ĐỊA NGỤC – TRẢI QUA RỒI MỚI THẤY KINH HOÀNG NHƯ THẾ NÀO

(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Lê Ngọc Tú) Khi nhắc đến hai từ “Địa ngục”, nhiều người vẫn thường nghĩ đây là một khái niệm không có thật. Họ cho rằng nhân loại tự nghĩ ra nơi này để răn đe những kẻ độc ác, bất lương, gian tham, hại người. Thế nhưng trên thực tế, tôi lại thấy rất nhiều câu chuyện người thật việc thật xảy ra. Những người đó kể lại họ đã từng tới thăm địa ngục, biết rõ các ngục và sự tra tấn hành hình nơi đó ra sao. Như cô Ba Cháo Gà, ni sư Diệu Hân, cư sĩ Hứa Ngọc Thủy, nữ họa sĩ người Hàn Quốc Me Kyeoung Lee … Đặc biệt, cho tới khi chính bản thân tôi tự mình được trải nghiệm, thì tôi không còn nghi ngờ gì nữa. Địa ngục hoàn toàn là có thật. Cho đến giờ này, bản thân tôi vẫn còn chưa hoàn hồn vì nó quá đáng sợ. Không ngôn từ nào có thể diễn tả hết được. Tôi vốn là một sĩ quan công tác tại trường quân sự Quân Khu 7, tên đầy đủ của tôi là Lê Ngọc Tú, hiện sống tại 479 đường Tô Ký phường Trung Mỹ Tây quận 12 TP HCM. Hành trình chỉ vừa mới xảy ra đêm qua. Lúc 0h rạng sáng ngày 13/09/2021, trong cơn chiêm bao, tôi đã được dẫn tới địa ngục. Đầu tiên, họ dẫn tôi tới một con đường vô cùng tăm tối, nơi đây tôi thấy có rất nhiều người chết nằm la liệt trên đường. Thấy vậy, tôi mới suy nghĩ: “tại sao người ta lại chết nhiều quá vậy?”. Tôi chẳng hề nói ra lời nào, chỉ nghĩ trong tâm như thế. Ấy vậy mà bỗng từ trên hư không có tiếng đáp: “Những người này do khi còn sống phạm nghiệp sát quá nặng nên phải chết ở trên đường”. Kì lạ thay, không hề có âm thanh nào phát ra, nhưng câu trả lời đó lại như ghim thẳng vào tâm tôi. Hóa ra ở cõi này, chúng sinh không giao tiếp bằng ngôn ngữ, mà bằng tâm. Nhìn cảnh tượng người chết như ngả dạ đầy đường như thế trông không khác gì ngày tận thế vậy. Thật xót xa. Nghiệp sát chẳng phải chỉ có giết người. Những ai khi còn sống hay giết hại, mổ xẻ các loài động vật cũng chính là phạm phải sát nghiệp. Nghĩ tới đây, tôi chợt tỉnh ngộ ra. Vậy thì nhân loại chúng ta ngày ngày vẫn tàn sát nặng nề. Chiến tranh, bạo động làm chết bao nhiêu người. Những người làm nghề đồ tể chuyên xẻ da, cắt thịt, tước đoạt mạng sống của động vật. Ngay cả trong căn bếp của mỗi gia đình, chúng ta vẫn nuôi thân mình, nuôi gia đình bằng mạng của các con vật đó thôi. Thế mà chúng ta cứ u mê chả biết gì, còn lấy những món ăn từ sinh mạng ấy làm khoái khẩu. Dần dần con người sát sinh loài vật không phải để sống nữa, mà còn để thỏa mãn cái miệng, để vui chơi nhậu nhẹt tiệc tùng. Mà dù để làm gì thì cũng là sai trái. Vậy nên số người chết kia mới la liệt đầy ắp cả con đường. Nếu nhân loại không sớm tỉnh ngộ mà dừng lại nghiệp sát, thì đều phải chịu quả báo như thế và hơn thế nhiều lần. Tiếp theo, họ đưa tôi đến một con đường khác. Trên đường có rất nhiều xe. Xe nào cũng như xe nào, chứa rất nhiều tiền và vàng, đầy ắp cả. Mỗi người đều có một chiếc xe riêng của mình. Xe của ai thì người đó lên. Tôi cũng có một chiếc xe như vậy. Tôi lại nghĩ: “ Tiền, vàng này ở đâu mà nhiều quá?” Họ đáp: “Tiền vàng này là của mỗi người tích góp được khi còn sống. Nhưng khi qua hết một kiếp mà chưa dùng hết, nên mới để đó.” Chúng tôi lên xe đi một đoạn đường rất lâu. Sau đó, họ bảo: “của cải trên xe, ai muốn lấy bao nhiêu thì lấy”. Tôi bước xuống xe nhưng không cầm theo tiền vàng gì cả. Họ có hỏi tôi sao chẳng lấy gì hết vậy. Tôi đáp rằng tôi không cần những thứ đó. Rồi họ dẫn tôi đi tiếp. Nhưng ôi thôi, khi tôi quay đầu trở lại để nhìn, thì mới thấy một cảnh tưởng hãi hùng như trong phim. Người nào như tôi chẳng lấy gì thì bình an vô sự. Còn người nào lấy tiền vàng thì thân thể họ cháy đen như vừa bị tắm xăng, châm lửa, bốc cháy. Cháy đen như vậy rồi biến mất luôn. Đúng là khi chết đi rồi, tiền bạc đâu có ý nghĩa gì nữa. Chúng ta chẳng thể mang theo được. Vậy thì tham tiếc tài sản làm gì, để làm cho con đường siêu thoát thêm nặng nề, khó khăn hơn. Nhân loại ngày nay trọng tiền tài danh vọng. Kiếm sống nuôi thân chưa đủ, còn muốn có thật nhiều tiền để thỏa mãn đủ thứ dục vọng, chạy đua theo xu thế trọng vật chất. Thậm chí nhiều người còn bất chấp phạm tội, gây nghiệp ác để kiếm được thật nhiều tiền. Cuối cùng, cả đời cũng tiêu không hết. Chết đi rồi, đống tiền đó thì chẳng đem theo được, mà ác nghiệp thì theo ta như bóng với hình, gây ra bao nhiêu quả báo thống khổ. Sau đó, tôi được đưa tới ngục dành cho những người nghỗ nghịch bất hiếu. Trước khi vào ngục này, họ có dặn tôi, khi bị tra khảo, phải nói đúng sự thật, không thêm không bớt. Có thì nói có, không thì nói không. Nếu nói sai sự thật, thì tội bị tăng lên gấp đôi. Nhớ lời ấy, tôi tiến vào trong ngục. Khi vừa bước vào, ngục tốt hỏi tôi: -Ở trần gian, ông có bất hiếu, nghỗ nghịch không? Tôi đáp: -Tội bất hiếu thì tôi không có. Nhưng tội nghỗ nghịch thì có. Những lúc nóng giận quá, tôi hay nói những lời khó nghe, làm mẹ tôi phải buồn lòng. Nói đến đó, ngục tốt chỉ vào cái gông xiềng và bảo nó là của tôi. Nhìn thấy cái gông của mình đang chờ sẵn mà tôi sợ hãi, rụng rời hết cả chân tay. Bỗng trên hư không lại nhắc tôi niệm Phật. Tôi y theo niệm Phật thì tự nhiên chỗ gông xiềng của tôi biến mất. Tôi đưa mắt quan sát ngục này, thấy các tội nhân bị tra tấn vô cùng khủng khiếp. Họ lấy móc sắt móc lưỡi tội nhân ra rồi đổ nước đồng sôi sục vào lưỡi. Đổ tới đâu thịt rớt tới đó vì quá nóng. Còn hơn cả như lấy axit mà đổ lên lưỡi vậy. Tội bất hiếu với cha mẹ là tội rất nặng. Cha mẹ là người cho chúng ta sự sống, hình hài, mang nặng đẻ đau, nuôi nấng, lo lắng cho con cái từng phút, từng ngày. Công lao cha mẹ vô cùng to lớn, có lẽ cũng không phải nói nhiều nữa. Vậy nên ai phạm tội bất hiếu nghỗ nghịch thì sẽ phải vào địa ngục chịu tội đau đớn khổ sở không thể nói hết. Qua ngục Bất hiếu, tôi được dẫn tới ngục Trả quả. Ngục này dành để hành hình những kẻ phạm tội sát sinh. Vào tới đây, tôi nghe thấy tiếng rên la thất thanh, thảm thiết vang dội khắp cả ngục. Khi còn sống, tội nhân nào đã giết hại chúng sinh như thế nào, thì nay phải chịu cảnh bị giết y như vậy, không khác. Ai đã từng chặt đầu, xẻ bụng, lột da chúng sinh. Thì nay cũng bị chặt đầu, xẻ bụng, lột da để thấm thía nỗi đau ấy. Tôi nhìn thấy cảnh tội hình, máu chảy thành sông như lũ cuốn. Mùi tanh hôi thối bốc lên khó có thể diễn tả nổi. Rồi họ cũng chỉ vào một chỗ và nói chỗ đó là của tôi. Tôi khi ấy lại nhớ niệm Phật, nên chỗ đó đã biến mất. Thử ngẫm mà xem. Con người bị sứt tí da, chảy chút máu, đã cảm thấy xót, thấy đau, khó chịu, khổ sở. Vậy mà trước cảnh chúng sinh bị cắt tiết, phanh thây, lột da, xẻ thịt, trụng nước sôi … vẫn không hề mảy may thương xót. Như thế có phải là vô cùng nhẫn tâm hay không? Nếu đã không thể cảm nhận được nỗi đau của chúng sinh, tàn nhẫn với chúng sinh như vậy, thì nay tất phải vào địa ngục để tự trải nghiệm và trả nghiệp mà thôi. Sang ngục tiếp theo, tôi thấy một cảnh tượng có phần êm ả hơn. Nhưng đã là địa ngục thì chẳng có nơi nào mà tội nhân không phải chịu thống khổ đâu. Nơi đây có một con sông rất lớn màu xanh. Trên sông có một chiếc bè bảy màu sắc rất đẹp. Đặc biệt ở ngục này, tội nhân còn nhiều hơn cả nước sông, đầy khắp cả. Tôi thấy có cả thầy sư, nên bèn hỏi -Thầy sư mà cũng có tội sao? Họ đáp rằng tuy mang danh xuất gia tu đạo, nhưng thực chất lại không thật tâm tu hành, còn phạm trọng tội, không có việc gì mà không dám làm. Người khi xuất gia, nghĩa là đã được nương nhờ phước đức của Đức Phật, của Tam Bảo. Đáng nhẽ cần phải tu tập tinh tấn, hành theo đúng lời Phật dạy, siêng năng trau dồi trí tuệ, hoằng pháp độ người thế gian. Nhưng ngày nay đã vào thời mạt pháp, số lượng người giả danh thầy tu để chuộc lợi, lừa gạt chúng sinh không phải là ít. Những “con sâu” này đã làm ảnh hưởng đến uy tín, sự trong sạch thanh cao của Phật Pháp, gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng, khiến những người không hiểu thì sinh tâm phỉ báng Tam Bảo, thành ra tội rất lớn, phải đọa vào Vô Gián địa ngục. Khiến những người tín căn thấp kém có thể vì vậy mà bỏ tu, mất đi con đường giải thoát. Thêm nữa, nó còn làm cho Phật Pháp bị suy thoái, hủy hoại mà biến mất dần. Khi ấy, chúng sinh không còn biết nương tựa vào đâu. Dứt lời, ngục tốt đuổi hết chúng tôi lên bè. Ai không có bè mà bị rớt xuống sông thì lập tức biến thành nước cả. Khi tôi lên được bè rồi, từ trên hư không bảo tôi phải nhắm mắt lại và nhất tâm niệm Phật thì mới qua sông được. Khi tôi niệm thì thấy chiếc bè chìm xuống đáy sông rồi lại chồi lên mặt nước là sang tới bờ. Nhưng một nghìn vạn người chỉ có một, hai người qua được sông. Số còn lại bị chìm xuống đáy rồi chồi lên lại chỉ còn là bộ xương trắng như tuyết. Vừa lên bờ, tôi cảm thấy khát nước vô cùng. Không chần chừ, họ đưa tôi tới ngay ngục Trả Mạng. Từ trên hư không lại nhắc tôi rằng: -Khi ngục tốt múc nước dừa trong chậu đưa cho, thì không được uống. Ở đó có người đang cắt cổ con gà. Hãy lấy nước đó tưới lên chỗ vết thương của nó, đừng để cho nó chết. Tôi nhớ và làm theo. Còn những người khác, vì không biết, lại đang khát khô cả cổ, thấy được bát nước dừa, liền uống lấy uống để. Thì ôi thôi, trên cơ thể có những lỗ nào thông ra ngoài như mắt, mũi, tai, miệng v.v… là máu tươi chảy ra ồng ộc. Tôi nhìn cảnh tượng đó mà như muốn ngất, không còn đứng vững nổi. Sau đó, ngục tốt đưa cho tôi một cái bánh giống như bánh gai vậy, bảo tôi cầm lấy mà ăn đi. Nhưng tôi chưa dám ăn. Lúc này, tôi được đưa sang ngục Tà dâm. Tôi thấy nhiều người ăn cái bánh giống như tôi đang cầm, nên tôi mới mạnh dạn ăn nó. Ăn vào, ngay lập tức người tôi nhũn như cọng bún, không đi nổi nữa. Những ai không đi được tiếp thì ngục tốt sẽ xóc nách vào. Chúng tôi bị đưa lên giàn chông sắt, mỗi người một ô, ô nào cũng có tên họ đầy đủ của từng người. Khi tội nhân vừa đứng vào, lập tức chân tay bị banh ra bốn phía như hình chữ X, khóa chặt lại không thể nhúc nhích nữa. Trước mặt mỗi người đều có một chùm giáo chĩa thẳng vào, cách mặt chỉ tầm một gang tay. Ngục tốt đưa ra các câu hỏi cho mỗi người, ai trả lời đúng một câu thì được mở một khóa ra, ai trả lời sai thì ngay lập tức bị chông sắt đâm vào người. Với người nam, thì có chông sắt nhọn như ngọn giáo đâm từ trên cuống họng xuống. Với người nữ, thì bị chọc ngọn giáo từ hậu môn lên. Người người rên la thống thiết, không có nhà văn nào có thể dùng ngôn từ mà diễn tả được cảnh tượng kinh hoàng này. Bản thân tôi đã đứng vào ô của mình rồi, nhưng không bị khóa chân tay như các tội nhân khác. Chứng kiến đến đây thì tôi gần như xỉu đi, không thể chịu được nữa. Họ nói với tôi rằng những ngục mà tôi đã đi qua cũng chính là những tội nghiệp mà tôi đã phạm phải. Đáng nhẽ tôi sẽ phải chịu hành hình như vậy. Nhưng do từ lúc nhỏ, tôi đã ngộ ra, biết dừng việc sát sinh, chịu khó tích đức, hành thiện cho đến bây giờ, nên được trừ bỏ. Họ cũng dặn tôi, từ nay về sau không được tái phạm. Nếu còn tái phạm, thì những hình phạt kia không thể biến mất được, nó sẽ lại còn đó để chờ tôi xuống lãnh. Họ dặn tôi nhiều lắm, họ bảo rằng dù lấy một trái ớt, một chút mắm, muối mà không xin cũng mang tội trộm cắp. Chứ đừng tưởng có chút ít thì đáng bao nhiêu. Ít có quả báo của ít, nhiều có quả báo của nhiều. Nặng hay nhẹ cũng còn phải xét đến hậu quả nữa. Họ cũng không quên nhắc tôi phải để ý miệng lưỡi của mình, khi nói gì đều phải suy xét. Những câu nói tưởng như chỉ vui đùa, bỡn cợt thoáng qua, mà làm cho người nghe được phải buồn phiền cũng là mang tội, mắc vào khẩu nghiệp. Họ còn dặn tôi nhớ phải tích đức, hành thiện, không làm bất cứ điều gì phạm vào giới cấm của nhà Phật. Khi nào đủ lực, thì họ sẽ dẫn tôi đi nhiều chỗ nữa. Nay khí lực của tôi còn yếu, nên chỉ có thể đi được như vậy thôi. Còn nhiều điều nữa tôi được căn dặn, nhưng vì đã quá mệt và sợ hãi nên không nhớ được hết. — Khi tỉnh dậy, nhìn đồng hồ đã điểm hơn 12h. Tôi thấy khát nước lắm. Tôi ngồi dậy cố gắng bình tâm trở lại. Nhưng ngồi gần nửa tiếng đồng hồ mà chưa thể hoàn hồn được. Chuyện trên đây là những trải nghiệm thật của tôi. Tôi không dám nói sai nửa lời. Nếu nói sai, tôi xin chịu tội ở địa ngục. Kể ra câu chuyện này, tôi chỉ muốn mọi người có thể nhìn đó làm gương mà tỉnh ngộ. Sớm bỏ các việc ác, mau làm các việc lành, tu tạo phước đức để tiêu trừ nghiệp chướng đã tạo. Thế mới thấy, con người chết đi, chẳng mang theo được gì, ngoài phước và nghiệp. Người nào phước nhiều thì đường đi nhẹ nhàng, tư lương đầy đủ. Người nào nghiệp nhiều thì đường đi tối tăm, nặng nề, khó thoát. Chúng ta thời nay phần nhiều ham mê những thứ phù phiếm, dành sức lực để đeo đuổi những thứ danh vọng tiền tài vô nghĩa. Phí phạm cả một đời người. Khi nhắm mắt xuôi tay, xả bỏ thân này, thì dù là người giàu có bậc nhất, hay người có chức vị cao sang, cũng chẳng thể cứu nổi những ác nghiệp của bản thân. (Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Lê Ngọc Tú)

ĐỔI ĐỜI NHỜ SÁM HỐI, HÓA GIẢI VỚI OAN GIA & THAI NHI

(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Bùi Anh Tuấn) Ngày nay, nhiều người khi được khuyên răn về nhân quả báo ứng, họ thường đáp lại rằng “Tôi nghĩ mình cứ sống tốt là được”. Có đúng như thế không? Đúng thế. Vậy như thế nào là “sống tốt”? Điều này thì không phải ai cũng hiểu đúng, nên nhiều người vẫn lầm tưởng mình đang sống rất tốt đẹp, tử tế. Thực tế thì không phải vậy. Bản thân tôi cũng đã từng lầm tưởng. Tôi yêu thương gia đình, vợ con. Tôi hiếu thuận với cha mẹ. Tôi chăm chỉ làm việc kiếm sống. Tôi quý mến anh em, bạn bè, hàng xóm. Chắc hẳn trong quan điểm của rất nhiều người, rõ ràng là tôi đã sống rất tốt. Nhưng hóa ra như vậy chưa phải các bạn ạ. Các bạn biết vì sao không? Vì tôi đã phạm tội sát sinh. Xin sơ lược về bản thân. Tên đầy đủ của tôi là Bùi Anh Tuấn. Năm nay (2021) tôi được 33 tuổi. Hiện đang sinh sống tại Tân Uyên, Uyên Hưng, Bình Dương. Ba năm trước, tôi sinh sống ngoài Bắc. Tôi đã lập gia đình, có vợ và hai đứa con: một trai một gái. Khi ấy, tôi có vợ con đuề huề, kinh tế ổn định. Nên ai cũng yên tâm và vui thay cho tổ ấm nhỏ nhắn hạnh phúc của gia đình tôi. Cho tới một ngày, khi bé thứ hai đươc 7 tháng tuổi, thì vợ tôi dính bầu bé thứ ba mà không hay biết. Lúc đó, hai vợ chồng suy nghĩ đắn đo. Vợ mới sinh xong, sức khỏe còn chưa hồi phục, bé thứ hai còn đang quá nhỏ, cần sự bế ẵm cưng nựng của cha mẹ. Nếu sinh thêm bé này, chắc chắn chúng tôi sẽ vô cùng vất vả. Nghĩ ngợi rồi chúng tôi quyết định phá bỏ cái thai, khi đó bào thai được 7 tuần tuổi. Chúng tôi nghĩ rằng thai nhi còn ít tuần tuổi, chưa thành hình hài, chưa ra đời, thì cũng không sao cả. Chúng tôi không hề nghĩ đến được hậu quả mà sau này chính mình phải gánh chịu. Thật kì lạ! Đúng từ khi vợ chồng tôi bỏ đi đứa con thứ ba, thì đời sống gia đình cứ xui xẻo liên hoàn. Công việc không còn được may mắn như trước, toàn gặp rủi ro. Kinh tế suy giảm thấy rõ. Gia đình tôi bắt đầu vướng phải nợ nần chồng chất. Tình cảm vợ chồng cũng lục đục, không còn được êm ấm như xưa. Mọi thứ đã hoàn toàn thay đổi, chúng tôi buồn tủi, mệt mỏi, khó khăn. Muốn có một cuộc sống mới, hai vợ chồng quyết định chuyển gia đình vào Nam sinh sống cùng với bố mẹ vợ, tìm công việc mới, hy vọng làm lại mọi thứ. Đến vùng đất mới, tôi làm công việc trái ngành nghề. Từ một người làm công việc nghệ thuật nhàn nhã, môi trường làm việc thoải mái mát mẻ, nay tôi làm công nhân trong một cơ sở sản xuất sắt thép, không phù hợp với tôi chút nào. Ai đã từng làm công việc này mới hiểu hết được sự vất vả của nó. Trong thời gian làm việc, có lần tôi bị tai nạn nghề nghiệp, gẫy cả hai bàn chân và cụt cả ngón tay. Chưa kể tôi ốm đau bệnh tật suốt ngày. Suốt hai năm đầu tiên vào đây, tôi cứ quanh quẩn với công việc mà vẫn không đâu vào đâu cả. Nhắc đến bố mẹ vợ, tôi xin kể một chút. Ông bà cũng đã từng gặp rất nhiều biến cố đến nỗi phá sản trắng tay. Nhà cửa cũng không còn, chẳng có nơi nương náu ổn định. Tinh thần khủng hoảng rất lớn. Nhưng may thay, sau đó có một người quen đã hướng ba mẹ vợ tôi đến với Phật Pháp, nên cuộc sống đã có những sự tiến triển tốt đẹp trở lại. Có lẽ cũng có duyên lành từ trước, nên ông bà sau khi biết tới Phật Pháp, đều rất tin tưởng và hành trì theo. Ngày ngày, hai ông bà ăn chay, tụng kinh, sám hối … Và 3 năm trở lại đây, ông bà đã có được cuộc sống khá ổn định, công việc thuận lợi, cũng đã có nhà và xe. Thấy vợ chồng tôi vẫn vất vả, loay hoay mãi mà không đâu vào đâu, ông bà có khuyên răn chúng tôi hàng ngày chịu khó đọc kinh sám hối, niệm Phật. Nghe khuyên nhủ như vậy, nhưng thực tình chúng tôi cũng vâng vâng dạ dạ rồi cứ để đó, đã tu được ngày nào đâu. — Thế rồi thời gian trôi qua, tôi cũng dần dần nhận ra nhân quả báo ứng của chính mình, không còn lầm tưởng mình đã “sống tốt”. Xâu chuỗi lại mọi việc xảy ra trong cuộc sống, tôi giật mình tỉnh ngộ, sợ hãi về nghiệp chướng của mình. Ở quê tôi ngoài Bắc, các món hải sản như tôm, cua, ghẹ rất là đắt. Nên dù đây là những món khoải khẩu, tôi cũng chẳng dám ăn nhiều. Còn ở trong Nam, ôi hải sản có biết bao nhiêu loại tươi ngon, lại rẻ, vì sướng cái miệng mà tôi ăn rất nhiều. Cứ cuối tuần là tôi lại ăn uống say sưa trong niềm thỏa mãn sung sướng. Ấy tưởng thế là sướng, ai ngờ lại khổ không kể xiết. Tôi chuyên ăn cua và ghẹ. Mà các bạn biết đấy, ăn cua ghẹ thì phải bẻ chân bẻ càng của nó. Tích góp lâu ngày, cuối cùng tôi bị quả báo gãy chân, cụt ngón tay chính do cái nhân bẻ chân, càng của những con cua, ghẹ. Đúng là nhân quả nhãn tiền, ngay trong đời này tôi đã phải lãnh quả báo rồi. Vậy mà lúc ăn chúng, tôi có nghĩ được gì đâu. Chỉ nghĩ động vật dưỡng nhân, chúng sinh ra là để cho con người ăn. Đến nay mới biết con người chúng ta thật sự si mê, chẳng biết gì. Mọi việc không chỉ dừng lại ở bấy nhiêu. Tết năm đó, bố mẹ vợ tôi xây xong nhà, chúng tôi chuyển về căn nhà mới vào tầm ngày 24 Tết. Sự việc đến với tôi cũng rất bất ngờ. Sức khỏe đang rất tốt, không hề có vấn đề gì. Vậy mà chỉ sau một đêm đi ngủ, khi tỉnh dậy, kì lạ thay tôi không thể cử động được nữa. Vậy là tôi nằm liệt giường từ 28 Tết đến 14 Tết, là hơn nửa tháng trời. Chẳng những thế, trong lúc liệt giường tôi còn chẳng ăn, chẳng ngủ được. Cứ ăn vào là tôi nôn hết cả ra. Tôi mê sảng suốt, gần như sống thực vật. Cả gia đình đều hoảng loạn không hiểu tôi bị làm sao. Đưa tôi đến bệnh viện thì bác sĩ nói tôi chẳng làm sao cả. Tôi được đưa đi viện tận 3 lần nhưng đều không giải quyết được gì. Cứ đi viện thì tôi đỡ hơn chút, cứ về nhà tôi lại trở nặng hơn. Do hiểu Phật Pháp, nên gia đình khi đó đã dần hiểu ra vấn đề. Thực chất tôi không bị bệnh lý gì, mà đây là quả báo do nghiệp ác gây ra. Bệnh của tôi do oan gia trái chủ tìm đến hành hạ. Trong suốt hơn nửa tháng mê sảng đó, cứ đêm xuống, là tôi nằm mở mắt nói luyên thuyên và hành động kì lạ, làm cho bố mẹ và vợ con rất hoảng sợ. Có hôm trong cơn mê sảng, thì tôi thấy đứa con mà chúng tôi đã phá bỏ về hành hạ, nhổ tóc tôi, bóp đầu tôi. Có hôm thì các chúng sinh mà tôi đã giết hại, hoặc để ăn, hoặc để vui chơi về trả thù, chúng bẻ chân bẻ tay tôi. Tôi rất sợ hãi. Thật sự không biết dùng từ ngữ nào để diễn tả được cảm giác đó. Thật sự khủng khiếp. Tất cả các chúng sinh đó đều oán hận tôi vô cùng. Tôi thật sự ăn năn hối hận lắm. Đứa con mà tôi nhẫn tâm tước đoạt sự sống. Những con vật mà tôi ngu si coi thường sinh mạng của chúng. Tất cả đều bám theo tôi mỗi ngày. Đâu chỉ làm cho tôi thân tàn ma dại, cuộc đời tôi còn thê thảm chẳng thể khá lên. Đến giờ này tôi mới hiểu ra. Nhưng cuộc đời vẫn mang đến cho tôi một tia hy vọng. Có một thầy tu ở trên núi An Giang đã hướng tôi theo Phật. Thầy giải thích cho tôi hiểu rằng tất cả những gì tôi phải chịu đều là nghiệp quả. Muốn khỏi bệnh thì chỉ có một cách là sửa đổi mà thôi. Kết quả nhanh hay chậm là do bản thân tôi nỗ lực nhiều hay ít. Thầy quy y cho tôi, lấy pháp danh là Thích Tâm An, và hướng dẫn tôi phải thường xuyên niệm Phật, tụng kinh, sám hối… hồi hướng công đức tu tập đó cho các oan gia trái chủ và đứa con đã phá bỏ. Tôi nay không còn cứng đầu nữa, trước cha mẹ khuyên tu, nhưng lười biếng chẳng làm. Nay đã quá thấm thía quả báo rồi, nên hằng ngày tôi tu tập theo lời thầy dạy tới nay đã được 8 tháng. Mỗi ngày hai thời lễ Phật, niệm Phật, trì chú…. được bao công đức tôi hồi hướng cho oan gia trái chủ và cửu huyền thất tổ. Với tôi bây giờ, tu tập là việc đã quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày, không thể thiếu. Và rồi thật màu nhiệm, mọi thứ cứ thế, không hay từ khi nào, đã dần tốt đẹp lên. Tôi trở nên khỏe mạnh hơn, công việc cũng tốt đẹp lên. Cuộc sống đi vào ổn định sau nhiều năm vật lộn. Dạo gần đây, tôi lại hay nằm mơ thấy các oan gia trái chủ. Ngược lại với lúc trước, nay họ rất hoan hỷ vui mừng. Con tôi cũng đã không còn tới hành hạ tôi nữa. — Câu chuyện tôi kể ra đây, thời gian địa điểm xác thực rõ ràng, chỉ mong có thể cảnh tỉnh mọi người, đừng đi vào con đường lầm lạc của tôi. Hãy dừng tay sát sinh hại vật. Động vật cũng có tình cảm yêu ghét hận thù, cũng ham sống sợ chết hệt như con người vậy. Giết có quả báo của giết. Ăn có quả báo của ăn. Vì vậy, các bạn cố gắng ăn chay được là tốt nhất. Và xin các bạn đừng phá thai, tước đi mạng sống của chính con mình. Tôi đã ân hận vô cùng vì sự ngu si của bản thân. Và đã phải chịu bao khổ sở cay đắng vì những tội ác mình đã gây ra. Hãy nhìn vào trường hợp của tôi mà suy xét lại những suy nghĩ, hành động của các bạn. Ai còn không tin nhân quả, thì đều phải chịu quả báo đáng sợ, khủng khiếp lắm. Hy vọng câu chuyện của tôi có thể làm các bạn tỉnh ngộ ra. — Hiện nay, chúng ta đang phải chịu cơn dịch bệnh Covid-19 hoành hành khắp nhân loại. Đó chính là quả báo của nghiệp sát mà chúng ta đã tạo ra không những kiếp này mà cả các kiếp xưa. Cách đây một tuần, anh thợ, người đã tiếp xúc thường xuyên với gia đình tôi, bị dương tính với virus. Anh bị sốt cao liên tục rất nguy hiểm. Anh ở cùng với 5 người khác trong một căn nhà trọ. Trong đó có đến 4 người bị lây nhiễm từ anh. Vậy mà may sao, gia đình tôi lại không bị nhiễm. Tôi và bố tôi là hai người tiếp xúc với anh nhiều nhất. Hai chúng tôi đã đi kiểm tra 3 lần nhưng đều âm tính cả. Có lẽ cũng nhờ cái phước từ sự tu tập tinh tấn của gia đình tôi mà chúng tôi thoát được lần này. Từ đó chúng tôi càng thêm tin sâu Phật Pháp, tin sâu nhân quả, càng tinh tấn tu tập hơn. Không chỉ ông bà, tôi mà cả vợ và các con đều đã tu tập cùng. Thật hạnh phúc biết bao! Nhân loại chúng ta đã tàn sát quá nhiều. Mọi người hãy mau chóng tỉnh ngộ và tu tập, sửa đổi, hãy yêu thương tất cả muôn loài, chúng sinh. Hãy chuyên tâm tụng kinh, trì chú, sám hối, niệm Phật, làm lành lánh dữ, thương người cứu vật, ăn chay. Tu một ngày lợi ích một ngày. Tu mười ngày lợi ích mười ngày, tu một đời lợi ích một đời. Mạng sống của chúng ta chỉ bằng một hơi thở. Cuộc sống vô thường, phải gấp rút tu hành. Thời gian không chờ đợi ai cả. Chúc các bạn thân tâm thường an lạc! Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ! (Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Bùi Anh Tuấn)

8 TIỀN KIẾP CỦA TÔI & NHỮNG ÂN OÁN LI KÌ

(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Thu Hương)

Nhân Quả – Luân Hồi – Oan Gia Trái Chủ … Ai đó có thể nghi ngờ, nửa tín nửa nghi những khái niệm này. Chứ với tôi thì hoàn toàn chắc thật. Tôi tin nó ngàn vạn lần như đinh đóng cột. Bởi vì chính bản thân tôi là minh chứng hùng hồn, người thật việc thật.

Bao năm qua, tôi đã phải gánh trả cái nghiệp của mình. Cũng may nhờ tu hành, nên nghiệp có giảm đi. Chứ không thì giờ này tôi chẳng còn được sống, để mà ở đây kể cho các bạn nghe được nữa. Những ai còn nghi ngờ Luật Nhân Quả, mà có duyên biết tới câu chuyện cuộc đời tôi, thì hãy tỉnh ngộ ngay, kẻo không kịp.

Tôi tên thật là Phạm Thu Hương, 49 tuổi (năm 2021), sống tại Ba Đình, Hà Nội. Tôi ăn chay trường tới nay đã được 15 năm. Tôi quy y Tam Bảo, lấy pháp danh là Ngọc Hương. Sư Phụ tôi là thiền sư An Lạc Hạnh, còn có pháp danh là Thích Giác Sự, trụ trì Tịnh Xá Liên Hoa, xã Bạch Đằng, Tân Uyên, Bình Dương.

Sư Phụ là người tu hành cao thâm, có khả năng thấy được tiền kiếp của người khác. Nhờ sư phụ soi kiếp cho, tôi đã biết được ít nhất 8 kiếp trước của mình. Sau đây xin lược kể cho các bạn cùng nghe.

Có một kiếp, tôi là người gốc Ấn Độ. Trong kiếp sống đó, tôi có sang Việt Nam, tham gia vào cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp. Không may, tôi đã bị chết ngay tại Việt Nam khi đó. Bạn biết đấy, mọi thứ xảy ra trên đời, dù là việc lớn hay việc nhỏ, đều có nhân duyên của nó. Ngay kể cả việc bạn sinh ra là người nước nào cũng vậy. Chính vì cái duyên từ tiền kiếp đã từng tham gia chiến đấu và tử trận ở nơi đây, nên kiếp này, tôi đã đầu thai thành người Việt.

Còn nhiều kiếp trước nữa, tôi cũng từng là người Ấn Độ, rồi người Campuchia. Những kiếp này, tôi đều làm quan giám trảm cho triều đình, tức làm công việc chuyên tử hình tội phạm. Mặc dù tôi chỉ làm theo chức trách, nhiệm vụ mà triều đình giao phó, nhưng công việc này đã mang đến cho tôi bao nỗi đau đớn, khổ sở trong kiếp hiện tại. Những người đã bị tôi xử trảm trong các kiếp trước, thần hồn của họ vẫn còn theo tôi báo oán đến tận kiếp này.

Các bạn biết đấy, thời phong kiến xưa có luật chu di tam tộc, khi một người phạm tội nặng thì cả họ hàng người đó cũng bị xử chết, người phạm tội bị hành hình đã đành, lại còn bao nhiêu người thân quyến khác chịu vạ lây oan uổng. Vì thế mà số người tôi hành hình trong các kiếp đó nhiều lắm.

Họ theo tôi, bám vào thân thể tôi báo thù, hành hạ tôi đến tận kiếp này. Không những các vị oan gia này, mà còn có các oan gia tôi đã sát sinh, ăn thịt trong kiếp này nữa chứ. Tất cả đeo bám trên thân tôi. Họ ở ngay trong người tôi, trong đầu tôi. Tôi đau đầu quá, đến nỗi suốt ngày cứ phải lấy tay mình tự đập vào đầu để át đi cảm giác đau đớn.

May tôi biết tới Phật Pháp, tinh tấn tu tập để hóa giải oan nghiệp với các oan gia. Tôi tụng kinh, trì chú, niệm Phật, cúng trai tăng, hồi hướng công đức cho họ, cúng trả nợ cho họ. Nên nghiệp cũng nhẹ đi một phần.

Sau khi làm công đức hồi hướng trả nợ như vậy, sư phụ tôi nhìn thấy được số oan gia trên thân tôi chỉ còn một nửa so với ban đầu. Từ đó mà tôi cũng đỡ bị đau đầu hơn. Các oan gia còn lại, tôi tiếp tục kiên trì hóa giải dần.

Chuyện li kì liên quan đến oan gia của tôi thì nhiều lắm. Tôi thường hay nghe thấy những tiếng động kì lạ khắp nơi trong nhà, mà không biết do ai tạo ra. Tôi nghe thấy tiếng ầm ầm như có ai đánh trống. Có lúc tôi đang ngồi trên giường, nghe thấy trên gác xép, có tiếng gõ rất mạnh, làm tôi giật bắn cả người. Khi tôi nấu cơm trong bếp, thì có tiếng gõ ngay cạnh bếp. Lúc thì có tiếng gõ phát ra chỗ tủ lạnh. Sau mới biết là do oan gia làm.

Có một kiếp, tôi là một con chồn, tôi đã ăn rất nhiều các con côn trùng khác nhau. Đến kiếp này, thần hồn chúng vẫn ở trong thân tôi. Tôi cứ tụng chú Lăng Nghiêm, là tới đêm tôi nằm mơ thấy bắt được rất nhiều con côn trùng từ trong thịt của tôi, chúng ở khắp nơi trong cơ thể. Nhìn thấy mà tôi hoảng sợ đến thất thần.

Kiếp này, khi chưa biết tới Phật Pháp, do ngu si, tôi sát sinh quá nhiều. Có lần tôi nướng chim lên để ăn. Sau này, nhớ lại việc đó, nên tôi có sám hối, tụng ngũ đệ Lăng Nghiêm 60 lần HỒI HƯỚNG cho chim. (Hãy lưu ý, tôi trì chú Lăng Nghiêm là để đem công đức đó hồi hướng cho oan gia, chứ không phải để dựa vào oai lực của thần chú đuổi họ đi, hai việc bản chất khác nhau, và kết quả cũng khác nhau)
Tới đêm, tôi nằm mơ thấy thần thức các chú chim đó đã bật ra khỏi người tôi. Khoảng 3h sáng thì tôi tỉnh dậy, thấy mặt mình bị nóng rát cả lên, có lẽ do trước kia nướng chim, làm nó phải chịu cảnh thân thể bị thiêu đốt. Sau đó, tôi niệm chú Quan Âm vào nước, rồi đem nước đó đi rửa mặt, thì mới hết rát.

Một ngày, tôi có nằm mơ một giấc mơ lạ. Tôi mơ thấy mình đang trong nhà, thì có nhiều người tới gõ cửa, kêu tôi mở cửa ra. Khi tôi mở cửa, thấy có 2 người đang khênh một người đàn ông bị thương, chân trái bê bết máu.
Thấy lạ, tôi liền đem hỏi sư phụ về giấc mơ. Nghe thấy vậy, biết là có điềm báo, thầy hướng dẫn tôi sám hối bằng cách lạy Phật 108 lạy và phóng sinh. Xong thì lấy một bát muối rang lên, sau đó đem thiêu hết số muối này để xua hết âm khí đi. Tôi đã y như vậy mà làm theo.

Sau đó không lâu, hôm ấy trời mưa phùn đường trơn trượt. Tôi đang đi xe máy xuống dốc cầu vượt Láng Hạ, xe tôi thì chở bao cát, nên 2 chân phải căng sang 2 bên. Do không nhìn thấy chiếc ô tô đang đi sát ngay đó, chân tôi đã căng vào tận gầm xe ô tô bên cạnh.
Lúc đó quá bất ngờ, hoảng hốt, tôi chỉ kịp niệm Quan Thế Âm Bồ Tát. Xe chèn vào chân trái của tôi 2 lần liền. Thấy vậy, người dân bên đường đi ra giúp đỡ, còn bảo tôi đừng cử động gì cả, không sợ giũ hết xương ra ngoài. Ấy vậy mà cuối cùng tôi chỉ bị giập cơ thôi các bạn ạ.

Sau tôi mới biết, đó là do oan gia đã đẩy tôi vào chiếc ô tô. Đáng nhẽ hôm đó là ngày tôi phải chết. May sao tôi được giấc mơ báo trước, làm theo lời sư phụ hướng dẫn, tôi mới giải được nghiệp mà thoát chết, chân cũng không bị thương nặng.

Ở một kiếp nữa, do một vài vấn đề, vợ tôi khiến tôi nổi cơn ghen, nên tôi đã đi tìm thầy tà đạo, làm phép bùa chú cho cơ thể vợ tôi trở nên ngứa ngáy.
Nên sau khi chết đi, thần thức của người vợ kiếp đó nay vẫn ở trong người tôi, làm cho tôi cũng bị ngứa ngáy khó chịu toàn những chỗ tế nhị, khó nói, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và tinh thần. Đi khám, rồi chữa trị đủ cách cũng không hết được. Cuối cùng tôi sám hối và trì chú để hồi hướng trả nợ cho người vợ trong kiếp trước, thì nay đã đỡ ngứa được 80% rồi.

Cách đây vài năm, tôi còn mắc chứng mất ngủ, do bị oan gia họ phá. Một đêm mà tôi bị bóng đè 20 lần. Tôi cứ trì tâm chú Lăng Nghiêm được 3 câu thì họ bật ra. Sau họ lại đè tôi không cử động được. Tôi tiếp tục trì, họ lại bật ra. Cứ như vậy 20 lần hết cả một đêm. Sau nhiều đêm, tôi vô cùng mệt mỏi, cả thể chất và tinh thần đều bị ảnh hưởng.

Còn nữa, trước kia tôi có mua một căn nhà, khi sửa chữa đã bị thợ làm nhà yểm bùa Lỗ Ban, loại bùa mà các thợ xây hay sử dụng. Bùa chú do các thầy tà đạo yểm, luôn có các vong ác trú ngụ trong đó. Căn nhà tôi bị yểm cũng vậy.

Họ gây ra cho gia đình tôi rất nhiều phiền toái. Họ tác động cho con tôi ương bướng, cãi lời cha mẹ. Họ ăn vụng thức ăn trong nhà. Mặc dù vào mùa đông, mà để một hôm, thức ăn đã thiu rớt hết cả, kể cả đồ ăn để trong tủ lạnh cũng vậy.

Sư phụ tôi có hướng dẫn dán hình bát quái vào rổ, giá, tủ lạnh. Như vậy họ sẽ không ăn được. Tôi làm theo thì hiệu quả thật. Thức ăn nào tôi đậy bằng rổ, giá có dán hình bát quái thì không bị thiu, nhưng đậy bằng rổ giá không dán hình thì bị thiu ngay. Tủ lạnh mà không có dán hình bát quái thì thức ăn để trong cũng bị thiu như bình thường.

Biết là có các vong như thế trong nhà, nên tôi tụng chú Lăng Nghiêm hồi hướng cho họ siêu thoát. Sau 15 năm, họ đã đi gần hết, chỉ còn lại 2 vong khoảng 30 tuổi. 2 vong này do bị tổ bùa Lỗ Ban cột xích nên không đi đâu được. Sư phụ tôi có nói, tôi vẫn còn có phước lắm nên mới ở được trong căn nhà này.

Các âm binh thực sự rất sợ chú Lăng Nghiêm. Có một hôm, nửa mơ nửa tỉnh, tôi nhìn thấy một vong nam nằm ngay cạnh mình. Hốt hoảng, tôi định trì chú Lăng Nghiêm. Chưa kịp tụng, thì dường như vong đó đọc được tâm tôi, anh ta bảo luôn: “Xin đừng niệm chú”, rồi vong đó chạy rất nhanh ra ngoài, còn phát ra tiếng chân ầm ầm xuống cầu thang.

Hiểu được quy luật nhân quả, luân hồi, nên tôi biết mọi thứ đều do nghiệp của mình. Tôi không dám oán trách các vị oan gia trái chủ đã gây phiền toái và khó khăn cho cuộc sống của tôi. Ngược lại, tôi biết là do đời trước mình tạo nghiệp xấu với họ, nên nay tôi mới bị như vậy. Vì thế, tôi luôn tu tập, tạo công đức, hồi hướng cho họ, mong được bù đắp phần nào tội lỗi của bản thân.

Các bạn biết không, do tôi có quá nhiều nghiệp chướng, nên khi tôi tinh tấn tu tập, năng lực của câu kinh, của tiếng trì chú, niệm Phật đã giúp tôi tiêu trừ nghiệp, làm cơ thể tôi toát ra toàn mùi rất tanh. Tôi biết có người khi công phu thường cảm thấy rất nóng, thậm chí giữa mùa đông mà vã cả mồ hôi. Không sao cả, đó chỉ là những hiện tượng bình thường, dần dần sẽ hết.

Tôi nhớ có lần khi tôi công phu nhiều, đêm tôi còn nằm mơ thấy có con chim bật ra khỏi lồng ngực, sau đó tôi khỏi luôn cả bệnh tim. Có hôm tôi lại mơ thấy mình rút được những con giun ra khỏi hậu môn, sau đó tôi khỏi luôn bệnh trĩ. Phật Pháp vi diệu như vậy đấy.

Chẳng những sức khỏe kém, về cuộc sống vợ chồng, tôi cũng không được hạnh phúc. Chẳng hiểu vì lý do gì mà chồng tôi cứ nhìn thấy tôi là thấy ghét, chửi bới tôi thậm tệ suốt ngày. Nhưng suy ngẫm lại, thì đúng là vợ chồng gặp nhau, kết duyên với nhau cũng là do nhân duyên nhiều kiếp. Vợ chồng đối xử với nhau tốt hay xấu, do cách ứng xử hiện tại là một phần, một phần cũng do ân oán từ kiếp xa xưa.

Sau này, tôi mới được biết, hóa ra do một kiếp trước, giữa chúng tôi cũng đã có những khúc mắc chưa được hóa giải. Kiếp đó, chúng tôi đã từng là vợ chồng, nhưng hoán đổi vị trí cho nhau: tôi kiếp đó là nam, là chồng, còn anh là nữ, là vợ cả của tôi. Tôi còn có một người vợ hai nữa. Vì vợ cả không sinh được con, nên tôi ở với vợ hai. Điều này đã làm cho vợ cả sinh tâm buồn phiền, oán ghét tôi. Tâm oán ghét đó là nhân, quả của nó kéo đến kiếp sống này, tôi bị chồng mình căm ghét, chửi bới.

Chưa hết, còn một chuyện bản thân tôi chẳng bao giờ ngờ tới được. Vốn chồng tôi hay bị một vong nữ theo, thường xuyên nhập vào người chồng tôi để chửi mắng tôi. Vong nữ này là người Tàu, 23 tuổi.

Khi nhập lên, vong này có nói rằng: cô ấy đã có quan hệ với chồng tôi từ trước khi chúng tôi lấy nhau. Và họ còn có với nhau 2 đứa con trong cõi âm rồi. Nghe tới đây, tôi bàng hoàng cả người. Quái lạ, người với ma ân ái mà có con được sao ?

Có những sự việc, những cõi giới, tuy mắt phàm không nhìn thấy được, không có nghĩa là nó không tồn tại. Thậm chí, cuộc sống cõi âm và cõi dương còn có thể liên quan đến như vậy. Cũng vì lẽ đó, mà vong nữ này lên cơn ghen, cứ nhập vào chồng tôi mà mắng nhiếc tôi cho hả dạ. Bởi hoàn cảnh trớ trêu như vậy, nên giờ hai vợ chồng tôi không sống cùng nhau, ai ở nhà riêng của người nấy.

Không chỉ quan hệ vợ chồng, mà mọi mối quan hệ với chúng ta trong kiếp này đều do duyên nợ ân oán mà tới. Duyên ít thì chỉ đến với nhau một thời gian ngắn, cùng trải qua một số sự việc nho nhỏ, rồi lại hết duyên mà đi. Duyên sâu đậm hơn thì có thể trở thành người thân trong nhà với mình.

Tôi còn có một cô em gái. Kiếp trước, chúng tôi từng lấy cùng một người chồng. Chung chồng thì mấy người vợ được vui vẻ, hầu hết là ghen ghét hiềm khích với nhau. Mang theo cái tâm niệm đấy tới kiếp này, em gái tôi cũng cứ ghen ghét tôi như vậy.

May tôi có tu tập hồi hướng cho các oan gia, các chủ nợ ân oán nhiều kiếp nhiều đời, nên nay em tôi cũng đỡ ghét tôi hơn, tuy chưa hết hẳn, nhưng cũng giảm được phân nửa. Rồi còn có người hàng xóm của tôi, hóa ra kiếp trước cũng là chị em dâu với tôi cả.

Trên đời này, mỗi khi gặp phải hoàn cảnh sống không tốt đẹp, người ta thường cho rằng mình bị bất công, than trời trách đất, cho rằng kẻ có lỗi là đối phương, chứ không phải mình. Ai ngờ đâu, mọi sự vẫn từ chính bản thân mình mà ra. Chính những suy nghĩ, hành động của ta, sẽ quyết định hoàn cảnh sống của mình trong tương lai. Đó là nhân quả rõ ràng.

Cuộc sống của tôi nhiều trắc trở như vậy đấy. Sức khỏe thì không tốt, gia đình tan vỡ, mà làm ăn cũng chẳng được. Tất cả đều do mình tạo nghiệp ác quá nhiều, hãm hãi người ta, mà giờ bị người ta theo phá đủ kiểu.

Có một kiếp tôi làm đồ tể, chuyên giết hại các loại động vật như chó, bò, trâu. Có người khuyên bảo tôi nên bỏ cái nghề độc ác này, nhưng khi ấy tôi nhất quyết không bỏ, lấy cớ còn phải kiếm kế sinh nhai nữa chứ.

Sao tôi ngu si, vô minh đến vậy, biết bao nhiêu đời, tôi phạm phải nghiệp sát nặng nề. Nên kiếp này tôi hứng chịu đủ thứ khổ sở. Oan gia trái chủ lũ lượt kéo tới, phá tôi chẳng làm ăn nổi. Nếu tôi không tu tập theo Phật Pháp như bây giờ để giảm được nghiệp chướng, thì giờ này tôi đi ăn mày rồi các bạn ạ.

Nhắc đến việc sám hối cầu siêu, sư phụ tôi cũng có nói, thường những người nào tụng kinh, trì chú hồi hướng, cầu siêu thoát cho vong, phải có lực mạnh thì vong mới đi được. Lực mạnh ở đây là nói đến sự đức hạnh và tinh tấn của người tu.

Nói vậy để chúng ta hiểu rằng, không phải tâm cứ tham sân si, không biết sám hối, ăn năn; việc ác ngoài đời làm không ghê tay, sống xấu xa tha hóa, mà tụng một câu kinh, câu chú là có thể hóa giải được vấn đề.

Đơn giản vì tụng như vậy, công đức ngay hiện tại không được bao nhiêu. Công đức mà ít, thì lấy gì mà hồi hướng cho người khác. Vậy nên, công phu tụng niệm luôn phải có đức hạnh, giới luật… đi kèm mới phát huy hết được sức mạnh của kinh chú. Còn giới hạnh không đạt, thì chỉ còn cách kiên trì gấp năm, gấp mười người khác mới đem lại kết quả tốt đẹp được.

Sư phụ tôi cũng dạy: trong quá trình công phu tu tập, tụng kinh, trì chú, niệm Phật, không nên sử dụng ngũ vị tân. Những thứ này mang mùi rất nặng, rất hăng, khiến miệng của mình không được thanh tịnh, sẽ làm giảm đi công đức tu tập. Người chuyên tu trì kinh chú, nếu muốn hiệu quả chỉ nên sử dụng ngũ vị tân nếu như cần để làm thuốc chữa bệnh thôi, hết bệnh thì ngưng.

Suốt nhiều kiếp, tôi đã tạo ra quá nhiều tội ác. Nên kiếp này phải trả đủ thứ nghiệp kéo tới. Nhưng có lẽ, vì tôi cũng đã có nhân duyên với Phật Pháp, nên kiếp này, may thay tôi vẫn có thể hóa giải được phần nào, giúp nghiệp chướng nhẹ đi. Tôi, trong một kiếp xưa tại Ấn Độ, cũng từng xuất gia đi tu. Bây giờ tôi cũng có phát nguyện đời sau lại được xuất gia tu hành.

Nhưng các bạn đừng tưởng rằng đời này kiếp này ta có thể trả nợ hết nhé. Chúng ta đã sống trong luân hồi từ vô số kiếp xưa, số nghiệp ác tạo ra cũng vô biên, vô hạn. Chính vì vậy mà mỗi người đều có số lượng oan gia trái chủ chẳng tính kể được. Chỉ là đời này, họ có đủ nhân duyên để tìm ra và theo bám mình, đòi nợ mình hay chưa thôi. Vì vậy, nên số lượng oan gia bám trên người tôi bây giờ chỉ là trong phạm vi các mối nhân duyên hiện tại.

Nếu ai nghĩ có thể tiêu trừ được hết sạch nghiệp trong một kiếp này thì là ảo tưởng. Chúng ta cố gắng trả nợ, được bao nhiêu tốt bấy nhiêu. Người đời có câu: “Nghiệp cứ trả, Phước cứ làm, Đạo cứ tu”. Đó chính là cách nhanh nhất để sớm đạt tới giải thoát. Các bạn hãy nhìn vào câu chuyện cuộc đời tôi mà tỉnh ngộ sớm.

Phạm vi chi phối của luật Nhân quả là vô hạn, đâu phải chỉ chịu khổ lúc còn sống, chết rồi cũng chẳng chạy thoát đâu. Như anh trai của bố chồng bác chồng tôi, kiếp trước từng giết người cướp của, kiếp này chết rồi vẫn còn bị họ tìm tới đánh đập cho tơi bời, khổ sở. Sư phụ tôi nhìn ra được như vậy, hướng dẫn về bảo con cháu ruột trong nhà tạo công đức hồi hướng công đức cho ông/bố của mình thoát nạn.
Nhưng con cháu ông chẳng tin gì cả. Nếu giờ tôi nói thẳng ra “bố họ đã từng giết người cướp của”, có khi họ đánh tôi chạy chẳng kịp ý chứ. Tôi có cúng vàng mã cho ông, mà dưới âm họ đem hết vào kho không cho được hưởng vì tội nặng.

Vì sao phải là con cháu ruột làm công đức hồi hướng cho cha mình. Bởi vì những người càng thân thích với nhau thì cái duyên càng sâu dày. Những người này khi hồi hướng, lượng công đức người âm nhận được nhiều hơn. Nếu là người càng xa lạ, không có duyên gì thì lượng công đức nhận được càng ít.

Đó là câu chuyện của tôi. Cuộc đời tôi đủ thứ đau khổ. May nhờ Phật Pháp đã đem cho tôi ánh sáng chân lý, cho tôi phương thuốc hóa giải khổ đau. Cũng tri ân công đức của Sư Phụ tôi – thiền sư An Lạc Hạnh, đã khai sáng cho tôi rất nhiều điều.

Thiền sư An Lạc Hạnh, đời trước là người Ấn Độ, làm vua xứ đó. Tiếp nối nhân duyên từ tiền kiếp, nay tôi lại được gặp thầy. Thầy kể rằng cái tên “An Lạc Hạnh” là do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đặt cho thầy. Những chúng sinh vô hình trong cõi âm khi nhìn thầy, họ không thấy hình tướng của thầy như chúng ta vẫn thấy đâu, họ chỉ thấy ở thầy như một vầng hào quang ánh sáng phát ra. Có lẽ là do oai đức của sư ông quá mạnh.

Hiện nay dịch bệnh do virus corona đang hoành hành dữ dội. Khiến bao người chết một cách vô cùng chóng vánh. Đây cũng là do nghiệp báo của nhân loại. Thiền Sư có chia sẻ rằng: con virus này là do thần ôn dịch, tuân theo thiên mệnh, mà đem rải khắp nơi. Mục đích để thanh lọc những người có nghiệp phải chịu quả báo này.

Đặc biệt, sư có khuyên chúng sinh: hãy niệm Bạch Y Thần Chú của Quán Thế Âm Bồ Tát, gia trì vào nước rồi uống, thì sẽ được khỏi bệnh. Các phương pháp sám hối, trì tụng kinh chú, niệm Phật … khác cũng đều có công năng như vậy.
Mà cũng do nghiệp phước mà thôi, ai có đủ duyên phước để tránh được cái tai họa này, ắt sẽ gặp được phương pháp cứu chữa thành công. Ai không đủ duyên đủ phước, thì có gặp được, cũng phớt lờ, bỏ ngoài tai, hoặc không tin, không thực hành. Nhân quả luôn công bằng, không mảy may sai chạy.

Sư phụ tôi chẳng ham danh lợi bao giờ. Ngày ngày chữa bệnh miễn phí cho mọi người cũng được hơn 40 năm. Các trường hợp nhân quả báo ứng rõ ràng, thầy có quay lại video để phát lên Youtube, tên kênh là “tịnh xá liên hoa”, hoặc bạn có thể tìm kiếm với từ khóa “thiền sư An Lạc Hạnh”, mục đích cảnh tỉnh cho mọi người thấu rõ luật nhân quả.

Nhiều người không hiểu thực hư, lại đổ cho thầy là tự dựng lên để lừa gạt. Đã có người vu oan cho sư mà bị quả báo “sống không được, chết không xong”. Đó là cái tội phỉ báng, vu khống người đức hạnh.

Tuy nhiên, nay thiền sư đã 85 tuổi rồi, nên không còn trực tiếp chữa bệnh nữa. Thầy có soạn quyển nghi thức sám hối và trả nợ để cho mọi người về tự theo đó mà làm. Phần vì tuổi đã cao, sức cũng có hạn. Thêm nữa, chúng ta phải hiểu rằng, không gì tốt hơn bằng chính bản thân người phạm tội, tự lực sám hối. Như vậy mới là chữa cái gốc của bệnh, chính là cái tâm của chúng ta.

Sư phụ dặn tôi phải sám hối mỗi ngày, vì tội ác chúng ta đã làm, thực sự nhiều không thể tính đếm được. Như Đức Di Lặc Bồ Tát- là vị bồ tát nhất sanh bổ xứ, ở cung trời Đâu Suất vẫn ngày ngày sáu thời sám hối. Thì chúng ta là hạng phàm phu, nghiệp dày như vậy, sao không sám hối cho được.

Tôi kể ra câu chuyện này, không ngoài mục đích gì hơn, chính là để cảnh tỉnh mọi người về nhân quả, và mong mọi người thấy được sự vi diệu của Phật Pháp. Với hy vọng, ngày càng có nhiều người tin sâu nhân quả, bỏ ác, làm lành, sớm quay về bờ giác, nương theo tam bảo, tỉnh ngộ tu hành.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật !

KHAI MỞ MẮT ÂM DƯƠNG & NHỮNG CHUYỆN KÌ LẠ TRONG CÕI ÂM

 

(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Phổ Minh -Nghệ An).

Âm thanh của kinh Địa tạng được phát ra, vang vọng khắp bốn phía. Khi ấy, từ đâu rất nhiều chúng sinh cõi vô hình tới để lắng nghe. Phía trên bầu trời, có bóng dáng các vị chư thiên. Phía dưới mặt đất, có rất nhiều các vị hương linh mang thân người, và vô số các vong linh mang thân súc sinh. Còn có hai vị hộ pháp tới để hộ kinh. Tất cả đều trang nghiêm, cung kính, chắp tay lắng nghe kinh pháp…..Đó là cảnh tượng mà tôi vẫn nhìn thấy, khi mở Kinh Địa Tạng cho chúng sinh khắp mười phương tu tập.

Nhân duyên khai mở mắt âm dương

Tôi là một cư sĩ tại gia, được quy y Tam Bảo tại chùa Phúc Mỹ, Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Lấy pháp danh là Phổ Minh. Năm năm trở về trước, tôi vẫn chưa biết đến Phật Pháp. Nhưng có lẽ vì nhân duyên gì đó trong tiền kiếp, mà bỗng nhiên, ngoài cảnh vật bình thường ai ai cũng thấy, tôi còn có thể nhìn thấy được nhiều cõi vô hình, cùng chúng sinh cõi ấy. Ngoài ra, tôi cũng nghe được âm thanh của các chúng sinh đó. Sau này, biết đến Phật Pháp rồi, tôi mới hay đó là hiện tượng khai mở được thiên nhãn thông và thiên nhĩ thông.

Trở thành một Phật tử, tôi tinh tấn tu hành, ngày ngày mở kinh Địa Tạng cho chúng sinh tới nghe. Cứ tối đến trước khi đi ngủ, là tôi lạy Phật, tụng kinh, sám hối. Mỗi thời khóa công phu như vậy, tổ tiên trong dòng họ nhà tôi đã khuất, lại về nương theo tu tập. Các vị ăn vận rất đẹp đẽ. Nét mặt lộ rõ vẻ hoan hỷ, vui mừng.

Sau khi chết đi, nhiều vong linh hướng thiện luôn mong muốn được tu hành. Nhưng khi không còn mang thân thể vật chất nữa, vọng tưởng của họ trở nên vô cùng mạnh mẽ. Vì vậy, dù rất muốn, nhưng họ không thể nào tự mình niệm Phật, lạy Phật v.v… Vốn dĩ họ không thể định tâm được, nên chỉ có thể nương theo người trên thế gian mà tu tập thôi. Nhờ tu tập như vậy, họ mới có thể giảm bớt được đau khổ, tiêu trừ chướng nghiệp, mà siêu thoát tới cõi an lành.

Vì được khai mở thiên nhãn, thiên nhĩ, nên một lần, tổ tiên trong dòng họ đã về báo cho tôi được biết: trong dòng họ nhiều đời nhà tôi, có vài người bị đọa địa ngục, chịu cảnh xiềng xích tra tấn vô cùng đau đớn. Bởi sinh thời, vào khoảng 200 năm về trước, người thì làm địa chủ cậy quyền cậy thế bức hại người khác. Người thì không coi trọng mạng sống, mắc tội tự sát; cộng thêm một số tội khác nữa.

Vì thương xót gia tiên chịu cảnh thống khổ nơi đường ác, tôi đã phát tâm lạy Phật để siêu độ cho tổ tiên. Khi đó, tôi có quen thầy Huệ Nghiêm ở chùa Phúc Trí, Tân Sơn, Nghệ An. Tôi đã cùng thầy lạy 1500 danh hiệu chư Phật mười phương để sám hối ngay tại chùa. Nhờ ơn đức của Chư Phật, nhiệm màu làm sao, sau khi các khóa lễ lạy được hoàn thành, các vị đã trở về báo cho tôi biết: tất cả xiềng xích đều biến mất rồi, họ đã thoát được cảnh giới địa ngục, nay đang được ở cảnh giới trung gian. Thấy vậy, tôi vui mừng khôn xiết, đã giúp được thân quyến thoát cảnh cực hình đau đớn.

Những chuyện kỳ dị khi nhìn thấy cõi âm

Một thời gian, tôi nhìn thấy ngay sát bên nhà, có một vong linh ngày nào cũng lặp đi lặp lại hành động thắt cổ tự tử. Thần hồn, tay chân của vong linh đó đều bị sưng phù lên, vô cùng đau đớn. Hương linh trước cũng là người quê ở Đô lương, Nghệ An. Sinh thời, do nhiều nguyên nhân mà dẫn đến tự thắt cổ chết. Ngày qua ngày, tôi đều thấy hương linh đó hiện về vào ban đêm kêu cứu với gia đình trong nỗi đau khổ tuyệt vọng.

Vì gia đình này không có sự tín tâm, nghĩ rằng chết là hết, chứ còn gì đâu. Nên họ không mảy may biết gì về nỗi thống khổ của người thân đã quá cố. Chứng kiến cảnh tượng đó nhiều lần, tôi sinh lòng trắc ẩn, bèn nói với hương linh rằng:

-Nhân duyên cháu và bác có lẽ đã đến nên cháu mới thấy bác như vậy.

 Rồi tôi phát tâm làm công đức hồi hướng cho bác ấy. Vì người này mắc tội tự sát, là tội rất nặng, cứ phải quanh quẩn nơi mình đã tự tử mà diễn lại cảnh đó mỗi ngày, họ chẳng thể đi đâu được.

Vì vậy tôi đã xin chư Phật, thần hộ pháp, thần thổ địa, thổ công cai quản mảnh đất đó, xin các vị cai quản cõi âm, cho phép vị này được theo tôi ra chùa, cùng tôi phát tâm sám hối và lạy 1500 danh hiệu chư Phật khắp mười phương.

Sau hôm đó, tôi ra chùa lạy Phật, thì thấy vị đó được đi theo và cùng lạy với tôi. Mỗi ngày chúng tôi lạy 150 lạy. Mỗi ngày lạy phật trôi qua, thần hồn họ cũng giảm sưng được một chút, cảm giác đau đớn cũng theo đó mà giảm dần.

Sau mười ngày lạy Phật, thì thần hồn không còn sưng phù nữa, đau đớn cũng chấm dứt. Đặc biệt, kể từ đó trở đi, tôi không thấy họ phải lặp lại hành động thắt cổ thêm nữa.

Tất cả là nhờ ân đức của chư Phật. Tôi vô cùng biết ơn. Trước kia, họ không thể đi đâu. Thì nay đã được về phần mộ của mình, trước kia, mộ cũng vẫn ở đó, mà họ có đi lại được đâu mà tới.

Từ đó về sau, vị này có thể về nhà thờ của dòng tộc và bàn thờ của gia đình mỗi khi có cúng giỗ. Sau lần đó, họ về cảm tạ tôi, nói từ nay không làm phiền tôi nữa.

Trong kinh Địa Tạng, có chỉ dạy rằng: những chúng sinh trong cõi vô hình, chịu đau khổ, vất vưởng, đói khát, luôn mong ngóng hàng quyến thuộc trên dương thế làm công đức hồi hướng cho, để họ được tiêu trừ nghiệp chướng, siêu thoát cõi an lành.

Vậy mà trên thế gian, nhiều người chẳng chịu tin nhân quả, luân hồi. Nhiều vong linh về cố gắng báo cho người nhà biết qua giấc mơ hay bằng nhiều cách khác nhau, trông mong họ cứu giúp. Nhưng khổ nỗi, người nhà chẳng hay biết, hoặc biết mà cũng mặc kệ, vì cho đó không phải là thật. Làm các vong linh phải chờ đợi trong tuyệt vọng, khổ cực muôn phần không tả hết.

Mắt âm dương của mẹ tôi 

Đặc biệt, trong gia đình tôi, không phải chỉ mình tôi khai mở được thiên nhãn, thiên nhĩ. Mà còn có cả mẹ tôi.

Cuộc đời bà vô cùng vất vả, phải trải qua những trận ốm đau, bệnh tật liên miên. Bà còn bị mắc chứng khó ngủ suốt hơn 15 năm trời. Mỗi ngày bà chỉ ngủ được từ 20h tối đến 1h sáng, vỏn vẹn 5 tiếng đồng hồ. Vì vậy mà bà thường xuyên bị chứng đau đầu hành hạ.

Mẹ tôi cũng khai mở được thiên nhãn, thiên nhĩ vào cùng thời điểm với tôi, cách đây 5 năm. Vì muốn biết tại sao bản thân lại hay ốm đau, bệnh tật như vậy, nên bà bắt đầu để ý, và phát hiện ra trên thân thể mình toàn là “đầu cá”.

Lúc này, bà mới nhận ra bệnh của mình là do nghiệp sát sinh, do các oan gia trái chủ tìm đến mà báo oán. Vì trong cuộc sống thường ngày, mẹ tôi rất hay làm cá, rồi đập đầu cá. Nhưng lúc đó bản thân bà cũng chưa biết làm cách nào để hóa giải.

May mắn sau này, khi biết đến Phật Pháp rồi, hằng đêm trước khi ngủ, mẹ tôi đều phát tâm niệm Phật xin sám hối với oan gia, hồi hướng công đức niệm Phật cho họ được siêu thoát.

Tôi lúc đó cũng góp sức cùng mẹ, cầu siêu cho họ, cầu xin họ tha thứ cho bà. Vậy là trong suốt một tháng, hai mẹ con tôi tụng kinh, lạy 1500 danh hiệu Phật, phóng sinh, và làm nhiều việc thiện khác nữa… cùng hồi hướng cho các vị oan gia trái chủ của mẹ tôi cả.

Được một tháng, thì các vị oan gia về báo rằng: họ đã tha thứ cho bà và họ cũng sắp được siêu thoát đầu thai lên cõi người, từ nay sẽ không đi theo báo oán mẹ tôi nữa.

Từ đó trở đi, mẹ tôi không còn đau đầu, ăn và ngủ đủ giấc, cuộc sống trở lại bình thường sau hơn 15 năm khổ sở.

Những bài học

Vậy đó, cuộc sống này còn nhiều điều mà chúng ta không thể nhận biết bằng các giác quan thông thường. Nếu như không phải tôi và mẹ mình, do nhân duyên gì đó, mà khai mở được thiên nhãn, thiên nhĩ, thì làm sao chúng tôi biết được: ngoài cõi người mà chúng ta đang sống đây, hóa ra còn có những cõi giới khác, ở một chiều không gian, thời gian khác với chúng ta. Hóa ra, những thứ mà con mắt chúng ta không nhìn thấy được, không phải không tồn tại.

Ở cõi giới vô hình kia, còn có vô số chúng sinh đang đau khổ, họ trông ngóng chúng ta thương cảm mà giúp đỡ họ. Vì vậy, hãy khởi lòng từ bi thương xót, cứu họ khỏi cảnh bi thương cùng cực. Bằng cách tu tập tinh tấn, làm các việc phước thiện, rồi hồi hướng công đức đó cho các chúng sinh đang đau khổ. Nhờ vậy mà họ được tiêu trừ ác nghiệp, siêu thoát cõi lành.

Nhân quả thực sự tồn tại, làm việc ác ắt sẽ bị quả báo, quả báo không trổ ngay trong đời, thì cũng sẽ trổ ở những kiếp sau. Đừng ai nghĩ có thể trốn chạy được. Nếu như không chịu tu sửa kịp thời, để đến lúc chết đi, phải tái sinh vào địa ngục thì khổ sở hết chỗ nói.

Đức Phật đã dạy, thân người khó được, Phật Pháp khó nghe. Nay chúng ta đã may mắn được thân người, lại biết tới Phật Pháp, thì còn gì hạnh phúc hơn nữa. Phải biết tiếc quý từng giây từng phút của đời người, gấp rút tu hành, để được an lạc tự tại về sau.


  • Mỗi bài viết là một ngọn đèn nhỏ, mong soi sáng phần nào trên hành trình tu học của bạn. Để những ngọn đèn ấy không ngừng cháy sáng, lan tỏa ánh sáng Phật Pháp đến khắp mọi nơi là tâm nguyện của chúng tôi, nhưng để hành trình này được bền bỉ, chúng tôi rất cần sự chung tay của bạn.

    Nếu nhận thấy những bài viết này mang lại lợi ích cho bạn, cũng như nhiều người khác, xin hãy đồng hành cùng chúng tôi bằng cách ủng hộ kinh phí để duy trì hoạt động hoằng pháp.

     Mọi đóng góp xin gửi về STK Vietcombank: 0081001314166 (Dinh Bao Trung)

    Dù nhỏ bé hay lớn lao, sự sẻ chia của bạn đều là động lực quý giá để chúng tôi tiếp tục hành trình ý nghĩa này. Chân thành tri ân!

 

CỨU CHA THOÁT ĐỊA NGỤC NHỜ KINH ĐỊA TẠNG.

(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Đặng Thị Thế). Là người có chút cảm ứng về tâm linh, tôi từ trước đến nay đã rất tin tưởng vào sự sống sau cái chết. Tuy nhiên, cơ duyên đến với Phật Pháp thì cũng mới bắt đầu từ tháng 03/2021, nghĩa là mới hơn 05 tháng nay thôi. Tôi tên là Đặng Thị Thế, hiện nay đang sống tại quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Từ khi tìm hiểu về đạo Phật, tôi bắt đầu tụng kinh, niệm Phật và trì chú Dược Sư. Rồi tôi đọc kinh Địa Tạng. Khi đọc, tôi đã nhận ra rất nhiều tội lỗi mà mình mắc phải trong đời. Bình thường nếu không đọc, có lẽ tôi cũng chẳng hay biết, nhiều việc mình làm hóa ra lại chính là tội rất lớn. Soi chiếu lại, tôi cũng nhận ra cả những lỗi lầm của người thân trong gia đình mình. Cảm thấy vô cùng lo lắng, tôi phát tâm trì tụng 7 biến Kinh Địa Tạng để hồi hướng cho người thân và chúng sinh trong khắp pháp giới. Cứ như vậy mà hành trì. Một ngày, tôi trở về quê ngoại. Vốn là người hay có những cảm ứng tâm linh, từ trước đến nay, tất cả người thân đã mất đều hay nhập vào tôi để nói chuyện. Và lần này chính là bố đẻ của tôi. Bố tôi đã mất từ năm 2018. Khi còn sống, ông từng làm nghề mổ lợn được ba-bốn năm, mỗi ngày ông mổ đều đặn một con lợn. Tính ra số lượng rất nhiều, trên cả ngàn con. Bản thân tôi cũng chẳng biết được, sau khi chết đi, ông ra sao, thác sinh về cõi nào? Lần này, ông nhập vào tôi, và nói rõ ràng rằng: “Bố vui lắm, giờ không còn đau đớn nữa, bố đã thoát khỏi địa ngục, là nhờ con đã đọc Kinh hồi hướng cho bố”. Nghe thấy vậy, tôi vui mừng khôn xiết. Tuy ông phải chịu đau khổ như thế, nhưng may quá, nay ông đã được thoát khỏi cảnh giới đó rồi. Vậy đấy, bản thân tôi trước đây cũng không bao giờ nghĩ rằng cha mình sau khi chết đi, lại phải vào địa ngục. Chúng ta ai cũng tưởng mình sống như vậy là đủ “tử tế” rồi. Chúng ta yêu thương gia đình, chăm chỉ làm ăn, hiếu thuận với cha mẹ. Nhưng có ai ngờ đâu, động vật cũng là chúng sinh bình đẳng như con người. Chúng ta hại nó để nuôi thân, nuôi gia đình, mà không mảy may nghĩ tới chúng, gia đình chúng. Như vậy có phải quá bất công hay không? Thử nghĩ xem. Ta bị đứt tay một chút, chảy một ít máu, có xót hay không? Có đau hay không? Mà ta nỡ lóc da, xẻ thịt, giết hại mạng sống của chúng vô cùng tàn nhẫn như thế. Chúng cũng có tình cảm, cũng biết đau, biết khổ, hệt như con người mà thôi. Hoàn cảnh của cha tôi chính là hồi chuông cảnh tỉnh cho những ai còn đang hành nghề đồ tể sát sinh. Hãy bỏ ngay công việc ấy, để tránh tai họa sau này. Nhân tiện hôm đó, tôi hỏi bố thêm về anh trai ruột của mình. Anh trai tôi mất năm 2000, trước cả bố tôi 18 năm. Anh ấy do vô minh đã uống thuốc tự tử mà chết. Và bố tôi trả lời rằng: “Anh vẫn còn phải chịu khổ chưa được thoát ra”. Tôi khi tụng kinh, niệm phật, có hồi hướng cho tất cả người thân, nhưng vì sao cha tôi đã thoát cảnh khổ, mà anh trai tôi thì chưa? Có phải do anh tôi nghiệp nặng hơn cha mình hay không? Thực ra quy luật nhân quả vẫn luôn vận hành công bằng và đầy đủ, không mảy may thiếu sót. Không đơn giản để những phàm phu như chúng ta có thể vạch ra cụ thể chi tiết. Trừ các vị cao tăng đắc đạo, có túc mạng thông, mới có thể quán sát hết mọi diễn tiến trong cuộc đời của một người qua nhiều kiếp, để biết chính xác “cái nhân nào” đã tạo ra “cái quả nào”. Cũng có thể nghiệp của anh tôi nặng hơn. Nhưng không phải vì tội tự tử nặng hơn tội sát sinh. Nghĩ vậy thì phiến diện quá, nặng hay nhẹ hơn còn phụ thuộc vào yếu tố số lượng, chất lượng và mục đích của hành vi. Bởi một chúng sinh có biết bao nhiêu “cái nghiệp” cần phải trả, đâu phải chỉ có một tội lỗi thôi đâu. Cũng có thể không phải do nghiệp của anh tôi nặng hơn. Mà có thể vì cái duyên giữa “cha-con” thường lớn hơn nhiều so với cái duyên “anh-em”, nên cha tôi nhận được lượng công đức nhiều hơn anh trai tôi. Vì vậy mà cha được thoát ra trước. Tôi là người đã lập gia đình, lại vừa sinh 3 bé liên tiếp, rất bận rộn chăm sóc các con, thời gian không có nhiều. Thêm nữa, chồng tôi lại phản đối việc tôi tu tập, nên công phu của tôi gặp nhiều trở ngại. Nhưng không vì vậy mà tôi nản lòng. Thương anh trai, cứ có thời gian rảnh, là tôi đi lên trên tầng lầu để tụng kinh, niệm Phật, hồi hướng cho anh trai sớm siêu thoát. Trước kia tôi hồi hướng cho tất cả người thân và chúng sinh khắp pháp giới, nhưng nay, vì muốn anh sớm thoát khổ, tôi chỉ hồi hướng cho một mình anh thôi. Vì với một lượng công đức cố định, nếu tôi hồi hướng cho nhiều đối tượng, lượng công đức đó sẽ được chia nhỏ ra. Như vậy thì anh tôi sẽ lâu được siêu thoát. Nên thời gian đó, tôi quyết định chuyên tâm hồi hướng cho riêng anh. Trong quá trình tìm hiểu Phật Pháp, tôi biết đến Facebook của anh Quang Tử, thường đăng rất nhiều bài về kiến thức Phật Pháp và hướng dẫn tu tập. Tôi đã đọc gần hết các bài trên đó. Trong đó có bài “Nghi thức sám hối và cầu siêu cho oan gia trái chủ”. Tôi thấy rất hay và quan trọng, nên tôi có làm một buổi nghi lễ sám hối oan gia theo cách Quang Tử hướng dẫn. Thật ngạc nhiên và bất ngờ. Ngay trong buổi lễ sám hôm đó, vong linh của các oan gia đã ứng vào thân tôi. Tôi nghe được lời họ nói. Thậm chí họ còn khóc và lạy Phật. (Tôi chỉ có ảnh của Ngài Địa Tạng Bồ tát). Cũng may, oan gia của tôi không có oán thù quá nặng, họ dễ dàng tha thứ, không những không làm gì tôi cả, thậm chí họ tỏ ra rất hoan hỷ, vui mừng chào tôi để đi. Cũng ngay trong buổi sám hối đó, vong linh của con trai tôi đã nhập lên. Tôi do vô minh ngu si, cũng đã một lần phá bỏ một thai nhi bé trai từ trong thai. Hôm đó, con lên và nói tha thứ cho tôi, và con rất thương tôi. Tôi vui mừng lắm. Vì sự sám hối ăn năn thực sự của mình đã cảm ứng được tới các oan gia trái chủ như vậy ngay trong buổi đầu tiên. Nửa tháng sau, chẳng hiểu vì lý do gì, tự nhiên tôi rất thích trì chú Vãng Sanh. Vậy là tôi trì 108 biến chú. Khi tôi trì gần hết, thì các oan gia trái chủ cũng ứng vào tôi và tỏ ra rất vui vẻ, hoan hỷ. Thời gian trôi qua, tôi vẫn kiên trì tinh tấn tu tập. Mỗi ngày tôi lạy 108 lạy để sám hối, 21 biến chú Đại Bi, và niệm 1080 danh hiệu Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát. Cứ đến 10 ngày thập trai, tôi lại tụng kinh Địa Tạng. Vào ngày 14 và 28 thì tôi trì chú Diệt Định Nghiệp “ÔM P’RA MA NI ĐA NI XOA HA”. Đấy là công phu hành trì của tôi muốn chia sẻ cùng các bạn. Tôi còn một nỗi khổ tâm nữa. Các bạn biết đó, trẻ con thì hay nghịch ngợm, thường không chịu học hành cho đàng hoàng. Mỗi khi dạy con học, tôi đều vô cùng giận dữ, bực tức. Cáu lên là tôi đánh con. Biết rằng như vậy là không nên, nhưng tôi không biết làm sao để kiềm chế được. Thật sự, tôi khổ tâm lắm. Tôi có hỏi anh Quang Tử xin ý kiến. Anh phân tích cho tôi rằng: “Bản chất của sự nổi nóng, sân hận chính là “CẢM THẤY KHÓ CHỊU KHI SỰ VIỆC KHÔNG ĐÚNG THEO Ý MÌNH”. Vậy thì chỉ có cách là hãy giảm cái kì vọng đó xuống. Không nên mong đợi vào con quá nhiều. Bạn nên chấp nhận rằng hiện thực không thể như ý mình được. Khi chấp nhận thực tại rồi, thì tâm của chúng ta sẽ bình tĩnh trở lại. Tâm bình tĩnh rồi, chúng ta sẽ sẵn sàng chấp nhận rằng con mình không quá giói cũng chẳng sao, nó vẫn là con mình đó thôi. Nhiều người sinh con ra, đứa trẻ còn bị dị tật, bị thiểu năng, họ cũng còn chấp nhận được cơ mà, huống chi con mình vẫn may mắn hơn rất nhiều”. Vậy đó, hãy giảm kì vọng trong bạn, tự buông cái “ý muốn” của mình đặt lên con cái. Tự nhiên sẽ bớt nóng nảy thôi. Bình tĩnh dạy con học, cố gắng được đến đâu thì được, ấy vậy có khi còn hiệu quả hơn lúc ta sân hận rất nhiều.” Từ đó, tôi quyết định buông bỏ cái ham muốn của bản thân, không còn kì vọng quá lớn, đến nỗi gây áp lực cho con nữa. Mỗi lần tôi nổi nóng là tôi lại niệm Phật, để tự trấn an mình. Quả nhiên, nghe theo lời hướng dẫn đó, chỉ một thời gian ngắn sau, cơn nóng đã giảm đến 90%. Gia đình ít khi còn ồn ào vì chuyện dạy con học nữa. Với con mắt phàm phu của chúng ta, cuộc sống này đôi khi trông như vậy mà không phải vậy. Mắt ta không nhìn thấy cõi giới khác, không có nghĩa là cõi đó và chúng sinh nơi đó không tồn tại. Các bạn tụng kinh, trì chú, niệm phật … mắt ta không thấy những sự thay đổi ngay tức khắc hiển hiện lên, không có nghĩa là không có gì thay đổi. Thực tế nhờ sự tu tập của chúng ta, mà rất nhiều chúng sinh cõi vô hình được nhiều lợi lạc. Câu chuyện của tôi chính là một minh chứng rõ ràng. Phật Pháp thật tuyệt vời, giống như chìa vạn năng, không chỉ giúp con người ta có được một con đường hướng về nẻo thiện, mà còn giải quyết rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, từ những người đang sống đến những người đã khuất, đều được hưởng vô vàn lợi ích vi diệu. Thật may mắn cho những ai có duyên, sớm biết tìm về nương tựa nơi những lời dạy của Phật Pháp. (Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Đặng Thị Thế)

CẢNH GIÁC CÁC ĐỐI TƯỢNG “GIẢ THẦN GIẢ THÁNH” THỜI MẠT PHÁP

(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Bảo Anh) Câu chuyện của tôi mới bắt đầu từ tháng 5/2021 vừa rồi. Quãng thời gian đó thực sự vô cùng khó khăn. Bởi tại nơi làm việc, tôi bị người ta chèn ép, đến mức cảm thấy quá đỗi khổ sở. Mặc dù biết rằng mọi việc xảy ra trên đời đều do duyên nghiệp. Tôi phải chịu sự thống khổ như thế cũng là do nghiệp mình đã tạo ra. Tạo nhân rồi, nay tất nhiên phải trả quả. Biết vậy, nhưng tôi vẫn đau đáu trong lòng, mong muốn biết được đích xác lý do vì sao, vì cái nhân gì, tôi đã làm điều gì, để phải chịu cái “quả” như trong hiện tại. Thời gian trôi qua, dường như sức chịu đựng trong tôi cũng gần chạm tới đỉnh, tôi quá khổ sở, bức xúc đến nỗi muốn òa khóc lên. Rồi một ngày, khi đang lang thang trên facebook, tôi vô tình nhìn thấy một tài khoản Facebook có đăng rất ngắn gọn như sau: “13/8 nên về nhà!”. Chỉ một câu vỏn vẹn như thế thôi, không hiểu sao tôi lại tò mò, vào facebook của người đó để xem. Thấy họ đăng nhiều bài liên quan đến giáo pháp, tâm linh, với một phong thái kiểu rất … bề trên, hay đăng các status nói đến các sự kiện kì lạ. Vì hoàn cảnh bản thân như vậy, tôi cũng thử nhắn tin cho người đó để hỏi về Nhân Quả xem sao. Biết đâu họ có thể giúp tôi giải đáp nỗi khúc mắc trong lòng. Thế rồi, người đó cũng trả lời câu hỏi của tôi, họ nói nghiệp của tôi rất nặng, họ cũng nói rằng tôi có phá thai một lần. Ôi, nghe đến đây tôi tin ngay lập tức, vì đúng là do ngu si tôi đã từng bỏ thai một lần. Sao họ biết hay vậy? Thấy họ nói đúng quá, tôi tin tưởng người đó vô cùng, thậm chí còn đồng ý làm đệ tử. Được một thời gian, tôi bỗng thấy có gì đó không ổn. Người này thường chỉ toàn nói đến các chuyện tiên tri, kì lạ gì đó, chứ không có dạy mình tu tập gì cả. Rồi từ từ, người này nhiệt tình nói chuyện với tôi hơn mức bình thường. Đặc biệt trong tôi xuất hiện một cảm giác rất khác. Bình thường khi tiếp xúc với người khác giới, tôi chẳng hề có cảm giác gì. Vậy mà lần này tâm tôi lại khởi lên dục vọng với người ta, trong khi thậm chí tôi còn chưa từng gặp họ ngoài đời và còn chẳng biết mặt mũi họ ra sao. Thật sự không thể hiểu nổi. Càng ngày sự việc càng đi xa hơn, một tối nọ, anh ta nói với tôi rằng sau này tôi sẽ trở thành vợ của anh ta. Hàng ngày anh ta vẫn xưng là “thầy”, gọi tôi là “con”. Vậy mà ngay sáng ngày hôm sau, anh ta đổi luôn cách xưng hô, gọi tôi là “Em”. Thật sự lúc đó tôi giật mình, không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Nhưng có lẽ lúc đó do tôi bị mê muội thế nào, mà cũng cứ nghe theo và tin tưởng lời anh ta nói. Nhưng rồi càng ngày tôi càng nhận ra anh ta chẳng giống một người có tu tập. Anh ta rất hay tỏ vẻ hờn giận, rồi lợi dụng tính thương người của tôi, hễ xảy ra chuyện gì trái ý, thì anh ta đòi “Nhập diệt”, thực chất là tự tử, đi chết đó, chứ có phải là A La Hán, là Đức Phật đâu mà “nhập diệt” được. Chúng tôi cãi nhau ba lần, sau lần cãi nhau thứ 3, anh ta ép tôi đồng ý làm vợ, nếu không anh ta sẽ tự tử. Kể từ lần đó, tôi mới tỉnh và bắt đầu tránh né anh ta. Một ngày kia, tôi có đăng một “story” lên facebook của mình, thì có một người bạn facebook đã vào trả lời tôi. Tôi cũng có tâm sự qua câu chuyện trên với vị thiện tri thức này. Dường như đoán được tình trạng của tôi, nên anh ấy đã bảo tôi kể rõ hơn cho anh biết. Bởi chính anh cũng đã từng bị người ta yểm bùa ngải, đến nỗi phải sang tận Ấn Độ để chữa trị. Lần lần tìm ra nguyên nhân, anh hướng dẫn tôi cách tu tập theo chánh pháp. Anh bảo tôi tự mình tụng kinh, đọc Lương Hoàng Sám, trì chú đại bi và lục tự đại minh chú “Om Ma Ni Pad Me Hum”. Dùng chánh pháp để giúp tiêu trừ nghiệp, trừ được tà pháp. Tôi làm như hướng dẫn, sau một thời gian ngắn, thì tôi biết người kia đã bị ốm đến liệt giường và ẩn mất một thời gian trên nhóm đệ tử của chúng tôi. Giờ thì tôi cũng đã ra khỏi nhóm đó. Còn người kia thì vẫn liên tục tuyển thêm đệ tử. Tôi không rõ mục đích tới đây của họ là gì, nhưng bản thân tôi cũng không dám lên tiếng gì cả. Sau những gì đã trải qua, tôi nhận ra rằng sự việc xảy ra chính do cái tâm tham, sân, si của mình chiêu cảm tới. Thấy cái “quả” mà mình phải chịu nó đắng cay chua chát quá, lý ra tôi cần phải chấp nhận mà trả nghiệp, rồi tu tập tốt, làm nhiều công đức mong sớm trả hết. Đằng này lại cứ tham lam, mong cầu muốn biết kiếp trước mình đã tạo nghiệp gì mà phải chịu như vậy. Rồi tôi còn muốn coi xem công việc kinh doanh của mình có thuận lợi hay không. Chính cái tâm tham lam mong cầu ấy đã chiêu cảm một người tà đạo xuất hiện trong cuộc đời tôi. Sau này may mắn đọc phần miêu tả “Tưởng Ấm Ma” trong kinh Lăng Nghiêm do Đức Phật thuyết, tôi mới biết tôi đã gặp phải một loại ma chướng y như trong kinh tả. Họ thật sự có thần thông y như trong Kinh Phật nói do nương nhờ Quỷ Thần gá thân. Khi ấy họ quả là đã kiểm soát cả hồn vía của tôi, làm tôi trở nên mê muội, không còn tỉnh táo là chính mình nữa. Cũng may chưa xảy ra chuyện gì đáng tiếc, xong không phải nạn nhân nào cũng sẽ sớm tỉnh mà nhận ra như tôi. Vậy nên bài viết này, bạn hãy coi là một lời cảnh báo tình trạng lừa đảo tâm linh trong thời Mạt Pháp, thật giả lẫn lộn. Đừng có quá dễ dãi tin ai đó vì họ có một chút thần thông, biết được quá khứ vị lai, hay những chuyện kì lạ, những chuyện bí mật của mọi người. Vì ngoài các vị thánh có thần thông, thì ma quỷ cũng có thần thông. Đừng nghĩ rằng hễ người ta nói đúng vài chuyện bí mật chỉ bạn biết mà vội tin, việc này ma quỷ hoàn toàn làm được. Chánh tà phải phân biệt ở đức hạnh, ở trí tuệ, và cần trải qua thời gian dài kiểm chứng thông qua những hành động, còn vội vã kết luận ai chánh ai tà đều là rất mạo hiểm. Nếu bạn nghiêm túc muốn biết các thủ đoạn của các loại ma quái chuyên giả danh người tu hành chân chính thường làm như thế nào, để biết đường cảnh giác. Bạn hãy tìm và đọc hết phần 50 ngũ ấm ma, nằm cuối của kinh Lăng Nghiêm. ( Tra Google với cụm từ “50 ngũ ấm ma kinh Lăng Nghiêm” sẽ dễ dàng tìm thấy) Ở đây tôi chỉ xin trích lược một đoạn trong kinh Lăng Nghiêm (quyển 9): 10 mười cảnh giới ma chướng của tưởng ấm, chính là phần đã giúp tôi tỉnh ngộ, thoát được lưới ma. (các đề mục là thêm vào cho tiện theo dõi): THAM CẦU THIỆN XẢO “Đức Phật bảo ngài A Nan: -…A-Nan, khi thọ ấm đã hư diệu, không còn vướng mắc các tà lự, phát minh tánh viên định, trong tam-ma-đề, tâm mong muốn có được sự sáng suốt viên mãn, thúc bách tư tưởng tham cầu thiện xảo. Khi ấy thiên ma chờ được cơ hội thuận tiện, cho tinh thần gá vào người khác, dùng miệng người đó giải thuyết kinh pháp. Người này không biết bị ma gá vào. Tự tuyên bố chứng được Vô thượng niết-bàn. Ma đến nơi hành giả đang móng tâm tham cầu thiện xảo, nó trải tòa rồi thuyết pháp. Trong chốc lát nó hiện thân tỷ-khưu, khiến cho hành giả được thấy, hoặc hóa làm Đế thích , làm phụ nữ, hoặc tỷ-khưu ni, hoặc hiện thân phát ra ánh sáng khi nằm trong phòng tối. Hành giả ngu mê, lầm cho đó là Bồ Tát, tin lời giáo hóa của ma, tâm bị dao động, nên phá luật nghi của Phật, lén lút làm chuyện tham dục. Người ấy ưa nói những chuyện tai ương quái dị, hoặc nói Như Lai xuất hiện chỗ nọ chỗ kia. Hoặc nói có kiếp hỏa, hoặc nói có đao binh. Dọa cho người sợ hãi, khiến họ vô cớ tiêu tán của cải, tài sản. Đây gọi là giống quỷ quái, tuổi già thành ma, quấy rối người tu hành. Sau khi quấy phá chán rồi, nó rời bỏ thân người vừa gá vào. Nên cả thầy trò đều rơi vào lưới pháp luật. Ông phải nên biết trước, để khỏi rơi vào luân hồi. Nếu mê lầm không biết, sẽ đọa vào địa ngục vô gián. THÍCH ĐI DU LỊCH A-Nan, lại hành giả kia, thụ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tánh viên định phát minh. Trong tam-ma-địa, tâm thích dạo chơi, cho tư tưởng bay ra, tham cầu đi nhiều nơi. Khi ấy, thiên ma chờ được cơ hội thuận tiện, đem tinh thần, gá vào người khác, dùng miệng người ấy giảng kinh pháp. Người ấy thật không biết bị ma gá vào, còn tự nói rằng mình đã được vô thượng bồ-đề. Ma đến nơi người mong cầu lãng du kia, trải tòa ngồi thuyết pháp. Hình người giảng pháp thì không biến đổi, nhưng những người nghe pháp bỗng dưng thấy mình đang ngồi trên những tòa sen báu, toàn thân hóa thành khối vàng tía chói sáng. Mỗi người đang nghe pháp đều cảm thấy như vậy, cho rằng mình đạt được chuyện chưa từng có. Hành giả ngu mê, lầm cho đó là Bồ Tát, tâm hóa dâm dật, phá hủy luật nghi của Phật, lén làm chuyện tham dục. Người ấy ưa nói chư Phật ứng hiện ra đời. Người đó, chỗ đó, chính là vị Phật ấy, hóa thân thị hiện. Hoặc nói người kia là Bồ Tát hóa thân đến đây giáo hóa nhân gian. Hành giả nghe vậy, tâm sanh khát ngưỡng, tà kiến âm thầm lớn mạnh, chủng trí bị tiêu diệt. Đây là loại bạt quỷ, tuổi già thành ma, quấy rối người tu hành. Đến khi nó đã nhàm chán, liền rời khỏi thân người mà nó đã gá vào. Khi ấy cả thầy và trò đều sa vào lưới pháp luật. Các ông nên biết trước, thì khỏi bị luân hồi. Nếu ông mê lầm không biết, sẽ rơi vào địa ngục vô gián. THAM CẦU SỰ KHẾ HỢP Lại nữa thiện nam tử kia, thụ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tánh viên định phát minh. Trong tam-ma-địa, tâm ưa sự thầm hợp, lóng lặng tư tưởng, tham cầu khế hợp. Lúc ấy thiên ma được cơ hội thuận tiện, dùng tinh thần nó gá vào người khác, dùng miệng người ấy giảng thuyết kinh pháp. Người ấy thật không biết bị ma gá vào, lại tự cho rằng mình đã chứng được vô thượng niết-bàn. Khi nó đến nơi người mong cầu sự hợp nhất tinh thần ấy, liền trải tòa ngồi giảng pháp. Thân hình người đó và những người ngồi nghe pháp, bên ngoài không có gì thay đổi, nhưng lại khiến cho thính giả trước khi nghe pháp có cảm giác trở nên được “khai ngộ,” nên họ thấy được từng niệm từng niệm đổi đời. Hoặc họ được túc mạng thông, hoặc có tha tâm thông, hoặc thấy địa ngục, hoặc biết được những việc tốt xấu trong cõi người, hoặc nói kệ, tụng kinh. Mọi người đều vui vẻ, như được việc chưa từng có. Hành giả ngu mê, lầm cho người ấy là Bồ Tát . Tâm trở nên vướng mắc chuyện yêu đương, nên hủy phạm luật nghi của Phật Lén lút làm chuyện tham dục. Nó ưa nói có Phật lớn, Phật nhỏ; vị Phật này trước, vị Phật này sau; trong đó còn có Phật thật, Phật giả, Phật nam, Phật nữ; Bồ Tát cũng như thế. Người tu hành nghe vậy liền tin, tẩy sạch bản tâm, dễ rơi vào tà ngộ. Đây là loại mỵ quỷ, tuổi già thành ma, nó khuấy rối người tu hành. Khi đã nhàm chán, nó rời khỏi thân người mà nó đã gá vào. Cả thầy và trò đều sa vào lưới pháp luật. Các ông nên giác ngộ sớm để khỏi bị luân hồi. Nếu mê lầm không biết, sẽ rơi vào địa ngục vô gián. THAM CẦU SỰ HIỂU BIẾT Lại nữa thiện nam tử kia, thụ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tánh viên định phát minh. Trong tam-ma-địa, tâm ưa thích được biết nguồn gốc của các sự vật, nên cứu xét cùng tột bản chất của sự vật cùng sự biến hóa từ gốc đến ngọn. Niệm tưởng tinh ròng bén nhạy do vì tham cầu phân tích rõ sự vật. Lúc đó thiên ma có được cơ hội thuận tiện. Phóng tinh thần nó đến gá vào người khác, dùng miệng người bị gá giảng nói kinh pháp. Người này không biết mình bị ma gá vào, lại còn cho mình đã được vô thượng niết-bàn. Ma liền đến gặp người mong cầu biết cội nguồn sự vật kia, nó trải tòa ngồi thuyết pháp. Thân nó có oai thần hàng phục được người cầu pháp, khiến cho thính chúng tự nhiên kính phục dù chưa nghe pháp. Nó nói bồ-đề, niết-bàn, pháp thân của Phật đều là thân xác thịt hiện tiền. Nó nói: “Cha con cùng sinh ra nhau từ đời này đến đời khác chính là pháp thân thường trụ không mất. Tất cả đều chỉ là hiện tại, đó chính là cõi Phật, chẳng có cõi Tịnh cư riêng biệt nào, và cũng chẳng có thân tướng sắc vàng nào cả. Người ấy tin vào những điều ma nói, bỏ mất tín tâm ban đầu, đem hết thân mạng mình quy y với ma, cảm thấy được việc chưa từng có. Ngu mê tự cho mình là Bồ Tát. Theo đuổi ảo tưởng như vậy, nên phá hủy luật nghi của Phật chế, lén lút làm việc tham dục. Ma thường ưa nói: mắt, tai, mũi, lưỡi đều là tịnh độ; nam căn, nữ căn, đích thật là bồ-đề, niết-bàn. Bọn người vô tri kia đều tin lời nói dơ bẩn ấy. Đây là giống quỷ cổ độc và quỷ ác thắng, tuổi già thành ma, quấy rối người tu hành. Đến khi nhàm chán, nó rời khỏi thân người đã gá vào. Khi ấy cả thầy và trò đều sa vào lưới pháp luật. Các ông nên giác ngộ sớm để khỏi bị luân hồi. Nếu mê lầm không biết, sẽ rơi vào địa ngục vô gián. THAM CẦU SỰ THẦM CẢM Lại nữa thiện nam tử kia, thụ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tánh viên định phát minh. Trong tam-ma-địa, tâm ưa thích biết việc trước sau, soi xét cùng khắp, tham cầu sự thầm cảm. Vào lúc đó thiên ma có được cơ hội thuận tiện, phóng tinh thần gá vào người khác, dùng miệng người bị gá giảng nói kinh pháp. Người ấy vốn không biết mình bị ma nhập, còn nói mình chứng vô thượng niết-bàn. Ma liền đến nơi người mong cầu huyền ứng kia, trải tòa thuyết pháp. Trong chốc lát, khiến cho thính chúng thấy mình hiện thân thành người già trăm ngàn tuổi. Họ sinh lòng ái nhiễm, không thể rời người ấy. Họ tự thân làm như nô bộc, đem cúng dường cho ma bốn thứ mà không hề mệt mỏi. Thính chúng ở dưới pháp tòa đều tin rằng người ấy là vị thầy trong đời trước của mình, phát khởi lòng riêng yêu mến pháp sư, dính chặt như keo sơn, như được điều chưa từng có. Hành giả mê lầm, cho rằng kẻ kia là Bồ Tát. Bị cuốn hút vào tâm ma, phá hủy luật nghi của Phật chế, lén lút làm chuyện dâm dục. Ma thích nói rằng: “Ta vào kiếp trước đã độ người kia, lúc đó là vợ, hoặc là huynh đệ của ta, nên nay lại đến để độ nhau, ta sẽ cùng các người theo nhau đến cảnh giới kia để cúng dường Đức Phật nọ.” Hoặc nó nói: “Có cõi trời Đại Quang Minh , nơi Đức Phật và các đức Như Lai đang nghỉ ngơi.” Những người mê muội tin vào lời phỉnh gạt ấy, đánh mất bản tâm. Đây là loại lệ quỷ, tuổi già thành ma, khuấy rối người tu hành. Ðến khi nhàm chán, không gá thân vào người kia nữa. Cả thầy và trò đều sa vào lưới pháp luật. Các ông nên rõ biết trước, để khỏi rơi vào luân hồi. Nếu mê lầm không biết, sẽ đọa vào địa ngục vô gián. THAM CẦU TĨNH LẶNG Lại nữa thiện nam tử kia, thụ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tánh viên định phát minh. Trong tam-ma-địa, tâm thích đi vào sự tinh cần khắc khổ, thích sống nơi vắng vẻ, tham cầu yên lặng. Khi ấy thiên ma có được cơ hội, phóng tinh thần gá vào người khác, dùng miệng người đó giảng nói kinh pháp. Người này vốn không biết mình bị ma gá vào, còn tự tuyên bố mình đã chứng vô thượng niết-bàn. Nó đến bên hành giả tham cầu tịch tịnh, trải tòa ngồi thuyết pháp. Nó khiến mọi người nghe đều biết rõ nghiệp đời trước của mình. Hoặc nó bảo với một người ở đó rằng “Ông nay chưa chết mà đã làm súc sanh.” Rồi bảo người ở phía sau đạp lên đuôi người phía trước, bỗng nhiên người kia không đứng dậy được. Lúc bấy giờ cả hội chúng đều hết lòng kính phục. Nếu có người móng khởi tâm niệm nghi ngờ, ma liền biết ý. Ngoài luật nghi của Phật, nó tinh chuyên khổ hạnh, phỉ báng tỷ-khưu, mắng chửi đồ chúng, rao lỗi người khác, không ngại chê bai tị hiềm. Miệng ưa nói họa phước chưa đến, khi việc xảy ra, quả nhiên chẳng sai mảy may. Đây là loại đại lực quỷ, loài ma sống lâu mà thành, quấy rối người tu hành. Khi nó đã nhàm chán, liền rời khỏi thân người nó đã gá vào. Khi ấy cả thầy và trò đều sa vào lưới pháp luật. Các ông nên rõ biết trước những việc này, để khỏi rơi vào vòng luân hồi. Nếu mê lầm không biết, sẽ đọa vào địa ngục vô gián. THAM CẦU HIỂU BIẾT TÚC MẠNG Lại nữa thiện nam tử kia, thụ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tánh viên định phát minh. Trong tam-ma-địa, tâm thích được thêm nhiều hiểu biết, siêng năng khổ nhọc truy tìm, mong biết được đời sống trong kiếp trước. Khi ấy thiên ma có được cơ hội thuận tiện, liền phóng tinh thần gá vào thân người ấy và dùng miệng người đó giảng nói kinh pháp. Người này không biết mình bị ma gá vào, còn tự tuyên bố mình đã chứng được vô thượng niết-bàn. Nó đến bên hành giả tham cầu hiểu biết, trải tòa ngồi thuyết pháp. Trong pháp hội, người ấy bỗng dưng như được viên ngọc to lớn. Có khi ma hóa thành súc vật, miệng ngậm châu báu, thẻ tre bùa chú và những vật quái dị khác. Trước trên, đến trao cho người ấy rồi sau rồi mới gá vào thân họ. Hoặc là ma mê hoặc người đến nghe pháp, bằng cách chôn một vật xuống đất rồi nói rằng: Có một hạt “minh châu” đang tỏa sáng ở nơi đó. Nên các người nghe đều cảm thấy mình được việc chưa từng có. Ma thường chỉ ăn các loại dược thảo chứ không dùng thực phẩm có sẵn. Hoặc nó chỉ dùng ngày một hạt mè, một hạt lúa mạch mà vẫn thấy khỏe mạnh, là nhờ sự duy trì của ma lực. Nó phỉ báng các tỷ-khưu, mắng chửi đồ chúng, không ngại dùng cả lời chê bai tị hiềm. Nó ưa nói về kho báu ở nơi xa lạ, hoặc nơi ẩn cư của các bậc Thánh hiền. Những người đi theo nó thường thấy những nhân vật kỳ lạ. Đây gọi là một loại ma, hoặc thần núi rừng, thổ địa, thành hoàng, sông núi, tuổi già thành quỷ. Người bị ma gá vào, tán thành việc dâm dục, phá hủy giới luật Phật chế. Nó lén lút hành dâm với đệ tử, hoặc nó lại tinh tấn ăn toàn thảo mộc, hành xử thất thường, quấy rối người tu hành. Ðến khi chán rồi, không gá vào người nữa. Cả đệ tử và thầy đều rơi vào lưới pháp luật. Các ông nên biết rõ trước việc này, để khỏi rơi vào vòng luân hồi. Nếu các ông mê lầm không biết, sẽ đọa vào địa ngục vô gián. THAM CẦU CÓ THẦN LỰC Lại nữa thiện nam tử kia, thụ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tánh viên định phát minh. Trong tam-ma-địa, tâm thích thần thông và các loại biến hóa, nên nghiên cứu căn nguyên các phép ấy, tham cầu có thần lực. Lúc ấy thiên ma có được cơ hội thuận tiện, phóng tinh thần đến gá vào người khác, dùng miệng người ấy giảng nói kinh pháp. Người ấy không biết bị ma gá vào, còn tự bảo mình đã được vô thượng niết-bàn. Nó đến nơi người tham cầu thần thông, trải tòa ngồi thuyết pháp. Người đó hoặc nắm lửa trên tay, gom lửa lại rồi trải ra trên đầu tứ chúng đang nghe pháp, lửa trên đầu họ tỏa cao vài thước, mà họ không thấy nóng hoặc bị đốt cháy. Hoặc nó có thể đi trên nước như đi trên mặt đất, hoặc có thể ngồi bất động trên không, hoặc có thể đi vào trong bình hay trong túi xách, hoặc vượt qua cửa sổ, đi qua tường vách mà không ngăn ngại. Duy chỉ đối với binh đao thì không được tự tại. Nó tự tuyên bố đã thành Phật, nhưng mặc y phục cư sĩ, để cho tỉ-khưu lễ lạy. Nó hủy báng thiền định và giới luật, mạ lỵ đệ tử và rao bày lỗi người khác, không ngại cả cách chê bai và hiềm tỵ. Nó thường nói đến thần thông và tự tại, hoặc khiến cho người khác thấy được cõi Phật. Cõi ấy không thật, chỉ hiện ra do ma lực để huyễn hoặc người ta. Nó tán thán tham dục, không từ bỏ những việc thô tục. Làm những hạnh bất tịnh, cho đó là truyền pháp. Đây gọi là những giống sơn tinh, hải tinh, phong tinh, hà tinh, thổ tinh, và những loài tinh mị của tất cả cỏ cây đã sống nhiều kiếp, có sức rất mạnh trong trời đất. Hoặc là loại long yêu quái, hoặc là các vị tiên tuổi thọ đã hết, tái sanh làm yêu quái. Hoặc là những vị Tiên quả báo đã hết, đáng ra phải chết, nhưng thân thể không bị hủy hoại, nên loài yêu quái khác đến gá vào. Các loài nầy sống lâu thành quỷ, quấy nhiễu người tu hành. Khi chán rồi không gá thân người nữa. Cả đệ tử và thầy đều rơi vào lưới pháp luật. Các ông nên biết rõ trước việc này, để khỏi rơi vào vòng luân hồi. Nếu các ông mê lầm không biết, sẽ đọa vào địa ngục vô gián. THAM CẦU SỰ RỖNG KHÔNG SÂU Lại nữa thiện nam tử kia, thụ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tánh viên định phát minh. Trong tam-ma-địa, tâm ưa vào nơi tịch diệt, nghiên cứu tánh biến hóa, mong cầu tánh rỗng không sâu lắng. Lúc ấy thiên ma có cơ hội thuận tiện, liền phóng tinh thần bay đến gá vào người khác, dùng miệng người ấy giảng nói kinh pháp. Người ấy thật không biết bị ma gá vào, còn tự tuyên bố mình được vô thượng niết-bàn. Nó đến nơi người tham cầu không tịch, trải tòa ngồi thuyết pháp. Ở trong đại chúng, thân hình nó bỗng dưng biến thành không, chẳng ai thấy được, rồi từ hư không bỗng dưng nó lại hiện ra, khi còn, khi mất một cách tự tại. Hoặc hiện thân trong suốt như ngọc lưu ly, khi duỗi tay chân, thơm mùi hương chiên đàn. Hoặc đại tiểu tiện ra chất cứng như đường phèn. Nó phỉ báng, huỷ phạm giới luật, khinh thường các vị xuất gia. Nó thường nói không có nhân quả. Khi chết là hoàn toàn mất hẳn. Chẳng có đời sau, chẳng có thánh phàm, dù các vị ấy đã được không tịch, nhưng vẫn lén lút làm chuyện dâm dục. Người cùng nó làm chuyện dâm dục cũng được tâm rỗng không và bài bác nhân quả. Đây là tinh khí do nhật thực, nguyệt thực tụ vào các loại vàng ngọc, các loại nấm quý hiếm, kỳ lân, phụng hoàng, rùa hạc. Tinh khí ấy giúp cho các sinh vật đó sống hàng ngàn, hàng vạn năm không chết, rốt cuộc thành tinh linh, sinh ra nơi cõi nước này, tuổi già thành ma, phá rối người tu hành. Đến khi chán rồi, không gá vào người nữa, cả thầy trò đều rơi vào lưới pháp luật. ông nên biết rõ trước việc này, để khỏi rơi vào vòng luân hồi. Nếu các ông mê lầm không biết sẽ đọa vào địa ngục vô gián. THAM CẦU SỐNG LÂU Lại nữa thiện nam tử kia, thụ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tánh viên định phát minh. Trong tam-ma-địa, tâm ưa sống lâu, khổ nhọc nghiên cứu tinh vi, mong cầu được bất tử, thoát khỏi sự sống chết nơi thân xác. Nôn nóng tham cầu tướng vi tế biến dịch sinh tử, mong được thường trụ lâu dài trong ấy. Lúc ấy thiên ma có được cơ hội thuận tiện, phóng tinh thần bay đến gá vào người khác, dùng miệng người ấy giảng nói kinh pháp. Người này thật không biết bị ma gá, còn tự tuyên bố đã chứng được vô thượng niết-bàn. Nó đến bên người tham cầu sống lâu, trải tòa ngồi thuyết pháp. Nó thích khoe việc có thể đi lại mọi nơi, rồi trở về mà không ngăn ngại, có thể dạo chơi ngàn dặm rồi trở về trong chớp mắt. Nó có thể lấy đem về những đồ vật từ những nơi nó đã đến. Hoặc nó có thể bảo một người đi từ phía đông sang phía tây của một căn phòng trong khoảng cách chỉ cần đi vài bước, thế mà người ấy có đi hết năm cũng không đến được. Do đó mọi người đều tin lời người bị ma gá, lầm cho đó là Phật. Nó thường nói: Chúng sanh trong mười phương đều là con của ta. Ta sinh ra chư Phật, ta tạo ra thế giới. Ta là Phật đầu tiên, ta tạo dựng thế giới này một cách ngẫu nhiên, không do tu mà thành. Đây gọi là Trụ thế tự tại thiên ma, khiến loại quyến thuộc chưa phát tâm như giá-văn-trà, hay Tỳ-xá đồng tử ở cõi Tứ thiên vương, thích hư minh, đến ăn tinh khí của người tu hành. Hoặc không nương nơi thầy (người bị ma gá vào) mà chính hành giả thấy, bọn đó tự xưng là thần Chấp kim cang đến cho sống lâu. Hoặc bọn đó biến thành phụ nữ xinh đẹp, cùng hành giả cuồng nhiệt làm việc dâm dục. Nên chưa đầy một năm, gan não hành giả khô kiệt, miệng lẩm nhẩm một mình, nghe như tiếng của loài yêu mỵ. Người ngoài chưa rõ nguyên nhân, nên phần nhiều người bị như thế đều rơi vào pháp luật. Chưa kịp chịu hình phạt, đã bị chết khô. Ma quấy phá người tu, cho đến phải chết. Các ông nên biết rõ tình trạng này, để khỏi rơi vào vòng luân hồi. Nếu các ông mê lầm không biết, sẽ đọa vào địa ngục vô gián. LỜI KHUYÊN RĂN CỦA ĐỨC THẾ TÔN TỔNG KẾT VỀ TƯỞNG ẤM A-Nan nên biết, trong thời mạt pháp mười thứ ma ấy, hoặc xuất gia tu tập theo giáo pháp của Như Lai, hoặc chúng gá vào thân người, hoặc tự biến thành nhiều dạng khác nhau. Chúng đều tự xưng đã thành bậc chánh biến tri. Chúng nó khen ngợi dâm dục, phá luật nghi của Phật chế. Thầy trò ma truyền dạy nhau về dâm dục. Tinh thần tà vạy như thế, mê hoặc tâm ý người tu hành, trải qua ít nhất chín đời, nhiều thì cả trăm thế hệ. Khiến kẻ chân tu đều rơi vào quyến thuộc của ma. Sau khi chấm dứt mạng sống, ắt phải đọa làm dân của ma. Đánh mất chánh biến tri, và đọa vào địa ngục vô gián. A-Nan, ông nay chưa nên vội vào niết-bàn, dù ông đã đạt được quả vị vô học. Hãy lưu giữ lời nguyện đi vào cõi đời mạt pháp kia, phát lòng đại bi cứu độ các chúng sanh có lòng tin chân chánh sâu xa, khiến cho họ không mắc vào tà ma, giúp cho họ có được chánh tri kiến. Nay Như Lai đã giúp ông thoát ra khỏi sinh tử. Nay ông vâng lời Phật dạy, đó gọi là báo ơn Phật. A-Nan, mười cảnh giới hiện ra trong thiền định như thế, đều do tưởng ấm và tâm dụng công giao xen. Chúng sinh ngu mê, không biết lượng sức mình, gặp nhân duyên đó, mê không tự biết, còn nói đã chứng thánh, thành tội đại vọng ngữ, phải đọa vào địa ngục vô gián. Vào thời mạt pháp, sau khi Như Lai nhập niết-bàn, các ông cần phải đem lời dạy của Như Lai chỉ bày cho chúng sinh, khiến cho họ được tỏ ngộ nghĩa đó. Đừng để cho thiên ma có dịp quấy phá. Phải giữ gìn, che chở cho chúng sanh thành đạo vô thượng.”

“ĐỌC TIN TỨC” – THÓI QUEN NÀY LẤY ĐI CỦA BẠN NHỮNG GÌ ?

Bạn sử dụng Facebook được mấy năm rồi ? Trong những năm đó, bạn đã cập nhật được bao nhiêu tin “hot” ? Bạn có bỏ lỡ tin nào, “trend” nào dưới đây không ? Tổng thống Mỹ Obama sang thăm Việt Nam năm 2016. Đội tuyển Pháp vô địch World Cup 2018. Cuộc tranh cử tổng thống Mỹ năm 2020 giữa Trump và Biden. Siêu tàu chở hàng mắc kẹt ở kênh đào Suez. Cãi nhau, bốc phốt các sao showbiz ở Việt Nam năm 2021… Toàn những tin hot rầm rộ mạng xã hội, cả Facebook lẫn Youtube, cả báo chí lẫn truyền hình, cả trong nhà ra đến ngoài ngõ, người người hăng say bàn luận, phân tích. Chưa kể đến hàng tỉ các tin ở tầm phường xã, làng bản… cập nhật không ngừng nghỉ. Đến mức mà ăn cơm với gì, uống nước gì ở quán nào, người ta cũng đăng lên thành một tin cho dân tình Facebook xôn xao commment. Cho tôi hỏi thật một câu nhé, trong những tin bạn đọc được, và được mọi người sôi nổi bàn tán mà bạn còn nhớ, những tin nào đã giúp cuộc sống của bạn hạnh phúc hơn ? giúp cho trí tuệ của bạn mở mang hơn, hay ít nhất giúp bạn thành công trong một việc cụ thể nào đó ? Ở chiều ngược lại, bạn có biết những thông tin ấy đã lấy mất đi trong bạn những gì không ? Bạn có nhận thấy, càng những năm gần đây, khi mà thói quen lướt Facebook xem hết tin này, đến tít khác, hết sự vụ này đến hình ảnh khác … càng ăn sâu vào máu, thì bạn ngày càng khó lòng kiên nhẫn và tập trung để đọc hết một cuốn sách hay, hoặc thậm chí ngay đến một bài viết dài mà sâu sắc, bạn cũng cảm thấy khó khăn để đọc cho hết được không ? Bạn có nhận thấy khi quen với việc xem các video siêu ngắn trên Tiktok, thì bạn ngày càng khó xem hết các video dài truyền tải các thông điệp sâu sắc không ? Vì sao vậy ? Vì dung lượng trong bộ nhớ của bạn đã bị các tin tức “đốt sạch”, không còn chỗ để trí tuệ sử dụng khi cần nữa. Sự thật, việc lướt tin lấy đi của bạn rất nhiều. Để bạn hình dung ra rõ hơn, tôi xin trích một đoạn nguyên văn trong cuốn sách “Nghệ thuật tư duy rành mạch” của Rolf Dobelli : “…Chúng ta đều vô cùng thạo tin, ấy vậy mà những gì chúng ta biết lại vô cùng hạn hẹp. Vì sao vậy? Vì hai thế kỷ trước, chúng ta phát minh ra một loại hình kiến thức độc hại có tên là “tin tức”. Tin tức với bộ não cũng giống như đường với cơ thể ta vậy: gây thèm muốn, dễ tiêu hóa – và có tính hủy hoại cao về lâu về dài. Ba năm trước, tôi tiến hành một cuộc thử nghiệm. Tôi ngừng nghe và đọc tin tức. Tôi ngừng đặt báo và tạp chí. Tôi dẹp luôn cả ti vi và đài phát thanh. Tôi xóa các ứng dụng tin tức khỏi chiếc iPhone của mình. Tôi còn không thèm động vào một tờ báo miễn phí nào và cố tình nhìn đi chỗ khác khi có ai đó trên máy bay tìm cách mời tôi đọc một tin tức nào đó. Những tuần đầu tiên quả thật cũng khó khăn. Hết sức khó khăn. Tôi luôn luôn sợ mình sẽ bỏ lỡ điều gì đó. Thế nhưng sau một thời gian, tôi có được một cách nhìn. Kết quả sau ba năm, tôi suy nghĩ sáng suốt hơm, nhiều kiến thức giá trị hơn, những quyết định tốt hơn, và có nhiều thời gian rảnh hơn hẳn. Còn điều tuyệt với nhất? Tôi chưa bé bỏ lỡ điều gì quan trọng cả. Mạng lưới xã hội của tôi không phải Facebook, mà là mạng lưới trong xã hội thực bao gồm bạn bè và người quen bằng xương bằng thịt có tác dụng như một công cụ lọc tin tức giúp tôi không ngừng cập nhật. Có hàng tá lý do để bạn từ bỏ theo dõi tin tức. Đây là ba lý do hàng đầu. Đầu tiên, bộ nào của chúng ta phản ứng khác nhau với các kiểu thông tin khác nhau. Những chi tiết gây sốc, giật gân, liên quan đến cá nhân, ổn áo, thay đổi nhanh chóng đều kích thích chúng ta, trong khi đó những thông tin chưa bị chế biến, phức tạp và mang tính trừu tương lại làm chúng ta bình thản. Các nhà sản xuất tin tức tận dụng triệt để điều này. Những câu chuyện cuốn hút, những hình ảnh bắt mắt và những yếu tố” giật gần thu hút sự chú ý của chúng ta. Hãy dành giây lát nhớ lại mô hình kinh doanh của họ: các nhà quảng cáo mua chỗ và qua đó tài trợ bảo chí với điều kiện bảo đăng quảng cáo của họ. Kết quả: tất cả những gì tinh vi, phức tạp, trừu tượng và sâu sắc sẽ bị lọc bỏ một cách có hệ thống, mặc dù những điều đó có liên quan mật thiết hơn đến cuộc sống của chúng ta cũng như sự hiểu biết của chúng ta về thế giới. Chỉ vì đọc tin tức, chúng ta cứ quanh quẩn với một tấm bản đồ méo mó trong đầu về những rủi ro và sự đe dọa chúng ta thực sự phải đối diện Lý do thứ hai là, tin tức không hề đáng bận tâm. Trong mười hai tháng vừa qua, bạn có lẽ đã tiêu thụ khoảng chừng 10.000 mẫu tin – có lẽ vào khoảng ba mươi tin mỗi ngày. Xin hãy thành thật: hãy thủ điểm lại một trong số tin tức đó, chỉ một tin duy nhất thôi, đã góp phần giúp bạn đưa ra quyết định tốt hơn trong cuộc sống riêng, trong sự nghiệp hoặc trong công việc làm ăn của bạn – và so sánh với việc bạn không hề đọc mẩu tin đó. Không hề có một ai mà tôi từng hỏi qua có khả năng điểm tên hơn hai bài bảo hữu ích trong số cả 10.000 bản tin. Một kết quả thảm hại. Các hàng thông tấn khẳng định rằng thông tin của họ đem lại cho bạn một thứ lợi thế cạnh tranh. Nhiều người đã cắn câu. Trên thực tế, việc ngốn tin tức còn biểu thị cho sự bất lợi trong cạnh tranh. Nếu như tin tức thực sự giúp người ta thăng tiến, thì các nhà báo đã đứng đầu bảng xếp hạng thu nhập rồi. Nhưng thực tế lại không phải như thế, ngược lại là khác. Thứ ba, tin tức chỉ tổ khiến ta phí thời gian. Một người bình thường trung bình phí phạm nửa ngày trời mỗi tuần cho việc theo dõi tình hình tin tức. Xét trên phạm vi toàn cầu, đây là một sự thiệt hại kinh khủng về năng suất làm việc. Hãy nghĩ đến loạt tấn công khủng bố ở Mumbai hồi năm 2008. Chỉ vì lòng khao khát muốn nổi tiếng, lũ khủng bổ đã sát hại 200 người. Giả sử có một tỷ người, tức là khoảng gần bằng dân số của Ấn Độ, dành ra một tiếng đồng hồ trong quỹ thời gian của họ để theo dõi tình hình sau vụ khủng bố họ đọc tin tức cập nhật theo từng phút một và theo dõi các cuộc trao đổi ngớ ngẩn của một vài “chuyên gia” và “nhà bình luận”. Vậy chúng ta tính toán ra như sau: một tỷ người nhân với một tiếng đồng hồ sao nhãng, bằng một tỉ giờ không làm việc. Nếu quy đổi số giờ này, ta sẽ thấy việc theo dõi tin tức làm lãng phí khoảng 2.000 cuộc đời – lớn gấp mười lần số tuổi thọ của những người đã chết trong vụ tấn công trên, xong thực tế việc mọi người chú ý, và bàn luận về tin này cũng chẳng giải quyết được gì. Nhận định này quả có phần châm biếm, nhưng chính xác. Tôi tin rằng quay lưng với tin tức sẽ có lợi cho bạn không kém gì một liều “thần dược” tăng trí tuệ, sức thông minh cho bạn. Xin hãy từ bỏ thói quen đó, triệt để. Thay vào đó, hãy đọc những bài viết truyền tải kiến thức sâu sắc, và đọc sách.” ________________ Hi vọng bài viết này sẽ giúp bạn tỉnh táo hơn, nhận ra một loại bẫy tư duy mà thời đại thông tin bùng nổ này đã lập ra, không còn làm nạn nhân của chúng nữa. Dừng quan tâm đến các tin. Và làm ơn, cũng đừng đem những bữa ăn bữa uống, những chuyện tầm phào không đầu không cuối trong cuộc sống của mình, đăng lên thành những “tin tức” để bạn bè bình phẩm, làm tăng bản ngã của chính mình và “đốt cháy” bộ nhớ của mọi người. Tin tôi đi, điều đó không đáng đâu. Hãy giành thời gian quý báu của bạn cho những điều sâu sắc, đọc những bài viết, những kinh sách Phật giáo đầy trí tuệ, mở ra con đường an vui, tươi sáng cho cuộc đời mình. Ở nơi sâu thẳm nào đó, luôn còn rất nhiều những điều quý giá đang chờ trí tuệ của bạn đến khám phá. Đừng quên điều đó.

GIẢI MÃ DUYÊN & NỢ

Cuộc sống của chúng ta đang sống có hàng trăm ngàn các mối duyên chằng chịt đan xen vào nhau vô cùng phức tạp, nào vợ chồng con cái, nào cha mẹ ông bà, họ hàng nội ngoại, nào sếp với đồng nghiệp, bạn bè với hàng xóm … cho đến người lạ. Và tôi dám chắc bạn biết rõ sự khác nhau ghê gớm như thế nào giữa các mối quan hệ ấy. Có những mối thân tình giúp cuộc sống của bạn tươi đẹp hơn, cũng có những mối quan hệ độc hại, khiến bạn lao đao, khốn đốn. Nguyên nhân gì khiến mọi người đến với nhau ? Và tại sao có những mối quan hệ ngày càng khăng khít hơn, trong khi có những mối quan hệ ban đầu tốt đẹp, sau lại trở mặt với nhau, thành ra kẻ thù ?

NGUỒN GỐC – PHÂN LOẠI

“Hễ gặp nhau là có duyên”. Hẳn sẽ có rất nhiều người nghĩ như vậy. Điều đó đúng, xong không phải là luôn như vậy. Duyên nợ không phải một thứ cố định, sắp đặt rằng ta kiếp nào cũng chỉ gặp được những người có duyên nợ từ quá khứ. Phải có “duyên mới” thì dần tiến tới thành “duyên cũ” được chứ ? Nếu không thì những duyên cũ từ đâu mà ra ? Vậy nên ta chia thành 2 loại:

Thứ nhất: Duyên cũ từ tiền kiếp

Đó là kiếp này gặp do tiền kiếp ta và người đó đã có mối quan hệ thân bằng quyến thuộc gì đó, hoặc có mối duyên nợ ân oán gì đó. Thường khi gặp lại kiếp này, sẽ trở thành những mối quan sâu nặng như cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh em, bạn thân… hoặc ở phía đối lập, là kẻ thù sống mái. Hầu như những mối quan hệ sâu đậm đều có nhân duyên từ trước. Có thể họ đến để báo ân, đòi nợ hoặc thực hiện lời nguyện từ kiếp trước… hay đơn giản chỉ là tiếp nối cái duyên cũ mà thôi.

Thứ hai: Duyên mới.

Đó là từ hai đối tượng chưa hề có tương tác gì với nhau trong quá khứ nhiều kiếp, nhưng hiện tại do một yếu tố môi trường nào đó kéo hai bên xích lại gần nhau, tạo ra một mối lương duyên mới. Sau nhiều kiếp bồi đắp, thì duyên mới sẽ ngày càng gắn bó hơn, khi đó, có thể coi đây là duyên cũ rồi. Vậy có những trường hợp nào để tạo nên một duyên mới ? Có rất nhiều. Vô vàn trường hợp để chúng ta bắt đầu một duyên mới, tuy nhiên tôi có thể liệt kê ra một số cách cơ bản như sau: Cùng có phước nghiệp tương đồng: Những người, những chúng sinh có chung phước-nghiệp sinh ở một chỗ, có thể gặp nhau tương tác qua lại mà hình thành duyên. Như cùng sinh ra làm người, đều ở tại Trái Đất, gần hơn nữa thì đều sinh ra tại Việt Nam hoặc sinh ra tại một tỉnh, một thành phố, một huyện một xã, hay cùng đi trên một chuyến tàu, cùng đi xem phim trong một rạp chiếu .v.v… tóm lại là cùng xuất hiện trong một môi trường nào đó, và có thể tương tác với nhau ít nhiều. Rồi thêm một số yếu tố xúc tác như vẻ ngoài lôi cuốn, hay tố chất nổi bật nào đó, nhìn thấy nhau dễ thương, dễ mến thì khởi lên một chút thiện cảm, hình thành duyên mới, gọi là sơ duyên. Ví dụ, cùng sinh ra trong một xã, bạn biết cô gái kia, cô gái kia cũng biết bạn nhưng không quen, không thân, không nói chuyện, không có mối quan hệ gì ràng buộc, chỉ là thấy cô ấy đẹp nên lâu lâu nhìn trộm một chút, rồi khởi một vài ý nghĩ ao ước, yêu đương gì đó. Xong chẳng bao giờ gặp lại trong kiếp ấy. Tuy rất qua loa, xong đó lại chính là manh nha để dần hình thành lên những lần gặp sau ở những kiếp xa xôi nào đó. Một ví dụ khác, bạn là người yêu động vật, ở gần nhà bạn hay có những chú chó chạy lang thang ngoài đường, bạn gặp thường gọi lại, xoa đầu vuốt ve một cách trìu mến, cũng sẽ tạo thành duyên mới. Vì sinh tâm quý mến, nên kiếp sau gặp lại thường sẽ vui vẻ với nhau, gọi là thiện duyên. Xong cũng có khi ngược lại, do khi gặp mà sinh tâm khó chịu, ghét bỏ, thì khi gặp lại ở kiếp khác thường có ác cảm. Ví dụ đi ngoài đường, một ông lão trông thấy một cậu trai trẻ ăn mặc lố lăng, vẻ mặt dễ ghét, ông sinh tâm ghét bỏ, khởi ý nghĩ : “Thằng này mà phải con tôi, tôi đánh cho nhừ tử”. Với ý nghĩ ấy, hai người đã hình thành một ác duyên, sẽ gặp nhau trong những kiếp sau, và ông lão sẽ đánh chàng trai kia nhừ tử, theo đúng ý nguyện của ông, từ đó oan oan tương báo nối tiếp. Cùng có duyên với một đối tượng: Nố giống với định luật bắc cầu, A có duyên với B, B lại có duyên với C, do thường gặp B, nên A và C dần dần hình thành duyên. Ví dụ trong một tiệc cưới, do cùng quen biết cô dâu chú rể được mời đến dự tiệc, bạn và anh chàng xa lạ kia cùng ngồi chung một bàn, có nói đôi ba câu chào hỏi, sau đó ăn xong ai về nhà nấy, từ đó chẳng gặp lại nhau, lâu dần quên nhau luôn. Đây cũng có thể xem là một duyên mới. Cùng sở thích, đồng chí hướng: Những người có cùng sở thích, chí hướng sẽ thường lui tới những môi trường chung, nơi mà sở thích, chí hướng của họ được phát huy, từ đó gặp nhau mà tạo ra duyên. Như người thích âm nhạc thường tụ hội ở những nhạc hội; người thích sách thường tụ hội ở thư viện, nhà sách; những người mến mộ Phật Pháp, thường đi chùa, tham gia các diễn đàn Phật Pháp … từ đó có cơ hội tương tác với nhau mà hình thành, phát triển các duyên mới. Ví dụ trong một buổi giảng pháp tại một chùa nào đó, bạn và người bên cạnh không quen biết gì nhau, không để lại ấn tượng gì, chỉ đơn thuần do nghĩ cùng là con Phật với nhau, nên dễ đồng cảm, hai bên lịch sự mỉm cười chào một lần rồi thôi. Về nhà bạn cũng quên luôn không nhớ gì. Đây cũng có thể hình thành một duyên mới. Trên đây là vài lời tóm gọn, để bạn dễ hiểu, chứ thực tế sẽ còn phức tạp hơn nhiều lần.   Như vậy, những nhân duyên chúng ta gặp trong đời, không chỉ có duyên cũ gặp lại, mà còn phát sinh nhiều duyên mới. Nếu là 100% chỉ là những nhân duyên cũ, thì trong vô lượng kiếp, chúng ta sẽ chỉ quen biết, và tương tác với một nhóm nhỏ người mãi thôi. Nhưng thực tế không phải vậy, chúng sinh có vô biên vô lượng duyên nợ dày đặc với khau, không chỉ ở một thế giới, mà là khắp vũ trụ. Tóm lại, có rất nhiều kiểu cơ hội khác nhau để hai đối tượng gặp – tương tác với nhau mà dần hình thành duyên nợ, gọi là cơ duyên. Nếu chỉ là gặp và khởi niệm ưa thích, muốn gặp, muốn tiếp xúc nữa thì sẽ tạo ra thiện duyên. Nếu gặp mà có ác cảm, khởi niệm ác ý với nhau, cũng sẽ tạo ra duyên, xong là ác duyên, gặp nhau để gây hấn, cà khịa. Nếu có thêm các hành động như một người giúp đỡ, thi ân, tạo lợi ích cho một người (rộng ra là một chúng sinh giúp đỡ một chúng sinh khác) thì không chỉ là duyên, mà sâu hơn một bậc, trở thành nợ, gọi là nợ ơn. Ngược lại, khi một bên tổn hại bên kia, bất kể là tinh thần, hay vật chất, bất kể là thân, khẩu, ý, cũng sẽ tạo ra nợ, mà là nợ oán. Bất luận nợ ân hay nợ oán, kiếp sau con nợ đều sẽ phải đền trả cho chủ nợ đầy đủ cả vốn lẫn lãi theo hàng ngàn kiểu khác nhau mà luật Nhân quả an bài, rất khó mà kể hết. Duyên và Nợ, sẽ song song đồng hành cùng nhau, gắn kết hoặc chia rẽ các mối quan hệ của chúng sinh một cách vô cùng phức tạp. Có khi ban đầu gặp, hai người  có duyên mà không nợ, có khi có nợ mà không duyên, hoặc đồng thời có cả duyên lần nợ. Từ một mối sơ duyên trở thành những duyên sâu đậm, có thể sẽ phải trải qua hàng trăm lần hội ngộ ở rất nhiều kiếp cách xa nhau, ngày càng tương tác mạnh hơn. Kiếp đầu gặp nhau, chỉ là mỉm cười chào. Kiếp sau gặp sẽ có thể nói chuyện đôi ba câu. Nếu hợp, kiếp sau gặp tiếp có thể sẽ giúp nhau vài việc lặt vặt, như lấy giùm nhau món đồ, chỉ đường giúp vài câu… Kiếp tiếp theo, do có chút nợ, hai bên sẽ có xu hướng giúp qua giúp lại, như gặp nhau đúng lúc xe bị hư giữa đường, nên một người dừng lại sửa xe giúp một người chẳng hạn. Cứ thế ân tình có thể sẽ ngày càng lớn, nhiều kiếp sau trở thành những duyên sâu đậm như cha mẹ -con cái, vợ chồng, anh chị em ruột, bạn thân chí cốt… Lưu ý là chỉ “có thể” thôi nhé. Ở đây ta cần làm rõ câu hỏi này : Liệu có duyên có nợ rồi, thì sẽ ở bên nhau, gắn kết vui vẻ mãi không ? Không ! Vì hai bên có chịu cư xử tốt, tạo thiện cảm với nhau hay không, còn tùy thuộc vào cái ĐỨC của mỗi người, chứ không phải cứ có duyên thì người ta sẽ cư xử tốt với nhau mãi. Các cặp vợ chồng đã kết hôn được với nhau, thì ai mà chẳng có duyên nợ sâu đậm, nhưng vì cớ gì mà trong rất nhiều gia đình, vợ chồng sau nhiều năm sống chung, quan hệ trở nên tồi tệ, không thèm nhìn mặt nhau ? Nếu so sánh, thì các duyên cũ gặp lại, dễ dàng trở nên sâu đậm hơn so với duyên mới. Nhưng không phải vì thế mà các duyên cũ luôn bền vững hơn, sâu sắc hơn các duyên mới đâu. Muốn biết duyên cũ sẽ tốt lên, sâu nặng thêm, hay xấu đi, phai mờ đi như thế nào, thì còn từng người sống – cư xử với nhau như thế nào ? Duyên có thể sinh ra, cũng có thể mất đi theo 4 kiểu sau:  

4 KỊCH BẢN CỦA MỘT MỐI QUAN HỆ

 

Trường hợp 1 : Duyên tốt càng tốt hơn.

– Nếu bạn gặp một người khác có duyên nợ tốt với bạn từ tiền kiếp, kết thân nhanh chóng. Do có Đức, nên bạn sống, cư xử như thế nào đó, khiến người có duyên nợ cũ kia cảm thấy ngày càng YÊU QUÝ hơn, trân trọng hơn, muốn ở gần, kết giao thân thiết hơn… Vì có nợ, nhân quả khiến người kia tìm cách trả nợ cho bạn, giúp đỡ bạn rất nhiều. Xong vì có Đức, bạn không chỉ biết hưởng thụ, lại tiếp tục giúp người đó nhiều thứ khác. Cứ giúp qua giúp lại, nợ ân cũ chưa trả hết đã có thêm rất nhiều món nợ mới. Về mặt duyên, vì hai bên đều cư xử tốt, ngày càng quý mến nhau hơn, khiến cho Duyên ngày càng được củng cố cho sâu nặng hơn, khiến cho nhiều kiếp sau bạn và người kia thường xuyên gặp lại và tiếp tục mối lương duyên đầy ân nghĩa.  

Trường hợp 2 : Duyên nợ tan biến.

– Cũng như trên, nếu một người gặp một người có duyên từ tiền kiếp, kết thân nhanh chóng. Xong khác một điều, anh ta sau đó sống- cư xử như thế nào đó mà khiến người kia CHÁN quá, chỉ mong không bao giờ gặp lại. Có thể do lối sống ích kỷ, chỉ biết có người đối xử tốt với mình thì mình hưởng thụ, thấy có người  tôn trọng, kính nể mình vì duyên nợ cũ, thì mình hống hách, sai bảo con nợ túi bụi cho sướng miệng, chứ không tạo thêm ân nghĩa tốt lành gì mới .v.v… Bao nhiêu nợ cũ thì một bên lo trả, một bên lo đòi, chẳng bao lâu là nợ cũ hết sạch, không phát sinh nợ mới, kết hợp thêm tâm lý chán ngán của người  kia, thì duyên tiêu tán. Nợ vừa hết một cái sẽ xa nhau không gặp lại nữa.  

Trường hợp 3: Duyên nợ ngày càng tồi tệ

– Trường hợp xấu nhất, là một trong hai bên, hoặc cả hai bên đạo đức bị khiếm khuyết nghiêm trọng. Dù từ trước có duyên, có nợ với nhau, xong sống, cư xử sao đó, hoặc chửi bới mắng nhiếc, hoặc vô ơn tráo trở, hoặc lợi dụng xâm hại nhau quá đáng .v.v… khiến đối phương dần trở nên căm ghét, oán hận, thậm chí muốn báo thù… Nợ cũ bao nhiêu nhanh chóng trả sạch, thậm chí bên chủ nợ đòi quá lố, bị âm nợ. Từ chủ nợ đổi vai trở thành con nợ. Theo cách này, kiếp sau hai bên sẽ lại phải gặp nhau để tiếp tục mối oán hận, gây khổ sở cho nhau. Oan oan tương báo có thể nối dài vô tận nếu không biết cách hóa giải. Nếu lỡ rơi vào tình trạng thứ 3 này, thì làm thế nào hóa giải ?

2 cách để trả hết nợ

Cách một là cứ như thường tình, hành hạ lẫn nhau, dằn vặt lần nhau, chịu đựng lẫn nhau cho tới khi chủ nợ lấy lại hết món nợ,( có khi nợ hết rồi mà vẫn tiếp tục hành nhau, thành ra một món nợ mới, con nợ lại biến thành chủ nợ trong kiếp sau ). Cách này rất đau khổ, và cũng rất lâu mới thanh toán xong món nợ, lại hay sinh ra những oán hận dây dưa nhiều kiếp với nhau, gọi là oan oan tương báo, kiếp này A hại B, kiếp sau B hại ngược lại A, kiếp sau nữa A lại hại B, cứ thế tuần hoàn, chẳng biết khi nào mới chấm dứt. Do vì khi bị hại, ta chẳng biết đó là oan nghiệp kiếp trước, cứ mãi khởi tâm lí oán hận, muốn báo thù, thành ra cứ gặp nhau hoài để thỏa tâm báo thù. Đây là hạ sách, và thường thì mọi người vẫn luôn vô thức làm theo cách này. Cho dù có biết sơ qua về luật Nhân quả, nhưng không ở trình độ tinh thông, thì vẫn cứ theo cách này, người ta khuyên nhau nhẫn nhục, cam chịu, trong khi vẫn luôn có một cách khác hay hơn nhiều.   Và cách đó là cách hai : tạo phước rồi hồi hướng trả nợ Người thiếu nợ tạo thật nhiều công đức lành, nhất là những công đức trong Phật Pháp như lạy Phật, in kinh sách ấn tống, tạc tượng Phật, lạy Phật, niệm Phật, tụng kinh, trì chú, cúng dường Phật, Pháp, Tăng .v.v… hay những phước thế gian như bố thí, phóng sinh, cứu người, trồng cây, xây cầu đắp đường.v.v… được bao nhiêu công đức hồi hướng cho chủ nợ, đồng thời khởi tâm sám hối những oan trái kiếp trước đã gây ra với chủ nợ, không khởi thêm tâm oán hận nhau nữa. Cách này sẽ thanh toán món nợ một cách nhanh chóng, êm đẹp, vừa khiến chính mình tăng trưởng thiện pháp, lại cũng tăng trưởng thiện pháp cho chủ nợ, khiến cho nhiều kiếp sau có gặp lại, cũng trở thành duyên lành, giúp đỡ nhau tu hành cho đến khi viên thành Phật Đạo. Ví dụ như sau cho dễ hiểu, một người vào nhà hàng kêu một bàn tiệc thịnh soạn, sau khi ăn xong thì không có tiền trả. Chủ nhà hàng liền dùng vũ lực bắt anh ta phải trả hết. Nếu như anh ta ” tiền khô cháy túi”, thì buộc lòng phải ở lại rửa chén bát, quét dọn trừ nợ dần, thế thì phải 10 năm mới hết nợ. Trong thời gian này nhiều khi món nợ lại phát sinh thêm vì những khi anh ta làm bể đồ, gây thiệt hại… chủ tớ mắng chửi nhau, hiềm hận lẫn nhau kéo dài, đây là hạ sách. Nếu như anh ta khá hơn một chút, có công việc ổn định sẵn, hàng tháng đi làm lấy lương trả, thế thì 3 tháng là hết nợ. Nếu như anh ta khá hơn nữa, vốn là nhà có sẵn vàng bạc, kim cương ở nhà, chỉ là quên đem theo. Anh ta liền về lấy một ít đưa cho chủ nhà hàng, thế thì món nợ nhanh chóng được thanh toán, thậm chí còn thừa khiến chủ nhà hàng nợ ngược lại anh ta. Cách rửa bát trừ nợ ví như cách chúng ta hành hạ nhau, dằn vặt nhau cho tới khi hết nợ. Cách đi làm lấy lương trả nợ, ví như cách chúng ta dùng những phước thế gian như bố thí, cứu người, xây cầu, đắp đường, xây nhà tình thương.v.v… rồi hồi hướng phước đó cho chủ nợ. Cách về nhà lấy vàng bạc, kim cương đến trả nợ, ví như cách tạo những công đức xuất thế gian trong Phật Pháp như lạy Phật, trì tụng kinh chú, niệm Phật, ấn tống, đúc tạc tượng Phật, phóng sinh theo Nghi thức, độ sinh.v.v… Vì sao cách thứ 3 lại siêu việt như vậy ? Là vì công đức trong Phật Pháp không có cùng tận, gieo một nhân thì vô biên vô lượng kiếp sau vẫn còn tiếp tục sinh sôi nối nhau không dứt, cho tận đến khi thành tựu Phật Quả Toàn Giác, các phước thế gian không thể kéo dài lâu xa như vậy được.   Trên đây là so sánh sơ lược các loại nợ , và cách trả, cách hóa giải ân oán nợ nần. Còn trả mau hay lâu, phụ thuộc ở món nợ lớn hay nhỏ, mình hồi hướng công đức nhiều hay ít mà sẽ thấy hiệu quả khác nhau. Mỗi người có điều kiện khác nhau, duyên khác nhau, nên không thể ép nên làm công đức gì hồi hướng cho chủ nợ, tùy duyên mà thực hiện, càng nhiều càng tốt. Còn cách hồi hướng sau khi đã làm công đức như sau : ” Con nguyện đem công đức này hồi hướng cho … ( tên chủ nợ) được tiêu trừ nghiệp chướng, thanh tịnh cách phiền não, xóa bỏ mọi hiềm hận, tăng trưởng Bồ Đề Tâm, tăng trưởng trí tuệ, đức hạnh, sớm viên thành Phật Quả Vô Thượng, quảng độ chúng sinh.” Rất nhiều người đã áp dụng cách hồi hướng công đức như vậy mà hóa giải được những mâu thuẫn, xích mích với người thân trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Không những giải quyết được vấn đề trước mắt, mà còn tạo được công đức vô lượng cho chính mình và người khác đến tận vô lượng kiếp sau. Cách hóa giải trên sẽ sản sinh ra trường hợp thứ 4

Trường hợp 4: Duyên xấu thành tốt

Do tiền kiếp ta kết ác duyên với ai đó, hoặc tệ hơn là ta mắc nợ oán, vì gây tổn hại cho họ. Bây giờ gặp lại, họ nhanh chóng trở thành “oan gia ngõ hẹp”, họ có thể là người, cũng có thể là động vật, cũng có thể là vong hồn, bất kể dạng nào cũng thường nhằm vào ta tìm cách gây hấn, thù địch, tìm cách hại ta khốn khổ. Xong do vì hiểu Phật Pháp, hiểu rõ nhân quả luân hồi, ta không muốn cho oan oan tương báo mãi, nên với những người  hại mình, dù chẳng nhớ được tiền kiếp mình hại họ ra sao, chỉ biết là nhân quả không bao giờ sai, mình phải chịu khổ ắt kiếp trước mình đã gây nghiệp. Vậy nên thường sinh tâm sám hối, theo những bài, những nghi thức sám hối của đạo Phật như Từ Bi Thủy Sám, Lương Hoàng Sám, phẩm Sám hối trong kinh Kim Quang Minh, hay sám hối oan gia .v.v… chí thành kiên trì sám hối. Mặt khác, ta lấy ân báo oán, không những không trả thù mà còn cố gắng giúp đỡ, tạo lợi ích cho họ. Hoặc âm thầm làm phước, tạo nhiều công đức  khác nhau, rồi hồi hướng cho các vị oan gia gây hại cho ta liên tục. Việc này bắt buộc phải kiên trì, không dừng lại khi chưa thấy chuyển biến. Đến một lúc nào đó, oán nợ trả hết rồi, tự nhiên oan gia sẽ bỏ đi, hoặc sẽ thay đổi thái độ từ thù địch sang thân thiện, khi đó mới có thể dừng việc hồi hướng công đức, tạo lợi ích trả nợ cho họ được.

TỔNG QUAN

Qua 4 trường hợp trên, chúng ta không nên chỉ giải thích mọi việc bằng chỉ một chữ DUYÊN, mà còn phải suy nghĩ về tầm ảnh hưởng to lớn của chữ ĐỨC nữa. Duyên có thể do “Đức” mà sinh ra thêm, tốt đẹp thêm, cũng có thể do “Không có đức” mà mất đi, hoặc trở nên tồi tệ. Các Đức Phật, các vị Bồ Tát là những bậc vận dụng nguyên lý duyên nợ và đức hạnh một cách tinh tế nhất, triệt để nhất để hóa độ chúng sinh. Các Ngài dù mỗi vị một phong thái khác nhau, xong đều chung một điểm, đó là đều phát nguyện cứu độ tất cả chúng sinh thoát khỏi biển khổ luân hồi mà thành Phật hết. Từ bản nguyện vĩ đại ấy dẫn dắt, thông qua Tứ nhiếp pháp : Bố thí – Ái ngữ – Lợi hành – Đồng sự, các Ngài từng bước độ chúng sinh thoát khỏi biển khổ. Với những chúng sinh chưa có duyên, các Ngài sẽ gieo duyên. Vì đã tích chứa rất nhiều phước báu từ nhiều kiếp, các Ngài sinh về đâu cũng thường có thân tướng đẹp đẽ, khả kính, cùng với đủ các phước khác như trí tuệ, tài giỏi, đức hạnh, cư xử khéo léo, lời nói cuốn hút, hòa ái, bao dung v.v… khiến chúng sinh gặp là dễ dàng khởi tâm ái mộ, khâm phục, yêu kính. Đó là gieo duyên. Với những chúng sinh chưa có nợ, thì các Ngài sẽ thi ân để tạo ra nợ. Như đem tài sản ra bố thí, đem tài trí, sức lực ra giúp ích cho đời, dạy bảo Đạo lý, hay mọi cách có thể để đem lợi ích cho muôn loài chúng sinh, từ đó mà chúng sinh nợ ân các ngài rất nhiều. Khi đã có duyên nợ, kiếp sau gặp lại, các Ngài không hưởng thụ sự cung phụng, ngồi chờ chúng sinh trả nợ. Mà lại dùng duyên nợ đó để thuyết phục chúng sinh, dạy dỗ chúng sinh biết sống đúng Đạo lý, thực hành theo Phật Pháp sâu xa, thoát khỏi mọi khổ đau của luân hồi. Chúng sinh vì có duyên có nợ nên sẽ nghe theo, tu nhân tích đức, tạo nhiều việc thiện lành, vì thế mà sau được hưởng nhiều phước báo an vui. Phước báo đó từ đâu mà ra ? Là do chư Phật – Bồ Tát dạy dỗ mà có, vậy nên chúng sinh tiếp tục nợ ân các Ngài sâu nặng hơn. Các kiếp sau gặp, các Ngài lại tiếp tục vòng lặp ấy, dùng các món duyên nợ cũ mà dạy dỗ chúng sinh, nâng cấp dần lên những trình độ cao cấp hơn, tạo ra những công đức khổng lồ hơn. Nối tiếp như thế bất tận, càng về sau chúng sinh lại càng thăng tiến về trình độ, về phước đức, hưởng nhiều an lạc vi diệu hơn, và món duyên nợ ân nghĩa với chư Phật – Bồ Tát ngày càng sâu nặng hơn, không sao trả hết. Để rồi cuối cùng, các Ngài sẽ hoàn thành quá trình độ sinh, đưa một chúng sinh từ phàm phu chìm trong u mê đau khổ, tu tập nhiều kiếp mà trở thành một vị Bồ Tát, một Đức Phật giống như các Ngài đã thành tựu. Trở lại với cuộc sống thường nhật của chúng ta, hiểu về Duyên & Nợ, sẽ giúp bạn thấu hiểu được bản chất, cũng như xu hướng thay đổi khó hiểu giữa mọi người  trong gia đình, trong xã hội. Đây là một chủ đề rất thú vị. Ví như bạn là một người dân nước Việt, hiện nay Việt Nam có đến gần 100 triệu người, bạn không phải có duyên với hết thẩy, mà chỉ có sẵn duyên cũ để trở nên thân thiết với một nhóm nhỏ trong đó. Một số lớn hơn là những duyên mới. những sơ duyên, những người gặp qua loa, tiếp xúc một vài lần, không gắn bó gì lắm rồi thôi, chứ cũng không ai gặp gỡ với cả trăm triệu người Việt từ nam ra bắc được. Xong các hành động của bạn gieo vào xã hội, như ủng hộ miền Trung lũ lụt, những người không quen biết và không bao giờ gặp trong kiếp này, rồi rất nhiều kiểu tương tác tốt đẹp mới phát sinh với những người không quen biết, như quét rác, sửa đường, trồng cây cho cộng đồng, hiến máu, trang trí đường phố .v.v… Những việc làm xuất phát từ cái ĐỨC ấy, không chỉ tạo ra phước báo, mà sẽ tạo ra cả các duyên nợ mới, và kiếp sau bạn sẽ gặp lại họ trong những hoàn cảnh vui vẻ, chan chứa ân tình. Ngược lại, khi không có ĐỨC, nếu một người gieo các nhân xấu với nhiều người trong cộng đồng, thì kiếp sau đừng hỏi tại sao lại bị đời ghét bỏ đến vậy. Ví dụ một người có thói xả rác bừa bãi, gây mùi hôi thối cho nhiều người qua lại phải “lãnh đủ”. Những người chịu mùi hôi thối do rác đó sẽ sinh tâm oán giận, chửi mắng kẻ xả rác, nguyền rủa đủ kiếu… Hay một người sở hữu “giọng hát kinh hồn” tầm cỡ Chai -En, lại thích hát Karaoke với âm lượng cực đại, bắt cả làng, cả xóm phải gồng mình “tận hưởng” âm thanh trời phú ấy ngày này qua tháng khác. Đúng là họ phải có nghiệp gì đó, họ mới rơi vào tình cảnh phải chịu mùi hôi, chịu tiếng ồn như thế. Xong đâu phải ai cũng có thể nhẫn nhục không oán thán như Thánh nhân. Mà đa số gặp phải tình cảnh trái ý nghịch lòng, bất luận duyên nợ như thế nào cũng sẽ sinh tâm oán giận, chửi mắng kẻ xả rác, nguyền rủa kẻ mượn danh âm nhạc mà gào thét tra tấn làng xóm kia, không ít thì nhiều, không âm thầm thì công khai. Từ đó, một ác duyên mới đã hình thành, và kiếp sau, người xả rác và người chửi mắng, người  hát hò và những khán giả bất đắc dĩ sẽ gặp nhau. Ở kiếp đó, thì họ đã có duyên nợ với nhau rồi, họ sẽ tương tác với nhau, thường thì chẳng tốt lành gì, kiểu như vừa nhìn đã ghét, lời qua tiếng lại, rồi thượng cẳng chân, hạ cẳng tay v.v… Chuyện gì xảy ra tiếp thì còn phải xem phản ứng, cách sống của mỗi người, xem chữ Đức, xem sức nhẫn nhịn, hóa giải của mọi người. Nếu không hóa giải tốt, oan oan tương báo qua nhiều kiếp, chuyện nghiêm trọng nhất là chiến tranh nổ ra, máu chảy đầu rơi. Cứ như thế, có hàng vố số các việc lớn nhỏ mỗi người tác động vào thế giới trong một kiếp sống, sẽ tạo ra hàng tỉ nhân duyên mới sau mỗi kiếp sống. Vậy nên chúng sinh trong vũ trụ có nhân duyên dày đặc với nhau, biến hóa khôn lường. Duyên và Nợ, sơ lược là vậy. Đọc lại nhiều lần, nắm chắc được bài học này, là bạn đã nắm được chìa khóa cải tạo các mối nhân duyên trong cuộc sống. Cũng như phần nào lí giải được muôn hình vạn trạng các mối quan hệ khó hiểu, biến hóa khó lường giữa mọi người  với nhau. Tầm nhìn của bạn sẽ khác đi rất nhiều, chủ động tránh cho các mối nhân duyên đi vào tệ hại, căng thẳng, mà làm cho các mối nhân duyên tốt đẹp hơn. Dần dần thăng tiến trên con đường tu hành giải thoát. viên thành Phật Đạo. (Quang Tử)
  • Mỗi bài viết là một ngọn đèn nhỏ, mong soi sáng phần nào trên hành trình tu học của bạn. Để những ngọn đèn ấy không ngừng cháy sáng, lan tỏa ánh sáng Phật Pháp đến khắp mọi nơi là tâm nguyện của chúng tôi, nhưng để hành trình này được bền bỉ, chúng tôi rất cần sự chung tay của bạn. Nếu nhận thấy những bài viết này mang lại lợi ích cho bạn, cũng như nhiều người khác, xin hãy đồng hành cùng chúng tôi bằng cách ủng hộ kinh phí để duy trì hoạt động hoằng pháp. Mọi đóng góp xin gửi về STK Vietcombank: 0081001314166 (Dinh Bao Trung) Dù nhỏ bé hay lớn lao, sự sẻ chia của bạn đều là động lực quý giá để chúng tôi tiếp tục hành trình ý nghĩa này. Chân thành tri ân!

CÁC QUẢ VỊ THÁNH TRONG PHẬT PHÁP

Tiến Hùng : – Tôi đọc trong kinh thấy ghi Thanh Văn, Bích Chi Phật…tìm hiểu thi thấy ghi không rõ lắm. Lâu nay cứ nghĩ Bích Chi Phật là quả vị giữa Bồ Tát và Phật, xong hóa ra không phải, nhờ anh Quang Tử giải thích giùm nhé ! Quang Tử: – Bạn thân mến, để chứng được quả vị Thánh trong Đạo Phật – hay chính xác là toàn vũ trụ, có 3 con đường chính, đưa đến các Thánh quả khác nhau, trong kinh thường gọi là giáo lý Tam Thừa. Một là Thanh Văn Thừa, tu hành viên mãn sẽ lần lượt chứng được 4 quả vị Thanh Văn, trong đó cao nhất là A La Hán. Hai là Duyên Giác Thừa, tu hành viên mãn sẽ chứng được quả vị Duyên Giác, còn gọi là Bích Chi Phật, hay Độc Giác Phật. Ba là Phật Thừa, hay cũng gọi là Bồ Tát Đạo, tu hành viên mãn sẽ chứng được quả vị Phật. Sau đây sẽ nói rõ hơn một chút : 1. THANH VĂN : MỤC ĐÍCH TU HÀNH LÀ CẦU THOÁT LY SINH TỬ Một vị tu theo Thanh Văn Thừa bắt buộc phải dựa vào giáo lý của một đức Phật dạy mới chứng đạo được, trọng tâm là dựa trên giáo lý Tứ Diệu Đế – gọi là Thanh Văn (thanh là âm thanh, văn là nghe, ý chỉ các vị này phải nghe âm thanh thuyết pháp của Phật mới chứng đạo được, hiểu rộng là dựa vào giáo lý của Đức Phật ) Thanh Văn gồm 4 quả vị, lần lượt từ thấp lên cao là : – TU ĐÀ HOÀN, chứng quả vị này rồi chờ lâu nhất 7 kiếp sẽ chứng A La Hán, thoát khỏi luân hồi. Quả vị này còn gọi là Nhập Lưu. – TƯ ĐÀ HÀM, chứng quả vị này rồi chờ lâu nhất 2 kiếp : 1 kiếp sinh lên trời, 1 kiếp sinh xuống nhân gián sẽ chứng A La Hán, thoát luân hồi. Quả vị này còn gọi là Nhất Lai. – A NA HÀM, chứng quả vị này rồi không trở lại nhân gian nữa, chết rồi sinh lên cõi trời, ở đó sẽ chứng A La Hán, thoát luân hồi. Quả vị này còn gọi là Bất Lai. – A LA HÁN, quả vị cao nhất của hàng Thanh Văn, không phải chờ gì hết, chứng A La Hán là vị này đã thoát luân hồi luôn trong kiép đó, tùy ý định đoạt việc sống hay chết của mình. Một vị A La Hán có đủ 6 thần thông, dứt trừ hết các ràng buộc với sinh tử, không bao giờ cảm thấy đau khổ dù gặp chuyện khủng khiến đến mức nào, vì các Ngài đã tách rời với cảm xúc – cảm giác. Nếu muốn, một vị A La Hán vừa chứng quả lập tức có thể bỏ thân xác, nhập vào Niết Bàn ( Niết Bàn của hàng Thanh Văn, không phải của Phật – Bồ Tát ) Nếu không muốn, vị A La Hán có thể duy trì tuổi thọ không bao giờ chết, không có bất cứ gì phá hủy thân thể được , trừ khi có nghiệp chướng gì ghê gớm lắm thì đành chịu cho thân xác trả nghiệp bệnh chết, giống như ngài Mục Kiện Liên … xong vị đã tách rời với Thọ Ấm – cảm xúc – cảm giác, nên nhìn bên ngoài gặp nghịch cảnh khủng khiếp như thế nào, thì bên trong các Ngài chả thấy sao cả, bình thản nhập Niết Bàn. Hiện tại có ít nhất một vị A La Hán từ thời Phật Thích Ca chưa có bỏ thân (chết), vẫn sống cho đến khi Phật DI Lặc ra đời, đó là ngài Đại Ca DIếp. Ngài được Phật Thích Ca giao cho một tấm y áo của Phật, rồi ngài dùng thần thông tách một quả núi tên Kê Túc ra, bước vào trong ngồi thiền định, khi nào Phật Di Lặc ra đời sẽ xuất định và đem tấm y đó cúng dường Phật Di Lặc. 2. DUYÊN GIÁC MỤC ĐÍCH TU HÀNH CŨNG LÀ CẦU THOÁT LY SINH TỬ. Một vị Duyên Giác có thể tự sức mình tu hành đắc đạo nhờ pháp môn quán 12 nhân duyên, nên gọi là Duyên Giác. Vị này còn gọi là Độc Giác Phật, hoặc Bích Chi Phật. Tương tự như quả vị A La Hán, chứng quả vị Duyên Giác là đã thoát ly được luân hồi sinh tử, xong cao hơn A La Hán một bậc. Xét về địa vị – hạnh nguyện thì không cao quý như Bồ Tát, dù là tiểu Bồ Tát mới phát tâm. Xét về mức độ định lực – thần thông, thì chỉ thua Bát Địa Bồ Tát trở lên. Theo quy củ, đối trước một vị Bồ Tát dù thấp nhất, chưa có thần thông, định lực, các vị Thanh Văn, Duyên Giác vẫn phải thể hiện sự kính trọng, giống như quan tể tướng dù bao nhiêu tuổi, bao nhiêu công lao, trình độ như thế nào, đứng trước hoàng tử mới sinh, vẫn phải cung kính hành lễ. So với hàng Bồ Tát đã không thể, vậy nên chắc chắn là thấp hơn nhiều so với quả vị Phật Toàn Giác, nếu muốn so sánh thì như một tia sáng mặt trời khi so với toàn bộ mặt trời. Một vị Bích Chi Phật do căn cơ siêu đẳng, không cần sinh vào thời có giáo pháp của Phật mới chứng quả như các vị A La Hán, mà có thể sinh vào các thời điểm không có Đức Phật, hoàn toàn không có giáo pháp của Phật, tự mình tu cũng có thể chứng Đạo nhờ pháp môn Quán 12 Nhân Duyên, thoát khỏi luân hồi sinh tử. Thường các vị Bích Chi Phật trong vô số tiền kiếp không có gieo duyên giáo hóa với chúng sinh nhiều như các vị Bồ Tát, thường tập trung lo tu hành cầu giải thoát thôi, nên khi chứng đạo chỉ hóa độ được một số người, hoặc không giáo hóa được ai, hết thọ mệnh của thân xác, thì nhập vào Niết Bàn (Niết Bàn của hàng Bích Chi Phật- khác với Đại Niết Bàn của Phật Toàn Giác- Bồ Tát ) Do không hóa độ được nhiều nên còn gọi là Độc Giác Phật 3. BỒ TÁT MỤC ĐÍCH TU HÀNH LÀ : TRÊN CẦU THÀNH PHẬT VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG GIÁC, DƯỚI CẦU CỨU ĐỘ TẤT CẢ CHÚNG SINH THOÁT KHỎI LUÂN HỒI SINH TỬ. Khởi đầu Bồ Tát Đạo là khi một vị bắt đầu phát nguyện cầu cho chính mình sẽ thành Phật, hoặc nguyện độ hết tất cả chúng sinh thoát luân hồi, hoặc cả hai. Và khi tu hành viên mãn thì sẽ thành một Đức Phật Toàn Giác, như Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, Phật Dược Sư. Thực ra thì 2 điều nguyện cầu thành Phật hay cầu độ sinh, chỉ như 2 mặt của một bàn tay, vì một vị Phật thì đương nhiên sẽ độ tất cả chúng sinh, còn khi một vị đã phát tâm độ tất cả chúng sinh, thì đương nhiên cũng sẽ thành Phật. ( Cụ thể có bao nhiêu cách phát nguyện Bồ Đề như thế nào bạn có thể xem kinh Bi Hoa ) Sau khi phát Bồ Đề Nguyện, vị đó sẽ phải trải qua ít nhất 3 a-tăng-kì kiếp tu Bồ Tát Đạo (1 a-tăng-kì kiếp là bao lâu, Quang Tử sẽ nói ở phần cuối bài) Một vị Bồ Tát sẽ gieo duyên & hóa độ vô số chúng sinh, tạo ra công đức vô biên vô lượng không thể đong đếm, suy lường, tu học đủ mọi pháp môn, trong đó lấy trọng tâm là 6 pháp Ba La Mật – tức Lục độ Ba La Mật, gồm : – Bố thí Ba La Mật -Trì giới Ba La Mật – Nhẫn nhục Ba La Mật – Tinh Tấn Ba La Mật – Thiền định Ba La Mật – Bát Nhã Ba La Mật Nghe thấy từ bố thí, trì giới … giống như cách mà người bình thường cũng nhiều người đang cố gắng tu, có bố thí, có trì giới, nhưng mà không có giống Bố thí Ba La Mật, Trì giới Ba La Mật… đâu, tính chất – trình độ Ba La Mật khác biệt vô vàn. Nói đơn giản vậy thôi chứ phàm phu như Quang Tử không thế biết được, Đức Phật phải dùng biết bao nhiêu kinh điển khổng lồ để miêu tả như kinh Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Đại Bát Nhã, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật v.v… và v.v… đọc hết thôi cũng đứt hơi chứ chưa nói đến hiểu. Lần lượt tiến tu từ Bồ Tát Sơ Phát Tâm, đến Bồ Tát Tân Học rất lâu xa nhiều kiếp, rồi tiếp đến trải qua 52 địa vị Bồ Tát, ở tầng cao nhất có Nhất Trú Bổ Xứ Bồ Tát – tức là vị Bồ Tát đã xác lập & chuẩn bị gần xong cõi thế giới khi thành Phật, chỉ chờ ngày sinh xuống để thành một Đức Phật – giống như Phật Di Lặc đang ở cung trời Đâu Suất, chờ khoằng trăm triệu năm nữa hạ sinh thành Phật. Còn có các Đức Phật, đã thành Phật nhưng không phải ở đâu các ngài cũng hiện ra hình tướng của một Đức Phật, mà còn thị hiện nhiều loại hình tướng khác không ngừng hóa độ chúng sinh như một vị Bồ Tát, gọi là DIệu Giác Bồ Tát, như Quán Thế Âm Bồ Tát là vị nổi tiếng mà ai cũng biết. ( Ngài từ lâu đã thành Phật, danh hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai, bạn có thể nghiên cứu trong kinh Đại Bi Tâm Đà Ra Ni để biết) Còn về thời gian 3 a-tăng-kì kiếp, khỏang thời gian ít nhất để một vị tu từ lúc đang là phàm phu, bắt đầu khởi phát nguyện Bồ Đề, trở thành Bồ Tát Sơ Phát Tâm, đến khi thành Phật, là một thời gian rất lâu xa, dùng toán học người bình thường không hình dung được, nên Đức Phật dùng ví dụ : Ví như có một tảng đá vuông, chu vi của bề mặt là 40 dặm, cứ mỗi một trăm năm, có một vị tiên trên trời hạ xuống, lấy vạt áo rất nhuyễn nhẹ mà phất qua một lần, rồi trở về. Một trăm năm sau mới xuống phất nhát tiếp theo …. cứ thế phất đến chừng nào khối đá mòn sạch sẽ, là một a-tăng-kì kiếp. Do ví dụ này còn gọi là Kiếp Bàn thạch. Nghĩa là một vị Bồ Tát từ lúc mới phát tâm, tu hành trải qua ít nhất 3 khối đã đó mới viên mãn thành Phật, chưa tính các vị Bồ Tát phát tâm lâu xa hơn. Hiểu được như thế, chúng ta mới có thể thấy một vị Bồ Tát, một vị Phật tu hành viên mãn chứng được Đạo quả, thực sự là vĩ đại đến nhường nào, ngôn từ thế gian khó lòng mà miêu tả cho hết được. Mong rằng mọi người đệ tử Phật đều sẽ nối bước theo các Ngài, lần lượt sẽ tu hành viên thành Phật đạo, làm mặt trời trí tuệ soi sáng cho muôn loài chúng sinh.
  • Mỗi bài viết là một ngọn đèn nhỏ, mong soi sáng phần nào trên hành trình tu học của bạn. Để những ngọn đèn ấy không ngừng cháy sáng, lan tỏa ánh sáng Phật Pháp đến khắp mọi nơi là tâm nguyện của chúng tôi, nhưng để hành trình này được bền bỉ, chúng tôi rất cần sự chung tay của bạn.Nếu nhận thấy những bài viết này mang lại lợi ích cho bạn, cũng như nhiều người khác, xin hãy đồng hành cùng chúng tôi bằng cách ủng hộ kinh phí để duy trì hoạt động hoằng pháp.Mọi đóng góp xin gửi về STK Vietcombank: 0081001314166 (Dinh Bao Trung)Dù nhỏ bé hay lớn lao, sự sẻ chia của bạn đều là động lực quý giá để chúng tôi tiếp tục hành trình ý nghĩa này. Chân thành tri ân!

PHONG THỦY XẤU KHÔNG HẠI ĐƯỢC NGƯỜI TỐT

Chuyện thầy phong thủy trả thù

Một câu chuyện đáng suy ngẫm được kể trong sách phong thủy của ông Man-Ho Kwok: “Vài thế kỷ trước ở bên Trung Quốc, có một ông thầy Địa lý rất nổi tiếng. Một lần trên đường ngao du ngắm sông núi, ông ta đã cạn hết lương thực và nước uống, giữa vùng rừng núi hoang vu, ông ta không biết tìm đâu ra được mạch suối ngầm để lấy nước uống giữa mùa hè nóng bỏng. Trong cơn tuyệt vọng, ông ta tìm đến được một khu rẫy. Chủ nhân là một người đàn bà góa và ba người con trai đang cuốc đất. Ông ta mừng quá chạy ngay vào xin nước uống. Người đàn bà vui vẻ đi lấy cho ông ta một bát nước đầy, nhưng trước khi đưa bát nước cho ông ta, bà hốt một nắm lá cây bỏ vào bát trước sự ngạc nhiên của ông thầy phong thủy. Ông rất giận vì nghĩ người đàn bà kia hạ nhục mình, nhưng vì đang khát, ông ta cũng ráng dằn xuống, vừa uống, vừa phải lấy tay gạt lá cây ra mới uống tiếp được, khá phiền phức, trong bụng ông ta đã có ý định trả thù người đàn bà vô lễ kia. Ông ta tự giới thiệu tên và cho biết ông ta là một nhà phong thuỷ nổi tiếng làm việc cho triều đình. Ông ta bảo rằng có một căn nhà bỏ hoang lâu đời với đất đai rộng rãi ở bên kia núi, khuyên người đàn bà nên dọn về đó ở sẽ tốt hơn. Người góa phụ cảm tạ ông rối rít. Ông ta nói xong thì vội vã bỏ đi, trong lòng vui sướng vì đã trả được thù, khu đất và căn nhà hoang không chủ mà ông ta chỉ cho người đàn bà đó, là một khu ‘tử địa’, phạm vào ‘Ngũ Quỷ xung sát’, là một khu đất cực xấu, ai sống ở đó đều chết yểu.

Hóa giải phong thủy xấu bằng phước đức

Sau một thời gian khá lâu, ông ta có dịp đi ngang qua vùng đất cũ, ông gặp lại người đàn bà và ông ta hết sức kinh ngạc vì người đàn bà nghèo khổ ngày xưa bây giờ là một người đàn bà giàu có, nhà cao cửa rộng. Người đàn bà đón tiếp ông rất ân cần, vì biết ơn ông đã chỉ cho bà một khu đất tốt, từ khi dọn vào, bà luôn luôn trúng mùa, tiền bạc dư giả, con cái học hành tới nơi tới chốn, hai trong ba đứa con trai đang làm quan, đứa con thứ ba thì thông minh xuất chúng, đang dạy học và rất có tên tuổi. Ông ta kín đáo quan sát căn nhà, và vùng đất xung quanh, tuy có sang trọng hơn nhưng trên căn bản vẫn là vùng đất phạm ‘Ngũ Quỹ xung sát’. Lòng ông ta cực kì hoang mang, không lẽ tài nghệ của ông lại nhìn sai ? Cuối cùng, tìm mãi không ra câu trả lời, ông ta đành thú thiệt về việc trả thù của ông ta, vì cớ ngày xưa bà đã vô lễ bỏ lá rác vào bát nước trước khi trao cho ông uống. Người đàn bà giải thích rằng, sỡ dĩ bà ta làm như vậy là vì lúc đó trời đang nóng bức, ông ta lại đang khát nước cực độ. Mà những người bị khát mức đó, khi gặp nước thường uống ào ạt, uống rất nhanh thành ra bị sốc. có thể bị nguy hiểm đến tính mạng , cho nên bà bỏ lá cây khô vào là để buộc ông ta từ từ uống, vì phải vừa uống vừa gạt bỏ lá qua một bên. Đến lúc đó ông thầy mới chợt hiểu, bà ấy là người tinh tế và phúc hậu như thế nào, những gì bà làm để cứu mạng của ông ta đã tạo nên phước báo, đủ để hoá giải đi cái ảnh hưởng xấu của vùng đất chết.

Lạm bàn

(Quang Tử ) Ngược lại với chuyện trên, nhiều người dù đã chọn các thầy cao thủ, sắp đặt phong thủy cho nhà cửa thật tốt, nhưng tâm họ xấu ác, tạo nhiều nghiệp bất thiện, thì Phong thủy tốt cũng vẫn chả giúp được gì. Tai họa vẫn trên trời rơi xuống. Như vậy, ta cần hiểu, gốc của phong thủy là Nhân Quả. Nếu Nhân Quả tốt, phước đức nhiều thì Nghiệp lực sẽ tự chiêu cảm, khiến gia chủ sống trong một địa thế phong thủy tốt. Và thậm chí như chuyện trên, dù phong thủy tệ hại thì chủ nhà vẫn cứ gặp may mắn, phát đạt. Và ngược lại, những ai nghiệp nặng, Nhân Quả sẽ tự chiêu cảm khiến cho họ chọn những khu đất phong thủy xấu để ở. Thậm chí, dù có cố chỉnh sửa phong thủy cho tốt, thì Nghiệp lực vẫn khiến cho họ gặp tai ương, hoạn nạn, vì Nghiệp lực mới là sức mạnh ghê gớm nhất trong vũ trụ, thần thông của các vị A La Hán còn chẳng thắng được Nghiệp lực, huống chi phong thủy. Xem ra, phong thủy chỉ có tác dụng như một cái biển báo. Ở trước những khu chợ, trước ngã tư, hoặc trước đèo dốc nguy hiểm…, người ta thường đặt một cái biển báo trước cho người đi đường biết mà chuẩn bị. Nếu giả như một người nào đó, nhổ cái biển báo đi, hoặc sửa chữa biển báo… thì cũng chẳng thay đổi được gì, khu chợ, ngã tư, đèo dốc nguy hiểm …vẫn còn nguyên đó mà thôi. Một trong 10 thầy phong thủy nổi tiếng nhất Hồng Kông: Trần Lãng, trước khi qua đời đã truyền lại cho đệ tử rằng: “…Hiện nay có rất nhiều người đi nhầm đường. Họ dùng mọi thủ đoạn và quyền thế hoặc kiến thức bản thân biết được để kiếm tiền. Nhưng họ không biết được bản chất của những việc này đều là Nhân Quả Nghiệp Duyên, bản thân phải có “nhân” thì mới gặt được “quả”. Mà “nhân” ấy gieo bằng việc “hiếu kính cha mẹ, tôn sư trọng Đạo, cứu giúp chúng sinh… Người làm ăn phải đi con đường chân chính, bản thân có nhân phúc đức thì thành công sẽ sớm đến thôi. Tuyệt đối không đi con đường bất chính, nếu không sẽ tổn đức rất nhanh. Trong mệnh đáng lẽ kiếm được vài trăm tỉ, làm việc bất chính, bị giáng xuống còn vài tỉ. Lại tưởng thế là rất thành công rồi, kỳ thực không biết rằng chính vì mình bất chính mà tạo nghiệp nhận báo ứng, cũng không biết hưởng được bao lâu.”