông đặt tên chú là “Tái Hổ”. Từ đó Tái Hổ trở thành người bạn đồng hành, theo ông Khải đi khắp mọi nơi.
Chó cứu người – chiến công đầu tiên
Bà Vương, vợ ông Khải, vốn chẳng ưa gì Tái Hổ. Bà thường càm ràm liên hồi về việc Tái Hổ làm bẩn nhà, khiến bà phải tốn công dọn dẹp. Nhưng định mệnh đã sắp đặt để bà phải thay đổi. Một chiều nọ, cháu trai 7 tuổi của bà nghịch ngợm chơi đùa gần khu nhà máy cũ và không may rơi xuống giếng bỏ hoang. Không ai hay biết, trừ Tái Hổ.
Chú sủa đến khản giọng, nhưng chẳng ai nghe. Bất lực, Tái Hổ lao về nhà, cắn lấy ống quần ông Khải kéo đi. Khi đến giếng, Tái Hổ đứng bên mép, đôi mắt khẩn thiết nhìn ông rồi gầm gừ như thúc giục. Ông Khải nhìn xuống giếng, chân tay bủn rủn cả ra khi thấy đứa cháu sắp không trụ nổi nữa. Cháu trai được cứu sống, và từ đó, Tái Hổ trở thành người hùng trong mắt cả gia đình.
“Cứu vật vật trả ơn” không chỉ là chuyện cổ tích.
Ngày 28 tháng 11 năm 2003, căng tin của trường dạy lái xe nơi bà Vương làm bảo vệ nhộn nhịp hẳn lên. Vốn là một cậu nhân viên ra chợ mua được một con chó đã làm thịt, mang về làm một bữa anh em liên hoan. Mùi thơm lan tỏa khắp nơi, khiến bụng ai nấy càng thêm cồn cào.
Càng lúc càng đông nhân viên tụ tập về chờ vào bữa, Tái Hổ bỗng lao đến, liên tục sủa vang dội át cả tiếng cười nói của mọi người. Tưởng nó đòi ăn, một người vứt cho nó mấy miếng thịt. Ấy nhưng nó lại dùng chân chặn miếng thịt xuống đất, rồi lại sủa. Chú sủa mãi, cào mãi, nhưng mọi người không quan tâm nữa. Bất lực, mắt Tái Hổ bắt đầu rơm rớm nước mắt.
Tái Hổ – câu chuyện điển hình về “Cứu vật vật trả ơn”
Nó tiến lại gần đám con của nó đứng gần đấy, dùng cái mũi ướt của nó ngửi từng con chó con, dùng lưỡi liếm cẩn thận chỗ dơ trên người của một chú cún.
Làm xong, Tái Hổ quay lại, một lần nữa lại cào cấu, rú lên những tiếng bi ai thảm thiết. Mọi người thấy lạ, không hiểu hôm nay nó bị làm sao, nhưng rồi ai vẫn cứ làm việc người nấy. Cuối cùng, trong sự tuyệt vọng, Tái Hổ xông đến ăn liền ba miếng thịt chó trên mặt đất.
– À, thì ra là muốn ăn. Thế mà nãy giờ cứ làm trò mãi – Một người cười cười rồi xoa đầu Tái Hổ.
Ấy nhưng thật bất ngờ, chỉ vài phút sau, Tái Hổ ngã xuống, quằn quại trong đau đớn. Máu chảy ra từ mắt, mũi, miệng, và cứ thế… chú lặng lẽ trút hơi thở cuối cùng.
Tất cả mặt tái mét. Không ai dám động vào nồi thịt nữa. Người ta mang mẫu thịt đi xét nghiệm, và phát hiện trong đó chứa thuốc diệt chuột (Tetramethylenedisulfotetramine), hàm lượng của nó đủ để giết chết một con trâu. Hóa ra, Tái Hổ đã hi sinh mạng sống của mình để phát đi lời cảnh báo, cứu hơn ba mươi người thoát khỏi tử thần.
Chuyện cảm động về Tái Hổ, được ghi lòng tạc dạ
Vợ chồng ông Khải đau buồn không nói lên lời, lặng lẽ đem Tái Hổ đi chôn ở sau vườn. Nhưng ông Trương Ninh Kháng, giám đốc nghĩa trang Hạ Gia Sơn, khi nghe chuyện đã đến nhà xin vợ chồng ông Khải xây mộ cho Tái Hổ trong nghĩa trang. Vợ chồng Phó Văn Khải rất ngạc nhiên, mới nói rằng:
– Anh coi trọng Tái Hổ của chúng tôi như vậy, chúng tôi rất lấy làm cảm kích. Nhưng nghĩa trang là nơi an táng cho người. Làm sao có thể chôn cất chó ở đó được?
Trương Ninh Kháng đáp:
– Thiên địa vạn vật, tất cả rồi cũng chết, thứ lưu lại chỉ có thể là tinh thần. Chẳng lẽ tinh thần của Tái Hổ xả thân cứu người lại không thể khiến chúng ta bội phục hay sao?
Hôm đưa tiễn Tái Hổ ra nghĩa trang, trời đổ mưa nặng hạt. Hơn một trăm người, gồm cả những người được Tái Hổ cứu và những người cảm động về sự hi sinh của chú, đã đội mưa đến tiễn đưa chú về nơi an nghỉ cuối cùng. Những giọt nước mắt hòa lẫn trong làn mưa lạnh.
Mộ phần của Tái Hổ được xây trang trọng. Trước mộ là một bức tượng tạc hình Tái Hổ với phong thái uy nghi, kiêu hùng của chú khi còn sống.
Mộ Tái Hổ – lời nhắc nhở về câu nói “Cứu vật vật trả ơn”
Kể từ đó nghĩa trang Hạ Gia Sơn có thêm nhiều người đến viếng, mỗi người qua lại đều cúi đầu trước bức tượng Tái Hổ, như một lời cảm tạ đối với một anh hùng lặng lẽ. Từ ấy, người ta vẫn tiếp tục kể cho nhau câu chuyện “Cứu vật, vật trả ơn”, nhưng khẳng định lại rằng, đó không phải chỉ là cổ tích.
(Vô Danh)
Mỗi bài viết là một ngọn đèn nhỏ, mong soi sáng phần nào trên hành trình tu học của bạn. Để những ngọn đèn ấy không ngừng cháy sáng, lan tỏa ánh sáng Phật Pháp đến khắp mọi nơi là tâm nguyện của chúng tôi, nhưng để hành trình này được bền bỉ, chúng tôi rất cần sự chung tay của bạn.
Nếu nhận thấy những bài viết này mang lại lợi ích cho bạn, cũng như nhiều người khác, xin hãy đồng hành cùng chúng tôi bằng cách ủng hộ kinh phí để duy trì hoạt động hoằng pháp.
Mọi đóng góp xin gửi về STK Vietcombank: 0081001314166(Dinh Bao Trung)
Dù nhỏ bé hay lớn lao, sự sẻ chia của bạn đều là động lực quý giá để chúng tôi tiếp tục hành trình ý nghĩa này. Chân thành tri ân!”
Xem thêm:
Cá trê báo ânÂn nghĩa tiền kiếp thành mẹ con hiện tạiVideo Youtube: Cách giải xui hiệu quả
Để hiểu được vì đâu trong đêm Thành Đạo, Đức Phật Thích Ca bỏ hết vương quyền ngôi báu, lặn lội vào rừng tu hành gian khổ bao năm để tìm đường Giải thoát. Chúng ta cùng quay ngược thời gian, tìm về quá khứ xa xưa…
Nghe podcast của bài viết trên Youtube :
Từ rất xa xưa, vô số thời gian không thể tính kể, con người cùng mọi chúng sinh ở các cảnh giới khác nhau đã luôn chìm trong đau khổ. Con người ta hễ sinh ra là lập tức có những đau khổ bủa vây lấy, tận cho đến khi nhắm mắt xuôi tay.
Bao nhiêu cuộc chiến tranh kéo dài suốt lịch sử loài người, máu chảy thành sông, xác chết thành núi. Bao nhiêu dịch bệnh nối nhau phát sinh, chưa từng khi nào y học chữa được hết. Rồi bao lần thiên tai động đất, bao lần nạn đói hoành hành, bao lần sinh ly tử biệt…
Ngay trong cuộc sống thường ngày, cũng luôn thường trực hàng trăm ngàn loại khổ đau khác nhau dày vò kiếp người :sinh – lão – bệnh – tử – ái biệt ly – oán tắng hội – cầu bất đắc – ngũ ấm xí thịnh khổ.
Luân hồi khổ đau đầy nước mắt và ly biệt
Dù cho cái chết có đến, cũng hoàn toàn không phải là chấm dứt. Nó chỉ là một cái mốc đánh dấu chuyển giao từ loại khổ này sang loại khổ khác mà thôi. Vì sau khi chết, linh hồn sẽ phải chuyển kiếp sang một cảnh giới mới.
Nếu sinh xuống địa ngục, sẽ là tột cùng của đau đớn với hàng triệu cực hình thảm khốc có thể kéo dài từ hàng trăm năm lên đến hàng tỉ năm.
Nếu sinh làm kiếp quỷ đói, sẽ phải nếm trải cảnh đói khát dai dẳng từ hàng trăm năm lên đến hàng triệu năm. Chưa kể đến nhiều nỗi dày vò khác như lạnh căm căm hoặc nóng hừng hực, bị quỷ thần tra tấn, đánh đập, trùng độc rúc rỉa v.v…
Nếu sinh làm kiếp súc sinh, bị bản năng khống chế, ăn thịt hoặc bị ăn thịt, cắn xé lẫn nhau, chịu cảnh ngu si, tăm tối.
Địa ngục, quỷ đói, súc sinh khổ không tả siết, nhưng dù may mắn hơn, sinh vào cõi người, cõi thần A Tu La hay sinh lên cõi trời, khổ đau cũng chỉ là ít hơn chứ không phải chẳng khổ.
Quan trọng nhất là dù sinh về cõi nào cũng đều có thời hạn. Khi thọ mạng đã hết thì dù là ở cảnh trời cao nhất cũng vẫn phải đầu thai xuống các cõi thấp, có khi sinh xuống đến tận địa ngục, quỷ đói, súc sinh mà chịu khổ.
Cứ thế kiếp kiếp nối nhau, hết sinh lên cảnh giới cao, lại sinh xuống cảnh giới thấp, không có điểm dừng. Vì luân hồi chuyển kiếp là bất tận, cho nên đau khổ của chúng sinh cũng là bất tận. Mỗi mỗi chúng sinh suốt vô số kiếp qua, khóc vì khổ đau, khóc vì mất nhau, nước mắt cộng lại nhiều hơn nước biển cả.
Vị Bồ Tát Từ Bi Và Lời Thệ Nguyện
Vào thủa ấy, có một vị hiền nhân trí tuệ siêu việt, nhìn thấy được toàn cảnh khổ đau của chúng sinh khắp trong vũ trụ. Vì lòng từ bi thương xót chúng sinh vô hạn, người ấy phát tâm muốn cứu thoát tất cả chúng sinh vĩnh viễn không còn phải chịu bất cứ nỗi khổ đau nào nữa.
Nhưng phải làm cách nào ?
Gặp người nghèo đói, nếu bố thí tiền bạc, đồ ăn thức uống, quần áo vật dụng, giúp người ta no đủ được một vài ngày, vài tháng chứ sao no đủ được cả đời ? Dù no đủ được một đời này cũng đâu no đủ muôn đời sau ?
Gặp người bệnh tật, có chữa cho họ hết bệnh, cũng đâu có nghĩa họ sẽ không bao giờ bị bệnh trở lại. Huống chi luôn có những bệnh chẳng thuốc nào trị dứt ? Rồi thì cái chết vẫn tìm đến, không sớm thì muộn, không cách này thì cách khác, nào có ai trường sinh bất tử được đâu ?
Rồi gặp người đau khổ vì ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc.v.v… biết lấy gì giúp họ xoa dịu hết đau khổ đây ?
Chỉ có một cách duy nhất có thể chấm dứt tất cả khổ vĩnh viễn cho chúng sinh, đó là Đạo Bồ Đề. Chỉ khi chúng sinh giác ngộ được Đạo Bồ Đề, chứng thành Thánh Quả, mới có thể được giải thoát khỏi vòng vây của luân hồi sinh tử.
Thấu hiểu được điều đó, vị hiền nhân kia phát lên lời thệ nguyện, dù cho máu chảy đầu rơi, xương tan thịt nát suốt vô số kiếp, cũng quyết đi tìm Đạo Bồ Đề về cho chúng sinh, cứu chúng sinh vĩnh viễn thoát khỏi khổ đau của luân hồi sinh tử.
Từ ấy, vị hiền nhân kia do nhân quả lời nguyện đã phát, trở thành một vị Bồ Tát, trải qua kiếp kiếp đời đời nối nhau trùng điệp, Ngài tu Bồ Tát Đạo tinh tấn không dừng nghỉ.
Để tìm được Chánh Pháp sâu xa, vị Bồ Tát ấy sẵn lòng bỏ mạng cầu Đạo, kiếp kiếp nối nhau trải bao thử thách, đóng ngàn cây đinh trên người, khoét ngàn cái lỗ trên thân, nhảy vào hầm lửa cháy rực… Lột da làm giấy, cắt máu làm mực, chẻ xương làm bút, dùng để biên chép kinh điền, quyết lòng học Đạo.
Để gieo duyên hóa độ chúng sinh, Ngài chẳng tiếc của báu đến thân mạng, kiếp này Ngài nhảy xuống vực cho hổ đói xé xác, kiếp kia Ngài cắt da lóc thịt làm thức ăn cho đủ loại chúng sinh.
Ai xin gì Ngài đều chẳng từ chối, người nghèo thiếu đến xin, Ngài mở kho bố thí vàng bạc châu báu. Người muốn ngai vàng Ngài sẽ nhường ngôi, cho đến kẻ xin đầu, Ngài chặt đầu, ai xin da, Ngài lột da.
Đi khắp quả địa cầu, cắm một cái dùi xuống bất kì chỗ nào, cũng đều là chỗ vị Bồ Tát ấy từng vì chúng sinh mà bỏ mạng.
Trải qua số kiếp nhiều hơn số hạt bụi của Tam Thiên Đại Thiên thế giới nghiền nát ra, vị Bồ Tát ấy vì tìm cầu Đạo Bồ Đề cứu độ chúng sinh, đã tu hành viên mãn đầy đủ lục độ Ba La Mật thâm sâu, dùng Tứ Nhiếp Pháp gieo duyên nợ sâu dày với vô biên vô lượng chúng sinh, tích lũy công đức khổng lồ không sao tính đếm hình dung được hết, được Đức Phật Nhiên Đăng thủa quá khứ và rất nhiều chư Phật khắp mười phương khen ngợi, cùng thọ ký cho rằng : “ Ông về sau sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni.”
Cuối cùng, vào thời Hiền Kiếp, cõi nước tên là Ta Bà, khi con người thọ mạng trung bình khoảng trăm tuổi, vị Bồ Tát ấy đã tu hành viên mãn con đường Bồ Tát Đạo khó khăn, gian khổ, lâu xa thăm thẳm, mọi nhân duyên đã chín muồi. Ngài từ cung trời Đâu Suất sinh xuống nhân gian làm thái tử con vua Tịnh Phạn, nước Ca Tỳ La Vệ, được đặt tên là Tất Đạt Đa.
Dù lớn lên trong nhung lụa, nhưng Thái Tử chẳng màng đến vinh hoa quyền thế, năm 29 tuổi, Thái Tử từ bỏ hoàng cung với Ngai vàng đang chờ đón, bỏ lại mọi sung sướng tột đỉnh của bậc đế vương, xuất gia tu hành.
Trải qua 6 năm khổ hạnh tột cùng chưa ai làm được, xong vẫn không đạt được Giác Ngộ, chứng minh rằng con đường khổ hạnh không đưa đến giải thoát, Ngài chuyển hướng sang tu hành thiền định.
Đêm thành Đạo: Thành Tựu Giải Thoát
Đêm thành Đạo dưới cội Bồ Đề
Giữa khu rừng Pip-pha-la hoang vắng, dưới tán một cây đại thụ, Ngài trải cỏ làm tọa cụ, ngồi xuống rồi phát lời thề rằng:
-Dù cho da, thịt, xương, gân của ta có tan hoại và máu ta có khô cằn. Nếu không đạt quả vị Chánh Giác, ta sẽ không rời chỗ này.
Trong tư thế kiết già, Ngài nhập sâu vào trong thiền định, trải suốt 49 ngày đêm.
Vào đêm cuối cùng, chính là Đêm Thành Đạo 8-12, trước thời điểm định mệnh ấy, ma vương Ba Tuần cùng ma quân ùn ùn kéo đến, quyết phá không để ngài tiếp tục thiền định mà chứng được Đạo Quả, vượt thoát khỏi lưới ma.
Chúng hiện ra đủ thứ ma chướng, khi thì dụ dỗ bằng những thiên nữ sắc nước hương trời, khi thì hóa hiện thiên binh vạn mã hung tợn gào thét, bắn tên xối xả, nhưng bất luận là gì, Ngài vẫn ngồi yên bất động, không rời khỏi thiền định.
Do công đức, oai thần của Bồ Tát đã viên mãn, những mũi tên phóng đến chẳng thể bắn trúng Ngài, mà biến thành hoa rồi tan mất. Biết chẳng thể thay đổi được gì, Ma Vương hậm hực bỏ đi.
Cuối cùng, vào khoảnh khắc sao mai vừa ló rạng, một ánh sáng bừng lên, xé tan màn vô minh tăm tối đã che phủ từ muôn kiếp xa xưa, Người đã chứng Đạo Bồ Đề, thành Đấng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, hiệu là Thích Ca Mâu Ni Phật.
Phật thành Đạo: mở ra Chánh Pháp soi sáng muôn đời sau
Từ ấy, bình minh của Chánh Pháp soi sáng khắp muôn nơi, trải suốt 45 năm, Người đem Đạo Bồ Đề truyền dạy khắp Tam Giới.
Từ ấy, chúng sinh được biết đến con đường Giác Ngộ, giải thoát vĩnh viễn ra khỏi biển khổ luân hồi muôn kiếp.
Từ ấy, vô lượng chúng sinh khắp các cảnh giới từ địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, đến cõi người, A Tu La, các cõi trời đã quy y, trở thành đệ tử của Đức Phật, bậc Thiên Nhân Sư, Đấng Từ phụ muôn loài, hưởng được pháp vị Cam Lồ, hóa giải muôn thứ khổ đau.
Nương theo Chánh Pháp Như Lai, hàng ngàn vị đã chứng quả vị A La Hán, chấm dứt sinh tử đạt đến Niết Bàn, vô số vị phát Bồ Đề Tâm, nguyện sẽ theo chân Phật tu Bồ Tát Đạo cứu độ hết thảy chúng sinh.
Suốt hơn 2500 năm, trải qua bao thăng trầm, nhưng ánh sáng Phật Pháp vẫn không ngừng soi lối cho nhân loại, từng bước đưa chúng sinh về đến bến bờ của an vui, của Giác Ngộ.
Và đêm nay, Đêm Thành Đạo mùng 8 tháng 12 Âm lịch, đệ tử chúng con – những chúng sinh còn bị vô minh che lấp, trầm luân trong biển khổ, may mắn được khai sáng bởi Đạo Bồ Đề, bởi những chân lý mà Đức Như Lai trải muôn triệu kiếp khổ tu mới có được.
Nhờ những chân lý ấy, cuộc đời chúng con vơi bớt đi bao nỗi khổ đau, tâm hồn chúng con xóa tan đi bao tăm tối.
Nhờ những chân lý ấy, mảnh đất tâm nơi chúng con được gieo xuống những hạt giống của Bồ Đề, để muôn kiếp sau vươn lên thành quả vị Giải Thoát, chấm dứt luân hồi khổ đau vĩnh viễn. Nối bước Đức Như Lai, đem lại an vui Giác Ngộ cho muôn loài.
(Quang Tử)
Xem thêm:
Video Youtube : Ý nghĩa Đêm thành ĐạoVăn sám Phật Đản Sinh12 loại khổ đau kiếp người