Hỏi :
Anh Quang Tử, trong cuộc sống tôi thường phải nhìn thấy những sai phạm, lỗi lầm của người khác, việc ấy rất khó chịu. Nhiều khi tôi muốn làm gay gắt để họ đừng sai phạm nữa, nhưng tôi nghĩ việc này không mấy hiệu quả, vì ai cũng đều cho là mình đúng cả, chẳng ai chịu ai, thường chỉ căng thẳng thêm mà thôi.
Xong để mặc họ, ai muốn ngang ngược như thế nào cũng được, thì họ sẽ càng làm tới, mọi người xung quanh thì bức xúc, còn chính họ sẽ phải chịu những quả báo.
Tôi nên làm như thế nào là hợp tình hợp lý nhất đây ?
Quang Tử:
-Bạn thân mến, đối diện với những lỗi lầm của người khác, làm như thế nào cho phù hợp không phải là vấn đề dễ dàng.
Ở đây, chúng ta sẽ chỉ xét mức độ người bình thường với nhau trong cuộc sống, không có chức trách như quan tòa, công tố viên, cảnh sát .v.v… hay trách nhiệm công dân đối với hành vi của tội phạm theo pháp luật, đó là một phạm trù khác.
Đầu tiên, khi nhìn người khác phạm lỗi, khoan hãy bàn đến việc làm như thế nào, bạn hãy hỏi lại câu này trước đã : “Ta khởi tâm ý gì khi thấy người khác mắc lỗi ?”
Việc này rất tinh tế, nằm sâu trong nội tâm của chính mỗi người, thậm chí, nếu không để ý, bạn còn không nhận ra là nó tồn tại, nhưng nó sẽ quyết định phản ứng sau đó của ta sẽ tạo thành phước báo hay gây ra nghiệp chướng.
“Vậy rốt cục, khi nhìn thấy người khác mắc lỗi, ta khởi lên những ý nghĩ gì ???”
Với một số người, họ cảm thấy khinh bỉ người phạm lỗi kia. “Hắn ta thật kém cỏi!”
Nếu giữ cảm xúc này trong lòng không nói ra, thì nó sẽ biến thành một tâm lý miệt thị, hoặc nặng hơn, là sự ghét bỏ. Như thế thì vô tội chăng ? Không, đó là ý nghiệp. Khinh bỉ ai điều gì, ta cũng sẽ bị khinh bỉ vì chính lỗi đó.
Còn nếu để cho các tâm lý ấy tuôn ra ngoài, thì nó sẽ biến thành những câu chê bai, lên án, công kích, lăng mạ, chửi rủa. Đó là khẩu nghiệp. Chê bai ai điều gì, ta cũng sẽ mắc phải chính những điều đó, không kiếp này thì kiếp sau.
Đáng buồn là đại đa số chúng ta sẽ có những phản ứng như vậy. Thiện tai, thiện tai !
Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật có một lời khuyên dành cho những “quan tòa không ai mướn”, thường có sở thích lên án lỗi lầm kẻ khác dù chẳng phải chức trách của mình, Phật dạy:
“Không nên nhìn lỗi người,
Người làm hay không làm.
Nên nhìn tự chính mình.
Có làm hay không làm.”
Xong cuộc sống thật không hoàn hảo, rất khó để nhắm mắt. Ta vẫn phải nhìn cuộc sống, mà hễ nhìn thì lại thấy đầy rẫy những lỗi lầm của thế nhân.
Vậy ta có lựa chọn nào hay hơn không khi chúng đập vào mắt ta ?
Rất may là có :
“Khi nhìn thấy người khác phạm lỗi, hãy mong cầu cho họ không còn phạm nữa.”
Một chút thay đổi nhỏ này thôi, sẽ thay đổi toàn bộ cục diện. Ta không còn ở vị trí một ông “quan tòa không ai mướn” nữa, mà trở thành một thiên sứ, có mặt là để giúp mọi người vượt qua lầm lỗi.
Nếu chỉ giữ ở trong tâm, đó là một thiện niệm. Mong người khác không phạm lỗi nào, chính mình cũng sẽ dần không phạm lỗi đó. Còn nếu chuyển thành lời nói, thì đó sẽ là những lời khuyên nhủ đầy thân thiện, xuất phát từ một tâm hồn bao dung, không mang theo ý phán xét.
Kiểu như :”Tôi biết rất khó để kiềm chế lỗi lầm. Xong tôi vẫn mong anh có thể vượt qua, và nếu anh cần gì, tôi sẽ giúp!”
Sửa lỗi người khác như thế nào
Một thay đổi nhỏ trong tâm, sẽ tạo ra một chuyển biến khổng lồ ở kết quả sau này ta nhận lại.
Một đằng chỉ khiến ta ngày càng phiền não, bị nhiều người oán ghét, vì chẳng ai yêu mến gì kẻ luôn có ý chê bai, khinh bỉ mình. Khinh ghét người và bị người khinh ghét, lựa chọn này thật không vui chút nào cả.
Một đằng thì sẽ nâng tâm hồn ta lên, đến với sự bao dung của những tâm hồn rộng mở. Dù có giúp được người khác hết lầm lỗi hay không, thì trước hết, tâm hồn ta sẽ được thanh thản. Vì nó vắng bóng những muộn phiền, cáu kỉnh, khó chịu vì sai trái của người đời.
Như trên đã nói, đó là vấn đề thái độ trong tâm. Bây giờ đến phần hành động ra bên ngoài.
Lựa chọn thứ nhất : chỉ trích, chê bai, có lẽ chúng ta không cần phải bàn. Hiển nhiên là không nên chọn nó.
Còn nếu như bạn lựa chọn cách thứ hai : cầu cho người hết lỗi. Vậy thì bạn có thể thoải mái mà bước ra răn dạy những người tội lỗi kia chăng ?
Xin thưa là chưa! Vấn đề không có đơn giản như vậy.
Thiện tâm là tốt, nhưng chưa đủ. Bạn cần làm đúng trình tự.
Trong Phúc Âm, Chúa Jesus dạy các môn đệ của mình :
“Sao ngươi thấy cái rác trong mắt người anh em, mà không thấy cái đà trong mắt ngươi? Hoặc sao ngươi bảo người anh em: “Ðể tôi lấy cái rác ra khỏi mắt anh”. Còn ngươi, thì lại không thấy cây đà trong mắt mình?
Hãy lấy cái đà khỏi mắt ngươi trước đã, rồi ngươi sẽ thấy rõ, để có thể lấy cái rác ra khỏi mắt người anh em của ngươi”.
“Rác trong mắt người anh em” là chỉ lỗi lầm của người khác. “Đà trong mắt mình” là chỉ lỗi lầm của chính mình. Chúa không dạy rằng, hãy bỏ mặc người khác với tội lỗi của họ, mà trước tiên, cần sửa cho xong lỗi của mình, “lấy cái đà ra khỏi mắt mình đã”. Khi đó ta sẽ sáng suốt hơn, có kinh nghiệm hơn, và đó là lúc phù hợp để giúp người khác vượt qua lỗi lầm.
Phân tích kĩ hơn, ta sẽ có hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: THẤY LỖI – SỬA LỖI MÌNH
Giai đoạn này ta chỉ tập trung vào truy lùng lỗi mình, xoáy sâu nhìn cho rõ ta sai ở đâu, rõ rồi thì từng bước sửa chữa những cái sai của mình.
Việc này không có dễ chịu chút nào cả, y như một cuộc phẫu thuật không thuốc gây tê.
Bình thường, thấy cái sai của người khác, ta có cảm giác rằng mình là người ở trên cao nhìn xuống những kẻ tội lỗi, cảm giác ấy nó khoái trá, dễ chịu. Xong nay, nhìn vào cái sai của mình, cứ như bị ai đó trong vô hình vả vào mặt. Ta thấy mình thật thấp kém, hèn mọn.
Chỉ những ai có nội lực dũng mãnh, mới chịu nổi cảm giác này mà vượt qua được “ca phẫu thuật nội tâm” : thấy lỗi – nhận lỗi – sám hối – chừa bỏ. Đó chính là sự chiến thắng chính mình. Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy:
“Dầu tại bãi chiến trường
Thắng ngàn ngàn quân địch,
Chẳng bằng tự thắng mình
Thật chiến thắng tối thượng.”
Đối diện để nhìn rõ lỗi mình đã khó, làm sao sửa cho hết lỗi lại càng khó hơn. May mắn là trong kinh điển, Đức Phật dạy rất nhiều phương pháp tu tập vi diệu, giúp ta vượt qua được bản ngã của chính mình.
Đối trị tham lam, thì có pháp môn Quán Vô Thường
Đối trị nóng giận, thì có pháp môn Quán Từ Bi.
Đối trị dâm dục, ái luyến, thì có pháp môn Quán Bất Tịnh.
Si mê, lạc lối, thì đã có ngàn vạn kinh điển Phật dạy, chỉ cho con đường chân chính, đâu là đúng, đâu là sai.
Nhận ra lỗi lầm, thì đã có phương pháp sám hối, phát nguyện chừa bỏ để thay đổi dòng tâm thức.
Muôn ngàn căn bệnh trong tâm, thì Phật Pháp có muôn ngàn pháp môn làm thuốc chữa, phạm vi của bài viết này không thể kể ra hết được, bạn cần phải khảo cứu kinh điển mới biết chi tiết được.
Trong giai đoạn này, đối với lỗi người khác, cũng không phải bạn nên nhắm mắt hoàn toàn, lờ như không biết, mà phải cố gắng bao dung được, và hiểu được rằng :”Nếu chính mình còn chưa vượt qua được lỗi này, thì mình tư cách gì mà phê phán, lên án người khác mắc lỗi, điều đó thật nực cười”
Ta nên dừng lại ở việc thông cảm và cầu nguyện cho mọi người có thể vượt qua được lỗi lầm, nếu tình huống có bắt buộc phải nói lời gì đó, cũng chỉ dừng lại ở thái độ :”Tôi không có ý phê phán anh, vì tôi cũng chưa vượt qua được, chỉ là tôi mong muốn anh có thể vượt qua được lỗi này”
Trong thời gian trường kì chiến đấu với chính mình, mỗi lần sửa được một lỗi nào đó, ta sẽ tích thêm được một kinh nghiệm quý báu. Ta không chỉ biết ở dạng “ lí thuyết suông” nữa, mà là hiểu tường tận vì sao lại như vậy, và làm như thế nào để sửa đổi hiệu quả.
Không chỉ để cho mình sau này tiếp tục áp dụng, mà kinh nghiệm đó cũng có thể giúp những người bị cùng mắc lỗi giống mình áp dụng được.
Như vậy, ta vừa sửa lỗi mình, vừa tích lũy những bài học kinh nghiệm làm món quà giúp mọi người cùng vượt qua lầm lỗi. Đó là một tinh thần vị tha, luôn nghĩ đến lợi ích cho mọi người.
Giai đoạn 2 : GIÚP NGƯỜI KHÁC SỬA LỖI
Khi ta đã có thể chiến thắng chính mình, dù chưa phải hoàn hảo như Thánh nhân, xong cũng đã có nhiều tiến triển rõ rệt, sửa được nhiều tính xấu, tích đủ kinh nghiệm, hiểu rõ cách thức vì sao con người ta hay mắc lỗi này lỗi kia, cách thức làm như thế nào để vượt qua.
Về mặt thái độ đối với người khác, bạn vừa có thể thông cảm, bao dung lỗi lầm của họ, vì biết rằng việc giữ mình không phạm lỗi là rất khó khăn, nên không có sự lên án, chỉ trích.
Bạn lại vừa có mong muốn giúp người khác vượt qua lỗi lầm, chứ không phải là bỏ mặc họ. Nếu hội đủ các điều trên, thì bạn có đủ tư cách hướng dẫn người khác sửa lỗi.
Xong khi bắt tay vào việc, ta dần sẽ phát hiện ra nhiều khó khăn phát sinh : không phải ai cũng sẵn lòng nghe lời khuyên, dù lời khuyên ấy xuất phát từ chân tình. Dễ hiểu thôi, không mấy ai chịu nhận là mình sai cả. Một lẽ rất thường tình, ai cũng cho rằng mình đúng nhất Quả Đất.
Chỉ có một số ngoại lệ, theo luật nhân quả, người ta thường chỉ nghe lời người mà họ có duyên có nợ. Bạn có thể nhận ra những người đó với những biểu hiện sau : họ quý mến, tin tưởng bạn, và thường dễ dàng làm theo những gì bạn yêu cầu.
Nếu nhận ra những người như thế, bạn có thể bắt đầu giúp họ cải thiện bản thân, sửa lỗi và dần tốt lên từ những kinh nghiệm bạn tích lũy được.
Còn với những người không có duyên nợ gì với mình, tin buồn, là nhiều khi bạn đã cố hết sức, họ cũng chẳng thèm nghe, thậm chí còn quay lại chống đối bạn.
Vậy thì bạn chỉ có thể giúp họ bằng vật chất, sức lực khi họ cần để gieo duyên sau này, đồng thời, cầu nguyện cho một tương lai nào đó, họ sẽ vượt qua được lầm lỗi.
Ngoài ra, bạn cũng sẽ phát hiện ra, có những phương pháp phù hợp với mình, xong không chắc đã phù hợp với người khác. Bạn làm thành công, xong hướng dẫn người khác làm theo lại thất bại, không sửa lỗi được.
Sẽ có những người bạn có thể giúp họ vượt qua lầm lỗi, đồng thời có những người bạn không sao hướng dẫn họ thành công được, bạn phải chấp nhận hiện thực đó.
Bạn cần nghiên cứu sâu hơn, đồng thời nỗ lực tu hành, tăng thêm phước báo cho mình. Có thể quá trình này cần đến rất nhiều kiếp. Nếu bạn đủ kiên trì và tâm huyết, bạn sẽ đạt đến những trình độ trí tuệ cao hơn nữa, với những cách thức phong phú hơn, nghệ thuật hơn. Khi ấy, bạn có thể hướng dẫn cho mọi đối tượng đi đúng những con đường phù hợp với họ một cách hiệu quả. Và đó là khi, bạn trở thành một bậc hiền trí khai sáng cho mọi người, như trong kinh Pháp Cú, Phật dạy :
“Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng
Hãy thân cận người trí!
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu.”
Với trình tự như trên, từ trong tâm đến hành động, từ giai đoạn trước đến sau, tự sửa lỗi, đến giúp người khác sửa lỗi, nếu như bạn có thể áp dụng triệt để, Quang Tử tin rằng, bạn sẽ có những bước tiến lớn trong sự nghiệp tu hành, không chỉ lợi ích cho mình mà còn đem lợi ích ấy lan tỏa cộng đồng. Chúc bạn sớm ngày viên thành Phật Đạo!
Bạn có sợ rắn không ?
Đa số sẽ trả lời ngay : “sợ” – hoặc “rất sợ”, rắn mà, mấy ai không sợ đâu. Mẹ tôi và tôi cũng vậy, thấy nó ở đâu là chân tay muốn bủn rủn rồi.
Tôi tên Huệ Vân, hiện tôi 36 tuổi, sống tại Yên Mỹ, Hưng Yên. Nhà tôi vốn làm nông, nên vườn tược nhiều. Hôm đó là ngày 10/4/2020, mẹ tôi làm vườn, vô tình thấy một con rắn cái dài cả mét đang ấp một ổ trứng.
Có lẽ nó chỉ là rắn nước, rắn ráo thôi, xong mẹ chỉ cần biết là rắn thì đã cuống hết cả lên rồi. Sợ quá, chẳng biết có phải rắn độc không nữa, lỡ nó cắn ai thì chết. Nên mẹ tôi quýnh quáng chạy ra gọi ông hàng xóm kia sang đập rắn giúp.
Ông hàng xóm lập tức chạy sang, thì thấy đó là rắn mẹ đang ấp ổ trứng. Ông ấy liền bắt nó, lôi về giết (có lẽ là làm thịt rồi) Còn lại ổ trứng rắn, mẹ tôi lấy liềm cắt đám cỏ xung quanh, sơ ý bổ trúng 2 quả, nhìn thì bên trong đã có hình con rắn con rồi. Số trứng còn lại thì mẹ tôi đem về nhà, và cũng chẳng biết xử lý như thế nào nữa.
Xong chuyện, mẹ tôi cũng chẳng kể gì với tôi, chắc mẹ tôi nghĩ đây chỉ là chuyện vụn vặt hàng ngày, không đáng lưu tâm.
Nhưng tôi, dù chẳng biết chuyện gì, thì ngay đêm đó tôi bắt đầu gặp ác mộng.
Tôi mơ thấy một người phụ nữ hình dáng giống mẹ tôi đứng ở sân nhà hàng xóm, nhìn bà ta cực kỳ hung dữ, bà ta nghiến răng tức giận, chửi mắng xối xả đến nỗi sùi cả bọt mép về chuyện gì đó, trông rất đáng sợ.
Qua hôm sau, nhớ lại giấc mơ tôi cũng thấy hơi rờn rợn, mà thôi kệ, cũng chỉ là giấc mơ. Như thường lệ, đến giờ là tôi lên lạy Phật một mình, vì cả nhà, thậm chí là cả khu vực chỉ một mình tôi theo Phật thôi.
Xong lạ một điều, là hôm nay mẹ tôi cũng lên theo. Tôi thấy mẹ tôi lẩm bẩm khấn vái gì đó, tôi hỏi, thì mẹ bắt đầu kể lại chuyện hôm qua giết rắn. Mẹ tôi còn thêm:
– Bình thường mẹ có giết con này con kia cũng chả nghĩ gì đâu, mà sao lần này, cứ nghĩ về con rắn ấy là mẹ nổi hết cả gai ốc, rợn hết cả tóc gáy. Hay con niệm Phật hồi hướng cầu siêu cho con rắn này giúp mẹ với.
Tôi bắt đầu lo, vì tôi biết rắn là loài có tính thù dai, chết rồi nó còn khiến mẹ tôi bất an như vậy, chứng tỏ tâm linh nó rất mạnh. Haizz… mẹ tôi lại kết thêm một oan gia trái chủ nữa rồi. Tôi nói mẹ đem số trứng rắn để vào chỗ cũ, lấp cỏ lại để chúng nở ra cho chúng được sống.
Suốt cả tuần lễ sau đó, tôi liên tiếp gặp những ác mộng đáng sợ, khiến cho tâm lý rất bất an. Tôi ngày ngày cứ miên man suy nghĩ về mẹ con nhà rắn ấy. Thật tội nghiệp cho chúng, nhìn đáng sợ vậy thôi chứ chúng đã hại ai đâu, đang yên đang lành thì tan đàn xẻ nghé. Tôi muốn tụng kinh niệm Phật hồi hướng công đức cầu siêu cho chúng, rồi xin chúng tha thứ cho mẹ tôi.
Lực tu của tôi thì cũng chỉ là hạng xoàng, chẳng phải cao tăng đại đức gì, mà thôi, tôi cứ làm, cứ thành tâm tụng kinh niệm Phật, hồi hướng công đức cầu cho mẹ con rắn kia được siêu sinh cõi lành, còn kết quả được đến đâu thì được, dù sao ‘có’ sao luôn phải tốt hơn ‘không’.
Ngày 23/4/2020, tức là sau hơn 10 ngày rắn mẹ bị giết, tôi sắm sửa bánh, trái, hương hoa dâng cúng dường Phật, mua một số con vật làm lễ phóng sinh, và đọc kinh A Di Đà, đem công đức đó để hồi hướng cho vong mẹ con nhà rắn. Tôi dặn mẹ tôi ngồi lễ cùng tôi, dù bà không biết tụng niệm thế nào, cũng không tin Phật Pháp lắm, xong cũng phải có mặt để tỏ chút lòng ăn năn với ‘oan gia trái chủ’ nhà rắn.
Bữa ấy, tôi với tụng niệm với tâm thành tha thiết lắm, lòng nặng trĩu, trong tâm mang nỗi buồn thương cảm, xót xa cho gia đình rắn, thấy như là lỗi của mình hết – trong tâm tha thiết xin rắn tha thứ cho mẹ tôi, hết lòng sám hối xin lỗi rắn.
Khi tôi đọc kinh, niệm Phật lễ lạy sám hối…gần xong buổi công phu thì thấy mẹ tôi rất lạ, người cứ quay quay, lắc lư qua lại, miệng thì liên tục niệm Nam Mô A Di Đà Phật với một ngữ điệu rất khác thường. Không đúng, đây không phải mẹ tôi, tôi đoán ngay là có vong linh nào nhập vào mẹ tôi rồi.
Tôi cố gắng giữ bình tĩnh, tiếp tục đọc cho hết kinh, hồi hướng công đức xong xuôi, tôi mới quay sang hỏi :
– Vong linh là ai ? Vong linh có điều gì muốn nói thì nói cho chúng tôi biết.
Thật ra tự nhiên thấy vong nhập vậy tôi cũng bất ngờ và lo lắng lắm, vì tôi nghe nói phần âm không đùa được ! Mà giờ tôi cũng không biết làm gì hơn nên thôi tôi cứ hỏi vậy! Coi vong linh là ai, coi họ cần gì! Dù gì vong cũng từng là người, thôi thì đến nước này tôi cứ nói chuyện như bình thường coi sao!
Vong linh trong thân xác mẹ tôi vẫn im lặng, mắt nhắm nghiền, người lắc lư, và rít từng hơi thở qua kẽ răng, nhìn cực kỳ ma quái. Trông cái mặt vênh lên, răng nghiến lại, giống hệt người phụ nữ tôi thấy trong mơ hôm trước, tôi đoán có lẽ là vong rắn nhập rồi. Tôi nói:
– Vong linh nhất tâm niệm Phật nhé, vong linh là rắn mẹ phải không?
Vong gật gù cười nhẹ:
– Ừ đúng rồi! – im lặng một lát, vong rắn nói tiếp với giọng đầy vẻ đanh đá – Ta rất ghét nhà các ngươi đấy, ghét ghê lắm. Ta tức lắm, nhưng mà từ hôm ta được về đây, nghe tụng kinh niệm Phật thì ta đã hiểu được ra rồi. Đáng lý ra ta ghét mẹ nhà ngươi lắm, tự nhiên lại đi gọi thằng hàng xóm sang để đập chết ta đấy. Rồi thì ta báo mộng cho nhà ngươi đấy.
Ôi thôi đúng rồi, đây đúng là vong linh rắn đã nhập vào xác mẹ tôi rồi. Nó nghiến răng nói từng câu đầy vẻ cay nghiệt. Tôi bắt đầu phân trần, dịu giọng giải thích rằng chẳng qua mẹ tôi sợ quá, nên mới ra cơ sự này, chứ cũng không ác ý. Vong rắn – mắt vẫn nhắm nghiền và nói :
– Đúng rồi, ta cũng biết, là do sợ quá, ta cũng biết. Rồi mẹ ngươi cũng đem các con ta để vào chỗ cũ rồi. Rồi thì trời sẽ để cho nó sống. Còn lại mẹ ngươi bổ liềm hai đứa chết đấy, nhưng mà thôi ta cũng dắt chúng đi tụng kinh niệm Phật rồi, đi theo Địa Tạng Vương Bồ Tát rồi. Ta tha cho mẹ con nhà người nhớ. Nhà người bé nhưng mà có chí lắm đấy.
Nghe đến đây tôi cũng thấy lạ, bình thường tôi niệm A Di Đà Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát, xin các ngài siêu độ cho mẹ con nhà rắn. Nhưng vong rắn lại nói được Địa Tạng Bồ Tát dẫn đi siêu độ. Quả là các ngài là bậc thánh, không có tâm phân biệt, từ bi thương khắp chúng sinh.
Trong khi nhiều người lại hay lấy tâm phàm phu đo lòng thánh nhân, niệm danh hiệu vị này lại sợ các vị khác bỏ rơi, chứ đâu biết rằng niệm danh hiệu một vị thì tất cả chư Phật, chư Bồ Tát đồng chứng minh cho, tùy duyên các ngài sẽ đến hóa độ. Vong rắn lại tiếp:
– Mẹ ngươi cũng còn khổ lắm, nó cũng vất vả, nhưng dần dần cũng sẽ biết tu tập. Hàng ngày mẹ con ta ở trong vườn, cũng biết tụng kinh niệm Phật là nhờ nhà ngươi đấy.
Nghe đến đây, tôi chợt hiểu ra một vấn đề quan trọng. Vốn nhà tôi có một mảnh vườn nhỏ ở ngay khu nghĩa địa cũ, tôi nghe ông bà cha mẹ tôi kể lại rằng, nơi đó ngày xưa là bãi bắn, lính Ngụy, bộ đội của ta, rồi dân chạy giặc chết ở khu đó rất nhiều, nên người dân lập nơi đó là nghĩa địa luôn từ thời đó.
Như trong kinh dạy, các vong linh, quỷ thần ở trong cõi u minh thường chịu nhiều thống khổ, không thể nào kể xiết ! Từ lâu tôi có tâm nguyện mong muốn các vong linh ở đó được nghe Pháp Phật, biết Nhân Quả, biết thành tâm niệm Phật để được sinh về cảnh giới lành cho đỡ khổ.
Nên tháng 11/ 2019, tôi có mua một chiếc máy tụng kinh chạy bằng năng lượng mặt trời lắp đặt trong khu nghĩa địa ấy. ( Bạn có thể tra google để tìm mua một cách dễ dàng, khỏang 300 – 400k gì đó, nếu sợ vong linh kéo về nhà thì bạn có thể chọn các nơi vắng vẻ như đường lộ, hay vườn tược, hoặc đặt trong các nghĩa trang, chùa chiền .v.v… để đặt máy, không cần lo pin hay nguồn điện, chỉ cần vị trí có ánh nắng là máy sẽ tự động chạy 24/24 )
Hàng ngày máy mở kinh Địa Tạng, kinh A Di Đà, kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, và niệm Phật. Còn nhiều kinh điển công đức thù thắng, vi diệu khác nữa, xong vì tôi chưa biết hết, nên tạm thời chép vào thẻ như thế.
Tôi chọn các file để cài vào thẻ nhớ trong máy đều là các bài kinh được thu âm với giọng đọc bình thường, chậm rãi, dễ nghe, chứ không phải giọng tụng ngân nga kiểu cổ xưa, để các vong linh dễ tiếp thu. Không ngờ nhờ điều này, các vong linh và các oan gia trái chủ thường xuyên nghe kinh lại được lợi ích lớn như vậy, có thể hiểu được Phật pháp, dễ dàng buông xả mà nhanh siêu thoát hơn, thật vi diệu.
Vong rắn nói tiếp :
– Hôm nay ta được nhờ bóng cửa Phật, nhờ xác mẹ ngươi để ta tụng kinh niệm Phật đấy. Ôi giời ơi, ở đây nhiều oan gia trái chủ lắm, nhưng mà người ta cũng biết nghĩ rồi, có biết tụng kinh niệm Phật rồi. Mẹ con nhà ngươi cũng phải hồi hướng công đức cho các vong ở quanh đây nữa. Đông lắm, mọi người được nương nhờ như vậy mới được Phật dẫn dắt đi đấy. Ây đau quá, cái thằng hàng xóm nhà người đánh ta nghẹo cả cổ.
Đang nói hay thì vong rắn tự dưng lại than đau, thiệt tình ! Sợ nhắc lại mối thù cũ, vong lại sinh oán hận, tôi giải thích rằng đó cũng là do nhân quả kiếp trước, rắn hại người giết người, tâm nhiều ác độc nên giờ mới phải mang thân rắn, bị người giết lại. Thôi thì hãy buông bỏ hết, niệm Phật mà được vãng sinh Tây Phương Cực Lạc. Vong rắn nghe xong cũng gật gù, dịu giọng nói:
– Thôi thì ta cũng nghe kinh kệ nhiều lắm rồi, cũng hiểu rồi, chứ không ta báo thù mẹ con nhà người đấy. Ngươi biết đi niệm Phật rồi mà không biết bảo nhau. Thôi hôm nay mùng một, ta được Địa Tạng Vương Bồ Tát dẫn mẹ con ta đi đấy.
Vừa hết câu thì vong rắn lập tức niệm Phật liên tục hơn chục câu, đồng thời vái lạy hết sức thành khẩn, tha thiết:
– Con niệm Nam Mô A Di Đà Phật ! …con niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát ! Dẫn dắt tất cả vong linh chúng con đi theo ánh sáng con đường của Phật để được siêu sinh Tịnh Độ. Con niệm Nam Mô A Di Đà Phật !…Phật dẫn dắt tất cả linh hồn chúng con đi, đi về Tây Phương Cực Lạc… ôi giời ơi nhiều thế, đông thế, bao nhiêu ! Hôm nay ngươi cứu được bao nhiêu người, bao người người ta đang hoan hỉ, hoan hỉ, người ta cám ơn để về Tây Phương Cực Lạc nhé. Bao nhiêu linh hồn, bao nhiêu oan gia trái chủ trong mảnh đất này, bao lâu nay được tụng kinh niệm Phật, để hôm nay được Phật dẫn dắt linh hồn về Tây Phương Cực Lạc. A Di Đà Phật ! A Di Đà Phật ! ….
Niệm đến đây thì vong rắn xuất ra để theo Phật vãng sinh, còn mẹ tôi liền ngã lăn ra, mãi lâu mới tỉnh lại, toàn thân ê ẩm.
Trải qua chuyện này, thật sự tín tâm của tôi tăng lên vô hạn. Tôi đã hiểu rõ hơn về Oan gia trái chủ , về nhân quả oan oan tương báo mà trước giờ chỉ là được nghe kể.
Tôi đã tận mắt chứng kiến oai lực của Phật Pháp, của những câu kinh tiếng kệ, của câu niệm Phật tác động mạnh mẽ và vi diệu đến chúng sinh trong vô hình như thế nào, cứu giúp chúng sinh nhiều đến mức nào.
Đấng Như Lai thật là vĩ đại, chư Phật – chư Bồ Tát thật là từ bi, Người đã để lại cho hậu thế chúng con những kinh điển nhiệm màu – một kho báu khổng lồ không thể tả hết sự quý giá, để chúng con, dù là nhân loại hay khắp các chúng sinh ở mọi cảnh giới nương tựa vào đó mà dần thoát khỏi si mê, đau khổ, và Người vẫn luôn dang rộng tay đón muôn loài chúng sinh về chốn an lành vĩnh cửu. Con xin thành kính biết ơn Người vô vàn !
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật !
Nam Mô A Di Đà Phật !
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát !
Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát !
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tam Bảo !
(Quang Tử, viết lại từ lời kể của Huệ Vân)
Phép quán chiếu này là một pháp môn của Đức Phật dạy nhằm phá trừ tâm ái luyến thân xác người khác phái, cũng như của chính mình. Đó là nhìn vào bản chất thật của thân xác – thứ khiến cho chúng ta mê đắm.
Từ đó trực tiếp tiêu diệt ham muốn dâm dục, phá trừ chấp ngã.
Bên ngoài con người cố gắng trang điểm, chưng diện, phẫu thuật …để mọi người thấy thân mình thật đẹp. Nhưng thực sự bản
chất thân xác vốn là một tập hợp củaxương- cơ- gân- tim- gan- lòng- nội tạng- máu- mủ- phân- nước tiểu, … cùng hàng
trăm thứ tanh hôi khác.
Nhìn kĩ, ghi khắc hình ảnh về “bản chất thật” này, tâm sẽ được giải
thoát khỏi sự ái dục. Cùng kết hợp với niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, sẽ là một cách diệt tâm ái dục vô cùng hiệu quả.
Xem video này nhiều lần trong ngày, nhiều
ngày liên tiếp, sẽ giúp bạn phá trừ tâm ái nhiễm, dâm dục,
chấp thân, chấp ngã nhanh chóng.
Chúc các bạn thành công, sớm viên thành
Phật Đạo Vô Thượng !
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật !
VÔ THƯỜNG
(Phương pháp tăng trưởng trí tuệ, giúp tâm an tĩnh trước nghịch cảnh )
Có trên đời một thứ gì không chết ?
Không như hoa rã cánh rớt bên thềm
Có trong đời một điều gì bất diệt ?
Không như qua một giấc mộng đêm,
Rồi tỉnh giấc thấy lâu đài – đụn cát
Giống nhau thôi, lạc mất vào cõi quên .
Ta tìm đâu sức trai tràn thớ thịt,
Tìm đâu đây xinh xắn buổi xuân thì ?
Khi tuổi già đêm ngày rồi đến kịp,
Thân còm cõi, mòn mỏi mỗi bước đi.
Tiếc làm chi thân này rồi phải chết ?
Xác lạnh tanh, linh hồn chào tiễn biệt.
Rồi thối rữa, trương sình, mùi kinh tởm,
Triệu triệu dòi rỉa rúc mãi không yên.
Sớm mai đây thịt tan hòa thành đất,
Mà hồn ma chưa yên giấc cửu tuyền,
Vẫn đắm luyến bên xương tàn mục rã,
Năm tháng qua bở tan thành khói bụi,
Gió lạnh lùng từng đợt cuốn đi xa…
Thôi, thôi đã tan rồi giữa bao la
Có nghĩa gì đâu kiếp la cà ?
Tranh hơn, đoạt lợi, giành sinh kế
Kịch khép màn, chẳng còn gì là ta.
( Quang Tử)
___________________________________
Video bạn đang xem thực chất là phép
“QUÁN THÂN VÔ THƯỜNG, ”
chuyển thể thành dạng thơ dựa trên bài kinh THÂN HÀNH NIỆM do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng, Có công năng phá tan những bám chấp vào bản ngã, cũng như mọi bám chấp thế gian.
Duy trì phép Quán tưởng này hàng ngày (ít nhất 7 lần trước khi đi ngủ) giúp khai mở trí tuệ, tâm trí an tĩnh, bình thản, vững vàng trước mọi biến cố, sớm thoát ly sinh tử, chứng đạo Giải Thoát.
Khi đã quen thuộc, bạn có thể không cần nhìn video mà quán chiếu sự vô thường ngay trên thân thể của chính mình hoặc của những ai mình tham luyến.
Chúc bạn tinh tấn hành trì, trí tuệ tăng trưởng, sớm viên thành Đạo quả Bồ Đề Vô Thượng !
_Quang Tử_
Lòng từ bi – yêu thương vô điều kiện không phải là một đặc thù chỉ có đạo Phật Mới có, đó là một đạo lý phổ quát, một lý tưởng chung cho toàn bộ sinh linh trong vũ trụ hướng đến. Bất cứ nơi đâu, bất cứ thiên hà hay hành tinh nào, là tổ chức hay cá nhân, là tôn giáo hay đất nước, ở đâu xuất hiện lòng từ bi, ở đâu có tình yêu thương vô điều kiện, thì ở nơi đó có ánh sáng, có một nguồn sức mạnh hút tất cả sự quy ngưỡng của mọi người về đó.
Trong Phúc Âm, hay còn gọi là kinh Tân Ước của Chúa Giê-su, Chúa có nói : “…Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. …
…Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có quý giá chi? Ngay cả những người thu thuế (chỉ kẻ xấu tính) cũng chẳng làm như thế sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì đặc biệt đâu? Ngay cả người ngoại (chỉ kẻ không biết đạo lí) cũng chẳng làm như thế sao? “
Ấy vì thế nên khắp nơi người ta kính ngưỡng chúa Giê-su, kể cả là họ chưa từng đọc hết cuốn phúc âm của Chúa, không biết Chúa Giê-su giảng cái gì, nhưng họ cảm nhận được nơi Chúa Là tình yêu vô điều kiện, và thế là đủ để sinh tâm kinh ngưỡng.
Chúa dạy các môn đệ phải yêu thương con người, dù cho người đó là kẻ thù. Thế còn trong đạo Phật – được mệnh danh là đạo từ bi, thì tình yêu thương sẽ như thế nào?
Xin thưa, tình yêu thương đã được mở rộng ra không còn biên giới, phủ sóng đến toàn thể chúng sinh trong Vũ Trụ.
Nghĩa là con người yêu thương đã đành, mà có là súc sinh thì cũng yêu thương, như con thú, con chim, bò sát hay côn trùng, động vật to nhỏ lớn bé cũng đều phải từ bi với chúng.
Chưa hết, tình yêu thương còn phải phải lan đến tất cả từ các chúng sinh trong địa ngục, đến các loài ngạ quỷ, ma quái, quỷ thần, đến cả cõi Atula, lên đến hết tất cả chư Thiên trên các tầng trời mắt thường chẳng thấy.
Và tóm lại là tình yêu thương mà đạo Phật hướng đến, là tình yêu thương không có biên giới, không có phân biệt chủng loại này thì thương còn chủng loại kia thì không, tất cả chúng sinh coi như bình đẳng mà yêu thương vô điều kiện, ấy gọi là lòng từ bi của đạo Phật.
Và khi được hoàn thiện đến mức độ viên mãn, sẽ có đủ bốn hình thái của tinh thương vô điều kiện: TỪ – BI – HỶ – XẢ.
Từ, là vì yêu thương nên muốn đem niềm vui cho chúng sinh
Bi, là vì yêu thương nên muốn chúng sinh thoát khổ
Hỉ, là vì yêu thương nên vui mừng thấy chúng sinh an vui, thành tựu trong thiện pháp
Xả, là vì yêu thương nên nên sẵn lòng tha thứ, bao dung cho mọi tội lỗi của chúng sinh.
Nhưng lý thuyết là như vậy, còn thực tế tu hành, đạt được tình yêu thương như vừa kể trên, là vô cùng khó với bất cứ ai. Khó, là vì yêu thương thuộc về lựa chọn của con tim, chứ không phải việc khối óc điều khiển, ép buộc được.
Ta không thể dùng một câu lệnh nào để bắt chính mình trở nên từ bi được. Không thể ! Thực tế, dù cho ta có lý luận vì thế này, vì thế kia, lập luận đanh thép thuyết phục đến đâu, lí trí cũng không vì thế mà có thể ép trái tim phát khởi ra tình yêu thương. Trái tim nó có cơ chế riêng của nó.
Chúng ta chỉ có thể, dùng các phương pháp hỗ trợ để kích thích trái tim phát khởi ra yêu thương, rồi huân tập cho lớn dần mà thôi.
Một, là chúng ta dựa vào luật nhân quả, gieo một cái nhân gì đó, chờ qua một thời gian luật nhân quả xét sự hình thành lòng từ bi.
Ví dụ như ca ngợi lòng từ bi của người khác, của các bậc thánh nhân, của Đức Phật. Hoặc dùng các phương tiện, cách thức nào đó khiến cho mọi người, mọi chúng sinh yêu thương nhau. Hoặc phát nguyện vô lượng kiếp sau sẽ luôn từ bi, yêu thương muôn loài. Hoặc tạo công đức hồi hướng cầu cho mình thành tựu tâm từ bi như Đức Phật, như các vị Bồ Tát trong những kiếp sau .v.v…
Những nhân lành đó, theo dòng nhân quả đều sẽ tự nhiên hình thành lòng từ bi sau nhiều kiếp.
(Ví dụ như nhạc sĩ Minh Khang viết ra ca khúc Đứa Bé, cùng với hàng chục ca sĩ cống hiến giọng hát, hàng ngàn người phát tán ca khúc đi khắp nơi, làm lay động hàng triệu con tim, khiến người ta phát khởi tình thương đến những hoàn cảnh tội nghiệp, đó là một nhân lành, mà tất cả những người tham gia, từ nhạc sĩ, ca sĩ, phân phối, khi đăng tải ca khúc… Cho đến người mở ca khúc cho xung quanh cùng nghe, khen một câu, vỗ tay cổ động một cái, qua nhiều kiếp sau đều theo nhân quả mà tự nhiên hình thành đức tính nhân ái với con người, tuy chưa phải viên mãn, xong cũng tốt hơn nhiều so với một trái tim băng lạnh)
Hai, là thực hành phép Quán Từ Bi, một pháp môn rất vi diệu trong Phật Pháp, được Đức Phật hết sức tán thán, ca ngợi về cả công đức thù thắng, lớn lao, cũng như ý nghĩa quan trọng trong việc tu hành viên mãn đức hạnh.
Trong kinh, Đức Phật dạy về 11 điều lợi ích của người có tâm từ bi như sau :
“1. Người ấy ngủ ngon giấc.
2. Người ấy thức giấc tươi tỉnh.
3. Người ấy ngủ không thấy giấc mơ xấu.
4. Người ấy được những người khác yêu mến.
5. Người ấy được các chúng sinh khác yêu mến.
6. Chư thiên (Devā) bảo vệ người ấy.
7. Lửa, chất độc, và gươm không thể hại người ấy
8. Tâm người ấy có thể tập trung rất nhanh.
9. Sắc mặt của người ấy sáng sủa.
10. Người ấy chết với tâm thanh thản.
11. Nếu người ấy không đạt đến đời sống của một vị Alahán ngay trong kiếp sống này, người ấy sẽ tái sinh vào thế giới của các vị Phạm thiên.”
Và không chỉ như thế, Đức Phật còn ca ngợi về công năng vi diệu, công đức siêu việt của Tâm Từ Bi trong nhiều kinh điển khác, xong sẽ là rất dài, không tiện ghi hết ra đây, bạn có thể search Google để tìm hiểu rõ hơn.
Thực ra, Quán Từ Bi cũng là một chuỗi nhân quả của tâm, cụ thể, đó là khởi ra các tâm niệm, các ý nghĩ thương yêu, thuộc về ý nghiệp. Các ý nghiệp này làm nhân, trải qua thời gian lâu dài huân tập, sẽ dẫn đến quả, là đức tính từ bi thật sự xuất hiện, trở thành tính cách tự nhiên của chính mình, bền bỉ bảo lưu và phát triển từ kiếp này sang kiếp khác.
Còn hiện tại, những ai thực hành kiên trì và nỗ lực, sẽ dần dần từng bước khởi phát được tâm từ bi ngay hiện đời, sau nhiều năm tu tập.
VẬY THỰC HÀNH QUÁN TỪ BI NHƯ THẾ NÀO ?
Phải nói trước, phương pháp Quán Từ Bi được trình bày sau đây, là Quang Tử hướng dẫn theo kinh nghiệm bản thân, dựa trên nền tảng lời dạy Đức Phật dạy trong kinh, tuy nhiên có một số chỗ đã biến tấu khác đi cho phù hợp với tâm lý của chính mình. Tùy ý các bạn tin tưởng thì có thể áp dụng, không thì đơn giản bỏ qua là được.
BƯỚC 1 : PHÂN LOẠI ĐỐI TƯỢNG QUÁN TỪ BI
Vì ta vẫn là một phàm nhân bình thường, nên trong tim sẽ luôn tồn tại người yêu, kẻ ghét, có người ta thương nhiều đến mức có thể hi sinh mạng sống vì họ, có người ta lại hận đến thấu xương thấu tủy.
Kể cả cùng là thương yêu, thì mức độ luôn không có đồng đều, người thương nhiều người thương ít khác nhau. Và việc đầu tiên bạn cần làm, là lấy một tờ giấy ra, để phân loại các đối tượng.
Hãy thành thật và lục lọi trong tâm bạn, để xem bạn hiện đang dành tình cảm cho mọi người trên đời này như thế nào. Tốt nhất là bạn nên làm việc này ở một nơi riêng tư, không để ai biết tránh ảnh hưởng tâm lý. Lần lượt ghi tên các đối tượng vào giấy theo 5 cấp độ sau :
(Lưu ý, đừng giới hạn chỉ xét tình cảm với người, mà mở rộng đến mọi chúng sinh, cả động vật – thú cưng mình nuôi, đến cả các hương vong linh người quá cố v.v… )
Cấp độ 1 : Ghi tên người ta thương yêu nhất trên đời vào giấy (tất nhiên không phải chính mình nhé) Trong tim mỗi người, thường luôn có một số người ta thương yêu nhiều hơn hết thảy, đó có thể là cha, là mẹ, là người yêu, vợ, chồng, con cái, với những người có tín ngưỡng, thì đó có thể là Đức Phật, là các vị Bồ Tát, là chúa Jesus, các thánh nhân …
Bạn có thể ghi 1 hoặc 2-3 người vào đều được, chỉ cần đảm bảo rằng, khi nghĩ về những người này, bạn dễ dàng khởi được niềm yêu thương đến họ, thậm chí là thương yêu da diết, thương yêu mãnh liệt.
Cấp độ 2 : Ở cấp độ này, bạn ghi tên những người cũng thương mến, nhưng tình cảm nhẹ hơn một chút, như anh chị em, họ hàng, bạn thân, thầy cô .v.v…
Cấp độ 3 : là những người bạn dành tình cảm nhẹ hơn một bậc nữa, là những người hơi có cảm tình, quý mến, thường là hàng xóm láng giềng (tùy người thôi), họ hàng xa, bạn cùng lớp cùng trường, những người đồng nghiệp dễ mến v.v…
Cấp độ 4: là những người xa lạ, hoặc chúng sinh không quen biết.
Cấp độ 4 này vô cùng rộng lớn, bao quát tất cả những con người già trẻ nam nữ, từ nông thôn đến thành thị, từ miền ngược đến miền xuôi, từ những người ta nhìn thấy hàng ngày đến những người cả đời không gặp, từ đồng bào trong nước đến toàn bộ nhân loại.
Rồi đến muôn loài súc sinh, từ thú nuôi trong nhà đến động vật hoang dã, từ chim thú đến bò sát, từ côn trùng đến cá tôm…
Rồi đến tất cả các tội hồn địa ngục đang ngày đêm chịu hình phạt, đủ loại đau đớn rên siết…
Rồi đến vô vàn ngạ quỷ, cô hồn khổ sở đói khát dài hạn, đến tất cả quỷ thần muôn hình vạn trạng, đến chư thần A Tu La hiếu chiến, đến chư thiên trên khắp các tầng trời, đến khắp tất cả sinh linh, chúng sinh trong vũ trụ bao la.
Vì xa lạ, không thù không oán, thường tình cảm dành cho họ khá là mờ nhạt, không rõ ràng.
Tuy nhiên, nếu gặp phải những người, hoặc chúng sinh xa lạ, mà họ ở trong tình cảnh đau khổ, bất hạnh, như chiến tranh, bệnh tật, nghèo đói, cực hình tra tấn, chết chóc thê thảm… thì thường tình cảm trong tim dễ được kích hoạt, mà hình thành một niềm thương xót ( bi) dành cho họ.
Hoặc gặp những người có nhân cách đáng kinh, hành xử cao thượng … cúng khiến tâm phát sinh tình cảm mến mộ. Mức độ nhiều hay ít còn tùy thuộc nhiều yếu tố.
Bạn có thể lợi dụng điểm này, khởi thương yêu đến những người đau khổ, bất hạnh, và những người đáng kính trọng, đáng mến mộ trước, rồi đến các đối tượng khác sau, sẽ dễ dàng hơn.
Cấp độ 5 : bạn ghi tên những người khiến bạn ghét bỏ, oán hận, thậm chí đến mức độ căm thù, hận thấu xương thấu tủy.
BƯỚC 2 : QUÁN TỪ BI
• Bạn nên chọn một thời gian mà không bị vướng bận, phân tâm bởi ngoại cảnh, ngồi xếp bằng, hoặc chọn một tư thế nào đó bạn thấy thoải mái là được.
• Đặt tờ giấy Phân loại các đối tượng Quán Từ Bi trước mặt ( khi nào thuộc lòng, nhớ kĩ rồi thì có thể bỏ giấy đi)
• Hướng tâm nghĩ đến đối tượng Cấp độ 1, và khởi lên một tình thương yêu hướng đến người đó, hoặc những người đó.
Hãy cố gắng điều chỉnh tâm ý, để tình thương yêu này là vô điều kiện, là cho đi không cần nhận lại gì.
Thương, nhưng vẫn tôn trọng, chứ không xem thường.
Thương, nên sẵn lòng vì người đó hi sinh lợi ích bản thân (từ), xót xa khi người đó đau khổ (bi), vui khi người đó hạnh phúc (hỉ) , và sẵn sàng bao dung những sai lầm của người đó (xả).
Khi đã quán được như vậy rồi, hãy ghi nhớ cách khởi tình thương đó.
• Hướng tâm nghĩ đến những đối tượng cấp độ 2, và khởi lên tình thương yêu hướng đến họ y như với người cấp độ 1. Nếu thấy khó, bạn có thể nhớ lại ban nãy khởi thương yêu đến người cấp độ 1 như thế nào, và sao chép lại cách thức để khởi yêu thương đến những người cấp độ 2 giống y vậy.
• Tương tự bạn lại sao chép cách thức như trước, khởi thương yêu với những người cấp độ 3, xong rồi thì rồi đến cáp độ 4.
Hoàn thành như vậy, bạn đã có thể bắt đầu bình đẳng thương yêu hầu hết mọi chúng sinh, với một loại tình thương đúng nghĩa, không vụ lợi ích kỉ, không phân biệt thân sơ, từng bước mở rộng trái tim đến vô lượng chúng sinh khắp pháp giới.
• Và cuối cùng là việc khó nhất : Quán Từ Bi đến đối tượng cấp độ 5. Bước này nếu bạn không làm được ngay, thì cũng đừng thất vọng, nản chí, vì đối tượng Quán Từ Bi cuối cùng này thực sự khó : đó là kẻ thù của bạn, là những ai đã khiến bạn đau khổ, làm bạn căm ghét, oán hận nhất.
Đầu tiên khi nghĩ đến họ, có thể bạn sẽ thấy tâm mình tự nhiên nổi lên bức tức, khó chịu, muốn loại bỏ họ khỏi tâm mình, vốn đang trong trạng thái ngập tràn từ bi & an lạc.
Vậy nên, việc cần làm lúc này là tha thứ cho họ. Bạn có thể dùng mọi lí do mà bạn nghĩ ra được để tha thứ, để tâm oán hận tiêu tan. Như là :
“Tha thứ, là cách trả thù tốt nhất”
“Căm hận, là đem sai lầm của người khác hành hạ chính mình”,
“Bao dung lỗi lầm của người khác, là vá lành những vết thương lòng của chính mình”
“Mọi sự là do nhân quả, tiền kiếp có thể mình đã hại họ, nay họ hại mình, khiến mình bực tức, oán ghét. Nhưng oan oan tương báo, thù qua ghét lại, nào có ích gì, chỉ khiến cho cả hai bên đau khổ, chẳng bằng buông xuống ở đây, tự giải thoát cho chính mình” .v.v…
• Khi đã tha thứ cho họ được rồi, không oán hận, khó chịu với họ nữa, vậy bạn có thể xem họ như những đối tượng ở cấp độ 4, bắt đầu khởi tình thương đến họ, dần dần lâu ngày sẽ có thể Quán Từ Bi đến họ như người ở cấp độ 1. Đến lúc này, thì tâm của bạn đã thành tựu một đức hạnh quý giá vô cùng, đó là sự bao dung.
____________________________
Sau khi hoàn thành các bước Quán Từ Bi – khởi tình thương đến mọi người, mọi chúng sinh theo các bước trên, bạn đã đặt những bước chân đầu tiên trên con đường hướng đến sự thánh thiện hoàn mỹ như những bậc Thánh ngập tràn từ bi, đầy bao dung và độ lượng, như Đức Phật, như các vị Bồ Tát lặn lội trong sinh tử cứu độ chúng sinh không ngừng nghỉ.
Ban đầu do chưa quen, bạn có thể mất rất lâu để hoàn thành một lần Quán Từ Bi, từ đối tượng cấp độ 1 đến cấp độ 5. Không sao, bạn hãy kiên trì, những lần sau sẽ dễ dàng hơn, nhanh hơn, thuần thục hơn. Pháp môn này không có giới hạn không gian, thời gian, quán được lâu chừng nào, tốt chừng đó, 15 phút, nửa tiếng, một tiếng, 10 tiếng… mọi lúc mọi nơi, càng nhiều thì càng tốt. Bạn có thể nhận ra, mỗi lần Quán Từ Bi, là thân tâm của bạn trở nên vô cùng an lạc, thoải mái, nhẹ nhõm, dễ chịu, thậm chí bạn còn không muốn kết thúc.
Lâu hơn nữa, dần dần bạn sẽ thấy tính tình của bạn thay đổi, từ mờ nhạt đến rõ nét, đến mức mọi người xung quanh cũng đều nhận thấy.
Trải qua nhiều năm Quán Từ Bi, sự hiện diện của bạn lập tức có thể khiến mọi người cảm thấy thoải mái, dễ chịu, nên thường họ sẽ sinh tâm quý mến, thương yêu với bạn dù là bạn chưa làm gì tốt cho họ. Nếu đạt được đến trình độ đó, xin chúc mừng, tuy nhiên bạn hãy biết rằng, đó mới chỉ là những lợi ích đầu tiên của việc Quán Từ Bi thôi, tương lai nhiều kiếp sau, sẽ còn nhiều quả lành thù thắng, lớn lao, vi diệu hơn đang chờ đón.
(Quang Tử)
__________________________
Phật Pháp vi diệu nhưng rộng lớn quá, khiến bạn không biết bắt đầu từ đâu ?
Hoặc bạn đã tìm hiểu nhiều xong vẫn còn cảm thấy chưa nắm được những điểm mấu chốt để áp dụng là những điểm nào ?
Chính vì vậy, Quang Tử đã tóm gọn lại những bài viết mang tính then chốt, chứa đựng những giáo lý mang tính ứng dụng thực tế cao, được nhiều người quan tâm trong thời đại này, mà bất cứ người nào cũng cần nắm rõ, làm hành trang căn bản, để ứng dụng hóa giải mọi khổ đau của cuộc đời.
21 bài viết và video trong fanpage Facebook này, 21 chủ đề khác nhau, tuy chẳng là gì so với biển học mênh mông của Đạo Phật, xong hi vọng sẽ giúp bạn thỏa mãn khao khát tìm hiểu, nắm vững yếu chỉ then chốt. Hãy bấm vào link bên dưới và lần lượt khám phá từng bải viết.
21 BÀI HỌC THEN CHỐT
https://www.facebook.com/21-B%C3%A0i-H%E1%BB%8Dc-Then-Ch%E1%BB%91t-100788571857467/?modal=admin_todo_tour
“Tôi là ai ?” – Nếu được ai đó hỏi câu hỏi trên, hay là một lúc nào đó bạn tự hỏi chính mình câu này, hầu hết mọi người trong chúng ta, đều có thể dễ dàng mà trả lời rằng:
-“TÔI” là một con người, một sinh linh đang “sống” trong vũ trụ này. Tôi có một thân xác, cùng với những thứ như cảm xúc, suy nghĩ, tâm tư, tình cảm, sở thích… và “TÔI” điều khiển chúng theo ý mình, ấy như thế là “TÔI” đang sống!
Hoặc, một số bạn có thể sẽ miêu tả một cách có vể “triết học” hơn : trong tôi có một linh hồn, linh hồn ấy biết suy nghĩ, biết cảm nhận, biết đưa ra quyết định, biết làm ra mọi thứ… Linh hồn ấy là ông chủ của cái khối thân tâm này, mà chúng ta còn gọi là “cái Tôi”, danh từ trong đạo Phật gọi là Bản ngã.
Một số người sáng suốt hơn, do có trí hiểu biết sâu rộng , có thể biết thêm rằng : “linh hồn của Tôi” luân chuyển đầu thai hết kiếp này qua kiếp khác trong sáu cảnh giới, và chịu sự chi phối của luật Nhân quả, gieo nhân gì – gặp quả ấy.
Các câu trả lời có thể hơi khác nhau, xong điểm chung là đều công nhận có một “cái Tôi” là trung tâm, làm chủ thể, dẫn dắt, điều khiển những thứ khác, như thân xác, suy nghĩ, hành động…
Vậy, sự thật có đúng như thế không ? Cái lối mòn mà ai cũng đi ấy có thật là chân lí không ? Hãy dành ít thời gian, cùng với tất cả trí tuệ trong bạn để suy xét về những điều dưới đây, tôi sẽ đồng hành cùng bạn để bạn có được sự thật ! Và sự thật này rất có thể khiến bạn phải thốt lên : “Oh my God ! Wow, thật không thể tin được !”
Bạn sẵn sàng chứ ?
_______________
Mỗi người chúng ta, hay bất cứ chúng sinh nào khác, đều được cấu tạo từ 5 thứ: sắc – thọ – tưởng – hành – thức, gọi là năm ấm. Điều này là do Đức Phật dạy. Cụ thể, diễn giải một cách dễ hiểu, thì :
– Sắc: là thân xác.
Đối với loài người, súc sinh thì có thân xác vật lý, vì đang sống trong thế giới vật lý. Còn chư Thiên, Atula, thần linh, quỷ- yêu, vong linh, tội hồn địa ngục, thì có thân xác dạng siêu hình, vì sống trong cõi giới phi vật chất.
– Thọ : là cảm giác – cảm xúc. Như cảm thấy vui, cảm thấy buồn, giận, ghét, thích, chán .v.v…
– Tưởng : là các vọng tưởng hiện lên trong đầu mà ta có thể thấy được, gồm những ý nghĩ, hình ảnh, âm thanh, hương vị, xúc chạm … mà não bộ có thể tưởng tượng được ra.
– Hành : là hệ thống điều khiển mọi hành động, hoạt động, vận hành sự sống của chúng sinh, gồm cả hành động có ý thức như đi, đứng, ăn uống, nói năng giao tiếp, làm việc bằng chân tay, suy nghĩ, tính toán bằng đầu óc .v.v…và gồm cả các hoạt động vô thức như tiêu hóa, tuần hoàn tim mạch, sản sinh tế bào, điều tiết hoóc -môn, tạo ra giấc mơ, trực giác .v.v…
– Thức, là cái biết, trí nhớ, giống như kho thông tin, lưu trữ dữ liệu ở mọi dạng: hình ảnh, âm thanh, hương vị, xúc chạm, ý niệm, khái niệm, sự vật, sự việc .v.v…
Cả 5 thứ này quện chặt vào nhau, phối hợp nhuần nhuyễn trong từng giây, từng 1/1000 giây, nhanh đến mức khó mà tách bạch được chúng ra độc lập. Giống như cái quạt máy có 5 cái cánh, khi đứng yên ta có thể nhìn rõ là 5 cánh, nhưng khi quạt chạy với tốc độ cao, ta thấy chúng dường như là một khối.
5 ấm không phải là một, chúng riêng rẽ, trong đó không có cái nào làm thủ lĩnh, mà là cái này hỗ trợ, thúc đẩy cho cái kia, cái kia lại thúc đẩy, sinh trợ cho cái kia nữa, cứ thế qua lại không ngừng giữa 5 ấm. Mà thực chất là không có ấm nào đứng ra điều khiển thân tâm này cả, không có thủ lĩnh.
Uhm… liệu câu trên có nói sai không nhỉ ? Chẳng phải là có một cái “TÔI” đứng ra làm chủ, rồi điều khiển các bộ phận hoạt động, chỉ đạo 5 ấm theo lệnh của chủ thể “TÔI” sao ?
Để hiểu được bản chất vấn đề. Ta hãy cùng làm thử một thí nghiệm nhỏ, một lần soi lại cấu trúc bên trong của chính mình, để xem cái chủ thể “TÔI” làm chủ được cái gì trong thân tâm của chính mình không nhé :
– Sắc ấm ( thân xác ) :
Theo các nhà khoa học, không có bất cứ một tế bào nào tồn tại suốt từ khi ta sinh ra đến khi ta già chết, chúng sinh ra rồi diệt mất, và được thay thế bằng những tế bào mới liên tục, liên tục.
Thân xác ta là một chuỗi nối tiếp nhau của những cái thân gần giống nhau, nhưng không giống nhau hoàn toàn: thân 1 ngày tuổi – thân 1 tháng tuổi – thân 1 năm tuổi – thân 2 năm tuổi … – thân 99 tuổi…
Mỗi ngày trôi qua ,thân ta già đi một chút, một năm trôi qua, ta thấy sự già đi rõ ràng hơn cho đến khi ta thành một cụ lão hom hem, lụ khụ, xấu xí, mệt mỏi nằm chờ chết, thậm chí muốn chết cho mau cũng không được . Chẳng ai muốn vậy cả. Vậy nếu “TÔI” có thể làm chủ thân xác này, thì hãy ra lệnh cho đừng già đi, cứ trẻ trung , khỏe mạnh mãi, hãy ra lệnh như thế đi !
Không được , không bao giờ được, đúng không ?
– Thọ ấm ( cảm giác, cảm xúc ) :
Ai cũng mong muốn mình luôn được hạnh phúc, luôn cảm thấy khoái lạc, tôi hay bạn, hay mọi người đều vậy, nhưng điều này lại chủ yếu lệ thuộc vào ngoại cảnh bên ngoài, hoặc thậm chí là một cái gì đó vô hình bên trong, kiểu như :
“Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn, không hiểu vì sao tôi buồn ?”
Xong thường cảm xúc sẽ bị bên ngoài chi phối nhiều. Như có người đến khen ngợi ta không tiếc lời, tặng hoa, tặng quà, như thế thường sẽ khiến ta cảm thấy Vui.
Ngược lại, nếu có người tới lăng nhục, phỉ nhổ vào mặt ta bằng những lời độc địa nhất, rồi đánh đập, tra tấn ta, như thế thường sẽ khiến ta cảm thấy buồn phiền, cảm thấy đau khổ.
Nếu “TÔI” có thể làm chủ, hãy thử đảo ngược cảm xúc của mình trong những trường hợp như thế, xem có được không ? Ai chửi mình, mình vui. Ai khen ngợi mình, mình buồn, xem kết quả như thế nào ? Một lần nữa, câu trả lời là “Không”, đúng không bạn ?
Thậm chí, trong một thử nghiệm dễ hơn, giả sử bạn đang rất đói, ăn bao nhiêu cũng không thành vấn đề, bạn vào nhà hàng và gọi một món mà bạn ưa thích nhất. Bạn thấy nó ngon tuyệt vời. Tiếp theo bạn lại gọi tiếp đúng món đó và ngồi ăn. Bạn sẽ thấy lần thứ hai này, vị ngon giảm bớt. Lại lặp lại lần thứ ba, thứ tư… bạn sẽ thấy sự chán ngán xuất hiện. Lại tiếp tục cho đến lần thứ hai mươi, hai mốt… Bây giờ, món ăn đó trở thành một công cụ tra tấn đối với bạn. Nếu bạn làm chủ được cảm xúc, hãy điều khiển cho mình luôn thấy ngon miệng trong lần ăn thứ hai mốt giống như trong lần đầu tiên, xem có được không ?
– Tưởng ấm ( tất cả ý niệm trong tâm mà ta thấy) : trong tâm trí của chúng ta, ta luôn thấy các ý nghĩ, các suy tưởng, thậm chí cả hình ảnh và âm thanh của những việc quá khứ, dự tính tương lai .v.v…
Hầu hết mọi người cho rằng bản thân mình làm chủ được các suy nghĩ của mình. Vậy bạn hãy thử một thí nghiệm, hãy dừng hẳn không suy nghĩ bất kì thứ gì trong vòng một giờ, cho đến một ngày, xem có được không ? Bạn thấy rằng quá khó, phải không ?
Các ý niệm, vọng tưởng tự chúng nó phát sinh liên tục, chúng tự tung tự tác, chẳng thể bảo nó dừng, thậm chí bảo chúng chỉ được nghĩ theo hướng thiện, không được theo hướng bất thiện cũng chẳng được, phải không bạn?
– Hành ấm ( hệ thống điều hành mọi hoạt động, các nhà khoa học thường gọi là “hệ thần kinh” ) :
Hệ thống này quả thật là một bí ẩn với hầu hết chúng ta. Chúng ta vẫn thường đi tới, đi lui, nói năng, hoạt động đủ kiểu, song không hề thấy hệ thần kinh điều hành thế nào, ra lệnh cho các bộ phận cơ thể hoạt động như thế nào.
Ngay đến các ý muốn, các sở thích của ta cũng do nơi Hành ấm quyết định, bạn thấy không, bạn thường hay muốn cái này, thích cái kia nhưng không cách nào tự thay đổi sở thích của mình được, đúng không?
Một ví dụ khác, như quả tim, nó vẫn luôn đập thình thịch liên tục, nhưng ta đâu có điều khiển được nó bao giờ đâu ? Nếu bạn cho rằng mình làm chủ được Hành ấm ( hệ thần kinh) hãy điều khiển cho quả tim ngưng đập 1 nhịp, chỉ cần 1 nhịp thôi cũng được, xem có được không ?
– Thức ấm ( cái biết, cái Nhận thức )
Đây là tổng kho dữ liệu của chúng ta, ta biết sự tồn tại của mọi vật, mọi người, mọi vấn đề , ta nhớ được mọi chuyện quá khứ… đều nhờ kho dữ liệu tri thức này. Khi tiếp xúc với ngoại cảnh, kiến thức bên ngoài… và ngay cả những vấn đề trong nội tâm ta, Thức ấm tự động lưu lại để hình thành kí ức, tri thức, sự nhận thức…
Vậy ta có điều khiển được kho dữ liệu này không ? Hãy làm một phép thử đơn giản, hãy xóa tên Đất nước mà bạn đã sinh ra và lớn lên như chưa từng biết đến bao giờ, xem xem có được không ?
Hay một thí dụ khác, trong lớp học cũ của bạn, bạn đã từng biết tên hết tất cả mọi người , thậm chí biết rõ họ tên đầy đủ, vậy hãy kể tất cả những cái tên đó ra xem!
Bạn đã quên gần hết rồi, và chẳng làm sao nhớ lại nổi, phải không? Thực tế là, ta nhớ hay quên cái gì, ta không điều khiển được.
————–
Tất cả chúng, thân xác lẫn linh hồn, từng thứ từng thứ một, đều tự tung tự tác, chẳng cái nào do ta điều khiển.
Cả một khối thân tâm này vẫn sống, vẫn sinh hoạt, vẫn tư duy hàng ngày… Vậy mà ta chẳng làm chủ cái nào, vậy “Tôi” ở đâu, Chủ tể của cái khối thân tâm này ở đâu?
THỰC RA, CÁI TÔI KHÔNG CÓ THẬT, ĐÓ CHỈ LÀ MỘT ẢO GIÁC CỦA TÂM !
Do vì khối sắc – thọ – tưởng – hành – thức chuyển động quá nhanh và nhuần nhuyễn tạo ra một ảo giác rằng có một cái Tôi làm chủ cái thân tâm này. Nhưng không , cái Tôi ấy giống như người cầm cây đuốc quay vòng tròn thật nhanh, sẽ sản sinh ra một cảm tưởng rằng có 1 vòng tròn lửa, nó chỉ là cảm tưởng, một ảo tưởng mà thôi.
Nếu như mắt ta đủ nhanh, ta sẽ thấy rõ, đó chỉ là một cây đuốc di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác, thế thôi. Cái Tôi – cái Bản ngã cũng thế, nếu ta đủ trí tuệ, ta sẽ thấy đó chỉ là một tập hợp những nhân duyên nối tiếp nhau, thế thôi, chẳng có cái Tôi nào cả.
Để tôi làm một ví dụ cho bạn:
Buổi sáng, sau một giấc no say, bạn thức dậy. Và bạn thấy đói. Cái cảm thấy đói này, nó là cảm giác, thuộc Thọ ấm. Do thọ ấm nhắc nhở, bạn sẽ thấy 2 việc xảy ra đồng thời, một là trong đầu nảy ra ý nghĩ “Sáng rồi, đi ăn sáng, nạp chút năng lượng cho ngày mới thôi”.
Và hai, là tay chân bắt đầu làm các động tác vệ sinh cá nhân, thay đồ thích hợp, nhét tiền vào túi,. Một chuỗi các hành động đó, thuộc về Hành ấm. Do đã quen, nên dường như bạn không phải suy nghĩ gì trong khi làm chúng. Hay đúng hơn, là chúng cứ tự động làm, chẳng cần phải ra từng câu lệnh “Ê, tay kia, bỏ tiền vào túi. Chân, xỏ vào giày. Toàn thân đứng dậy, đi thẳng, mở khóa, bước ra đường, nhằm hướng….”
À không ! Không có ai phải ra lệnh liên tục như thế cho cơ thể để chúng hoạt động phải không ? Hành ấm cứ thế lặng lẽ hoạt động thôi. Tiếp theo, tưởng ấm lại khởi ra một ý nghĩ “Sáng nay ăn món gì đây nhỉ ?”
Thế là Hành ấm lục lọi trong trí nhớ – tức là Thức ấm, và ra được một kết quả ( kiểu như tra google ấy) : “Ở đầu ngõ mới khai trương một quán bún trông có vẻ rất ngon” đồng thời vẽ ra một bản đồ đơn giản đường tới đó, kiểu như “rẽ trái, đi 50 mét, rẽ phải, nhìn bên trái là thấy”
Tiếp theo, hành ấm lại lặng lẽ điều khiển tay, chân, cơ thể làm hàng loạt các hành động để đi đến quán bún đó, gọi một tô, chờ một lúc và …ăn thôi nào !
Lúc này, Thọ ấm cảm thấy hàng loạt các cảm giác từ lưỡi và mũi: chua chua, cay cay, thơm thơm, cảm thấy nước bún thật đậm đà, nhưng không quá mặn… tóm lại là cảm thấy bún ở đây rất thơm ngon, vừa ý mình, hay đúng hơn, là vừa ý của Thọ ấm.
Vậy là hành ấm liền tạo ra một chuỗi động tác nhìn xem tên quán là gì, có ship tận nhà không, để ghi nhớ, tức là nhập dữ liệu vào Thức ấm, gắn 5 sao, để sau này tiếp tục đến đây ăn sáng.
Diễn tả thì rất lủng củng, dông dài, nhưng lại thiếu rất nhiều chi tiết. Trong thực tế, tất cả chuỗi phối hợp giữa 5 ấm này, cực kì nhuần nhuyễn và nhanh chóng, thậm chí có nhiều cái ta không hề ý thức là nó đang xảy ra, như : tim vẫn luôn đập, phổi vẫn luôn thở, dạ dày vẫn tiết dịch vị tiêu hóa v.v…
Vậy, nếu thật sự cái Tôi làm chủ điều khiển 5 ấm, thì, nó điền khiển chỗ nào ? Bạn thử tìm xem có ra không nhé!
Sự thật, nếu quan sat đủ kĩ, bạn sẽ phát hiện ra: cái này có thì sinh ra cái kia có, cái kia có thì sinh ra cái kia nữa có, cứ thế nối tiếp nhau vô tận, tạo thành một dòng liên tục.
Giống như một dòng sông, một dòng sông là sự nối tiếp liên tục của vô số hạt nước, đất cát, cá tôm.v.v… Nhưng không có cái nào là chủ tể đứng ra điều khiển cả, nó là một tập hợp của những nhân duyên, khi mọi điều kiện tập hợp đầy đủ : có nước tụ về, có sự trũng xuống của mặt đất, có độ dốc .v.v… Ta sẽ thấy một dòng sông hiển thị ra, thế thôi, chẳng có chủ tể nào điều khiển cả, nó vô chủ, vô ngã. Và mỗi người chúng ta, mỗi chúng sinh cũng như vậy, vô chủ, VÔ NGÃ.
Tập hợp những nhân duyên này nhất nhất tuân theo luật Nhân quả Nghiệp báo, cái này có thì sinh ra cái kia, cái kia có lại sinh ra cái kia nữa… cứ thế đến vô tận kiếp luân hồi.
Tất cả chẳng qua do dòng nghiệp duyên nhân quả chi phối, điều khiển.
Chúng giống như vạn vật vô tri, không khác, chẳng qua là chúng sống động hơn do sự nhịp nhàng của cảm thọ, suy tưởng, sự nhận biết, sự điều phối của hành động cùng với thân xác.
Mỗi cái trong 5 cái đó đều riêng rẽ, ta hãy so sánh chúng như 5 sợi dây xích bện chặt vào nhau, mỗi sợi dây xích lại do vô số mắt xích nối tiếp nhau.
Ảo tưởng liền phát sinh rằng chúng là một thực thể tự mình làm chủ, nhưng không, thực ra chúng là một tổ hợp, không có cái nào là chủ, không có cái nào có quyền điều khiển, tất cả đi theo sự điều phối của Luật nhân qủa : cái này sinh cái kia, cái kia sinh cái kia nữa, nối tiếp vô tận….
Đã thế, một cuộn xích đó lại đặt chung với vô số cuộn xích khác ( một chúng sinh luôn sống cùng với vô số chúng sinh khác) va chạm, ảnh hưởng cả xấu lẫn tốt với nhau.
Những mắt xích từ cuộn xích này do tự nguyện hay cưỡng chế chuyển sang cuộn xích kia.
Ví dụ như : ánh sáng mặt trời chiếu xuống đồng ruộng, cùng với nước mưa, nước sông, phân bón… khiến cho cây lúa trổ bông tạo ta thóc gạo. Như vậy, những gì trước đây đã từng là ánh mặt trời, là nước, là phân bón … chẳng phải nay đang tồn tại trong hạt thóc, hạt gạo đó sao ?
Tiếp nữa, một chú gà con ăn những hạt thóc gạo đó, hết ngày này qua tháng khác, cho đến khi lớn thành một chú gà trống to khỏe. Vậy chẳng phải những gì đã từng là hạt thóc, hạt gạo, nay vẫn tồn tại đó, chính là cơ thể của chú gà trống, chẳng qua với một thể trạng khác mà thôi.
Rồi, một người ăn thịt con gà ấy, thì chẳng phải thân xác con gà đã nhập vào thân xác của người đó sao ? Chẳng phải những gì đã từng là ánh mặt trời, là nước mưa, là thóc gạo, là con gà… nay đang là cơ thể của một con người sao ?
Rồi qua quá trình bài tiết, hay cuối cùng khi người đó chết đi, tất cả mọi thứ sẽ tan vào đất, vào nước… tiếp tục sự hoán đổi vô tận từ thứ này sang thứ khác.
Hay một vị thầy dạy đạo lí cho các đệ tử, tức là tri thức của thầy nhập vào tri thức của các đệ tử .v.v…
Hết thảy những sự hoán đổi đó lại cũng nhất nhất tuân theo Nghiệp duyên nhân quả. Cả một khối khổng lồ ,đồ sộ các mắt xích, các cuộn xích đó đều do NGHIỆP điều hành.
Vấn đề là, các dây xích lại không nhận biết được điều đó, chúng cứ cho rằng mình tự làm chủ, mình là một thực thể riêng rẽ ( có bản ngã), chúng khác với những dây xích xung quanh. Thế nên khi gặp các hoàn cảnh khác nhau mà NGHIỆP xếp sắp ra, hoặc thuận cảnh, hoặc nghịch cảnh chúng lại phát sinh ra đủ loại tâm như hỉ -nộ -ái- ố, yêu ghét, căm hận, báo thù, bám chấp….và tạo vô số nghiệp nhân – thế là lại đẻ ra vô biên vô số mắt xích nữa.
Đến đây thì cũng đã khá dài, tuy vấn đề còn nhiều, xong Quang Tử xin dừng ở đây, để bạn có thể dễ dàng ghi nhớ: Vô ngã nghĩa là như thế nào.
Hẹn gặp bạn trong những bài viết khác !
(Quang Tử)
Như Ngọc :
– Anh Quang Tử, em thấy mình chưa có một thời khóa tu tập thật hợp lý. Em cứ tùy duyên mà làm, cho nên nhiều lúc em bỏ ngang, nhiều lúc em đổ cho công việc, học tập nên cứ bị ngắt quãng mãi thôi.
Anh có thể cho lời khuyên về thời khóa cho người mới bắt đầu như em từ kinh nghiệm của anh được không ạ ? Cám ơn anh nhiều !
Quang Tử :
– Bạn thân mến, thường những người mới tìm hiểu Phật Pháp, do đọc kinh sách, nghe pháp, nghe người khác giới thiệu, thấy việc tu tập các pháp môn của Phật lợi ích vi diệu, công đức vô lượng… thì cũng có thể khởi lên ước muốn tu tập mạnh mẽ, rồi xắn tay hăm hở bước vào tu.
Xong thực tế, họ thường chỉ tu một thời gian là bỏ dở, không được lâu dài. Tuy có thể tạo công đức và duyên lành cho kiếp sau tu tiếp, xong hiện tại thì… đành phải dừng lại.
Vậy làm như thế nào để ngay trong hiện tại, có thể duy trì việc tu hành một cách bền bỉ, lâu dài ?
Một trong những bí quyết phổ biến nhất, là tạo dựng một “Thời khóa tu tập” và tận lực duy trì. Như thế nào là thời khóa tu tập ?
Thời khóa tu tập, hay gọi ngắn gọn là thời khóa, là một quy ước do mỗi người tự đặt ra cho chính mình, mỗi ngày phải duy trì dụng công tu tập theo pháp môn nào đó, với số lượng nhất định nào đó.
Việc lập ra thời khóa tu hàng ngày như vậy, sẽ giúp người tu chống lại được sự lười biếng trong tâm, hình thành thói quen tinh tấn.
Thực ra việc tu hành rất khó. Không phải vì việc tu hành theo Phật, ngay từ đầu đã đòi hỏi kĩ thuật quá cao siêu, không, ở bước đầu tu tập, Phật Pháp luôn có sẵn các pháp môn tương đối dễ dàng, như niệm Phật, lạy Phật, đọc kinh .v.v… việc nhập môn khá là dễ dàng, từ thanh niên, đến ông già bà lão, đến cả thiếu nhi cũng có thể ít nhiều tu tập.
Xong cái khó nằm ở việc duy trì trong thời gian dài. Việc tu theo Phật khá giống với người trồng cây, không phải bạn gieo một hạt giống xuống đất, lập tức hôm sau hạt giống sẽ sinh trưởng thần tốc, thành một cái cây xum xuê trái trĩu cành cho bạn đâu.
Không, trong tự nhiên dù là giống cây nào, đều phải chờ rất lâu cây mới ra trái ngọt, một vài năm, thậm chí vài chục năm mới có trái. Đó là quy luật. Vậy nên người thiếu kiên trì, muốn tung một mẻ lưới lập tức thu được những thành tựu trong Phật Pháp, thường nhanh chóng thất vọng.
Anh ta đã quên mất yếu tố thời gian. Các thành tựu mà Phật miêu tả người tu hành sẽ gặt hái được, là tuân theo luật Nhân quả.
Mà luật Nhân quả lại khá tương đồng với quy luật sinh trưởng của cây cối (khá tương đồng thôi chứ không phải giống hoàn toàn đâu) Thế nên quan sát cách mà người trồng cây thu được thành quả, ta cũng sẽ học được rất nhiều bài học trong việc xác lập thời khóa, giữ cho sự nghiệp tu hành trở nên bền bỉ, thành tựu viên mãn. Vậy người trồng cây, họ đã làm như thế nào ?
____________________
NGUYÊN TẮC THỨ NHẤT : ĐẶT RA THỜI KHÓA HỢP LÝ
Trồng trọt là một công việc vất vả , và cực nhọc. Không ai có thể trong một ngày trồng được cả một khu vườn rộng lớn, cả một cánh rừng được. Nên người trồng cây cần cù một cách hợp lý, chứ không điên cuồng. Họ luôn có một chiến lược phân bổ sức lực hợp lý cho cả một vụ mùa.
Đầu tiên là phải hiểu rõ sức lao động, sức chịu đựng của mình có thể đến đâu. Trên đời quả là có những lực sĩ làm việc trường kì không biết mệt, nhưng thực tế không phải ai cũng như thế. Lao động hùng hục không có chế độ giãn cách, nghỉ ngơi phù hợp, chỉ được một thời gian ngắn là gục hẳn vì lao lực, kiệt sức.
Người trồng cây có trí tuệ, luôn biết lượng sức mình, mà định ra chiến lược phù hợp với chính mình, chứ không mù quáng chạy đua theo các lực sĩ mà …nhập viện. Và họ có một số bí quyết như sau:
_________________
Bí quyết thứ nhất: “MUỐN ĐI XA, HÃY ĐI THONG THẢ TỪNG BƯỚC”
Khi có một đoạn đường dài 100m cho đến 500m, không có phương tiện gì ngoài đôi chân, nếu cần đến đích nhanh, người ta có thể vận hết sức lực mà chạy tới nơi cho nhanh, gọi là chạy nước rút.
Nhưng nếu đoạn đường dài 10 km – 50km, người khôn ngoan sẽ chuyển sang chạy marathon, nghĩa là chạy chậm mà bền, chứ chạy nước rút cho nhanh, thì giỏi lắm chỉ 1km thôi là gục ngã rồi nhập viện ngay, nghiêm trọng có thể đột quỵ mà chết, chẳng bao giờ tới đích cả.
Còn nếu đoạn đường là 100 km, hay 1000km… muốn chắc chắn đến được đích, chỉ có thể đi bộ, chứ chạy thì dù chạy chậm, cũng sớm kiệt sức mà gục. Chỉ có đi bộ, mệt thì nghỉ, mai lại đi tiếp, sức lực mới được tái tạo liên tục mà về đích được.
Trồng cây cũng vậy, sau khi xác định mùa vụ này tổng khối lượng công việc là bao nhiêu, người ta sẽ chia công việc ra thành nhiều phần nhỏ, tùy theo sức của mình, mà quy định mỗi ngày chỉ hoàn thành mức đó thôi, rồi đi nghỉ, mai làm tiếp. Cứ thế cần mẫn theo một lịch trình hợp lý đã vạch ra, chậm mà chắc.
Khi lập ra một thời khóa tu, cũng như vậy. Thà duy trì một thời khóa ngắn mà bền bỉ nhiều năm, còn hơn là tạo một thời khóa dài, mà chỉ vài ngày là bỏ.
Ví dụ, bạn biết hiện giờ mình tính còn ham vui, tính lười chưa bỏ được, thì chỉ nên đặt ra một thời khóa mỗi ngày tu 15 phút thôi.
Nếu bạn lại nghĩ : “Xem chừng 15 phút có vẻ ít, không hoành tráng lắm, chả thấm thía gì so với những vị thời khóa tu ngày 15 tiếng liền cả. Hay là đẩy lên 15h/ ngày cho triệt tiêu cái lười luôn có tốt hơn không ?”
Không !
Thực tế sẽ rất khác khi ngồi tính đấy, cái lười không mất đi đâu, mà nó lại càng ngày càng mạnh hơn. Sau 5 ngày, 10 ngày liền tu 15 tiếng, ban đầu là cảm thấy hơi mệt, sau sẽ là rất mệt, tiếp nữa là cực kì mệt, rồi tiếp sẽ chuyển thành sợ hãi, rồi kinh hãi, khiếp đảm. Cuối cùng là bạn sẽ ra lạy Phật một cách thành khẩn, để xin phép nghỉ luôn không bao giờ quay lại nữa.
Vậy nên, duy trì một chương trình dài hạn mỗi ngày 15 phút, không bỏ trong nhiều năm, còn hiệu quả hơn nhiều là một chương trình ngắn hạn trong 5 ngày liền, mỗi ngày cày liên tục suốt 15 tiếng, bạn phải hiểu rằng đây là một chiến thuật.
Đừng khinh thường con số 15 phút là ít ỏi, một năm có 365 ngày, nhân với 15 phút là tổng cộng 5475 phút, tức là hơn 90h, trong khi 5 ngày làm liên tục với 15 tiếng/ngày, thì mới chỉ có 75 h mà thôi.
Nếu duy trì tiếp nhiều năm sẽ còn nhân lên tiếp. Huống chi, con số 15 phút này chỉ là ví dụ ở một mức gần như thấp nhất, chứ đa số mọi người có thể duy trì thời khóa ngày 30 phút, hay 1 tiếng, 2 tiếng… trong nhiều năm, không quá khó khăn, thì tổng thời lượng còn tăng lên nhiều lần nữa.
Ngoài ra, việc duy trì một việc gì đó, một chương trình nào đó đều đặn trong thời gian dài, sẽ tác động lên tâm lý của con người sâu hơn, hiệu quả hơn là một việc gì đó chỉ xảy ra vài ngày. Đây là bí quyết “mưa dầm thấm lâu”, hiệu quả vượt trội so với các chương trình dồn dập mà ngắn hạn.
_________________
Bí quyết thứ hai: “NHÍCH TỪNG CHÚT MỘT”.
Khi chưa trồng cây bao giờ, tức là một “nông dân tập sự” không quen với cày cuốc, người khôn ngoan sẽ chỉ trồng một hai cái cây để làm quen công việc, cho da tay, cho gân cốt làm quen với sự nặng nhọc.
Qua hôm sau quen rồi, mới tăng lên trồng 3-4 cây, qua hôm sau nữa, thấy khả năng mình còn làm được nữa, thì tăng lên trồng 5-6 cây… cứ thế đến khi nào đặt đến giới hạn sức lực mình không thể kham nổi thêm được nữa, thì dừng lại.
Cũng như thế, khi ta lập ra thời khóa tu tập, tuần đầu tiên nên đặt ra một mức tương đối dễ, như mỗi ngày chỉ tu 15 phút thôi, để mình làm quen với nhịp điệu, tâm lý sẽ cảm thấy dễ tiếp nhận : “Ồ, thì ra tu hành không quá khó với mình, hoàn toàn trong tầm tay ta làm được.”
Qua tuần thứ hai, nếu thấy như vậy quá ít, sức mình có thể làm được nhiều hơn thế, vậy tăng lên 20 phút/ngày, đừng tăng quá nhiều, “đường xa mới biết ngựa hay”, không cần vội vã quá làm gì.
Tiếp đến tuần thứ 3, thứ 4, 5, 6, 7… cứ tăng dần từng chút một, chậm rãi mà chắc chắn, cho đến khi cảm thấy không tăng nối nữa, tùy người, mà có thể là 30 phút/ngày, hay 1 tiếng/ ngày, 2 tiếng/ngày, 3 tiếng/ngày… là hết cỡ, tăng thêm thì mình khó lòng xoay sở thời gian mà duy trì lâu dài nổi.
Việc nhích từng chút này, giúp tâm lý thích ứng dần, không bị sốc. Chứ nếu không hiểu điều này, ngay những buổi đầu, ta lập ra một thời khóa ngang với các cao tăng ẩn tu, ngày 108 biến chú Đại Bi, lạy Phật 1000 lạy, niệm Phật thêm 1080 câu, thì bạn yên tâm đi, chỉ 3 ngày thôi là vĩnh biệt, không bao giờ dám tu hành chi nữa. Vậy bạn hãy tính lại xem, cách nào được nhiều hơn ?
_________________
Bí quyết thứ ba : LINH HOẠT XEN KẼ
Trong một mảnh đất, người trồng cây để tăng hiệu suất tối đa, thường không chỉ trồng duy nhất một loại cây, mà linh hoạt kết hợp trồng xen kẽ nhiều loại, gọi là xen canh.
Cũng như vậy, khi bạn tu tập theo một thời khóa, không có cứng ngắc chỉ được tu cố định ngày nào cũng như vậy. Hôm nào cao hứng, bạn hoàn toàn có thể tăng số lượng lên, rồi tu thêm nhiều môn khác cho kinh nghiệm tu hành của mình có sự phong phú.
Ví dụ như thời khóa của bạn mỗi ngày là niệm Phật 1 tiếng đồng hồ, hôm nay rảnh rỗi, thì niệm Phật xong, bạn tụng thêm kinh Vô Lượng Thọ. Ngày mai cũng rảnh, lại có dư giả tài chính, vậy niệm Phật đủ thời khóa xong bạn có thể đi phóng sinh .v.v…
Các pháp môn, miễn đúng của Phật dạy, miễn là người tu có tư duy linh hoạt, thì đều có thể kết hợp, hỗ trợ qua lại cho nhau, bổ sung cho nhau, càng hiệu quả hơn mà thôi.
Thời khóa chỉ xem như mức tối thiểu, “mức sàn” phải hoàn thành mà thôi. Và thời khóa cũng không phải là cứng ngắc chỉ tu một số pháp môn nào đó, không thể thay đổi. Tùy theo thời kỳ, hoàn cảnh, tùy theo căn cơ của bạn mà nếu cần có thể thay đổi cho phù hợp.
Ví dụ như 3 tháng rồi bạn tụng kinh Địa Tạng, xong nay chuyển công tác, khó lòng mà sắp xếp thời gian, không gian mà ngồi cầm kinh đọc được. Vậy bạn có thể đổi thời khóa sang niệm Phật, niệm danh hiệu Bồ Tát, hoặc trì tụng một thần chú ngắn mà bạn đã thuộc lòng, thay thế cho việc ngồi cầm kinh đọc tụng.
Hoặc bạn đang có thời khóa là mỗi ngày tụng kinh Kim Cang 30 phút, xong nay bạn bị đau họng, hay sao đó không tụng đọc được. Bạn hoàn toàn có thể chuyển sang chép kinh Kim Cang 30 phút thay cho đọc. Miễn đủ 30 phút như mọi khi là hoàn thành thời khóa.
Cuộc sống của bạn, hoàn cảnh của bạn, hứng thú của bạn, chí hướng của bạn, năng lực của bạn… ngoài bạn ra thì chẳng ai biết rõ được. Các vị thầy, các thiện tri thức có thể dạy cho bạn phương pháp tu, xong không ai có thể thay bạn mà linh hoạt sắp xếp các vấn đề biến đổi không ngừng trong cuộc sống được.
Nếu bạn không tự mình an bài một thời khóa phù hợp với mình được, thì cũng chẳng ai làm được cả. Bạn không tự mình làm người giám sát, đốc công chính mình, cũng sẽ chẳng có ai làm thay cho bạn cả. Thế nên hãy linh hoạt và quyết đoán. Nắm phương pháp tu tập như thế nào rồi thì bạn phải “tự thắp đuốc mà đi”.
___________________
NGUYÊN TẮC THỨ HAI : KIÊN TRÌ
Người trồng cây với một mảnh đất có sẵn, ngay từ đầu đã xác định yếu tố thời gian, họ biết cần rất nhiều năm cây mới ra trái, thế nên họ rất kiên nhẫn, hiện tại dù phải trải qua nhiều năm chưa được thu hoạch gì hết, họ vẫn vui vẻ chờ đợi, không hề nôn nóng.
Cũng như vậy, tu hành theo Phật, bất luận pháp môn nào, không thể nôn nóng, đòi hỏi thành quả đến ngay sau một thời gian ngắn, vài hôm, vài tháng .v.v… đó là một đòi hỏi vô lý.
Trong kinh Đức Phật thường chỉ nói là tu được kết quả vi diệu, lớn lao như thế, xong Ngài không có ấn định thời gian cụ thể, Đức Phật đâu có nói là sau một đêm, mở mắt ra là kết quả đến ngay đâu ?
Thế nên, nguyên tắc đầu tiên khi xác lập thời khóa tu tập, là phải KIÊN TRÌ, dù chưa thấy kết quả gì cả, vẫn cứ phải duy trì đều đặn không bỏ.
Trong thực tế, nhất là với cư sĩ, Phật tử, cuộc sống luôn có rất nhiều sự việc, sự kiện phát sinh, khiến ta phân tâm, hoặc chán nản, bỏ dở việc duy trì thời khóa.
Nay thì có đồng nghiệp rủ đi liên hoan, mai thì có sếp giao cho một núi việc phải hoàn thành gấp, kia thì người yêu đòi đi xem phim, rồi ốm đau, rồi tết nhất, rồi hàng tỉ thứ việc phát sinh không ngừng, trẻ có cái bận của người trẻ, già có cái bận của người già, người đi học, người đi làm, ai ai cũng có trăm nghìn lý do, trăm nghìn mối lo xen vào bất chợt để bỏ dở thời khóa tu hàng ngày.
Rồi còn một thứ ít người tính đến, đó là tâm lý chán nản. Nó có thể phát sinh sau vài tháng, hoặc vài năm duy trì thời khóa tu tập, tùy nhân duyên từng người. Nếu không chuẩn bị tâm lý trước, người tu sẽ bị tâm của chính mình lừa gạt mà bỏ thời khóa. Lừa gạt như thế nào ?
Trong đầu người tu tự nhiên sẽ nảy ra các ý nghĩ: “Mệt quá, hay ta nghỉ vài hôm cho khỏe lại, rồi sau tiếp tục duy trì thời khóa”, hoặc “Vạn sự tùy duyên, nay có việc bận ta nghỉ, mai mốt rảnh rỗi thì tiếp tục” v.v…
Họ đâu có biết rằng các ý nghĩ đó chính do tâm lười biếng, giãi đãi trong bản ngã của mình vẽ ra, chiều theo các ý niệm đó, thì tức là sập bẫy.
Sau vài hôm nghỉ, cái lười tăng mạnh hơn, lại càng đẻ ra nhiều lí do hơn, rồi quên luôn chẳng thể nào tiếp tục duy trì thời khóa được nữa.
Vậy, sự kiên trì khi tu tập, phải là sự kiên trì dứt khoát, tu là tu, không mặc cả. Hôm nào dễ dàng đã đành, hôm nào khó khăn, do bận việc quan trọng thật sự, thì thức đêm mà tu tập, hoàn thành thời khóa rồi mới được ngủ.
Xem đá bóng, đánh bài, hay đi chơi giao thừa, chẳng có lợi ích gì, mà người ta cũng có thể thức đêm thức hôm mà làm, vậy việc duy trì thời khóa tu tập quan trọng như thế, thì nhất định phải làm được.
_________________
NGUYÊN TẮC THỨ BA : CHỌN PHÁP MÔN PHÙ HỢP
Người trồng cây, muốn thu hoạch được nhiều, ngoài siêng năng, kiên trì ra, còn một vấn đề rất quan trọng, đó là chọn cây phù hợp với mảnh đất của mình.
Trên đời có rất nhiều giống cây quý nổi tiếng, đem lại giá trị cực cao, xong không phải vì thế mà bạn có thể nhập về trồng hết trên đất của bạn được.
Bạn có thấy ở Tây Nguyên, người ta trồng cây cao su, cà phê thu hoạch tiền tỉ mỗi năm, mà xuống đến Ninh Thuận, Bình Thuận, chỉ cách vài trăm km, lại chẳng ai trồng cao su, cà phê, mà chỉ có thể trồng thanh long, hoặc bỏ đất hoang không canh tác không ? Vì sao lại như vậy ?
Vì nếu không hợp thổ nhưỡng, không hợp khí hậu, cây không sống được, hoặc sống được thì cũng chẳng ra hoa kết trái được, hoặc có ra trái, thì chất lượng cũng chẳng ra gì. Thế nên, chọn trồng cây gì thích hợp trên đất của mình rất quan trọng.
Cũng như vậy, nếu chọn pháp môn không hợp với mình, dù pháp môn có vi diệu, có thù thắng như thế nào, bạn cũng chẳng thể phát huy được sự vi diệu, thù thắng đó đâu.
Đã vậy, do không hợp, nên hứng thú không có, mức độ thành tâm nhạt nhòa, khả năng duy trì lâu dài là rất khó khăn. Mà một khi đã không thể duy trì, nghỉ tu rồi, thì cũng còn gì nữa đâu để mà bàn ?
Trong Đạo Phật, Đức Phật Thích Ca sau 45 năm thuyết pháp, đã giảng dạy rất nhiều pháp môn. Có những pháp môn rất cao siêu, và cũng có những pháp môn đơn giản dễ tu.
Ngày nay, sau hơn 2500 năm lưu truyền, thì có một số pháp môn phổ biến như niệm Phật, Thiền, tụng kinh, trì chú, nhiều người tu nên hình thành một tông phái chuyên ròng. Xong thực ra còn rất nhiều pháp môn khác nữa, bố thí tài vật, bố thí vô úy, bố thí Pháp, trì giới, quán tưởng, chép kinh, đúc tạc tượng Phật, v.v… và tổng số lên đến hàng ngàn pháp môn, mà thường trong kinh miêu tả, gọi là 8 vạn 4 ngàn pháp môn.
Một kiếp người bình thường chẳng ai tu thành tựu hết tất cả các pháp môn được, trừ khi đó là Đức Phật, là Đại Bồ Tát thị hiện. Quá nhiều như vậy, thì biết chọn môn nào để tu đây ?
Vì sao Đức Phật lại dạy ra nhiều pháp môn như vậy, mà Ngài không gom lại chỉ một pháp môn thôi cho dễ chọn ?
Đó là do mỗi người có một căn cơ khác nhau.
Hiểu đơn giản, thì cùng một pháp môn, nếu nhiều kiếp trước ta đã từng tu qua, tích lũy nhiều kinh nghiệm và công đức, nhân duyên trong pháp môn này rồi. Thì đến hiện tại kiếp này, nếu tu lại đúng pháp môn đó, ta sẽ cảm thấy hứng thú mạnh, dễ duy trì được lâu dài, dễ đạt được những linh ứng, những thành tựu, đó gọi là căn cơ.
Việc chọn đúng pháp môn phù hợp căn cơ của mình cực kì quan trọng, cũng giống như lựa đúng giống cây thích hợp với thổ nhưỡng, khí hậu trên mảnh đất của mình. Xong thường ít người hiểu được điều này.
Thời Đức Phật, Ngài luôn luôn dạy Đạo dựa trên căn cơ của từng người. Với mỗi một người đến yết kiến Đức Phật xin học Đạo. Đầu tiên là Ngài âm thầm quán sát vô lượng kiếp của người đó xem căn cơ như thế nào, tiếp đó sẽ chọn pháp môn phù hợp nhất để truyền dạy, mỗi người sẽ khác nhau.
Ví dụ như Ngài Chu-la-pan-ta-ka ( Châu Lợi Bàn Đặc), sư huynh dạy mãi mà Ngài không thuộc nổi một bài kệ 4 câu, xong Đức Phật biết căn cơ của ngài hợp với quán vô thường, đưa cho ngài một chiếc khăn lau. Ngài đem đi lau đồ vật rồi quán sát sự biến đổi của chiếc khăn từ sạch thành bẩn, nghiệm ra sự vô thường, ngay đó chứng quả vị A La Hán.
Nhưng với bà Vi Đề Hy và vua Tần Bà Sa La, thì Đức Phật biết họ có duyên với Phật A Di Đà, nên Đức Phật dạy pháp môn quán Vô Lượng Thọ để họ được vãng sinh Cực Lạc.
Cách Phật đã xa, thiệt thòi cho chúng sinh là không còn Đức Phật để đến thưa hỏi, xin Người chỉ dạy pháp môn thích hợp. Thời nay các vị thầy thường tu môn nào sẽ quảng bá cho pháp môn của mình, nếu có ai tới hỏi học Đạo, sẽ ca ngợi rồi dạy cho họ pháp môn đó, chứ ít vị thầy nào xem xét để tìm ra pháp môn phù hợp với căn cơ của người tới học Đạo.
Một là vì tâm lý “bảo thủ tông môn”, hai là vì việc này quả là rất khó, cần phải có Pháp nhãn của Đại Bồ Tát trở lên mới nhìn ra chính xác căn cơ của từng người, xem nên tu môn nào thì hợp. Chỉ có một số rất ít các vị minh sư, tùy căn cơ của đệ tử mà dạy các pháp môn khác nhau cho phù hợp, như HT Hư Vân, HT Tuyên Hóa, HT Thích Thiền Tâm… xong các vị minh sư như thế luôn rất hiếm, khó gặp được.
Vậy nếu không gặp được minh sư quán sát căn cơ cho, thì việc này là bất khả thi sao ?
Rất may là không, luật nhân quả luôn có cách để một người tìm được đúng pháp môn mình có duyên tu từ nhiều kiếp, miễn là người đó không quá cố chấp, chịu khó tìm kiếm. Có duyên tự khắc sẽ có thể tìm được.
Bí quyết của Quang Tử ( đây chỉ là bí quyết cá nhân thôi nhé) như sau: trong thời kỳ đầu học Đạo chọn pháp môn, bạn hãy thử tu qua nhiều pháp môn khác nhau, mỗi pháp môn tu thử một tháng, hoặc vài tháng.
Nếu gặp pháp môn không hợp với căn cơ của mình, bạn sẽ thấy không có hứng thú, rất khó để duy trì, bất kể bạn nghe giảng giải lợi ích nhiều như thế nào, bạn cũng không theo môn đó được.
Còn nếu gặp được pháp môn phù hợp căn cơ, kiếp trước bạn đã tu qua nhiều rồi, thì bạn sẽ thấy có hứng thú, tâm mình khởi lên đam mê, ham thích rất mạnh, hoặc có cảm giác quen thuộc, hoặc có thể học nhanh hơn người khác, hoặc dễ đạt được những linh ứng vi diệu.
Nếu bạn nhận ra các đặc điểm này khi tu một pháp môn nào đó, vậy khả năng cao đó chính là pháp môn hợp với căn cơ của bạn. Hãy tập trung đầu tư thời gian, tâm huyết và công sức của bạn vào pháp môn đó.
Ví dụ như môn niệm Phật 6 chữ “Nam Mô A Di Đà Phật”, dù rằng các tông sư của Tịnh Độ luôn ca ngợi là pháp môn phù hợp mọi căn cơ, là nhất trong thời Mạt Pháp này.
Xong thực tế có rất nhiều người, họ cũng được học và nghe giảng về sự vĩ đại của Phật A Di Đà cũng như cõi Cực Lạc nhiều, và cố gắng ép mình niệm Phật một thời gian.
Xong trong tâm rất gượng ép, không có chút hứng thú, tình cảm nào, không sao mà niệm một cách thành tâm được. Họ cảm thấy rất khó để duy trì niệm Phật lâu dài được. Vì sao ? Vì trong nhiều kiếp trước họ không có duyên với Phật A Di Đà.
Đến khi hướng dẫn họ chuyển sang thời khóa niệm “Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát” thì tình hình khác hẳn. Họ niệm thiết tha với niềm tôn kính dạt dào, có thể niệm cả ngày không biết chán, không biết mệt, không cần ai phải đôn đốc, thúc giục thời khóa cả.
Đó là vì xưa ở kiếp nào đó, họ từng được Quán Thế Âm Bồ Tát cứu độ, ví dụ như gặp nạn hỏa hoạn, niệm danh Quán Thế Âm được thoát nạn chẳng hạn, việc đó sẽ hình thành một nhân duyên sâu dày với Quán Thế Âm Bồ Tát.
Căn cơ của họ gắn liền với Quán Thế Âm Bồ Tát, thì dù các pháp môn khác có siêu việt hơn như thế nào chăng nữa, họ cũng chỉ nên tu các pháp môn liên quan đến Quán Thế Âm Bồ Tát, như vậy họ mới có thể khởi được lòng thành, như vậy mới duy trì được lâu dài, và như vậy mới đạt được kết quả vượt trội được.
Pháp môn tốt nhất không hẳn là một pháp môn cao siêu, thù thắng nhất định nào cả, mà chính là pháp môn thích hợp nhất với bạn.
Trên đây chỉ là một ví dụ thôi, trong thực tế thì muôn hình vạn trạng. Có người căn cơ hợp với một pháp môn, có người lại hợp với hàng loạt pháp môn. Có người 10 năm đầu hợp với Thiền, 10 năm sau lại hợp với Tịnh Độ .v.v… Không tinh ý quan sát, và thử nghiệm, không thể biết được.
Một vị thầy, một thiện tri thức có trí tuệ, phải hiểu được khái niệm “căn cơ” này, tùy cơ mà hướng dẫn cho từng người chọn pháp môn phù hợp. Còn với người đi tìm Đạo, cũng phải hiểu điều này để tìm kiếm và lựa chọn pháp môn phù hợp căn cơ của mình.
Trên đây Quang Tử đã chia sẻ những kinh nghiệm của bản thân trong việc xác lập thời khóa tu tập:
Nguyên tắc thứ nhất : ĐẶT RA THỜI KHÓA HỢP LÝ
+Bí quyết 1: “Muốn đi xa, hãy đi thong thả từng bước”
+Bí quyết 2: “Nhích từng chút một”.
+Bí quyết 3: “Linh hoạt xen kẽ”
Nguyên tắc thứ hai : KIÊN TRÌ
Nguyên tắc thứ ba : CHỌN PHÁP MÔN PHÙ HỢP
Những chia sẻ này có thể còn nhiều thiếu sót, vì trình độ còn non yếu. Xong cũng xin mạnh dạn chia sẻ, hy vọng ít nhiều sẽ có ích cho những người mới bắt đầu tu tập như bạn. Chúc bạn luôn tinh tấn duy trì thời khóa, đạt được nhiều thành tựu vi diệu, sớm viên thành Phật đạo, quảng độ chúng sinh.
( Quang Tử)
Có bao giờ bạn thắc mắc về cõi âm? Khi chúng ta chết sẽ như thế nào, đi về đâu ? Không biết liệu các vong linh bên kia thế giới có xài tiền giấy, đi xe hơi vàng mã, có ăn uống như chúng ta?
Với tôi thì từ hồi mới lớn, bắt đầu biết suy nghĩ, tôi đã luôn thắc mắc điều đó. Tôi vốn rất sợ ma, xếp vào dạng nhát cáy có hạng, nhưng kì lạ lắm, càng sợ thì lại càng tò mò muốn khám phá.
Khi tìm hiểu thì mỗi người nói một kiểu, người thì bảo không có ma, chết là hết. Người thì tả ma như một dạng “ngáo ộp” hết sức đáng sợ, gặp thì lo mà chạy, nhà có ma thì phải lo kiếm thầy trừ tà, chứ không thì…kinh lắm. Các thông tin rất mâu thuẫn nhau và rối ren, vô trật tự khiến tôi thấy rối cả não, xem chừng thắc mắc này giống như không hồi kết vậy.
Rốt cuộc, sau vài năm tìm hiểu, phải đến khi tôi có duyên được học hỏi & thực hành Phật Pháp, cuối cùng tôi mới có được câu trả lời chân chính.
Tôi tên Mai, sống tại Vũng Tàu, xong mọi người biết đến tôi nhiều hơn với tên Diệu Ngọc, là pháp danh và cũng là tên nick facebook. Tôi là một thành viên của đạo tràng do anh Quang Tử thành lập, đúng ra tôi phải gọi anh ấy là sư phụ, vì tôi học Phật Pháp từ anh, xong anh ấy không câu nệ danh xưng, bảo bọn tôi cứ gọi như bình thường cho thoải mái.
Gọi “anh” thôi thì lại thấy … thường quá. Thế nên tôi và đám huynh đệ đồng môn, sau khi thảo luận chán chê, quyết định đổi từ “sư phụ” thành “đại ca” – nghe rất “bụi đời” và chả có gì liên quan đến Đạo cả, xong “đại ca” cũng không ý kiến gì, miễn bọn chúng tôi thích là được. Thế là bọn tôi “chốt đơn”, gọi anh Quang Tử là đại ca, cho nó gần gũi, Phật Pháp vốn trọng thực chất, chứ không trọng danh xưng mà lại.
Tham gia các chương trình của đại ca một thời gian, nào là công quả quét dọn chùa tháp, cúng dường Tam Bảo, nào là học giáo lý, nào là ấn tống tặng kinh sách, rồi đến phóng sinh, hiến máu, rồi chép kinh, vẽ hình Phật … rất nhiều hoạt động, tôi cũng đã thấy rất hào hứng. Bỗng đến một ngày, đại ca đăng lên một kế hoạch mới : vào nghĩa trang cầu siêu.
Wow, vào tận nghĩa trang, người khác thì có thể bình thường, chứ với cái loại sợ ma chúa như tôi thì…tình hình hơi căng. Ây nhưng mà cũng thấy rất hấp dẫn, biết đâu lại gặp được “ma” thật thì sao, thỏa cơn tò mò bấy lâu, đằng nào cũng đông người, đại ca cũng ở đó, sợ gì. Thế nên tôi rất nhiệt tình đăng kí tham gia, rồi xắn tay áo chuẩn bị đồ cúng chu đáo.
Cầu siêu một lần, hai lần, rồi nhiều lần, nhiều năm chẳng nhớ được số lượng, gồm cả cầu siêu cho khắp hương- vong linh mười phương, cũng như cầu siêu oan gia trái chủ, cầu siêu thai nhi, ma chẳng gặp con nào, nhưng thế giới quan của tôi cũng theo đó thay đổi dần.
Đại ca cho bọn tôi đọc các bài viết, xem nhiều các video về thế giới tâm linh đã được chọn lọc, và cũng giải thích nhiều, nên bọn tôi ngày càng hiểu rõ hơn, định hình lại cách nghĩ về thế giới vong linh, ma quỷ. Và từ đó tôi không còn gọi họ là ma nữa.
Thực ra người đời và các tay chuyên kể chuyện ma cứ làm quá lên, cố diễn tả sao cho thật rùng rợn, kinh khủng dọa người ta, khiến cho từ “ma quỷ” trong tâm trí mọi người, thành ra một thứ gì đó rất rùng rợn, đáng sợ, chứ vốn họ – tôi đổi cách gọi là các ‘vong linh’, hay ‘hương linh’ nghe cho thêm phần tôn trọng, họ cũng từng là những con người như chúng ta, chết đi rồi, hết làm người rồi thì hóa sinh thành ma, thành quỷ, thành vong linh thôi.
Tâm lý, tình cảm, kí ức của họ cũng khá giống với khi còn sống. Họ thường lại rất đáng thương, chịu nhiều nỗi khổ vất vưởng, đói khát trong cõi vô hình, mãi không thoát ra được.
Trong lục đạo luân hồi thì họ thuộc cảnh giới ngạ quỷ (ma đói), những vong linh nào nghiệp nặng, sẽ có hình dáng kinh dị, cổ nhỏ bụng to, thức ăn đến miệng là biến thành lửa, hình phạt hiện ra tra tấn liên hồi như trong kinh Phật thường miêu tả. Những vong linh nghiệp nhẹ, thì hình dạng cũng bình thường như khi còn sống, không quá thê thảm như loại vừa kể trên. Nếu được người sống cúng thí thực cho, thì họ ăn được.
Có vong linh lực yếu, chẳng tác động được đến thế giới con người. Xong cũng có nhiều loại vong linh thần lực mạnh, hiện hình được, tác động đến con người được. Có vong linh sống đơn độc một mình, gọi là “cô hồn”. Lại có những vong linh quy tụ theo đoàn, dân gian hay gọi là “các đảng”. Có vong linh của con người, và cũng có vong linh của các loài súc sinh chim thú, cua cá .v.v…
Có vong linh sống tại một khu vực chuyên biệt trong Âm phủ, tháng 7 âm mới được cho lên dương gian một lần. Cũng có những vong linh du đãng, lẩn khuất ở dương gian mãi. Hình dạng, phước nghiệp, sướng khổ tuy thiên biến vạn hóa rất nhiều, xong vẫn xếp chung vào cảnh giới ngạ quỷ.
Con người chúng ta được ăn 3 bữa mỗi ngày, còn các vong linh cô hồn dã quỷ ngoài kia thường thì họ không nhà cửa, chết nhiều năm rồi, thân quyến của họ dần cũng đã quên lãng, hoặc cũng đã qua đời cả rồi, không ai cúng cho ăn, cái đói cồn cào dai dẳng trải năm này qua tháng khác.
Ai may thì có một chỗ trú thân, xui thì vất vưởng lạnh lẽo, lang thang chẳng biết đi đâu về đâu, chưa kể các hình phạt tra tấn, đánh đập vì nghiệp tạo ra lúc còn sống. Thời gian thì khá lâu, vài năm, vài chục năm là bình thường, thậm chí có nhiều vong phải trải qua hàng trăm năm, ngàn năm, triệu năm trong kiếp ngạ quỷ.
Họ chẳng biết bấu víu vào đâu cả. Nghiệp lực và tâm bám chấp chi phối, họ không thể tự thoát khỏi cảnh khổ đó, chỉ có thể mong ngóng hàng cốt nhục thân quyến, hay ai đó từ bi vì họ mà tu tạo phước lành hồi hướng công đức, cứu thoát cho họ. Nhưng cốt nhục thân quyến, có mấy ai hiểu được điều này đâu. Còn những đại lễ cầu siêu, không phải lúc nào cũng có, và không phải vong linh nào cũng đủ cơ duyên mà tham dự được.
Niềm khát khao của các vong linh trong thế giới Ngạ quỷ, không chỉ dừng lại ở việc được người sống cúng kiếng cho ăn, hay đốt vàng mã, vì ăn no được một bữa, thì vài hôm họ cũng sẽ đói trở lại. Có nhận được ít giấy tiền vàng mã, thì họ vẫn cứ chỉ là Ngạ quỷ, không hơn không kém, không giải quyết được những nỗi khổ của họ.
Mà cái cần nhất đối với các vong hồn đã khuất, là được thoát khỏi cảnh Ngạ quỷ khổ dài hạn ấy, tức là được siêu thoát. Vậy như thế nào gọi là siêu thoát ?
Nói dễ hiểu, siêu thoát là chỉ việc một vong hồn được thoát khỏi nỗi khổ của kiếp ngạ quỷ. Thấp nhất, thì vẫn là thuộc cảnh giới Ngạ quỷ, xong phước tăng thêm, thân tâm nhẹ nhõm, tự tại hơn, an lạc hơn, cuộc sống no đủ hơn, có chỗ trú ngụ, được cúng cơm thường xuyên, giảm bớt nhiều nỗi khổ sở.
Cao hơn, là được tái sinh lên một cảnh giới tốt hơn, như được đầu thai thành một kiếp người mới, cao hơn nữa thì được sinh lên các tầng trời. Đỉnh cao nhất của siêu thoát, là được sinh lên cõi Tây Phương Cực Lạc, không còn luân hồi lên xuống ở Trái Đất này nữa, mà sống thiên thu trường cửu tại một thế giới an lành, tuyệt mỹ của Phật A Di Đà, yên ổn ở đó tu dần dần cho đến khi thành Phật.
Nếu gặp cơ duyên được siêu độ, tức là được ai đó khai thị để buông bỏ bám chấp, lại được người ấy hồi hướng công đức như tụng kinh, trì chú, niệm Phật cho, các vong linh có thể được siêu thoát lên một cảnh giới tốt lành hơn như kể trên, đó chính là ý nghĩa của các Nghi thức siêu độ.
Càng tham gia nhiều buổi cầu siêu, tôi lại càng thấy việc thiện nguyện này ý nghĩa lớn lao vô cùng, nên lại càng nhiệt tình, và rủ thêm nhiều người khác cùng tham gia.
Trên lý thuyết đọc từ kinh Phật, xem các buổi nói chuyện của các nhà ngoại cảm Phan Bích Hằng, Nguyễn Văn Nhã, thiền sư An Lạc Hạnh… tuy biết là khi cầu siêu, các vong linh sẽ được hưởng lợi ích rất lớn, xong thực ra chúng tôi không có ai khai mở mắt âm dương cả, nên cũng không biết trong vô hình diễn biến như thế nào.
Mỗi buổi cầu siêu đại ca và bọn tôi tổ chức, các vong linh sẽ ăn uống các đồ cúng ra sao ? Được khai thị liệu họ có buông bỏ các bám chấp không? Rồi được hồi hướng công đức trì chú, niệm Phật rồi sẽ như thế nào ? Ây rất nhiều câu hỏi mà tôi, cũng như cả nhóm đều rất tò mò muốn biết.
Nên một thời gian, tôi vẫn hi vọng mời được nhà ngoại cảm nào đó, khai mở được thiên nhãn tham gia buổi Cầu siêu cùng chúng tôi, để làm một cầu nối giao tiếp giữa chúng tôi với các vong linh, để biết được, cụ thể thì tâm nguyện của họ thế nào, và quan trọng là muốn biết uy lực của ‘Nghi thức cầu siêu’ nhóm chúng tôi vẫn dùng có thể khiến các vong linh siêu thoát nhiều đến đâu.
Nói thêm về Nghi thức cầu siêu của nhóm chúng tôi. Ban đầu thì đại ca cũng dùng Nghi thức Mông Sơn Thí Thực do thiền sư Bất Động thời Đường biên soạn. Xong sau một thời gian dài nghiên cứu, sưu khảo, biên soạn như thế nào đó, mà nhóm chúng tôi có một cuốn Nghi thức cầu siêu riêng, thường kéo dài khoảng 45 phút, không dài không ngắn.
Nghi thức bắt đầu với phần lễ kính Phật – Bồ Tát, các thần chú khai kinh kệ, thỉnh mời vong linh. Tiếp theo là cúng thí thức ăn, đồ uống, nương nhờ oai lực của chú Như Ý Bảo Luân Vương, chú Cam Lồ Thủy, và chú Biến Thực mà Đức Phật dạy trong kinh Diệm Khẩu, biến ra thật nhiều thức ăn trong vô hình, cho vong linh trước mắt không còn đói khát dày vò.
Tôi hiểu nôm na mục đích của việc này là “có thực mới vực được đạo”, vong linh no bụng rồi, không bị nỗi đói khát dày vò, tâm mới an ổn mà nghe tụng niệm siêu độ được.
Tiếp theo sẽ là phần Khai thị, nói dễ hiểu thì tức là giải thích cho các vong linh hiểu thông vấn đề, để giúp họ buông bỏ được các chấp niệm. Chấp niệm không chịu buông, thì dù họ có đủ phước sinh lên cõi tốt lành hơn, họ cũng không chịu đi.
Vậy nên tùy từng đối tượng mà phần khai thị sẽ thay đổi, với vong linh nói chung, hoặc các vong duyên âm, thì cần giải thích cho họ hiểu, đời là khổ, là vô thường, mọi thứ sẽ tan biến hết, ôm giữ ái luyến với mọi thứ trên dương gian, chỉ như sợi dây xích, cột chặt họ trong đau khổ, hiểu được điều đó, giúp họ không còn tham đắm nhân gian.
Với các vong hồn oan gia trái chủ, hay các thai nhi bị phá bỏ, thì chính người cần giải oan gia, phải thành tâm ăn năn, sám hối vì những lỗi lầm đã gây ra cho các oan gia trái chủ, cho thai nhi, có vậy họ mới buông được mối hận thù xuống, rồi tính tiếp.
Phần tiếp theo là trì chú Đại Bi nhiều lần (thường là 7 biến), hoặc tụng thêm các kinh chú khác cũng được, không cần cứng ngắc là chú Đại Bi, đem công đức đó hồi hướng cho vong linh tiêu trừ nghiệp chướng, tăng phước báo, vì phước không có, khó lòng sinh lên những cảnh giới tốt hơn được.
Cuối cùng là phần khai thị giúp các vong linh hiểu về thế giới Tây Phương Cực Lạc, khởi lên nguyện ước được sinh về đó. Rồi tất cả đồng thanh niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, ít thì 15 phút, nhiều thì cả tiếng, tùy tâm, lại hồi hướng công đức niệm Phật ấy cho các vong linh được siêu sinh Cực Lạc.
Phối hợp những yếu tố trên lại, cộng thêm sự thành tâm, và đạo lực của cả một đạo tràng, một buổi Cầu siêu chưa đầy một tiếng, chúng tôi dù không nhìn thấy, nhưng vẫn luôn tin rằng việc làm này sẽ ảnh hưởng cực mạnh đến đông đảo vong linh trong vô hình.
*Tôi sẽ để link drive của cuốn “Tổng hợp Nghi thức cầu siêu” ngay dòng dưới, nếu bạn quan tâm có thể bấm vào, tải xuống, đem in ra tham khảo. Trong đó có hướng dẫn chi tiết, hãy đọc kĩ là có thể áp dụng.
Link tải về:
https://drive.google.com/file/d/1qGeZX1Jvzu3xJ2WblosnoOjFA0R17A23/view?usp=sharing
____________________
Bất luận như thế nào, khi chúng ta đơn thuần vì tình thương không vụ lợi, vì nghe theo lời Phật dạy, vì lợi ích cho các vong linh mà bày ra một mâm cúng, với thành ý giúp họ được no ấm, được siêu thoát, thì dù ngắn, dù dài, dù hay, dù dở, các vong linh đều sẽ luôn cảm thấy được ấm lòng, và trân trọng biết ơn, vì họ có tha tâm thông, hiểu hết tấm lòng của người cúng cầu siêu cho họ.
Và hơn nữa, là sẽ luôn có chư Phật, chư Bồ Tát gia hộ cho chúng tôi, hoàn thành viên mãn việc Phật sự hết sức ý nghĩa này, dù không tận mắt thấy, chúng tôi vẫn luôn tin như vậy.
Bởi vậy, anh em chúng tôi vẫn trêu vui với nhau, sứ mệnh ‘cầu siêu’ này nói khó thì không phải quá khó, dễ cũng không phải dễ. Với Nghi thức đã có sẵn, chỉ cần tâm chân thành không vụ lợi, cùng sự siêng năng, chịu khó, không ngại mưa gió, đêm hôm nghĩa trang rùng rợn, (với đôi khi có chút khó khăn, là thỉnh thoảng có vài ông dân phòng tưởng mình làm chuyện mờ ám rồi ra đuổi như đuổi vịt) thì đảm bảo Phật sự viên mãn.
Cứu được một chúng sinh thoát khổ, là người hay là vong linh đều là cứu, độ cho được một chúng sinh vãng sinh Cực Lạc, là người hay là vong linh đều là độ, công đức vô lượng.
Mà thực ra chúng tôi cũng không mấy ai để ý chuyện công đức ít nhiều, vì đơn giản, với chúng tôi đó là sứ mệnh. Miễn đúng như lời Phật dạy, miễn đem lại lợi ích cho chúng sinh, là chúng tôi sẵn sàng làm, chẳng từ nan.
CẦU SIÊU TẠI BÃI SAU – VŨNG TÀU
Cầu siêu nhiều, thỉnh thoảng anh em chúng tôi cũng có gặp một số cảm ứng trong mơ. Như cầu siêu thai nhi, thì đêm nằm mơ thấy thai nhi vui vẻ tha thứ, rồi rời đi. Hiếu, sư muội của tôi, pháp danh là Diệu Thiện Tuệ, có lẽ mơ thấy nhiều nhất, có đêm mơ thấy trong buổi cầu siêu, hiện ra một vong linh người bốc ra lửa cháy rực, sau khi đại chúng tụng niệm cho thì lửa tắt, hoan hỉ rời đi.
Cũng có khi nằm mơ thấy vong linh dắt đi đến một chỗ lạ, chỉ rõ các đặc điểm tại nơi ấy, núi như thế, biển như thế để chúng tôi đến cầu siêu. Khi tỉnh dậy, anh em thử đi tìm theo chỉ dẫn trong mơ, quả nhiên tìm ra chỗ đúng như vậy tồn tại ngoài đời thật, thường là những khu vực nhiều người chết tai nạn.
Xong dù sao cũng là mơ, có nhà ngoại cảm nào tham gia cùng thì vẫn tốt hơn nhiều. Nhiều lần anh em tôi cũng có rủ rê những người có chút ít năng lực mắt âm dương về tham gia các lễ cầu siêu, nhưng đều không đủ duyên, khi thì việc này, khi việc nọ, tất cả đều lỡ hẹn. Riết tôi cứ đinh ninh rằng cái điều mong ngóng này sẽ chẳng bao giờ thực hiện được.
Xong tôi đã nhầm, vào một ngày đẹp trời, với sự xuất hiện của một nhân vật đặc biệt, chị Diệu Lan (pháp danh), tôi đã được toại nguyện.
Nếu ai đã đọc qua sách “Bệnh viện trả về, Phật Pháp cứu sống”, thì có thể biết rõ hơn chị Diệu Lan cùng câu chuyện ly kì của chị ấy siêu độ cho đàn heo oan gia.
Tôi chỉ tóm lược lại một chút để mọi người tiện theo dõi, chị ấy là một Phật tử thuần thành tại Tp. HCM, trải qua quá trình trì tụng Kinh Địa Tạng, và thiền định lâu dài trong nhiều năm (nếu không muốn nói là nhiều kiếp tu hành). Vào một ngày đẹp trời duyên phước hội tụ đủ, chị khai mở được thiên nhãn thông, và túc mạng thông, nhìn thấy thế giới cõi âm, và còn thấy cả tiền kiếp của mọi người.
Có thể nói so với những người mà chúng tôi có ý thỉnh mời trước kia, thì chị ấy là xếp vào hạng “thượng thừa” hơn nhiều lần, vì có cả túc mạng thông thấy được nhân quả và tiền kiếp nữa. Ây da, quả là làm việc cho Phật thì luôn được chư Phật gia hộ, muốn là được mà.
Được Phật gia hộ, tôi không bao giờ nghi ngờ về việc này, vì chúng tôi trải qua nhiều lần rồi, kế hoạch cứ cần gì là có cái đó, thiếu gì tự nhiên ở đâu cũng sẽ có người mang đến, may mắn đến kì lạ mà không một ai có thể mường tượng ra được. Nên tôi luôn cảm thấy như ánh hào quang của chư Phật luôn lan tỏa trên đầu chúng tôi. mà mạnh dạn lăn xả, chẳng do dự, e ngại.
Buổi gặp mặt chị Diệu Lan cũng thật thú vị. Hôm ấy ngày 24/3/2018, vào thứ 7 rảnh rỗi nên nhóm tôi tổ chức bữa tiệc chay nho nhỏ để anh em tụ họp “hội nghị bàn tròn”, nói cho oai thôi chứ cũng chỉ tám dóc là chính. Rồi sau đó anh em sẽ ra một khu vực nổi tiếng nhiều ma ở Vũng Tàu, nằm ở khu Ô Quắn, Bãi Sau để cầu siêu.
Sau khi mọi người tập trung đầy đủ, thì đại ca hướng tay vào một chị gái mới xuất hiện lần đầu, giới thiệu rằng đây là chị Diệu Lan, nhân vật trong sách mà ai cũng biết. Tôi lập tức quay sang chị nhìn chăm chú, ấn tượng tôi còn nhớ khi ấy, đó là một sự huyền bí toát ra từ đôi mắt chị, nó thu hút người đối diện, một cảm giác thật sự là khó tả.
Màn chào hỏi lập tức trở nên rôm rả, vì bọn tôi nghe qua câu chuyện ly kì của chị, cũng hóng gặp chị từ lâu. Ai ai cũng vừa bất ngờ, vừa hoan hỷ.
Tôi nghe đại ca kể, chị Diệu Lan không thích cúng bái, cầu siêu, chị tự nhận đạo lực yếu, không chịu nổi âm khí ở nghĩa trang, rủ nhiều lần rồi không chịu tham gia. Nhưng nay có lẽ do duyên cớ gì đó, khiến chị đã mở lòng hơn, dù sao ước nguyện cũng đã thành, nhóm đã có một nhà ngoại cảm đi cùng. Wow, thật là đã quá đi.
Đi cùng chị Diệu Lan là một chị nữa trẻ hơn tên Hương. Chị Hương có mái tóc xoăn cắt ngắn ngang vai, chị đeo mắt kính, gương mặt lộ rõ vẻ trí thức. Theo tôi được biết chị cũng là một Thạc sĩ, không biết rõ làm nghề gì nhưng nói chung là dạng tri thức, không biết có năng lực tâm linh gì không.
Và duyên lành khéo xếp, hôm nay Hiếu cũng rủ thêm được một nhân vật thường xuyên thấy ma. Cô gái này tên Tân, là đồng nghiệp của Hiếu, xinh xắn, tóc dài ngang hông lúc nào cũng được tết lại gọn gàng.
Tân bẩm sinh cơ địa như thế nào đó, cũng có khả năng nhìn thấy vong linh, xong năng lực không được mạnh và ổn định lắm. Nói ra thì mọi người chả ai tin, lại cho Tân là dạng dị thường, nên Tân thường tự ti, giấu kín chuyện này ít nói cho ai. Chỉ khi biết Hiếu là Phật tử, hay đi cầu siêu thì mới thổ lộ, và được Hiếu rủ rê “rước” vào đội này.
Chúng tôi ăn qua loa rồi đúng 19h30, nhóm tôi bắt đầu xuất phát, đồ cúng đã chuẩn bị sẵn sàng đẩy đủ, thẳng tiến ra khu vực Bãi Sau.
Nhóm tôi chia thành từng xe chở nhau đi. Anh Quang Tử chở chị Diệu Lan, tôi đi với Tân, còn lại mọi người sắp xếp sao đó tôi không chú ý.
Chúng tôi hướng đến khu vực Ô Quắn, nơi đường Thùy Vân tiếp giáp với núi Tao Phùng, một trong những địa điểm nhiều ma nhất tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Khi xưa vị trí này có một con tàu tên Ô Quắn bị mắc cạn, xác tàu nằm yên trên bãi đá ngầm gần bờ suốt mấy chục năm, trở thành một cái cầu nhảy lí tưởng cho mấy thanh niên tắm biển.
Xong nơi đây lại có một vùng nước xoáy do các dòng nước ngầm tạo ra rất nguy hiểm. Nên bãi tắm ở đây thường xuyên có nhiều người chết đuối, thậm chí chết đuối ở những khu vực khác, xác cũng sẽ bị nước cuốn về đây. Vì vậy, khu vực này trở nên nổi tiếng nhiều ma, cũng là điều dễ hiểu.
Một đêm đại ca nằm mơ thấy đi ra khu vực này tìm chỗ lập đàn cầu siêu, thấy có con đường mòn như thế, có đài Quan Âm, có nhà linh (nhà cho vong linh ở), và trong mơ “chốt” điểm này. Vài hôm sau đại ca tò mò, ra thử xem sao, vì cũng ít khi lui tới khu vực này, không biết mơ với thực như thế nào.
Quả nhiên, đại ca tìm được đúng con đường mòn như trong mộng. Ở đây, mọi quán xá, nhà hàng người ta mở lên đều bị quấy phá sao đó, các chủ quán chịu không nổi nên bỏ của chạy lấy người. Hàng loạt nhà cửa, quầy kệ còn nguyên nhưng tuyệt không thấy bóng người nào cả, cảnh vật rất tiêu điều, hoang sơ, lạnh lẽo khác hẳn với vẻ sầm uất, náo nhiệt xung quanh.
Đi tiếp thì thấy vài cái miếu nho nhỏ người ta xây thờ các vong chết đuối. Tìm tiếp thì thấy một cái đài xây rất cao ngay sát bờ biển, tường gạch cũ nát, chỉ còn cái nền, không có tượng Quán Thế Âm Bồ Tát như trong giấc mơ.
Nhưng sau tìm hiểu thêm những người sống ở đây lâu năm, thì mới vỡ lẽ, quả đúng cái đài cao này khi xưa thờ một bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát rất đẹp, xong đã bị kẻ nào đó đập phá hoang tàn.
Đến nay chỉ còn trơ lại cái nền cao hơn 3m, không có cầu thang, bậc thang gì cả, muốn lên chỉ có cách bám vào các mỏm đá mà trèo lên. Như vậy giấc mơ đã báo chính xác, và từ đó nhóm chúng tôi thường xuyên tổ chức ra đây cầu siêu cho các vong cả trên bờ lẫn dưới biển.
Trên đường đi, khi còn cách khoảng 4 km thì tới nơi, chị Diệu Lan nói với đại ca:
– Quang Tử, chị thấy các vong linh đang chen chúc nhau bám vào các mỏm gạch mà trèo lên giành chỗ, đông lắm.
Đại ca ngạc nhiên, rõ ràng nãy giờ mình đâu đã có miêu tả chỗ đó như thế nào, sao chị Diệu Lan lại biết là phải trèo, nên cố ý hỏi lại:
– Sao lại phải trèo hả chị ?
– Chị cũng không hiểu, nhưng chị thấy vậy đó, có bức tường cũ xây bằng gạch đỏ, và vong linh chen nhau trèo lên chờ sẵn.
– Vậy thì đúng rồi đó chị. Chỗ đó là một cái nền xây bằng gạch cao 3m, không có cầu thang, muốn lên chỉ có cách trèo mà thôi.
Khi chạy xe đến cách nơi đó khoảng nửa km, chị Diệu Lan lại nói:
– Đông quá Quang Tử ơi. Cả một khu vực này chật ních vong linh chen nhau san sát chờ sẵn, chị cảm thấy muốn ngộp thở.
– Wow, đông vậy sao, còn nửa cây nữa mới tới nơi đó chị.
Năm phút sau, chúng tôi gửi xe và hội quân dưới chân núi Tao Phùng, người mang túi, người mang ba lô, hăm hở đi bộ xuống bờ biển. Càng đi càng xa ánh đèn đường, xung quanh tối thui, chúng tôi bật vài cái đèn pin lên soi, vừa đi vừa cười đùa rôm rả.
Cảnh vật hoang sơ, một bên là núi cao, một bên là biển cả trập trùng sóng, tôi có cảm giác mình thật nhỏ bé. Đã vậy lại biết rằng quanh tôi chật kín vong linh không kẽ hở, da gà da vịt tôi nổi lên từng hồi.
Tân cũng có cảm giác ngộp thở, lộ rõ vẻ sợ sệt, hai nhà ngoại cảm không hẹn mà cùng một cảm xúc. Đang đi thì chị Diệu Lan nhảy cẫng lên, la thất thanh “A…Aaa…” rồi túm chặt áo đại ca, thở gấp rồi lắp bắp:
– Có … Có… con quỷ ngồi trên cây. Mắt nó xanh lè, đang vắt vẻo nhìn mình kìa.
Nghe thấy vậy cả đám ớn lạnh, nếu tôi lúc ấy mà nhìn thấy những gì chị Diệu Lan nói, chắc tôi phải đi thay quần mất. Như một phản xạ, tôi lập tức niệm Phật, niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát cho đỡ sợ. Còn đại ca thì cứ cười cười, tỉnh bơ mà đi tiếp, bọn tôi đành đi theo, vừa đi vừa run.
Đến đài cầu siêu, chị Diệu Lan xác nhận lại, đúng là cái bờ tường mà ban nãy đã thấy. Bọn tôi trèo lên và nhanh chóng sắp xếp mâm cơm chay, trái cây, hoa… còn đại ca thì an trí tượng Phật, sắp xếp đèn, chị Diệu Lan thì vẫn quan sát, và liên tục miêu tả quang cảnh trong siêu hình.
Chị nói, từng đợt, từng đợt các vong linh từ biển cả, theo từng cơn sóng mà không ngừng tiến vào khu vực chúng tôi với khí thế hăm hở. Cũng có một số vong linh đến quấy phá, muốn trêu chọc chúng tôi, xong đại đa số thì đến với niềm háo hức, chờ đợi màn cúng thí thực cho thỏa cơn đói khát, và phần lễ siêu độ, để họ sớm thoát khỏi cảnh giới ngạ quỷ khổ sở.
Quả là thế giới vong linh đều có tha tâm thông, chúng tôi đâu đã chính thức khai đàn, thỉnh mời gì đâu, xong họ vẫn biết rõ mà kéo tới đông đảo như muốn ngập trời ngập biển.
Tôi bất giác cũng nhìn ra biển, dù biết mình sẽ chẳng thấy gì. Mặt biển bao la trùm phủ một màu tối đen ảm đạm, đường chân trời xa xăm kia không biết sẽ dẫn về đâu. Âm thanh của vô vàn cơn sóng vỗ vào bờ đá dồn dập, cùng tiếng gió biển rít lên từng hồi lạnh lẽo, nhưng bị những tiếng nói chuyện, cười đùa liên hồi của chúng tôi lấn át đi.
Gần chục cái đèn pin đủ loại được chúng tôi bật hết lên, từ đài cao soi chiếu tứ phương, tạo thành một dàn những tia sáng rực rỡ, hắt vào màn đêm hiu quạnh. Tuy chẳng thể biến đêm đen thành ban ngày, nhưng chí ít cũng tạo thành một điểm sáng, xua tan đi một chút u tối của cái màn đêm tịch mịch.
Mọi thứ đã chuẩn bị xong xuôi, chúng tôi bắt đầu buổi cầu siêu. Tiếng chuông trầm ấm vang lên, nhang khói nghi ngút bay bay trong gió, đạo tràng khoảng chục người thành kính quỳ chắp tay, lễ bái nhịp nhàng theo tiếng chuông, rồi đồng thanh tụng niệm theo Nghi thức Cầu siêu mà mỗi người đã được phát một quyển.
Tiếp đến là phần thỉnh mời, chị Diệu Lan tả, sau mỗi lần đọc câu “Xin cung thỉnh chư vị thiên long bát bộ, hương linh quỷ thần khắp mười phương …” thì các vong linh đã đông lại càng kéo về rất đông hơn nữa, không chỉ là vong linh con người, già, trẻ, lớn, bé, các vong thai nhi, mà còn gồm vong linh các loài cá, cua, rùa, ốc… rồi các loài quỷ thần kì lạ mà chị Diệu Lan cũng không biết được là chủng loại nào. Thế nên chúng tôi lặp lại phần thỉnh mời khá nhiều lần trong suốt buổi cầu siêu.
Tinh thần chúng tôi lúc ấy mạnh mẽ hơn bao giờ hết, cố gắng đọc to, dõng dạc, vang vọng, tâm ý thì tập trung nhất có thể.
Sau khi đọc xong phần cúng thí thực (cúng cho vong ăn) với câu thần chú Biến Thực Chân Ngôn do Đức Phật thuyết trong kinh Diệm Khẩu, đại ca bất chợt hỏi lớn:
– Xin các vị cho biết, các vị đã thấy no chưa ?
Rồi nhìn sang chị Diệu Lan chờ ‘thông dịch’, thì nhận được câu trả lời đồng thanh đầy hoan hỉ từ họ: “No rồi!”
Lời Phật dạy là cấm có sai, thức ăn chúng tôi bày cúng chỉ có một mâm nhỏ, nếu là người thì chắc chỉ đủ cho 1-2 người ăn.
Nhưng nhờ công năng biến phẩm vật ra nhiều vô biên vô lượng của thần chú Biến Thực, mà số lượng triệu triệu, tỉ tỉ vong linh nhiều như số cát sông Hằng ở đây vẫn được no đủ.
Thật là vi diệu, thế mà nhiều người đọc kinh cứ bán tín bán nghi, chẳng chịu làm đúng theo lời kinh dạy. Bày vẽ mâm cao cỗ đầy, ê hề tốn kém, tà đạo thì còn cúng gà cúng lợn, giết mổ gây sát nghiệp chồng chất…
Đâu có biết rằng đó là việc không cần thiết, chỉ cần chuẩn bị chút ít cơm chay, trái cây, ly nước, đọc chú Biến Thực và chú Cam Lồ Thủy, thì hết thảy quỷ thần, vong linh đến dự đều no đủ.
Tiếp đến là phần khai thị giúp chư vị vong linh quỷ thần buông bỏ bám chấp, phát nguyện sinh về cõi Cực Lạc của Phật Di Đà, rồi trì chú Đại Bi hồi hướng công đức cho các vong linh được tiêu trừ nghiệp chướng.
Âm thanh tụng niệm của đại chúng cộng hưởng vang rền một vùng biển, theo lời chị Diệu Lan và Tân, ở bên kia, đại đa số các chúng sinh đủ chủng loại đều thành kính quỳ rạp, chắp tay mà nghe, lòng đầy hoan hỉ.
Đến phần niệm Nam Mô A Di Đà Phật, như thường lệ, chúng tôi dùng máy mở một giai điệu niệm Phật theo nhạc, để mọi người niệm theo khoảng 15 phút. Cách này có điểm lợi là giai điệu thong thả, niệm lâu không bị mệt, lại vừa giúp mọi người nhiếp tâm thành kính hơn. Với lại một buổi cầu siêu có âm nhạc, niệm Phật bằng phương thức hát xướng, tôi vẫn thấy thích hơn là cứ đọc đều đều từ đầu đến cuối.
Nhạc dạo cất lên, đại chúng đồng thanh hòa vào câu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” với tất cả niềm tin kính, tiếng niệm Phật vang vọng vào khoảng không bao la của biển cả, vừa trầm hùng mà vẫn da diết, vừa trang nghiêm mà vẫn gần gũi.
Chị Diệu Lan niệm một lúc thì liền nói, rằng triệu triệu các vong linh khắp trên bờ, dưới biển cũng đều đang chắp tay, chí thành niệm Phật như mọi người. Họ thậm chí còn hò reo vui sướng, một số quá khích còn nhẩy cẫng lên cao.
Tân cũng quay sang đại ca, chỉ về hướng một hòn đảo nhỏ (tên là Hòn Bà) cách chúng tôi khoảng 300m, và nói rằng ở đó, lớp lớp các vong hồn cũng đang chắp tay, hoà cùng nhịp niệm Phật với chúng tôi.
Chị Diệu Lan lại tiếp:
– Chị chuyển lời giùm các vong linh ở đây. Họ nói: “Cảm ơn mọi người đã không quản ngại khó khăn, bỏ thời gian công sức đến đây cầu siêu cho chúng tôi, công đức vô lượng, xin đa tạ mọi người !”
Khi gần kết thúc phần niệm Phật, chị Diệu Lan chỉ tay lên vùng trời phía xa xa, dù biết chúng tôi chả thấy gì đâu, nhưng chị vẫn chỉ và nói:
– Khắp nơi chị thấy các vong hồn đang bay dần lên cao, họ đang siêu đấy, từng tốp, từng tốp đủ cả vong linh người, vong linh cá, tôm, cua, ốc, rùa ….đang bay bay lên, đông lắm. Chị không biết họ sẽ đến đâu, nhưng theo tiếng niệm Phật của mọi người, thì một số lượng đông đảo vong linh, khoảng độ một phần ba, đã bay lên và biến mất.
Nghe xong, dù không thấy được gì nhưng trong lòng chúng tôi hoan hỷ vô cùng, mừng rơi nước mắt, chỉ mong họ được siêu thoát an lành chứ không mong cầu điều gì hơn nữa. Họ vui mừng thì chúng tôi cũng hết sức mừng vui, niềm hoan hỷ ở hai cõi âm – dương lúc ấy giao hòa đến không cùng vô tận .
Chúc cho họ được sinh về những cảnh giới an lành, không còn đau khổ, đói lạnh nơi này nữa. Theo như đại ca giải thích, những vong linh nào duyên phước đầy đủ, kiếp trước từng có duyên với Phật A Di Đà, từng biết niệm Phật, phát nguyện Vãng Sinh, thì nay có thể được siêu sinh lên cõi Cực Lạc. Thấp hơn có thể sinh lên một số cõi trời, thấp hơn nữa thì tái sinh một kiếp khác ở nhân gian. Chí ít thì cũng được tiêu trừ nhiều nghiệp chướng, an lạc hơn, no đủ hơn trước.
Buổi cầu siêu trong vòng chưa đến một tiếng đồng hồ, đã kết thúc viên mãn sau phần Tam Tự Quy Y. Ai nấy đều hết sức vui mừng, cảm giác lâng lâng, ấm áp đến khó tả. Chị Diệu Lan và Tân, lúc ban đầu thấy ngột ngạt khó thở, thì lúc này đã thấy nhẹ nhõm, sảng khoái hẳn lên.
Lúc chúng tôi dọn dẹp dời đi, chị Diệu Lan ngoảnh lại nhìn, thấy những vong linh còn ở lại đang ra sức vẫy tay chào chúng tôi, và tiếp tục gửi những lời cảm tạ không ngớt.
Chúng tôi hẹn họ lần sau sẽ lại tới đây cầu siêu tiếp, đây không phải lần đầu, và tất nhiên cũng chẳng phải lần cuối ! Bây giờ ngồi kể lại, tôi vẫn nhớ như in cảm giác lúc ấy, là nữ chúa nhát gan, tuy tôi vẫn sợ, vẫn thấy hơi rờn rợn nhưng mà vui thì nhiều hơn. Thật ấm áp và hoan hỉ khi được góp mặt trong một sứ mệnh thiêng liêng như thế này.
Đã vậy lại càng thú vị khi có chị Diệu Lan làm thông dịch viên giữa hai cõi âm dương. Cuộc đời có mấy khi được giao lưu với thế giới bên kia như hôm nay.
CẦU SIÊU NGHĨA TRANG LIỆT SĨ
Sáng hôm sau, một buổi sáng chủ nhật tinh khôi và trong trẻo, mây trôi nhẹ, nắng khẽ chạm cửa sổ báo hiệu một ngày mới với nhiều điều kì diệu đang đến.
Theo lịch trình đã đặt trước, hôm nay chúng tôi sẽ đến Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cách chỗ chúng tôi khoảng 30km, để cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ. Tranh thủ có chị Diệu Lan ở đây, cầu siêu nhiều nhiều một chút, mở rộng tầm mắt, mấy khi được biết thế giới cõi âm họ sống như thế nào.
Mới sáng ra chúng tôi đã tất bật chuẩn bị đồ cúng cho lịch trình mới, ai cũng vui vẻ, háo hức. Hẹn 9h sáng đi rồi mà cả đội “dây thun“ sang gần trưa, một phong cách rất truyền thống của nhóm chúng tôi, mãi không chừa được. Tôi cũng là một trong số đó, mường tượng lại tôi cũng không hiểu từ sáng tới giờ tôi loay hoay làm cái gì mà tốn nhiều thời gian đến thế. “Thôi kệ! Đằng nào thì cũng chẳng sửa nổi cái tính này”
Đội hình hôm nay ít hơn hôm qua, do một số người có việc bận không đi được, Tân cũng không tham dự được. Cả bọn đùm đề ba lô, túi xách với mọi vật dụng cần thiết, 5 chiếc xe máy nhắm hướng Nghĩa trang, chạy khoảng 30 phút thì tới nơi.
Trước mắt tôi là cổng Nghĩa trang liệt sĩ sừng sững hiên ngang, khiến tôi liên tưởng đến dáng đứng hiên ngang của những anh hùng bất khuất của dân tộc, thà chết không chịu khuất phục.
Tiến vào trong, hoa cỏ, cây cối, cảnh quan được bài trí không cầu kì nhưng đẹp mắt. Từng hàng mộ ngay ngắn, đều tăm tắp trải dài trong một khuôn viên rộng lớn, y như đội hình duyệt binh của một quân đoàn nghiêm trang.
Không gian yên ả, từng cơn gió tươi mát lùa qua tàn cây, rơi xuống vài chiếc lá, thỉnh thoảng líu lo vài tiếng chim hót, khiến tôi cảm thấy thực sự thanh bình.
Đúng, và cái thanh bình mà tôi đang cảm nhận ấy, cũng như cái thanh bình của cả quê hương đất nước Việt Nam tôi đang sống, chính là được đánh đổi từ xương máu của những chiến sĩ đã anh dũng nằm xuống nơi đây. Bất giác, một niềm xúc động bồi hồi dâng lên trong lòng tôi.
Đại ca đi gặp bác quản trang để xin phép được cử hành buổi cầu siêu. Dù đã quen, xong bác vẫn nhiệt tình dẫn chúng tôi vào nhà tưởng niệm liệt sĩ, ân cần hỏi chúng tôi có cần thêm gì không rồi mới rời đi. Bác thật chu đáo.
Nhà tưởng niệm này chính giữa có tượng Bác Hồ màu đồng rất uy nghi, trên tường là dày đặc danh sách tên tuổi các liệt sĩ đã hi sinh, không chỉ ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mà còn rất nhiều phần mộ anh linh chiến sĩ từ các tỉnh thành khác, đặc biệt ở đây có rất nhiều mộ liệt sĩ được quy tập từ Campuchia về.
Chúng tôi chia nhau ra, người thì sắp xếp đồ cúng , người thì ra ngoài mộ thắp nhang thỉnh mời anh linh các chú liệt sĩ vào dự pháp hội.
Sắp xếp xong bàn cúng thì mọi người cũng kịp trở vào. Chị Diệu Lan chỉ vào chị Hương rồi bảo :
– Ban nãy em vừa thắp nhang lên mộ các chú, vừa niệm Nam Mô A Di Đà Phật, thì có chú liệt sĩ nói : ”Sao không hát bài Đoàn Vệ Quốc Quân mà cứ niệm Phật hoài vậy con?”
Tôi từ bé đến giờ toàn nghe ba cái nhạc sàm sàm, chứ nào có biết cái bài Đoàn Vệ Quốc Quân là cái bài chi mô. Hỏi mọi người thì trừ đại ca, cũng chả ai biết cả.
Tôi muốn thử lại một chút, vèo một cái rút điện thoại tra nhanh thánh Google. Không ngờ có bài hát là “Đoàn vệ Quốc Quân” do nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu sáng tác thật, không sai một từ…
Các chú đã nói vậy, đại ca liền đáp ứng, kéo bọn tôi ra ngoài hàng mộ. Dưới cái nắng chói chang của mặt trời giữa trưa, chúng tôi đứng trước mộ các chú và giơ tay và cúi đầu chào kiểu nhà binh.
Nhìn trùng trùng điệp điệp biết bao nhiêu ngôi mộ liệt sĩ nơi đây, là ngần ấy cuộc đời, ngần ấy tuổi trẻ đã hi sinh vì nền độc lập Tổ Quốc, để cho thế hệ chúng tôi có ngày độc lập hòa bình yên ổn như hôm nay.
Để các chú vui lòng, đừng nói hát một bài, chứ cả trăm bài tôi cũng chẳng ngại. Kết nối điện thoại với loa bluetooth xong, đại ca mở bài Đoàn Vệ Quốc Quân lên và bắt nhịp cho cả đội cùng hát.
Giai điệu hùng tráng ngân vang, chúng tôi cùng hòa theo. Ngoài đại ca đã thuộc, còn lại chúng tôi phải nhìn điện thoại, hát lần đầu nên lạc giọng, sai từ tùm lum, nhưng không sao, chắc các chú sẽ thông cảm. Từng lời từng chữ của bài hát đi thẳng vào trái tim chúng tôi:
“Đoàn Vệ Quốc Quân một lần ra đi
Nào có xá chi đâu ngày trở về
Ra đi ra đi bảo tồn sông núi
Ra đi ra đi thà chết chớ lui…”
Lần đầu tiên tôi hát bài hát này nhưng sao bài hát da diết, hùng hồn đến thế. Đầu tôi hiện lên hình ảnh về những người chiến sĩ đã bỏ lại gia đình, bỏ lại vợ con, ra đi không hẹn ngày về, vì nền độc lập non sông đất nước chẳng tiếc thân mạng. Càng hát tôi càng thấy xúc động, rơm rớm nước mắt. Bài hát kết thúc, chị Diệu Lan quay sang và trịnh trọng nói:
– Lúc chúng ta giơ tay chào, rất đông các chú liệt sĩ cũng nghiêm trang giơ tay chào lại. Và gửi lời :“ Tụi chú cũng chào các cháu, hôm nay các cháu lại đến thật là vui quá. Bọn chú ngóng mãi đấy”. Vào lúc tụi mình hát, các chú cũng nhao nhao vỗ tay reo hò, lắc lư và hát theo, còn khích lệ “các cháu hát rất hay”.
Nghe mà thấy thân thương làm sao. Tôi không muốn vào trong vội, cứ muốn nấn ná ở lại thêm lúc nữa cho thỏa nỗi bồi hồi. Nhưng thực tế thì không cho phép, chúng tôi vẫn phải vào để thực hiện buổi cầu siêu cho các chú.
Trong tâm tôi hiểu rằng, quan trọng không phải là sự lưu luyến, mà phải dốc hết sức lực nhỏ bé của mình để các chú được siêu thoát an lành không còn đau khổ ở cõi đời giả tạm này nữa, đó mới thực sự là sự đền ơn.
Chúng tôi bắt đầu Nghi thức cầu siêu ngay sau đó. Mọi trình tự cũng giống như mọi khi, chỉ khác là ngoài thỉnh mời hương vong linh thập phương như trong sách, đại ca còn long trọng thỉnh mời anh linh của tất cả anh hùng liệt sĩ khắp mọi miền tổ quốc về dự lễ.
Rồi quay sang chị Diệu Lan để cập nhật tình hình. Chị nói số lượng các anh linh liệt sĩ về trong nghĩa trang rất đông. Các vong linh khác cũng về đông đảo, nhưng họ không được vào trong này, mà chỉ có thể đứng ngoài cổng, ngoài hàng rào, ở xa nên chị nhìn không rõ. Ồ, thì ra là vậy, nghĩa trang liệt sĩ quả nhiên có điểm khác, kỷ luật rất “thép”, không phải ai muốn vào thì vào.
Nghi thức cầu siêu lần lượt được triển khai từng bước nhịp nhàng và bài bản, từ lễ Phật, thỉnh mời, cúng cơm, khai thị buông xả bám chấp, trì chú Đại Bi hồi hướng công đức cho các hương linh, khai thị cầu Vãng sinh Cực Lạc, rồi niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”.
Cả đội cũng đã cùng nhau tổ chức rất nhiều lần, hình thành một sự nhịp nhàng ăn ý giữa mọi người, nên mọi thứ diễn ra rất suôn sẻ.
Đến lúc sắp niệm Phật xong, kết thúc buổi lễ, thì bỗng chị Hương không biết nhìn thấy cái gì đó, bất chợt nói rất to và rõng rạc:
– Xin thỉnh đại chúng chí thành niệm Phật thêm một lượt nữa, cầu cho các hương linh được siêu thoát – rồi lạy một lạy.
Mọi người ngạc nhiên quay ra nhìn chị Hương, chị ít nói, bình thường không mạnh dạn như vậy, không biết có chú nào nhập vào không. Đại ca cũng thấy lạ, xong vẫn dẫn chúng niệm Phật thêm một lượt nữa.
Giai điệu tha thiết lại ngân lên, câu “Nam Mô A Di Đà Phật” từ dàn đồng ca không chuyên chúng tôi vang dội khắp nghĩa trang, mang theo tấm lòng của chúng tôi, mong cầu cho anh linh các liệt sĩ được siêu sinh lên cõi Cực Lạc, mà hưởng an lạc vĩnh hằng.
Buổi cầu siêu kết thúc viên mãn. Lập tức mọi người quay sang gạn hỏi chị Hương, chị mới kể rằng, bình thường chị cũng chẳng có khai thiên nhãn gì, chẳng có thấy gì lạ bao giờ đâu. Xong không biết sao trong lúc niệm Phật, đột nhiên chị bỗng thấy Quán Thế Âm Bồ Tát với hào quang hiện ra trên nền trời phía xa, và bên dưới là không biết bao nhiêu các vong linh, tốp thì nhảy lên, tốp thì bay lên trùng trùng điệp điệp. Thấy cảnh tượng đó, chị xúc động quá, nên thỉnh đại chúng niệm Phật thêm một thời nữa.
Chị Diệu Lan cũng kể, đến phần niệm Phật, các chú đều hoan hỷ niệm Phật theo nhóm mình, cũng giống như các vong linh tối qua vậy. Chúng tôi hỏi chị có chú nào bay lên không, thì chị nói :
– Các chú có siêu, nhưng là siêu kiểu của các chú, tức là được tăng thêm phước lành, an lạc hơn, tự tại hơn, nhưng không đi đến một cõi nào khác cả, mà vẫn ở yên đây.
Các chú giải thích rằng, tâm nguyện của các chú là được tiếp tục bảo vệ non sông đất nước, khi sống đã như vậy, và cho đến giờ, dù hi sinh đã bao năm rồi thì vẫn như vậy.
Đất nước tuy đã hòa bình từ lâu, non sông có vẻ yên bình. Nhưng cái yên bình đó chỉ trên bề mặt mà thôi. Thực ra vẫn luôn có những mối đe dọa ngầm, những sự phá hoại ngầm, những cuộc chiến ngầm từ những thế lực thù địch, chỉ người trong cuộc mới biết. Và các chú vẫn cứ nguyện ở cõi này, dùng uy linh của mình, tiếp tục bảo vệ bờ cõi non sông.
“Cho bao em thơ yên giấc ngủ ngon
Cho lúa reo vui trên đồng nắng mới
…Ôi đất nước mẹ hiền có biết
Chúng tôi đứng đây canh giữ ngày đêm.”
(Bài Ca Biên Giới – Nhạc sĩ : Bùi Công Kỳ)
Chà, thế giới tâm linh thật huyền bí, ẩn chứa nhiều điều ta chưa biết. Vốn dĩ chúng tôi mong mỏi các chú được siêu sinh về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, hưởng an lạc vĩnh hằng, nhưng các chú lại muốn tiếp tục ở đây để làm nên sự bình an cho non sông đất nước. Nhưng thôi, đó là tâm nguyện cao cả của các chú, chúng cháu rất trân trọng.
Dù sao sau những buổi cầu siêu như thế này, các chú cũng được tăng thêm rất nhiều phước lành, an lạc hơn, tự tại hơn, cũng như tăng thêm thần lực, uy linh để thực hiện sứ mệnh của những người lính trong cõi vô hình.
Như vậy chúng tôi cũng đã rất vui trong lòng. Mọi thứ xong xuôi, anh chị em chúng tôi lục tục thu dọn hành trang để lên đường về lại Vũng Tàu. Chị Diệu Lan bỗng trịnh trọng nói :
– Cả nhà ơi, các chú nhờ chị chuyển lời đến mọi người rằng: “Từ bao năm qua, đã từng có nhiều đoàn thể đến đây cầu siêu cho các chú rồi. Riêng nhóm các cháu là đội ngũ nhiều người trẻ tuổi nhất, nhưng Nghi thức cầu siêu lại là bài bản nhất, xuất sắc nhất. Cảm ơn các cháu thật nhiều. Hẹn sớm ngày gặp lại các cháu.”
Tôi nghe xong sụt sùi nghĩ thầm: “Chúng con cũng thật sự cảm ơn các chú đã dành tặng lời khen quý báu!” Nghe mà sướng rơn như được trao tặng của báu chân bảo mà bất kì tiền bạc, đô la nào cũng không thể mua được.
Nghi thức cầu siêu của chúng tôi lại được bầu chọn là bài bản nhất, xuất sắc nhất từ chính thế giới siêu hình. Dù chỉ là chân ăn theo, nhưng mà tôi vẫn cảm thấy… ây da, thật là hãnh diện à.
Bình thường bảo đọc theo Nghi thức này thì tôi cứ đọc, cũng chẳng biết tại sao đại ca cứ sửa tới sửa lui mãi, nay thì mới hiểu, mỗi chỗ đều có công năng, đều có ý đồ cả. Theo chân đại ca quả là rất mệt, nhưng mà thích thật đấy.
Trên hết, với niềm tôn kính tha thiết nhất, chúng con thật lòng biết ơn chư Phật, chư Bồ Tát đã để lại cho chúng con những giáo lý vi diệu, những kinh điển, thần chú nhiệm màu, đầy từ bi và trí tuệ. Nhờ đó mà ngày hôm nay, con mới được chứng kiến sự vi diệu này, chưa kể đến vô vàn phước báu trong vô lượng kiếp sau.
Hàng ngàn năm đã trôi qua rồi, mà những gì Người để lại cho chúng con, vẫn cứu khổ ban vui cho chúng sinh khắp mọi cảnh giới, dù là cõi âm hay cõi dương.
Được làm đệ tử Phật, được đi trên con đường từ bi và trí tuệ mà Người đã chỉ dạy, thật là diễm phúc khổng lồ cho chúng con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ! Nam Mô A Di Đà Phật ! Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tam Bảo ! Chúng con xin thành kính tri ân Người!
Cuộc vui nào rồi cũng sẽ đến màn bế mạc, chúng tôi tạm biệt nhau, lên xe mỗi người một ngả, chở theo về cả những niềm hân hoan, lâng lâng đến khó tả, mà chỉ những ai từng mang trong mình một sứ mệnh thiêng liêng mới có thể hiểu nổi.
Đến tận hôm nay khi kể lại, niềm hân hoan ấy như vẫn trực chờ dâng lên trong lòng tôi. Cảm ơn cuộc đời, cảm ơn mọi người đã cho tôi những kỉ niệm đẹp đẽ và thiêng liêng ấy.
(Diệu Ngọc – Minh Kiên)
Mạn Đà La:
– Anh Quang Tử cho em hỏi, chỗ em đi làm thì đồng nghiệp em không ai tin và theo đạo Phật cả. Em giữ giới và làm những việc lành thì họ bảo em mê tín và lạc hậu không theo nhịp phát triển của xã hội.
Em không thể thuyết phục được họ. Rồi em thấy rất khổ tâm khi mình vẫn phải tham gia những việc bất đắc dĩ như giao lưu ăn uống các món thịt cá, hoặc phải sát sinh, và uống rượu bia dù tâm không muốn, nhưng vì công việc, cả nể sếp và đồng nghiệp vẫn phải làm. Như vậy em có tạo nghiệp không ? Mong anh hoan hỉ chia sẻ.
Quang Tử:
– Bạn thân mến, đã có làm thì có tạo nghiệp, chỉ là làm mà tâm không nhiệt tình, thì nghiệp nhẹ hơn thôi bạn. Việc tu hành theo Phật Pháp có rất nhiều, mình mới tu học, thì không thể một sớm một chiều mà thực hiện được hết, nên tùy duyên, tùy hoàn cảnh, tùy sức của mình làm được bao nhiêu thì làm, cố gắng ngày càng bớt đi những việc không nên làm, tăng thêm những công đức lành, càng nhiều thì càng tốt.
Còn nhân quả thì luôn thẳng thừng & rạch ròi, tạo nhân ác phải chịu quả báo, làm việc thiện thì có phước báo, không thể sai chạy.
Vậy nên mình cần cố hết sức có thể để bỏ ác, làm thiện, còn được đến đâu thì được. Mỗi người suy nghĩ rằng :
”Ta làm việc đó sau này sẽ chịu quả báo như thế đó, nếu cảm thấy mình chịu được quả báo thì mình làm, thấy không muốn nhận quả báo đó thì đừng làm.”
Tự mỗi người phải đưa ra quyết định cho chính mình mà thôi.
Tôi cũng từng đi làm ở nhiều nơi, cũng đã trải qua những nỗi khổ tâm như bạn, một bên là sợ nghiệp chướng, một bên thì sợ sếp mất lòng, sợ đồng nghiệp không ưa mình nếu mình từ chối đi ăn nhậu, tiến thoái lưỡng nan không biết làm sao.
Sau đó tôi đã suy nghĩ rất kĩ. Bây giờ mà tôi nể mặt xếp, đồng nghiệp… mà tạo nghiệp, dù lòng không muốn. Thì trước mắt có thể sẽ vui một chút, thuận lợi một chút trong công việc. Xong thực ra cũng chỉ là một chút thôi.
Thấy trên bàn tiệc vui vẻ cười nói vậy chứ đụng chuyện là người ta vẫn sẵn sàng hại bạn như thường. Cần là sếp vẫn sa thải bạn như thường, việc lấy lòng kiểu này xem ra không ăn thua mấy.
Nhưng cái giá mà tôi phải chịu để đổi lấy sự vui vẻ thoáng chốc, quá khủng khiếp.
Khi tôi tạo nghiệp, thì tôi phải chịu quả báo, không có viện lí do này nọ, đổ thừa tại đồng nghiệp hay tại sếp… mà giải thích, mà bao biện với luật Nhân quả được. Tôi sẽ chịu quả báo như thế nào ?
Ví dụ như ta mời sếp, đồng nghiệp, đối tác … tham dự một bữa tiệc. Ở đó chuẩn bị rất nhiều đặc sản tươi sống như rắn, rùa, tôm cá, gà vịt.v.v… rượu bia thì hàng thùng, hàng két. Như vậy, sẽ đồng thời tạo ra ít nhất 3 nghiệp : sát sinh, uống rượu bia, rủ rê người khác uống rượu bia.
Do ác nghiệp đó, đầu tiên có thể là ta sẽ gặp những bệnh tật, tai họa, xui xẻo nào đó sẽ đến trước sau một thời gian ngắn, vài năm, vài chục năm.
Tiếp đó, sau khi chết, tùy nghiệp nặng hay nhẹ, có thể ta sẽ phải chịu cực hình địa ngục nhiều năm, nhiều chục năm, thậm chí ngàn vạn năm.
Rồi chưa phải như thế là hết nghiệp, có thể sau khi ra khỏi địa ngục, sẽ phải đầu thai thành ngạ quỷ, thành súc sinh rất nhiều kiếp nữa.
Đến khi nghiệp nhẹ đi rồi , được sinh làm người, thì cũng chưa có xong. Những con vật rắn, rùa, tôm cá, gà vịt.v.v… đã bị ta giết hại, ăn thịt, nhiều kiếp sau chúng sẽ đeo bám hành hạ ta nhiều trăm năm bằng bệnh tật, bằng tai ách… hoặc đầu thai thành người, thành các con vật báo thù đủ kiểu.
Bạn nên biết, sau khi chết, mọi người sẽ phải đối mặt với Diêm Vương. Ông ấy sẽ phán xét mọi tội lỗi nhỏ nhất của ta, dù chỉ là ăn một con gà, nướng một con tôm, uống một ly rượu, từng chút, từng chút đều không bỏ sót. Vậy khi đó, trước điện Diêm Vương, những người mà vi họ ta tạo nghiệp, những đồng nghiệp, đối tác, sếp… có đứng ra nói đỡ, hay chịu thay giúp ta không ?
Không, tất nhiên rồi, họ đâu có chết cùng ta đâu, họ đến đám tang thắp cho vài nén nhang là cùng. Thậm chí khi đó, là qua nhiều năm sau, mỗi người mỗi ngả, lâu không gặp nhau, họ thậm chí còn chẳng nhớ mình là ai…
Vậy tại sao ta phải trả một cái giá quá đắt để lấy lòng những người này ?
Thế nên, tôi quyết định, Diêm Vương quan trọng hơn sếp, mặc kệ họ. Mình không thích tiệc tùng thì thôi, mình không tham gia, các ‘chế’ không thấy vui thì cũng kệ các ‘chế’ !
Tôi được nhận vào đây làm, chính vì công ty, công sở, chỗ làm… cần năng lực làm việc của tôi, cần công sức lao động của tôi bỏ ra, đóng góp cho công việc. Chứ không phải vì những cái cụng ly, hay những bữa tiệc tùng … này mà tôi được nhận vào đây làm.
Và tôi chỉ tập trung làm tốt công việc của mình, cố gắng làm tốt hơn những người khác, siêng năng hơn, nhiệt tình hơn, hiệu quả hơn trong chuyên môn. Với mọi người thì tôi vui vẻ, hòa nhã, giúp nhau được gì trong công việc, trong cuộc sống thì tôi giúp, chứ còn rủ rê ăn nhậu, tiệc tùng gì thì tôi cứ từ chối thẳng, ai nói gì, nghĩ gì về việc này tôi không quan tâm.
Có rất nhiều người không thích tôi vì tôi không thích giao lưu, không nể mặt họ trong việc tiệc tùng… trong đó có giám đốc. Nhưng ông ấy không thể vì thế đuổi việc tôi được. Vì công việc của cơ quan cần có tôi. Mà giả sử có phải nghỉ việc thì sao, tôi sẽ tìm một việc khác, bất luận như thế nào cũng không thể tồi tệ hơn việc chịu quả báo lâu dài như kể trên.
Ấy thế mà, sau một thời gian dài “cứng đầu” như thế, mọi người quen dần. Kết quả, mọi người vẫn quý mến tôi, vì thường ngày, ngoại trừ ăn nhậu, tôi luôn giúp họ những việc khác. Họ có thể đơn giản rủ tôi đi uống cafe thay vì rủ đi nhậu.
Mọi chuyện sau đó vẫn tốt, trong khi những kẻ vẫn hay đi tiệc tùng vui vẻ với nhau, tôi thấy họ vẫn đâm lén nhau sau lưng, sẵn sàng trở mặt khi cần. Một số thì vì phạm lỗi, vì năng lực kém, vẫn bị sếp chửi mắng, thuyên chuyển công tác như thường, vẫn bị sa thải như thường.
Vậy ra cái lo về việc mất lòng vì không tham gia ăn nhậu, chơi bời … với mọi người , chỉ là cái lo hão. Đôi chút chia sẻ kinh nghiệm tôi đã trải qua như vậy, nếu bạn cảm thấy phù hợp thì bạn cứ áp dụng làm theo. Chúc bạn thành công.
Hỏi
-Anh Quang Tử cho em xin phép hỏi một câu này ạ. Có bài hướng dẫn đọc chú Diệt Định Nghiệp anh nhấn mạnh là không được nằm niệm chú trừ khi bị bệnh.
Nhưng đôi khi muộn rồi em đi ngủ, em muốn niệm chú nhưng nghĩ nếu mình nằm mà niệm thì không được. Vậy thì có đúng không anh? Mình nằm niệm chú có tội gì không ạ? Em nghe đâu nằm đọc kinh sẽ bị quả báo đọa làm rắn đúng không anh ?
Đáp :
-Quang Tử từng thảo luận kĩ lưỡng với một vị master Mật Tông, cùng tham khảo ý kiến của nhiều Tông Sư khác, mọi người thống nhất là , đối với KINH ĐIỂN – THẦN CHÚ do Đức Phật thuyết ( các bài viết, giảng về chủ đề Phật Pháp không do Đức Phật thuyết, thì không phải Kinh, không tính vào đây) cùng với việc niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát, thì :
– KHÔNG ĐƯỢC NẰM MÀ ĐỌC RA TIẾNG (như vậy là khinh lờn kinh pháp), tương tự với các trường hợp vào WC, trang phục không chỉnh tề … cũng không được tụng niệm lớn tiếng, sẽ có quả báo. Xét sâu vào tâm, bị quả báo chủ yếu do tâm khinh lờn Pháp Bảo, chứ không phải chỉ do tư thế bên ngoài, đó là mấu chốt.
– Còn nếu tụng niệm thầm, không phát ra tiếng, thì vẫn có thể nằm mà niệm, bao gồm niệm Phật – trì tụng kinh chú, cũng như cả lúc không trang nghiêm như vào WC, khỏa thân, thay đồ, nam cởi trần quần đùi, nữ mặc váy ngắn, áo hai dây…
Trừ ra mỗi lúc nam nữ ân ái là HOÀN TOÀN KHÔNG ĐƯỢC PHÉP.
Hiếu được mấu chốt, ta sẽ mở ra nhiều cách hiểu linh hoạt khác:
1. Người bệnh liệt giường, không thể ngồi, họ vẫn tụng kinh niệm Phật trong tư thế đó được chứ ? Được ! Các ban hộ niệm cho người sắp lâm chung, thì người đó thường là đang nằm mà niệm Phật chứ sắp chết ngồi thế nào được.
Tâm họ đâu có khinh lờn Pháp Bảo đâu. Việc đó khác với người khỏe, có thể ngồi dậy mà không chịu ngồi, vì họ xem kinh điển cùng hạng với các loại khác.
Vậy, thay vì chúng ta chỉ xét mỗi tư thế bên ngoài, hoặc chỉ xét về tâm bên trong, chúng ta cần xem xét cả hai. Vì thân và tâm vốn gắn chặt với nhau.
Không thể nói “Tôi không chấp hình thức bên ngoài, chỉ coi trọng tâm bên trong, tôi thờ Phật trong tâm” rồi bừa bãi muốn làm sao thì làm. Vì rằng tâm nó sẽ thể hiện ra hình thức bên ngoài.
Đây, tôi sẽ ví dụ trường hợp sau :
Bình thường khi có bạn thân suồng sã với nhau đã quen, hoặc những người không có gì đặc biệt, kiểu như trẻ con nhà hàng xóm qua chơi, chúng ta cứ tiếp họ thoải mái, cởi trần quền đùi vô tư, nằm nói chuyện cho đỡ mỏi bình thường. Vì sao ? Vì trong mắt ta, ta coi họ là ngang hàng, hoặc dưới hàng, thương mến thôi chứ không đặt nặng sự quý kính gì.
Xong giờ nếu là vị khách nào đó tương đối sơ giao đến thăm, dù là ngang hàng đi nữa, bạn có dám cởi trần quần đùi, nằm bắt chân chữ ngũ mà tiếp khách không ? Thường câu trả lời sẽ là không. Vì sao ? Vì tiếp khách kiểu đó là khiếm nhã, bất lịch sự.
Rồi giờ chẳng hạn có sếp đến chơi nhà, hay thầy giáo cũ dạy dỗ ta nhiều năm ghé chơi, hay Chủ tịch Nước đến động viên, hỏi thăm… bạn thử tưởng tượng xem mình có dám cởi trần, nằm rung đùi mà tiếp đón không ?
Hẳn là không rồi. Vì sao ? Vì ta rất tôn trọng họ, việc trang phục chỉnh tề và ngồi tiếp đón khách quý chính là từ tâm mà chuyển thành hành động.
Nói cách khác, là nhìn hành động mà thấy được tâm. Trừ khi bệnh hay những tình huống đặc biệt bất khả kháng, không thể làm vậy được thì mới có thể bỏ qua, vị khách sẽ thông cảm cho ta thôi, chứ không thì … mệt lắm.
Như vậy, mỗi lần ta đối diện với Tam Bảo, Kinh pháp, hình tượng Phật, rồi ta nhìn lại tư thế, tác phong của mình có khiếm nhã hay không, là ta cũng biết được cái tâm tôn kinh Tam Bảo của mình tới đâu. Không máy móc là ở trước tượng Phật thì luôn phải lễ lạy liên tục, xong chí ít thì cũng phải giữ ở mức nhất định nào đó để thể hiện sự tôn kính, chứ đâu thể nào suồng sã như với trẻ con nhà hàng xóm qua chơi được.
Mặt khác, cũng không cần quá câu nên hình thức bên ngoài rồi cho đó là tất cả, mà không xét đến cốt lõi ở tâm bên trong, sẽ thành ra sáo rỗng, máy móc. Như thế sẽ không hiểu được bản chất , và không thể linh hoạt áp dụng trong những trường hợp đặc biệt.
Phân tách ra, chúng ta sẽ có hàng loạt trường hợp khác nhau, phước và tội cũng thay đổi liển tục theo cấp độ trong lúc đọc kinh – tụng kinh, lễ bái, niệm Phật :
Trường hợp 1 : Đọc kinh chú để phỉ báng, công kích, tìm cách bôi nhọ, hay lèo lái gây lạc hướng – Tội đọa địa ngục, bất kể nằm hay ngồi. Trường hợp này có thể bạn thấy lạ, nhưng có đó. Một số thành phần phá hoại Phật Giáo họ thường làm vậy. Ở đây, chúng ta có thể thấy, người này dù không có nằm, mà dù ngồi ngay ngắn, đạo mạo, trang trọng vô cùng đi nữa, thì kết cục cũng là tạo ra nghiệp chướng khổng lồ cả, địa ngục khó tránh.
Trường hợp 2 : Xem thường. Vì họ nghĩ kinh Phật – thần chú cũng bình thường thôi, muốn làm sao cũng được. Nên họ nằm đọc, dù có thể ngồi, và cũng chả có xem lại trang phục có chỉnh tề hay không. Ở đây, ta thấy trong tâm họ, họ xem Pháp Bảo tầm thường như những món đồ khác, vậy tâm đó là xem thường Tam Bảo, sẽ có quả báo.
Không nhất định 100% phải làm rắn đâu, một nhân có thể tạo ra nhiều loại quả báo khác nhau, ngoài kiếp sau làm rắn ra, có thể chuyển sang nhiều dạng quả báo khác : như ngu si, bệnh nằm liệt giường… chẳng hạn. Người nào có sẵn phước lớn thì sẽ bị tổn phước, bị mất chức, bị mọi người xem thường…
Trường hợp 3 : Tâm giữ cung kính, xong hoàn cảnh không cho phép trang nghiêm được. Ví như một gã ăn xin kính Phật, ông ta không có áo, chỉ có mỗi cái quần thôi, ông ta cởi trần ra trước tượng Phật, lạy Phật & đọc kinh chú, có được không ?
Ai nói không được, cấm cản người ăn xin, coi chừng chính người ấy mới bị quả báo.
Thời Đức Phật, người nam giới giai cấp nghèo toàn cởi trần không à. Có một ông tên Ni Đề nghèo khổ, hành nghề chuyên hốt phân cho nhà giàu, người ông ta cáu bẩn toàn phân hôi thối, nên ngại không dám đến gần Phật dù rất kính ngưỡng. Và Đức Phật đã làm sao ?
Đức Phật đến cầm lấy tay ông ấy, mà ân cân chỉ bảo, bình đẳng như những đệ tử xuất thân hoàng tộc khác, khuyến khích ông ấy xuất gia, sau ông ấy tu hành cũng chứng đạo quả A La Hán.
Vậy qua chuyện trên, bạn còn nghĩ cởi trần – tức trang phục không chỉnh tề đến trước tượng Phật sẽ luôn 100% là tạo ra Nghiệp bất kính không ?
Ai cố chấp cái hiểu một chiều mà phán : chắc chắn !00% tạo nghiệp, không có ngoại lệ. Coi chừng câu đó mới là khẩu nghiệp, vì gây hiểu lầm cho đời.
Trường hợp 4 : Cả thân và tâm giữ đủ chuẩn mực, ngoài trang nghiêm, và trong cung kính, vậy người này khi tụng niệm , sẽ có phước lớn hơn.
Trường hợp 5: Một số người đẩy sự cung kính bên trong lên tột độ. Ví dụ cùng là lên chùa lễ bái tụng kinh như những người khác, so về hình thức bên ngoài không ai phát hiện sự khác biệt gì, nhưng bên trong người này tôn kinh Tam Bảo đến mức bật khóc khi nghĩ đến Phật, nhìn tượng Phật mà như thấy Đức Phật thật, hoặc vì Tam Bảo sẵn sàng bỏ mạng không tiếc.
Việc này là bí mật chỉ người đó với Phật biết thôi, người ngoài không hiểu được. Xong cần phải biết, mỗi cái lạy Phật của người này, mỗi câu tụng niệm của người này, công đức khủng khiếp vô vàn chứ không thể đánh đồng với những người khác, dù bên ngoài nhìn giống nhau.
Trường hợp 6: Ngược lại với kiểu người trên, là một số người dù tâm tôn kính bên trong tương đối hời hợt, xong vì Nghi lễ hoàn cảnh sao đó, họ đẩy mạnh mức độ cầu kì bên ngoài. Với họ, phải giữ khuôn phép như thế này, trang phục phải chỉnh tề thế kia, lạy phải tư thế như thế này, tụng niệm phải ngân nga theo lối như thế kia, chuông mõ pháp khí không được thiếu … nhiều lắm.
Xét trên nhân quả, người này chắc chắn có phước, khá nhiều. Vì họ phải trải qua nhiều thủ tục như vậy mà vẫn duy trì được, bất kể bên trong mức thành kính nhiều ít như thế nào cũng là rất cố gắng. Không ai dám nói họ làm vậy là sai, họ phải có phước báo, có công đức.
Tuy nhiên, có nhiều bằng so với người đẩy mạnh tâm thành kính bên trong lên tột độ hay không ? Thì không, chắc chắn không thể bằng! Tâm bên trong quan trọng hơn nhiều, nên công đức lớn hơn rất nhiều, người quan trọng vẻ ngoài không có so kịp được.
Ngoài ra, việc trọng hình thức có thể – và thường gây ra một hệ lụy cho những người khác. Đó là khiến những người chưa hiểu nhiều Phật Pháp bị một hàng rào ngăn cản. Mỗi khi định tu tập lại hoang mang, không biết mình làm như thế này có bị tội gì không nhỉ ? Không ai giải đáp thỏa đáng cho, thế là họ quyết định bỏ tu cho nó lành.
Thế thì, đây chính là điểm nguy hại chết người của việc trọng hình thức, rồi đem áp đặt bắt tất cả phải theo, gây khó dễ khiến người ta nản mà rút lui. Cái việc bỏ tu mới thực sự là thảm họa, cho cả người bỏ tu lần người gây áp lực khiến người khác e ngại mà bỏ tu.
Trường hợp 7 : cả tâm cung kính bên trong, lẫn hình thức lễ nghi bên ngoài đều đẩy lên tột cùng. Bên trong thì tha thiết tôn thờ Phật, sẵn sàng vì Phật Pháp bỏ mạng không từ nan, bên ngoài thì mỗi khi lên chùa hay lên phòng thờ Phật đều chuẩn bị chu toàn, hương hoa đèn nến cúng dường trang nghiêm, tắm gội sạch sẽ, y phục chuẩn mực nhất có thể, lễ bái cũng kính hết sức. (Đặc biệt một số tông môn như Mật Tông còn quy định đối với hành giả trong một số trường hợp đặc biệt cần chuân bị nghi lễ rất cầu kì không phải ai cũng đáp ứng nổi)
Chẳng cần phân tích thì ai cũng biết, người như thế công đức vô cùng vĩ đại, là nhất trong các trường hợp. Tương lai họ mà không thành Phật thì không biết ai sẽ thành.
Trên đây là 7 trường hợp nói sơ qua, nhưng thực tế sẽ còn phân ra đến cả nghìn lẻ một trường hợp khác nhau. Phước và tội biến hóa phức tạp vô cùng khó mà nói hết với mỗi trường hợp.
Thế nên, ai đó mà hỏi những câu kiểu như được hay không được, ta chớ nên dại dột trả lời một chiều: hoặc chắc chắn có 100%, hoặc chắc chắn không 100%. Nói đơn giản một câu bất chấp mọi trường hơp thì y như rằng sai. Quang Tử lạm bàn đến đây, bạn nắm được vấn đề rồi chứ ?
Mỗi bài viết là một ngọn đèn nhỏ, mong soi sáng phần nào trên hành trình tu học của bạn. Để những ngọn đèn ấy không ngừng cháy sáng, lan tỏa ánh sáng Phật Pháp đến khắp mọi nơi là tâm nguyện của chúng tôi, nhưng để hành trình này được bền bỉ, chúng tôi rất cần sự chung tay của bạn.Nếu nhận thấy những bài viết này mang lại lợi ích cho bạn, cũng như nhiều người khác, xin hãy đồng hành cùng chúng tôi bằng cách ủng hộ kinh phí để duy trì hoạt động hoằng pháp.
Mọi đóng góp xin gửi về STK Vietcombank: 0081001314166 (Dinh Bao Trung)
Dù nhỏ bé hay lớn lao, sự sẻ chia của bạn đều là động lực quý giá để chúng tôi tiếp tục hành trình ý nghĩa này. Chân thành tri ân!