MỐI THÙ CON NHÀ BÁ HỘ, BÁO THÙ TẬN ĐẾN KIẾP SAU

(Những mẩu chuyện về thiền sư An Lạc Hạnh) Như mọi lần, tịnh xá Liên Hoa hôm ấy lại xáo động và ồn ã. Có lẽ những người ở đây cũng đã quen với việc các vong linh oan ức lên nhờ hòa thượng trụ trì giải oan cho. Tịnh xá Liên Hoa nằm ở khu vực gần cầu Bạch Đằng, xã Bạch Đằng, Thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Tịnh xá được trụ trì bởi Hòa Thượng Thích Giác Sự, người đời thường gọi hòa thượng bằng cái tên trìu mến: sư ông An Lạc Hạnh. Đây là một vị hòa thượng được nhiều người tôn kính không chỉ vì đức hạnh của ông, mà còn vì hòa thượng có những năng lực phi thường, chuyên hóa giải được những vấn đề về tâm linh, ma quỷ. Ngoài việc chăm lo cho tịnh xá và dạy dỗ các đệ tử, sư ông còn thường hay giúp đỡ, chữa bệnh tâm linh cho mọi người miễn phí, không nề hà mệt mỏi. Giống như những người có xung đột với nhau, thường tìm đến quan tòa để kiện cáo, quan tòa chân chính luôn công bình, sẽ giúp hai bên giải quyết mâu thuẫn. Nhưng các vong linh thì đâu có thể tìm tới quan tòa để kêu oan, mà các quan tòa cũng không có năng lực làm được điều đó. Những vong linh oan ức chỉ có nương nhờ những người như sư ông từ bi và đức độ, để hóa giải nỗi đau khổ cho mình. Buổi sáng ngày hôm ấy, cái nắng hè oi ả như thiêu như đốt cả bầu không gian, tất cả đều hướng về tháp thờ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Sư ông hướng dẫn cho đôi vợ chồng trẻ và vong linh đang nhập vào người cô Kim, tất cả đi lên trên tháp để giải quyết mâu thuẫn. Những tia nắng gay gắt chiếu rọi lên khuôn mặt đầy uất hận của cô Kim- người bạn của đôi vợ chồng trẻ. Nhưng cô ta hiện không ở trạng thái bình thường, mà đang bị một vong nhập. Cái vẻ mặt đay nghiến ấy thực không phải của cô Kim, mà là của vong hồn tên Tú đang nhập vào Kim. Và đây cũng không phải lần đầu vong Tú nhập vào làm náo loạn, mà đã nhập nhiều lần rồi, hành đủ trò rồi. Sợ hãi và mệt mỏi, đôi vợ chồng mới tìm đến sư ông, nhờ sư ông gọi vong hồn của Tú lên để giải quyết ân oán.
Vong hồn Tú (bên trái) nhập vào Kim căm hận nhìn hai vợ chồng
Tú đưa mắt đôi mắt sắc lẹm nhìn đôi vợ chồng trẻ với vẻ đầy căm hận, vừa vất vả lê lết lên từng bậc thang để tới đài Quan Âm. Còn đôi vợ chồng chẳng dám ngẩng đầu lên, cứ cúi khom người xuống vì hổ thẹn, đưa tay muốn đỡ Tú cùng lên đài cho đỡ nhọc. “Không cần! Không cần!”- Tú lên giọng dứt khoát, như thể muốn hai tên thối tha kia tránh xa ra, đừng có lại gần. Tú cứ thế lê lết từng bước mệt nhọc, rồi cũng lên tới nơi. Trước tượng thờ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát trang nghiêm, thanh tịnh, sư ông An Lạc Hạnh mở lời từ bi, nhẹ nhàng bảo Tú hãy ra phía sau tượng ngài Quan Âm mà ngồi cho khỏi nắng. Khi mọi người đã tập trung đầy đủ, sư ông mới hỏi cho rõ ngọn ngành, thì được biết thời gian vừa qua, gia đình cặp vợ chồng trẻ gặp rất nhiều vấn đề: vợ chồng mâu thuẫn triền miên, chồng tự dưng sinh tâm ghét bỏ vợ vô duyên vô cớ, làm ăn thì thất bát, trồng cây gì quả gì cũng thất bại, nghèo khó khổ sở, lại thêm con cái hư hỏng, chửi bới cha mẹ, bỏ nhà theo trai. Lúc này, vong hồn của Tú vẫn mượn xác cô Kim, nói lời đầy căm phẫn, uất ức: – Là con phá chúng nó đấy. Đến con ngựa của chúng, chúng còn yêu thương, còn con là con người, mà chúng không có coi ra gì hết … chúng dùng cây “chọt chọt” vào chân con, chúng kẹp các ngón tay của con rồi kéo nó ra, dùng cùi trỏ đánh vào lưng con. Chúng hành hạ con liên tục. Con dập đầu van xin chúng liên tục mà chúng không hề tha, vẫn đánh con đau đớn tới chết…con không bao giờ tha thứ cho chúng đâu… Tú thốt lên những lời đầy ai oán, lửa hận thù ngùn ngụt cháy trong đôi mắt nhắm thẳng vào hai kẻ thù ngồi ngay trước mặt. Bốp! Bốp! Không thể kìm nén được, dù có sư ông ở đó, Tú lao vào đánh tới tấp cặp vợ chồng trẻ bằng cánh tay duy nhất đang còn lành lặn của mình. Bởi cánh tay còn lại và hai chân của vong linh đều đã bị hỏng.
Hình cắt từ video tư liệu
Rồi ánh mắt Tú bỗng trùng xuống, Tú nhớ lại quá khứ kiếp xưa của mình, kể hết cho sư ông cùng mọi người xung quanh nghe. Tú kiếp đó là một cô gái nghèo, ngoài ba mươi tuổi, đi làm người ở đợ cho nhà bá hộ. Tú biết thân phận mình nghèo hèn, nên chấp nhận công việc đi hầu hạ người khác để có miếng cơm, manh áo sống qua ngày. Ở thời phong kiến, sự phân biệt giai cấp vô cùng mạnh mẽ. Thời đó, không ai dám trái ý hay làm gì ảnh hưởng đến các gia đình bá hộ, dù là chính quyền; chủ bảo gì, Tú làm nấy, không dám trái lời. Cùng làm việc với Tú, còn có anh Tèo, hai anh em ngày ngày chăm chỉ, chịu thương chịu khó làm việc, hầu hạ cho nhà người ta. Nhưng ở đời, đôi khi chúng ta muốn bình yên cũng không được. Thói đời là vậy, nhún nhường lại thường hay bị người ta lấn tới. Ngày đó, vì có tiền nên các bá hộ thường nắm quyền sinh sát trong tay, dù họ có đúng hay sai, thì cũng không ai dám ho he lên tiếng, chỉ biết chịu đựng dù có oan khuất đến đâu. Thân làm con ở, dù Tú và Tèo đã hầu hạ, cung phụng chủ nhân hết lòng, hết sức, dường như tất cả vẫn không làm vừa lòng cậu ấm cô chiêu của nhà bá hộ. Cậu con trai cả và cô con gái út nhà đó luôn được cha mẹ cưng chiều, không gì không có. Ăn sung mặc sướng, gấm vóc lụa là, xe ngựa đưa rước, chẳng thiếu thứ gì. Có lẽ quen thói được hầu hạ tới tận răng, nên hai cậu ấm cô chiêu được dịp lộng hành ngang ngược, vô cớ đánh đập kẻ ăn người ở một cách tàn nhẫn vô cùng. Lúc này, Tú vừa nói vừa thở gấp, hai hàm răng sít chặt vào nhau như đay như nghiến, đưa mắt nhìn hai kẻ thù trước mặt, cô đưa ngón trỏ chỉ thẳng vào cặp vợ chồng: – Chính chúng nó. Chính chúng nó kiếp trước là hai anh em, kiếp này lại làm vợ chồng của nhau. Con muốn làm cho chúng nó phải chịu cảnh đau đớn khốn khổ như con đã từng phải chịu. Lúc nào cũng trực chờ muốn xông thẳng vào đôi vợ chồng để đánh, Tú dùng hết ý chí kiềm chế lại, tiếp tục kể với giọng nói đầy phẫn nộ:
Vong hồn Tú kể lại kiếp trước ( hình cắt từ video tư liệu)
-Chúng thời đó thỏa sức phi xe ngựa trên đường mà chẳng cần biết tới người đi đằng trước. Nếu ai thấy xe tới mà không tránh kịp, bị đâm vào ngựa của chúng, thì xác định sẽ bị đánh tơi bời, chúng lấy cớ vì làm ngựa của chúng bị đau. Với chúng thì những người dân thường hay người làm công trong nhà cũng không đáng quý bằng mấy con ngựa chở xe cho chúng. Quen thói hà hiếp người khác, chỉ cần ai làm chúng thấy ngứa mắt, không cần có lý do, chúng đánh thẳng cánh không chút kiêng nể. Tú kể tiếp, một lần, vì sơ ý Tú đụng mạnh vào con ngựa. Lập tức, một trận lôi đình đổ ập xuống đầu cô. “Á à, con này, mày dám làm chân con ngựa của tao bị đau à. Mắt mày để đâu, láo thật, gan mày to quá” – Vừa nói, cô út vừa nhanh mắt lượm ngay được một cái cây, xông tới đâm vào chân trái của Tú liên tục cho hả hê, làm máu chảy đầm đìa, liệt cả bên chân phải. Chưa hết, cô út còn kẹp các ngón tay của Tú và kéo chúng căng giãn ra đến nỗi các ngón tay từ đó về sau cứ co quắp hết lại. Cậu cả thì biết võ, bằng lực rất mạnh như trời giáng, cậu dùng cùi trỏ đánh mạnh vào lưng của Tú, nhiều lần như vậy, phổi của cô đã bị tổn thương rất nặng, chúng đánh cả vào cổ làm vùng họng của cô cũng đau không dứt. Toàn thân Tú, chẳng chỗ nào là không đau đớn cả, thương tích thì chi chít khắp trên cơ thể. Đau đớn tột cùng, không thể chịu nổi, Tú dập đầu lia lịa van xin cô chủ, cậu chủ thống thiết, mà chúng chẳng mảy may động lòng. Có vẻ như hành hạ người khác chính là thú vui tiêu khiển của hai cậu ấm, cô chiêu thì phải. Cuối cùng, Tú tắt thở, bị đánh dã man đến chết. Anh Tèo cũng không ngoại lệ, bị chúng cho uống thuốc độc mà chết tức tưởi không lâu sau đó. Vừa kể, vong hồn Tú vừa lườm đôi vợ chồng, thi thoảng lại nhảy bổ vào đánh cho hả dạ. Càng về dần trưa, nắng càng gay gắt hơn, tất cả những người có mặt tại đó đều xót xa cho một cô tớ gái kiếp nào chăm chỉ, chịu thương, chịu khó, vì ôm nỗi căm hờn quá lâu mà tới nay vẫn chưa siêu thoát, chịu sự khổ đau dày vò thống khổ tâm can như thế này. Nhưng tất cả không chỉ dừng lại ở đó… Tưởng rằng chết là hết, mọi đau khổ sẽ dừng lại, mọi oan khuất sẽ được chôn vùi, mọi tội ác đều được xóa sổ. Có phải thế chăng? Thực tế không phải vậy, chúng sinh do nghiệp lực mà đã luân hồi từ vô thủy kiếp nay. Đã tạo nhân thì sẽ có quả. Quả không đến trước thì cũng đến sau. Quả không trổ kiếp này, thì cũng trổ kiếp khác. Sau khi lìa bỏ thân xác, vong hồn của Tú và Tèo vẫn lang thang vất vưởng đi theo hai anh em con nhà bá hộ để chờ cơ hội trả thù, như trong kinh Phật gọi, là một vong hồn “oan gia trái chủ”. Thời gian trôi qua, hai anh em cậu ấm cô chiêu đã già, chết, và chuyển kiếp không biết bao lần, thì Tú và Tèo vẫn chưa siêu thoát nổi. Vì sự sân hận như thiêu như đốt, họ vẫn cứ bám theo hai anh em suốt từng ấy thời gian. Sức mạnh của nhân quả, luân hồi, duyên nợ, nghiệp báo đã kết nối họ lại với nhau. Ở kiếp này, hai anh em con nhà bá hộ lại nên duyên vợ chồng. Và đương nhiên vong hồn của Tú và Tèo vẫn luôn bên họ chẳng rời xa, để thực hiện được công cuộc báo thù của mình. Giờ đây, nó không còn là cuộc chiến giữa người với người, mà đã trở thành cuộc chiến giữa người và vong. Về phía Tú, khi còn là người đã khổ sở, chết rồi lại càng thê thảm. Cô phải sống bao năm trong cõi giới của vong linh vất vưởng, đói khát, lại cộng thêm lửa thù hận hừng hực, thiêu đốt tâm hồn cô từng giây từng phút, thống khổ vô cùng. Thay vì tìm đường siêu thoát, Tú chỉ trực chờ thời cơ, khe hở để báo thù, mong làm cho cuộc sống của hai vợ chồng kia phải khốn đốn và chịu sự đau đớn như Tú đã từng phải trải qua. Bằng cách nào chứ? Bởi vong linh thường có tha tâm thông-tức đọc được suy nghĩ của người khác, và còn có thể tác động vào tâm của họ phần nào đó. Thấy con gái của hai vợ chồng đã đến tuổi dậy thì, Tú nghĩ: “Đứa con gái cả nhà này mới chớm lớn mà đã yêu đương nhăng nhít. Đã thế thì mày đi luôn theo nó đi, cho cha mẹ mày đau khổ vì đứa con hư hỏng như mày. Hãy đi đi! Đi theo nó đi!”. Lợi dụng tâm ý của cô con gái lớn, Tú tìm cách tác động, dụ dỗ bé bỏ nhà theo trai, làm cha mẹ phải phiền lòng, buồn khổ. Từ một cô bé ngoan, nay trở nên ích kỉ, xấu tính, gặp ai bé cũng ghét, cũng chửi bới. Gia đình vì đó mà náo loạn, khổ não vì con. Không dừng lại ở đó, vong hồn của Tú còn tìm cách tác động vào tâm làm cho người chồng ghét vợ, dẫn đến hai vợ chồng xảy ra xung đột, mâu thuẫn lẫn nhau. Cô còn phá làm cho hai vợ chồng không thể khấm khá lên được, họ làm gì cũng thất bại, nên gia cảnh luôn khó khăn túng thiếu. Một gia đình mà vợ chồng bất hòa, con cái hư hỏng, kinh tế túng thiếu, thì còn gì để cứu vãn được nữa. Mục đích cuối của Tú không gì hơn chính là mong kẻ thù phải chết. Khi đó cả hai bên đều là vong hồn, Tú sẽ dễ dàng báo thù hơn nữa. Nhưng hành trình trả thù này cũng đâu có dễ dàng như vậy. Bỗng nhiên, xuất hiện ở đâu cô gái tên Kim, chính là người Tú đang nhập vào, vì thương cảm cho hoàn cảnh của hai vợ chồng mà tìm cách cứu giúp, gây cản trở kế hoạch báo oán của Tú. Đang hận sẵn, Kim lại can thiệp vào, làm vong hồn của Tú càng sôi máu lên. Chả quen chả biết, nhưng vì động vào việc riêng của Tú, lửa sân càng bùng lên mạnh mẽ, cô quyết định phá cho cả nhà cô Kim cũng tan nát không kém. Từ một cô tớ gái chịu thương chịu khó kiếp nào, nay lại trở thành một vong hồn vô cùng sân hận, tàn độc. Mọi thứ dường như bế tắc với tất cả. Đôi vợ chồng thì làm ăn thất bát, con cái hư hỏng, mâu thuẫn lẫn nhau. Cả gia đình cô Kim cũng bị vạ lây. Bản thân Tú cũng không một giây phút yên bình. Oan oan tương báo chẳng bao giờ chấm dứt được, nếu người trong cuộc không dùng từ bi để buông bỏ hận thù. Thì rốt cuộc cũng chỉ đem lại khổ đau cho tất cả mà thôi. Mặt trời đã đứng bóng, không khí xung quanh đều trùng xuống, không phải vì uể oải do cái nóng của mùa hè, mà vì thấm thía nỗi khổ đau của kiếp nhân sinh. Chỉ vì những cảm xúc đến bất chợt, vì những phút hả hê ngắn ngủi ở kiếp xưa, mà nay đôi vợ chồng phải chịu bao khổ sở không nói hết. Nghe Tú giãi bày hết nỗi niềm, sư ông An Lạc Hạnh vừa an ủi, vừa khuyên nhủ Tú hãy tha thứ vì chúng cũng đã biết hối hận. Thêm nữa, có thể yêu cầu chúng phải cạo đầu, cung cấp nhà, xe cúng cho Tú có nơi ăn chốn ở đàng hoàng, làm nhiều công đức để hồi hướng cho Tú mau siêu thoát. Và sư ông hứa sẽ nhận Tú và Tèo làm đệ tử, cho ở lại tịnh xá Liên Hoa để tu tập. Thấy mình được làm đệ tử của sư ông, Tú phấn khởi lắm, lạy sư ông liên tục. – Con lạy sư phụ như vậy cả ngày cũng được. Mà sư phụ tên gì để nếu có ai ăn hiếp, con còn biết đường gọi sư phụ cứu giúp. – Ta là An Lạc Hạnh – Nhưng con không tha cho chúng được đâu. Nhất định con phải cho chúng nếm mùi đau đớn như con đã từng phải chịu đựng khi xưa – Vậy con đánh chúng nốt đi cho hả dạ, rồi tha thứ cho chúng, theo ta tu học – Không, con không tha cho chúng Tú dằn vặt, nửa muốn theo sư ông tu học, nửa không muốn tha thứ cho hai tên cậu ấm cô chiêu độc ác kia. – Vậy chúng phải cúng trai tăng (mà hồi hướng công đức), chứ con không thèm nhà, thèm xe đâu. Nếu con nhận nhà, nhận xe là con tham. Nhưng con không tham. – Chúng khó khăn vậy, lấy đâu tiền mà cúng trai tăng. – Con nhất định không nhận nhà, xe đâu. – Thôi được rồi, vậy chúng sẽ phải cạo đầu. Chúng phải cố gắng tích cóp, khi nào đủ điều kiện thì sẽ cúng trai tăng. Còn ta cho con ở đây tu tập, hàng ngày nghe Pháp Trời dần trở về chiều, thoáng những cơn gió đã khẽ lay cành lá xung quanh, bóng râm sau tượng Đức Quan Âm đã dần lớn hơn trước. Có lẽ Tú cũng quá mệt mỏi rồi, suốt bao tháng năm ròng rã ủ mưu tính kế trả thù, thống khổ lắm chứ. Oán hận lắm, nhưng cô tớ gái kiếp nào giờ đây có lẽ đã muốn cho bản thân mình một cơ hội, Tú vẫn là cô gái đáng thương nhường nào. – Vậy sư phụ cho con ở đây hả? – Cho Tú và cả Tèo ở đây. – sư ông đáp – Ta đặt pháp danh cho Tú là Ngọc Thu, pháp danh cho Tèo là Thiện Tân. Hộ Pháp, Chư thần! dẫn Ngọc Thu và Thiện Tân qua bên chỗ nhà cửu huyền, sắp xếp chỗ ở đàng hoàng Cuối cùng thì khát khao được vươn lên ánh sáng của một vong hồn cũng đã lấn át được nỗi oán hận sâu sắc bấy lâu. Tú cuối cùng cũng đồng ý tha thứ cho kẻ thù, và cho mình một cơ hội sống tốt đẹp hơn. Màn đêm đã tắt, bình minh đã ló rạng soi sáng cuộc đời Tú. Rồi mai đây, cô sẽ được tu học, nương theo ánh sáng Phật Pháp dẫn lối. Tất cả đều vui mừng cho mối oan khiên đã được hóa giải. Trong lòng Tú cũng đã lóe lên niềm hy vọng, hứa hẹn một tương lai tươi sáng hơn. May cho họ có duyên gặp được một vị hòa thượng đức độ và đủ năng lực để hóa giải mối “oan oan tương báo” này. Nhưng nếu như những người không có duyên được một vị như sư ông An Lạc Hạnh, thì phải làm sao ? Thực ra vẫn còn cách khác, ta có thể hướng về các oan gia trái chủ đang báo oán mình mà thành tâm sám hối, tạo nhiều phước lành mà hồi hướng cho họ, bù đắp tội lỗi khi xưa. Kiên trì và thành khẩn làm như vậy, các vị oan gia trái chủ sẽ dần nguôi hận mà tha thứ cho ta. Đây là Nghi thức sám hối – cầu siêu oan gia trái chủ, kiên trì áp dụng nhiều lần có thể giúp siêu độ oan gia một cách hữu hiệu: →   NGHI THỨC SÁM HỐI – CẦU SIÊU OAN GIA TRÁI CHỦ Cả Tú, Tèo và cặp vợ chồng kia đều là những chúng sinh vô minh và đáng thương vô cùng, cứ mãi lặn ngụp trong màn đêm tăm tối, không nhận ra ánh sáng ở nơi đâu. Họ chẳng hiểu được nhân quả nghiệp báo luân hồi, không phân biệt được thiện ác, chẳng biết đâu là lối thoát cho mình. Tưởng rằng ở đời “mạnh được yếu thua”, tưởng rằng chết là hết, cứ mãi tưởng như vậy, rồi đến lúc quả báo đến mới hối hận thì đã quá muộn màng. Sống ở trên đời chỉ có thiện lương mới đưa con người ta đến được với hạnh phúc, chứ không phải sự trà đạp lên những người yếu thế hơn mình. Đó là bài học mà cặp vợ chồng kia cần phải học. “Oan oan tương báo”- có lẽ không phải ai cũng thấm thía điều này. Đời này anh hại tôi, đời sau tôi trả thù anh. Rồi đời sau nữa anh lại trả thù tôi, rồi lại đời sau nữa … biết bao giờ mới dứt được. Người ta gọi đó là oan oan tương báo. Vậy phải làm sao? Từ Bi chính là đáp án, là chìa khóa mở ra mọi nút thắt. Từ Bi chính là yêu thương kẻ thù và giải thoát cho chính mình, là khoan dung với lỗi lầm của người, và cũng là phát triển tâm linh của chính mình. Ôm giữ oán hận kẻ thù, chính là đem lỗi lầm của kẻ khác hành hạ chính mình. Đây chính là bài học dành cho Tú. Từ một cô gái biết nhẫn nhục, chăm chỉ, chịu khó, đã dẫm lên vết xe đổ của người khác, trở thành một người đầy sân hận, tàn ác phá hoại cuộc đời kẻ khác, nào có khác chi đâu. Đó là bài học, là chìa khóa mở ra con đường ánh sáng. Có chìa khóa trong tay, nhưng có kĩ năng sử dụng nó hay không? Có con đường trong tay, nhưng có kiên trì, có mạnh mẽ tiến bước tới đích hay không? Điều đó lại nằm ở ý chí của mỗi người. (Tĩnh Như – thuật lại từ sự việc có thật tại tịnh xá Liên Hoa, Bình Dương)

TRÍ TUỆ PHẬT SÂU ĐẾN MỨC NÀO ?

Một thủa Đức Phật ngụ ở Tinh Xá Kỳ Viên, Phật cùng tôn giả Xá Lợi Phất tản bộ bên ngòai tinh xá. Bỗng trên trời xuất hiện một con chim ưng đói ăn, đang đuổi bắt một con chim bồ câu. Chim bồ câu bị rượt đuổi thì hỏang hốt chạy trốn và nhanh nhảu bay đến núp cạnh Phật, bồ câu nhờ khôn ngoan biết chọn đậu núp dưới bóng của Phật nên con chim ưng chẳng dám tới làm hại. Nhờ vậy, nó được yên lành, vẻ hoảng sợ ban nãy cũng tan biến. Khi đó, Đức Phật tiếp tục bước tới, thân Ngài di động tiến lên, vô tình bóng của Phật rời khỏi con bồ câu, và bóng Ngài Xá Lợi Phất phủ lên nó, nó liền lộ vẻ hoảng sợ hãi hùng. Ngài Xá Lợi Phật thấy vậy, liền thưa với Phật : – Bạch Thế Tôn ! Vì sao con chim bồ câu núp bên Phật nó chẳng hoảng sợ, còn con vừa tới gần nó , nó lại run rẩy như vậy ? Đức Phật đáp : – Này Xá Lợi Phật, ông tuy tam độc đã trừ, nhưng tập khí còn chưa hết, vì vậy khi ở gần con chim, nó vẫn hoảng sợ. Rồi Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất : – Ông hãy quán sát nhân duyên kiếp trước của con chim này xem, từ khi nó đánh mất thân người bị đọa làm chim đã bao nhiêu lâu rồi ? Ngài Xá Lợi Phất liền nhập định, một lúc sau ông nhập định, thưa với Phật : – Con chim bồ câu này bị đọa làm chim đến nay đã được tám vạn kiếp, kiếp nào cũng làm thân bồ câu, nhưng vì sao nó phải đọa làm thân chim thì con không rõ. Đức Phật nói : – Ông đã không rõ đời quá khứ của con chim, vậy thì hãy quán sát đời vị lai nó xem bao giờ nó mới thoát khỏi kiếp chim, được làm người trở lại ? Ngài Xá Lợi Phất nhập định một lúc rồi thưa : – Bạch Thế Tôn ! Đệ tử chỉ quán sát được tám vạn kiếp nữa nó vẫn làm thân chim, còn bao giờ nó được làm người thì đệ tử chẳng biết rõ. Đức Phật dạy : – Con Bồ câu này đời quá khứ đã phạm các tội : sát, đạo ,dâm, vọng…đợi đến khi nó trải qua số kiếp làm thân chim nhiều như số cát trong sông Hằng rồi, thì nó mới được làm người . Ở trong nhân đạo làm người trải qua 500 đời, lúc ấy có Phật xuất thế, nó sẽ xuất gia làm tỳ kheo, tu theo pháp Phật. Trải qua ba A Tăng-kỳ kiếp, siêng tu sáu Ba-la-mật ( là pháp môn của Bồ Tát, gồm Bố Thí Ba-la- mật, Trì giới Ba-la- mật, Nhẫn nhục Ba-la-mật, Tinh tấn Ba-la-mật, Thiền định Ba-la-mật, Bát Nhã Ba -la-mật ), chứng qua các bậc Bồ tát Thập Địa, cuối cùng sẽ thành Phật. Ngài Xá Lợi Phất nghe xong liền tán thán : – Đệ tử trí tuệ kém cỏi, ngay một con chim bồ câu cũng chẳng rành về quá khứ, vị lai của nó…Trí tuệ của Phật thật uyên thâm, vô cùng vô tận, không gì so sánh được. Đệ tử nguyện dốc lòng tu tập để đạt được Phật tuệ sáng suốt cao thâm, có thể rộng độ và giúp ích cho chúng sinh. __________________ Lạm bàn : Xưa nay chúng ta từng được nghe trí tuệ Phật vô biên vô lượng, nhưng qua chuyện này, ta mới phần nào tỏ rõ được một phần nhỏ bé, nhỏ như giọt nước trong biển cả bao la, để biết được như thế nào thì gọi là “vô biên vô lượng”. Khi ngài Xá Lợi Phất – vị đại đệ tử từng được Đức Phật khen ngợi là bậc trí tuệ đệ nhất trong hàng A La Hán , muốn biết tiền kiếp hay vị lai của con chim bồ câu, ngài phải nhập định. Còn Đức Phật thì tuệ giác luôn sáng tỏ, Phật không cần nhập định vẫn thấy biết rõ ràng tất cả vô lượng kiếp của con chim. Khi nhập định quán sát, thì vị trí tuệ nhất trong hàng A La Hán cũng chỉ thấy được 8 vạn kiếp quá khứ và vị lai của con chim, muốn biết thêm cũng không được. Còn Đức Phật, Ngài vừa nhìn đã biết suốt từ vô lượng kiếp xưa , khi còn làm người , con chim này đã tạo những tội gì. Phật lại thấy luôn vô lượng kiếp sau của con chim, từ số kiếp làm thân chim ( bằng số cát trong sông Hằng ), đến số kiếp làm thân người( 500 kiếp ), và Phật biết luôn chú chim bồ câu này sau sẽ xuất gia, từ đó tu theo lục độ Ba la mật trải 3 A tăng kỳ kiếp, qua các tầng bậc Bồ Tát , sau cùng thành Phật. Trí tuệ Phật quả thực vô cùng vĩ đại, không có ngằn mé, không có hạn lượng, thấu suốt các pháp của thế gian và cả xuất thế gian. Không chân lí nào mà Phật không biết rõ, không con đường nào là Phật không thông tỏ. Uy đức của Phật chói sáng vời vợi, đến mức ngay cái bóng của Phật cũng có thể phá tan sợ hãi cho chúng sinh. Nếu ta có đem mặt trời để ví von, ca tụng Phật thì chỉ là vì chẳng biết lấy gì hay hơn để ví mà thôi, còn thực ra một mặt trời chứ đến trăm tỉ, ngàn tỉ mặt trời cũng chẳng thể đem so với trí tuệ của Phật được . Thế nên , ta càng thấm thía rằng , thật diễm phúc thay, thật may mắn thay, thật tự hào thay khi ta được làm đệ tử của Đức Phật. Hiện nay, rất nhiều người ảo tưởng rằng khi khoa học phát triển, thì những vấn đề tâm linh mà đạo Phật nói như quỷ thần, luân hồi, nhân quả .v.v… sẽ bị xóa sổ trước lăng kính của khoa học. Họ tưởng rằng sớm thôi, nhân loại sẽ chẳng còn ai tin vào những điều đó. Nhưng thực tế lại đi ngược lại với những điều họ ảo tưởng. Khoa học càng phát triển, thì họ lại càng tìm ra được nhiều bằng chứng hơn, xác thực lại những điều Đức Phật nói là sự thật. Ví dụ như vào thập niên 1670, Antonie van Leeuwenhoek, nhà khoa học và thương nhân người Hà Lan, đã cải tiến kính hiển vi và phát hiện ra vi khuẩn. Đến khi đó, khoa học mới biết đến những sinh vật nhỏ bé vô cùng mắt thường không nhìn thấy, và coi đây là một khám phá vĩ đại của loài người. Thế nhưng họ không biết rằng, Đức Phật đã miêu tả về những sinh vật nhỏ bé ấy trước họ hàng ngàn năm. Thủa đó, khi Đức Phật trông thấy các đệ tử dùng gáo múc nước sạch trong chum để uống, Phật dạy: “Các ông phải niệm chú trước khi uống nước ấy, vì trong nước đó có nhiều sinh vật rất nhỏ bé”. Thời đó chưa có kính hiển vi, người ta chỉ có thể tin Phật mà làm theo chứ không thể nhìn thấy vi khuẩn. Nhưng với công nghệ hiện nay thì nhân loại đã nhìn thấy được, và điều Phật nói đã được công nghệ khoa học chứng thực. Những điều như thế đã khiến Albert Einstein, nhà khoa học lỗi lạc nhất thế kỉ XX tò mò và bỏ công nghiên cứu về giáo lý đạo Phật. Càng nghiên cứu thì ông lại càng thấy bất ngờ vì những điều Đức Phật dạy, không những chính xác, mà còn bỏ xa hiểu biết hạn chế của khoa học. Và ông – đại diện không thể uy tín hơn cho giới khoa học, phải thừa nhận rằng: “Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng được các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để theo xu hướng của khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học.” Vậy nên những người đã quy y làm đệ tử Phật, thay vì chỉ biết cầu xin khấn vái, đi hết chùa này đến chùa khác chỉ để tham quan du lịch, cần thường xuyên bỏ thời gian mà nghiên cứu học hỏi trong kinh điển Đức Phật để lại, đồng thời bỏ công sức mà tư duy, phân tích, so sánh với cuộc sống thực tế… để có thể hiểu được những tinh hoa, tuyệt diệu của trí tuệ Phật ẩn chứa trong bao nhiêu kinh điển, mà ứng dụng trong cuộc sống, không uổng một kiếp người được làm đệ tử Phật – đấng Thiên Nhân Sư thầy của khắp trời người. (Quang Tử) ________________ *Phật Pháp vi diệu nhưng rộng lớn quá, khiến bạn không biết bắt đầu từ đâu ? Hoặc bạn đã tìm hiểu nhiều xong vẫn còn cảm thấy chưa nắm được những điểm mấu chốt để áp dụng là những điểm nào ? Chính vì vậy, Quang Tử đã tóm gọn lại những bài viết mang tính then chốt, chứa đựng những giáo lý mang tính ứng dụng thực tế cao, được nhiều người quan tâm trong thời đại này, mà bất cứ người nào cũng cần nắm rõ, làm hành trang căn bản, để ứng dụng hóa giải mọi khổ đau của cuộc đời. 21 bài viết và video trong fanpage Facebook này, 21 chủ đề khác nhau, tuy chẳng là gì so với biển học mênh mông của Đạo Phật, xong hi vọng sẽ giúp bạn thỏa mãn khao khát tìm hiểu, nắm vững yếu chỉ then chốt. Hãy bấm vào link bên dưới và lần lượt khám phá từng bải viết. ↓↓↓ LINK 21 BÀI HỌC THEN CHỐT

BẰNG CHỨNG LUÂN HỒI : PHI CÔNG ĐỨC ĐẦU THAI THÀNH NGƯỜI ANH

Vào khoảng cuối năm 1983, một bài báo đăng trên Woman’s Own được gửi đến Đại học Y khoa Virginia, Mỹ, nằm trên bàn làm việc của tiến sĩ Ian Stevenson- nhà khoa học nghiên cứu về các bằng chứng luân hồi. Bài báo miêu tả về một cậu bé tên Carl Edon sinh ngày 29/12/1972 tại thành phố Middlesbrough, vùng Đông Bắc nước Anh. Ngay từ nhỏ, cậu bé Carl Edon đã hay nằm mơ thấy những cơn ác mộng, và bật dậy la hét giữa đêm. Cậu kể với bố mẹ rằng cậu là một phi công Đức đã chết trong Thế chiến 2, máy bay của cậu bị rơi, chân phải cậu bị đứt lìa và mất máu đến chết. Bố mẹ cậu an ủi cậu rằng đó chỉ là mơ. Nhưng cậu thì khăng khăng cậu thực sự đã sống qua kiếp sống đó, và để chứng minh, cậu chỉ vào đùi phải, ở đó có những vết bớt lấm tấm màu đỏ. Tất nhiên bố mẹ cậu biết có vết bớt ở đó, xong không ngờ con trai lại lấy nó để chứng minh cho câu chuyện của cậu. -Nó thực sự đã xảy ra – cậu bé quả quyết- Con đã chết. Một trong những động cơ của chúng con bị hỏng và con đã mở một cánh cửa để cố gắng thoát ra ngoài, nhưng chân phải của con đã không còn. Mọi chuyện chưa dừng lại, lên năm tuổi, mẹ cậu – bà Val ngạc nhiên khi cậu vẽ một bức tranh khá chỉnh chu, không hề nghệch ngoạc như những đứa trẻ vẽ tí nào. Trong hình là biểu tượng con chim đại bàng dang cánh sang hai bên, phía dưới là một biểu tượng chữ vạn. Khi được mẹ hỏi về ý nghĩa bức vẽ, cậu hào hứng kể rằng, đây là phù hiệu không quân mà cậu từng đeo. Mẹ cậu giật mình khi nhận ra, đó đúng là biểu tượng của Đức Quốc xã. Nhưng chưa, lần khác cả gia đình lại thêm một sự ngạc nhiên lớn hơn khi Carl tròn 6 tuổi, bố cậu bé – ông Jim Edon tìm thấy một bức tranh vẽ mô tả cực kì chi tiết mọi thứ trong một buồng lái máy bay, với đầy đủ các loại đồng hồ, thiết bị đo đạc, và cần gạt, bố trí theo một trật tự rất chuyên nghiệp. Thấy bố có vẻ quan tâm, Carl Edon kể rằng đây là hình vẽ bên trong buồng lái của một chiếc máy bay Messerschmitt. Rồi cậu chỉ cho ông vào một cái bàn đạp màu đỏ nằm phía dưới và giới thiệu, đây là tay cầm để thả bom. Bức tranh như một bằng chứng để bố mẹ tin rằng câu chuyện cậu đã kể là sự thật chứ không phải mơ. Nhưng ông Jim- bố cậu vốn là một người theo đạo Thiên Chúa không tin có luân hồi. Ông phải tìm cho ra sơ hở để bác bỏ câu chuyện của con trai. Ông hỏi: – Vậy con đã mặc đồng phục gì ? – Quần dài màu xám, nhét vào đôi bốt da cao đến đầu gối và áo khoác đen – Carl trả lời không chút do dự. Vài ngày sau, Jim cầm bức tranh của con trai đến thư viện thành phố Middlesbrough để tìm cho ra sơ hở. Ông đinh ninh rằng ông đã tìm ra, vì với những gì ông nhớ, thì Messerschmitt không phải máy bay ném bom, nó chỉ là một chiếc máy bay chiến đấu. Ông tìm kiếm mọi loại sách về không quân Đức Quốc xã mà thư viện có để tra cứu. Ruốt cuộc, sự thật đã làm ông thất vọng. Một cuốn sách có in hình chi tiết bên trong của chiếc máy bay Messerschmitt, với đồng hồ, cần gạt, phù hiệu… đúng như tranh mà con trai ông- Carl Edon vẽ, và nó chính là một chiếc máy bay ném bom. Đồng phục của phi công cũng đúng như Carl nói: quần dài màu xám, nhét vào đôi bốt da cao đến đầu gối và áo khoác đen. Jim sốc thực sự, hóa ra chính ông mới là người phải thay đổi quan điểm. Ông đành chấp nhận rằng, con trai ông có một tiền kiếp là một phi công Đức đã tử nạn, ngoài ra không còn cách lí giải nào khác. Vài năm sau, Carl Edon vẫn tiếp tục kể lại tiền kiếp của mình chi tiết hơn, về nơi cậu đã sinh ra và lớn lên – một ngôi làng ẩn mình giữa những ngọn đồi trong rừng ở Đức. Tên bố cậu ở tiền kiếp là Fritz, còn tên mẹ thì không thể nhớ được, chỉ biết rằng bà đeo một cặp kính cận và rất lớn, với mái tóc đen được búi chặt lại phía sau. Từ nhỏ, cậu đã được bố mẹ phân công làm việc nhà, chặt gỗ và đẩy về nhà bằng xe rùa, nếu không sẽ phải đối mặt với cơn giận của mẹ. Lớn lên, cậu và các anh em trong nhà đều nhập ngũ. Trong quân ngũ, cậu và đồng đội sống trong doanh trại, với rất nhiều túp lều nhỏ xếp thành hàng, với hội trường có treo hình Hitler, và mọi người lấy nước từ máy bơm. Và chi tiết quan trọng nhất. vào ngày mà cậu chết, khi đó cậu 23 tuổi, trong lúc chiến đấu, máy bay trúng đạn, động cơ hỏng và nó bắt đầu rơi nhanh về phía các tòa nhà dưới mặt đất. Cậu đang ở trong buồng lái, cảm nhận được sự rung lắc dữ dội của thân máy bay. Cậu không thể thoát ra vì chân phải đã bị đứt lìa, máu tuôn xối xả. Rầm ! Một vụ va chạm rất mạnh, cậu thấy các mảnh kính văng khắp nơi, còn cậu bị kẹt trong đó, thương tích đầy mình và chảy máu đến chết. Không chỉ miêu tả các sự kiện kiếp trước, Carl còn tiên đoán kiếp này, giống như kiếp trước, cậu sẽ chỉ sống chưa đến 25 tuổi. Như vậy, cậu từ một phi công Đức ném bom xuống nước Anh, bị tử trận ở Anh, rồi lại đầu thai thành một người Anh, và dự đoán sẽ chết trẻ. Tiến sĩ Stevenson sau khi đọc kĩ bài báo, đã cử một cộng sự là Tiến sĩ Nicholas McClean-Rice, đến phỏng vấn Carl. Tuy nhiên, với những dữ liệu trên thì chưa khẳng định được điều gì, vì còn phải tìm ra tung tích của người phi công Đức đó để đối chiếu, mà việc đó thì lại quá khó. Nên trường hợp của Carl Edon đành gác lại đến nhiều năm sau. Mùa hè năm 1995, Carl Edon chết trong một vụ ẩu đả, bị đâm 37 nhát dao, đúng như khoảng thời gian mà cậu đã dự đoán từ nhỏ. Câu chuyện của cậu có lẽ sẽ chìm vào quên lãng, nếu như không có một sự kiện xảy ra vào 2 năm sau. Tháng 11/1997, các công nhân của cơ quan cấp nước Northumbrian đang đào một đường ống dẫn nước thải tại một địa điểm ở Clay Lane, cách hộp tín hiệu Grangetown vài dặm, thì phát hiện ra một xác máy bay. Vì sợ xung quanh có bom chưa nổ, nên quân đội được gọi đến xử lí. Vài hôm sau, một đội chuyên gia xử lý bom từ RAF Wittering gần đó bắt đầu khai quật hiện trường. Chiếc máy bay sau đó sớm được xác định là một máy bay ném bom Messerschmitt, thuộc một đơn vị Không quân Đức Quốc xã, căn cứ tại Schiphol, Hà Lan. Kiểm tra nhanh các hồ sơ cho thấy đó là chiếc máy bay đã rơi vào tối ngày 15/01/1942 sau khi trúng đạn gần bờ biển và va chạm với một quả khinh khí cầu, trong máy bay là một tổ đội 4 phi công. Vào năm đó, khi máy bay rơi, quân đội Anh đã lấy ra 3 thi thể phi công, còn một thi thể nữa bị kẹt không lấy ra được, nên người ta đã chôn luôn cùng chiếc máy bay, để nhanh chóng nối lại giao thông. Thi thể thứ 4 vẫn nằm đó cho đến tận ngày nay, lục hồ sơ, người ta xác định được danh tính, là của xạ thủ máy bay, Heinrich Richter. khi mọi người đào lên, thấy nó khá hoàn chỉnh, trừ một chi tiết : xương đùi phải đã tách lìa khỏi cơ thể, chứng tỏ phi công này đã bị đứt rời chân trước khi chết. Ngoài ra, họ còn phân tích thêm một chi tiết, phi công này đang ngồi ở vị trí xạ thủ, nằm trong một quả cầu thủy tinh phần dưới máy bay. Khi va trạm, quả cầu thủy tinh đã vỡ tan thành nhiều mảnh vụn. Các chi tiết trên đều ăn khớp với câu chuyện mà Carl Edon đã kể, khi máy bay rơi, cậu bị đứt lìa chân phải, và thấy hàng ngàn mảnh kính vỡ. Sau này, nhà sử học Bill Norman của Middlesbrough, một người cũng rất quan tâm đến sự việc luân hồi của Carl Edon, đã tìm được gia đình của phi công Heinrich Richter, và xác minh được những chi tiết mà Carl kể về gia đình tiền kiếp đều ăn khớp với Heinrich Richter. Đến đây, mọi chứng cứ đã xác thực những lời kể của Carl Edon là sự thật, cậu chính là phi công Heinrich Richter đầu thai. Ông hỏi xin một bức ảnh của anh ta. Khi đối chiếu hai bức ảnh chụp của Heinrich Richter với Carl Edon, người ta không khỏi kinh ngạc. Họ giống nhau đến kì lạ, chẳng qua Heinrich gầy hơn Carl mà thôi.

BẰNG CHỨNG LUÂN HỒI CỦA TITU SINGH

Titu Singh là một cậu bé người Ấn Độ sinh vào tháng 12/1983 tại một ngôi làng gần thành phố Agra, miền Bắc Ấn Độ. Mọi chuyện vẫn bình thường cho đến năm cậu được hai tuổi rưỡi, cậu đột ngột kể cho cha mẹ mình về một cuộc sống khác mà cậu từng sống, khiến cha mẹ cậu phải kinh ngạc. Cậu kể rằng cậu từng là một người đàn ông tên Suresh Verma sống ở thành phố Agra. Ở đó cậu có một người vợ tên Uma cùng hai đứa con. Cậu có một cửa hàng kinh doanh máy radio với bảng hiệu in dòng tên Suresh. Cuộc sống yên bình trôi qua cho đến một ngày kia, vào tháng 8/1983, cậu đi làm về, bấm còi xe ở trước nhà để vợ ra mở cửa, thế nhưng lúc này bất ngờ có 2 người đàn ông hùng hổ lao tới và bắn vào đầu của cậu, cậu nhận ra một trong hai người là Sedik – một thương gia. Vợ cậu từ trong nhà nghe thấy tiếng súng liền chạy ra, lúc mở cửa xe thì cơ thể của Suresh đã đổ lên người cô. Vụ án đi vào bế tắc vì cảnh sát không tìm được manh mối gì tại hiện trường. Bạn đoán xem bố mẹ của Titu Singh, nghe con mình nói rằng nó là một ông Suresh nào đó bị bắn chết, họ sẽ phản ứng ra sao ? Tất nhiên rồi, họ tròn xoe mắt, ngạc nhiên vì sức tưởng tượng phong phú của con trai mình, nhưng chẳng ai tin cả. Titu cứ lặp lại câu chuyện này nhiều lần, khăng khăng rằng đó là sự thật, nhưng càng làm bố mẹ cậu khó chịu. May cho cậu là cậu có một người anh trai thấy rất tò mò về chuyện này. Vài năm sau, trong một lần tiện đường đến thành phố Agra buôn bán, anh ta đã đi tìm thử xem, liệu trên đời có cửa hiệu bán radio như cậu em mình tả không. Và anh ta đã sững sờ khi cuối cùng đã tìm ra cửa hiệu radio với tấm bảng hiệu in dòng chữ to đùng : Suresh Verma. Đánh bạo vào hỏi thăm nhân viên để xin gặp Suresh Verma, anh trai Titu được họ cho biết rằng ông Suresh đã bị bắn chết cách đây mấy năm. Thật kinh ngạc, đến đây anh ta đã bị thuyết phục hoàn toàn, nên đã xin gặp bà chủ Uma, vợ của Suresh Verma, rồi kể hết sự tình về câu chuyện của Titu cho Uma nghe. Sau đó Uma cùng với bố mẹ và 3 anh trai của Suresh đã đến gặp Titu để xác minh câu chuyện. Khi Titu lần đầu nhìn thấy họ đang từ xa đến nhà mình, cậu đã quay sang nói với bố mẹ hiện tại: “Đây là gia đình kiếp trước của con đó.” Khi mọi người đã vào trong nhà gặp mặt, Titu yêu cầu Uma ngồi cạnh cậu. Tất nhiên, phía bên gia đình Uma chưa có tin cậu bé Titu là Suresh Verma tái sinh, nên đã chuẩn bị cho hàng loạt các câu hỏi, các phép thử về những bí mật gia đình chỉ Suresh Verma biết. Và như nắm được tâm lý đó, Titu nhanh chóng kể lại các chuyện xưa cũ khi cậu còn là Suresh Verma. Titu miêu tả chi tiết về cuộc gặp gỡ với Uma trong kiếp trước ở một ngôi làng lân cận, tất nhiên, khi đó cậu là một chàng trai. Cậu kể thêm về một kỉ niệm riêng của hai vợ chồng khi cậu mua kẹo cho vợ ở một lần đi chơi, hai người đã vui vẻ như thế nào. Và cậu còn nói về việc đã bí mật chôn một ít vàng trong nhà, chỉ rõ vị trí đó ở đâu. Uma thảng thốt đến rụng rời, vì tất cả những điều đó đều chính xác, chỉ Suresh Verma mới biết được. Uma đã hoàn toàn tin tưởng cậu bé này chính là người chồng quá cố của mình đầu thai lại. Tuy nhiên, để cho chắc chắn hơn, thì mọi người trong gia đình vẫn tiếp tục thử Titu thêm nữa. Mọi người chở Titu về lại thành phố Agra, lúc đi ngang qua cửa hàng radio, người anh của Suresh Verma cố tình phóng xe nhanh vượt qua. Lập tức Titu thốt lên: ” Dừng lại! Đây là cửa hàng radio của tôi.” Bước vào cửa hàng, Titu liếc qua liền có thể chỉ rõ những thay đổi mới đây trong cách bài trí so với khi cậu còn là chủ mấy năm trước. Tiếp theo, mọi người trở Titu đến căn nhà cũ, ở đó có sẵn một đám trẻ con để thử cậu. Và chỉ nhìn qua, Titu đã nhận ra hai đứa trong đám trẻ đó là con của mình (giờ chúng còn lớn tuổi hơn cả cậu). Đến đây, tất cả mọi người không còn gì nghi ngờ nữa, chính thức công nhận Titu là Suresh Verma đầu thai lại. Câu chuyện nhanh chóng đến tai của giáo sư Chaida từ Đại học Delhi ở Ấn Độ. Ông liền đến xin phỏng vấn, và phát hiện thêm một số chi tiết thú vị, khẳng định thêm việc Titu chính là Suresh Verma, đó là vết bớt. Titu có hai vết bớt, một ở trên trán và một ở phía sau đầu. Và nó đúng ở vị trí so với vết thương do viên đạn đã bắn chết Suresh Verma gây ra, nó xuyên từ trán ra sau đầu. Ngay cả kích thước và hình dạng cũng y hệt. Và tiếp theo, thêm một lực lượng nữa vào cuộc: cảnh sát, vì sự việc liên đến một án mạng. Họ thẩm vấn kĩ càng Titu, rồi theo lời khai của cậu, cảnh sát nhanh chóng bắt giữ các hung thủ đã giết Suresh Verma, là Sedik và một gã đồng bọn nữa. Chúng đã nhận tội, lời khai cũng ăn khớp như những chi tiết Titu miêu tả. Chúng đã tính toán kĩ và xóa mọi dấu vết để không ai tìm ra được chúng, nhưng ai mà ngờ được việc nạn nhân đầu thai lại, vẫn nhớ tiền kiếp mà phanh phui ra sự thật như vậy. Lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt. Với những tình tiết li kì, lại mang độ xác thực rất cao như vậy, nên câu chuyện Suresh Verma tái sinh thành Titu đã nhanh chóng nổi tiếng toàn cầu. Các giáo sư chuyên nghiên cứu về luân hồi, phóng viên, nhà báo từ khắp nơi trên thế giới đến điều tra, nghiên cứu. Và cuối cùng, họ đã công nhận trường hợp đầu thai của Titu trong nhiều tài liệu khoa học khác nhau và trên các kênh truyền thông uy tín như chương trình “40 Minutes” của BBC TV, tạp chí “Reincarnation International” và trang web của IISIS – viện nghiên cứu về khoa học, linh cảm và tinh thần.

NIỆM QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT TÍCH TẮC LIỀN QUA KHỎI

Cuộc đời bạn đã trải qua một lần trải nghiệm nào đó mà bạn không thể lí giải nổi chưa ? Riêng tôi thì có, và không chỉ một lần đâu, mà là 4 lần, tôi sẽ lần lượt kể lại những chuyện ấy. Tôi tên Nguyễn Thị Ngọc Nhiên, Quy Y theo Phật từ nhỏ, pháp danh là Nguyên Hằng, hiện sống tại Cam Lâm – Khánh Hoà. Vào năm tôi học lớp 12 (2010) ở Trường THPT Trần Bình Trọng. Ngày tháng thi tôi không nhớ, chỉ nhớ hôm đó lúc tan trường ra về, gặp đúng ngày trường đang tu sửa. Tôi đi ngang qua sát chỗ mấy cái giàn giáo, mà trên đó, các chú thợ xây đang hì hục cào vôi tường. Bụi vôi tường bay mịt mù, những cục vôi to nhỏ rơi lả tả xuống đất. Dại dột sao, tôi lúc đó lại ngửa cổ nhìn lên… Ô thôi, bất ngờ một cục vôi bay vào mắt, Cũng chẳng biết cục vôi đó to hay nhỏ, tôi chỉ biết là đau đến vô cùng tổ quốc ta ơi. Bình thường ai bị bụi hay hạt cát nhỏ, hay lông mi rơi vào mắt là đã xót khó chịu lắm rồi. Mà lần này tôi bị cả miếng vôi bay vào mắt, nó đau đớn gấp trăm ngàn lần… Nước mắt chảy ròng ròng, nhắm không được mà mở cũng không xong, bị mắt trái mà mắt bên phải cũng không mở nổi, cực kì khó chịu. Từ trường chạy xe đạp về nhà 3 cây số giống như 3 vạn dặm ở địa ngục. Mắt mở không nổi, vừa đau, vừa xót, vừa lộm cộm không thể dùng từ ngữ nào diễn tả được. Về được tới nhà không bị tai nạn là cảm thấy may mắn lắm rồi, vì chỉ cố gắng lâu lâu hé mắt ra nhìn một chút, thấy mọi thứ mờ mờ loáng thoáng mà thôi. Bước vào trong nhà, tôi liền lết đến chỗ chiếc gương xem sao. Ôi không, cả một mảng vôi rất to nằm trong mắt, che muốn hết tròng mắt. Xung quanh là những hạt li ti bám rất chặt vào con mắt trái đang đỏ ngầu. Tôi tá hoả tam tinh, khóc thét lên. Bình thường vôi tường mà có nước dính vào gỗ, hay quần áo, muốn phủi đi còn khó, chứ đừng nói dính vào mắt. Chắc quả này thì chỉ có đường đi bệnh viện lấy ra thôi. Đau quá, tôi luống cuống tìm mọi cách gỡ vôi ra cho đỡ đau, nhưng đều vô dụng. Càng hí hoáy vào đấy thì vôi càng lan rộng ra chứ không mất đi miếng nào. Trong đầu tôi hiện ra một tương lai mịt mù, quả này thi hư luôn con mắt rồi, chắc tới bác sĩ cũng chào thua, vì vôi nó dính rất chắc. Bất chợt lúc đó tôi nhớ tới Quán Thế Âm Bồ Tát, nhà tôi có thờ tượng Quan Âm. Mấy năm nay nhà tôi cũng tu học theo chương trình Gia đình Phật Tử, nên tôi cũng biết ăn chay, niệm Phật dù không được tinh tấn cho lắm. Tôi lật đật chạy lên quỳ lạy Ngài và khóc oà lên tức tưởi. Tôi bắt đầu niệm danh Ngài: “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát !” Chắc niệm được ba câu, rồi tôi van xin: “Cầu xin Mẹ từ bi cứu con, con không muốn mù mắt, thực sự con rất đau đớn, con không thể chịu thêm được phút nào nữa…” Rồi tôi khóc trong tuyệt vọng. Lạy xong tôi thờ thẫn đi xuống nằm lên võng. Tôi vừa nằm xuống, nhắm mắt và mở mắt ra một cái… thì kì lạ chưa, không còn đau nữa. Tôi ngạc nhiên hết sức, giây trước còn đau dữ dội, qua giây sau sao đã hết đau rồi ? Tôi thử nhắm mở nhiều lần lần xem còn đau không. Ồ, quả thật không còn đau. Tôi bật dậy lấy gương soi xem sao. Không thể tin được, mảng vôi trong mắt hoàn toàn biến mất. Lạ ki hơn là không hề còn chút ít dấu nào cả, một hạt vôi li ti cũng không thấy. Bình thường cát bay vào mắt, lấy ra thi vẫn còn thấy “À, đây là hạt cát”. Còn trường hợp của tôi thì không, tôi cố tìm thêm vài lần xong cũng không còn hạt lớn bé nào cả, mắt cũng không còn đỏ. Tất cả chỉ diễn ra trong vòng tích tắc, khiến tôi thấy rất khó hiểu. Lạy Bồ Tát xong tôi không hề có tác động nào, không dụi mắt hay nhỏ thuốc gì, loáng cái mắt sạch hết vôi. Tôi biết là niệm Quán Thế Âm Bồ Tát rất linh, nhiều người nhờ niệm danh Ngài đã thoát nạn, nhưng có thể nào như vậy? Linh nghiệm đến thế sao ? Quá sức vi diệu ! Lúc đó tôi mừng cuống lên, và lại khóc thêm lần nữa. Lần này là khóc vì mừng. Tôi vội vàng lên lạy cảm tạ Quán Thế Âm Bồ Tát, oai lực của Người thật không thể nghĩ bàn được. Nhiều năm đã qua, đến bây giờ tôi vẫn không thể lí giải được chuyện khi đó? Những mảng vôi lớn nhỏ đó biến đi đâu trong vòng một hai giây đồng hồ ? Với tôi đó là câu chuyện li kì nhất, khó tin nhất nhưng đó lại là sự thật. Và từ đó, lòng tôn kính Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát trong tâm tôi là vô hạn. Người là bến bờ giải thoát, cứu vớt chúng sinh ra khỏi trầm luân, khổ đau, tăm tối! Con xin đem hết lòng thành kính xin quy y Người! Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát ! Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát ! Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát !

DO ĐÂU CHÚNG TA CỨ MÃI LUÂN HỒI MÀ CHỊU ĐỦ NỖI KHỔ SỞ ?

Vào những năm Càn Long triều đại nhà Thanh, tại vùng Tiền Đường có một cử nhân tên Vương Đỉnh Thực. Ông từ nhỏ đã thông minh ưu tú, năm 16 tuổi đã thi đỗ Cử nhân. Tuy nhiên sau đó cả 3 lần liên tiếp đi thi tiến sĩ cũng không thể đỗ đạt. Ông ta có một người họ hàng làm quan gần kinh thành, đã đón ông về ở cùng. Có một lần, Vương Đỉnh Thực đột nhiên phát bệnh, không ăn được chút gì, mỗi ngày chỉ uống vài chén nước. Ông ta nói với người thân thích kia: “Tôi kiếp trước là hòa thượng tại chùa Kính Sơn, tu hành đã được mấy chục năm, cũng sắp công đức viên mãn. Chỉ vì lúc còn sống đã nhìn thấy một người trẻ đỗ đạt tiến sĩ, trong lòng rất hâm mộ. Không chỉ ham công danh, tôi còn có tâm mong cầu giàu sang phú quý, không cách nào đoạn tuyệt được. Chính vì vậy, tôi phải lưu lạc nơi nhân gian này hai đời, hiện tại đang là đời thứ nhất. Không lâu nữa, tôi sẽ chuyển sinh đến một gia đình giàu có họ Diêu ở ngoại thành Thuận Trị. Việc ông giữ tôi ở lại đây cũng là duyên phận kiếp trước đã định ra như vậy”. Người bà con kia khuyên giải, an ủi Vương Đỉnh Thực, thì ông nói: “Sinh tử đời người đều có định số, không thể dài lâu. Chỉ là ân nghĩa sinh thành của cha mẹ, không thể nói dứt là dứt ngay được”. Thế là Vương Đỉnh Thực lấy giấy bút viết thư cáo biệt cha mẹ, trong đó đại khái nói: “Con cái bất hạnh, chết tha hương ngàn dặm ở bên ngoài, hơn nữa thọ mệnh ngắn ngủi, còn để lại vợ trẻ con thơ, khiến cha mẹ phải tăng thêm gánh nặng. Nhưng mà, con không phải thực sự là con của cha mẹ, em trai mới đúng là con của cha mẹ. Cha còn nhớ hay không, mỗi năm tại quán trà ở Kính Sơn cha đều uống trà đàm đạo với một vị hòa thượng, vị hòa thượng đó chính là con. Lúc đó nói chuyện cùng với cha thấy rất hợp, trong lòng nghĩ, cha là người trung thành, cẩn thận, phúc hậu, nhưng vì sao ông Trời lại không cho cha có một đứa con nối dõi? Bởi vì động niệm này, cho nên con đã đầu thai thành con trai của cha. Con dâu của cha cũng là khi còn nhỏ từng kết thiện duyên với con. Điều này cũng tựa như hoa trong kính, trăng trong nước, đều là nhân duyên hư ảo, không thể dài lâu. Hy vọng cha đừng quá đau lòng, mà nên đoạt dứt hết, như thế mới có thể miễn đi tội lỗi của con”. Người họ hàng của Vương Đỉnh Thực hỏi rằng khi nào thì ông mới đầu thai tới Diêu gia, ông nói: “Cả đời này tôi không gây ra tội lỗi gì, cho nên sau khi chết ở đây, sẽ lập tức chuyển sinh đến đó, không phải chờ đợi nữa”. Vào buổi sáng ba ngày sau đó, Vương Đỉnh Thực lấy một chậu nước, rửa mặt, súc miệng xong xuôi, ngồi xếp bằng, gọi người họ hàng tới, hai người nói chuyện như thường ngày, vô cùng vui vẻ. Bỗng nhiên, Vương Đỉnh Thực hỏi: “Đã đến trưa chưa?” Người thân thích nói: “Đang là giữa trưa”. Vương Đỉnh Thực nói: “Vậy đã đến giờ rồi”. Ông vừa chắp tay cáo biệt liền tắt thở. Người thân thích vội đến Diêu gia thám thính, quả nhiên hôm đó Diêu gia sinh ra một đứa trẻ. Nhà họ Diêu kinh doanh ngựa, mặc dù có tiền, nhưng ồn ào bất tịnh. Người thân thích nhìn mà lắc đầu. Tuệ Tâm _______________________ Lạm bàn: Câu chuyện tuy ngắn nhưng triết lí ẩn trong đó hết sức sâu sắc. Tại sao chúng ta cứ phải lặn hụp trong kiếp người này, để rồi phải nếm đủ mùi đau khổ của sống chết, của bệnh tật, già nua, của ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc… mãi không thoát khỏi luân hồi sinh tử được ? Đó chính là do trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta khởi quá nhiều tâm ham muốn. Mỗi lần khởi một ham muốn, lập tức nó liền tạo lập ra một kiếp sống trong tương lai. Như kiếp trước của Vương Đỉnh Thực, là một vị tăng, dù xuất gia nhưng tâm không đoạn trừ các ham muốn. Khi ông nhìn thấy một người trẻ đỗ đạt tiến sĩ, trong lòng rất hâm mộ, tức là muốn công danh, lập tức tâm đó khiến ông phải sinh ra một kiếp để theo đuổi công danh, quyền chức ( chính là kiếp làm Vương Đỉnh Thực) Rồi ông lại khởi tâm muốn giàu có, thế là tương lai ông phải sinh ra một kiếp làm người giàu có ( tức là kiếp làm con chủ nhà họ Diêu chuyên buôn ngựa). Công đức tu hành cũng theo đó mà hao tổn, không đắc Đạo được, vì công đức tu hành đã theo như tâm mong cầu mà chuyển sang phước báo giàu có. Rồi nhân một lần uống trà với một người, ông lại động niệm muốn người đó có con nối dõi, thế là kiếp sau sinh làm con người đó. ( Ở đây là một kiếp sinh làm con ngay, nhưng nếu chưa đủ duyên, thì sẽ chờ nhiều kiếp cho đến khi duyên đủ, sẽ sinh làm con cho đúng sở nguyện) Cứ theo quy luật trên đây mà nhìn lại mình, vô số lần chúng ta khởi ra các ham muốn, nào là muốn có tiền, muốn có tình, muốn nổi tiếng, hay muốn công danh lợi lạc, muốn du lịch, muốn mua sắm… đủ vô số thứ khác nhau, có nghĩa là ta đã tự mình tạo ra vô số kiếp trong tương lai. Và mỗi khi tạo ra một kiếp sống mới, có nghĩa là ta sẽ có thêm một lần nếm mùi cái chết ( vì đương nhiên, đã sinh ra thì phải chết đi) Có vô số kiếp sống mới, có nghĩa là sẽ có vô số lần phải gặp thần chết , kèm theo vô biên vô lượng các đau khổ khác mà một kiếp sống luôn luôn có, như khổ của bệnh tật, của già nua, của chia lìa, của tan vỡ, của mất mát, của thất vọng, của bức xúc v.v… Chưa kể đến sống qua một kiếp người, ta bị lôi kéo của tham lam, ích kỉ, ganh đua… mà tạo ra đủ thứ tội lỗi, khiến phải chịu vô số quả báo lớn nhỏ, khổ nối tiếp nhau vô cùng tận. Chính vì thế, Phật dạy : Ái ( ham muốn) là nguyên nhân của đau khổ. Và Phật Pháp luôn dạy cho mỗi người cắt giảm ham muốn, cho đến khi hoàn toàn không còn ham muốn. Vậy phải chăng, như thế thì cuộc sống sẽ vô cùng buồn tẻ ? Câu trả lời là KHÔNG. Chẳng qua chúng ta chưa đến được cảnh giới hoàn toàn không ham muốn, không sinh tử luân hồi như Phật dạy, nên chúng ta tưởng rằng như thế là buồn tẻ. Thực ra, đó là cảnh giới an lạc tuyệt đối, vượt xa mọi hạnh phúc mà chúng ta có thể tưởng tượng được. Giống như người bị hàng trăm thứ bệnh giày vò nhiều năm, bỗng được khỏi hết bệnh, không bao giờ bị lại nữa. Người đó sẽ cảm thấy vô cùng an lành, nhẹ nhõm, chứ không phải là buồn tẻ. Giống như người bị tống vào xà lim, chịu đủ mọi cực hình tra tấn suốt nhiều năm. Bỗng một ngày được thả tự do, anh ta sẽ thấy an lành, tâm hồn phơi phới, như chút gánh nặng ngàn cân ra khỏi vai mình, chứ không hề buồn tẻ gì cả. Đó chính là đích đến mà Đức Phật muốn chúng ta hướng tới, là cảnh giới mà mọi đau khổ chấm dứt vĩnh viễn, và sự an lạc trở nên vĩnh hằng, Phật gọi đó là Niết Bàn. ( Quang Tử)

ĐIỀU VĨ ĐẠI NHẤT MÀ BẠN CÓ THỂ LÀM

Nếu như bạn đã từng đọc qua rất nhiều câu truyện về Luân hồi và Nhân quả, rồi nghiền ngẫm, suy xét. Chắc hẳn bạn cũng cảm thấy kinh sợ vì sự nguy hiểm của luân hồi,sự khủng khiếp của nghiệp báo. Truy xét kiếp trước của những chúng sinh trong địa ngục, đang ngày đêm bị chặt chém, gào thét giữa vô vàn máu, nước mắt, quỷ dữ và lửa đốt không ngơi nghỉ. Ta thấy có rất nhiều người , những kiếp xưa cũng đã từng làm những việc rất tốt, cũng giúp đỡ người nghèo khổ, cũng cúng dường, cũng xây cầu làm đường… cũng đủ mọi điều lành Rồi nhờ phước đức đó kiếp sau họ đầu thai về những nơi sung sướng , người thì được giàu sang,vinh hiển, người thì làm quan tướng, vua chúa, hay cao hơn, sinh lên cõi trời làm thần, làm tiên. Khi ấy, sự cao sang quyền quý, sự thụ hưởng phước báu khiến họ u mê, không còn hiền thiện như kiếp trước nữa. Họ bắt đầu kiêu ngạo, ác độc và tạo ra bao nhiêu điều tội lỗi. Giết hại chúng sinh, tà dâm, ác khẩu… cũng như trăm nghìn tội lỗi khác. Phước báo đời trước không giữ được họ khỏi những tham lam, sân hận, si mê trong lòng.< kiếp thứ hai > Cuối cùng, vì những tội lỗi mà họ đã tạo, họ bị lôi vào địa ngục, bị thiêu đốt, bị đâm chém … bị đủ mọi đau đớn < kiếp thứ ba > Xét rộng ra tất cả các chúng sinh đang chịu khổ, dù là người, là thú vật, là quỷ đói hay chúng sinh địa ngục ,tất thảy đều đi qua các chu kì như thế: làm phước_ hưởng phước, đồng thời tạo tội_ chịu tội. Mà cái thời gian chịu tội thường lâu gấp ngàn vạn lần cái thời gian hưởng phước, thật là một chu kì ác nghiệt và nguy hiểm. Còn gọi là sự nguy hiểm ở kiếp thứ ba. Ngay đến cả các chư thiên ở các tầng trời cao nhất của cõi Vô sắc giới,hưởng phước báu cõi trời an lạc đến hàng triệu triệu năm, cũng vẫn chưa thoát khỏi cái chu kì ác nghiệt này, huống chi tất cả chúng ta? Thế nhưng không lẽ không có cách nào thoát được cái vòng luẩn quẩn ấy ? Rất may cho chúng ta_ những người có duyên với Phật pháp, là có một lối thoát ! Đức Phật dạy chúng ta con đường Bát chánh đạo( Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định) và khẳng định rằng ai theo con đường ấy sẽ thoát được luân hồi sinh tử. Tuy nhiên, bạn phải hiểu rằng bạn phải thực hành theo đúng Bát chánh đạo trong suốt hàng ngàn kiếp mới mong thoát được cái vòng luẩn quẩn của luân hồi. Điều đó thật sự thiên nan vạn nan! Ngay bước đầu là Chánh kiến (hiểu biết cho đúng), cũng đã là một thử thách lớn lao. Dù kiếp này ta gặp được Phật pháp cũng không gì đảm bảo kiếp sau ta lại gặp được chánh Pháp như thế. Đức Phật, Người biết điều đó, vì lòng từ bi Người đã dạy một yếu chỉ quan trọng, Phật gọi là “PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ”, trong kinh Hoa nghiêm , còn được gọi là ” Sơ phát tâm”, trong kinh Kim Cang, được gọi là ” Phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác” hay trong một số kinh được gọi là ” Phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” Chỉ cần một lần PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ, bạn cũng như bất kì người nào khác đã đặt bước chân đầu tiên lên con đường vững chắc, kiên cố hướng đến quả vị Phật. Cho dù muôn kiếp sau có xảy ra điều gì đi chăng nữa cũng không làm điều này thay đổi được . Nhưng thế nào là PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ ? Thời còn tại thế, Đức Phật kể câu truyện sau :(Trích từ kinh A-xà-thế ) Vào thời quá khứ cách đây vô số kiếp, có đức Phật ra đời hiệu là Nhất Thiết Độ Như Lai. Bấy giờ, một gia đình quý tộc giàu sang có ba đứa con nhỏ. Một hôm, cả ba em mang ba hạt châu đến cúng dường Đức Phật ,khi đó có hai vị Đại đệ tử đứng hai bên Phật. Cúng dường xong, một em nói: “Con muốn sau này được như vị tỳ-kheo đứng bên phải đức Phật.” Một em khác lại nói: “Con muốn sau này được như vị tỳ-kheo đứng bên trái đức Phật.” Em thứ ba nói: “Con muốn sau này được như đức Phật ngồi giữa đại chúng.” Đức Phật Thích Ca kể lại chuyện này rồi dạy rằng: “ Em bé muốn được như vị tỳ-kheo đứng bên trái Phật, nay là Xá-lợi-phất. Em bé muốn được như vị tỳ-kheo đứng bên phải Phật, nay là Mục-kiền-liên.Còn em bé phát nguyện làm Phật, chính là ta ngày nay.” Lời phát nguyện của em bé thứ ba chính là PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ. Chính nhờ một lần phát nguyện như thế, mà em bé đó trải qua vô lượng kiếp tu hành trở thành Đức Phật Thích Ca như chúng ta đã biết. Nói một cách dễ hiểu, PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ là khởi lên ước muốn trở thành Phật. Hòan tòan không khó ,phải không bạn ? Và bạn có thể thực hiện điều đó ngay trong ngày hôm nay ! Những việc bạn cần làm là giữ lòng thành kính, bước đến trước bàn thờ Phật , quỳ xuống , chắp tay hướng đến Phật mà phát lên điều nguyện rằng: “ Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật ! Nam Mô A Di Đà Phật ! Con xin đem hết thảy căn lành, thành tâm mà nguyện rằng : trong vô biên vô lượng kiếp sau, con sẽ tu hành mọi công hạnh không tính kể thời gian để chứng đắc được quả vị Phật giống như Người, hóa độ vô biên vô số chúng sinh trong Pháp giới ! Cúi xin mười phương Chư Phật chứng giám!” Và điều nguyện đó sẽ càng chí thành hơn, càng linh ứng hơn nhiều nếu trước đó, bạn thực hiện một việc phước lành như bố thí, cúng dường, phóng sinh, ấn tống… hay bất kì việc từ thiện nào khác. Rồi cũng đến quỳ trước tượng của Đức Phật mà khấn rằng : “ Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật ! Nam Mô A Di Đà Phật ! Con xin đem hết thảy căn lành và chút công đức bé nhỏ này, thành tâm mà khấn nguyện rằng : nhờ chút ít công đức đó mà trong vô biên vô lượng kiếp sau, con sẽ tu hành mọi công hạnh không tính kể thời gian để chứng đắc được quả vị Phật giống như Người, hóa độ vô biên vô số chúng sinh trong Pháp giới ! Cúi xin mười phương Chư Phật chứng giám!” Mọi cây đại thụ vĩ đại nhất đều bắt đầu từ một mầm cây bé nhỏ. Nếu như bạn thực hiện được điều này, có nghĩa là bạn vừa gieo một hạt mầm của cây Bồ đề vào dòng luân hồi sinh tử của bạn. Không cần biết là trải qua bao nhiêu kiếp nữa, nhưng chắc chắn một điều rằng, lời nguyện thiêng liêng của bạn sẽ thành hiện thực. Tất nhiên, một người sau khi PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ chưa thể ngay lập tức xuất hiện kì tích. Người ấy vẫn còn đầy đủ những tham_ sân_ si, người ấy vẫn còn hay mắc lỗi vì còn bản ngã. Nhưng những điều đó không có cơ hội để tồn tại lâu. Giống như người tự có la bàn trong tâm, dù có đi giữa rừng già hay giữa sa mạc mênh mông, người đó cũng không sợ bị lạc. Người đã gieo hạt giống Bồ đề vào trong tâm luôn tự tìm ra con đường đúng đắn để đi dù không có người chỉ dạy. Dù thời gian có lâu xa, phải trải qua số kiếp nhiều hơn số cát có trong quả Địa cầu này cũng không làm người ấy nản lòng. Dù có khó khăn, nguy hiểm, phải vì chúng sinh mà hi sinh thân mạng, nhiều đến mức phủ kín bề mặt Trái đất này cũng không làm người ấy dừng bước. Chư Thiên trên các tầng Trời không ngừng dõi theo từng bước người ấy bước đi trên con đường dẫn đến Đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì đó là con đường thiêng liêng mà mười phương Chư Phật đã đi. Hãy dũng mãnh lên và PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ ! Đó sẽ là điều vĩ đại nhất mà bạn từng làm trong vô lựợng kiếp qua và mở ra vô số điều vĩ đại trong vô lượng kiếp tới. Chúc bạn sớm viên thành Phật đạo ! Nam Mô Bổn sư Thích Ca Nâu Ni Phật ! Nam Mô A Di Đà Phật ! Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát ! Nam Mô Đại Nguyện Đia Tạng Vương Bồ Tát ! Nam Mô Đương Lai Di Lặc Tôn Phật ! “Chúng sinh vô biên, thệ nguyện độ khắp. Phiền não vô tận, thệ nguyện dứt sạch. Pháp môn vô lượng, thệ nguyện tu học. Phật đạo vô thượng, thệ nguyện thành tựu.” (Quang Tử)

CHUYỆN GÌ ĐÃ XẢY RA VỚI POMPEII THÌ CŨNG CÓ THỂ XẢY RA VỚI CHÚNG TA !

Năm 79 sau công nguyên, núi lửa Vesuvius ở bờ biển phía đông của miền Nam nước Ý phun trào, tro núi lửa cực độc phủ trùm khắp nơi với nhiệt độ lên đến 5000 độ C. Dòng dung nham tuôn chảy cùng những trận động đất kinh hồn, mọi người thấy trời đất như trong ngày tận thế. Đối với người Pompeii, một thành phố ở gần đó thì đó không phải “như”, mà đúng là tận thế thực sự. Chỉ trong mười mấy tiếng, thành Pompeii xa hoa mỹ lệ và thị trấn Herculaneum đã bị thiên nhiên tiêu diệt, khoảng 20.000 người bị nhấn chìm trong dung nham và tro núi lửa. Hàng ngàn năm sau, các nhà khảo cổ vào năm 1738 mới khai quật được các tàn tích, và phát hiện ra câu chuyện bí ẩn bị chôn vùi dưới lớp đá núi lửa đã nguội lạnh. Vì đâu có thảm kịch này ? Chỉ là ngẫu nhiên, hay đằng sau đó là một quy luật ? Ngay sau đây, bạn sẽ có đáp án. Pompeii được xây dựng vào thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, bởi người Oscan. Pompeii có khi là một quốc gia độc lập, có khi thuộc sự cai trị của La Mã. Với vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao thương, lại có khí hậu quanh năm nắng ấm dễ chịu, thiên nhiên ưu đãi phong phú sản vật, Pompeii nhanh chóng phát triển kinh tế, trở thành một hải cảng cực kì giàu có, phồn thịnh. Nó thu hút những người thượng lưu giàu có, quyền lực ở mọi nơi đến xây dựng những chốn ăn chơi, nghỉ dưỡng, giải trí, vậy nên dân cư ngày càng trở nên đông đúc, sung túc hơn. Mọi thứ đến đây có vẻ rất tuyệt vời, chẳng phải bao nhiêu người vẫn luôn mơ ước được như thế sao ? Vậy ta cùng xem khi giàu có rồi thì người dân Pompeii nghĩ gì? Và làm gì? Có một quy luật được cài đặt sẵn trong tâm lý con người, đó là : khi con người ta quá đầy đủ về vật chất, họ sẽ lao vào hưởng thụ sung sướng. Hưởng chán dục lạc này, họ sẽ đi tìm dục lạc mạnh hơn, mới hơn để hưởng thụ tiếp, hết ăn đến uống, hết uống, đến tình dục, hết tình dục đến giết chóc … cấp độ ngày càng tăng dần để tìm cảm giác khoái trá, cứ thế nối tiếp bất tận. Đó là một quy luật. Và nếu như không có một GIÁO LÝ MANG TÍNH TRÍ TUỆ đủ sức mạnh để ảnh hưởng, để răn dạy, kìm hãm dục vọng, con người ta tự nhiên sẽ bị dục vọng nhấn chìm, khiến cho đạo đức suy đồi không phanh. Rất tiếc, người dân Pompeii đã không có một hệ thống giáo lý như vậy. Họ vô thần, không tin, không quan tâm đến quy luật vũ trụ, tâm linh thần thánh, nhân quả nghiệp báo, đạo đức tu dưỡng… gì hết. Điều dân Pompeii tôn thờ duy nhất là: HƯỞNG THỤ CHO TRỌN VẸN HẾT HÔM NAY. Trên các hiện vật được khai quật, người ta tìm thấy những câu khẩu hiệu được khắc trên đồ vật, trên tường… khắp nơi như sau : “ Hãy tận hưởng cuộc sống, vì ngày mai nào ai biết được” “Kiếm tiền là niềm vui” “ Rượu vang và phụ nữ hủy hoại cơ thể chúng ta, nhưng ngoài những điều đó ra, cuộc sống còn có ý nghĩa gì ?” Họ nghĩ như vậy, và đây là những gì người dân Pompeii đã làm, hãy xem để thấy quy luật tôi vừa nói trên có đúng không ? Đầu tiên phải nói đến việc ăn uống. Dân Pompeii đặc biệt chú trọng việc thỏa mãn vị giác. Khi đã quá no đủ, mà tiền bạc thì vẫn còn thừa mứa, dân Pompeii đã ra sức sưu tầm và chế biến đủ loại sơn hào hải vị độc – lạ như : lưỡi cò, gan chim dạ oanh, nhím biển Tây Ban Nha, hươu cao cổ Bắc Phi, hồng hạc Địa Trung Hải .v.v… Họ ăn bất chấp mọi thứ, miễn là cái lưỡi thấy thỏa mãn. Thậm chí, họ còn cho lươn biển ăn thịt những người nô lệ bị giết, vì cho rằng như thế thịt lươn sẽ ngon hơn. Nhà hàng mọc lên chi chít khắp nơi, các bữa tiệc vương giả nối nhau không ngớt. Người người, nhà nhà thi nhau ăn uống, đổ dồn tâm huyết vào việc chế tạo rượu ngon cùng những của lạ. Khiến Pompeii một thời được coi là “kinh đô rượu” của Địa Trung Hải. Xong chưa hết, dân Pompeii còn chế ra cả tư thế ăn riêng, sao cho thật sung sướng, đó là trào lưu “nằm ăn”. Những người giàu có, quyền thế sẽ nằm nghiêng trên những phiến đá cẩm thạch, lót nệm êm, xung quanh là đầy nô lệ đứng phục vụ, để tận hưởng những bữa tiệc xa hoa thâu đêm suốt sáng, ngày này qua tháng khác. Nếu đã ăn uống quá no nê mà tiệc chưa muốn tàn, họ lại tìm nhiều cách nôn ói hết thức ăn ra, để có thể tiếp tục ăn uống. Và họ ăn với một sự lãng phí khủng khiếp để thế hiện đẳng cấp, một chùm nho cắn một trái rồi vứt cả chùm, một tảng thịt quý hiếm chế biến công phu, cắn một miếng rồi vứt cả tảng xuống đất. Tiếp đến, người Pompeii còn khiến thế giới kinh ngạc về độ dâm loạn. Khi khai quật tàn tích, các nhà khảo cổ tìm thấy đủ các loại tranh bích họa, tượng điêu khắc miêu tả các cảnh khiêu dâm trắng trợn, tục tĩu được bài trí ở khắp mọi nơi, từ trên tường nhà, đến xưởng sản xuất, đến nhà hàng, nhà trọ, đến cả đèn đường, ly rượu… Chúng miêu tả những cảnh dâm loạn tập thể, từ già trẻ nam nữ, đến đồng tính, thậm chí cả người giao hợp với thú vật. Nó cho thấy dân Pompeii đã không còn một chút e ngại, dè dặt nào, mà với họ, sự dâm loạn đã trở thành một điều tự hào để họ phô trương và bảo tồn thông qua các bức điêu khắc. Cảnh trụy lạc dường như không ngớt tại 25 nhà thổ (lầu xanh) từ xa hoa đến bình dân, cùng rất nhiều các phòng tắm xông hơi chung cả nam lẫn nữ, chưa kể nhà riêng. Các nhà khảo cổ khi nghiên cứu di thể của dân Pompeii, họ ngạc nhiên khi thấy ngay cả những đứa trẻ Pompeii cũng mắc bệnh giang mai, đủ để thấy tình trạng dâm loạn ở xã hội Pompeii nghiêm trọng như thế nào. Và đỉnh điểm, khi các thú vui xác thịt không còn làm người ta thỏa mãn, thì dục vọng sẽ bị đẩy lên đến mức độ nghiêm trọng nhất, tàn ác nhất : vui sướng trên đau khổ của người khác. Một đấu trường với sức chứa 12.000 người được dựng lên, đủ để chứa 60% dân số Pompeii, nó còn có trước cả đấu trường La Mã nổi tiếng đến 50 năm. Đây không phải chỗ thi đấu thể thao gì cả, mà là đấu trường chém giết sinh tử giữa các tù nhân, nô lệ và thú dữ. Dân Pompeii thường tụ họp về đây để xem những trận đấu đẫm máu “một sống một chết”, hò reo khoái trá, và coi đó là một thú vui, một phần quan trọng của cuộc sống. Từ đó các hoạt động buôn bán nô lệ càng trở nên nhộn nhịp, những người nô lệ bị giam nhốt, tra tấn, bị đem ra hành hạ nhằm mua vui, bị đối xử không khác gia súc. Đọc đến đây, hẳn nhiều người phải thốt lên kinh ngạc trước mức độ suy đồi đạo đức nghiêm trọng của dân Pompeii. Đừng nói đến những người tôn sùng những giới luật, các điều răm cấm của Đạo Phật, Đạo Nho… ngay cả những người vô thần, dễ dãi nhất trong xã hội hiện nay cũng cảm thấy bàng hoàng trước những kỉ lục của Pompeii. Tham lam – lãng phí – dâm loạn – sa đọa – tàn ác – ngu muội… mọi thứ đều được dân Pompeii phá kỉ lục thế giới. Họ cứ thế sống trong một thời gian dài hàng thế kỉ, xa hoa và sa đọa. Khiến cho không ít người có lương tri phải hoài nghi về quy luật công bằng của vũ trụ, phải ngửa mặt lên trời than thở : “Vì sao trời không có mắt ?” Thực ra, quy luật Nhân quả nghiệp báo của vũ trụ thì không có sai, “ông trời thì vẫn luôn có mắt”, xong mọi thứ cần có thời gian, rồi việc gì phải đến sẽ đến. Vào ngày 8/2 năm 62 sau công nguyên, một trận động đất mạnh đã xảy ra, phá hủy nhiều tóa nhà. Xong dân Pompeii không thấy đó là vấn đề gì cả. Họ xây dựng lại và tiếp tục cuộc vui bất tận của họ. Những trận động đất nhỏ ngày càng diễn ra nhiều hơn, thậm chí ngọn núi Vesuvius cách thành phố 10 km về phía Bắc đã tỏa ra một làn khói trắng như một lời cảnh báo cuối cùng, xong mọi người còn bận vui chơi hưởng thụ, nên chẳng ai quan tâm. Ngày 24/8 năm 79, khi ngọn núi lửa Vesuvius vỡ òa trong sự giận dữ, dân Pompeii mới thực sự biết như thế nào là “Nghiệp quật”. Những dòng dung nham nóng bỏng tuôn trào, tro núi lửa bốc lên mù mịt, che kín trời, bao phủ toàn bộ mặt đất hàng chục km quanh đó, với nhiệt độ thiêu đốt lên đến 5000 độ C. Bầu trời tối sầm lại, sấm chớp đùng đoàng, mặt đất rung chuyển, những tiếng nổ ầm ĩ, đất đá lẫn dung nham rơi xuống từ bầu trời như những cơn mưa, cảnh tận thế cực kì đáng sợ ập đến nhanh không tưởng. Tất cả mọi người không kịp chạy đi đâu cả, tro bụi núi lửa với nhiệt độ khủng khiếp vụt đến, bao vây mọi ngóc ngách, mọi kẽ hở, phủ lên từng người một lớp tro bụi nóng, rồi đông cứng mọi người dân Pompeii ở tư thế cuối cùng của họ. Hiện nay, người ta tìm thấy thi hài của họ được phủ một lớp đá núi lửa, như những bức tượng xi măng, người nằm co quắp, người quỳ xuống như van xin, người ôm con giãy giụa. Và người ta còn tìm thấy một thi hài, trong phút cuối, anh ta đã nhanh tay viết vội mấy dòng chữ lên tường : “Tội ác dẫn đến diệt vong” Chỉ trong mấy tiếng đồng hồ, mọi con người, mọi vật, mọi sự xa hoa tráng lệ đã bị dung nham, đất đá, tro bụi thiêu đốt và nhấn chìm. Pompeii bị xóa sổ khỏi dòng lịch sử, phải đến hàng ngàn năm sau mới nhân loại mới khai quật được tàn tích của họ. Đối với đa số, kết cục này đã là quá khủng khiếp. Xong với những ai hiểu được quy luật nhân quả luân hồi, thì họ biết, thảm cảnh trên chỉ là khởi đầu cho những hình phạt khủng khiếp và dài hạn hơn trong địa ngục, một cái chết trong tích tắc chưa thế xóa sạch được nghiệp quả của họ đã tạo. Tuy nhiên, câu chuyện về những người dân Pompeii Quang Tử kể với các bạn hôm nay, không phải là để chúng ta lên án họ. Việc kết án, hãy để dành cho các quy luật vũ trụ. Họ đã chịu trách nhiệm với những sai lầm đã phạm. Ngược lại, chúng ta cần phải cảm ơn họ, vì những bài học quý giá mà hết sức sống động họ đã để lại cho hậu thế, cho chúng ta. NHỜ CÓ HỌ, ta hiểu được rằng : quả nhiên, trên đời có tồn tại quy luật NHÂN QUẢ NGHIỆP BÁO. Quy luật này đến rất chậm, nó không xảy ra ngay lập tức, không phải khi dân Pompeii tạo bao nhiêu nghiệp tà dâm, giết chóc… thì ngay hôm sau, tháng sau sẽ có ngay khổ đau đến với họ. Mà kết cục xảy đến sau rất nhiều năm, nhiều chục năm, nhiều trăm năm. Thời gian quả báo đến rất khó biết, xong ta có thể biết rằng : chắc chắn nó sẽ đến. Với người dân Pompeii, nó đã đến thật kinh hoàng. NHỜ CÓ HỌ, ta hiểu được rằng vật chất trên thế gian này thật Vô thường, phù phiếm. Nay vẫn còn đang giàu có, với thành quách nguy nga, vật chất thừa mứa, sung sướng phủ phê, thì mai người Pompeii đã bị nhấn chìm trong nham thạch, xóa sổ trên bản đồ thế giới. Nếu lại lấy cái vật chất phù phiếm ấy làm mục tiêu sống, thì thật là sai lầm. NHỜ CÓ HỌ, ta hiểu được rằng : ĐAM MÊ HƯỞNG THỤ LÀ ĐẦU MỐI TAI HỌA, nó kích thích lòng tham phát triển, mà khi lòng tham trong con người ta đã được kích phát, rất khó mà kiềm chế lại. Từ tham ăn, tham uống, đến tham dâm dục, rồi biến thể dần thành những thú vui trụy lạc, tàn ác. Như người dân Pompeii, họ không phải là những người có tâm lý khác với chúng ta đâu, chỉ là họ có đủ phước báo, có đủ cơ hội để phát triển, đẩy sự hưởng thụ thăng cấp lên dần, đến những cấp độ cao nhất, cuối cùng, chỉ những cuộc dâm loạn tập thể, những đấu trường đẫm máu mới khiến họ cảm thấy thỏa mãn. Đừng trách họ, vì rằng nếu ta sinh vào hoàn cảnh đó, chưa chắc ta đã thoát ra khỏi vòng xoáy hưởng lạc, mà thanh cao hơn đâu. Vậy nên, nếu bạn thấy cuộc sống còn nhiều khó khăn, cố gắng mãi mà chưa thành triệu phú, tỉ phú, bạn hãy hiểu rằng, xét trên khía cạnh kìm hãm dục lạc, điều đó lại đang có lợi cho bạn. NHỜ CÓ HỌ, ta hiểu được rằng : có được những PHƯỚC BÁO như giàu sang, quyền quý, thiên nhiên ưu đãi, cuộc sống sung sướng… thực ra là là một điều RẤT NGUY HIỂM. Trừ khi con người ta được giáo dục, được rèn luyện mà có được một cái Đức rất lớn, đủ mạnh để kiểm soát những khối phước báu, những tài sản, những quyền lực … nếu không, phước báo sung sướng sẽ biến con người ta thành những kẻ sa đọa, mê mờ, ngạo mạn không còn nghe theo lương tri gì nữa. Và từ đó, ta cảm thấy biết ơn, vì trong xã hội chúng ta đang sống vẫn còn có Đạo Phật, để dạy cho ta biết về quy luật Nhân quả, về những hậu quả thảm khốc khi ta làm sai, dạy ta những phương pháp, những con đường đi chân chính. Và ta cảm thấy biết ơn, vì xã hội, nhà trường, nhà nước và rất nhiều con người vẫn đang cố gắng, duy trì không để đạo đức biến mất như người dân Pompeii đã bị. Họ vẫn hàng ngày đấu tranh với cái ác, với những thế lực ngầm đang tìm cách làm suy đồi đạo đức xã hội qua những phim đồi trụy, những game độc hại, những trào lưu buông thả, sa đọa, những cuốn sách, video tuyên truyền sai lệch .v.v… tất cả nhằm để tránh một thảm cảnh đã xảy ra với Pompeii. Rất tiếc rằng, không phải ai cũng học được những bài học mà người Pompeii để lại. Suốt dòng lịch sử , vẫn không ngừng có những dân tộc, những nhóm người, những con người sa đọa vào hưởng thụ, dâm dục, giết chóc… để rồi có những kết cục thê thảm.

MUÔN KIẾP NHÂN SINH (bản tóm tắt)

(Tĩnh Như, tóm tắt câu chuyện “Muôn kiếp nhân sinh” của tác giả Nguyên Phong)

Phần 1 : Y SĨ THỜI ATLANTIS 

Trước kia, tôi không bao giờ tin vào những chuyện mơ hồ, viển vông, tôi không tin chuyện có nhiều kiếp sống như một số tôn giáo đề xướng. Tôi không tin con người chết đi rồi đầu thai vào một kiếp khác. Tôi là người thực tế, không dễ tin người. Nhưng nay, mọi thứ đã thay đổi. Tôi không thể chối cãi những điều mà từ trước đến nay tôi khăng khăng phủ nhận. Rõ ràng, tôi đã sai. Và tôi biết, ngoài kia có rất nhiều người đã từng giống tôi, nên tôi quyết định chia sẻ lại những trải nghiệm thực tế của mình. Mong rằng bạn có thể thức tỉnh.
Tôi là Thomas, một doanh nhân nổi tiếng và thành công trên thị trường tài chính New York. Những cộng sự, đồng nghiệp và bạn bè của tôi đều là những nhân vật tên tuổi trong xã hội nước Mỹ và thế giới hiện nay. Vì vậy, khi muốn chia sẻ những kiếp sống trong vòng quay luân hồi của mình tới nhiều người, tôi xin phép dùng “Thomas” như một cái tên tạm đặt. Tất cả những con người xuất hiện trong cuộc đời tôi sắp kể ra đây, cũng đều đã được thay tên đổi họ, để tránh sự bàn tán sẽ gây ảnh hưởng tới cuộc sống riêng tư của tôi và nhiều người khác.
Cuộc đời tôi hoàn toàn thay đổi kể từ cuộc gặp gỡ định mệnh với một người đàn ông tên Kris-một người chỉ ăn hoa quả để nuôi sống thân mạng. Lần đó tôi và vợ đang trên đường đến căn nhà nghỉ dưỡng chúng tôi mới mua ở bang Colorado, thì bị lạc đường và hỏng xe giữa đêm ở một nơi vắng vẻ. Ông Kris tình cờ ở gần đó, nên đã cho chúng tôi nghỉ nhờ một đêm tại nhà ông.
Sau một thời gian chuyện trò, thực tình, ông ấy khiến tôi đi hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.
Ông là ai? làm nghề gì? đến từ đâu? Tại sao ông ấy lại có trí tuệ vượt xa một người bình thường như vậy? Tôi có cảm giác chúng tôi đã quen biết từ lâu, không phải trong kiếp này, mà từ những kiếp sống xa xôi trở về trước.
Ông Kris gọi đây là nhân duyên tiền kiếp, khiến cho chúng tôi tuy xa lạ, tưởng như vô tình gặp gỡ, nhưng việc gặp mặt này là một định mệnh đã được ấn định từ trước do chính tôi.
Ông ấy xuất hiện, có lẽ chỉ để nhắc tôi nhớ lại những gì cần phải nhớ, nhớ lại quá khứ tiền kiếp của chính mình. Tôi đã nhớ lại được nhiều kiếp sống, bạn cứ thong thả, trải nghiệm cùng tôi.

Tại căn nhà nhỏ của ông Kris, nơi trưng bày nhiều vật dụng rất kì lạ với xã hội ngày nay, nhưng kì lạ thay, chúng đem lại cho tôi một cảm giác rất thân thuộc. Đặc biệt là khi nhìn thấy một cây gậy có chất liệu giống như pha lê, màu bạc, gắn 7 viên đá quý to như ngón tay cái, cảm giác trong tôi rất kì lạ, như thể tôi đã sở hữu nó, đã từng sử dụng nó thành thạo từ trước.
Tôi tò mò chạm tay vào cây gậy màu bạc ấy, bỗng nhiên, tôi cảm nhận được một luồng sức mạnh từ cây gậy truyền vào thân thể khiến cả người nóng ran lên, ngực tôi nghẹn lại, đầu óc quay cuồng.
Tôi muốn buông nó ra, nhưng cứ như có một lực hút vô hình khiến tôi chẳng thể bỏ xuống được. Mọi vật dần trở nên lộn xộn, mơ hồ. Bất thình lình, tôi cảm thấy một sức mạnh dội vào lồng ngực khiến tôi thiếp đi.
Tôi thấy mình đang trong một thể xác khác. Tôi tự nhủ có lẽ mình đang nằm mơ chăng? Tôi dụi mắt, vung mạnh tay để đánh thức mình, nhưng hóa ra tôi chẳng mơ chút nào cả. Tiềm thức của tôi đang hoạt động, tôi đã được trở về tiền kiếp của chính mình tại châu Atlantis, một nền văn minh đã bị hủy diệt, và nhìn mọi thứ như xem một cuốn phim.
Huyền thoại Hy Lạp nói rằng Atlantis hiện hữu vào thời xa xưa, ở giữa Đại Tây Dương, được coi là cái nôi của nền văn minh Ai Cập cũng như Hy Lạp, và rất có ảnh hưởng đến nền văn minh hiện thời. À mà với tôi bây giờ, nó chẳng còn là huyền thoại nữa.
Nền văn minh ấy đã bị xóa sổ hoàn toàn chỉ sau một trận đại hồng thủy, cuốn trôi và nhấn chìm tất cả châu lục, khiến châu Atlantis biến mất như thể chưa từng có trên Trái Đất này, chẳng để lại một dấu vết gì cho đến ngày nay. Nhưng thực tế thì, tôi ngay lúc này, đang được trở về chính kiếp sống trước của mình tại một lục địa lớn, với nhiều hòn đảo vây quanh. Nơi huyền thoại giới khoa học vẫn gọi là ATLANTIS.
Khi được quay trở lại, tôi đã để yên cho tiềm thức của mình hoạt động, không còn cố vùng vẫy nữa. Bỗng nhiên tôi biết rất rõ mọi chuyện của nền văn minh ấy. Tôi biết người Atlantis rất thông minh, họ có một nền khoa học kĩ thuật đã tiến rất xa và khác hẳn so với chúng ta ngày nay.
Bởi người Atlantis đã phát triển một thứ kiến thức đặc biệt, giúp họ sử dụng được những năng lực tiềm tàng của thiên nhiên và áp dụng vào trong việc chế tạo ra những công cụ tối tân vô cùng.
Những hình ảnh lịch sử của Atlantis cứ dần dần hiện ra trong tâm trí tôi. Nền văn minh này có thể sử dụng ánh sáng mặt trời cùng sự rung động của các loại kim thạch để thay đổi nguyên tử vật chất.
Họ có thể làm mất trọng lượng của một vật thể để xây dựng nên những công trình kiến trúc khổng lồ, kiên cố, mà không cần sử dụng đến những máy móc hiện đại như ngày nay, như những kim tự tháp khổng lồ, những ngôi nhà san sát, đường sá rộng rãi, và những cây cầu đá vĩ đại nối liền các hòn đảo với nhau. Họ có thể thay đổi nguyên tử trong cơ thể con người để phục vụ cho việc chữa bệnh bằng những cây gậy gắn đá quý.
Những điều này hẳn rất khó tin. Bản thân tôi cũng vậy, nếu không phải trực tiếp bản thân được nhớ lại tiền kiếp. Chắc chắn tôi cũng chẳng thể nào tin nổi. Nhưng với tôi giờ đây, rõ ràng nó là sự thật sờ sờ trước mắt.
Văn minh Atlantis đã kéo dài hàng ngàn năm với rất nhiều triều đại vua chúa. Khoa học kỹ thuật phát triển vượt bậc là thế. Ngược lại, đạo đức của người dân Atlantis lại vô cùng suy đồi.
Người ở giai cấp trên tàn bạo, dã man, thẳng tay bóc lột, đàn áp tầng lớp dưới không một chút ghê tay. Họ vô cùng ích kỉ, tham lam và hung bạo, “mạnh được, yếu thua”, không có gì gọi là tình nghĩa.
Thậm chí họ còn chưa bao giờ được biết tới, nghe tới định nghĩa thế nào gọi là “tình yêu thương”. Họ sống theo bản năng, không hề có hệ thống luật pháp như chúng ta ngày nay. Họ tham ái dục, không hề kiểm soát được dục tính.
Những cảnh tượng giao hợp nam nữ thật không khác loài vật hiện nay là bao, nó diễn ra khắp nơi, không phân biệt đối tượng, không dựa trên tình cảm, mà chỉ là sự chiếm đoạt theo bản năng và sức mạnh.
Sự phát triển về vật chất và khoa học kĩ thuật thường lại đi ngược chiều với sự phát triển về tâm linh, đạo đức, như một quy luật vẫn tồn tại cho đến nay.
Khi con người ta được hưởng thụ quá nhiều về mặt vật chất, thì sự tham đắm dục lạc được dịp nổi lên, trong khi họ lại không biết vun bồi trí tuệ, đạo đức, nội tâm bên trong. Từ đó tham- sân- si có cơ hội trỗi dậy mạnh mẽ, họ sẽ sinh ra đủ thứ tật xấu, gây tạo bao ác nghiệp.
Dựa trên sự rung động của kim thạch và âm thanh, người Atlantis có thể phân tách ánh sáng mặt trời thành năng lượng để phục vụ cho cuộc sống và chế tạo ra các loại vũ khí giết người cực kì lợi hại.
Họ có thể thay thế bộ óc con người bằng những dụng cụ gắn vào não, khiến những người này trở nên khờ dại, không còn biết gì, và chịu sự chi phối của người khác.
Qua kĩ thuật thay đổi nguyên tử, người Atlantis có thể thay đổi các cơ quan đã bị suy yếu, tổn thương trong cơ thể người để chữa khỏi bệnh. Nhưng phương pháp này cũng có thể biến đổi con người thành một sinh vật khác khi ghép các cơ quan nội tạng của động vật vào cơ thể họ, và tạo ra một loại sinh vật mới “nửa người, nửa thú”, một sinh vật giống người, với khả năng đặc biệt để sử dụng vào những mục đích mà con người ngày nay không thể tưởng tượng được.
Một số người, phần lớn thuộc đẳng cấp thấp , hay tù binh chiến tranh thường được đưa vào phòng thí nghiệm để tác hợp với nguyên tử của các loài thú có sức mạnh như trâu, bò, voi, ngựa, lạc đà, biến thành một dạng nửa người, nửa thú.
Rồi họ được giao phó những công việc nặng nhọc, như xây dựng, chuyên chở. Đó là một lực lượng lao động không còn biết suy nghĩ mà chỉ tuân theo mệnh lệnh như một cái máy.
Những sinh vật người được tác hợp với nguyên tử của những loài vật hung dữ (như sư tử, cọp, beo, chó sói) thì được giao phó nhiệm vụ kiểm soát những người ở đẳng cấp thấp, hay những người đã bị biến đổi thành nửa người nửa thú để phục vụ cho tầng lớp cao hơn.
Đó là những binh lính cực kì hung dữ, sẵn sàng tạo ác trong sự vô cảm hoàn toàn, bất chấp sự đau khổ của các chúng sinh khác.
Tôn giáo lớn nhất thời bấy giờ là một tôn giáo thờ thần Thái Dương, sau này được đem đến truyền bá tại Ai Cập, tàn lụi dần và chỉ còn lại những tàn tích.
Atlantis khi đó gồm có 3 quốc gia, là Poseida, xứ Og, và nhỏ nhất là Arya, đất nước của tôi. Thật khó có thể tưởng tượng được lịch sử Atlantis lại hiện ra rõ rệt trong tiềm thức của tôi như một bức tranh vô cùng sống động và chân thực như vậy.
Tôi khi ấy là con trai một gia đình quyền quý, thuộc đẳng cấp cao nhất trong xã hội. Từ nhỏ tôi đã được dạy cách sử dụng cây gậy ngọc để chữa bệnh, tôi nhanh chóng trở thành một y sĩ tài giỏi trong nước.
Chính vì sinh ra trong gia đình quyền thế, nên tôi sinh tâm kiêu căng và có những tham vọng khác thường. Cũng giống như đa số mọi người, tôi cũng sống rất bản năng, không hề biết kiểm soát nội tâm của mình.
Tại đền thờ Thái Dương, tôi vô tình nhìn thấy đôi chân trần trắng trẻo, gợi cảm của một cô gái xinh đẹp, đang múa hát theo điệu nhạc du dương huyền bí. Cô tên là Kor. Người con gái trong sáng, thanh khiết ấy đã thu hút tôi.
Tôi đột nhiên sinh tâm muốn chiếm đoạt cô ta. Không phải xuất phát từ tình yêu, mà từ lòng tham của một kẻ quyền uy, nghĩ rằng mình đã muốn điều gì thì đương nhiên phải có. Tuy nhiên Kor là một thánh nữ của đến thờ Thái Dương, cô là “trái cấm” không thể nào đụng tới.
Tại thời kì đó, các nhà tiên tri dự đoán về việc địa cầu sắp đổi trục, nên chuẩn bị xảy ra những trận cuồng phong dữ dội hay những cơn địa chấn có thể làm diệt vong cả châu lục, vì vậy hoàng đế đã lên danh sách những người sẽ được lên thuyền để di dân sang lục địa khác.
Mặc dù tôi có kiến thức uyên thâm về y học, nhưng lại đang âm thầm theo đuổi tà giáo nên không được lựa chọn. Kor thì lại được lên thuyền rời xa mảnh đất này. Điều đó khiến tôi đứng ngồi không yên, chẳng đoái hoài đến sự diệt vong đang cận kề trước mặt, mà chỉ quan tâm làm sao để chiếm đoạt “trái cấm” của mình.
Nhờ sự đa mưu của một người bạn tên Beru, tôi đã lừa được Kor đến một căn hầm được sắp xếp từ trước. Như dự tính, tôi như con thú hoang, tham lam và ích kỉ, đã cưỡng bức cô thánh nữ trong trắng, thánh thiện, một cô gái đã có lời thề quyết giữ mình trong sạch.
Sau khi đã đạt được điều mình muốn, không hiểu sao tôi lại có chút dày vò khó chịu, khác hẳn với những lần ân ái với các cô gái khác.
Trời trở sáng, khi vừa bước ra khỏi cửa hầm, tôi hoảng hốt thấy xác người chết la liệt, một đám sinh vật “nửa người, nửa thú” hung bạo chém giết khắp nơi. Ồ không ! Xứ Og đã đem quân tới xâm lược xứ Arya chúng tôi.
Tôi quay lại hầm, vì cây gậy ngọc vẫn còn để trong đó, một vài tên liền đuổi theo tôi. Tôi chạy thật nhanh, và khi tay vừa chạm vào gậy, vung nó lên, một ánh sáng chói lòa tỏa ra. Lập tức không ai dám tới gần. Bọn “nửa người, nửa thú” chỉ cần chạm phải cây gậy đó, lập tức thân thể chúng sẽ bị phá tan đến từng phân tử ngay. Đây là một thành tựu khoa học siêu việt nhất của Atlantis, và chúng biết điều đó.
Đang định một mình liều mạng mở đường tẩu thoát, việc này không quá khó, vì bọn xứ Og kia vẫn luôn sợ thứ vũ khí tôi đang cầm. Xong tôi chợt bắt gặp ánh mắt của Kor như đang van lơn tôi cứu cô ta. Nếu không, cô ta chắc chắn sẽ chết thảm dưới tay bọn lông lá xồm xoàm này.
Không hiểu sao lúc đó tôi lại động lòng, trào lên một cảm giác thương xót kì lạ. Nên tôi đã quay lại, đưa tay nắm lấy tay Kor, dẫn cô cùng trốn thoát. Nói là kì lạ, bởi vì với thân xác tham lam, hung bạo, ích kỉ của người Atlantis khi đó, tình thương hay lòng trắc ẩn là một cảm giác gì đó mới lạ, chưa hề có cả khái niệm về nó.
Khi tôi đưa Kor tẩu thoát thành công khỏi đám nửa người nửa thú đó trở về đền thờ Thái Dương, thì cũng là lúc cơn địa chấn bắt đầu xảy ra đúng như dự đoán của các nhà tiên tri.
Một luồng nước khổng lồ cuồn cuộn từ dưới biển nổi lên, cuốn đi và nhấn chìm mọi thứ chỉ trong tích tắc. Trong lúc mọi vật xung quanh đang vỡ nát dưới sức mạnh của cơn địa chấn, trong giây phút sinh tử cận kề, trong tôi bỗng trào lên một cảm xúc khó tả, thôi thúc tôi bước tới bên Kor, cầm chặt tay nàng thì thầm một câu có lẽ chưa bao giờ có trong ngôn ngữ của người Atlantis:
-Kor nàng ơi! Ta rất lấy làm tiếc. Ta xin lỗi nàng! Ta sẽ không bỏ nàng.
Và rồi trong luồng nước xoáy hung dữ điên cuồng, chúng tôi đã không còn hay biết gì nữa.
Tôi bừng tỉnh lại, thấy mình đang ngồi trên chiếc ghế bành nhà ông Kris. Cây gậy vẫn bên cạnh. Ồ, hóa ra nó chính là cây gậy ngọc của tôi đã sử dụng từ thời Atlantis, thảo nào tôi thấy nó rất quen thuộc, không biết ông Kris đã làm cách nào tìm ra nó.
Ông Kris kể thêm rằng: sau khi Atlantis bị nhấn chìm, những người chạy thoát đến các nền văn minh khác như Ai Cập, đã truyền lại một số kĩ thuật và văn hóa của Atlantis cho dân bản xứ. Còn một Atlantis tân tiến và huy hoàng một thời, bỗng chốc đã bị thiên nhiên xóa sổ khỏi dòng chảy nhân loại không một chút khó khăn.
Vô thường ! Chẳng có gì thoát khỏi bàn tay của Vô thường, phát triển đến đâu thì vẫn chỉ nằm trong chu kì của thành – trụ – hoại – không mà thôi…
Bây giờ, thậm chí nhiều người còn không biết Atlantis đã từng tồn tại. Người ta chỉ có thể phỏng đoán từ một vài lưu truyền mờ nhạt trong sách vở, cùng lắm thì tìm thấy vài di tích dưới đáy Đại Tây Dương, như kim tự tháp, hoặc những cây cầu xây bằng đá nối liền những hòn đảo ở ngoài khơi Đại Tây Dương với các cột chống bằng đá hình tròn…
Ông Kris còn cho biết thêm, ngoài khơi Florida vốn chính là nơi xứ Og tọa lạc khi xưa. Người ta có thể tìm thấy di tích các đền thờ sinh vật của cõi giới khác dưới đáy biển. Ảnh hưởng của luồng từ lực ở nơi này vẫn tồn tại, và là nguyên nhân gây ra hiện tượng Tam Giác Quỷ Bermuda, nơi tàu thuyền đi qua thường bị mất tích một cách bí ẩn.
Khi tinh tú di chuyển vào vị trí nào đó, sẽ khích động, đánh thức luồng từ lực cực mạnh lạ lùng này tạo ra những trận cuồng phong bất ngờ, đánh chìm tất cả mọi vật quanh đó.
Với tôi lúc này, thực sự thế giới quan đã hoàn toàn thay đổi. Những thứ tưởng chừng chỉ có trong truyền thuyết hay những câu chuyện thần thoại hóa ra không hẳn không tồn tại. Những thứ tưởng chừng không thể lý giải nổi, hóa ra cũng đều có nguyên do của nó.


Phần 2 : VỊ PHARAOH XỨ AI CẬP

 
Trở về với cuộc sống hàng ngày tại New York, một hôm tôi tới khu phố kim cương (Diamond District) để xem các món đồ trang sức cùng Angie, người vợ thân yêu của tôi.
Khi bước vào một cửa hàng, tôi nhìn thấy trên tường có treo bức ảnh một chiếc nhẫn hình con bọ hung gắn hồng ngọc, chiếc nhẫn cổ đó đang được trưng bày tại viện bảo tàng Luân Đôn. Tôi nhận ra ngay đó là kiểu chiếc nhẫn mà ông Kris từng đeo. Không hiểu sao tôi có cảm giác chiếc nhẫn rất thân thuộc với mình, tôi thích nó ngay từ lúc mới nhìn thấy.
Nó là chiếc nhẫn của một vị Pharaoh thuộc vào thời đại cuối của triều đại các vua chúa Ai Cập, trước khi Ai Cập bị người Assyria xâm lăng vào khoảng hơn sáu trăm năm mươi năm trước Công nguyên.
Chiếc nhẫn đó khắc dòng chữ “Xin thần Thái Dương Amun Ra che chở cho tôi” Phía trong có hình chim ưng Horus, tượng trưng cho công lý. Tôi đã nhờ thợ kim hoàn chuyên chế tác trang sức cổ làm cho một chiếc nhẫn giống y hệt như vậy. Hai tháng sau, tôi đã nhận được nó.
Một hôm, khi đang ngồi trong phòng làm việc, vô tình tập trung nhìn chiếc nhẫn mà tôi đã đeo từ mấy tuần qua ở ngón trỏ. Tự nhiên có một mãnh lực kì lạ khiến tôi cảm thấy ngây ngất và thiếp đi lúc nào không biết. Tiềm thức lại đưa tôi trở về tiền kiếp của mình một lần nữa. Quá khứ hiện rõ ra như một cuốn phim.
Tôi thấy mình trong một thể xác khác, tôi không còn là Thomas của thời đại này nữa, lúc này tôi là Akhon, con của một thứ phi trong vương triều cổ đại Ai Cập. Mẹ tôi là một nô lệ người Kush xinh đẹp, nên được Pharaoh đưa về làm phi tần. Và tôi là con lai giữa hai dòng máu Ai Cập và Kush.
Do hai đất nước này thường gây chiến với nhau, nên tôi không được coi là hoàng tử chính thức. Sau khi mẹ mất, tôi thường bị các hoàng tử khác gây hấn bắt nạt. Vì thế mà tôi hay đến trú ẩn tại đền thờ thần Thái Dương, và được các giáo sĩ ở đây dạy dỗ.
Khi được mười hai tuổi, tôi được gửi đến vùng biên giới hoang vu dưới sự giám sát của một võ quan lớn tuổi. Được sự dẫn dắt của ông, tôi nhanh chóng trở thành một vị chỉ huy quân lực trấn đóng vùng biên thùy sa mạc. Do nhiều năm được mài dũa tại vùng sa mạc khắc nghiệt, nên tôi cũng trở thành người có ý chí và bản lĩnh vô cùng mạnh mẽ.
Năm đó, Pharaoh- cha tôi băng hà, cuộc chiến tranh giành ngôi vị đã nổ ra. Trong vòng một năm có tới bốn vị Pharaoh lên ngôi, ai cũng chỉ giữ cương vị trong vòng vài tháng, nên tình hình xã hội trở nên rối ren, hỗn loạn.
Lúc này các giáo sĩ tại đền thờ thần Thái Dương đã gọi tôi về để làm theo kế hoạch đã được vạch sẵn. Họ sắp xếp để tôi lấy con gái của Pharaoh hiện thời, vào ngày thành hôn của con gái, vị Pharaoh bất tài này đã bị hạ độc và chết ngay tại chỗ. Ngay lúc đó tôi đã được lên ngôi Pharaoh một cách vô cùng nhanh chóng.
Hôm sau, Satt – vị giáo sĩ đã lên kế hoạch chiếm ngôi vị cho tôi, đưa tới một thợ kim hoàn để làm chiếc nhẫn vương ấn. Tôi đã hướng dẫn ông ta:
“Ta muốn một chiếc nhẫn có đính viên hồng ngọc lớn, phía sau khắc chữ Xin thần Thái Dương Amun Ra che chở cho tôi. Vì tên ta là Akhon (chim ưng) nên ta chọn Horus, thần công lý có khuôn mặt chim ưng là vị thần bảo hộ quốc gia.”
Giờ đây tôi đã hiểu vì sao mình lại cảm thấy quen thuộc với chiếc nhẫn cổ ở bảo tàng Luân Đôn. Có gì lạ đâu, đó chính là chiếc nhẫn của tôi mà.
Khi đã trở thành Pharaoh, tôi cho thiết lập lại mọi điều luật để thắt chặt trật tự xã hội như ý mình muốn. Luật pháp trong tay tôi vô cùng nghiêm khắc và tàn bạo. Mỗi khi tôi giơ ngón tay đeo chiếc vương ấn lên, cả triều đình đều phải run sợ.
Tôi cũng khởi binh đánh dẹp những quốc gia quanh vùng, cướp bóc của cải đem về nước, và cho xây cất nhiều đền thờ Thái Dương tại các vùng biên địa, nên được giới giáo sĩ vô cùng ủng hộ.
Giờ đây, tôi đã có mọi thứ trong tay, quyền uy tột đỉnh, châu báu vô số, được bao người kính sợ, tôi có được những thứ bao người ham muốn mà chẳng thể có được. Nhưng không hiểu vì sao tôi lại luôn có một cảm giác thiếu thốn, cô độc, trống vắng đến kì lạ.
Lớn lên và được dạy dỗ bởi các giáo sĩ, nhưng tôi vẫn cảm thấy không thỏa mãn với những kiến thức họ dạy tôi. Tôi vẫn có những thắc mắc trong lòng không thể lý giải. Tôi hiểu rất rõ các giáo sĩ họ sống thế nào, suy nghĩ ra sao. Họ lấy các vị thần ra để dọa nạt dân chúng, khiến họ sợ mà dâng cúng vật phẩm cho họ. Họ chỉ giải thích bâng quơ, lắt léo ngôn từ chứ không thể khỏa lấp những hoài nghi thắc mắc của tôi – những câu hỏi mang tính trí tuệ thực sự.
Một lần tôi quá chán ngán với cảnh hoàng cung tráng lệ, thừa mứa vàng ngọc mà rỗng tuếch về trí tuệ ấy, nên đã một mình mặc đồ thường phục, đi lang thang ra khỏi thành.Vừa đi vừa miên man những câu hỏi.
Tại sao tôi- một kẻ mang 2 dòng máu, không được coi là hoàng tử chính thức, nay lại được làm Pharaoh? Tại sao có người rất giàu có, người lại đói nghèo? Tại sao có người được sinh ra ở nơi đất đai trù phú như dòng sông Nile ở Ai Cập, trong khi có người phải sống ở nơi đất đai khô cằn như xứ Kush?
Con người được sinh ra để làm gì nếu như mọi việc đều do các vị thần sắp đặt? Nếu Pharaoh là sự kết nối giữa các vị thần và nhân dân, thì ta phải biết rõ ý muốn của chư thần chứ? Vậy ý nghĩa của cuộc đời này rốt cuộc là gì?
Đang miên man với hàng loạt câu hỏi trong đầu, tôi bỗng nhìn thấy ngôi nhà của một vị y sĩ chữa bệnh cứu người. Ở đó tôi bắt gặp một cô gái mang dáng vẻ dịu dàng, chân chất, đang bồng bế những đứa trẻ và vỗ về chúng với ánh mắt trìu mến. Có một thứ gì đó rất lạ với tôi, nên tôi tìm vị y sĩ ( ông ta không nhận ra tôi là Pharaon) và hỏi về cô gái kia.
Vị y sĩ cho biết đó là Cihone, một đứa trẻ mồ côi được vợ chồng ông đem về nuôi từ nhỏ. Cô bé có một trái tim biết yêu thương vô điều kiện với tất cả mọi người – một điều hiếm thấy ở xã hội thời đó.
Ông nói, với những đứa bé bị bệnh mà chính ông cũng không chữa được nữa, ông sẽ giao nó cho Cihone để cô âu yếm vỗ về, trao tình yêu thương cho các bé. Rất kì lạ, nhờ các bé cảm nhận được tình yêu thương đó, tinh thần chúng thay đổi hẳn, mà cuối cùng lại giữ được mạng sống.
Do lệnh của các Pharaon (tức là tôi và cha ông của tôi), cha mẹ chúng bị bắt đi làm phu xây dựng những đền đài, lăng tẩm thờ cúng, ngày đêm quần quật với những công trình bất tận mà không còn thời gian đâu cho con cái. Những đứa trẻ ngày càng bị thiếu tình yêu thương của cha mẹ.
Chúng lớn lên với một tâm lý mất cân bằng, dễ bị bệnh. Cho dù sau này đã trưởng thành, nếu khá giả, thì cũng dễ mắc các bệnh về thần kinh, nếu nghèo cùng, chúng sẽ rất dễ phạm tội.
Chúng sẽ có lối sống lệch lạc, thích bạo lực, vô cảm, ích kỉ, tham lam, cộc cằn, dễ dàng làm tổn thương mọi người… Tất nhiên rồi, chúng khó lòng có thể yêu thương khi ngay từ nhỏ, chúng hiếm khi cảm nhận được yêu thương. Và khi trong tâm thiếu vắng tình thương, thì thay vào chỗ đó sẽ là những tính xấu. Và nếu xã hội phần đông là những người như thế, chắc chắn sẽ có vấn đề.
Cách cai trị hà khắc, coi trọng về quân sự và hình phạt, dù mặt lợi là không quốc gia nào dám đến trinh phạt, xong mặt khác lại khiến xã hội mất cân bằng. Nhất là việc thích bày vẽ xây cất lăng tẩm của triều đình chỉ nhằm thỏa mãn hư vinh cho vua chúa, và có lợi cho nhóm giáo sĩ, chứ chẳng lợi lạc gì cho quần chúng nhân dân, thậm chí đời sống của dân ngày càng cực nhọc, vất vả, khổ sở, và còn làm thâm hụt ngân khố quốc gia một cách trầm trọng. Đời sống tinh thần xã hội ngày càng nghèo nàn, con người trở nên biến chất, hung bạo hơn, và kéo theo nhiều hậu quả khó lường với những cuộc đấu đá, tranh giành bất tận.
Tôi thực sự sốc và cảm thấy khó chịu với suy nghĩ này của ông y sĩ. Nhưng tôi cũng đã giật mình và bắt đầu trăn trở về nó. Ông ta thẳng thừng nói ra sự tồi tệ của Pharaoh, của giới cầm quyền mà không hề biết mình đang đối diện với ai. Tôi bắt đầu nổi giận, xong kìm lại không nói ra thân phận của mình, nếu để ông ta biết tôi là Pharaoh, thì tôi cũng chẳng được nghe những lời chân thật hiếm hoi này.
Tôi sững người vì thái độ bất mãn của ông nhưng không thể phủ nhận những gì ông nói đều rất đúng. Không ngờ một y sĩ thôn quê lại có những tư tưởng vượt trội, có tầm nhìn trí tuệ, bỏ xa mọi viên quan cao cấp trong triều, bỏ xa cả tôi – một Pharaoh được khắp nơi nể sợ.
Tôi đặc biệt bị thu hút bởi Cihone, người con gái chân chất, đầy tình thương kia. Và khi biết cô đã có vị hôn phu của mình, không hiểu sao tôi lại khó chịu và cảm thấy bất lực. Mặc dù nếu như tôi muốn thì đương nhiên cô sẽ thuộc về tôi với một câu hạ lệnh, nhưng tôi không thích làm cách đó. Tôi cáo biệt y sĩ, rồi lặng lẽ về cung.
Sáng hôm sau, cái cảm giác khó chịu ấy vẫn không biến mất. Tôi quyết định một mình phi ngựa ra vùng sa mạc. Ánh nắng lan tỏa trên những cồn cát trập trùng trải dài trong sa mạc, khiến tôi cảm thấy như có một sức sống kì diệu đang bao trùm vạn vật.
Tôi tự hỏi trong tâm thức “Hiện nay thần Thái Dương Amun Ra đang ở đâu”. Tôi dừng ngựa, lặng lẽ nhìn ngắm những vệt sáng chạy dài ở cuối chân trời.
Hốt nhiên cảm nhận được một cái gì đó dịu dàng, mềm mại như bàn tay của đấng Thái Dương đang dang rộng ra để chào đón tôi. Như có gì đó thúc đẩy tôi quỳ xuống, dâng lên Ngài một lời cầu nguyện thiết tha, lời cầu nguyện của một tín đồ trung thành, chứ không phải của một Pharaoh oai phong lẫm liệt.
Tự nhiên tôi cảm thấy mình chìm ngập trong một bầu ánh sáng bao la vô tận. Tôi cảm nhận được có điều gì đó lạ lùng đang chuyển hóa trong tâm mình. Tâm hồn tôi bỗng nhiên như được mở rộng, và tôi cảm nhận rõ một cảnh tượng lạ lùng đang xuất hiện.
Một cảnh tượng huy hoàng sáng chói hiện ra trước mặt tôi, và tự nhiên tôi ý thức được rằng mình không thể tìm ngài ở bên ngoài mà phải tìm ở bên trong tâm mình.
Vừa nghĩ như thế thì như thể có một bàn tay vô hình gỡ đi tấm vải từ lâu đã che mắt tôi. Bấy lâu nay, tôi vẫn tìm kiếm đấng Thái Dương qua các nghi thức dâng cúng phẩm vật, nhưng lúc nào Ngài cũng lần tránh tôi.
Bây giờ giữa sa mạc mênh mông này, Ngài lại hiện diện bên cạnh và thì thầm rõ vào tai tôi: “Tại sao trước giờ ngươi lại mải miết đi tìm kiếm ta ở bên ngoài? Hãy quay vào bên trong nội tâm, ngươi sẽ gặp ta!”
Tôi đã lặng người trong giây phút cảnh giới xuất thần lạ lùng đó và dường như dần hiểu ra nhiều điều, đầu óc tôi trở nên sáng suốt lạ thường. Tôi ngây ngất trong cảm giác này và chợt hiểu rằng đấng Thái Dương chính là nguồn an lạc vô biên. Tại sao ngài lại làm vậy?
Câu trả lời đến ngay với tôi:
“TA LÀ TÌNH THƯƠNG”
Tôi giật mình tỉnh dậy và thấy mình đang ở trong phòng làm việc tại New York. Sau đó, tôi có qua gặp ông Kris. Ông luôn đọc được suy nghĩ của tôi, biết tôi đang mong muốn điều gì mà chưa cần tôi mở lời.
Theo lời ông, tôi biết những gì tôi nhìn thấy thực sự là hai tiền kiếp xa xưa của mình. Thời gian ở Atlantis xảy ra khoảng hơn mười hai ngàn năm trước Công nguyên, rồi đến Ai Cập khoảng ba ngàn năm trước Công nguyên. Vậy thì điều gì xảy ra giữa hai kiếp sống đó? Liệu tôi còn ở đâu nữa không?
Ông Kris giải thích cho tôi, khi con người ta chết đi, đầu thai lại một kiếp sống mới, không phải lúc nào cũng làm người, có khi là chúng sinh ở một cõi khác, tùy theo nghiệp lực của bản thân.
Và sau kiếp ở Atlantis, do tôi đã sử dụng tà thuật để chiếm đoạt người nữ tu trong trắng trong đền thờ Thái Dương, do đó phải chịu hậu quả tái sinh rất nhiều kiếp thành loài sâu bọ. Và vì tôi đã say mê đôi chân trần của Kor, tư tưởng đó đeo bám tôi nhiều lần, nên khi đầu thai làm sâu bọ, thì đó là loài sâu bọ chuyên hút máu mủ trong các bàn chân phụ nữ.
Sau hàng triệu kiếp làm côn trùng, sau đó lại chuyển kiếp thành các loài vật khác trước khi được chuyển sinh trở lại làm người. Giống như trong kinh Phật nói, cơ may được làm người rất hiếm, trong hàng triệu kiếp mới được vài kiếp người, còn lại là những kiếp làm súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục…
Nếu chúng sinh nào chẳng biết tu nhân, tích đức, tạo phước gì cả, chỉ cắm đầu vào cung phụng cho tham lam, dục vọng, ích kỉ, tạo nghiệp, thì tỉ lệ sinh làm người còn thấp hơn nữa, hàng tỉ kiếp, hàng vô số kiếp một có một kiếp người, chứ chưa nói đến việc sinh làm thần, làm chư thiên.
Cũng may vì trước kiếp sống ở Atlantis, tôi đã từng giúp đỡ, chữa bệnh cho rất nhiều người, gieo rất nhiều nghiệp lành. Nhờ những nhân duyên đặc biệt này nên khi chuyển kiếp trở lại làm người, tôi được làm Pharaoh cai trị một vương quốc lớn, hưởng thụ mọi sự vui sướng tột đỉnh.
Tuy nhiên trong tâm của tôi vẫn còn sự hung ác của dân Atlantis nên đã trở thành một vị Pharaoh độc tài. Trước khi qua đời tại Atlantis, trong tâm tôi sinh tâm hối hận và nảy sinh tình thương đối với Kor.
Đây là một năng lực chuyển hóa rất mạnh, vì người Atlantis lúc đó chưa hề biết hối hận hay yêu thương. Chính cái nhân duyên hãn hữu này nên sau khi trải qua nhiều kiếp thú, tôi được tái sinh thành người tại Ai Cập.
Tối hôm đó, ông Kris đã giúp tôi trở về kiếp sống ở Ai Cập một lần nữa. Ông bảo tôi ngồi lên chiếc ghế bành tĩnh tâm một lúc. Ông bước đến nói nhỏ vào tai tôi một câu bằng thứ ngôn ngữ lạ lùng khiến tôi thiếp đi và trở lại với kí ức khi xưa ở Ai Cập.
Vị Pharaoh – chính là tôi của kiếp trước, sau lần gặp gỡ với vị y sĩ và cô gái có tình thương vô điều kiện, đang cảm thấy như đã nhận ra điều gì đó vô cùng quan trọng của tình thương.
Và tôi cũng vô cùng giận dữ vì sự lộng hành của các giáo sĩ trong việc hối thúc, xúi giục Pharaoh xây dựng quá nhiều đền thờ và lăng tẩm khiến thâm hụt ngân quỹ, bóc lột hành hạ thợ xây, khiến gia đình con cái họ cũng thiếu đi sự ấm áp vì ngày ngày người đàn ông trong nhà chỉ lo đi xây lăng tẩm.
Xa hơn, nó thúc đẩy Pharaoh phải tiến hành các cuộc xâm lăng, chiến tranh đẫm máu với các quốc gia khác để cướp bóc của cải, nô lệ. Bao nhiêu máu chảy đầu rơi, bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, chỉ để xây mấy cái đền thờ, lăng mộ chết tiệt.
Nhận thấy đây là một sai lầm lớn, tôi đã cho ngừng ngay việc xây dựng lại, cũng như dừng việc đem quân xâm lược các nước khác để cướp bóc, dù biết rõ những hệ quả có thể kéo theo do việc dừng đột ngột như vậy. Tôi cũng không cho phép triều đình được tăng thuế bởi nghĩ tới sự khốn khổ của dân chúng.
Và như thế, tôi đã đối đầu trực diện, tuyên chiến với giới giáo sĩ, vì lợi ích của chúng gắn chặt với việc xây cất, thờ phụng thần linh. Chúng dù không dám ra mặt chống lại tôi ngay, xong sẽ âm thầm tìm cách lật đổ tôi, và sức ảnh hưởng của đám giáo sĩ đông đảo này cũng không phải dạng vừa.
Nhưng mặc kệ, tôi quyết định phải thay đổi bất chấp hậu quả sẽ như thế nào. Tôi đã tiến hành một cuộc cách mạng thực sự. cả bên ngoài với việc triều chính, cũng như ở bên trong nội tâm chính mình.
Một lần, viên quan trông coi việc xây dựng lăng tẩm của tôi phạm tội. Theo luật, anh ta bị xử tử và cả nhà vợ con anh ta bị đày tới sa mạc. Vợ anh ta đang có thai, và cô ta tìm mọi cách đến gặp tôi và van xin rất thảm thiết, vì phụ nữ có thai bị đày vào sa mạc thì không khác gì tử hình.
Lần đầu tiên, tôi biết như thế nào là lòng trắc ẩn, động lòng thương xót. Và tôi đã hạ lệnh tha cho cô ta.
Tôi bắt đầu suy nghĩ về tình thương, nghĩ đến đấng Thái Dương và trải nghiệm lạ lùng nơi sa mạc. Tôi chạnh lòng nghĩ về địa vị Pharaoh quyền uy và sự cô đơn trong cung điện này.
Hóa ra tất cả những gì tôi đang có cũng chẳng mang lại cho tôi niềm hạnh phúc. Tôi ước được làm một thường dân và có một người vợ dịu dàng, hòa nhã, luôn đầy ắp tình thương như Cihone. Có lẽ tôi đã dần thức tỉnh rồi.
Bất chợt, tôi tỉnh dậy, thấy người ướt đẫm mồ hôi, đang ngồi tựa lưng, hai tay nắm chặt vào thành chiếc ghế bành nhà ông Kris. Chưa kịp biết cuộc cách mạng mà tôi đã khởi động kết quả ra sao thì đã tỉnh. Tôi phải nhờ ông Kris kể lại mới biết.
Kiếp sống ở Ai Cập của tôi đã kết thúc trong bi thảm. Tôi bị nhóm giáo sĩ đầu độc chết, những nỗ lực cải cách của tôi cuối cùng không đi về đâu. Vì lăng tẩm chưa được xây cất xong, nên hoàng hậu Nedjem đã âm thầm mai táng tôi một cách vội vàng ở một nơi khác, ít lâu sau ngôi mộ cũng bị kẻ trộm đào lên trộm cắp tài sản châu báu.
Tuy không thay đổi được xã hội Ai Cập thời đó, nhưng cuộc cách mạng vẫn thay đổi được chính con người tôi, giúp tôi thăng tiến lên một tầng nhận thức cao hơn trong tiến trình luân hồi vô lượng kiếp.
Nhân quả luôn đúng, không hề sai chạy. Vì nghiệp quả của các cuộc chiến tranh mà vua quan và quân đội Ai Cập đã gây ra trong suốt thời gian dài, mà sau nay chính đất nước Ai Cập đã phải chịu cảnh bị xâm lược, bị đô hộ suốt ba nghìn năm dưới ách cai trị của người Assyria, Ba Tư, Hy Lạp, La Mã, Ả Rập, Pháp, Anh.
Nhớ lại về hoàng hậu Nedjem và cô gái Cihone, vì tôi đã có mối liên hệ khá sâu sắc về tinh thần với những người phụ nữ này, nên tôi cũng sẽ gặp lại họ ở những kiếp sau.


Phần 3: NÀNG DÂU BẤT HẠNH XỨ ASSYRIA

 
Ông Kris nói rằng tôi vốn dĩ đã có sự tu tâp thiền định từ nhiều kiếp trước, tôi đã có thể nhớ ra được các kiếp sống trong luân hồi của mình khi đi sâu vào thiền định. Nhưng vì sau khi đầu thai chuyển kiếp, tôi đã không còn nhớ gì nữa. Nên nay tôi cần phải nhớ lại việc đó.
Tại nhà nghỉ dưỡng ở Colorado, vợ chồng tôi có quen biết với một người phụ nữ đã gần chín mươi tuổi tên Ginger T sống gần căn nhà của chúng tôi. Bà vốn từng là một diễn viên Hollywood rất nổi tiếng và xinh đẹp vào thời thanh xuân của bà. Nay bà cũng vẫn còn rất đẹp, nhưng phải sống cô độc , lủi thủi một mình trong căn nhà toàn những thứ đắt tiền.
Từ ngay lần gặp đầu tiên tôi đã có cảm giác người phụ nữ này vô cùng quen thuộc với mình, như thể chúng tôi đã quen biết nhau từ kiếp trước. Bởi mọi sự gặp gỡ trên đời này không phải là ngẫu nhiên, mà thực ra đều có nhân duyên của nó.
Vì chưa nhớ lại được bằng khả năng của chính mình, nên ông Kris đã giúp tôi một lần nữa. Tôi lại ngồi yên một lúc cho đến khi ông Kris thì thầm vào tai tôi bằng một thứ ngôn ngữ lạ lùng cho đến khi tôi thiếp đi. Kiếp trước dần hiện ra…
Ở kiếp sống này, tôi không còn là thân nam nữa mà là một cô gái tên Seriram, là con thứ ba trong một gia đình người Assyria sống du mục trên sa mạc vùng Tây Á.
Tuy là con gái nhưng tôi lại vô cùng mạnh mẽ, tôi có thể quán xuyến mọi việc của các đấng nam nhi. Tôi có người chị lớn là Shamuram và người anh tên là Nimurta. Cha là tù trưởng của một bộ lạc. Chỗ chúng tôi sinh sống là nơi buôn bán, trao đổi hàng hóa quan trọng giữa các bộ lạc trong sa mạc.
Khác với tôi học giỏi, luôn biết lo toan, tính toán cẩn thận cho gia đình; chị gái tôi lại chỉ thích làm đẹp, trang điểm, phấn son. Anh trai tôi lại chỉ thích âm nhạc và chơi đàn, cũng không quan tâm gì chuyện học hành cả. Tuy tôi chu toàn như vậy nhưng mẹ lại không hài lòng.
Bà cho rằng con gái không cần thiết phải học nhiều hiểu rộng như thế. Chị gái xinh đẹp của tôi, cả ngày chỉ quần áo phấn son, tính tình cẩu thả, chẳng làm được gì, nhưng lại được cha mẹ thương yêu nhất. Điều đó làm tôi có chút bất mãn.
Tôi là người cẩn thận, chi tiết, làm việc có trách nhiệm, có thể nắm bắt tình hình hàng hóa một cách nhanh chóng, tinh nhạy. Chính vì vậy tôi rất khó chịu với hai anh chị của mình khi thấy họ không thể làm được như tôi.
Ban đầu tôi chỉ nghĩ mình giỏi, mình đúng, mà không nghĩ rằng đó cũng chính là điểm yếu khi tôi cứ suốt ngày đi so sánh người khác với mình, yêu cầu họ phải giống mình, phán xét và phê phán họ.
Sau này, khi có các đoàn thương buôn từ nơi khác đến, tôi và chị gái mình đã được cha mẹ sắp xếp thành hôn với một trong số những người con trai của trưởng đoàn.
Chị tôi xinh đẹp hơn tôi, ngay lập tức lọt vào mắt xanh của một gia đình vô cùng giàu có, gặp được vị hôn phu tử tế. Tôi thì được gả cho một gia đình bình thường hơn. Buồn thay, người chồng của tôi lại là một kẻ xấu xa, tệ hại.
Tôi phải xa cha mẹ, xa miền sa mạc vốn đã quen thuộc, đến sinh sống tại nhà chồng ở thành Ashur náo nhiệt. Nơi phồn thị và sa mạc là hai môi trường sống khác nhau hoàn toàn.
Tôi từ một cô gái con tù trưởng oai phong lẫm liệt, trong tay kiểm soát mọi việc lớn nhỏ, nay ở nhà chồng như một người ngu ngơ, quê mùa, chẳng hiểu gì, chẳng biết gì. Cả gia đình chồng cũng chỉ coi tôi như con ở.
Chồng tôi không khác nào một tên hoang dâm. Tôi cảm thấy ghê tởm người đàn ông này. Không chỉ chồng mà cả nhà chồng đều đối xử với tôi vô cùng khắc nghiệt. Mẹ chồng hễ không hài lòng điều gì là chửi mắng tôi thậm tệ, sau đó bà lại lên cơn hen suyễn, vừa ho khan vừa khó thở. Bố chồng tôi mắc bệnh dạ dày ăn uống khó khăn, chẳng ăn được gì mấy.
Tôi đã lạ lẫm với cuộc sống nơi đây, lại thêm hoàn cảnh khắc nghiệt, nhà chồng sỉ vả. Họ còn khóa tôi ở trong bếp đánh đập, bỏ đói nhiều ngày. Dần dần năm này qua tháng khác, tôi chán ngán tột cùng, tích tụ lòng oán hận, và thường ngửa lên hỏi trời cao vì sao bắt tôi chịu nỗi bất công như thế này.
Vì sao chứ ? Sao một người giỏi giang như tôi lại phải chịu cái cuộc đời bế tắc với một gã chồng tồi tàn như vậy chứ ?
Là một người con gái cứng cỏi, cang cường, tôi nhất quyết không van xin, khuất phục trước sự bạo hành của gia đình chồng. Cuối cùng, sau nhiều việc không mong muốn xảy ra, cha tôi phải bỏ thêm một khoản tiền, giống như tiền chuộc đưa cho gia đình nhà chồng, tôi mới được giải thoát khỏi cái chốn địa ngục ấy.
Xong tôi không được trở về nhà, do tập tục của bộ lạc cho rằng phụ nữ đi lấy chồng rồi thì không còn thuộc về gia đình nhà đẻ nữa. Vậy là tôi được cha gửi ở Ba Tư theo một người bạn của ông.
Tôi giỏi giang là vậy nhưng số phận luôn đối xử tồi tệ với tôi. Ngược lại, chị tôi chả có tài cán gì, chỉ biết son son phấn phấn, thì lại luôn gặp được may mắn và hạnh phúc. Vì lẽ đó, tôi càng cảm thấy cuộc đời bất công.
Chính cha tôi đã cảnh báo nhiều lần rằng tính cách của tôi sẽ làm tôi khổ, chứ không hay ho gì. Bởi vì tôi hay tự mãn về bản thân, luôn cho mình là giỏi, là đúng, hay phê phán, cãi cọ với người khác, không bao giờ chịu nhún nhường, lùi bước.
Nhưng tôi lại không nhận ra điều đó và không phục những lời cha nói với tôi. Tôi luôn cho những sự việc xảy ra là do hoàn cảnh trớ trêu, bất công, chứ không phải tại bản thân mình. Do những va vấp đau thương trong cuộc sống, giờ đây tinh thần tôi luôn chán chường, sống nốt những năm tháng buồn tẻ, nhạt nhẽo ở Ba Tư, và chết vì bệnh khi tuổi vẫn còn trẻ.
Những trải nghiệm của tôi trong kiếp này khiến tôi vô cùng sợ hãi với thân phận người phụ nữ nhiều thống khổ. Những thành kiến về trọng nam khinh nữ vẫn cứ tồn tại như vậy đi qua chiều dài của lịch sử mà chẳng thay đổi chút nào.
Sau khi tỉnh lại, ông Kris có giải thích với tôi rằng nhân quả rất công bằng, gieo nhân thì phải gặt quả báo, đó là điều rất tự nhiên. Như trong kiếp sống tại Assyria vừa qua, Nabu-cha chồng tôi mắc chứng đau dạ dày, không ăn được nhiều, vì kiếp trước ông này là người tham ăn, ăn uống vô độ, phung phí rất nhiều thức ăn, do đó trong kiếp sống tại Assyria, ông ta được sinh ra với bộ máy tiêu hóa yếu ớt, khiến phải hạn chế việc ăn uống.
Tôi không biết Nabu có biết tự đặt câu hỏi tại sao mình lại bị vậy hay không. Người thông minh phải biết đặt câu hỏi chứ không nên trách trời trách đất. Trái đất này có đầy đủ thức ăn cho tất cả mọi người, mọi loài sinh vật. Sở dĩ có người thiếu ăn là do có ai đó phung phí thức ăn hoặc tham lam lấy đi phần ăn của người khác.
Cũng như thế, Garu-mẹ chồng tôi trong kiếp đó mắc chứng hen suyễn, ho khan và khó thở. Là do kiếp trước bà ta là người quyền lực, thường áp bức những người dưới quyền. Nếu không biết suy xét để thay đổi mà vẫn chứng nào tật đấy chuyên mắng nhiếc người khác, thì bà ta sẽ còn phải trải qua nhiều kiếp sống với những căn bệnh quái ác hơn, để học được bài học mà bà ta phải học.
Bản thân tôi kiếp này thông minh sắc sảo, nhưng vì luôn kiêu mạn, cho người khác là sai, mình là đúng, vì cái nhân cho rằng mình tài giỏi hơn người, tự đánh giá mình quá cao, nên nghiệp quả trổ ngay trong một kiếp. Tôi đã phải làm nô dịch hầu hạ kẻ khác để bỏ tính xấu xa đó đi.
Tôi rút ra được rằng đừng bao giờ ngạo mạn và phán xét người khác, cho dù họ sai lầm hay có trình độ thấp kém thế nào đi nữa. Vì bất cứ một tư tưởng hay lời nói nào cũng đều tạo ra “nhân”. Mà hễ có nhân thì sẽ có quả. Đó là quy luật rồi.
Nghiệp có thể đến bất cứ lúc nào, có khi đến nhanh, có khi đến chậm, cũng có khi tiềm ẩn chờ đến kiếp sau. Nhiều người không hiểu vì sao việc đó lại xảy đến với mình, bởi vì họ đã quên đi cái nhân mình từng gieo trước đó. Cái nhân do mình tạo ra sẽ chiêu cảm hoàn cảnh xung quanh để tạo ra quả. Gieo nhân nào sẽ gặp quả đó.
Tôi bàng hoàng nhận ra bà Ginger hàng xóm ở Colorado với gia đình tôi, người mà tôi lần đầu gặp gỡ đã cảm thấy vô cùng quen thuộc. Ginger chính là Shamuram, chị gái ruột của tôi trong kiếp sống ở Assyria.
Bà Ginger trong một kiếp xa xưa đã từng cứu giúp rất nhiều người, nên nhiều đời nhiều kiếp sinh ra đều có dáng vẻ xinh đẹp, cuộc sống sung túc, một trong những kiếp đó, bà là chị gái tôi ở Assyria. Nhưng khi đã đắm chìm trong sự hưởng thụ phước báo, thì bà lại trở nên tham đắm nhan sắc của chính mình, dần trở nên ích kỉ, ngạo mạn với người khác, chỉ biết mình mà chẳng nghĩ cho ai.
Đó là lý do vì sao bà Ginger kiếp này, dù xinh đẹp, thành đạt, giàu có, nổi tiếng, nhưng phải sống một cuộc đời cô đơn, không có hạnh phúc gia đình và cũng chẳng có con mặc dù đã trải qua ba đời chồng.
Bà không hề hại ai, nhưng cũng chẳng biết nghĩ đến ai, và sống cho ai. Nếu không biết suy xét chiêm nghiệm ra vấn đề, rẽ ra một lối đi khác, bà sẽ mắc kẹt mãi trong đó.
Một lần, vợ chồng tôi mời bà đến ăn tối, khiến bà rất vui, vì lâu rồi bà không được sống trong không khí thân tình với ai cả.
Chúng tôi trở thành bạn thân, khi đó, tôi khuyên bà nên đem kho tài sản quý giá, xong lại chẳng mang lại chút hạnh phúc nào cho bà, để tặng cho những người khác. Dường như có một cánh cửa mở ra trong tâm hồn bà Ginger, và bà rất hào hứng với kế hoạch tôi vạch ra.
Không lâu sau, một buổi bán đấu giá những kỉ vật quý giá của diễn viên Ginger vang bóng một thời được chúng tôi tổ chức tại Newyork với rất đông người đến dự, toàn bộ tiền thu được sẽ được lập thành một quỹ từ thiện mang tên Ginger. Bấy giờ, tôi thấy bà mỉm cười, một nụ cười thật hạnh phúc.
Còn người anh trai Nimurta của tôi hồi ở Assyria thì sao? Thật sự bất ngờ, khi anh ấy kiếp này đã chuyển sinh thành một người đàn ông tên Wilson, và vẫn có sợi dây liên hệ gắn kết với tôi.
Khi tôi mới khởi nghiệp trên thị trường tài chính New York, trong buổi kêu gọi vốn đầu tư của mình, một người đàn ông mặc quần jean, đội mũ phớt y như những anh chàng cao bồi Mỹ tên Wilson đến tham gia.
Lạ thay, ông ấy chẳng quan tâm tới chi tiết dự án của tôi như thế nào, mà chỉ hỏi vỏn vẹn một câu “Tóm lại ông cần số vốn bao nhiêu” Sau đó ngay lập tức ông mua 20% cổ phần, tương ứng với một số tiền rất lớn tại thời điểm đó. Ông gửi hợp đồng đã kí sẵn qua bưu điện cho tôi mà chẳng cần có luật sư làm chứng.
Sau đó tôi nhận được số tiền lớn đó sớm hơn cả ngày dự kiến. Tôi cũng vô cùng thắc mắc về trường hợp này. Ông nói với tôi đơn giản là ông ấy tin tưởng tôi mà thôi. Trong khi ở kiếp này, tôi và ông chưa từng quen biết. Trong quá trình đầu tư, ông cũng không tham gia, hỏi han gì mà để tôi toàn quyền quyết định.
Đến khi công ty làm ăn tốt, các cổ đông khác muốn lên nắm quyền, thì ông Wilson đã chủ động bán lại hết cổ phần cho tôi để tôi chiếm ưu thế về phần trăm cổ phần so với các cổ đông khác.
Thực sự mọi việc đều không phải ngẫu nhiên, ông Wilson cũng không phải tự nhiên mà tin tưởng tôi tuyệt đối như vậy. Đó là do trong kiếp sống ở Assyria, ông là anh trai tôi, ông vẫn có cảm quan về sự thông minh lanh lợi của tôi trong công việc, hơn nữa lại là anh em ruột. Và ngoài ra, chúng tôi còn có mối liên hệ trong nhiều kiếp khác nữa. Nên kiếp này ông mới gặp tôi đã vô cùng tin tưởng như thế.
Ngẫm lại, vào kiếp xưa ở Assyria, khi còn là em gái của họ, ông Wilson và bà Ginger, tôi hay trách móc, vạch lỗi họ với cha vì cách làm việc ẩu tả, thiếu chuyên nghiệp. Khi ấy, cái lỗi của họ đối với tôi là một cái gì đó thật to tát, khiến tôi hết sức bực bội. Thế nhưng, khi nhìn trên tổng thể nhiều kiếp, tôi thấy thực ra những việc đó không đáng gì. Khi mà cứ chăm chăm soi lỗi người khác, tôi chẳng còn sáng suốt đâu mà nhìn được cái sai, cái thiếu sót của mình, một kiếp sống trôi qua mà chẳng học hỏi được gì, đó mới là vấn đề.


Phần 4: CẬN THẦN CỦA ALEXANDER ĐẠI ĐẾ

 
Vài tháng sau đó, tôi tiếp tục tu tập theo pháp tĩnh tâm, thiền định mà ông Kris hướng dẫn (thực ra ông chỉ nhắc lại để tôi nhớ, bởi những kiếp trước tôi đã thành thục phương pháp này, có thể đạt được định và nhớ lại tiền kiếp, nhưng kiếp này đang tạm thời bị quên đi. Đó là lý do vì sao ông Kris xuất hiện để nhắc tôi nhớ lại).
Hôm đó, tôi đang làm việc trong văn phòng thì vô tình nhìn thấy trên báo cáo của một công ty có tên Leonidas, bên cạnh tên công ty là một logo được thiết kế theo mẫu tự Hy Lạp rất đẹp.
Tôi không có hiểu biết nhiều về ngôn ngữ Hy Lạp, nhưng mẫu logo này cho tôi cảm giác vô cùng quen thuộc, khiến tôi cứ nhìn mãi như bị thôi miên. Linh tính mách bảo, tôi lập tức khép cửa phòng lại để không ai có thể làm phiền, rồi ngồi thẳng lưng, nhắm mắt lại , tập trung cao độ tư tưởng vào những kí tự Leonidas và mẫu tự Hy Lạp cổ đó.
Giống như lần tôi có trải nghiệm hồi quy về kiếp sống ở Ai Cập cũng tại chính phòng làm việc của mình. Lần này tôi cũng dần dần chìm vào trạng thái an định, có điều tôi cảm nhận có luồng năng lượng ấm nóng dâng tràn trong cả cơ thể mình như ông Kris miêu tả. Cứ như vậy, tôi rơi vào một khoảng không vô cùng, rồi bước vào trạng thái nhập định.
Trong sự hồi tưởng tiền kiếp lần này, tôi nhận ra mình là Kyros – con của một nô lệ làm việc trong trang trại của một gia đình quý tộc thuộc vương quốc Macedonia. Chủ nhân của tôi tên Dimitris, là viên quan trông coi tài chính cho triều đình của vua Philip đệ nhị.
Ông có ba người con, đó là hai người con gái lớn Sophia, Isidora và cậu con trai út Leonidas. Từ bé tôi đã nghe người ta đồn thổi tôi là con ngoài dã thú của ông chủ Dimitris. Thực tế là như vậy, nhưng không ai dám nói gì và ông chủ cũng không nói lời thừa nhận tôi bao giờ.
Ông chỉ âm thầm cho tôi được phép lên biệt thự chơi cùng với con trai của ông là Leonidas. Người mà tôi đã nhận ra chính là Wilson kiếp này và là người anh trai Nimurta của tôi tại kiếp sống ở Assyria.
Nhờ được chơi cùng, nên tôi hay học mót mỗi khi các con của ông chủ được các thầy dạy học. Bản tính thông minh, tôi tuy học mót nhưng cũng nắm được nhiều kiến thức. Thầy Satyrus dạy về âm nhạc có hai người con là Melissa và Antigenidas. Vì đều chạc tuổi nhau, nên chúng tôi chơi với nhau khá thân thiết.
Thời gian trôi nhanh, chúng tôi cùng nhau lớn lên. Isidora càng lớn càng xinh đẹp và thường được săn đón nhiều hơn các cô gái khác. Sophia dịu dàng hiền lành, trong khi Melissa tương đối thầm lặng. Nhờ được chọn làm bạn chơi cùng Leonidas mà tôi không phải làm những công việc của một nô lệ vô cùng cực khổ.
Sau đó, các con của ông chủ được tới ngôi trường đầu tiên tại Macedonia để theo học vị triết gia Aristotle. Về phần tôi, ông chủ giữ lại để làm thư kí riêng cho ông, giúp ông phụ trách làm sổ thu chi cho triều đình.
Về bản thân tôi lại có tình cảm thầm kín với Isidora-con gái ông chủ mà chẳng dám nói ra, vì biết phận mình là con nô lệ, không dám với cao tới tầng lớp thượng lưu, quý tộc.
Vốn là người thông minh, tính toán giỏi, nên tôi được ông Dimitris tiến cử lên, và được Alexander đại đế tin tưởng để cho tôi phụ trách kiểm soát quân lương và sản xuất khí giới trong những năm vị đại đế này chinh phạt khắp nơi.
Suốt mười năm trôi qua, tôi đã tận lực hỗ trợ cho triều đình kiểm soát ngân quỹ. Vậy mà cuối cùng bị người ta vu khống tội biển thủ một số lượng vàng lớn. Tôi và ông chủ Dimitris cùng nhau phối hợp làm công việc này. Ông luôn rất hài lòng với sự kiểm soát của tôi.
Nhưng khi sự việc xảy ra thì ông đã chết, nên chẳng có ai minh oan cho tôi cả. Thậm chí Isidora còn sỉ vả và nhổ nước miếng vào mặt tôi, cô nói rằng tôi đã phụ lòng cha cô, người đã cưu mang tôi. Tôi vừa uất hận vì bị vu khống, nay lại bị chính người phụ nữ mình yêu thầm nói lời nhục mạ, phơi bày thân phận nô lệ của tôi trước tất cả mọi người, làm tim tôi càng đau nhói.
Vì vua Alexander đang đi chinh phạt xa xứ không thể phán xử vụ án của tôi, nên tôi đã bị giam cầm tại Pella suốt hơn hai năm trời. Đối với tôi đó là quãng thời gian dài đằng đẵng. Rồi cuối cùng thì vụ án của tôi cũng đến tai Alexander.
Ông cho điều tra và phát hiện ra tôi đã bị vu khống. Vậy là tôi được phóng thích, và bị mất hai năm sống trong lao ngục.
Trở về với mái nhà thơ ấu tại trang trại của ông Dimitris, tôi vô cùng bất ngờ khi biết ông đã để lại lá thư tuyên bố chính thức tôi là con trai của ông. Vậy là tôi được xóa bỏ hoàn toàn thân phận nô lệ, được trở thành công dân chính thức của Hy Lạp và được kết hôn với người nơi đây. Tuy nhiên, giờ đây Isidora và tôi lại là anh em cùng cha, khác mẹ, vậy thì giấc mộng được cưới nàng càng phải chấm dứt hoàn toàn.
Sau này khi phát triển được khả năng thiền định hơn, tôi mới phát hiện ra Isidora chính là thánh nữ Kor trong kiếp sống của tôi tại châu Atlantis.
Nhận ra điều này tôi mới thấm thía luật nhân quả khắc ghi và đeo bám tận cùng như thế nào. Không ai có thể gột bỏ hay trốn chạy khỏi những việc mình làm. Tôi đã hiểu rõ vì những tội lỗi trong kiếp sống tại Atlantis, khi tôi lập mưu hãm hãi một người con gái trong trắng.
Nhưng rất may ở khoảnh khắc cuối cùng khi cơn đại hồng thủy Atlantis ập tới, tôi đã không bỏ rơi Kor. Có lẽ sự chân thành cuối cùng này đã giúp tôi giảm nhẹ phần nào tội nghiệp từ lỗi lầm to lớn của mình, nên trong kiếp sống tại Hy Lạp, tôi bị cô nhục mạ, sỉ vả và kết tội một cách chua chát, nhưng cuối cùng chúng tôi lại trở thành ruột thịt của nhau.
Đặc biệt, tôi còn nhận ra cô gái lương thiện Melisa chính là Cihone duyên dáng đầy tình yêu thương tại kiếp sống ở Ai Cập. Ở kiếp sống này, cô vẫn là một người con gái cao quý, có tâm hồn thánh thiện, giàu tình thương, sẵn lòng bao dung ngay cả với những người đã tổn hại mình.
Mặc dù tôi có gặp lại cô trong kiếp sống tại Hy Lạp, nhưng vì duyện nợ giữa chúng tôi không có gì nhiều, nên chỉ là những người bạn giúp đỡ nhau khi cần.
***
Luân hồi này là thế, chúng ta cứ quanh quẩn sinh rồi lại tử, tử rồi lại sinh. Mỗi một kiếp sống, chúng ta đều phải trả nghiệp quả mà chúng ta đã gieo trong kiếp đó, hoặc nhiều kiếp trước. Mỗi một cuộc đời, quanh quẩn chúng ta vẫn cứ gặp lại những người đã có duyên nợ với mình từ trước. Nếu duyên lành thì mối quan hệ êm đẹp, nếu nghịch duyên thì mối quan hệ bế tắc, gây khổ sở cho cả hai bên.
Sau những trải nghiệm hồi quy chân thực về các kiếp sống của mình, tôi nhận ra rằng làm giàu không phải là mục đích quan trọng nhất của cuộc đời một con người. Quan niệm này rất phổ biến, nếu không muốn nói là cả xã hội đều đang bị cuốn theo nó.
Làm người ai rồi cũng sẽ phải chết, nhưng khi nào chết là điều không ai biết trước được. Do đó chúng ta phải biết nhìn lại và điều chỉnh cách sống, sống như thế nào để không uổng phí một kiếp người. Sống chỉ để theo đuổi tiền tài, danh vọng, hay quyền lực, hay mọi trò phù phiếm của thế gian là một chọn lựa rất vô nghĩa.
Bạn thấy đó, có kiếp tôi đã từng là Pharaoh đầy quyền lực, vàng ngọc chất đầy kho, cung nữ, quần thần cũng kính, vinh quang tột đỉnh. Nhưng rồi sao ? Tôi có thể đem số vàng ngọc cùng những vinh quang đó qua những kiếp sau, khi tôi làm một người phụ nữ khổ nhục ở Assyria, hay khi sinh ra với thân phận nô lệ ở Hy Lạp không ?
Không ! Chết là hết thôi, mà cái chết thì lại rất thường trực, kiếp nào sinh ra, thì rồi tôi cũng đều chết cả, không mang theo được gì. Cho dù có tiền rừng bạc biển, có công danh phú quý, thê thiếp vợ con bao nhiêu thì sau cùng cũng chỉ là phù du, mới đây chúng là của ta, thoáng cái đã là của ai khác. Chung quy không thực sự cái gì là của ta cả, chỉ là những thứ đến và đi qua cuộc đời mỗi người. Bám chấp, tranh giành, sân si vì chúng chỉ khiến ta chuốc khổ sở mà thôi.
Thực chất, việc thực hành các công việc thiện, giúp ích cho mọi người và nhân loại mới là việc cần thiết hơn. Chưa kể đến mục đích sâu xa, tối quan trọng, đó là tu tập giải thoát sinh tử luân hồi. Đó mới là cứu cánh giúp chúng sinh thoát được đau khổ hoàn toàn, để đạt tới cảnh giới Niết Bàn an lạc.
 
(Tĩnh Như, tóm tắt lại từ sách “Muôn kiếp nhân sinh” của tác giả Nguyên Phong)



BÀ NGOẠI VÃNG SINH CỰC LẠC, BÁO MỘNG CHO CHÁU GÁI

Mẹ tôi đã ra đi mãi mãi. Nhưng không giống như những cuộc sinh ly tử biệt đầy nước mắt, đầy khổ não ở những đám tang khác. Niềm thương tiếc mẹ trong tôi thì vẫn da diết, xong tôi không buồn, vì tôi biết mẹ tôi đã đến được một nơi an lành, tuyệt mỹ, hạnh phúc gấp vô vàn lần nơi cõi đời đầy khổ đau này, nơi mẹ đã sống. Tôi nói điều này, không phải là dạng một câu an ủi cho có lệ mà người ta hay nói ở đám tang, mà là một sự thật. Mẹ tôi đã được vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc, và báo mộng lại cho con gái tôi. Mẹ tôi tên Đoàn Thị Thanh Loan, pháp danh Diệu Hòa, thọ được 59 tuổi (2018). Bà lớn lên và dành cả cuộc đời mình nơi vùng sông nước miền Tây. Sau khi kết hôn về sống với cha tôi ở ấp Đông Thạnh, xã An Thái Đông, Cái Bè, Tiền Giang, trước nhà là sông Cái Cối lớn, sau nhà là con rạch Ông An nhỏ. Tôi ghi rõ tên họ, địa chỉ, không phải vì tôi thích dông dài, mà là để những ai tinh thần hoài nghi cao có thêm dữ liệu để có thể xác thực lại câu chuyện. Thủa còn sống, mẹ tôi là người hiền lành, thật thà, ngay thẳng, lương thiện, bà là tuýp người phụ nữ của gia đình, hết mực thương yêu, chăm lo cho chồng con. Dù từ ngày làm dâu, thường bị gia đình bên chồng ức hiếp, nhưng mẹ tôi vẫn luôn nhẫn nhịn để gia đình êm ấm. Với mọi người, bà sông rất thoải mái, không so đo tính toán, cho ai được gì là bà luôn sẵn sàng, thành ra có rất nhiều người mượn tiền không trả, mà bà cũng chẳng đòi. Sau khi tôi đi lấy chồng năm 2008, mẹ bắt đầu đi chùa thường xuyên, và quy y ở chùa Vạn Linh (mọi người còn gọi là chùa Cai Quạ) do Hòa Thượng Thích Thiện Huệ trụ trì. Hòa Thượng vốn chuyên tu Tịnh Độ, nên mẹ tôi được học và tu theo con đường cầu vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc – một con đường tắt để có thể nhanh chóng thoát khỏi biển khổ sinh tử này. Từ khi Quy y, mẹ tôi tinh tấn hẳn lên, đều đều tuần nào cũng đi chùa, tu tập theo thời khóa Hòa thượng đề ra, ngày rằm thì niệm Phật, ngày thường thì tụng kinh như kinh Pháp Hoa, kinh Địa Tạng, kinh Dược Sư, Hồng Danh Bảo Sám, kinh A Di Đà, kinh Vu Lan… cầu vãng sinh. Ở nhà bà thường lạy Phật sám hối theo cuốn “Sám hối 35 vị Phật”. Một số người cho rằng tu Tịnh Độ thì chỉ nên chuyên tâm niệm mỗi câu “A Di Đà Phật”, còn đọc kinh nhiều như mẹ tôi đây thì gọi là “tạp tu”, không có chuyên tâm. Vậy kết quả của cách tu như thế này ra sao, bạn sẽ có câu trả lời ở cuối chuyện. Các việc công quả như xây chùa, tu sửa, quét dọn …bà đều rất nhiệt tình đóng góp. Ngoài ra, hàng năm mẹ tôi thường dành dụm một số tiền để mua gạo tặng những hộ nghèo trong ấp, tích chứa công đức cầu sinh về Cực Lạc. Hành thiện tích đức là thế, xong không phải vì vậy mà nghiệp chướng có thể tiêu hết ngay được. Nhiều người hay hiểu nhầm chỗ này, tưởng cứ đi chùa tạo phước là đời sẽ bình yên ngay cho. Không có đâu bạn, nghiệp từ vô số kiếp tạo ác tích lại nhiều biết chừng nào, vài năm vài tháng sám hối tạo công đức thì chỉ mong tiêu nghiệp được chừng nào hay chừng đó, chứ sao có thể tiêu sạch nghiệp được. Vậy nên mẹ tôi vẫn thường hay đau bệnh. Mẹ bị viêm xoang từ khi sinh con. Cơ thể yếu ớt, bệnh xoang hành hạ ngày nào bà cũng nhức đầu, chảy nước mũi, đau lưng. Nhưng vì hiểu được đó là nghiệp chướng “mình làm mình chịu”, nên mẹ tôi không oán thán, mà bình thản chấp nhận trả nghiệp, một mặt vẫn cố gắng tu hành. Chỉ cần duy trì đủ Tín – Hạnh – Nguyện, vững bước con đường tu Tịnh Độ, thì đến ngày số tận, thọ mạng hết, thì cũng chính là ngày mọi đau khổ sinh lão bệnh tử suốt vô lượng kiếp luân hồi qua cũng chấm hết. Sinh về cõi Cực Lạc rồi, dù chưa phải đã thành Thánh ngay, nhưng được thân tâm an nhiên tự tại, muốn gì hiện ra thứ đó, tuổi thọ không giới hạn, lại được chư Phật – Bồ Tát dạy dỗ, kèm cặp tu hành cho đến khi viên mãn các tầng bậc Thánh Quả, với bao nhiêu điều vi diệu đó, thì chịu nốt vài năm, hay vài chục năm khổ sở cuối cùng ở cõi trần gian này đâu có đáng gì ? Thời gian cuối đời, mẹ tôi ho nhiều. Sau lại được bệnh viện chuẩn đoán thêm bệnh ung thứ vú và yêu cầu phẫu thuật. Xong mẹ tôi từ chối. Sinh – lão – bệnh – tử là quy luật mặc định của sinh mệnh con người, chưa từng có ai dù là vua chúa quyền uy hay tỉ phú nhiều tiền, nhờ chạy chữa thuốc men mà có thể sống mãi bất tử cả. Như Tần Thủy Hoàng và một số ông vua khác, sai các đạo sĩ tinh thông đạo thuật điều chế đan dược, mong trường sinh bất tử. Cuối cùng, như các bạn đã biết, họ cũng đều đã chết cả, và còn chết sớm hơn người thường. Khi thọ mạng đã cạn, có chữa được bệnh này thì rồi cũng sẽ phải chết vì một bệnh khác, hoặc một lí do khác mà thôi. Quy luật vũ trụ cố định như thế, không có cách phá vỡ, nên Phật Pháp không hề dạy cách làm sao sống mãi không chết cả, mà chỉ dạy cách làm sao cho hết khổ mà thôi. Vậy níu kéo để làm gì cái kiếp người đầy phiền muộn, khổ đau này ? Bình thản đối diện với quy luật “có sinh ắt có tử” của tạo hóa, dành sức tu tập để sau khi chết, đến được một cảnh giới cao hơn, an vui hơn không phải tốt hơn là loay hoay kéo dài mạng sống một cách vô ích sao ? Biết mẹ bệnh, tôi cũng xin thôi việc để về chuyên tâm chăm sóc mẹ. Ngày ngày tôi thường ở bên niệm Phật cho mẹ nghe, nếu không thì cũng mở máy niệm Phật để bà có thể nhiếp tâm theo. Ngoài ra tôi cũng tụng kinh, lạy Phật, làm nhiều công đức khác như ấn tống, phóng sinh để hồi hướng thêm cho mẹ. Những ngày cuối, vì thấy sức khỏe mẹ tôi chuyển biến xấu nên gia đình cũng đưa bà đi bệnh viện, qua vài lần cấp cứu như những vớt vát cuối cùng nhưng không ăn thua, tôi và mọi người lại đưa bà về. Tôi mời Ban Hộ Niệm đến hộ niệm cho mẹ tôi. Quả là những con người tuyệt vời, ai ai trong Ban Hộ Niệm đều rất có tâm, họ chia ca để luân phiên nhau niệm Phật cũng như khai thị cho mẹ tôi không ngưng nghỉ, hết ca này đến ca khác. Tất cả những việc như bài trí bàn thờ Phật, sắp xếp bàn ghế, vật dụng, thậm chí cả đồ ăn nước uống, Ban Hộ Niệm cũng đều đã chuẩn bị, họ tự đem đến và sắp xếp đâu vào đấy rất chuyên nghiệp. Nhưng lại không hề đòi hỏi một xu thù lao nào cả, tất cả đều là thiện nguyện. Tiếng niệm Phật vang rền, khiến tinh thần tôi và mọi người trong gia đình vững vàng hẳn lên. Mẹ tôi vì yếu quá nên tâm nương theo tiếng niệm Phật của mọi người thôi chứ không tự niệm được. Sau 12 tiếng hộ niệm, mẹ tôi trút hơi thở cuối cùng, và ra đi một cách an lành. Mắt bà nhắm hờ, trên môi một nụ cười tươi tắn như đang rất vui vậy. Mọi người tiếp tục niệm Phật thêm mấy tiếng nữa không đụng chạm thân thể, và không ai than khóc, đúng theo yêu cầu Ban Hộ Niệm đã căn dặn trước. Khi ấy tôi cũng như mọi người đều hi vọng với những năm tháng tu hành, những công đức mẹ tôi đã tích chứa, cùng với sự hỗ trợ hết mình của Ban Hộ Niệm, thì bà đã được vãng sinh về Cực Lạc. Tuy thế, dù có những thoại tướng tốt như gương mặt tươi tắn, gân khớp mềm mại không cứng lại, chúng tôi vẫn không thể khẳng định chắc chắn 100%, vẫn dừng lại ở mức phỏng đoán mà thôi. Tôi thầm mong mẹ tôi bằng một cách nào đó báo cho tôi biết bà đã sinh về nơi nào, xong chỉ mong ước vậy thôi chứ tôi biết, việc này là một cơ duyên đặc biệt, không thể cứ cầu là có được. Một thời gian sau, cô con gái mới 8 tuổi của tôi một đêm nằm mơ thấy bà ngoại báo mộng. Sáng ra bé háo hức kể lại cho tôi. Bé kể : trong mơ bé thấy khung cảnh nơi nhà bà ngoại cũ, mọi thứ sống động và rõ ràng như khi lúc thức. Bà ngoại mặc bộ đồ lam, hiền từ gọi bé lại và nói dẫn bé đi đến một nơi rất đẹp. Một đóa sen rất lớn hiện ra, hai bà cháu cưỡi trên đóa sen đó bay đi, ban đầu chậm, sau thì bay rất nhanh. Khi đến nơi, một khung cảnh tuyệt mỹ, bao la bát ngát hiện ra trước mặt bé, khiến bé cảm thấy hết sức hiếu kì, và háo hức. Nào là những hàng cây bằng vàng sáng lấp lánh, nào là những hồ sen tuyệt đẹp nước trong vắt không thấy đáy. Đó đây sừng sững những lâu đài, mái vòm khổng lồ cũng bằng vàng, phát ra hào quang rực rỡ, khảm nạm ngọc và nhiều vật trang trí lộng lẫy mà bé không biết gọi là gì. Đó đây những chú chim đủ loại, đủ màu sắc tuyệt đẹp thong dong sải cánh, cất lên những tiếng hót thánh thót. Trong không khí rơi rơi những hạt bụi vàng lấp lánh, trông rất thơ mộng. Đặc biệt, có một cái cây cổ thụ cực kì cao lớn, trên tán cây treo rất nhiều thứ gì đó bé không biết tên, phát ra âm thanh trong trẻo như tiếng chuông gió, nhưng hay hơn nhiều, cảm giác rất vi diệu. Lơ lửng xung quanh cây cổ thụ có rất nhiều vị thân hình cao lớn, ai cũng tỏa hào quang, cưỡi trên những đóa sen còn lớn hơn đóa sen hai bà cháu đang cưỡi. Bé quay sang bà ngoại, phát hiện y phục của bà đã đổi từ bộ đồ lam sang một thứ y phục rất lạ, nó trong suốt, mềm mại với những tà áo dài, phấp phới trong gió, nhìn tiêu diêu như thần tiên trong phim cổ trang vậy. Bà dẫn bé bay đến một tòa nhà trong suốt, tọa lạc trên những tầng mây. Trong nhà có mấy vị nữa cũng giống như bà ngoại, nhưng tỏa ra hào quang sáng hơn bà, đóa sen họ cưỡi cũng lớn hơn. Dường như mọi người đang tu tập gì đó bé không hiểu. Phóng mắt ra xa, bé trông thấy nhiều căn nhà khác cũng ngự trên mây tương tự, mỗi nhà có từ 4 đến 6 vị hợp thành một nhóm nhỏ. Có rất nhiều cầu thang ẩn hiện trong mây, nối các tòa nhà với nhau theo hình ziczac. Tiếp theo, bà ngoại dẫn bé đến bái kiến Đức Phật A Di Đà. Khi đến nơi, được gặp Phật bé xúc động vô cùng. Thân tướng đức Phật đẹp đẽ, cao lớn vượt ngoài trí tưởng tượng của bé, cao đến mức bé không thể nhìn thấy hết, Ngài như một tòa núi uy nghi tỏa ra hào quang sáng rực rỡ. Đôi mắt Phật A Di Đà xanh biếc, sâu thẳm như biển cả. Bé cứ ngây ra ngắm Đức Phật, bà ngoại phải nhắc bé quỳ xuống đảnh lễ, bé mới y lời vội sụp xuống mà tha thiết lạy đấng từ phụ A Di Đà Phật. Một lát sau, bé thấy có hai vị hiện ra đứng hai bên Phật A Di Đà, thân tướng cũng trang nghiêm, đẹp đẽ như Phật, nhưng không cao lớn bằng. Tôi mở video kinh Vô Lượng Thọ cho bé xem, có cảnh tam thánh Tây Phương : Phật A Di Đà và hai vị Quán Thế Âm Bồ Tát cùng Đại Thế Chí Bồ Tát, bé xác định đúng là hai vị này. Ngoài ra, ở khắp nơi bé cũng thấy có rất nhiều vị Bồ Tát cao lớn, tuyệt mỹ giống như vậy. Lạy Phật xong, bà ngoại dẫn bé trở về. Hai bà cháu cưỡi đóa sen bay nhanh, băng qua rất nhiều tầng mây ngũ sắc kì ảo. Trên đường về bà ngoại dặn dò bé rất ân cần : “Con ráng niệm Phật thật nhiều để được về Tây Phương với ngoại nghe con !” Khi trở lại đến nhân gian, thì bé tỉnh dậy, vội vàng kể lại cho tôi. Tôi nghe mà tim thổn thức, mừng muốn rơi nước mắt. Quả thật người mẹ thân thương của tôi đã được sinh về Cực Lạc với Phật A Di Đà. Thành quả bao năm tu hành tinh tấn, tích lũy công đức của mẹ tôi, cùng với công sức hồi hướng của tôi và bao nhiêu người trong Ban Hộ Niệm đã được đền đáp viên mãn. Với những ai còn có chút hoài nghi, vì đây chỉ là giấc mơ của một đứa trẻ. Thì cũng đành tùy tín tâm của quý vị, tôi cũng không có nhu cầu thuyết phục quý vị phải tin điều này. Xong có đôi điều để những ai có duyên tu học theo con đường Tịnh Độ cần xem xét để củng cố đạo tâm, đó là : Thứ nhất, nếu chỉ là mộng mị bình thường, tại sao một giấc mơ lại có logic chặt chẽ thống nhất từ đầu đến cuối, sống động, chân thực như vậy ? Thứ hai, cứ cho là con gái tôi nhớ bà quá mà nằm mơ, vậy sao các chi tiết miêu tả của bé đều ăn khớp với kinh điển Đức Phật Thích Ca miêu tả về cõi Cực Lạc như vậy ? Ví dụ như mắt Phật A Di Đà màu xanh như biển cả, thường có hai vị Bồ Tát ở hai bên, và rất nhiều vị đại Bồ Tát khác ở khắp nơi. Rồi chi tiết cây cổ thụ, treo rất nhiều chuông khánh phát ra âm thanh vi diệu, bé cũng không biết cây này là cây gì, chỉ tả là cây cổ thụ. Xong những ai đã từng đọc kinh Vô Lượng Thọ thì sẽ biết ngay đây chính là cây Bồ Đề nơi Phật A Di Đà tọa thiền đắc đạo, vì mọi đặc điểm của cây đều khớp trong kinh. Và nhiều chi tiết khác ăn khớp một cách chính xác. Giờ giả sử có cho một người đọc kinh nhiều lần, thậm chí xem video miêu tả những cảnh trên về cõi Cực Lạc thật nhiều lần để nhập tâm. Thì cũng chẳng bao giờ nằm mơ ra được chính xác, chi tiết như thế. Vì đây là do mẹ tôi báo mộng mới có thể như vậy, chứ không phải mộng mị bình thường. Tôi chỉ nêu ra vài điểm như vậy để quý vị suy ngẫm, người có thiện căn, hiểu rõ kinh điển Phật Pháp tự nhiên sẽ nghiệm ra thực hư, mà vững tâm nỗ lực tu hành. Còn những người không đủ thiện căn, thì ngay đến ở thời Đức Phật Thích Ca, nghe trực tiếp Phật giảng cũng còn chẳng tin, thì vài lời này có nghĩa lí gì. Còn về phần tôi thì chẳng còn gì để có thể gợn lên một chút ít nghi ngại, bấy nhiêu đó đã là quá mãn nguyện rồi. Tận đáy lòng, tôi cảm thấy niềm biết ơn vô hạn đối với đức từ phụ A Di Đà Phật đã từ bi, giang tay đón mẹ tôi về cõi của Ngài, từ nay vĩnh viễn an lạc, tự tại, thẳng tiến tu hành cho đến ngày thành Phật ! Cùng với niềm biết ơn vô vàn Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã mở ra con đường Tịnh Độ cho hàng chúng sinh nghiệp dày phước mỏng sớm thoát biển khổ sinh tử này, cùng với niềm biết ơn tất cả thầy tổ, ân sư đã dày công giáo hóa, cảm ân những vị trong ban hộ niệm đã hết lòng giúp sức để mẹ tôi có được như ngày hôm nay. Nguyện cho tất cả mọi người sớm biết tỉnh ngộ, buông bỏ bám chấp nơi thế gian khổ đau này, nương theo lời Phật, tinh tấn tu hành mà sớm được như mẹ tôi, vãng sinh Cực Lạc, sớm viên thành Phật đạo. Nam Mô A Di Đà Phật ! (Quang Tử, viết lại theo lời kể của Thanh Thảo, con gái bà Đoàn Thị Thanh Loan)