Đây là một câu chuyện thật sự đã xảy ra với tôi. Mấy ngày nay, trong đầu lúc nào cũng hiện lên những điều kì lạ, vậy nên tôi đã quyết định đem câu chuyện này viết ra.
Vào một buổi sáng sớm của tuần trước, tôi đã có một giấc mộng vô cùng rõ ràng mà lại kỳ quái. Điều không thể ngờ được là, qua trải nghiệm thực chứng, những chuyện được mơ thấy lại hoàn toàn ăn khớp với sự thật ngoài đời, hơn nữa lại là sự việc hy hữu về một con rùa được phóng sinh đến để báo ơn.
Những sự tình đã trải qua đại khái là như thế này, sáng sớm ngày 8/5, trong giấc mộng tôi đã đi đến một vùng nước xa lạ, xung quanh toàn là mây, không thể nhìn rõ bất kể vật gì, những tảng đá dưới chân mọc thành cụm, gần như không có chỗ bước đi. Thần trí mơ hồ nên cũng không rõ đây là chỗ nào, đột nhiên một người đàn ông trung niên lạ xuất hiện ngay trước mặt tôi, dáng người không cao, có phần mập mạp, còn đội một chiếc mũ phớt màu đen.
Tôi mở miệng trước, hỏi ông ta đây là nơi nào, người đàn ông nói:
– Đây là nơi nào vốn không quan trọng, điều quan trọng là bản thân bà và gia tộc sắp gặp phải họa lớn.
Tôi nói một cách cứng rắn:
-Ông là ai, sao lại có thể ăn nói tùy tiện như vậy!
Người đàn ông nói:
– Xin bà đừng có kích động, bà phải chăng vẫn còn nhớ một con rùa mà bà từng phóng sinh vào 11 năm trước, trên lưng con rùa đó có một lớp vỏ sáng bóng như ngọc?
Tôi nghĩ ngợi một hồi, sau đó nói:
– Đương nhiên còn nhớ, con rùa đó là tôi sau khi mua được, đã tận tay mang đến bờ sông để phóng sinh.
Người đàn ông khách sáo mà lại chậm rãi nói với tôi:
– Ân nhân, tôi chính là con rùa đó. Lúc đó vì uống quá nhiều rượu mà mất đi thần thông, kết quả bị dân chài bắt được, may là ân nhân bỏ tiền tương cứu mới may mắn thoát nạn. Hôm nay đến đây, là có việc gấp muốn báo.
Tôi hỏi:
– Không biết là chuyện gì?
Người đàn ông nói:
– Việc này có quan hệ đến vận mệnh của bà và thành viên gia tộc của bà, vô cùng nghiêm trọng.
Tôi lại hỏi:
– Đã xảy ra chuyện gì?
Người đàn ông nói:
– Khoảng một tháng trước, một người trong họ của bà, khi tìm người xem phong thủy, bởi tin vào những lời xằng bậy, đã tìm một vị thuật sĩ, sau đó đã chôn bùa chú chấn yểm lên mộ phần tổ tiên của gia tộc. Bây giờ những người đời trước trong phần mộ tổ tiên nhà bà đã vô cùng nguy hiểm, không lâu sau sẽ còn liên lụy đến con cháu tại nơi dương gian của bà, hậu quả vô cùng bi thảm.
Tôi vội vàng hỏi:
– Nhưng có cách gì có thể giải quyết việc này không?
Người đàn ông nói:
– Vô cùng đơn giản, ân nhân có thể đi đến phần mộ tổ tiên xem thử ngọn nguồn, người đó đã chôn năm phiến đá, bên trên mặt có viết bùa chú, chỉ cần tìm được chúng, sau đó lấy ra, thì không còn chuyện gì nữa.
Tôi nói:
– Phần mộ tổ tiên lớn như vậy, tôi làm sao biết chúng được chôn ở đâu chứ?
Người đàn ông nói:
– Bây giờ là mùa xuân, cỏ mọc không cao lắm, thêm nữa là vừa mới chôn không được bao lâu, vết tích là có thể nhận ra được, nhớ kỹ, tổng cộng năm phiến, toàn bộ cần phải lấy ra hết, sau đó đưa đến một ngôi miếu nào đó là được.
Tôi vừa muốn nói cảm ơn, người đàn ông đó đột nhiên không thấy đâu nữa, tôi cũng từ trong mộng tỉnh lại. Sau khi tỉnh lại, cẩn thận nhớ lại tình tiết của giấc mộng này, thật là rõ ràng vô cùng.
Hơn nữa, tôi vào 11 năm trước thật sự đã từng phóng sinh một con rùa, trên mai nó còn óng lên một loại ánh sáng tựa như bên trong lớp vỏ con trai vậy, bởi vì rất đặc biệt, vậy nên cứ nhớ mãi như in. Thật không ngờ con rùa năm xưa phóng sinh chỉ có kích cỡ tầm một cái đĩa, lại có tâm linh mạnh như vậy.
Cân nhắc đến tính trọng yếu của sự việc này, tôi lập tức quyết định đi đến nghĩa địa một chuyến, để xem cho rõ thực hư. Sau khi ăn sáng xong, tôi liền mang theo cái xẻng, chạy xe đến vùng đất mộ phần tổ tiên ngoài trăm cây số. Trên đường đi, trong lòng vô cùng bối rối, việc này rốt cuộc là thật hay là giả? Tôi đã tự hỏi mình nhiều lần như vậy.
Nhưng tôi thầm nghĩ rằng dù sao đây không phải là một trò đùa quái đản, cũng không phải loại giấc mộng rối loạn bát nháo, không có đầu không có đuôi, đáp án sẽ được làm rõ ngay thôi. Trong lúc suy nghĩ lung tung, nghĩa địa đã ở ngay trước mắt. Diện tích nghĩa địa rất lớn, may là có người trong họ quản lý, vậy nên nhìn thì không hoang vu lắm.
Lúc này chính là mùa xuân tại miền Bắc, thêm nữa là nhiệt độ năm nay thấp, vậy nên cỏ vừa mới nảy mầm, điều này cũng khiến cho việc tìm kiếm trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Tôi tỉ mỉ quan sát vùng đất xung quanh phần mộ tổ tiên, xem thử phải chăng là có dấu tích đã từng bị đào bới.
Đột nhiên, có một vết đào bới to khoảng một quả bóng xuất hiện trước mặt tôi, tôi vội vàng lấy cái xẻng đến, sau đó đào xuống dưới, kết quả, xẻng thứ hai liền đào được một phiến đá, lấy ra xem thử chính là một tảng đá mài hình chữ nhật, trên mặt có dùng chu sa vẽ bùa chú mà tôi xem không hiểu gì cả.
Tiếp theo, tôi tìm những vị trí khác, và lại đào được bốn phiến đá khác nữa, đến đây, toàn bộ số đá mà con rùa linh thiêng chỉ điểm trong mơ đã được tìm thấy, không hơn, không kém, chính là năm viên.
Sau đó, tôi lại theo đúng chỉ dẫn trong giấc mơ, đem năm phiến đá này vào trong một ngôi miếu vùng đó. Đến đây, tất cả đã hoàn thành viên mãn. Buổi tối hôm đó, tôi đã nằm mộng thấy những vị tổ tiên, cùng các vị trong gia tộc đã quá cố cùng nhau cười cười, nói nói mà dùng bữa vui vẻ.
Hôm sau, tôi đến bên bờ sông mà mình thường hay phóng sinh, nhìn nước sông cuồn cuộn, tâm tư ngàn mối, rùa thiêng muốn báo ân thì biết nơi tôi ở, giờ tôi muốn trả ơn thì đến nơi nào?
Tôi đại khái đã có thói quen phóng sinh hơn 10 năm, cũng không biết được là đã phóng sinh bao nhiêu sinh mệnh, nhưng mà, ngay cả một cái chào hỏi báo bình an trong mơ cũng đều chưa từng có. Thường xuyên nhìn thấy những câu chuyện về người khác phóng sinh được phúc báo, so sánh với bản thân mình, tôi chỉ gượng cười cho qua.
Vẫn may, bản thân mình cũng chưa từng nghĩ rằng mình sẽ có được báo đáp gì. Và cũng nói thêm, phóng sinh cần làm xuất phát từ cái tâm từ bi, cảm thương cho con vật mà làm, chứ tuyệt không vì trào lưu, làm để thỏa mãn sự tò mò. Bởi tâm người vẫn là quan trọng nhất.
Nhưng sự việc lần này, khiến tôi tin tưởng sâu sắc hơn, công đức và phúc báo của phóng sinh quả thật là không thể nghĩ bàn, ngay trong kiếp này đã có thể cảm nhận được. Trên thế giới này thật sự vẫn còn tồn tại rất nhiều những hiện tượng và sự kiện không thể nghĩ bàn mà có dùng khoa học cũng không cách nào giải thích được! Lòng giữ được thiện niệm làm nhiều việc lành tuyệt đối là một chân lí muôn đời !
Người xưa nói: “Việc phóng sinh, xem như là bạn tạo phúc con vật, thật ra là nó đã tạo phúc cho bản thân”, thật là chí lý thay.
Có hai câu chuyện kể về 2 vị thầy phong thủy: Một người muốn nhờ phong thủy để thay đổi vận mệnh, khiến cho gia tộc hưng thịnh; một người muốn dùng phong thủy để hủy hoại vận mệnh của người khác. Nhưng kết quả liệu họ có thắng nổi sức mạnh của nghiệp lực chắng ?
Câu chuyện thứ nhất:
Có một danh sư phong thủy, xem mộ trạch cho người ta vô cùng chuẩn xác, nhiều người sau khi được ông xem cho xong, về thay đổi lại mộ trạch đều đã trở nên giàu có. Tuy nhiên, con cái của vị phong thủy này lại không thể giàu có, cũng không có một người nào làm quan.
Một ngày kia, con trai của ông nói: “Cha ơi, cha là một bậc thầy phong thủy, nhưng tại sao nhà chúng ta lại không có lấy một người nào làm quan vậy? Cha không thể dùng phong thủy một chút, để cả nhà chúng ta cũng giàu sang, cũng ra làm quan được sao?”
Vị thầy phong thủy ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:
“Được chứ, nhưng cần phải làm theo lời ta dặn. Giờ ngọ ngày mai là giờ tốt, ba anh em các con đi ra mộ của ông nội tế bái một chút, sau đó đem vật mà ta đã bọc sẵn chôn ở hướng Đông Nam – Tây Bắc. Chẳng đến mấy năm sau, nhà ta sẽ có người làm quan. Nhưng nhớ kỹ, sau khi chôn xuống, suốt đường về nhà không được nói bất cứ một lời không may nào”.
Thế là, giờ ngọ ngày hôm sau, ba anh em làm theo lời căn dặn của người cha đi ra mộ ông nội. Hoàn tất mọi việc, trên đường về nhà bỗng nhiên gặp một gã ăn xin đi đến nói: “Xin hãy rủ lòng thương cho tôi chút thức ăn hay một chút tiền lẻ với!”.
Người anh cả giơ một chân đá ngang vào gã ăn xin, và nói rằng: “Xúi quẩy quá! Không ngờ lại gặp phải một kẻ ăn xin”.
Sau khi trở về nhà, người cha hỏi: “Trên đường đã gặp những ai? Các con không nói lời xui xẻo nào chứ?”.
Ba anh em đành phải thừa nhận sự thật đã chửi rủa, và còn đánh một gã ăn xin. Người cha nghe xong thở dài nói:
“Các con thật không có phúc làm quan, bản thân ta tuy tinh thông thuật số phong thủy, nhưng cũng không thể làm trái nghiệp lực được. ”
Thực ra từ đầu ông thầy phong thủy đã biết được không thể dùng phong thủy mà cưỡng ép mong cầu phước báo được, vì nếu được thì ông đã tự mình làm từ lâu rồi, đâu cần các con hỏi rồi mới làm. Xong vì muốn các con tự thân trải nghiệm điều này, nên mới chỉ cho chúng làm như thế, để chúng thấm thía hơn.
________________________
Câu chuyện thứ 2:
Còn có một câu chuyện xảy ra vào triều đại nhà Minh, có một gia đình khá nghèo khổ, tuy nói là gia cảnh túng quẫn, nhưng rất tốt bụng, khi có những người chạy nạn lưu lạc đến nơi này, đi ngang qua đều sẽ luôn ghé lại nhà này xin chút cơm ăn, chút nước cháo uống lót dạ. Về sau có một người bởi quê nhà bị lũ nên phải chạy nạn, vừa khéo đi ngang qua đây, nhìn thấy có gian nhà lụp xụp liền gõ cửa muốn xin chút gì vào bụng.
Nữ chủ nhân nhà ấy thấy có người chạy nạn đến, rất lấy làm tội nghiệp, liền cho ông ta hai cái bánh ngô. Người chạy nạn sau khi ăn xong, trong lòng vô cùng cảm kích, liền nói với nữ chủ nhân rằng:
-Tôi thật ra là thầy phong thủy, bây giờ sa cơ thất thế, tìm đến nơi đây, vô cùng cảm tạ bà đã giúp đỡ. Tôi không có tiền để báo đáp bà, vậy hãy để tôi xem mộ trạch cho gia đình của bà vậy.
Nữ chủ nhân này nghe ông ta nói như vậy, cũng rất lấy làm vui mừng, bèn làm phiền thầy phong thủy chọn một nghĩa trang có phong thủy tốt cho gia đình mình. Thầy phong thủy chỉ vị trí đất, rồi nói tương lai sau khi người thân nhà bà qua đời hãy an táng ở mảnh đất đó…, phía trước xa xa có núi âm u, phía sau lại có núi dựa, trái có Thanh Long, phải có Bạch Hổ, phía trước còn có hồ nước, thật đúng là mảnh đất có phong thủy tốt. Nữ chủ nhân vô cùng cảm tạ, sau đó thầy phong thủy xin cáo từ.
Tuy nhiên, thầy phong thủy này vẫn là có bất chính. Đó là chọn huyệt tốt cho gia đình này, để mười năm sau nhất định sẽ giàu sang tột bậc. Nhưng ông ta muốn đến lúc đó sẽ đến xin tiền trả ơn cho mình.
Sau đó không được mấy năm, bà cụ thân sinh chủ nhà này qua đời, chủ nhà theo chỉ điểm của thầy phong thủy liền chôn cất bà cụ ở nơi mảnh đất quý đó. Khoảng 10 năm sau, quả thật con trai nhà này thi đỗ trạng nguyên, được phong làm quan phụ mẫu, trong nhà đã trở nên giàu sang, gia tộc cũng nhờ vậy mà vẻ vang hẳn lên.
Lúc này, vị thầy phong thủy kia bấm ngón tay tính thử, thấy đã đến lúc phải đến nhà nọ để xin tiền rồi. Ông ta nghĩ: “Người của nhà đó tâm địa rất thiện lương, sau khi giàu sang rồi hẳn sẽ trả ơn cho mình”. Trong lòng tính toán như vậy, rồi quay trở lại nơi đó.
Nữ chủ nhà sau khi nhìn thấy thầy phong thủy thì vô cùng kinh ngạc:
– À! Ông chẳng phải chính là thầy phong thủy đã chọn mộ huyệt cho nhà tôi đó sao, cuối cùng đã được gặp lại ông rồi! Đại ân nhân ơi, nhờ ông đã chọn cho nhà tôi cái huyệt này, con trai nhà tôi bây giờ quả thật không tệ, đã là trạng nguyên rồi, lại làm quan phụ mẫu, bổng lộc mỗi năm 500 thạch, bây giờ tôi phải báo đáp ông mới được”.
Sau đó bà ấy liền lấy ra một vạn lạng bạc trắng trả ơn cho thầy phong thủy. Kết quả thầy phong thủy này không những chẳng vui mừng, còn vô cùng tức giận, ông ta nghĩ nhà này hiện giờ giàu có như thế, vậy mà chỉ đưa cho mình có một vạn lạng bạc. Thật ra, một vạn lạng bạc thời bấy giờ đã đủ để cho thầy phong thủy sống đến mấy đời rồi, nhưng lòng tham của ông ta lại không thỏa mãn, ban đầu dự đoán của ông ta là 50 vạn lạng hoàng kim. Ông ta cứ cho rằng trạng nguyên lang có khả năng lấy ra số tiền nhiều như vậy để báo đáp cho mình.
Ông ta không nghĩ được rằng, gia đình này làm quan thanh liêm, số tiền tài mà triều đình ban cho là để con trai bà dùng vào việc giúp đỡ người dân hoặc trị lý thiên tai. Bây giờ lấy ra 1 vạn lạng bạc đối với gia đình bà mà nói đã là con số quá lớn, tính ra cũng là đã lấy ra một nửa tài sản của nhà bà để trả ơn cho thầy phong thủy rồi.
Ông thầy phong thủy này không biết phải trái, lại cho rằng nhà họ keo kiệt. Ông ta vô cùng tức giận, liền muốn nghĩ cách làm chuyện xấu với nhà này.
Vào một đêm tối không có trăng sao, ông ta đi đến mồ mả của nhà này, chôn một chút thủy ngân và đồng, cùng những kim loại mà Đạo gia trước đây dùng để luyện đan ngay bên cạnh mộ huyệt. Bởi ông ta là thầy phong thủy trình độ cũng vào hàng bậc thầy, biết rằng đã chôn những thứ này rồi, trạng nguyên lang của nhà đó trong vòng nửa năm sẽ gây chuyện và bị triều đình giáng chức. Trong lòng ông ta nghĩ nhà họ đã tiếc tiền tiếc của chỉ đưa cho mình 1 vạn lạng bạc, lần này phải dạy cho họ một bài học thích đáng.
Kết quả thời gian nửa năm đã đến, trạng nguyên lang của nhà kia không những không xảy ra chuyện, trái lại còn vô cùng tốt. Triều đình lại thăng quan tiến chức cho chàng, ban đầu là quan phụ mẫu địa phương, sau đó được điều lên kinh thành làm đến chức tam phẩm quan văn, người mẹ cũng được phong làm phu nhân.
Vị thầy phong thủy rất tức tối: “Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, không thể như vậy được, trình độ phong thủy của mình cao thâm như vậy, tại sao lại không linh nghiệm?”.
Sau đó ông ta lại nhân đêm thanh vắng lén lén đến mồ mả của nhà đó tìm hiểu xem rốt cuộc là chuyện thế nào. Kết quả phát hiện những thứ mà ông đã từng chôn xuống không biết đã biến đâu mất. Lần này khiến cho ông ta càng không hiểu rốt cuộc là chuyện gì.
Ông ta thầm nghĩ, lúc đó mình chôn những thứ này rất kín đáo, không có người thứ hai biết được, hơn nữa xung quanh cũng không có dấu vết bị người khác lấy đi, những thứ này làm sao biến mất được chứ? Ông ta nghĩ mãi cũng nghĩ không ra được. Cuối cùng vị thầy phong thủy này bởi chuyện này mà buồn bực sầu não mà chết.
(Tiểu Thiện, dịch từ epochtimes.com)
_____________________
Lạm bàn :
Ông ta tinh thông thuật phong thủy, nhưng lại mù tịt về đạo lí Nhân quả, phàm những người tích đức hành thiện ắt tự có phước đức, dù cho thầy địa lí có giở chiêu thuật hại người cũng không có tác dụng gì cả. Ngay cả việc xuất hiện thầy địa lí tới giúp gia đình đó chọn được huyệt tốt, cũng là do nhân quả sắp xếp, an bài theo phúc đức của gia chủ.
Chung quy, phong thủy cũng chỉ giống như cái biển báo, thông thường người ta hay đặt những cái biển báo phía trước có chợ, hay phía trước có vực thẳm .v.v… cho người đi đường biết, thế nhưng dù có biển báo, hay không biển báo, thì chợ vẫn cứ ở đó, vực thẳm vẫn cứ ở đó… chẳng phải do cắm biển báo hay không cắm mà thay đổi được .
Một người muốn thông qua phong thủy để thay đổi vận mệnh, khiến cho gia tộc hưng thịnh, một người muốn dùng phong thủy để làm hại vận mệnh của người khác, kết quả đều không được như mong muốn. Từ đây có thể thấy được rằng, sức mạnh của nhân quả lớn hơn rất nhiều so với sức mạnh của phong thủy. Phàm là chuyện gì đều cần phải tuân theo thiên lý; vạn sự đều có nhân duyên, có nhân trước ắt có quả sau.
Người xưa nói: “Chu Dịch là kế sách của người quân tử chứ không phải là mưu sách của kẻ tiểu nhân”, “người có phúc ở nơi phúc địa”, người mà không có phúc đức, thì có cố ở nơi phúc địa, cũng sẽ gặp phải tai ương.
Vậy nên, người sống ở đời, nên làm nhiều việc tích đức hành thiện, chớ thấy việc ác nhỏ mà làm, chớ thấy việc thiện nhỏ mà bỏ qua, có “nhân” tích đức hành thiện này, còn lo không kết được “quả” phúc báo hay sao ?
Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy :
Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý ô nhiễm,
Nói lên hay hành động,
Khổ não bước theo sau,
Như xe, theo vật kéo.Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau,
Như bóng, không rời hình.
Ý ở đây là những ý nghĩ trong tâm, là một trong ba phương thức tạo tác ra Nghiệp là Thân – Khẩu – Ý. Theo Nhân quả, Ý Nghiệp là gốc, sẽ sinh ra Khẩu nghiệp và Thân nghiệp đúng như ý đã khởi. Trong các loại ý, việc nghĩ đến muốn làm việc này hay việc khác, gọi là Ý NGUYỆN, và Ý NGUYỆN sẽ sinh ra hành động. Có nghĩa là trong tâm từng khởi lên ý nghĩ muốn làm gì, sau một thời gian, hoặc gần trong một kiếp, hoặc xa qua nhiều kiếp, ta sẽ thực hiện đúng như ý muốn đã khởi, đây là quy luật Nhân Quả.
Nếu ta khởi những ý nguyện nằm trong tầm tay, hiện tại dễ dàng thực hiện, thì những nguyện đó rất nhanh thành tựu.
Ví dụ như khi ta thấy những chúng sinh bị giết hại dã man, ta khởi lên ý nguyện sẽ cứu mạng chúng, thì thời gian không bao lâu, hoàn cảnh sắp xếp ta sẽ có thể thực hiện được việc phóng sinh.
Nếu lời nguyện to lớn hơn, hiện tại không đủ điều kiện để làm, thì Nhân quả sẽ linh hoạt dẫn dắt ta từng bước đáp ứng đủ các điều kiện, hội tụ đủ các nhân duyên cần thiết cho đến khi có thể thực hiện đúng như ý nguyện đã khởi.
Ví dụ như một người nguyện sẽ xây một cây cầu bắc qua sông cho mọi người qua lại dễ dàng, không bị nguy hiểm. Trong hiện tại anh ta cái gì cũng không có : tiền không, trình độ không, sức khỏe không … cho đến khả năng vận động cũng không có, cái có duy nhất là điều nguyện.
Ai cũng thấy ngay là cả đời anh ta cũng không bao giờ làm được. Nhưng không sao, vì ý nghiệp đã tạo, nguyện đã phát, kiếp sau Nhân quả theo đó sẽ dẫn dắt anh ta từng bước làm phước từng chút, từng chút một, khi giúp người này, lúc cứu người kia để tích lũy phước.
Khi phước đã tăng lên, anh ta sẽ dần có những điều kiện cần thiết để xây cầu, như gia cảnh khá giả, tốt nghiệp thành kĩ sư cầu đường, uy danh tốt, nhiều người tín nhiệm, có khả năng vận động nhiều người, thậm chí được làm những chức vụ có quyền hạn ra quyết định xây cầu.v.v….
Quá trình tích lũy phước này có thể mất đến nhiều kiếp, thậm chí vài chục kiếp, song song với đó, anh ta dù qua nhiều kiếp, không nhớ gì đến điều nguyện xưa, nhưng trong tâm luôn khởi lên ý muốn xây cầu, ham mê ngành cầu đường, thậm chí nhiều lần phát lại điều nguyện xây cầu cho dân, và thường thì điều nguyện sau sẽ chi tiết, tỉ mỉ hơn điều nguyện kiếp trước.
Cho đến khi mọi nhân duyên đã hội tụ đủ, sau nhiều kiếp tích lũy công đức anh ta đã có tiền dư giả, đã có trình độ để xây một cây cầu đúng kĩ thuật, đã trực tiếp hoặc gián tiếp có được quyết định xây cầu của chính quyền, đã huy động được nguồn nhân sự mọi mặt, mọi người đều đồng chí đồng lòng… và thế là, cây cầu được xây dựng nên, đúng như ý nguyện kiếp xưa của một người chẳng có gì cả ngoài lời nguyện.
Đó chính là đường đi Nhân quả của LỜI NGUYỆN.
Vấn đề là từ khi khởi nguyện đến khi thành tựu có thể sẽ trải qua rất nhiều kiếp, Nguyện càng to lớn thì càng lâu thành tựu, như Nguyện thành Phật, độ tất cả chúng sinh thì sẽ trải qua số kiếp nhiều như số cát của vô lượng sông Hằng tích lũy công đức vô cùng khủng khiếp, tu tập vô số pháp môn, gieo duyên với vô số chúng sinh…, còn những nguyện nho nhỏ thì sẽ nhanh hơn, một vài kiếp, hoặc vài chục kiếp thôi.
Trong khoảng nhiều kiếp đó, có thể sẽ có những lúc lui sụt, nhưng qua giai đoạn ấy lại phát khởi trở lại, dần dần tăng tiến cho đến khi viên mãn như ban đầu đã nguyện mới thôi. Đó là một điều vi diệu của luật Nhân quả, chúng ta cần nhớ kĩ để ứng dụng trong việc tu hành.
Nếu muốn cho điều đã nguyện thành tựu nhanh hơn, mạnh mẽ hơn, chúng ta nên làm nhiều công đức khác nhau, hồi hướng cho điều nguyện ấy mau thành tựu.
Giống như trong kinh Bi Hoa, các vị vương tử, quan lại, bà la môn, thiên long bát bộ.v.v… phát nguyện cầu thành Phật, thì chỉ cần lời nguyện đó, đến nay sau vô lượng kiếp luân hồi, mỗi người một con đường, tu hành khi tăng khi giảm, xong đến giờ các Ngài đều đã thành những vị Đại Bồ Tát, được Đức Phật thọ kí sẽ thành Phật. (Bạn có thể tìm thấy kinh Bi Hoa ở đây: http://nhanqua.com.vn/kinh-bi-hoa/)
Riêng những vị đem công đức cúng dường Phật và Tăng đoàn, hồi hướng thêm cho điều mình nguyện, thì thành tựu nhanh hơn, đó chính là hai vị đã thành Chánh Đẳng Chánh Giác là Phật A Di Đà, Phật Thích Ca Mâu Ni, và các vị đã thành Đẳng Giác Bồ tát, Nhất Trú Bổ Xứ Bồ Tát, Đại Bồ Tát uy danh khắp pháp giới như Quán Thế Âm Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, 1000 vị Phật trong Hiền kiếp .v.v…
Ngoài ra, sau nhiều lần đầu thai chuyển kiếp, dù người phát nguyện có nhớ hay không, thì họ cũng sẽ phát lại những nguyện đã phát, và bổ sung cho điều nguyện hoàn chỉnh hơn, viên mãn hơn.
Như tiền thân của Đức Phật A Di Đà, ở kiếp xa xưa trước Đức Phật Bảo Tạng, Ngài đã phát nguyện khi thành Phật sẽ lập nên cõi Cực Lạc, tiếp độ chúng sinh về cõi của Ngài giáo hóa (được ghi lại trong kinh Bi Hoa)
Nhiều kiếp sau, Ngài tiếp tục tu hành, đến khi được gặp Phật Thế Gian Tự Tại Vương, ngài từ bỏ ngôi vua xuất gia, và trước Đức Phật Thế Gian Tự Tại Vương, ngài lại phát nguyện, cũng chính là những nguyện kiếp xưa đã nguyện trước Bảo Tạng Như Lai, xong đã phát triển hoàn chỉnh hơn nhiều, chính là 48 lời nguyện được ghi trong kinh Vô Lượng Thọ. Và đến nay, thì mọi điều nguyện của Ngài đã thành hiện thực, Ngài chính là Đức Phật A Di Đà với cõi Cực Lạc Tây Phương mà ai cũng biết.
Vậy có khi nào ý nguyện đã khởi mà lại không tạo ra hành động không?
Có, đó là khi sau khi đã khởi ý nguyện đó, lại sinh tâm hối hận, hay hối tiếc, hoặc phát ra những ý nguyện mới trái ngược với nguyện trước đó. Ví như một người trong lúc nóng giận, bị một người bạn xúc phạm, đã lỡ lời thề “Tao sẽ giết mày!”, sau đó bình tĩnh lại, thấy rằng như vậy thật nguy hiểm, sinh tâm hối hận vì câu nói này, lại nguyện rằng ” Từ nay về sau tôi sẽ không giết hại một ai cả.”
Như vậy, ý nguyện giết người trước đó của anh ta sẽ bị triệt tiêu, tương lai sẽ không phát sinh việc “giết người bạn” như đã khởi ý, hoặc kiếp nào gặp lại anh bạn đó, phát sinh xích mích, anh ta định giết, nhưng sẽ dừng tay kịp thời.
Nếu thế, chúng ta có thể chặn lại những ý nguyện sai lầm của chúng ta trong vô lượng kiếp qua không ? Câu trả lời là CÓ, nếu chúng ta kiên trì sám hối những ý nghiệp bất thiện trong vô lượng kiếp qua, và phát nguyện làm những điều thiện lành, thì tương lai chúng ta sẽ không bị cuốn vào những hành động xấu ác mà ta đã khởi nguyện từ quá khứ. Nhưng bạn cần chú ý đến số lượng.
Vô lượng kiếp qua, chúng ta đã khởi hàng tỉ tỉ những ý nguyện sai lầm. Vậy muốn triệt tiêu hết chúng, thì không thể chỉ vài lầm sám hối mà đủ, mà cần đến hàng tỉ tỉ ý niệm sám hối. Và cần thường xuyên phát lên những ý nguyện thiện lành để đối trị.
________________________
Như trên ta thấy, PHÁT NGUYỆN là một pháp môn cực kì quan trọng, vì phát nguyện không quá khó, chỉ cần khởi lên những ý nghĩ, nhưng chỉ cần biết cách ‘nghĩ như thế nào cho đúng’ là có thể sinh ra đầy đủ tất cả những pháp môn khác, kiên định kiếp này qua kiếp khác cho đến khi viên mãn.
Nó giống như ta cầm một nắm hạt giống, gieo vào đất rồi bỏ đi. Nhiều năm sau quay lại thì các hạt giống bé nhỏ năm xưa đã thành một rừng cây cao lớn. Có thể thấy, pháp môn phát nguyện này dựa trên quy luật Nhân Quả, sử dụng Nghiệp lực – loại sức mạnh khủng khiếp nhất vũ trụ để tu hành, vì vậy nên công bỏ ra ít mà thu hoạch khổng lồ, chỉ là, phải chờ đợi hơi lâu mà thôi.
Chư Phật, chư Bồ Tát vì muốn nhấn mạnh điều này, nên trong rất nhiều kinh điển khác nhau, Đức Phật luôn gắn liền sự thành tựu của các vị Phật, vị Đại Bồ Tát với những điều NGUYỆN từ kiếp xưa ( ở khoảng giữa các vị ấy tu hành như thế nào thường lược bỏ, hoặc chỉ nói sơ qua)
Như kinh Địa Tạng, trong những kiếp xưa, tiền thân Ngài Địa Tạng Bồ Tát khi còn làm vua, làm nữ Bà La Môn, làm Quang Mục, nhờ phát nguyện “Từ nay cho đến tận kiếp ở vị lai, con nguyện sẽ vì những chúng sanh tội khổ mà rộng thiết lập phương tiện để khiến họ đều được giải thoát.”.v.v… mà giờ Ngài đã thành Địa Tạng Vương Bồ Tát – oai thần, uy đức trùm phủ khắp vũ trụ.
Kinh Vô Lượng Thọ, tỳ Kheo Pháp Tạng phát 48 đại nguyện và nay Ngài thành Phật A Di Đà.
Kinh Dược Sư, Đức Phật cũng miêu tả ở kiếp xưa, tiền thân của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật đã phát 12 đại nguyện, và nay thì Ngài đã thành Phật ở cõi Lưu Ly.
Kinh Quán Thế Âm Thọ Ký, kiếp xưa có hai vị đồng tử phát nguyện thành Phật trước Kim Quang Sư Tử Du Hí Như Lai, nay hai vị ấy đã thành Quán Thế Âm Bồ Tát, và Đại Thế Chí Bồ Tát, tương lai sẽ thành Phật hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai, và Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Như Lai.
Kinh Bi Hoa, trước Đức Phật Bảo Tạng, hàng vạn người và chúng sinh đồng thời phát nguyện, mỗi vị có lời nguyện khác nhau, xong đều giống nhau ở 2 điểm, đó là TRÊN CẦU THÀNH PHẬT, DƯỚI CẦU CỨU ĐỘ TẤT CẢ CHÚNG SINH, và nay các vị ấy đều đã thành Phật, thành Đại Bồ Tát, chính là Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, , và các vị Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, 1000 vị Phật trong Hiền kiếp .v.v…
Trong kinh Hoa Nghiêm, là bộ kinh siêu việt của hàng Bồ Tát, ở phần cuối kinh, cũng là tổng nhiếp của cả bộ kinh, lại là dạy về pháp môn phát nguyện, chính là 10 nguyện Phổ Hiền.
Vậy, một lời nguyện muốn CỨU ĐỘ CHÚNG SINH thì ý nghĩa như thế nào ?
Thời Đức Phật ở thành Xá Vệ, nơi vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, trong nước có một bà già nghèo khổ, cô đơn xin ăn sống qua ngày tên Nan Đà. Bà thấy quốc vương, đại thần và bao người cúng dường đèn lên Phật và chúng Tăng, trong lòng hết sức hổ thẹn, buồn bã.
Biết mình do đời trước tạo tội mà bị nghèo hèn. Nay đã gặp được ruộng phúc mà lại không thể cúng dường chi thì rất uổng, thế là bà bèn đi xin mong có vật gì đó để cúng dường Tam Bảo.
Nhưng xin cả ngày mà chỉ được một xu, bà liền đến tiệm mua dầu.
Chủ quán nói :
– Một xu đâu có mua được bao nhiêu dầu, bà dùng làm chi ?
Bà Nan Đà liền thổ lộ ước mơ được cúng dường lên Đức Phật của mình, người bán dầu nghe vậy cảm thông liền bán cho bà nhiều gấp đôi. Nan Đà vui lắm, bà chế ra một cây đèn dầu nhỏ đem đến tịnh xá cúng Phật. Bà đặt vào hàng đèn đầu tiên dâng trước Phật và phát nguyện :
– Con hiện nay quá nghèo, chỉ có cây đèn nhỏ xíu này cúng dường Phật, nguyện nhờ công đức này khiến đời sau con đắc đại trí huệ, có thể chiếu soi diệt trừ u ám cấu uế cho tất cả chúng sinh.
Phát thệ xong bà lễ Phật rồi đi. Đến lúc trời sáng chỉ duy nhất ngọn đèn nhỏ của bà già nghèo khổ Nan Đà còn cháy mạnh. Khi đó ngài Mục Kiện Liên là vị đệ tử thần thông bậc nhất của Phật đang trực ngày hôm đó, thấy trời sáng bèn đi thu dọn đèn.
Phát hiện cây đèn tuy nhỏ mà cháy sáng rực, tim đèn cứ như mới thắp, không có bất kì tổn hại nào, ngài Mục Kiện Liên thầm nghĩ : “ Ban ngày đâu cần để đèn cháy làm chi.”, Ngài bèn cầm lên quạt tắt nó, nhưng quạt mấy cũng không tắt, nó vẫn cháy mãnh liệt…
Phật thấy vậy liền bảo Mục Liên :
– Cây đèn này không phải hàng Thanh Văn – La Hán như các ông có thể làm lay động được, dù ông có dùng thần thông lấy nước hết bốn biển hay hiện cuồng phong mà dập tắt thì cũng chẳng được, bởi vì đây là đèn của một người cúng dường đã phát đại Bồ đề tâm sẽ quảng tế chúng sinh ( tức Bồ Tát Sơ Phát Tâm )…
Phật nói xong thì vừa vặn lúc đó bần nữ Nan Đà đi đến bái kiến Phât. Đức Phật bèn thọ kí cho Nan Đà :
– Tương lai vào khoảng hai A tăng kì trăm kiếp, Ngươi sẽ thành Phật hiệu là Đăng Quang (Đèn Sáng) có đủ mười danh hiệu của Phật.
Nan Đà được thọ kí hết sức vui mừng, bà vội quỳ xuống xin xuất gia. Phật đồng ý độ cho bà thành Tỳ-kheo-ni.”
_______________________
Cây đèn bà Nan Đà cúng Phật không giống với những cây đèn dâng cúng khác, vì nó được thắp lên bằng tất cả trái tim bà. Điều này ai cũng hiểu.
Nhưng có một điều vĩ đại hơn nhiều ít ai để ý, ẩn sau cây đèn đó, là một ngọn đèn thứ hai, là nguyên nhân khiến cho ngài Mục Kiện Liên không tài nào thổi tắt đèn được, chính là lời nguyện của bà Nan Đà : “…nguyện nhờ công đức này khiến đời sau con đắc đại trí huệ, có thể chiếu soi diệt trừ u ám cấu uế cho tất cả chúng sinh.”
Câu nguyện này chính là PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ !
Có rất nhiều cách phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, nhưng tựu chung, phát tâm Vô Thượng Bồ Đề là một lời nguyện, một lời hứa với Tam Bảo, với chính mình rằng, trong tương lai lâu xa nhiều kiếp sau, sẽ tu thành Phật, độ tất cả chúng sinh thoát biển khổ luân hồi.
Lời nguyện như thế nghe có vẻ quá sức viễn tưởng, quá xa xôi, quá to tát… trong khi mỗi người chúng ta đây, còn quá phàm tục để nghĩ đến điều vĩ đại như thế. Chúng ta sợ sẽ không thực hiện được, nên đa số đều không dám phát tâm Vô Thượng Bồ Đề.
Nhưng chúng ta đã hiểu nhầm. Sự thất hứa chỉ xảy ra trong phạm vi thời gian ngắn như trong một kiếp sống thôi, còn qua nhiều kiếp, đến vô lượng kiếp thì mọi lời nguyện, mọi lời hứa đều sẽ thành hiện thực, dù lời nguyện đó có lớn đến mức nào đi chăng nữa, đó là Nhân quả không thể khác.
Thế nên người đã phát nguyện cầu thành Phật hay nguyện độ chúng sinh thóat biển khổ sinh tử, thì qua nhiều kiếp về sau, tự nhiên Nhân quả sẽ sắp xếp khiến người đó luôn gặp Phật Pháp tu hành, mà không phải tu một cách bình thường, mà luôn tu cực kì dũng mãnh với một trí tuệ sắc bén, có thể làm được những điều vô cùng khó làm mà ai cũng chào thua, có thể tự tìm ra con đường đúng đắn để đi giữa vô vàn tà kiến, cám dỗ, chẳng sợ lạc lối , có thể tích chứa được những tạng công đức vĩ đại không thể cân đo , suy lường được …v.v…
Người đó trải qua vô số kiếp, cứ tăng tiến dần lên các công hạnh cho đến khi lời nguyện ban đầu thành hiện thực, nghĩa là sẽ thành một Đức Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cứu độ vô lượng chúng sinh, dù rất – rất lâu, cực kì lâu, nhưng điều đó chắc chắn sẽ thành hiện thực. Muời Phương Ba Đời các Đức Phật thành Chánh Đẳng Chánh Giác đều xuất phát từ một lời nguyện như thế.
Chính vì vậy, một câu nguyện PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ ẩn chứa vô biên công đức không thể nghĩ bàn, là bảo vật vô giá trong tất cả mọi loại bảo vật . Một phàm phu vừa mới phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, liền được Phật gọi là Bồ tát Sơ Phát Tâm, vị này ngay hiện tại chẳng thấy có gì khác, nghiệp chướng còn đầy, tội lỗi còn đầy, tham sân si còn đầy, trí tuệ, đức hạnh, thần thông đều chẳng có…Chỉ có Phật và các Đại Bồ Tát dùng trí tuệ siêu đẳng mới thấy hết được cái mà vị ấy có.
Trong kinh Hoa Nghiêm viết :
“…Lúc bấy giờ, Thiên-Ðế-Thích bạch Pháp-Huệ Bồ-Tát rằng :
– Thưa Phật-tử ! Bồ-Tát Sơ Phát Bồ Đề Tâm được bao nhiêu công-đức ?
Pháp-Huệ Bồ-Tát nói :
– Nghĩa đó rất sâu, khó nói, khó biết, khó phân-biệt, khó tin hiểu, khó chứng, khó làm, khó thông-đạt, khó tư-duy, khó đạt-lượng, khó thu nhập. Tuy nhiên, thừa oai-thần của đức Phật, tôi sẽ nói cho ông.
Này Phật-tử ! Giả sử có người đem tất cả đồ sở-thích cúng-dường chúng-sanh trong vô-số thế-giới ở mười phương trọn một kiếp; rồi sau đó dạy họ thọ-trì ngũ-giới thanh-tịnh. Cứ theo ý ông, công-đức của người này nhiều chăng ?
Thiên-Ðế thưa :
– Công-đức của người này, trừ Phật ra, không ai có thể lường được.’
Pháp-Huệ Bồ-Tát nói :
– Này Phật-tử ! Công-đức của người này đem so với công-đức sơ-phát-tâm của Bồ-Tát chẳng bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần trăm ngàn, một phần ức, một phần trăm ngàn na-do-tha ức, một phần số, một phần ca-la, một phần toán, một phần dụ, nhẫn đến chẳng bằng một phần ưu-ba-ni-sa-đà.
Giả sử có người đem tất cả đồ sở-thích cúng-dường chúng-sanh trong mười vô-số thế-giới ở mười phương trọn trăm kiếp, rồi sau đó dạy họ đều tu thập-thiện. Cúng-dường như vậy trọn trăm ngàn kiếp rồi dạy trụ tứ-vô-lượng-tâm. Cúng-dường trọn ức kiếp rồi dạy trụ tứ-vô-sắc-định. Cúng-dường trọn trăm ức kiếp rồi dạy trụ quả Tu-Ðà-Hoàn. Cúng-dường trọn ngàn ức kiếp, rồi dạy trụ quả A-La-Hán. Cúng-dường trọn trăm ngàn na-do-tha ức kiếp, rồi dạy trụ Bích-Chi-Phật.
Này Phật-tử ! Cứ theo ý của ông, công-đức của người này có nhiều chăng ?
Thiên-Ðế thưa :
– Công-đức của người này, trừ Phật ra, không ai có thể lường được.
Pháp-Huệ Bồ-Tát nói :
– Này Phật-tử ! Công-đức của người này đem so với công-đức sơ-phát-tâm của Bồ-Tát chẳng bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần trăm ngàn, một phần ức, một phần trăm ngàn na-do-tha ức, một phần số, một phần ca-la, một phần toán, một phần dụ, nhẫn đến chẳng bằng một phần ưu-ba-ni-sa-đà.
__________________________
Có người hỏi :” Công đức phát tâm Bồ Đề rất lớn, vậy phải nguyện như thế nào ?”
Thực ra có rất nhiều cách phát nguyện, tựu chung là “ trên cầu Phật Quả Vô Thượng, dưới cầu độ tất cả chúng sinh”, mà từ đó mỗi vị Bồ tát sẽ biến tấu khác đi theo ý muốn của mình, và các vị ấy đều không chỉ nguyện một điều, một lần, mà là vô số điều, vô số lần.
Và nổi tiếng nhất trong những điều nguyện chính là mười điều nguyện của ngài Phổ Hiền Bồ Tát – bậc thượng thủ trong vô số Bồ Tát xuất hiện trong Kinh Hoa Nghiêm. Tất cả mọi điều nguyện của các vị Bồ Tát đều ẩn chứa trong mười điều nguyện này, nên mãnh lực của mười nguyện Phổ Hiền là vô cùng vô tận.
Nhờ công đức phát nguyện theo Phổ Hiền Thập Hạnh này, người thiếu phước có thể tăng trưởng phước đức nhanh chóng, người tội nặng có thể được giải trừ nghiệp nặng, kể cả 5 tội Vô Gián địa ngục, thậm chí, người tu Tịnh Độ có thể nhờ phát mười nguyện này mà được Vãng sinh Cực Lạc.
Quý vị muốn biết rõ về mười nguyện Phổ Hiền này, xin tìm đọc trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm cuối cùng. Dưới đây xin tóm lược sơ mười nguyện đó bằng một bài kệ Phát nguyện, quý vị cũng có thể dựa theo bài kệ sau mà phát nguyện trước Phật mỗi ngày, sẽ tăng trưởng phước đức không thể nghĩ bàn.
___________________
VĂN PHÁT NGUYỆN PHỔ HIỀN THẬP HẠNH
Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật !
Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát !
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tam Bảo !
Con xin đem tấm lòng thành
Vô biên tha thiết, trời xanh thấu cùng
Dưới chân Từ Phụ bao dung
Phát lên lời nguyện vô cùng vô biên
1. Nguyện rằng Chư Phật thiêng liêng
Mười phương quá khứ, hiện tiền, vị lai
Con xin lễ kính các Ngài
Trọn tâm tha thiết, chẳng phai nhạt lòng
2.Nguyện con ngữ ý sạch trong
Ngợi ca cùng tột Đức – Công sâu dày
Mười phương Đức Phật xưa nay
Vô biên Trí – Hạnh , lớn thay không cùng.
3.Nguyện đem bảo vật cúng dường
Tòa sen , đèn lọng, hoa hương ..v.v… vô vàn
Con dâng cúng Phật hân hoan
Dù cho thịt nát, xương tan cũng đành
Pháp cúng dường – không gì sánh :
Y theo Chánh Đạo, thực hành thâm sâu.
Trọn nên Phật Quả nhiệm màu
Độ sinh vô lượng, vẹn câu “ cúng dường ”.
4.Nguyện bao lầm lỗi còn vương
Đem ra sám hối , triệt đường si mê
Vô biên tội – chướng nặng nề
Quyết tâm trừ diệt, trăm bề sạch trong.
5.Nguyện trong khắp cõi hư không
Thấy nghe công đức, khởi lòng hân hoan
Trên của Phật – Thánh, dưới phàm
Trọn tâm tùy hỉ, vô vàn vô biên.
6.Nguyện khi thời khắc thiêng liêng
Thế Tôn thành Đạo, con liền thiết tha
Quỳ dâng muôn vạn thiên hoa
Khẩn xin Phật thuyết bao la Pháp màu.
7.Nguyện khi Phật trụ đã lâu
Người toan thị hiện vào sâu Niết Bàn.
Con liền khẩn thiết xin van
Thỉnh Phật trụ thế muôn ngàn lâu xa.
8.Nguyện bao Hạnh – Trí mênh mang
Của mười phương Phật, vô vàn kiếp tu
Con xin học tập, cho dù
Nát thân, bỏ mạng, quyết tu cho thành.
9.Nguyện khắp tất thảy chúng sanh
Muôn sai vạn khác, quẩn quanh luân hồi
Vô biên kiếp cũng không thôi
Con xin cung phụng, đắp bồi Đạo tâm
Độ tất cả thóat trầm luân
Thành ngôi Chánh Giác, muôn phần an nhiên.
10.Nguyện bao công đức kể trên
Con đem phước báu vô biên xin dành
Hồi hướng khắp nẻo chúng sanh
Trọn nên Phật Quả, trọn thành Pháp thân.
Phổ Hiền mười nguyện Thánh nhân
Xin vô lượng kiếp quyết tâm phụng trì.
Hư không cùng tận, có khi
Còn mười nguyện đó chẳng khi nào dừng.
Thân – khẩu – ý nghiệp chẳng ngưng
Nối nhau không hở trong từng phút giây.
Vĩnh viễn chẳng thể lung lay
Xin trên Tam Bảo chứng ngay lòng thành.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật !
Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát !
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tam Bảo !
______________________
Như vậy, vì Đức Phật đã nhấn mạnh điều này, nên chúng ta bất luận là đang ở trình độ căn cơ nào, tu theo hướng nào, cũng đều cần chú trọng việc phát nguyện, nhất là Bồ Đề Nguyện : TRÊN CẦU THÀNH PHẬT, DƯỚI CẦU CỨU ĐỘ TẤT CẢ CHÚNG SINH.
Đó sẽ trở thành nền tảng vững chắc cho mọi sự tu hành của chúng ta kiếp này và vô lượng kiếp sau, cho đến khi viên mãn thành Phật Quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Đây là phương pháp phát nguyện được Đức Phật mười phương ca ngợi, thâu nhiếp mọi pháp môn Đại Thừa, do Phổ Hiền Đại Bồ Tát tuyên thuyết trong kinh Hoa Nghiêm. Dễ thực hành nhưng lại giúp chúng ta đạt được công đức vô cùng khủng khiếp. Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng :
“…Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn dùng bảy món báu thượng diệu và đồ an lạc tối thắng của Nhơn Thiên, rất nhiều đến nỗi đầy khắp tất cả thế giới như số cực vi trong vô lượng vô biên bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật khắp mười phương, đem bố thí cả cho bao nhiêu chúng sanh trong ngần ấy thế giới, cúng dường cho các đức Phật cùng Bồ Tát trong ngần ấy thế giới, trải qua vô số kiếp như số cực vi trong ngần ấy cõi Phật nối luôn không dứt, cúng dường bố thí như vậy được bao nhiêu công đức, đem sánh với công đức của người một phen nghe mười điều nguyện vương này, thì công đức trước không bằng một phần trăm, không bằng một phần ngàn, nhẫn đến cũng không bằng một phần ưu ba ni sa đà của công đức nghe kinh này.
…Vì thế nên nếu người trì tụng nguyện này, thì đi trong thế gian không bị chướng ngại, như mặt trăng giữa lừng ra khỏi mây mù, các đức Phật, Bồ Tát đều khen ngợi, tất cả hàng Nhơn Thiên đều nên lễ kính, tất cả chúng sanh đều nên cúng dường. Người thiện nam tử này trọn được thân người, nay đủ bao nhiêu công đức của ngài Phổ Hiền, chẳng bao lâu sẽ như Phổ Hiền Bồ Tát mau được thành tựu sắc thân vi diệu, đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu, nếu sanh ở cõi người hay cõi trời thì thường ở dòng cao quý, trọn có thể phá hoại tất cả đường ác, trọn có thể xa lìa tất cả bạn dữ, trọn có thể chế phục tất cả ngoại đạo, trọn có thể giải thoát tất cả phiền não, như sư tử vương dẹp phục bầy thú. Kham lãnh thọ sự cúng dường của tất cả chúng sanh.
Chẳng bao lâu sẽ ngồi nơi Bồ Ðề đạo tràng hàng phục quân ma, thành bực Ðẳng Chánh Giác giảng nói pháp mầu vi diệu. Có thể làm cho chúng sanh trong những cõi Phật như số cực vi trần đều phát tâm Bồ Ðề, tuỳ theo căn tánh của chúng sanh mà dạy dỗ cho thành thục, nhẫn đến cùng tận kiếp hải, có thể làm lợi ích tất cả chúng sanh một cách rộng lớn…”
Và đây là 10 điều nguyện vĩ đại ấy, được viết giản lược lại theo thể lục bát, dễ đọc, dễ nhớ:
VĂN PHÁT NGUYỆN PHỔ HIỀN THẬP HẠNH
Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật ! (1 lạy)
Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát ! (1 lạy)
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tam Bảo ! (1 lạy)
Con xin đem tấm lòng thành
Vô biên tha thiết, trời xanh thấu cùng
Dưới chân Từ Phụ bao dung
Phát lên lời nguyện vô cùng vô biên (1 lạy)
Nguyện rằng Chư Phật thiêng liêng
Mười phương quá khứ, hiện tiền, vị lai
Con xin lễ kính các Ngài
Trọn tâm tha thiết, chẳng phai nhạt lòng (1 lạy)
Nguyện con ngữ ý sạch trong
Ngợi ca cùng tột Đức – Công sâu dày
Mười phương Đức Phật xưa nay
Vô biên Trí – Hạnh , lớn thay không cùng. (1 lạy)
Nguyện đem bảo vật cúng dường
Tòa sen , đèn lọng, hoa hương ..v.v… vô vàn
Con dâng cúng Phật hân hoan
Dù cho thịt nát, xương tan cũng đành
Pháp cúng dường – không gì sánh :
Y theo Chánh Đạo, thực hành thâm sâu.
Trọn nên Phật Quả nhiệm màu
Độ sinh vô lượng, vẹn câu “ cúng dường ”. (1 lạy)
Nguyện bao lầm lỗi còn vương
Đem ra sám hối , triệt đường si mê
Vô biên tội – chướng nặng nề
Quyết tâm trừ diệt, trăm bề sạch trong. (1 lạy)
Nguyện trong khắp cõi hư không
Thấy nghe công đức, khởi lòng hân hoan
Trên của Phật – Thánh, dưới phàm
Trọn tâm tùy hỉ, vô vàn vô biên. (1 lạy)
Nguyện khi thời khắc thiêng liêng
Thế Tôn thành Đạo, con liền thiết tha
Quỳ dâng muôn vạn thiên hoa
Khẩn xin Phật thuyết bao la Pháp màu. (1 lạy)
Nguyện khi Phật trụ đã lâu
Người toan thị hiện vào sâu Niết Bàn.
Con liền khẩn thiết xin van
Thỉnh Phật trụ thế muôn ngàn lâu xa. (1 lạy)
Nguyện bao Hạnh – Trí mênh mang
Của mười phương Phật, vô vàn kiếp tu
Con xin học tập, cho dù
Nát thân, bỏ mạng, quyết tu cho thành. (1 lạy)
Nguyện khắp tất thảy chúng sanh
Muôn sai vạn khác, quẩn quanh luân hồi
Vô biên kiếp cũng không thôi
Con xin cung phụng, đắp bồi Đạo tâm
Độ tất cả thóat trầm luân
Thành ngôi Chánh Giác, muôn phần an nhiên. (1 lạy)
Nguyện bao công đức kể trên
Con đem phước báu vô biên xin dành
Hồi hướng khắp nẻo chúng sanh
Trọn nên Phật Quả, trọn thành Pháp thân. (1 lạy)
Phổ Hiền mười nguyện Thánh nhân
Xin vô lượng kiếp quyết tâm phụng trì.
Hư không cùng tận, có khi
Còn mười nguyện đó chẳng khi nào dừng.
Thân – khẩu – ý nghiệp chẳng ngưng
Nối nhau không hở trong từng phút giây.
Vĩnh viễn chẳng thể lung lay
Xin trên Tam Bảo chứng ngay lòng thành. (1 lạy)
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ! (1 lạy)
Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát ! (1 lạy)
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tam Bảo ! (1 lạy)
Chú Dược Sư, tên đầy đủ là DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH ĐÀ RA NI, là một thần chú trích trong kinh Dược Sư, nguyên văn kinh điển Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết như sau :
” …
Còn nữa, này ông Mạn Thù Sư Lợi, khi Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai đắc đạo Bồ Đề, do sức bản nguyện, mà Ngài soi thấy các loài hữu tình mắc nhiều bịnh khổ, như là những bệnh gầy còm, co quắp, khô héo, sốt vàng, hoặc bị trúng độc, ma mị trùng cổ, hoặc bị chết non, hoặc khi chết uổng. Ngài muốn khiến cho những bịnh khổ ấy, đều được tiêu trừ, và có cầu gì cũng được mãn nguyện, thời Ngài liền vào cảnh Ta Ma Đề gọi là cảnh Định, diệt hết khổ não cho các chúng sinh.
Đã vào Định rồi, ở trong nhục kế, phóng đại quang minh, trong đại quang minh diễn nói thần chú Đại Đà La Ni:
“NA MÔ BA GA GOA TÊ. BAI SAI GIA GU RU. VAI TUỘC GIA PRA BA. RA GIA GIA. TA THA GA TA GIA. ẠC HA TÊ. SAM GIA SAM BUT ĐA GIA. TA ĐI A THA ÔM. BAI SAI GIÊ BAI SAI GIÊ. BAI SAI GIA SAM MUT GA TÊ. XOA HA”
Khi trong quang minh nói thần chú rồi, trái đất chấn động, phóng đại quang minh, hết thảy chúng sinh, bịnh khổ đều trừ, được vui yên ổn.
Ông Mạn Thù này: thấy ai, nam, nữ nếu có bịnh khổ, thì nên nhất tâm, vì người bịnh ấy, tắm, gội, súc miệng sạch rồi, tụng chú một trăm lẻ tám lượt vào một thức ăn, hoặc vào vị thuốc, hoặc vào nước lọc, không có vi trùng, rồi đem cho uống, thì bịnh khổ gì cũng đều tiêu hết. Nếu có cầu gì, dốc lòng tụng niệm, cũng đều được cả, và lại còn được sống lâu, vô bịnh; sau khi mạng chung, sinh sang cõi kia, được ngôi Bất Thối, cho đến tận khi đắc đạo Bồ Đề. Bởi thế cho nên ông Mạn Thù ơi, nếu có nam tử nữ nhân nào mà có lòng tôn trọng, cung kính cúng dường Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nên thường trì chú, chớ để lãng quên…”
__________________________
Phương pháp trì tụng chú Dược Sư cũng như trì tụng các thần chú khác, chúng ta đọc đi đọc lại nhiều lần (trì) thần chú, duy trì ngày này qua tháng khác, tùy theo căn cơ, duyên phước của mỗi người mà đạt được linh ứng nhanh chậm khác nhau.
DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH ĐÀ RA NI
(Phiên âm theo tiếng Phạn)
NA MÔ BA GA GOA TÊ
BAI SAI GIA GU RU
VAI TUỘC GIA PRA BA
RA GIA GIA
TA THA GA TA GIA
ẠC HA TÊ
SAM GIA SAM BUT ĐA GIA
TA ĐI A THA ÔM
BAI SAI GIÊ BAI SAI GIÊ
BAI SAI GIA SAM MUT GA TÊ
XOA HA
( Nếu bạn cần nghe phiên âm, vui lòng bấm vào xem trong video ↓↓ )
_____________
(Phiên âm Hán – Việt )
NAM MÔ BẠC GIÀ PHẠT ĐẾ, BỆ SÁT XÃ,
LŨ LÔ THÍCH LƯU LY, BÁC LẶC BÀ,
HẮC RA XÀ DÃ.
ĐÁT THA YẾT ĐA THA, A RA HẮC ĐẾ.
TAM MIỆU TAM BỘT ĐÀ DA, ĐÁT ĐIỆT THA.
ÁN BỆ SÁT THỆ, BỆ SÁT THỆ, BỆ SÁT XÃ,
TAM MỘT YẾT ĐẾ TOÁ HA.
Đức Phật Dược Sư
Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật __()__
Tôi tên Trần Tuyết Trinh, hiện ở đường Kha Vạn Cân, Thủ Đức, TP HCM, có một chị bạn đồng nghiệp, làm chung công ty với nhau ở khu công nghệ cao, quận 9, TP HCM.
Chị tên đầy đủ là : Hứa Ngọc Thủy , sinh năm 1960, năm đó tôi 21 tuổi, chị cũng 50 tuổi rồi, đáng lí gọi bằng cô, nhưng trông chị còn rất trẻ, với làm chung công ty nên gọi chị em cho thân mật. Chị có dáng người nhỏ, làn da trắng. Gương mặt chị đầy vẻ phúc hậu với một nốt ruồi son điểm trên trán.
Chị quy y theo Phật từ hồi mới 10 tuổi, chị ăn chay từ năm 20 tuổi , rất am hiểu Phật Pháp, chị tên Thủy, pháp danh Diệu Kì, quê chị ở An Giang, ngay chợ Châu Đốc, nơi có sông Châu Đốc chảy ngang qua.
Chị kể, do cha mẹ bị tai nạn qua đời, nên từ năm 9 tuổi chị đã là trẻ mồ côi, phải tự lập mọi thứ. Năm 10 tuổi do thiếu thốn, nên chị có vào chùa xin cơm ăn, cũng từ nhân duyên đó, chị biết đến Phật Pháp.
Được một thời gian chị gặp sư trụ trì, bạch với thầy là mình muốn xuống tóc, nhưng thầy không cho, thầy nói chị có căn tu nhưng bụi trần chưa hết, nên xuất gia không được.
Vì chị có căn tu từ nhiều kiếp, nên được thầy chiếu cố đặc biệt, không cần đợi nhiều người mà làm lễ Quy y cho riêng mình chị.
Một hôm khi qua phòng trọ chị chơi, chị nấu một bữa đồ chay rất ngon đãi tôi. Được một lúc bỗng chị hỏi tôi:
– Em tin có cõi âm không ?
Tôi đáp:
– Em tin, nhưng em chưa được chứng kiến
– Vậy em tin lời chị nói không ?
– Tin chứ chị , vì chị mà em biết nhiều về Phật Pháp, biết đọc thần chú và cảm nhận sự mát rượi trong tâm hồn khi đọc chú ạ.
– Vậy em nè , chị sẽ kể cho em nghe chuyện về địa ngục, em có muốn nghe không ?
Tôi cười cười, chị này khéo biết nói đùa, chuyện địa ngục sao chị biết mà kể được. Chị lại tiếp:
– Chị sẽ kể bất cứ ai muốn nghe và đây hoàn toàn sự thật , em có căn nên em càng cần nghe
Và chị bắt đầu kể, giọng chị thong thả :
– Em biết không, hồi đó năm 18 tuổi, chị bị tai nạn xe xém chết , nhưng may chỉ bị chấn thương nặng ở tay và chân , chị chỉ bị va đập mạnh vào xe, bất tỉnh 7 ngày liền.
Tôi mới hỏi:
– Vậy ai chăm lo chị trong bệnh viện ?
– Là sư cô và thầy trụ trì, vì chị bị tai nạn gần nơi chị ở mà. Trong thời gian đó chị lạc vào một khoảng không màu tối, le lói chút ánh sáng chị thấy cha mẹ chị, rồi chị thấy Bồ Tát Địa Tạng nữa. Bình thường chị hay tụng kinh Địa Tạng, hết sức tôn kính Ngài, nay được gặp, chị mừng quá, nên khi ấy chị đã lạy ngài không biết bao nhiều cái, rồi chạy lại ôm cha mẹ mình. Chị hỏi Ngài đây là nơi nào, Ngài đáp đây là Địa Ngục, khiến chị vô cùng hoảng sợ.
Địa Tạng vương mới nói với chị :
– Con có nhiều phước đức gieo từ ba đời nên ta cứu con khỏi vòng địa ngục, thoát cảnh chết yểu , ta cứu con để làm lợi lạc nhân thế , đây là cầu biệt ly – Ngài chỉ về một cây cầu – con hãy từ giã cha mẹ để cha mẹ con đi đầu thai , còn con hãy về lại nơi đã đi , đừng quay lại , sau lưng con là địa ngục.
Lạy Địa Tạng Bồ Tát
Chị liền quỳ xuống và lạy Địa Tạng Bồ Tát, ngàn lần cảm kích ơn đức của ngài. Ngài nói tiếp:
– Trước con có một đời tu, nhưng con đã sát hại một sinh mạng còn non để cứu người khác, nên con phải chịu quả báo chết yểu. Cũng may, do con đã tạo công đức hồi hướng cho sinh linh đó siêu thoát, và đời này con tu học theo Phật tinh tấn không hoài nghi, nên thoát được nạn, ta hiện cho con biết.
– Dạ thưa Địa Tạng Vương Bồ Tát , xin ngài đại từ đại bi cứu chúng sanh muôn loài , và cho con thấy cảnh địa ngục như thế nào, để con lòng thêm định tâm ạ. Nam Mô A Di Đà Phật !
– Do con trồng thiện căn lớn từ kiếp trước nên ta sẽ dẫn con đi, trông thấy sự tình kinh sợ, con hãy ngậm viên này vào miệng và kiết ấn hai tay lại nhau.
Chị liền làm theo lời Địa Tạng Bồ Tát , hai cánh cổng sắt to lớn vô cùng mở ra, ở trên cửa có hình đầu chó miệng há to, trừng mắt dữ tợn.
Cổng vừa hé ra, lập tức ập đến tiếng ai oán, rên la của rất – rất nhiều người người gộp lại, cộng hưởng thành một tràng âm thanh khiếp đảm. Mặt đất nơi đây phủ một màn khói lan tỏa âm u , phía trên là một màn ánh sáng đỏ đỏ, xanh xanh chiếu khắp rộng mênh mông, trông rất ma quái. Từng lớp, từng lớp người nối nhau đi trùng trùng điệp điệp, đông đảo vô cùng , theo sau họ là quỷ sai nhiều vô kể đứng hai bên , chị và Ngài Địa Tạng đang bay trên hư không trên những người đó.
Chị hỏi Địa Tạng Bồ Tát, mà là hỏi bằng tâm thức chứ không phải bằng lời nói :
– Dạ thưa Bồ Tát cho con hỏi, những hàng người này là như thế nào ?
– Những người đi vào là người đến gặp Phán quan, những người đi ra là người đi tới cảnh giới khác.
– Dạ xin Bồ Tát cho con hỏi ngu muội, là sao không ai lễ bái Người mà chỉ chăm chăm lo đi thôi ạ ?
– Họ do vô minh nên không thấy ta, cũng như không thấy con, vì con đã được ta cho ngậm viên trấn hình rồi.
Chị ngang qua một cung điện như cung vua, nhưng trông u ám chứ không sáng sủa gì , rồi chị cùng Bồ Tát bay xuyên qua một bức vách đá, giống như nhũ thạch , đập ngay vào mắt chị là một màn hỗn chiến, thịt máu vương vãi khắp nơi, cảnh tượng hãi hùng : người với người hùng hổ lao vào đâm chém nhau không thương tiếc.
Đây đó cũng có những con thú như trâu bò, dùng sừng lao vào đâm túi bụi. Chị tập trung nhìn một người bên dưới, thấy anh ta bị chém tới chết, thân xác bấy nhầy, chết rồi hoàn hồn sống lại, lại bị chém tiếp, không biết được màn chém giết này sẽ lập đi lập lại bao nhiêu lần.
Thịt máu văng tung tóe, tiếng la hét đau đớn cùng cực , tiếng đao kiếm xoang xoảng, gộp lại thành một cảnh tượng kinh tâm khiếp đảm, bất cứ ai chứng kiến rồi đều phải bủn rủn, run sợ.
Chị hỏi Bồ Tát vì sao mấy người này lại đâm chém nhau như vậy, Bồ Tát nói rằng, đó là ngọn lửa sân si đốt cháy tâm thức của họ, họ không muốn thoát Ngài cũng không cứu được. Những người này là toàn kẻ buôn bán thịt cá , hoặc câu cá, giăng lưới, bắt các loài sinh vật, hoặc đâm thuê chém mướn…
Họ tự làm thì tự chịu, chứ cũng không thể cứu được, vì họ bị một màn vô minh che lấp. Tiếp theo, chị và Bồ Tát xuyên qua một nơi như miệng núi lửa bằng nham thạch nóng bỏng, chị cảm thấy sức nóng như thiêu như đốt dù chị đã ở rất cao, đây là ngục thứ hai.
Ngàn ngàn, vạn vạn người, dù không ai thúc ép, tự nhiên lao mình nhảy xuống biển lửa, rồi họ còn bị ngàn mũi tên xuyên qua , tiếng la hét, gào khóc kinh hồn như muốn xé tan cả màng nhĩ, lẫn linh hồn của người nghe thấy. Thực sự ngôn từ có cố gắng thế nào cũng sẽ không thể mô tả được những âm thanh, những quang cảnh kinh khủng của địa ngục. Đây chỉ là thuật lại một phần triệu tỉ những gì chị chứng kiến được. Lúc đó chị mới hỏi Bồ Tát :
– Bạch Bồ Tát, vì sao những người đó bị lửa thiêu, chết đi sống lại, và còn bị ngàn mũi tên bắn xuống xuyên người ? Vì sao Bồ Tát không cứu ?
Địa Tạng Bồ Tát trả lời :
– Những người này do tâm tham lam, bỏn xẻn, kẻ thì rút tiền của dân nghèo, kẻ thì yểm tà, mê hoặc lòng người để vơ vét tiền bá tánh , do bị vô minh ngăn che, không thấy Bồ Tát Địa Tạng trước mắt, muốn cứu cũng chẳng được, nếu như họ biết niệm Phật thì đỡ đau đớn rồi.
Qua hai ngục đó rồi, chị cùng ngài Địa Tạng Vương xuyên qua thêm một vách ngăn giống như thạch ngũ màu trắng, đường vân trên đó có những hình thù rất ghê rợn.
Rồi chị thấy những chông sắt, rồi cột sắt trùng trùng điệp điệp, tất cả đã nung nóng đỏ, chỉ có nóng hơn chứ không bao giờ nguội.
Người người lớp lớp phải ngồi lên những chông sắt đó, chúng dài khoảng hơn 10 cm , tất nhiên là đâu có ngồi yên được, bao nhiêu mũi chông sắc nhọn, cắm vào da thịt, đau đớn khôn siết, các tội hồn cứ trườn lên trượt xuống, xương thịt lòi cả ra ngoài, máu tuôn như mưa.
Đã thế từ đâu nước phân, nước dãi của các loài động vật tuôn ra, họ vừa tắm máu, vừa tắm phân dãi, chịu trận suốt không ngơi nghỉ.
Xong đâu chỉ có thế, từ trên trời sấm sét đánh xuống đùng đoàng, thiêu đốt tội hồn. Đây đó lại xuất hiện những tảng đá tròn, to, nóng phừng phực lăn qua người, trăm ngàn thứ đau đớn đổ dồn lại. Mức độ khủng khiếp ở đây, chị dám khẳng định không có nhà văn tài ba, lão luyện nào diễn tả bằng lời mà tả nổi cảnh chị chứng kiến.
Những kẻ nào tội nhẹ trong ngục này, thì ôm cột đồng lúc nóng như nham thạch , lúc lạnh như băng giá. Chị chưa kịp hỏi Địa Tạng Bồ Tát ngài đã nói :
– Ngục này dành cho những kẻ bất hiếu, trời không dung đất không tha, tội đã tạo khác nhau nên mới có những hình phạt nặng nhẹ khác nhau.
Trên đây chỉ là phần nhỏ của địa ngục này mà chị có thể thấy , chứ toàn bộ ngục thì rộng ghê hồn, em hãy tưởng tượng ngục nhỏ nhất cũng bằng hàng ngàn cây số đó.
Tôi nói :
– Vậy chắc ngục nhỏ thì bằng nước Việt Nam mình phải không chị ?
– Em nói đúng đó, mỗi ngục đều rất rộng , vô số chúng sanh trong đó, dầy đặc nhung nhúc. Ngục tiếp theo chị đến, dù kinh dị không bằng 3 ngục chị vừa kể, nhưng lại ghê tởm, ớn đến tận óc, từng cơn nổi da gà, ngục này chứa những hầm cơm dư thừa nhung nhúc dòi ngoe ngẩy, rồi cả bọ chét, kiến … đủ thứ côn trùng kinh tởm. Những người chịu phạt phải ở trong hầm đó, phải ăn nuốt những đồ ăn dư thừa, đã đổ bỏ phí phạm khi sống.
Còn có những hầm phân của các loài động vật, các tội hồn phải ở trong hầm “thưởng thức” hết những phân tiểu hôi thối nồng nặc ấy, đặc biệt là mỗi người một hầm, mỗi hầm chỉ to cỡ tòa nhà 5 tầng thôi, phân vơi đi lại tự động dâng đầy lên, mà khi nào “hưởng” hết một hầm đó thì mới đầu thai.
Và chị còn một loại hầm đặc biệt nữa , hầm đó chứa toàn xác chết, hôi thối tởm lợm, các tội hồn phải nuốt sống nuốt tươi những thứ thịt ấy, vì khi còn sống sát hại sinh vật , mổ heo mổ bò , bán thịt chó .v.v…Chứng kiến tận mắt cái hầm đó rồi, chị sợ phát khiếp nên chị mới phát tâm ăn chay tới nay, có tiền là phóng sanh , cầu sám hối tội cũ.
Tội nghiệp những chúng sanh trong đó, nếu họ chịu thành tâm niệm Phật, là Bồ Tát cứu được rồi, nhưng mê muội không niệm được thì Bồ Tát chịu. Bồ Tát từ bi, luôn thương xót những kẻ lầm đường lạc lối phịu hình phạt, đương nhiên là muốn cứu vớt họ, nhưng mà họ không phát tâm niệm Phật được thì Địa Tạng Bồ Tát cũng chịu thua.
Chị được Ngài dẫn qua một ngục khác. Ngục này thì chị thấy rất đặc biệt, vì có đầy vàng bạc, châu báu kim cương, tiền bạc chất như núi, lấp lánh rất đẹp, nhưng em biết không, họ phải ăn nuốt những thứ đó.
Các tội hồn bị những vàng bạc bao vây, từng tảng từng tảng rơi xuống như mưa đá, trúng người nào thì bể đầu nát óc, máu chảy như mưa , người thì bị đè , kẻ thì bị vàng bạc phóng xuyên người, hoặc rơi vào tai miệng tắc nghẽn ở đó, hoặc vàng bạc lọt vào bụng thì nở phình to ra hơn bụng của mấy bà bầu, vừa nặng vừa đau, Địa Tạng Bồ Tát nói : đó là hình phạt cho những người tham lam tiền bạc, ích kỉ bỏn xẻn, mua bán gian lận kiếm lời, những kẻ quan chức tham ô của dân.v.v…
Ở một chỗ khác, chị thấy có những chiếc xe không người lái cán nát bét những tội hồn, phọt cả óc, lòi cả xương ra, người này phải nhặt những mảnh xương thịt của người kia để tiến hành lắp ghép, hoàn xác sống lại, cứ như thế luân phiên nhau.
Ghê rợn nhất là cái màn ghép tay chân, tim phổi lại, không ghép thì tự người đó đau đớn kinh khủng. Cứ như thế trong một ngày mà từng người cứ diễn đi diễn lại thảm cảnh bị xe đâm nát bét, văng ra thành từng mảnh xương thịt, rồi lại chắp nối lại, cả ngàn lần chết đi sống lại, đây chính là quả báo của những tài xế cố ý đâm chết người, hoặc gây tai nạn rồi bỏ trốn.
Ở một chỗ khác, có cỗ máy rất to lớn, nghiền nát người ra từng mảnh nhỏ, thịt tuôn ra đến đâu, ruồi bọ bu đen đến đấy, rồi lại bị xay tiếp cho đến khi nát như bột. Xong rồi thì hoàn hồn lại, bắt đầu xay lại từ đầu. Tội hồn cứ như thế bị hành hình đến khi nghiệp hết, mới chuyển sang những ngục khác chịu hình phạt của những tội khác, đây cũng là địa ngục cuối mà chị đến.
Những địa ngục mà chị chứng kiến cũng chỉ là một góc nhỏ trong hàng ngàn cửa ngục ở đây mà thôi. Đâu đâu cũng là tột đỉnh đau đớn, quỷ khóc sói gào thảm thiết, đâu đâu cũng là xương tan thịt nát, chết đi sống lại đến vô cùng. Thật là buồn, loài người khi còn sống, sao cứ tạo ác để thọ nhận đau đớn như thế ? Sung sướng trong kiếp người thì đáng bao nhiêu khi so với những đau đớn tột cùng, nối nhau bất tận này ?
Sau đó, chị được Địa Tạng Bồ Tát dẫn lên dương thế, đến chỗ thân xác bất động của chị.
Bồ Tát nói chị hãy nuốt viên ngọc Bồ Tát từng đưa cho chị lúc trước, mà nãy giờ vẫn ngậm khi chị tham quan cảnh địa ngục.
Chị nuốt xuống từ từ, và thấy Bồ Tát niệm câu gì đó, hồn liền nhập lại vào thân xác, chị bật tỉnh, nhìn hướng Bồ Tát đang đứng thì không thấy Bồ Tát nữa, nhưng chị vẫn nghe âm thanh Ngài nói văng vẳng trong tâm:
– Con hãy tu học Phật tinh tấn hơn nữa, rồi con sẽ thấy những cảnh khác, và hãy làm lợi lạc cho chúng sanh khi họ cầu học Phật Pháp.
Chị bật ngồi lên, giống như người đã lành hẳn, quỳ sụp xuống lạy Bồ Tát, lạy không biết mệt , vừa lạy vừa khóc như mưa, rồi khi đó mọi người ùa đến bên chị…
***
Đã lâu rồi tôi bị mất liên lạc với chị, thật đáng tiếc. Hi vọng nếu hữu duyên chị đọc được bài viết này, chị em mình lại có cơ duyên được tương phùng.
( Trần Tuyết Trinh tự thuật – fb: bạch tuệ ngọc)
(Quang Tử)
Trong cuộc sống, đôi khi ta gặp một người lạ, hay một con vật lạ, dù ta chẳng hề động chạm gì họ mà họ cứ ác cảm với ta, tìm cách hại ta, làm mọi việc khiến ta đau khổ. Cũng có khi người gây đau khổ cho ta lại là chính là những người thân trong gia đình. Đây gọi là “oan gia đối đầu”. Nguyên nhân là vì những kiếp xưa, chúng ta đã gây hại với họ, gieo rắc đau khổ cho họ, nhân quả tuần hoàn, kiếp này gặp lại, không vì lí do này thì sẽ vì lí do khác, họ sẽ hành hạ ta để đòi lại nợ cũ.
Nhìn rộng ra, chúng ta đều đã sống qua vô số kiếp. Mỗi kiếp đều gây thù chuốc oán với chúng sinh không ít, đơn cử như việc hàng ngày đều phải giết thịt con này con kia để nuôi thân, thế thôi cũng đã tạo ra vô số oan gia rồi. Các loài chúng sinh, người hay súc sinh, kể cả ma quỷ, trong vô số kiếp qua đã từng cùng ta kết nhiều mối thâm thù, khi thì bắt giết ăn thịt, khi thì đánh đập hành hạ, khi cướp đoạt, khi lừa đảo…tạo ra vô số món nợ ân oán chằng chịt.
Đáng sợ nhất là những chúng sinh có thâm thù với ta, mà họ đang lảng vảng trong cõi ma quỷ. Ví dụ như kiếp trước ta giết họ, nay họ tìm đến trả thù, hoặc chẳng đâu xa, những con vật từng bị ta giết, ăn thịt trong kiếp này, cũng thường bám theo ta tìm cách trả thù. Bằng cách nào ?
Rất nhiều cách, như khiến chúng ta lâm bệnh, nặng thì ung thư, nhẹ thì đau nhức, đủ loại bệnh tật. Hoặc làm cho gia đình xào xáo, cãi vã, hành hạ nhau. Hoặc “ma dẫn lối, quỷ đưa đường” khiến ta gặp thất bại trong việc làm ăn, thậm chí họ có thể xô đẩy, che mắt khi ta đang chạy xe trên đường khiến ta tai nạn, hoặc bỏ mạng .v.v…
Một số người không hiểu nguyên lí này, khi biết mình bị một số vong linh “ám”, gây ra bệnh tật, xui xẻo… thì liền tìm thầy chấn yểm, trục vong, hoặc cúng bái những quỷ thần mạnh hơn, cầu họ tống khứ những vong hồn hiện đang đeo bám. Như vậy, vốn từ trước đã có oán thù, nợ nần chưa trả hết, nay lại tăng thêm một tầng oán thù, nợ nần dầy lên một lớp nữa, giống như dập lửa bằng cách đổ thêm dầu vào. Cho dù tạm thời có được chút yên ổn, nhưng tương lại chắc chắn các vong hồn oan gia sẽ quay lại trả thù dữ dội hơn. Vì đây là quy luật tự nhiên, có nợ thì phải trả, không thể khác đi được.
Bạn cần một minh chứng rõ ràng ? Vây bạn có thể đọc hai câu chuyện sau :
http://nhanqua.com.vn/kinh-ngac-nhung-can-benh-do-vong-linh-bao-oan/
http://nhanqua.com.vn/ba-tram-le-ba-mang/
Như vậy, làm thế nào để hóa giải mối oán hận của những oan gia trái chủ đó ? Chỉ có sám hối, và hồi hướng công đức cho họ, cho đến khi họ chịu buông tha, ta mới thoát được.
Rất nhiều người đã khỏi bệnh nhanh chóng, sau khi đã sám hối với các oan gia trái chủ, đơn giản thôi, bệnh do họ (các oan gia) tạo ra, nay họ chịu buông tha, thì bệnh sẽ biến mất. Thậm chí có người đang rất xui xẻo, nhưng chỉ cần sám hối với oan gia trái chủ, xui xẻo cũng tan biến.
Có một người bạn trên facebook, nhắn tin hỏi Quang Tử than thở rằng, tại sao cô ấy đã tu đủ các môn, lạy Phật rất nhiều, cúng dường bố thí, phóng sinh… nhưng sao cuộc sống vẫn lận đận, mãi không xin được việc. Quang Tử liền gửi cho cô ấy bài cúng “Sám hối oan gia trái chủ”, cô ấy lập tức thực hành. Cúng hôm thứ hai, thì thứ sáu xin được một công việc rất tốt.
Điều này không có gì lạ, giống như ta đang đi xe đạp trên đường, thì bánh xe bị vướng phải bùi nhùi, kẹt cứng lại không thể chạy. Lúc này, dù ta cố sức đạp mạnh thế nào thì xe cũng chỉ nằm ì một chỗ. Nhưng chỉ cần ta xuống gỡ đống bùi nhùi ra khỏi bánh xe, là xe lại chạy được bình thường.
Và đây là Nghi thức Sám hối – Cầu siêu Oan gia trái chủ:
http://nhanqua.com.vn/http-nhanqua-com-vn-nghi-thuc-sam-hoi-oan-gia-trai-chu/
Tôi họ Đặng, là một bác sĩ trị liệu tâm lí, trong chuyên khoa của tôi có một phương pháp gọi là thôi miên trị liệu. Trong quá trình điều trị cho các bệnh nhân, tôi, cũng như rất nhiều bác sĩ khác (nổi tiếng nhất có lẽ là tiến sĩ Brian Weiis ở Hoa Kì) đã phát hiện ra cách thức thôi miên để cho bệnh nhân nhớ lại các kiếp quá khứ, và nhờ phương pháp này, rất nhiều bệnh nhân đã khỏi bệnh một cách rất đáng kinh ngạc.
Hôm qua, một cô gái từ Đông Hoan gọi điện thoại tới, ngỏ ý muốn được thôi miên và hỏi ngày nào rảnh? Tôi hẹn cô tuần sau.
Nghe vậy cô tỏ vẻ rất sốt ruột, nói:
– Không được, ông Đặng ôi, xin hãy làm ơn… ông có thể giúp cho tôi sớm hơn không?
Nghe giọng nói gấp gáp của cô, tôi đoán chắc cô có chuyện gì cần lắm, bèn hẹn cô ngày mai.
Hôm nay, mới hơn 9 giờ sáng, cô đã đến. Đó là một cô gái 29 tuổi, chưa kết hôn.
Cô kể mình họ Thẩm, tôi tưởng cô có gì cấp bách mới cần thôi miên gấp, hóa ra là do cô tò mò chỉ muốn biết tiền kiếp mà thôi.
Cô Thẩm là người thật thà chất phác, lớn lên ở miền quê, cha mẹ đều là nông dân. Cô có một em trai và một chị. Trong mắt mọi người ai cũng tưởng cô có tuổi thơ hạnh phúc, nhưng không phải vậy. Ngay từ nhỏ cô đã bị xem là đứa bé ngu ngốc, vì 8 tuổi mới đi học nhưng cô không thể viết chữ. Do vậy mà cha mẹ không thương, gia đình thường xảy ra nhiều chuyện khiến cô đau lòng.
Cô còn bị bệnh viêm gan lâu năm, trước đây gan hay bị đau. Cô có trí nhớ cực tồi, cô đã đến chùa làm công quả hai năm, được mọi người dạy niệm câu: “Nam Mô A Di Đà Phật”, nhưng cô không nhớ nổi. Ngực cô thường đau, luôn có cảm giác khó thở. Ngón tay út và áp út bên phải bị đơ cứng, khiến nhiều lúc cầm đũa cũng không được. Từ nhỏ cô hay bị ảo thính, tức là thường nghe có tiếng người nói bên tai…
Tôi hỏi cô vài câu đơn giản xong, thì bắt đầu giúp cô vào cuộc viễn du thám thính tiền kiếp…
Đầu tiên, tôi dẫn dụ theo phương thức thông thường, nhưng thấy cô không có chút phản ứng gì. Chả lẽ cô thực sự quá ngu độn ư? Xem tướng cô thấy cũng không đến nỗi tối tăm lắm, có vẻ là người thật thà. Do cô không thông minh lanh lợi, nên tôi đành hướng dẫn từ từ để khơi lại ký ức tiền kiếp của cô.
Khi tôi bảo: Cô hãy nhớ về năm lớp 10! Thì cô mô tả mình thấy cảnh một bạn gái cùng lớp đang trò chuyện yêu đương tình tứ với một thanh niên, cô bèn chỉ cho một nữ sinh khác nhìn, thế là cô nữ sinh này liền đem chuyện ấy mách với nữ giáo sư, cô giáo bèn xử phạt nữ sinh kia, khiến cô ta xấy hổ bỏ nhà ra đi và bị người lường gạt đem bán đến một nơi rất xa, may là cô ta lanh trí chạy trốn được, nên không bị xâm hại. Khi cô Thẩm thấy đến đây, thì lộ vẻ rất hối hận, cô bật khóc, lệ tuôn đầm đìa ….
Lần thôi miên đầu kết thúc, cô bảo ngực mình đã cảm thấy dễ thở rất nhiều, nhưng hình như vẫn còn chút gì đó ngăn trệ bên trong.
Khi tôi bắt đầu cuộc thôi miên lần hai, chuyện ngoài sức tưởng phát sinh.
Cô Thẩm nói: Hình như có gì đang ở trong ngực, trong não tôi!
Tôi liền hướng dẫn tiếp tục, thì đột nhiên cô nói bằng giọng đàn ông, nghe rất hung ác. ( Đây là do các oan gia trái chủ nhập vào )
Tôi vội hỏi:
– Ông là ai?
– TA LÀ KẺ BỊ TÊN NÀY SÁT HẠI!
– Giờ ông muốn thế nào?
– TA MUỐN NÓ CHẾT! QUYẾT KHÔNG THA!
Giọng nam thốt ra với vẻ vô cùng hung ác. Tôi ngẩn ngơ. Vậy rốt cuộc là chuyện gì nữa đây? Dần dần tôi hỏi chi tiết mọi chuyện, mới hiểu ra:
Sự việc phát sinh vào đời Tống. Lúc đó cô Thẩm là một ông quan hơn 40 tuổi (tạm gọi là ông Khánh cho độc giả dễ phân biệt). Trong cơn thôi miên hiện thời, cô Thẩm (tức là ông Khánh) với vẻ cực kì tức giận và nói bằng giọng đàn ông đầy phẫn nộ xung thiên:
– Đáng hận quá, ta muốn giết tên Khang!
– Vì sao muốn giết?
– Hắn rất đáng chết vì dám khởi ý phản bội, mưu tính … lấy đầu ta!
Té ra tên Khang là quan thuộc hạ trong triều, đang âm thầm liên kết với nhiều người để làm hại ông Khánh.
Do đã biết trước, nên một ngày nọ ông Khánh dẫn theo nhiều binh sĩ, xông vào nhà Khang, giết sạch toàn gia trang ba trăm lẻ ba người, riêng quan thuộc hạ Khang bị ông Khánh đâm trúng tim mà chết. Còn hai người nữa cũng bị chặt đầu mà chết. Vì vậy kẻ gá vào ngực hành hạ cô Thẩm chính là Khang (do hắn bị đâm trúng tim mà chết, nên bây giờ trả thù bằng cách hành đau nơi ngực) còn hai vong bị chặt đầu thì gá vào não cô. Riêng ba trăm người kia thì một số gá vào đầu, số thì gá vào tay phải (vì lúc tàn sát họ, cô cầm gươm bên tay phải).
Cô Thẩm đến 8 tuổi mới đi học, nhưng không thể viết chữ, trí óc không thông minh linh họat, tim thường bị đau.. là do có liên quan đến vụ “Đại thảm sát ba trăm lẻ ba mạng” này…
Sau khi thôi miên kết thúc, tôi bảo cô Thẩm:
– Hồi nhỏ không phải cô ngu ngốc hay đần độn gì cả!
Cô nói cô cũng biết rõ mình không có ngốc, nhưng hễ muốn viết chữ, thì tay cứng đơ không nghe theo, giống như cố ý chống lại cô vậy. Hơn nữa trong não cô luôn lộn xộn rối ren, nên không thể nhớ được gì.
Đối diện với hơn ba trăm mạng còn ôm đầy hận oán, tôi chỉ có thể hướng dẫn, điều đình … xin họ hóa giải… Tôi khuyên cô Thẩm hãy nhận lỗi, sám hối.
Thế nhưng chỉ có một số ít vong linh chịu tiếp nhận, còn đa số khăng khăng ôm oán, cương quyết không tha thứ, nhất định đòi báo thù…Tôi nhắc họ: Đây là nhân quả, cái gì cũng có nguyên nhân đầu tiên. Do họ không phục nên tôi đành phải thôi miên cô Thẩm tiếp, dẫn dụ cô đi sâu vào kiếp trước đó nữa, để tìm cho ra nguyên nhân đầu tiên, hầu có thể giúp hai bên hóa giải hận thù…
Lần này cô Thẩm kể:
Kiếp đó vào triều Đường, cô là một phú ông họ Trương khoảng ba mươi mấy tuổi, rất giàu, có đông người hầu hạ.
Thình lình một hôm nọ, có ba người bịt mặt, dẫn theo mấy chục người, tay cầm vũ khí xông vào dinh thự của Trương phú gia để cướp, nhưng ông Trương cương quyết chẳng nộp tiền cho chúng, nên cuối cùng không những ông bị bọn cướp giết chết, mà toàn gia ông (hơn trăm người) cũng bị chúng giết sạch để diệt khẩu.
Khi cô Thẩm nhớ đến đây thì lộ vẻ vô cùng sợ hãi, toàn thân run rẩy, cất tiếng van xin như thể đang là Trương Phú gia:
– Xin đừng giết tôi! Đừng giết tôi!
Thế nhưng tên đầu đảng bịt mặt vẫn giết chết ông, hắn ra tay độc ác: Đâm một đao vào tim ông Trương.
Cô Thẩm nói, mặc dù họ bịt mặt, nhưng cô vẫn nhận ra tên đầu đảng giết mình chính là kẻ từng làm công cho mình trong kiếp đó. Do thấy hắn làm việc quá tệ nên Trương phú hộ không hài lòng, đã đuổi cổ hắn, vì vậy mà hắn ôm hận, kết bè đảng, rủ nhau đi cướp của ông.
Ngay giây phút cô Thẩm nhớ lại tiền kiếp kia, thì trong số ba trăm oan quỷ kia, rất nhiều oan quỷ cũng đồng thời nhận ra được họ từng là những kẻ cướp gian ác… nên không còn ôm lòng oán hận nữa! Có thể do lúc cô Thẩm nhớ lại tiền kiếp ở triều Đường, thì bọn oan quỷ cũng nhìn thấy và nhận ra lỗi lầm của mình, cho nên không cần tôi phải khuyên gì nữa, tất cả bọn họ đều đồng ý hòa giải, buông hết hận thù…
Sau đó, tôi kể cho họ nghe về thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà, về hạnh nguyện từ bi của Ngài, tôi miêu tả quốc độ này rất thù thắng trang nghiêm và khuyên họ hãy niệm Phật cầu sinh Tây Phương. Bọn họ rất hoan hỉ tiếp thọ…
Cuối cùng tôi hướng dẫn họ đồng niệm: “Nam Mô A Di Đà Phật”… theo tôi! Ngay trong lúc Phật hiệu vang vọng, cô Thẩm bảo tôi, cô thấy rõ bọn họ xếp thành hàng, từng người, từng người đứng trên hoa sen, theo Phật A Di Đà, Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí và dần dần biến mất giữa không trung.
Khi cuộc thôi miên kết thúc, cô Thẩm bảo toàn thân cô nhẹ nhõm, đầu óc tỉnh táo hẳn.
Nhân quả báo ứng không sai mảy may, oan oan tương báo, không bao giờ dứt, hơn nữa càng báo oán, thù càng sâu nặng. Mới đầu là giết hơn trăm người, đến lúc báo thù thì thành ba trăm lẻ ba người.
Chỉ có buông bỏ oán thù, chân thành sám hối…mới mong thoát khỏi cảnh ngang trái, đau khổ bất tận này.
Trong sinh hoạt thường nhật, cần đem hết tâm thành đối đãi bình đẳng với tất cả, như vậy thì oán kết đời trước tự nhiên sẽ được tháo gỡ.
Giáo sư Đặng
(Trích Báo ứng hiện đời 6, Hạnh Đoan sưu tầm và biên dịch)
_________________
Lạm bàn:
Nhiều người luôn cho rằng, mình ăn hiền ở lành, chẳng hại ai bao giờ, nên phải chịu quả báo đau khổ là điều bất công. Thế nhưng người đó không hiểu được rằng, có rất nhiều loại tội lớn nhỏ ta thường phạm trong đời, ta không giết người nhưng ta giết rất nhiều súc sinh, ta không phạm tội tà dâm với vợ người khác, nhưng tâm ta thường khởi ý nghĩ dâm tà, miệng ta thường nói lời dâm ô, v.v… rất nhiều loại tội lỗi khác nhau, nhất nhất đều có quả báo.
Và quan trọng hơn, đó là bệnh tật, khổ đau hiện tại là do nghiệp của nhiều kiếp trước dồn lại, do oan gia trái chủ kiếp xưa vẫn đeo theo báo thù, đòi nợ, giống như cô Thẩm trong câu chuyện trên.
Cô ta bị bệnh là do ba trăm lẻ ba oan gia kiếp trước đến đòi nợ máu, nhưng nếu không có người thôi miên cho nhớ lại tiền kiếp, thì ai cũng sẽ nghĩ là cô ấy vô tội, mà thực tình thì không phải thế. Rất nhiều người cũng bị như vậy, nhưng không phải ai cũng gặp được một người giúp cho nhớ tiền kiếp mà biết được.
Vậy nếu như ta không thể tìm được ai biết được tiền kiếp của ta, thì không có cách nào giải quyết được sao ?
Rất may là vẫn giải quyết được. Cho dù ta không biết oan gia trái chủ của ta đến từ kiếp này hay kiếp xưa, là người hay là súc sinh, ân oán như thế nào… nhưng nếu ta sám hối với họ, cầu siêu cho họ, thì họ dần dần sẽ tha thứ cho ta, và bệnh tình sẽ tự bình phục. Nghi thức Sám hối – cầu siêu oan gia nằm trong Phụ Lục ở cuối sách, bạn có thể mở ra và thực hành luôn.
Có điều, oan gia có rất nhiều tâm tính khác nhau, có oan gia dễ buông bỏ, có oan gia ôm chặt lòng hận thù, quyết “ rửa hận” đến cùng. Nên khi sám hối – cầu siêu cho oan gia, ta cần phải kiên trì, nếu sám hối – cầu siêu một hai lần chưa hết, ta cứ tiếp tục mười lần, hai mươi lần… chắc chắn rồi họ cũng sẽ tha thứ, cũng sẽ siêu hết.
Đây là câu chuyện có thật xảy ra vào đầu năm 1990 ( tên các nhân vật trong chuyện vì lí do tế nhị đã được thay đổi).
Trương cục trưởng bị mắc một căn bệnh lạ, tự nhiên người ông phát lạnh khủng khiếp tới nỗi buốt đầu váng óc, run lật bật. Từ lúc mắc căn bệnh kì quái này, mặt ông tái nhợt, toàn thân ẩm ướt, không chút sức lực, dù trời mùa hè mà ông vẫn phải mặc áo bông, cho nên ông phải nằm nhà để dưỡng bệnh.
Hai năm nay, ông đã đi khắp các bệnh viện nổi tiếng , tiêu tốn cả mấy chục triệu, nhưng không nơi nào tìm ra căn bệnh của ông, vô phương chữa trị.
Gần đây có người họ hàng giới thiệu một vị Đại Sư có mắt âm dương, ngài có thể chữa trị bệnh tật dù các bệnh viện đã bó tay.
Trương cục trưởng nghe người họ hàng nói vậy, ông chẳng tin nên từ chối không chịu gặp. Sau người thân khuyên mãi, ông đành nghe theo, ông cũng muốn thử xem, biết đâu gặp thầy gặp thuốc có thể khỏi được bệnh.
Khi Đại Sư được mời tới, Trương cục trưởng đang nằm trên giường, ngày hè tháng năm mà ông lạnh tới nỗi răng va vào nhau lập cập.
Vị Đại Sư khoảng hơn 50 tuổi, trông còn trẻ nhưng tướng mạo thuần khiết, chất phác phúc hậu. Ngài chỉ liếc sơ ông Trương một cái, thì ông đã run lẩy bẩy, tỏ ra cực kì kinh sợ.
Đại Sư như hiểu ra được vấn đề, dịu dàng nói:
– Vong linh đang chịu oan khuất kia đừng sợ, ta đến là để giúp ngươi giải oan, tuyệt không hề có ý làm hại, xin hãy yên tâm, đừng lo lắng.
Rồi Đại Sư trầm ngâm suy nghĩ một lúc và nói:
– Ai là thân nhân của Trương cục trưởng thì ở lại nói chuyện với tôi, còn những người khác xin vui lòng tránh đi hết cho!
Mọi người đã ra hết, trong phòng giờ chỉ còn lại Trương cục trưởng và cô em gái khoảng hơn 30 tuổi.
Đại Sư bắt đầu lên tiếng:
– Thực ra bệnh này cũng dễ trị, nhưng phải xem thái độ của Trương cục trưởng như thế nào?…
Em gái ông Trương nghe nói bệnh anh mình có thể chữa lành thì rất mừng, vội vàng hỏi cách chữa trị?
Đại Sư giải thích:
– Bệnh này do hồn của một cô nương tìm đến báo oán, cô này vốn là em vợ ông Trương, chuyện giữa hai người, ông là người rõ nhất…
Đại Sư vừa nói dứt lời thì sắc mặt vốn đang xanh lét của ông Trương bỗng đỏ bừng lên rồi chuyển sang tái nhợt, rất khó coi.
Em gái ông Trương như sực nhớ ra chuyện gì, bèn nói:
– Ý Đại Sư là giữa anh con và cô em vợ có tên là Lâm Lâm? Cô ấy đã bị chết đuối khi còn rất trẻ ạ…
– Chuyện này thì cô nên hỏi anh trai mình sẽ rõ, nếu cô ta tự ngã xuống nước chết đuối, thì đâu cần phải ôm hận, về đây báo oán?
Đại Sư nói tiếp:
– Cái chết của cô Lâm có liên quan đến anh trai cô, ông ấy đã làm hại tới hai mạng người! Hiện giờ không có người ngoài, xin ông Trương hãy tự mình nói ra mọi chuyện, nếu không làm sao tôi có thể chữa trị cho ông được?
Em gái ông Trương không hiểu chuyện gì, mặt ngơ ngác. Còn ông Trương lúc này đầu cúi gằm xuống, không nói lời nào, nhưng hình ảnh quá khứ lại hiện về trong tâm trí ông:
Lúc đó ông đã kết hôn được hai năm thì cha mẹ vợ ông bỗng nối tiếp nhau tạ thế, bỏ lại đứa con gái út mới mười sáu tuổi. Vợ của ông do gia cảnh chỉ có hai chị em, không còn cách nào khác đành rước em gái mình về ở chung nhà.
Hôm nọ, vợ ông có việc phải ra ngoài qua đêm. Ông Trương để ý thấy cô em vợ tuy nhỏ tuổi nhưng thân thể thì như thiếu nữ, lòng dâm bộc phát, thế là tối đó ông dụ dỗ cưỡng đoạt em vợ mình.
Nào ngờ, sau đêm đó Lâm Lâm mang thai, do tuổi còn nhỏ nên cô vô cùng sợ hãi, lại thêm không dám nói thật với chị mình, bụng càng ngày càng to, nếu như để người ngoài biết được thì càng thêm xấu hổ… Lâm Lâm rơi vào tình cảnh nếu như không chết thì cũng bị phỉ nhổ, ghét bỏ… Cùng đường nghĩ quẫn nên cô nhảy sông tự vẫn.
Đại Sư quan sát thấy ông Trương cứ ngồi im không chịu nói gì, liền lên tiếng:
– Có vẻ như ông không muốn ta chữa bệnh cho? Thôi thì ta về đây.
Em gái ông Trương thấy Đại Sư muốn về, bèn nhắc nhở anh:
– Anh Hai, chúng ta đều là người nhà mà, có gì khó nói chứ? Muốn trị khỏi bệnh thì anh phải kể hết mọi chuyện ra như thầy yêu cầu đi!
Thấy ông Trương vẫn không chịu mở miệng, em gái ông đành quay sang năn nỉ Đại Sư, xin ngài chỉ bảo cho.
Đại Sư đành đem những gì mình nhìn thấy kể hết ra và thở dài bảo:
– Xem như ông … hại tới những hai mạng người! Chứng lạnh rét trên thân ông là phản ánh cảnh giới thọ khổ của vong linh cô nương bị oan khuất tủi nhục kia.
Ông Trương vô cùng bất ngờ vì hôm nay mình lại gặp được một người có thần thông (mắt âm dương) biết rõ ẩn tình trong quá khứ của mình như thế.
Lúc này ông mới tỏ thành ý: Nếu như được lành bệnh, Sư dạy gì ông cũng sẽ làm theo.
Đại Sư nói:
– Tốt! Vậy thì nội trong 7 ngày thôi, ông sẽ thấy mình khỏe lại, sang ngày thứ 8 thì qua đón tôi tới làm lễ siêu độ vong linh.
Đại Sư còn nhấn mạnh:
– Nếu như ông không thực lòng sám hối, chẳng muốn siêu độ đàng hoàng cho vong linh, thì bệnh sẽ không lành đâu nhé! Hãy nhớ kĩ lời tôi nhắc nhở…
Quả nhiên tới ngày thứ 3, chứng rét run trên người ông Trương biến mất, ngày thứ 4, thứ 5, ông đã có thể xuống giường bước đi… đến ngày thứ 7, thấy trên thân không còn cảm giác bệnh tật, chỉ thấy sức khỏe còn hơi yếu thôi. Tính ra đã hai năm rồi ông không có được cảm giác khỏe khoắn, dễ chịu như thế này, ông ngắm nhìn bầu trời, lòng cảm thấy cực kì hưng phấn.
Nhưng qua ngày thứ 8, ông không thèm đến thỉnh Đại Sư tới để cúng siêu độ vong linh.
Ông thầm nghĩ : Mình đã khỏe được thế này, xem như bệnh lành rồi, thì còn đến thỉnh Đại Sư làm gì nữa? Cho dù ổng có là thần tiên , mình cũng không muốn đối mặt với người biết rõ chuyện xấu mình từng làm…
Qua ngày thứ 9, bệnh ông Trương bỗng nhiên tái phát mãnh liệt, mức độ còn nặng và nguy hiểm hơn cả trước đây: Toàn thân ông rét run, răng va vào nhau lập cập, mặt tái nhợt… Nhìn giống như người sắp chết tới nơi.
Thấy tình thế cấp bách, vợ ông vội kêu xe đến mời Đại Sư, nhưng Ngài đi vắng, nghe nói hai ngày sau mới về. Nhưng chưa đợi được Đại Sư về thì ông Trương đã chết.
Sau đó, tôi hỏi Đại Sư, vì sao Ngài lại đi vắng?
Đại Sư đáp:
– Hạng người bội tín, chẳng có lòng tin, hành xử vô lương tâm, thì tôi không cách nào chữa trị được, chỉ phí công vô ích thôi… hãy xem ông ta hại cô em vợ, tính thêm đứa con trong bụng nữa là hai mạng người, tội này lớn lắm!
Vì sao tôi biết chuyện, nhưng vẫn muốn ông ta tự nói ra? Chính vì tôi muốn tạo cho ông ta có cơ hội phát lộ sám hối, tự mình thú nhận, kể tội trước gia đình… Nhưng ông ta không hề biết lỗi, không một chút ăn năn. Hạng người như thế, tôi làm sao có thể trị bệnh giúp cho được?
Oan có đầu, nợ có chủ, đành phải đứng nhìn oan quỷ đến bắt ông ấy đền tội thôi!
Đại Sư còn kể thêm cho tôi nghe, những kẻ hại người , vướng phải bệnh kì quái… Ngài đã từng gặp qua rất nhiều, nhưng đa số đều chữa khỏi, tùy vào tâm thiện và tấm lòng thành tâm sám hối của họ.
Chẳng hạn như có một ông cán bộ tên Xuân, bị đau lưng đã mười mấy năm, đau đến nỗi ông cứ nằm trên giường lăn lộn, rên siết… Tuy đã đi khám, uống thuốc chất đống mà chẳng chút thuyên giảm.
Sau đó ông ta tìm đến Đại Sư, Ngài bảo:
– Hồi mới giải phóng, ông có giết một tù binh rất tàn nhẫn, giờ hồn người ấy tìm ông báo thù! Tù binh đó là thủ lĩnh bên địch, rất ương bướng, ngoan cố. Lúc đó ông làm trung đội trưởng, bèn sai lính của mình thừa lúc đêm tối, đứng phía sau chém vào lưng tù binh này, khiến người này chết ngay.
Ông Xuân nghe đến đây, vô cùng khâm phục Đại Sư, và làm y theo lời dặn của Ngài: Ông về nhà siêng năng tụng kinh niệm Phật, hành thiện tích đức, chí thành làm cỗ chay cúng cầu siêu cho nạn nhân.
Kể từ đó lưng ông Xuân hết đau, từ đấy về sau ông sống rất cẩn trọng, không dám phạm sai lầm nào dù nhỏ nữa.
Đại Sư nói thêm:
– Làm người trên thế gian, sống phải có lương tâm. Bản thân nếu lỡ làm ác, thì phải biết ăn năn sám hối, tu sửa chuộc lỗi. Chỉ những ai sống có lương tâm, biết nhận lỗi sửa sai … Thì tôi mới có thể giúp trị lành bệnh.
(Trích” Báo Ứng Hiện Đời 7”
Dịch giả: Hạnh Đoan, hiệu đính:Thiện Như )
_________________
Lạm bàn:
Sám hối oan gia quan trọng nhất là phải thành tâm sám hối, vì các vong linh oan gia luôn “đi guốc trong bụng” mỗi người, biết rõ từng người đang nghĩ gì, thành thật hay giả dối, nếu chỉ nghĩ đến tụng kinh , niệm Phật… làm chỉ cốt để bản thân mình khỏi bệnh, thoát nạn, chẳng nghĩ đến nỗi đau đớn các oan gia trái chủ đã chịu trong quá khứ, chẳng biết hối hận những tội lỗi mình đã phạm, chỉ chăm chăm vào việc nhờ thầy này sư khác giải bệnh cho mình, lại gặp đúng những oan gia thù dai, không chịu buông tha, thì thầy bà nào cũng không giải nổi.
Nếu các thầy cúng, pháp sư cố ý dùng thần thông đuổi các oan gia đi, hay bắt nhốt phong ấn, hay diệt hồn để cứu cho người bệnh, thì càng khiến hận thù sâu thêm một tầng, như đổ dầu vào lửa. Tạm thời giữ yên được một thời gian, nhưng sau này các oan gia quay lại báo thù, thì sẽ khủng khiếp gấp trăm ngàn lần, không chỉ hại gia chủ, mà sẽ báo thù cả với pháp sư, thầy cúng.
Vì vậy những bậc thầy chân chính như Đại Sư trong chuyện trên không bao giờ có ý thù địch với các vong hồn oan gia đến báo thù, vì biết họ đến báo thù là đúng nhân quả, là công bằng. Các vị ấy chỉ khuyên gia chủ thành tâm sám hối, tạo công đức hồi hướng cho oan gia để giải nghiệp, cầu oan gia tha thứ thôi.
(Quang Tử)
Nếu như cuộc sống của bạn đang gặp nhiều trắc trở, xui xẻo , hay thậm chí là đầy những tai ương, đau thương hay cùng cực, thống khổ. Có thể là bệnh tật, là sinh ly tử biệt, là sự nghiệp tiêu tán, là gia đình đổ vỡ, là oan gia đối đầu…v.v… và v.v… hoặc là bạn mới gặp thầy bói, và bị phán rằng sắp có một đại họa đổ xuống cuộc đời bạn.
Và bạn đang tìm kiếm một lối thóat cho mình?
Thế thì, đầu tiên bạn phải biết được đâu là nguyên nhân của đau khổ . Vì sao bạn phải chịu những đau khổ đó, gặp những tai ương đó ?
Xin thưa, đó là do Nghiệp !
Cụ thể hơn, đó là hậu quả của những sai lầm trong quá khứ của bạn. Quá khứ ấy có thể gần trong kiếp này, có thể xa xôi từ nhiều kiếp trước.
Điều này nghe có vẻ rất xưa cũ… Bạn có thể không tin, tùy bạn, nhưng sự thật vẫn cứ là như vậy. Từ ngàn xưa cho đến ngàn sau, sự thật này không hề thay đổi. Luật Nhân quả tồn tại, sự Báo ứng luôn tồn tại.
Luật Nhân quả chi phối tất cả muôn lòai trong vũ trụ một cách thầm lặng, một sự thầm lặng đáng sợ. Không hề có một thông báo nào gửi cho bạn khi bạn vừa tạo một việc phúc thiện hay một việc bất thiện, rằng bạn sẽ thọ lãnh quả báo thế này ,thế kia….
Chỉ đến khi nhân duyên chín muồi ( có thể sau một thời gian rất lâu sau đó, nhiều năm, hay thậm chí nhiều kiếp sau ) quả báo bất chợt xảy ra với bạn, và cũng chẳng có giấy thông báo nào cho bạn biết rằng đây là kết quả của những việc bạn đã làm khi xưa.
Điều đó khiến chúng ta cảm thấy hồ nghi về sự tồn tại của nhân quả báo ứng. Thế nhưng , mặc kệ chúng ta có tin hay không tin, quả báo vẫn cứ xẩy ra một cách công bằng, không thiên vị dù là một chút bằng hạt bụi : việc thiện đem lại quả báo tốt lành – việc bất thiện đem lại quả báo khổ đau . Đó là công thức bất di bất dịch.
Nếu như bạn đã hiểu được rằng số phận là do Nhân quả Nghiệp báo chi phối, rằng đau khổ hay hạnh phúc, may mắn hay xui xẻo đều do bạn tự tạo ra.
Thế thì, câu hỏi quan trọng được đặt ra, làm sao, làm thế nào chấm dứt được những nỗi khổ đang dày vò cuộc sống của bạn ?
Nếu như bạn đã thử hết mọi cách, giải pháp tâm lí, giải pháp khoa học hay cúng vái thần linh, mời thầy phong thủy hay thầy bùa… mà vẫn bế tắc, thậm chí “tiền mất tật mang” và hoang mang không biết làm như thế nào. Đúng thôi, vì những cách đó không thuận theo quy luật tối cao của vũ trụ – luật Nhân quả, nên sẽ không mang lại kết quả, hoặc nếu có thì cũng kéo theo những phản ứng phụ tai hại.
Thế thì, đây sẽ là lối thóat cuối cùng và duy nhất cho bạn, hay cho bất kì ai đã vào đường cùng.
Cột ở đâu thì phải cởi ở đó. Vì những khổ đau, xui xẻo của bạn có nguyên nhân từ Nghiệp quá khứ, nên bạn phải dùng Nghiệp, dùng Nhân quả phước báo để hóa giải. Đây, đây là chìa khóa giải thoát cho bạn. Hãy đọc và thực hiện chúng !
PHƯƠNG PHÁP GIẢI HẠN
SÁM HỐI – TỤNG KINH – NIỆM PHẬT
Nếu bạn biết được bạn đã phạm những lỗi lầm gì trong quá khứ, hãy thành tâm quỳ lạy trước Đấng mà bạn tôn thờ, Đức Phật , các vị Bồ Tát hay bàn thờ gia tiên trong nhà bạn…. và thành thực hối lỗi, chi tiết, cụ thể từng lỗi, từng lỗi bạn đã phạm phải.
Nhưng thường thì bạn sẽ không biết bạn sai ở đâu, vì điều này thường chỉ những người có trí tuệ rất cao mới làm được. Vậy thì, dù bạn biết hay không biết, hãy thực hiện điều sau :
Thành tâm đọc tụng Lương Hòang Sám và Từ Bi Thủy Sám.
Đó là những bộ kinh thư có công năng sám hối mạnh mẽ vô biên. Hoặc nếu không có nhiều thời gian, bạn có thể sám hối theo Nghi thức sau ( bấm vào link bên dưới):
http://nhanqua.com.vn/nghi-thuc-sam-hoi/
Song song với sám hối, bạn nên thành tâm niệm Phật, lạy Phật, đọc tụng những kinh điển của Phật để cầu tiêu trừ nghiệp chướng, như tụng kinh Địa Tạng, kinh Phổ Môn, chú Đại Bi v.v…
Rất, rất nhiều người đã khỏi bệnh, thóat nạn chỉ với việc kiên trì niệm Phật, hay đọc tụng những bộ kinh thư trên ngày này qua ngày khác.
Bạn cần lưu ý là luôn tâm niệm lấy việc tụng kinh, niệm Phật này để sám hối những lầm lỗi quá khứ. Nghiệp chướng của bạn sẽ theo lời tụng niệm đó mà tan biến dần dần.
Câu chuyện sau là một ví dụ:
Phùng Lập Khiêm (người Đài Loan ) là một nam nhân tài ba có tiếng tăm, đã tốt nghiệp đại học. Hồi còn đi học, anh rất ưa nghiên cứu kinh Dịch, bói toán, ….và thường dùng những kiến thức này tự xem số mệnh cho mình. Mỗi lần áp dụng thấy hết sức linh nghiệm, vì vậy mà anh tin: “Số mệnh con người đã được định sẵn!”
Có lần, anh đến bái kiến một vị thầy Kinh Dịch nổi danh. Ông ta tiên đoán nhiều điều về tương lai của anh, quả quyết rằng sau này cuộc hôn nhân của anh chỉ kéo dài tới 15 năm, rồi sẽ ly tan, nguyên nhân phát xuất từ cô vợ.
Nghe vị thầy tiên đoán mà Phùng cảm thấy bất an, hi vọng tìm cách hóa giải…
Quả nhiên, tất cả mọi việc đều đúng như vị thầy kia tiên đoán, Phùng thi vào Viện Nghiên Cứu dễ dàng, rồi tốt nghiệp, làm việc…Sau đó, liên tục được cất nhắc, cuối cùng thì treo bảng lập công ty, đạt được thành công vẻ vang.
Ba năm sau, anh kết hôn với một cô gái hiền thục xinh đẹp. Cuộc sống gia đình hạnh phúc, sự nghiệp thuận lợi…khiến Phùng dần dần quên hẳn lời tiên tri năm nào từng khiến anh lo lắng bất an…
Vợ chồng chung sống đầm ấm chớp mắt đã đến đoạn cuối của …14 năm.
Ngày nọ, vợ của Phùng đột nhiên phát hiện dưới nhũ hoa phải của nàng có một khối u nhỏ, cứng, to cỡ trứng gà, sung đau khó chịu….Nàng liền đến bệnh viện kiểm tra, mới hay mình bị “ung bướu tuyến sữa” thời kỳ cuối.
Bác sĩ phán: “ Vợ Phùng tối đa chỉ có thể sống một năm nữa thôi!”.
Đối diện với chứng bệnh quái ác này, cả nhà rơi vào sầu thảm khôn nguôi. Lúc này, Phùng mới sực nhớ đến lời tiên tri ngày xưa, thầm than: “Đúng là định số đã an bài!”
Trong lúc đang ở bên bờ tuyệt vọng, Phùng tình cờ đọc được quyển “Báo ứng hiện đời” của Cư sĩ Quả Khanh.
Trong đó, mỗi câu chuyện đều sinh động chân thật, khiến anh cảm thấy được giáo dục sâu sắc và dần dần hiểu rõ: “Chỉ có tin sâu nhân quả, dứt ác hành thiện, tu theo Phật pháp” mới có thể chuyển đổi số mệnh!
Vợ chồng Phùng từ đó bắt đầu nhen nhúm hi vọng về cuộc sống mới. Nhờ bạn bè trợ giúp, anh gặp cư sĩ Quả Khanh. Thoạt nhìn sắc diện xanh nhợt của vợ Phùng, Quả Khanh nhẹ nhàng chỉ ra những nhân ác, các tội nghiệp chất chồng trước đây nàng đã tạo…
Ông khuyên nàng nên ăn chay, thành tâm sám hối các ác nghiệp, đúng thời tụng kinh Địa Tạng, hồi hướng cho tất cả chúng sanh từng bị nàng làm tổn hại…
Vợ Phùng nghe xong, về nhà liền bắt đầu thực hành. Do ước muốn được sống bừng lên mãnh liệt, khiến nàng chẳng dám có chút ý cao ngạo, hàng ngày kiên trì tụng kinh Địa tạng, niệm Phật, lễ Phật sám hối, phóng sinh, in ấn kinh sách…..
Nửa năm sau, kỳ tích xảy ra, ác bệnh kia đã lành hẳn.
Hiện giờ, Phùng và vợ đã nắm tay nhau bước vào năm thứ mười lăm của cuộc hôn nhân – vốn là gia đình sắp đối diện với sinh ly tử biệt, nhờ tu học theo Phật pháp mà chuyển đổi, sống hạnh phúc, yên ấm bên nhau trong niềm an vui của Phật Pháp.
Kinh nghiệm thực tiễn này đích thân hai vợ chồng cùng nếm trải, khiến họ càng tin chắc “số mệnh đều nằm trong tay mình!”.
Nếu mọi người có thể tin sâu Nhân quả, dứt ác hành thiện, y theo lời Phật dạy: nghiêm trì giới luật, ăn chay phóng sinh, đúng lý đúng pháp mà tu. Thì đời này không những có thể cải đổi số mệnh mà tương lai còn có thể liễu thoát sinh tử, lìa khổ được vui, khai mở trí huệ, sống thong dong tự tại.
( Trích từ sách Báo ứng hiện đời_ Quả Khanh )
2_BÙ ĐẮP BẰNG NHỮNG VIỆC PHÚC THIỆN
Sự sám hối của bạn sẽ thực tế hơn rất nhiều, nghiệp chướng của sẽ tan biến nhanh hơn rất nhiều nếu được đền chuộc bằng những việc làm từ thiện, những công đức lành. Càng làm nhiều , bạn sẽ càng thấy hiệu quả rõ rệt.
Sau đây, tôi xin giới thiệu với bạn một số việc từ thiện không khó làm, nhưng phước báo cực kì to lớn. Hãy làm, bạn sẽ thấy !
CỨU NGƯỜI – HIẾN MÁU NHÂN ĐẠO
“ Dầu xây chín đợt Phù Đồ
Không bằng làm phước cứu cho một người ”
Cứu người thoát nạn luôn là công đức hàng đầu , đựợc người người ca ngợi, được Thánh thần tán thán bất kể là nền Văn hóa nào hay Tôn giáo nào. Và không có cách cứu người nào dễ dàng hơn là hiến máu nhân đạo.
“Một giọt máu cho đi, một cuộc đời ở lại ”, chỉ cần bạn đủ cân nặng 45kg và không mắc các bệnh đường máu, chỉ cần thế là bạn đã có thể bắt đầu hiến máu để cứu giúp những con người đang vật lộn với lưỡi hái tử thần, giành lại sự sống. Và cứ sau ba tháng, bạn lại có thể lặp lại nghĩa cử cao đẹp này khi cơ thể hòan tòan hồi phục.
Tất nhiên, nếu bạn có những cơ hội khác, những cách khác thì đều không nên bỏ qua. Rất, rất nhiều người đã hòan tòan thay đổi số mạng sau khi cứu giúp người khác qua cơn họan nạn. Câu truyện sau đây trích từ sách “An Sĩ tòan thư ” là một minh chứng:
Tỉnh Hà Nam, Trung Quốc triều Thanh có vị Giải Nguyên họ Phan. Lúc trước, khi lên tỉnh dự kỳ thi Hương, Phan sinh cùng đi với hai người bạn.
Đến chỗ trọ lại, có một thầy tướng rất giỏi nói riêng với hai người bạn rằng: “Tôi xem tướng Phan sinh sắp gặp đại nạn mất mạng, tốt nhất hai người nên khuyên anh ấy lánh đi nơi khác, tránh bị vạ lây.”
Hai người bạn nghe vậy liền lấy cớ chỗ trọ chật chội quá, mỗi người tặng cho Phan sinh hai đỉnh bạc rồi bảo anh đi tìm chỗ trọ khác.
Phan sinh nghe lời, đi tìm được một chỗ trọ khác. Đến đêm lại đi dạo ven bờ sông thì bỗng nhìn thấy một người phụ nữ sắp nhảy xuống sông tự vẫn. Phan sinh liền ngăn lại, gạn hỏi nguyên nhân, người phụ nữ ấy kể rằng:
“Chồng tôi buôn bán vải lụa, thu gom được một số khá nhiều. Gặp lúc anh ấy vừa đi vắng, có người vào mua tôi bán hết được bốn đỉnh bạc, chẳng ngờ sơ ý không xem kỹ, đều là bạc giả. Chồng tôi trở về nhất định thế nào cũng trách mắng, nên tôi chỉ còn cách tìm đến cái chết mà thôi.”
Phan sinh liền lấy trong tay áo ra bốn đỉnh bạc đưa cho cô ấy để bù vào chỗ bạc bị lừa mất. Sau đó trở về nhà trọ, thiếu tiền chi trả liền bị chủ quán trọ nhiếc mắng nhiều lời khó nghe, đành phải dọn đi, tìm đến xin trú ngụ trong một ngôi chùa.
Sau khi dự thi xong, Phan sinh tìm đến chỗ hai người bạn để cảm ơn. Người thầy tướng hôm trước vừa nhìn thấy Phan sinh đã kinh ngạc kêu lên:
– Ông làm được công đức gì mà tướng mạo đổi khác thế này? Không những bình an vô sự, mà chắc chắn sẽ đỗ cao khoa thi Hương này.
Khi công bố kết quả kỳ thi, quả nhiên Phan sinh đậu Giải nguyên.
________________
Như bạn đã thấy, việc cứu người không chỉ là một nghĩa cử cao đẹp, mà còn giúp chúng ta hóa giải những vận hạn xấu, thậm chí còn khiến ta gặp những may mắn bất ngờ như trong câu truyện . Những câu truyện tương tự như thế, xưa nay thật nhiều không kể hết.
PHÓNG SINH
Dù không bằng so với việc cứu người, nhưng cứu sống những con vật tội nghiệp khỏi lưỡi dao đồ tể, khỏi cái chết đau đớn cũng sẽ đem lại cho bạn phước báo lớn lao. Có hàng trăm câu chuyện kì diệu về công đức phóng sinh đã đăng, bạn có thể tìm đọc lại những bài đó qua đường link sau :
http://nhanqua.com.vn/category/linh-ung-phong-sinh/
Nếu bạn có một khoản tiền, hãy mạnh dạn mở lòng từ bi. Hãy mua thật nhiều những con vật sắp bị giết thịt, rồi thả chúng vào một chốn an tòan. Cuộc sống của bạn sẽ thay đổi nhanh chóng vì điều đó.
Một điều cần lưu ý, bạn nên ưu tiên những lòai vật sau để phóng sinh nếu bạn không đủ sức để phóng sinh tất cả :
* Chó , trâu, bò, ngựa. Đây là những con vật mang đậm tình nghĩa với con người . Dù là động vật, nhưng chúng có tâm tư tình cảm gần giống người nhất. Phóng sinh chúng là một việc làm thực sự ý nghĩa, tất nhiên khi phóng sinh những con vật này, bạn cần tìm cho chúng một chỗ sống an toàn và thích hợp, nghĩa là phải tìm ai nhận muôi chúng mà không giết. Nếu không thể làm được, bạn còn nhiều lựa chọn khác…
* Rùa, ba ba ,lươn… Mặc dù là động vật máu lạnh, nhưng tâm linh của chúng rất cao. Những người phóng sinh chúng thường gặp những may mắn kì lạ.
Sau khi mua chúng, bạn có thể tìm một dòng sông, dòng suối, hay một cái hồ để thả ( tất nhiên là đừng bị ô nhiễm, không thì thả con gì sẽ chết con đó)
Một lựa chọn đáng lưu ý khác, là chọn thả những động vật có sống dai như lươn, cá trê, cá lóc, ốc… vì thật đáng buồn nếu như sau khi bạn thả vật về tự nhiên, chúng lại lăn ra chết.
Và công đức của người phóng sinh sẽ còn tăng lên rất – rất nhiều lần nếu như trước khi thả, chúng ta đọc Nghi thức phóng sinh cho chúng nghe. Nghi thức này giúp làm tiêu nghiệp & tăng trưởng phước lành, tăng trưởng Bồ Đề Tâm cho những con vật được thả, giúp chúng mau thoát được kiếp súc sinh mà sinh vào những cõi lành. Đây là một trong nhiều Nghi thức phóng sinh để bạn tham khảo ( xin bấm vào link):
http://nhanqua.com.vn/576-2/
ẤN TỐNG
Đem ánh sáng chân lí đến cho cuộc đời, đem đạo đức, lẽ phải đến cho mọi người. Đó là điều thiện vĩ đại nhất trong các điều thiện. Đức Phật nói “Pháp thí là vua trong tất cả các pháp bố thí”
Vì sao? Vì đó là khởi nguồn cho mọi điều thiện khác được phát sinh, vì chỉ khi mở được cánh cửa của chân lí, của lẽ phải, con người ta mới có thể biết phải làm gì để tìm được hạnh phúc, phải làm gì để chấm dứt khổ đau .
Chính vì thế , một lựa chọn cực kì sáng suốt nếu bạn muốn thay đổi vận mạng của mình. Đó là, bạn hãy tìm mua, in ấn những kinh điển hay những sách có nội dung khuyến thiện, có tác dụng khiến người đọc bỏ ác làm lành, tăng trưởng đạo đức. Sau đó đem phát tán cho nhiều người đọc, bạn sẽ bất ngờ vì phước đức ghê gớm mà việc ấn tống này đem lại.
Ngòai những việc trên, bạn có thể chọn một nghìn lẻ một cách khác để làm từ thiện, miễn là việc đó đem lại an vui cho mọi người , cho muôn lòai như : xây cầu đắp đường, xây chùa đúc tượng, chữa bệnh phát thuốc, trồng cây gây rừng, dẹp trừ tội phạm .v.v và v.v …
Cuối cùng, nếu như bạn không thể chọn được một việc nào đã nêu trên vì một lí do nào đó. Thế thì, có một việc rất đơn giản nhưng đem lại phước đức không hề nhỏ cho bạn . Đó là phát tán rộng rãi chính bài viết “Giải hạn tận gốc” này đến nhiều người khác.
Bạn có thể làm điều này ngay lập tức.
Chỉ cần bấm vào nút “chia sẻ” – share lên facebook , hoặc đăng trên các trang mạng khác, hoặc in ra phát cho nhiều người đọc, bạn đang giúp cho rất nhiều người mở lối thoát ra khỏi bế tắc cuộc đời.
Càng có nhiều người đọc, là càng có nhiều nghiệp chướng được hóa giải, càng có nhiều nỗi đau được tan biến và nhiều hạnh phúc được hé mở. Như thế, cũng chính là bạn đang hóa giải nghiệp chướng của chính mình, xua tan nỗi đau của chính mình.
Hãy làm điều đó, vì lợi ich của chính bạn, vì lợi ich của tất cả mọi người.
Cầu chúc bạn thành công, nghiệp chướng tiêu tan, vận hạn hóa giải, phúc đức vô lượng!