NHÂN QUẢ ĐỜI NGƯỜI, TỪ ĐẠI MỸ NHÂN THÀNH KẺ ĂN XIN.

Tư Nhị là ” đứa con hai dòng máu”, cha gốc Khơ-me, mẹ là người Việt. Lớn lên, Nhị một mình dấn thân vào chốn đô hội ở Sài Gòn với hai bàn tay trắng. Sau này, được Ba Trà thâu nhận làm đàn em, gia nhập thế giới gái điếm, và trở thành một trong tứ đại mỹ nhân thời bấy giờ. Ba Trà lấy tên của nữ minh tinh màn ảnh Marianne để ghép với tên Nhị, thành Marianne Nhị ( thân tình gọi Tư Nhị ngụ ý là em nuôi của Ba Trà). Lần đầu trong đời có mái ấm riêng, Marianne Nhị rối rít cám ơn vòng tay hào hiệp của Ba Trà đã giang rộng để ” che chở đùm bọc và làm cuộc tái sinh cho em út”. Nhưng không lâu về sau, Nhị như con chim rời tổ bay ngược gió, tự tung tự tác tách khỏi ảnh hưởng của Ba Trà. Không những không nghe lời khuyên của Trà, Nhị còn tự phụ tự mãn với sức trẻ hơn người và sắc đẹp đang lên. Quả vậy, với bộ ngực nở nang khêu gợi, cặp môi luôn đỏ, đôi mắt lúc nào cũng ươn ướt, gương mặt cả ngày bừng lên một sắc hồng dưới nắng, giúp Marianne Nhị đẹp một cách man dại và lộ vẻ ” sẵn sàng yêu”… Với hành trang ấy, càng ngày Nhị càng lao sâu vào con đường trác táng, ăn chơi phí sức.
Kết quả hình ảnh cho tứ đại mỹ nhân việt nam
Cặp môi luôn đỏ, đôi mắt lúc nào cũng ươn ướt, gương mặt cả ngày bừng lên một sắc hồng dưới nắng, giúp Marianne Nhị đẹp một cách man dại. ( Ảnh minh họa )
Chỉ mới chân ướt chân ráo đặt chân lên đất Sài thành, vậy mà Tư Nhị đã hốt gần hết những gã nhân tình nhiều bạc, lắm tiền thời ấy của Ba Trà ( Từ Bạch công tử, công tử B xứ Trà Vinh cho đến một anh chàng mắt xanh mũi lõ nổi tiếng là hào hoa phong nhã bậc nhất trong giới Tây kiều thời ấy tại Sài Gòn là Franchini). Tay này là một triệu phú thời ấy, tiền muôn bạc triệu lại có vai vế rất lớn trong giới Pháp kiều, hắn nổi tiếng đẹp trai và hào hoa phong nhã bậc nhất lúc bấy giờ. Nhiều người vẫn cho rằng chỉ cỡ như Ba Trà thì mới mong tiếp cận được anh ta mà thôi, chớ các người đẹp khác trong nhóm tứ đại mỹ nhân thì chắc không có ai làm được điều đó. Nhưng Ba Trà cũng không ngờ rằng ở đời chuyện gì cũng có thể xảy ra cả, đặc biệt trong đó có yếu tố bùa mê ngải yêu nữa! Tìm hiểu kỹ hơn thì Ba Trà cũng phải giật mình, bởi chính Tư Nhị đã công khai tuyên bố với cô đàn chị rằng ả ta không cần phải lặn lội qua tận Thái Lan để thỉnh ngải mê bên đó, mà chỉ cần ở một chỗ tại Sài thành cũng đủ sức quyến rũ tất cả đàn ông nào, kể cả anh chàng Pháp kiều Franchini kể trên. Tư Nhị hé lộ rằng cái thứ “bùa tình” mà Bạch công tử thường dùng vẫn còn kém xa thứ bùa tình mà ả ta đang có, bởi Tư Nhị vốn là người sinh ra rồi lớn lên ở đất chùa tháp. Mà nơi đó chuyện bùa yêu, ngải tinh vốn là thứ người ta thường dùng chẳng khác nào sức nước hoa mỗi ngày. Cô đệ nhị tứ đại mỹ nhân này lên như diều, quyến rũ đàn ông nhanh như chớp và đúng như lời cô ta tuyên bố, đố đàn ông nào không quỳ gối trước cô để rồi dâng hết của cải đang có, cung phụng cho con đường ăn chơi mà cô ta đã vạch ra sẵn. Chỉ trong vòng một năm thì Tư Nhị đã được Franchini đưa đi khắp nơi, giới thiệu với hết tay triệu phú cỡ bự này tới những trọc phú lừng lẫy khác, nhất là trong giới chủ đồn điền cao su thời ấy. Thậm chí cô nàng còn được Franchini đưa qua các đồn điền cao su ở Chúp tận bên đất Cao Miên để trải qua những đêm thác loạn bên ấy. Để rồi chỉ trong vòng một tháng thì đã có đến bốn năm tay chủ đồn điền người Pháp nơi đó tình nguyện về tận Sài Gòn rồi sẵn sàng móc hầu bao ra chi cho Tư Nhị những số tiền lớn chưa từng thấy. Mặc cho cô nàng ăn chơi thoải mái, đặc biệt là mua sắm từ nữ trang cho đến xe ô tô hạng sang nhất thời bấy giờ.
Hình ảnh có liên quan
Đặc biệt là mua sắm từ nữ trang cho đến xe ô tô hạng sang nhất thời bấy giờ. ( Ảnh minh họa )
Thời ấy, Sài Gòn trong lúc những quan chức cỡ bự cũng chỉ đi xe hơi hiệu Delage, hay là Panhage hay Citroen thì đùng một cái một hôm người ta thấy Tư Nhị ngồi chễm chệ trên một chiếc xe hơi hiệu Hotchkisss, rồi Alpha – Roméo là hai loại xe thuộc loại đắt tiền nhất thời ấy. Một chiếc Alpha – Roméo trị giá đến mười một ngàn đồng (nên nhớ thời ấy vàng chỉ khoảng hai trăm đồng một lạng) vậy mà một cô gái tuổi chưa tới hai mươi đã ngự trên chiếc xe với giá trên một vạn bạc thì không khiến cho thiên hạ sửng sốt cũng là chuyện lạ! Thời ấy giới ăn chơi tuy mê nhan sắc của Tư Nhị nhưng họ cũng đã bắt đầu sợ sức quyến rũ kỳ lạ khó cưỡng nổi của cô ả. Người ta rỉ tai nhau rằng ai mà lọt vào mắt xanh của Tư Nhị rồi thì chẳng chóng thì chày cũng sẽ tàn đời với cô ta! Người thời đó còn đồn rằng chính lão Tây Franchini đã phải thừa nhận rằng lão không thể nào dứt ra khỏi sức quyến rũ của Tư Nhị được. Mặc dù đôi ba lần lão cũng đã có ý định ấy khi bắt gặp Tư Nhị cho lão ta mọc sừng khi cô nàng bắt cá hai ba tay với nhiều tay trọc phú khác, ngay cả với những người bạn Pháp kiều chủ các đồn điền cao su mà lão đã dẫn Tư Nhị tới giới thiệu. Một lão Tây giàu sụ lại phải chấp nhận cảnh cô người tình trẻ người Việt cắm sừng mà chỉ biết lắc đầu chào thua kể cũng hơi lạ. Nghe nói ở vài phút giây chợt tỉnh ngộ thì Franchini đã có ý định tìm cách “gỡ bùa”. Lão ta đã phải nhờ tới một người bạn Tây làm chủ đồn điền ở Chúp môi giới để làm, sang tận Nam Vang để nhờ thầy hóa giải bùa chú đã mắc phải mà lão biết chắc những thứ bùa tình, bùa yêu ấy là do chính Tư Nhị ám lão. Nhưng hình như là mọi cố gắng của Franchini là vô ích. Bởi sau chuyến qua đồn điền Chúp trở về thì lão này càng mê ám hơn với người tình nhỏ Tư Nhị. 🔺CUỐI ĐỜI LÀM ĂN MÀY. Bắt chước “mốt” ăn chơi của các tài tử điện ảnh bấy giờ, Tư Nhị cũng ngậm ống điếu thật dài, để tạo ra một phong cách thanh lịch và quý phái. Người đời miêu tả lại rằng, nhiều đêm, cô Nhị ngả bên bàn đèn, mơ màng tận hưởng sự khoái lạc của “nàng Phù Dung”. Đang trong thời kỳ đỉnh cao, đến giữa thập niên 1940, Nhị bỗng dưng biến mất khỏi chốn ăn chơi trác táng của Sài Gòn xưa. Theo lời kể của ông Ba Quan, một tay chơi lịch duyệt trong giới cầm ca, người duy nhất gặp lại cô Tư, cho biết: ” Hoa khôi số hai của Sài Gòn ngày ấy đã thành… kẻ ăn mày.” Người này cho hay tình cờ gặp Marianne Nhị trong một quán ăn ven đường với tình cảnh hoàn toàn khác xưa. Sau bữa điểm tâm, Ba Quan trả tiền xong định quay về, bỗng nghe tiếng gọi giật ngược: “Anh Ba!” Ngoái lại, biết tiếng kêu ấy phát ra từ trong đám hành khất rách rưới, định bước đi, lại nghe gọi đến mình thống thiết lần nữa, lần này đượm vẻ bi ai hơn trước. Rồi một người đàn bà trong đám ăn mày tách ra, đến trước mặt anh Ba, thảng thốt nói: “Em là Tư Nhị đây!” Nhìn kỹ một lúc, không nói nên lời, vì người đàn bà ấy trước kia là hoa khôi lừng lẫy một thời, giờ đây môi thâm đen, đôi chân nõn nà quấn quanh mấy lớp vải dính máu mủ với đám ruồi bu đen không ngớt, trông dơ dáy, não nề, không dám nhìn lâu, bỏ nhẹ 20 đồng bạc xưa vào tay Nhị rồi quay đi. Cuộc đời Tư Nhị quả đúng như một vở bi hài kịch, từ một đại mỹ nhân tiền muôn bạc triệu, thoáng chốc đã thành kẻ ăn xin thảm hại, âu cũng là Nhân quả. Ả không chỉ tà dâm, thác loạn, lại lạm dụng bùa ngải mê hoặc không biết bao nhiêu đàn ông, để rồi cuối đời hứng chịu báo ứng thê thảm một mình. Đây chẳng thể nào than trách cho số phận, mà chỉ là tự làm thì tự mình chịu mà thôi.

BỆNH HỘC MÁU.

Có một ông là cán bộ có cỡ, ông tầm 60 tuổi. Ông bị một căn bệnh hết sức đáng sợ, đó là bệnh hộc máu mồm, máu mũi không có cách gì chữa khỏi được. Mặc dù ông chưa hề bị ai đánh đập, cũng không bị bom đạn vùi dập. Ông đã đi cả Trung Quốc, Thái Lan, Singapo…ai chỉ gì ông cũng nghe, nhưng chữa chạy đều không khỏi. Ai hỏi, ông cũng đều bảo bệnh thổ huyết của ông là do ông làm việc quá sức… Mặc dù ông giấu được mọi người xung quanh nhưng ông đâu giấu được những sự thật mà một nhà ngoại cảm đã nhìn ra khi gặp ông: – Một là: khi còn là cán bộ có cỡ, có chức quyền, ông cho lập hồ sơ giả, bắt người đánh đập, ép họ kí vào văn bản mà ông đã chuẩn bị trước. Ai không nghe, ông đánh ngầm bằng cách thúc đầu gối vào mỏ ác, về nhà người đó hộc máu mồm máu mũi ra rồi từ từ chết. – Hai là: ông có cái tật rượu chè be bét, hễ cứ uống rượu vào là đánh chửi vợ con. Cách đây không lâu do rượu vào quá say ông đã lấy gậy phang túi bụi vào cậu con trai 9 tuổi mới đi chơi về, đến nỗi thằng bé hộc máu mồm máu mũi ra lênh láng phải đưa đi cấp cứu. Người vợ thấy vậy khóc lóc thảm thiết, xông vào ôm cậu con trai can ngăn, hăng máu ông cầm gậy phang luôn cả vợ. – Ba là: khi đã ghét ai, thì ông chửi bới người ta thậm tệ ( lúc này thì ông đổ thừa cho là rượu nói). Nhân quả không thể tránh, và bây giờ ông đã bị mắc căn bệnh hộc máu mồm máu mũi. Cho nên những việc mà chúng ta làm, dù tốt hay xấu, có thể qua mắt được mọi người xung quanh nhưng không thể qua được luật nhân quả.

CHỌC PHÁ THẦN LINH, HẬU HỌA KHÓ LƯỜNG.

( Hoàng Anh Sướng) Thuở nhỏ, vào những ngày rằm hay mồng một tôi vẫn theo mẹ đi lễ chùa. Chùa làng tôi tuy không lớn nhưng cổ kính, nổi tiếng là linh thiêng. Một lần, trong lúc mẹ tôi đã cầu nguyện ở ban Tam Bảo, tôi lẻn ra bàn thờ Đức Ông. Thấy con ngựa gỗ đen bóng, cao lớn, có bờm và râu rất đẹp đặt ở trước ban, tôi liền xà tới, vuốt thân, sờ chân, xoa mõm, dứt râu ngựa. Tối đó về nhà tôi nằm mơ thấy một ông quan cao lớn, mặt đỏ, râu dài, đầu đội mũ trụ, thân mặc áo giáp, tay cầm thanh long đao, cưỡi con ngựa đen tiến về phía tôi, mắt nhìn đầy giận dữ. Trông ông giống như ngài Hộ pháp tôi thường nhìn thấy trong chùa ( chính xác là ông Quan Công, mà rất nhiều chùa thờ như thần Hộ pháp). Tóc tôi bỗng dựng ngược, sởn da gà, người lạnh toát. Tôi muốn kêu lên mà quai hàm cứng ngắc. Con ngựa vẫn lừ đừ tiến về phía tôi, rồi bất ngờ chồm hai chân trước, đá vào mặt khiến tôi ngã bổ ngửa . Tôi giơ tay lên ôm mặt, hét lên vì đau đớn. Tiếng hét giữa đêm khuya thanh vắng đã đánh thức mẹ tôi. Bà hốt hoảng lao đến chỗ tôi nằm. Tỉnh giấc mộng mà tim tôi vẫn đập thình thịch, chân tay run rẩy vì chưa hết sợ hãi. Sáng dậy, mặt bên phải của tôi bỗng sưng vù lệch hẳn cả bên mặt. Nghi tôi bị quai bị, mẹ đưa tôi lên trạm y tế xã khám, cô y tá cho thuốc về xoa. Hôm sau, má trái tôi sưng nốt, mặt trông như cái mâm. Mẹ tôi sực nhớ đến giấc mơ hãi hùng bị ngựa đá của tôi đêm trước, bà liền chạy đến nhà cụ đồ Mão kể lại câu chuyện. Nghe xong, cụ lên chùa dâng sớ làm lễ cho tôi. Không biết trong lá sớ cụ đồ Mão viết gì, khấn nguyện ra sao mà ngay buổi chiều hôm ấy, mặt tôi đỡ sưng liền. Sáng hôm sau thì trở lại bình thường. Thấy kỳ lạ quá, tôi bèn kể lại cho đám bạn chơi khăng cùng xóm. Chúng nó không tin, bảo tôi điêu, bịa chuyện. Thằng Sơn con chú Đức, chủ quán lòng lợn tiết canh ngoài đê, nổi tiếng nghịch ngợm, ngổ ngáo, mắng tôi: – Đồ thần kinh hoang tưởng, học cho lắm vào nên ngộ chữ. Nó túm tay tôi, lôi xềnh xệch lên chùa bảo: – Sướng! Mày mở to mắt ra mà nhìn tao đây này. Nói đoạn, nó nhảy tót lên lưng con ngựa gỗ, phi nhong nhong. Vừa phi nó vừa đạp chân, thụi tay vào hông, vào sườn con ngựa gỗ. Thấy tôi kể bị ngựa đá sưng mặt vì dứt trùm râu ngựa, thằng Sơn thò tay dứt cả cụm rồi thổi lên tung tóe khắp chùa. Chưa hết, nó tụt quần, quay mông đít về phía ban thờ Quan Công, vừa vỗ đen đét, vừa cười hô hố. Cả đám đi cùng cười hỉ hả. Thằng Sơn chỉ rõ mặt tôi, bảo: – Ngày mai, tao mà không bị ngựa đá sưng mặt thì tao sẽ vả vào mặt mày đến khi sưng vù như cái lệnh vỡ thì thôi . Dọa tôi xong cả bọn kéo nhau ra cây thị ở cổng chùa. Tôi và thằng Hà nhỏ tuổi nhất, lại không biết trèo, được phân công ở dưới canh chừng, sợ sư thầy bắt. Hái được hơn chục quả tôi bỗng nghe tiếng thằng Sơn kêu: – Ối, tổ ong bắp cày chúng mày ơi, nó đốt tao đau quá! Tôi vừa ngước mắt lên cây hướng về chỗ thằng Sơn thì nghe cái “huỵch”. Tôi giật mình nhìn xuống, thằng Sơn nằm giãy trên nền gạch. Tôi hét lên một tiếng. Máu từ mũi, mồm, tai thằng Sơn chảy lênh láng. Mắt nó trừng trừng nhìn tôi. Mấy chú hàng xóm nghe tiếng chúng tôi kêu, vội bế thốc thằng Sơn chạy lên trạm y tế xã, nhưng nó đã chết ngay trên đường. Bởi thế, ngay từ nhỏ tôi đã tin vào thế giới tâm linh, tin vào sự linh ứng giữa hai cõi âm – dương, tin vào luật nhân quả, nghiệp báo. (Trích” Những chuyện có thật về nhân quả và Phật pháp nhiệm màu “- Hoàng Anh Sướng) __________________________ Lạm bàn: Các vị thần linh, tuy phước đức lớn, nhưng chưa có hết tâm sân hận, nên những ai nghịch phá, bất kính với họ, thường bị họ quở phạt nhanh chóng, đây là điều rất thường gặp. Còn với những người hủy báng, phá hoại, bất kính tượng Phật, Bồ Tát, hay chùa, tháp… thì thực ra, chư Phật, Bồ Tát chẳng hề giận dữ, trách phạt gì họ. Các ngài đã đạt đến cảnh giới cực tịnh, không hề bám chấp hình tướng, thì đập phá tượng các Ngài đâu có là vấn đề gì. Xong, những người hủy báng tượng Phật, Bồ Tát thì vẫn chịu những quả báo khốc liệt, đây chẳng phải Phật hay Bồ Tát làm, mà là do Nghiệp lực tự chiêu cảm ra. Hai hiện trạng này bên ngoài nhìn thì giống nhau, nhưng tính chất bên trong thì lại khác, chúng ta cần phân biệt rõ. ( Đọc tại website chính thức của ” Nhân quả – luân hồi”)

PHƯỚC BÁO HIỆN TIỀN.

Câu chuyện có thật này xảy ra tại Bệnh viện Ung Bướu TP. Hồ Chí Minh. Một người mẹ già có sáu người con gái, tất cả đều là dân kinh doanh, buôn bán rất thành đạt. Khi bà bệnh, được con đưa vào bệnh viện để điều trị thì bắt đầu xảy tình trạng tỵ nạnh lẫn nhau, phân bì ai sẽ là người chăm lo cho mẹ. Mấy chị em tranh cãi với nhau đến kết cuộc thì bà mẹ không có người con nào bên cạnh để nuôi bệnh, khiến cho bà phải tự lo, tự chăm sóc. Nhiều lúc đau nhức, nhấc mình lên không nổi khiến cho bà ngồi dậy hay xoay sở rất là khó khăn. Thân bệnh mà tâm trạng lại u uất. Lúc đó, có một anh thanh niên nuôi mẹ bị ung thư ở giường kế bên. Gia cảnh anh này nghèo, nhưng lại rất hiếu thảo với mẹ. Thấy tình cảnh một người già bệnh nặng mà không có con bên cạnh để chăm lo nên anh xúc động và nói: – Dù gì con cũng nuôi mẹ con ở đây rồi. Bà lại không có con chăm sóc. Tiện thể con chăm luôn, xem như con có hai mẹ: một mẹ ruột và một mẹ nuôi vậy. Và rồi anh chăm sóc bà y như chăm sóc mẹ mình, khiến cho bà đỡ buồn tủi, dù không giàu nhưng lại rất có tấm lòng hiếu nghĩa. Một bữa, anh gởi ít tiền cho hai người mẹ rồi chạy về nhà tranh thủ làm ít ngày kiếm tiền rồi chạy vô nuôi tiếp. Người mẹ nuôi nhìn cậu con trai nhà người ta hiếu thảo, ngẫm lại bản thân mình có tới sáu người con mà không nhờ được đứa nào nên buồn bã cầm số tiền anh con nuôi ra hành lang ngồi thẩn thờ. Một cô bé bán vé số chạy qua mời, bà đưa tiền lấy đại ba tờ vé số. Không ngờ chiều hôm đó sổ ngay lô đặc biệt, bà trúng độc đắc ba tờ vé số, được bốn tỷ rưỡi.
Một cô bé bán vé số chạy qua mời, bà đưa tiền lấy đại 3 tờ vé số. Không ngờ chiều hôm đó sổ ngay lô đặc biệt, bà trúng độc đắc 3 tờ vé số, được bốn tỷ rưỡi. ( Ảnh minh họa )
Bà dùng số tiền này trả nợ nần của bà hết vài chục triệu, còn lại bao nhiêu đưa hết cho đứa con nuôi, không cho sáu người con ruột một đồng nào hết. Người con trai này đã nhận bà làm bà mẹ nuôi chính thức và sau khi xuất viện, anh rước bà về nhà mình phụng dưỡng luôn. Thật sự khi anh chăm sóc cho bà, anh không hề quan tâm đến tiền bạc hay vụ lợi, tâm anh hoàn toàn trong sáng. Do nhân thiện tâm hiếu thảo, tâm giúp đỡ này đã hội đủ nhân duyên khiến cho quả báo thiện liền hiện tiền. An ủi người già cả ốm đau Tùy duyên có thể giúp giàu Trong khi hoạn nạn khi nào cần con Phước đức ấy vẫn còn muôn thuở Tuy vô hình đừng ngỡ rằng không Con ơi nơi chốn trần hồng Mấy ai nghĩ đến tấm lòng thanh cao. (Diệu Âm Lệ Hiếu trích lại từ bài giảng của Đại đức Thích Trí Huệ)

TRỘM ĐỒ ĐÌNH MIẾU & GIÁ PHẢI TRẢ.

( Trích “Những chuyện có thật về nhân quả và Phật pháp nhiệm màu”- Hoàng Anh Sướng)

Đình làng tôi trên một khu đất cao ráo ở giữa làng, cạnh gốc đa cổ thụ tán lá sum suê. Vào những năm 1960 của thế kỷ trước, khắp các vùng nông thôn miền bắc rộ lên phong trào bài trừ mê tín dị đoan, nhiều ngôi đình chùa cổ bị đập phá tan tành.

Kết quả hình ảnh cho tháo dỡ chùa miếu
Khắp các vùng nông thôn miền bắc rộ lên phong trào bài trừ mê tín dị đoan,nhiều ngôi đình chùa cổ bị đập phá tan tành . ( Ảnh minh họa )

Rất may đình làng tôi không bị phá nhưng trở thành kho chứa lương thực của hợp tác xã.
Một số người tham lam đã lấy hoành phi, câu đối, cửa gỗ, phiến đá… ở đình về làm cầu ao ,che chắn chuồng lợn, sau này họ đều gặp phải những tai họa rất rùng rợn.
Người dùng hoàng phi làm chuồng lợn nuôi đàn lợn nào để lúc sắp xuất chuồng là đàn ấy lăn đùng ra chết, toàn chết đột tử, thịt da tím tái nên không thể bán được, dù là bán rẻ, chỉ có đào hố chôn.
Về sau người đó mắc bệnh điên. Một hôm ông trèo lên trên nóc chuồng lợn, chân giậm tại chỗ, tay chào theo lối nhà binh, miệng hát vang bài “ Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi “, hát xong ông lao đầu xuống lên xi măng chết bất đắc kỳ tử.
Người dùng phiến đá xanh làm cầu ao thì vợ đẻ toàn con gái, đẻ cố mãi mới được một con trai, cả nhà cưng chiều như cục vàng. Lên năm tuổi một lần ra cầu ao chơi, đứa trẻ trượt chân chết đuối, cả nhà không biết táo tác đi khắp làng trên xóm dưới tìm mãi không thấy.
Trưa hôm sau người mẹ ra rửa rau nhìn thấy xác con nổi trương phềnh. Sau cái chết của con chị lăn đùng ra ốm, hết sốt nóng lại sốt rét, thỉnh thoảng chị lại lên cơn mê sảng, mặt mũi thất thần.
Nghe cụ đồ Mão khuyên, chồng chị khiêng phiến đá trả lại đình. Thế mà mãi nửa năm sau chị mới hồi lại người. Từ ấy, người dân làng tôi không ai dám sơ múi bất kỳ đồ vật gì của đình, chùa. Họ bảo phá chùa, đình, đền, miếu là những việc gây nghiệp quả vô cùng lớn, cái giá phải trả không hề nhỏ. Nghiệp kiếp này đã trả chỉ là một phần rất nhỏ trong nghiệp báo phải trả hàng vạn kiếp sau nữa.

_________________________

Bình luận:

Ngo Quang Trung:
Quê mình thôn Đõ Ngoại, Huyện Duy Tiên tỉnh Hà nam. Những năm 60 cũng bài trừ mê tín mấy ông lãnh đạo xã chỉ huy quân rồi tự mình đập phá Đình làng ( nay còn lại vài cột đá khắc rồng cực đẹp vứt ở đó). Nghe các cụ nói qua vài năm mấy ngưòi tham gia đập phá đều chết sạch. Có nhà k còn một ai.
Nam Mô A Di Đà Phật!

Huong Huy:
Ở nơi mình ở ( Nghệ An) cũng có chuyện gần giống vây đó. Trước đây thời ông nội mình ở làng mình có một ngôi đền nghe người già trong làng mình kể thiêng lắm lạ nhưng sau này do chiến tranh mọi người ly tán không ai tu sửa dần mai một hư hỏng. Thời gian có một gia đình trong làng đào giếng họ lấy đá ở đền về ghép giếng kết quả là sinh con ra thì đột tử sau này biết có mang trả lại thì vẫn sinh được con. Nhưng vẫn sinh ra một người không được bình thường nà, người này mình biết anh hơn mình 5 tuối à.

ĐỌC KINH ĐỊA TẠNG – THAI NHI HẾT BỆNH DOWN.

Sau khi công phu sáng QH nhận tin nhắn từ người bạn đồng tu. Thật bất khả tư nghì công đức đọc kinh Địa Tạng. Người bạn này phát nguyện đọc 100 quyển kinh trong lúc thai nghén và đã đọc hơn số lượng phát nguyện đến lúc sinh cháu bé trai. Mà trong 13 tuần đầu tiên bé có dấu hiệu bệnh Down, cần phải kiểm tra thêm. Mặc dù sự phán xét của bác sĩ, QH khuyên không cần thử máu nữa, và quyết chí cầu nguyện chư Phật gia hộ. Đứa bé này sẽ là vị Phật tuơng lai. QH vẫn khuyên cô ấy niệm Phật và đọc kinh hằng ngày. Không thể tưởng tượng sự phát tâm dũng mãnh của cô ta làm QH thán phục. Vì sao? Vì đây là đứa bé vỡ kế hoạch, họ đã có hai cháu ( một gái, một trai). QH khuyên tiếp tục giữ gìn, hai vợ chồng công việc khá vất vả vì đi làm hơn 10 tiếng. Tối về cô ấy lo cho con và vẫn ngồi tụng kinh. Đây là việc khó ai làm được vì sao? Khi mang thai người phụ nữ đa số chỉ muốn nghỉ ngơi, thoải mái. Ngồi đọc đến khi bụng to thì vẫn duỗi chân mà đọc. Cô ấy ăn chay trong thời kỳ mang thai. Nhưng khi cháu bé ra đời, không hề bị ảnh hưởng về sức khoẻ mà trái lại hồng hào, tuấn tú. QH viết tóm gọn một câu “ Phật thị môn trung- hữu cầu tất ứng ”. Các bạn hãy lấy đây làm mẫu để áp dụng cho cuộc sống. Khi gặp khó khăn vẫn tiếp tục chiến đấu và cầu nguyện ( niệm Phật, đọc kinh) đức tin là việc cần phải có vì nó là mẹ sinh ra các công đức. NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT _()_! Xin thường niệm NAM MÔ ĐẠI NGUYỆN ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT MA HA TÁT_()_

PHÁ MỘ TỔ TRẦN ĐĂNG KHOA & KẾT CỤC BI ĐÁT.

(Trích “Những chuyện có thật về Nhân quả và Phật pháp nhiệm màu”- Hoàng Anh Sướng) Nhà thơ Trần Đăng Khoa lúc 8 tuổi đầu đã làm thơ như thần trở nên nổi tiếng cả nước và cả ở nước ngoài, được dư luận đặc biệt quan tâm. Ai cũng yêu quý, ngưỡng mộ cậu. Nhưng mấy vị ở làng bên lại tỏ ra không vui vì sinh lòng ghen ghét. Cậu bé Khoa càng nổi tiếng, sự ghen ghét càng lớn. Đỉnh điểm là năm 1968, khi bé Khoa tròn 10 tuổi, được xuất bản tập thơ riêng đầu tay “Góc sân và khoảng trời”, thơ Khoa được nhà thơ nổi tiếng Madeleine Riffaud giới thiệu trên hai trang báo Nhân đạo của Đảng cộng sản Pháp xuất bản ở Paris với tựa đề “Thơ Trần Đăng Khoa, tiếng hát mạnh hơn bom đạn”. Rồi sau đó, đoàn quay phim Pháp, do đạo diễn Gérard Guillaume về làng Điền Trì quê cậu quay phim “Thế giới nhỏ của Khoa”. Một số vị chức sắc, người làng bên, kiên quyết không cho quay. Trong lời bình phim, nhà thơ Pháp G. Guillaume có viết: “Cả làng xã quyết tâm bảo vệ bé Khoa, không muốn chúng tôi làm phim về cậu. Chúng tôi đã phải tạo ra một cái cớ, là làm một bộ phim về cuộc sống hằng ngày của thiếu niên xã Quốc Tuấn với sự “đồng lõa” của chị Trần Thị Duyên. Nhờ thế mới có được hình ảnh của cậu mà các bạn đang xem”. Trong mấy ngày quay, đoàn làm phim đề nghị xã chọn cho hai đến ba thanh niên phục vụ đoàn. Chẳng hiểu sao, ba vị chức sắc ở ba làng khác nhau lại tự nhận làm. Mấy ông người Pháp cứ tưởng họ là người giúp việc nên sai bảo suốt ngày khiến mấy vị rất bực tức. Cuối cùng, họ trút cơn giận xuống bé Khoa, xuống gia đình cậu bằng một hành động rất thâm độc, đó là đập phá ngôi mộ cụ tổ 7 đời là nhà văn Trần Tiến vì họ tin rằng: Khoa thành tài như vậy chính là nhờ ngôi mộ này phát “chứ cái nhà nó trông rách nát như cái chuồng lợn, làm sao đẻ ra được thứ con rồng, con phượng như thế”. Hầu hết mộ phần các cụ tổ của Khoa đều đặt trên đất làng. Duy chỉ có mộ cụ Trần Tiến là nằm chênh vênh ở ranh giới giữa đồng của hai làng bên. Năm 1968, lấy cớ xây trận địa bắn máy bay Mỹ, ông Đức đã giao cho anh Tùng cùng mấy dân quân khác đặt khẩu đại liên rồi đào hầm tránh bom ngay cạnh mộ cụ. Đào sâu chừng 1m thì thấy chiếc quách dài hơn 2m, rộng 80cm. Anh Tùng nghiến răng nghiến lợi, dùng xà beng đâm vỡ quách, để lộ ra chiếc quan tài đỏ sậm màu huyết dụ. Những người phá mộ tưởng trong quan tài có vàng bạc hoặc đồ cổ quý giá. Cậy nắp mãi không được, vẫn chiếc xà beng trên tay, anh ra sức đâm, chọc. Nửa trên quan tài vỡ toác. Bên trong, cụ Trần Tiến da thịt vẫn còn tươi nguyên, đầu đội mũ cánh chuồn, tóc bạc trắng như cước, dài đến vai, trùm ra ngoài áo gấm, đến tận cái đai tía ngang lưng. Xung quanh cụ xếp hàng chồng sách chữ nho. Hai bàn tay anh Tùng thô bè với những ngón tay trùi trụi như những quả chuối, lục tung đống sách và quần áo cụ để tìm vàng. Nhưng chẳng có gì ngoài sách. Anh ta xé từng cuốn rồi ném tung lên trời. Gió đồng hun hút thổi, giấy lả tả bay trắng đồng. Đám trẻ chăn trâu tranh nhau nhặt những tờ giấy bản có chữ nho về dán diều. Bố Khoa khi hay chuyện ra xem, nước mắt lưng tròng, mang về nhà một mảnh quan tài vỡ, to hơn bàn tay, gỗ đỏ thẫm, trong có những đường vân màu hổ phách, mùi rất thơm. Anh Minh thì xuýt xoa tiếc những cuốn sách chữ nho bị xé. Anh ngờ rằng, rất có thể, đó là các tác phẩm đem chôn theo của nhà văn Trần Tiến. Bởi chính cụ đã ghi tên một số tác phẩm của mình trong “Niên phả lục” mà nay không thấy còn. Cụ còn ghi ra giấy, dặn con cháu rằng: “Chớ nên để cho người ngoài đọc”. Ông Đức chỉ huy việc phá mộ chứng kiến toàn bộ cảnh ấy cười hỉ hả. Rồi nóng lòng chờ đợi một ngày kia, cậu bé thần đồng sẽ bị thui chột. Không dừng lại ở đó, lợi dụng quyền sinh quyền sát trong tay, ông đã làm nhiều việc rất hiểm độc và tàn ác đối với Khoa và gia đình Khoa, mà tôi không tiện nói ra đây. Nhưng rồi Ông Trời đã làm phần việc của mình. Và chỉ một thời gian sau, không hiểu ông vướng vào tội gì mà bị bắt. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử, tuyên án tù chung thân. Ông bị cùm chân tay, nghĩ cũng tội. Và khi cho tạm thời tại ngoại để chữa bệnh, ông ra tù được ít ngày thì chết bất đắc kì tử, có khi ở trong thì thì lại chưa chết, cái chết cũng dữ dội lắm, nghe bà con kể thế. Còn anh trưởng nhóm dân quân Tùng, người trực tiếp đập phá mộ, bị đau ruột thừa. Chẳng biết có phải lỗi bác sĩ không mà vết mổ bị nhiễm trùng rất nặng, phải mổ đi mổ lại đến chín lần. Có lần, bác sĩ còn bỏ quên cả dao kéo trong bụng anh. Cuối cùng, ruột bị hoại tử phải cắt bỏ. Anh đã phải sống như bị trời đày đến non 25 năm bằng một mẩu ruột. Uống cái gì vào miệng là nước òng ọc chảy ra hậu môn. Đau đớn vô cùng, ngày đêm quằn quại kêu khóc. Muốn chết mà không chết được. Muốn bớt nghiệp, cần phải sám hối. Gia đình đã bí mật nhờ người sắm lễ đến từ đường nhà bé Khoa rồi ra ngôi mộ bị phá thắp hương tạ tội. Thế mà mãi hơn một tháng sau, anh Tùng mới chết được. Chứng kiến cái chết thê thảm của anh Tùng nhiều người dân bảo: “Ông trời quả là có mắt đấy. Lưới trời tuy thưa mà không để lọt. Luật nhân quả xưa nay có chừa một ai. Đúng là gieo nhân nào thì sẽ gặt quả ấy. Mọi người cứ ngẫm mà xem, không sai đâu”. ( Tên nhân vât trong bài đã được thay đổi )

GIẾT HEO & QUẢ BÁO RỢN NGƯỜI.

( Truyện kể người thật việc thật từ Phật Pháp nhiệm màu kì 12 tháng 4 năm 2014 ) Cô Hồ Thị Quyến sống cùng gia đình ở một vùng quê yên ắng tỉnh Trà Vinh, sống bằng nghề làm ruộng, cuộc sống khá khổ cực. Khi đến tuổi trưởng thành, cô kết hôn với một người cùng quê là anh Trần Văn Thuận. Hai người sống với nhau có hai con gái và một trai. Cô mưu sinh bằng nghề mua bán heo. Mua bán heo vài năm kiếm được nhiều tiền khấm khá nên hai vợ chồng cô kiêm luôn vừa mua heo, vừa mổ thịt và bán tại chợ. Mọi thứ đều suông sẻ nên hai người mở luôn một lò sát sinh, một phần giết mổ lấy thịt giao sỉ một phần đem đến sạp tại chợ bán lẻ. Cuộc sống cứ như vậy được vài năm. Nghiệp báo đầu tiên xuất hiện đó là lúc cô đang mang thai đứa bé gái, cổ cô nổi một cục bướu. Gia đình đưa cô lên Sài gòn để mổ, may cho cô là bướu lành tính, bấy giờ cô vẫn chưa hiểu gì về quả báo. Sau đó về lại Trà Vinh cô vẫn tiếp tục làm heo và bán, vẫn không hề giảm giết chóc. Cô lại có thai đứa bé trai và sinh khó phải mổ, sức khỏe càng lúc càng yếu. Ba tháng sau đó tự nhiên máu trong người cô đổ ra rất nhiều như bị băng huyết, cô ngất xỉu nên người nhà phải đưa đi bệnh viện cấp cứu tưởng chừng như không thể qua khỏi. Bác sĩ đã truyền máu và mổ cho cô lấy một khối u khác nữa đem ra ngoài và may vết thương lại. Trong khi con trai cô bệnh liên tục, một tháng bị động kinh ba -bốn lần, sức khỏe không tốt. Kể từ thời gian này trở đi gia đình cô luôn xảy ra chuyện, vợ chồng bất hòa, con cái bệnh hoạn. Chồng cô có tiền sinh ra ăn chơi, nhậu nhẹt, có nhiều đêm không về nhà nên gánh nặng công việc và gia đình đổ dồn vào cô. Càng ngày tinh thần và thể xác cô càng lúc càng sa sút. Nhân duyên đầu tiên giúp cô biết về Phật pháp là vào năm 2004 cô đến chùa gần nhà thỉnh sư cô về tụng kinh, tẩn liệm cho tang lễ của mẹ cô. Sư cô thấy gia đình giết mổ heo như vậy mới hướng dẫn cho cô về việc không nên sát sanh hại vật trong tang lễ. Cô nghe qua mà hết hồn vì cô sát hại tới năm con heo để những người đến phụ đám được ăn và cũng thể hiện sự “có hiếu” lần cuối với mẹ, không ngờ lại là bất hiếu chứ không phải có hiếu. Sư cô giải thích với cô rằng nếu giết mổ như vậy người mất rất đau khổ, sẽ bị đầu thai làm kiếp súc sinh để trả nợ, người sống cũng bị quả báo rất nặng. Cô sợ hãi nên nhờ sư cô tổ chức cúng trai Tăng hồi hướng cho mẹ, sau đó trong 49 ngày thường xuyên đến chùa để tụng niệm và nghe Phật pháp. Cô quy y Tam bảo pháp danh Diệu Minh, nhưng cô vẫn chưa từ bỏ được nghề. Lúc này là chồng cô hoàn toàn giao phó việc mổ giết heo, bán heo cho cô quản lý. Đầu năm 2005, cô nằm mộng một giấc mộng rất kỳ lạ. Cô thấy mấy người làm đem con heo lên bàn thọc huyết rồi quăng xuống, nhìn kỹ thì hóa ra con trai cô. Khi cô giật mình dậy hết sức lo sợ, nhưng vẫn không nghĩ rằng điềm chiêm bao sẽ có ý nghĩa gì đối với nghiệp báo. Một thời gian sau nữa thấy trong người khó chịu, cô đi khám và phát hiện bị u nang, là u ác tính, phải mổ và vô thuốc xạ trị, người ốm tóc không mọc nổi. Do sức khỏe cô kém quá, lại thiếu máu trầm trọng nên bác sĩ cho cô tạm về nhà nghỉ dưỡng một tuần rồi vào điều trị tiếp. Cô cứ hết bị mổ thiếu máu rồi tiếp tục bệnh, khối u, lại mổ…cho nên hễ nghe đến từ mổ là cô sợ khiếp vía. Trong lúc về nhà nghỉ dưỡng thì cô nằm mộng. Trong giấc mộng cô thấy con heo to trong vườn nhà đang nuôi ( kể từ sau đám tang mẹ thì nhà cô lúc đó chỉ còn nuôi duy nhất mình con heo này), nó nói với cô rằng: “Con ơi lại tấn mùng cho mẹ đi con, muỗi cắn mẹ dữ lắm”. Cô nghe rõ ràng tiếng của mẹ cô thì mới đến gần con heo, heo lại nói tiếp: “ Tấn mùng cho mẹ đi con, bữa giờ không có mùng muỗi cắn mẹ quá con à, mẹ đã thành heo rồi”. Cô sợ hãi giật mình tỉnh giấc lúc đó là 12 giờ đêm. Sáng hôm sau cô nói chồng cô chở cô lên vườn mà nuôi con heo. Cô vừa lên thấy con heo to đã đẻ 6 con. Con heo nằm y hệt như lúc cô nằm mộng. Cô đến vuốt ve heo niệm Phật mà rơi nước mắt, chợt nghĩ đến đám tang sư cô có nói giết heo cúng tế thế này người chết phải đầu thai làm heo để trả nợ. Cô hết sức đau lòng.
Kết quả hình ảnh cho heo đẻ con
Sáng hôm sau cô nói chồng cô chở cô lên vườn mà nuôi con heo. Cô vừa lên thấy con heo to đã đẻ 6 con. ( Ảnh minh họa )
Mấy hôm sau trong lúc cô ngồi niệm Phật thì nghe con gái báo rằng con heo đã bỏ ăn và chết. Cô buồn bã, lo lắng, khủng hoảng và chính yếu tố này đã giúp cô quyết định bỏ hẳn nghề làm heo. Sau đó cô lên Sài gòn điều trị tiếp. Sự đau đớn do bệnh tật hành hạ cô. Có một bữa thay vì nằm trong phòng lưu bệnh thì cô xách giỏ đi lang thang tìm một ngôi chùa. Tự dưng có một cái gì đó vô hình đưa đẩy cô bước vào một ngôi chùa ở quận 10 xin vào lạy Phật, cô vào gặp ngay thầy trụ trì. Không biết duyên cớ sao cô kể hết cuộc đời mình cho thầy nghe. Thầy bảo: “ Con có thấy gieo nhân nào gặt quả nấy không con? Chỉ đến khi bị ung thư đau đớn, mổ xẻ liên tục rên la mới biết nỗi khổ đau của chúng sanh hàng ngày bị con hành hạ giết chóc. Nghiệp báo đến không thể trách ai, tự mình làm tự mình chịu, làm khổ lây đến con cái, ảnh hưởng hạnh phúc gia đình. Khi con giết con vật nó đau đớn cùng cực. Con sợ chết nó cũng sợ chết vậy. Nó oán, hận tràn ngập và thần thức của nó cứ lãng vãng xung quanh con chờ báo oán. Chỉ có tu hành, niệm Phật, ăn chay, phóng sanh hồi hướng cho các chúng sanh đó thì may ra có chút lợi ích.” Nghe thầy giảng chi tiết cô bắt đầu hiểu rõ lý do vì sao mình bịnh ung thư, vì sao con cái mình thường ốm đau bệnh tật, gia đình không hạnh phúc. Cô bắt đầu chấp nhận quả báo và không rên la nữa như những bạn bệnh cùng phòng nữa mà lo chăm chỉ niệm Phật. Khoảng thời gian vô thuốc người nóng nảy bức rức rất đau đớn khổ sở nhưng hiểu rồi nên cô nghe lời thầy dạy cố niệm Phật nhiều hơn. Sau đó bác sĩ lại cho cô về nhà dưỡng tiếp. Lần này, cô thường qua ngôi chùa cô quy y lúc mẹ cô mất để tụng kinh, duyên đưa đến cô gặp quyển kinh Nhân Quả Ba Đời, tự dưng đọc đến trang 26 thấy có kể những con heo nó kể cho một vị Tăng nghe người ta giết nó làm thịt đâm trói làm nó đau đớn, uất hận, rên la, van xin như thế nào, cô khóc và mang về cho cả gia đình xem. Trước khi lên bàn mổ lần thứ năm cô khấn Quan Âm Bồ tát giúp cô có cơ hội quay trở về lại làm một con người tốt, không sát sanh hại vật, lo tinh tấn tu hành lấy công đức để hồi hướng cho những chúng sanh từng bị cô giết hại. Sau khi vô đủ toa thuốc lần thứ tám, về nhà từ đó trở đi cô quyết định ăn chay trường, từ bỏ việc giết chóc chúng sanh, tinh tấn tu hành niệm Phật.
Sau khi vô đủ toa thuốc lần thứ tám, về nhà từ đó trở đi cô quyết định ăn chay trường, từ bỏ việc giết chóc chúng sanh, tinh tấn tu hành niệm Phật. ( Ảnh minh họa )
Từ khi bỏ hẳn nghề làm heo và lo tinh tấn tu hành, tâm cô không còn lo sợ, không gặp ác mộng. Chồng cô hồi trước ngang tàng thì bây giờ lại chuyển đổi đi chùa tụng kinh niệm Phật, giúp đỡ người khác. Đầu năm 2007 trên mũi cô nổi một cái mụt đau nhức và to dần, cô lên bệnh viện Hòa Hảo xét nghiệm thì được báo là nang, bác sĩ cho uống thuốc 15 ngày lên mổ lấy nang ra. Cô nghe nói nang là thấy mệt rồi nhưng đã tu hành hiểu quả báo nên chấp nhận mà về nhà niệm Phật, mỗi lần niệm cô đều lấy tay vuốt vuốt cái nang đó (cô xem quyển niệm Phật chuyển hóa tế bào ung thư của Pháp sư Đạo Chứng). Chưa đầy 15 ngày sau, có một buổi sáng 4 giờ cô dậy công phu niệm Phật thì không nhìn thấy cái nang trên mũi nữa. Sự nhiệm mầu Phật pháp này đã làm chuyển hóa cả gia đình cô. Cả nhà giờ đều quy y Tam Bảo, tu hành niệm Phật, thân tâm bình an, cuộc sống ổn định. Cô có đôi lời nhắn gởi đến những người đang làm những nghề nghiệp sát sinh hại vật: “Xin chân thành sám hối những tội lỗi đã gây ra cho nhiều chúng sanh. Xin mọi người hãy chuyển nghề khác, đừng làm những nghề giết hại chúng sanh, không chỉ có hại cho bản thân mình mà còn cho những người thân bên cạnh mình nữa. Nhân quả không sai đâu các vị ạ.”

QUẢ BÁO CỦA NGƯỜI THÍCH ĂN VÀ HAY LÀM TIẾT CANH.

( Trích từ “Gương sát sinh, quả báo hiện tiền – CS Hữu Minh www.duongvecoitinh.com ) Đầu năm 2009, được tin thân mẫu bên nhà bệnh nặng có thể không qua khỏi tôi vội vàng quay về để thăm hỏi bệnh tình. Mẫu thân tôi bị ung thư bướu cổ, bác sĩ phát hiện ra từ năm 1997 và phải mổ hết đôi lần. Nhưng không may là mổ xong bướu này thì bướu khác mọc lên. Uống thuốc mỗi ngày chỉ làm cho bớt đau và khối u mọc chậm lại chứ không bao giờ hết. Từ Mỹ về đến nhà, nhìn mẫu thân mà tôi xém chút nhìn không ra đó chính là mẹ ruột của mình. Ngày trước cụ có da có thịt lắm, nhưng lần cuối nhìn lại mẫu thân thì như chỉ còn da bọc xương giống người lâu ngày bị bỏ đói. Trước khi bay về Việt Nam một ngày, tôi đã tìm địa chỉ các ban hộ niệm (BHN) tại địa phương và liên lạc trước để nhờ họ đến hộ niệm cho mẫu thân. May mắn thay tôi tìm được BHN Thanh Liên tại Nha Trang và chị trưởng ban cũng nhiệt tình nhận lời đến hộ niệm. Từ ngày biết đến Phật pháp và pháp môn Tịnh Độ tôi thường hay gọi điện thoại và gửi thư về cho mẫu thân, nhắc nhở cụ niệm Phật cầu vãng sanh, nhưng tiếc rằng thiện căn, phước đức của cụ còn ít quá nên cụ niệm Phật có lẽ không được là bao. Tôi nhớ ngày còn nhỏ tôi thường hay quấn quít bên mẫu thân và thấy cụ cắt cổ gà, làm thịt tại nhà đôi lần. Có lần cụ cắt tiết con gà xong, bỏ vào nồi đậy lại. Vậy mà một tiếng sau, khi đổ nước sôi vào để làm lông thì bỗng dưng nắp nồi bật tung lên, kế đó con gà vùng dậy, đầu ngật ngưỡng tung chạy ra ngoài làm mọi người phải rượt theo bắt và giết lần nữa. Có thể vì mang nghiệp như thế nên giờ cụ đã bị ung thư bướu cổ. Cục bướu của cụ rất to, cỡ bằng trái bưởi nhìn rất kinh sợ. Máu rỉ ra từ nơi bướu đóng cứng thành cục. Những tháng cuối cùng của đời cụ máu cứ rỉ ra từng giọt từ bướu khiến người trong nhà phải may một cái bao vải đặc biệt để thấm máu, đeo vào cổ mẫu thân. Vài tiếng là phải thay bao vải một lần. Cảnh vật ấy khiến tôi liên tưởng đến con gà năm xưa bị mẫu thân cắt tiết, máu chảy ra từng giọt rớt xuống chiếc tô hứng bên dưới để làm tiết canh. Tôi có người em trai đã có gia đình và 3 đứa con trai. Nhà tôi có truyền thống thờ Phật từ hồi thân phụ tôi còn sống. Ông cụ tạo dựng một bàn thờ Quan Thế Âm Bồ-tát rất lớn và trang nghiêm nhất nhì trong thành phố thời bấy giờ. Thân phụ tôi bỏ công đi sưu tầm các lư đồng chạm trổ rất đẹp và công phu từ các bàn tay nghệ nhân khéo léo về để trang nghiêm nơi thờ phượng. Thỉnh thoảng tôi thấy ông cụ tụng kinh vào những ngày rằm lớn. Còn mẫu thân của tôi cũng là một Phật tử thuần thành và rất thích đi chùa làm công quả. Bàn thờ trong nhà tôi rất lớn và nghiêm trang đến độ sau này khi anh rể tôi trong lần về thăm nhà, anh em ngồi nói chuyện vui với nhau thì được nghe anh kể lại, hồi ấy anh “kết” chị tôi nhưng khi đến nhà không dám vào, vì anh là người công giáo. Anh nói hồi đó vừa mới bước vào cửa là thấy ngay bàn thờ Phật lớn quá làm anh “khiếp” nên không dám bước tiếp. Dưới nơi thờ phượng có một tủ gỗ đựng nhiều kinh sách Phật. Thời ấy trong nhà tôi sách thiếu nhi không có nên không có gì để đọc, thế là tôi cứ lôi mấy cuốn sách mỏng nói về nhân quả, đời là bể khổ ra xem. Không ngờ những điều đã đọc ngày xưa ấy lại gieo vào tâm tôi những hạt giống tốt cho dù tôi đi đến tận phương trời nào. Tuy gia đình tôi thờ phượng sớm hôm nhang đèn như thế, nhưng em trai của tôi lại không tin Tam Bảo. Chỉ được một điều là mỗi năm vào dịp Tết em trai tôi cũng chịu khó đem hết đồ đồng, lư hương trên bàn thờ xuống đánh bóng lại cho mới để đón xuân. Ngoài ra hễ nói chuyện Phật pháp hay bảo tu hành thì tuyệt nhiên không chịu. Mỗi lần gọi điện thoại về tôi gắng khuyên mẫu thân niệm Phật để sau này được về với Phật, em trai tôi có vẻ không bằng lòng. Em trai tôi bảo gọi điện về nói chuyện gì quan trọng hay hữu ích thì nói, chứ nói làm gì ba thứ chuyện Phật pháp. Còn em dâu của tôi vốn sanh ra trong một gia đình công giáo, lớn lên trong nhà dòng dưới sự nuôi nấng và dạy dỗ của các sơ. Ấy vậy mà sau này không hiểu sao về làm dâu nhà tôi cô ấy chuyển tâm quay sang quy y Phật. Hài hước thay khi trong gia đình tôi có sự đổi ngôi như thế. Ngày trước lúc mẫu thân tôi còn khỏe, cụ lén lên chùa nhờ các thầy đặt pháp danh và quy y Tam Bảo vắng mặt cho cậu em trai của tôi. Mãi đến sau này em trai tôi lục lọi trong tủ, tìm thấy tấm giấy quy y có ghi tên của nó trên ấy, thế là em trai tôi có vẻ không hài lòng và gặng hỏi mọi người ai đã làm điều ấy. Trong trong những lần tôi về thăm nhà trước kia, những câu chuyện tán gẫu giữa hai anh em với nhau giúp cho tôi thấy dường như tâm ý của em trai tôi chỉ thích hai thứ đó là: xe mô tô và tiền bạc. Biết được điều này nên khi hay tin bệnh tình mẫu thân đã đến lúc nguy kịch phải thở ôxy, tôi xin phép sở làm nghỉ ba tuần để về Việt Nam và đem theo $2800 USD làm lộ phí. Biết tính em trai nên từ Mỹ về đến nhà, sau khi thăm hỏi bệnh tình thân mẫu xong tôi biết nếu cho mời BHN đến nhà để niệm Phật cho mẫu thân thế nào cũng bị làm khó dễ, tôi đã tương kế tựu kế bằng cách bỏ ra $400 USD “hối lộ” cho em trai để mua một chiếc TV và thêm $400 USD nữa đưa cho cô em dâu để mua thêm hàng hóa buôn bán, vì lúc ấy cô em dâu mới mở shop bán quần áo và đồ dùng trẻ con. Sau đó chị trưởng BHN đến nhà, khai thị hộ niệm cho mẫu thân. Em trai tôi có vẻ không vui vì ngày nào cũng phải canh dắt xe cộ của các chị trong BHN đến nhà trợ niệm cho mẫu thân, nhưng nhờ có “thủ tục đầu tiên” nên chỉ nghe em trai tôi càm ràm đôi câu chứ không phản đối. Nhìn bệnh tình của mẫu thân tôi biết do nghiệp sát trong quá khứ nay quả đã đến lúc chín mùi. Tôi đề nghị với chị trưởng BHN mua vật phóng sanh, hồi hướng công đức ấy cho tất cả oán thân trái chủ của mẫu thân để giảm bớt sát nghiệp. Có một điều tôi nhận thấy lạ là tuy mẫu thân rất ốm chỉ còn da bọc xương, nhưng sức ăn của cụ gấp ba lần người bình thường. Cứ hai tiếng đồng hồ lại ăn một lần. Nếu không ăn thì người nhà phải pha sữa uống. Mỗi ngày mẫu thân phải uống thuốc giảm đau và các cơn đau dường như kéo đến vào ban đêm làm cụ đau đớn rên la, có khi vừa ôm cổ vừa đi vừa rên la lúc giữa đêm. Sau mấy hôm nằm cạnh mẫu thân và chứng kiến các hiện tượng như thế tôi biết mẫu thân đang bị oan gia trái chủ hành hạ. Sức ăn của mẫu thân không phải của một người già đã 76 tuổi ăn, mà chỉ có thể là oan gia ăn để có sức đêm đến hành hạ mẫu thân như thế. Một đêm thấy mẫu thân đang nằm rên la vì đau, tôi đến sát bên giường cụ, một tay chạm nhẹ vào khối u nơi cổ mẫu thân, tay kia chắp lại, mắt nhắm nghiền và không hiểu sao trong đầu tôi bắt đầu “nói chuyện” với khối u, nói bằng tâm thức chứ không phải bằng lời. Tôi nói rằng: “Thưa quý vị oan gia trái chủ trên thân mẹ tôi, xin quý vị hãy khoan dung tha thứ cho lỗi lầm của mẹ tôi. Vì vô minh nên trước kia mẹ tôi đã làm tổn hại đến quý vị. Nay tôi xin thành tâm sám hối thay thế cho mẹ tôi. Tất cả công đức lành tôi xin hồi hướng đến cho quý vị để quý vị vãng sanh về Thế Giới Cực Lạc của Phật A Di Đà. Giờ đây tôi xin niệm Chú Vãng Sanh để tất cả quý vị có thể về với Phật.” Và lúc ấy tôi đã nhiếp tâm vào từng câu thần chú phát ra từ trong tâm tưởng, cùng lúc quán tưởng từng con vi trùng từ nơi cổ mẫu thân đang ngự trên hoa sen bay về phía Phật A Di Đà. Sau này nghĩ lại tôi thấy hơi lạ, vì bình thường tôi chỉ niệm Phật trong các thời công phu, không niệm thêm bất cứ chú gì cả. Ấy vậy mà không hiểu vì sao lúc ấy tôi không niệm Phật, mà lại niệm chú. Tôi đã niệm một lúc lâu như thế, rồi tôi thấy mẫu thân nằm im, không rên la nữa nên tôi bèn mở mắt ra và hỏi mẫu thân có còn thấy đau nữa không? Mẫu thân trả lời rằng không. Thì ra khối u cũng có tánh linh và có Phật tánh giống như chúng ta vậy. Sau khi “hối lộ” cho em trai, còn lại $2000 USD trong túi tôi dùng hết vào việc phóng sanh và được chia làm hai đợt. Buổi sáng hôm ấy tôi cùng các chị trong BHN ra chợ mua các loài thủy tộc để phóng sanh. Nào cá to, cá nhỏ, ốc lớn, ốc bé, cua… mua rất nhiều. Chị trưởng BHN đã quen thuộc với việc làm này nên các thân chủ bán cá đều quen mặt biết tên. Sau khi mua vật phóng sanh xong, cả nhóm đem hết các túi, thùng đựng cá ra để tràn lan phía ngoài chợ. Không biết từ đâu có hai chiếc xe jeep của ban trật tự đô thị lù lù xuất hiện và dừng lại ngay trước cả nhóm. Tôi nghĩ thầm chắc là rắc rối to rồi, vì chúng tôi để đồ nhiều quá, chiếm ra gần hết ngoài đường vào chợ, xe cộ không đi được và sẽ bị ban đô thị “hốt” hết. Nhìn vẻ mặt hầm hầm của anh trật tự viên tôi cũng hơi ngán. Anh ta hỏi lớn rằng: “Tất cả đồ để dưới đất này của ai, tại sao lại để ra hết ngoài đường?” Sau khi nghe nhóm giải thích là mua vật về phóng sanh và đang chờ xe đến để chở đi thì anh ta tỏ ra dễ dãi rồi bỏ đi mà không nói thêm một lời nào. Tôi mừng hết chỗ nói vì đã không có điều gì đáng tiếc xảy ra. Trong khi chúng tôi còn đang loay hoay chưa biết gọi xe đến có được không thì trong chợ bỗng dưng có một anh mon men lại gần và tự giới thiệu anh ta là tài xế xe tải, chuyên chở các loại thủy sản để bán cho các chủ sạp trong chợ. Thấy mọi người mua nhiều để phóng sanh, anh tình nguyện chở hết các loài vật đi phóng sanh mà không lấy tiền. Không chỉ lần này mà bất cứ lúc nào mua nhiều như thế anh cũng sẽ tình nguyện giúp. Đúng là chuyện lạ có thật. Thế là cả hai lần phóng sanh anh ấy đều tận tình đem xe tải đến giúp thật. Đường đến nơi phóng sanh cũng hơi xa và phải đi ngang một đoạn đường tư nhân. Đoạn đường này có một cây sắt chắn ngang giống như hàng rào bảo vệ mỗi khi có xe lửa đi qua để không cho người lạ vào khu vực ấy. Khi đến đây cả nhóm đều phải dừng lại và dáo dác tìm xem có ai có thể ra giúp được không. Hỏi ra thì được biết người chủ khu vực (người duy nhất có chìa khóa để mở khóa cây sắt chắn ngang) đang đi vắng không có nhà. Thế là cả bọn nhìn nhau không biết tính sao vì đường đi xa, địa điểm phóng sanh cũng không còn lâu nữa. Lúc ấy dường như có phép lạ khi từ đằng xa có bóng một chiếc xe Honda đang rẽ vào con đường cả nhóm đang chờ. Hóa ra đó chính là người chủ khu vực đã về, tựa như có “người” bảo ông phải về đúng vào lúc này vậy. Sau khi người chủ khu vực biết rõ nguyện vọng của nhóm, chú liền hoan hỉ mở cổng cho cả bọn đi qua và cười rất tươi. Phải mất khoảng gần tiếng đồng hồ cả nhóm mới khiêng hết các loài vật từ xe xuống để phóng sanh xuống con sông như đã định trước. Mọi người ai cũng mệt vì trưa nắng nhưng lòng lại vui vì biết rằng đã cứu được rất nhiều sanh mạng thoát khỏi cảnh bị dao thớt chặt chém. Có một chi tiết nhỏ nhưng có lẽ cũng là nhân duyên là bữa đó trong lúc cả nhóm vào chợ mua vật phóng sanh, tự dưng gặp được một nhóm đồng tu khác từ Sài Gòn ra Nha Trang chơi. Thế là chiều hôm ấy sau khi phóng sanh xong cả hai nhóm đều đến nhà hộ niệm cho mẫu thân tôi. Kể ra cụ cũng có phước, nhưng tiếc rằng không nhiều. Suốt thời gian tôi ở Việt Nam gần ba tuần ngày nào BHN cũng đến để trợ duyên cho mẫu thân niệm Phật. Ngoài thời niệm Phật chung với BHN ra, tôi cũng cố gắng khai thị thêm và niệm Phật chung với mẫu thân được thêm đôi tiếng đồng hồ mỗi ngày. Trong phòng nghỉ của mẫu thân tôi dọn hết đồ đạc ra ngoài chỉ chừa lại cái giường nằm. Trên bốn bức tường đều có hình Phật A Di Đà đang đưa tay tiếp dẫn để mẫu thân có thể nhìn thấy Phật khắp nơi. Cẩn thận hơn mỗi ngày tôi đều dặn dò mẫu thân nếu thấy cha, mẹ, hay phụ thân đã mất của tôi đến để dẫn đi thì đừng đi theo họ vì đó là oan gia trái chủ trá hình. Chỉ được đi theo Phật A Di Đà mà thôi. Tôi thường hỏi mẫu thân duy nhất một câu mỗi ngày là: “Phật A Di Đà màu gì, tướng mạo ra sao?” Mẫu thân cũng chịu khó trả lời rằng: “Phật A Di Đà mặc áo đỏ, nền vàng, tay trái cầm hoa sen, tay phải duỗi xuống.” Đó chính là tấm hình Phật được treo trong phòng mẫu thân trên bốn vách tường. Chị trưởng BHN khuyên tôi nên đem hình Tây Phương Tam Thánh tiếp dẫn vào trong phòng để mẫu thân được nhìn thấy, tôi nghĩ cũng hợp lý, nhưng lại sợ mẫu thân bị phân tâm khi nhìn thấy nhiều hình Phật khác nhau nên tôi đã không làm theo ý chị. Hy vọng chị trưởng BHN sẽ hiểu được nỗi lòng của tôi lúc ấy. Niệm Phật nhiều như thế được vài hôm bỗng dưng mẫu thân sanh ra giải đãi không muốn niệm Phật nhiều như trước nữa. Cụ bắt đầu niệm Phật với tâm trạng uể oải, gượng gạo và vì để tôi vui lòng, chứ không phải là tự bản thân mẫu thân thích niệm Phật. Thủa còn chưa thành thân với phụ thân tôi, mẫu thân thường đến chùa và thích nghe pháp của các thầy giảng. Chính mẫu thân là người đã tập cho tôi có sở thích nghe pháp trong những lần về thăm nhà và thường đưa các đĩa cassette (khi ấy chưa có đĩa CD như bây giờ) bên trong là các bài giảng của nhiều vị pháp sư để tôi đem về Mỹ nghe. Nhưng tiếc rằng mẫu thân chỉ biết tu phước hữu lậu chứ chưa biết tu phước vô lậu. Bởi tâm mong muốn lành bệnh của mẫu thân dường như lớn hơn tâm vãng sanh. Mặc dù tôi đã hết lời giảng giải, và BHN cũng giải thích cho mẫu thân biết rằng khi một chiếc áo đã quá cũ và rách nát, dù có vá lại nhiều lần để mặc nhưng cuối cùng cũng đến lúc phải bỏ đi chứ không thể lành mãi được. Thân người cũng thế mà thôi. Ở tuổi ngoài thất thập cổ lai hy, đời người như ngọn đèn treo trước gió, làm sao đèn cháy mãi cháy lâu được? Suốt thời gian ở gần mẫu thân, tôi cố gắng làm hết mọi việc thiện và hồi hướng tất cả công đức cho mẫu thân. Mỗi đêm trước bàn thờ Phật tôi thành tâm nguyện cầu cho mẫu thân được vãng sanh trong khoảng thời gian tôi còn ở Việt Nam, càng sớm càng tốt. Hết tiền phóng sanh tôi xem lại bản thân mình có thể làm gì được hơn nữa để tạo thêm công đức cho mẫu thân sớm được về với Phật trong thời gian này. Tôi đã không ngại ngần lên chùa thỉnh thầy cho tôi được xuống tóc và xin nguyện đem công đức ấy hồi hướng cho mẫu thân. Sau khi tôi xin thầy cho xuống tóc, suốt mấy ngày liền sau đó tôi cảm nhận phía trên đỉnh đầu rất nóng. Một cảm giác nóng từ bên trong tỏa ra chứ không phải do cái nóng bên ngoài của tiết trời tháng ba tạo thành. Hơi nóng dường như nóng hơn bao giờ hết mỗi khi tôi ngồi tĩnh tọa niệm Phật. Điều này cho đến bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao, nhưng tôi đoán có thể do mới cạo tóc, lại đi dưới trời nắng nóng bên nhà nên bị như thế cũng nên? Khi tóc không còn tôi lại tiếp tục nhìn xem trên thân mình còn có gì để có thể bố thí hay cho đi để mong mẫu thân tôi được vãng sanh. Thế là khi nhìn thấy con dao Thái Lan nhỏ để trên bàn tôi nghĩ ngay đến chuyện trích máu của mình để viết hồng danh A Di Đà Phật rồi đốt để cúng dường chư Phật. Nghĩ là làm nhưng do dao xài lâu ngày không còn được bén nên tôi đã phải cứa đi cứa lại nhiều lần trên đầu ngón tay cho đến lúc tướm máu. Trước khi làm điều này tôi đã quỳ trước bàn thờ Phật để nguyện một lời nguyện không thay đổi, rằng tôi chỉ xin hồi hướng công đức này để mẫu thân được vãng sanh trong thời gian tôi còn ở Việt Nam, để tôi có thể lo cho mẫu thân một cách vẹn toàn. Nhưng tiếc thay, có lẽ lời cầu nguyện của tôi chưa đủ thành tâm để cảm đến đức Phật. Có một lần tôi đang ngồi niệm Phật cùng BHN Thanh Liên trong phòng mẫu thân, mắt tôi hướng lên nhìn hình Phật A Di Đà thì bỗng thấy có điều gì đó khiến tôi phải chú ý. Kế đó tôi thấy vầng hào quang màu vàng xung quanh Phật cứ lớn dần và tỏa sáng rực rỡ. Trong lúc ấy mọi người xung quanh còn đang niệm Phật và không thấy ai khác có cử chỉ gì lạ. Vì vậy tôi cũng tiếp tục niệm Phật và không nói gì. Cuối buổi hộ niệm không ngờ chị trưởng BHN tự động tiết lộ rằng chị thấy hào quang của Phật tỏa ra rất sáng trong lúc niệm hồng danh Phật. Như vậy là chỉ có tôi và chị trưởng BHN nhìn thấy được điềm lành ấy, ngoài ra không còn ai khác nhận ra điều đó. Nghe chị nói tôi cũng chỉ mỉm cười nhưng không nói thêm điều gì và im lặng cho đến tận bây giờ. Qua đó chúng ta biết rằng chư Phật đã phóng quang hộ trì suốt buổi hộ niệm mà mắt phàm chúng ta không nhìn thấy được. Sau thời gian ba tuần ở bên cạnh thân mẫu, ngày ngày cùng BHN niệm Phật, dường như sức khỏe của mẫu thân có phần tốt hơn chứ không thấy có triệu chứng vãng sanh, tôi lên đường trở về lại Mỹ và cẩn thận ghi lại tên và số điện thoại của các chị trong BHN cho cô em dâu, dặn dò khi có chuyện xảy ra với mẫu thân mà không có BHN ở cạnh bên thì hãy gọi cho BHN, không nên đưa vào bệnh viện. Tôi cũng dặn em trai như thế vì bình thường em trai tôi hay nghĩ rằng còn nước còn tát. Tôi bảo em trai rằng đúng vậy, nếu trong ao còn cá thì mới còn tát, chứ nếu trong ao đã không còn cá thì có tát nhiều cũng chẳng thu được lợi ích gì. Mẫu thân đã lớn tuổi, nếu đã đến lúc ra đi thì hãy để mẫu thân đi chứ đừng nên đưa mẫu thân vào bệnh viện làm gì nữa. Khoảng một tháng sau đó nghe người nhà nói lại mẫu thân không còn ham thích niệm Phật cùng BHN nữa nên các chị trong BHN cũng không còn đến nhà để trợ niệm cho mẫu thân. Nghe đến đây tôi chỉ biết thở dài. Âu cũng là phước phần của mẫu thân như thế, dẫu cho tôi đã cố gắng tận lực. Nhưng hàng tháng tôi vẫn gửi tịnh tài về cho chị trưởng BHN làm lễ phóng sanh hồi hướng công đức cho cụ hầu giảm bớt được tội nghiệp của mẫu thân được phần nào hay phần nấy. Trước khi về lại Mỹ, tôi có ghé thăm một người bà (chị của ông nội tôi) đã quá già yếu. Bà đã nằm một chỗ trên giường và rơi vào tình trạng nửa mê nửa tỉnh. Mọi chuyện vệ sinh cá nhân đều phải có người giúp chứ bà không còn làm chủ được bản thân nữa. Đến nhà thăm bà, tôi cũng cảm thương bà nên dù biết rằng khó có thể nói gì cho bà hiểu được vào lúc này, nhưng tôi nghĩ dù chỉ còn một tia hy vọng cũng phải cố gắng. Sau khi treo tấm hình Phật A Di Đà lớn bằng người thật nơi cuối giường để khi bà tỉnh có thể nhìn thấy, tôi còn để gần bên chỗ bà nằm một máy niệm Phật với hy vọng trước lúc lâm chung nếu bà nghe được danh hiệu Phật thì không phải rơi vào ba đường dữ như lời ngài Địa Tạng đã dạy. Sau đó tôi thử khai thị cho bà, nhưng phải nói thật lớn tiếng vì bà bị thêm chứng nặng tai. Trong thời gian khai thị có lúc bà có thể mở mắt ra nhìn và nói được vài câu, mắt hướng về phía hình Phật A Di Đà như có vẻ hiểu. Được vài phút như thế bà lại rơi vào hôn mê, nhưng tôi vẫn cứ đứng kề bên tiếp tục khai thị cho bà về nguyện lực thứ 18 trong Kinh Vô Lượng Thọ, sau đó mới ra về. Vài tháng sau tôi nghe nói bà ra đi, nhưng trước khi bà ra đi may mắn thay cô em dâu của tôi thuyết phục được con cháu trong gia đình bà cho mời BHN Thanh Liên đến để trợ niệm cho bà. Không ngờ cô em dâu còn nhớ lời tôi dặn khi hữu sự hãy gọi điện cho BHN đến để hộ niệm. Thật không uổng công tôi cẩn thận ghi lại số điện thoại của các chị trong BHN vào sổ tay của cô ấy. Qua điện thoại, cô em dâu líu lo kể về sự lạ kỳ trong ngày bà tôi ra đi. Đúng ra là khi nhận một ca hộ niệm nếu BHN thấy người lâm chung đã rơi vào hôn mê không còn tỉnh táo là họ sẽ không nhận lời hộ niệm. Nhưng có lẽ do trước khi rời Việt Nam tôi có kể cho chị trưởng BHN về trường hợp của bà, nên chị có vẻ thông cảm và sau này vì nể tình mà đến nhà hộ niệm cho bà. Ngày bà ra đi ngoài thoại tướng mềm mại, cây cối trong nhà bỗng dưng trổ hoa dù cây mua về đã mấy năm rồi nhưng chưa từng ra hoa lần nào. Chim chóc từ đâu bỗng bay về đậu lại rất nhiều trên mái nhà. Sau này tôi có đem điều này hỏi ý kiến cư sĩ Diệu Âm nhân dịp chú đến chùa Phật Quốc tại tiểu bang Washington, Hoa Kỳ để giới thiệu pháp môn Hộ Niệm thì được chú ấy xác nhận rằng, căn cứ vào các điềm lành ấy có khả năng bà đã được vãng sanh. Trở về Mỹ được ba, bốn tháng tôi được hay tin một ngày nọ cái bướu to trên cổ mẫu thân bỗng dưng vỡ và máu đen hôi thối chảy ra rất nhiều. Nghe đâu nhiều đến cả nửa xô nhỏ dùng để đựng nước lau nhà. Như thế là oan gia trái chủ đã rời khỏi thân thể của mẫu thân và cũng kể từ đó mẫu thân đã ăn ít lại, giống như chế độ ăn của người cao niên chứ không còn ăn nhiều như lúc trước nữa. Cuối năm ấy, vào lúc giữa đêm mọi người trong gia đình tôi đang ngủ thì nhận được điện thoại từ bên Việt Nam báo tin mẫu thân tôi đã ra đi. Nhưng cũng may là trước đó vài tiếng đồng hồ cô em dâu đã gọi cho BHN đến để trợ niệm cho mẫu thân từ lúc hấp hối và tám tiếng sau đó. Thoại tướng tương đối tốt khi chân tay mẫu thân đều mềm mại. Tuy rằng mẫu thân không ra đi trong lúc tôi còn ở Việt Nam như lời nguyện, nhưng có một điều ứng nghiệm là tôi còn nguyện thêm cho mẫu thân được ra đi vào ban ngày và có đầy đủ thiện hữu trí thức cạnh bên hộ niệm. Quả thật mẫu thân đã không ra đi vào ban đêm mà đi vào ban ngày nên hầu như BHN đến nhà đầy đủ để trợ duyên cho cụ.

SỰ OÁN HẬN CỦA NHỮNG VONG HỒN THAI NHI.

Suốt cả tháng trời, chị Phan Thị Hiền ở Đống Đa, Hà Nội liên tục bị những cơn đau bụng hành hạ. Mỗi lần lên cơn đau, chị lại nằm vật vã trên giường, ruột đau thắt như ai cào ai cắt, mồ hôi vã như tắm. Đi khám nhiều nơi nhưng bác sĩ không tìm ra bệnh. Không ăn, không ngủ, chị gầy rộc, người dờ dại như mất hồn. Đặc biệt, cứ nửa đêm về sáng, hễ chợp mắt là hình ảnh đứa trẻ toàn thân máu me be bét, mặt trắng bệch, mắt trợn trừng tức giận nhìn chị khiến chị sợ hãi, kêu la. Ngờ rằng đó là thai nhi ba tháng tuổi mình vừa phá bỏ, chị tìm đến trụ sở Liên hiệp khoa học kỹ thuật UIA ở số 1, Đông Tác, Kim Liên, Hà Nội để cầu siêu cho đứa con chưa kịp làm người của mình. Ông Vũ Thế Khanh, Tổng giám đốc Liên hiệp UIA bảo: “Chúng tôi đã tiếp nhận cả ngàn trường hợp như thế. Câu chuyện về sự oán hận của những hài nhi bị tước đoạt sự sống, chưa được siêu thoát nên cứ quẩn quanh bên người mẹ quấy phá là bình thường. Đã có biết bao cô gái trẻ, thậm chí vị thành niên và cả những phụ nữ trung tuổi, sau bao nhiêu năm vẫn bị ám ảnh khôn nguôi bởi những lầm lỡ của mình.” Ông Khanh vẫn nhớ như in trường hợp chị Thoa ở Hưng Yên. Đó là một buổi chiều cuối đông mưa dầm gió bấc. Một cô gái khuôn mặt thanh tú nhưng xám ngoét, chạy đến Trung tâm của ông trong tâm trạng hoảng loạn. Mất một hồi trấn tĩnh, cô mới run rẩy kể về cơn ác mộng của mình. Cô bảo, cách đây hai năm, cô liên tục nằm mơ thấy một bé gái giận dữ túm váy cưới của của cô kéo, giật đến rách toang. Ngày ấy, vì còn quá trẻ, cô cứ nghĩ là do mình quá lo lắng cho đám cưới nên mới sinh hoang tưởng.
Kết quả hình ảnh cho thai nhi báo oán
Cô bảo, cách đây hai năm, cô liên tục nằm mơ thấy một bé gái giận dữ túm váy cưới của của cô kéo, giật đến rách toang. Ngày ấy, vì còn quá trẻ, cô cứ nghĩ là do mình quá lo lắng cho đám cưới nên mới sinh hoang tưởng. ( Ảnh minh họa )
Vài ngày sau, đùng một cái, chồng chưa cưới đột ngột hủy hôn mà không nói lý do, cô chới với như người rơi xuống vực thẳm. Mất mấy tháng trời khóc lóc, khổ đau, thậm chí nhiều lần định tự tử, cô mới lấy lại được thăng bằng, tìm lại được niềm vui sống. Bây giờ, cô chuẩn bị bước lên xe hoa lần thứ hai. Nhưng suốt mấy ngày nay, cơn ác mộng xưa bỗng nhiên liên tục xuất hiện khiến cô vô cùng hoang mang, sợ hãi. Chợt nhớ đến thai nhi năm tháng tuổi mà cô từng phá bỏ khi còn là sinh viên với người yêu đầu, cô đã tìm đến ông Khanh để cầu cứu. Một nhà ngoại cảm đã kiều vong linh của thai nhi lên. Vừa nhìn thấy cô gái, nó đã khóc lóc, hờn trách: “Chỉ mong sướng lấy phận mình mà không quan tâm gì đến nó”. Cô gái òa khóc vì ân hận, xót xa. Cô rối rít xin lỗi và hứa sẽ làm lễ cầu siêu cho bé, đứa bé mới thôi khóc, thôi hờn. Ông Khanh bảo: Sau lần đó, cô gái đã lấy chồng. Và năm nào cũng quay lại đó để cầu siêu cho vong nhi. Một trường hợp khác, quê ở Bắc Ninh, rùng rợn hơn. Vì áp lực phải đẻ con trai để nối dõi tông đường mà chị Hậu đã phải bỏ thai nhi lần thứ bốn khi bác sĩ siêu âm nói là con gái. Nghe bạn bè khuyên, chị đã đến Đền Trần, chùa Hương để cầu nguyện. Cầu được ước thấy, một thời gian sau chị cũng sinh được cậu con trai. Nhưng đứa bé cứ quấy khóc suốt ngày, không ăn, không ngủ, uống sữa vào lại nôn ra. Mỗi lần nôn là mặt mày tím ngắt như bị ai bóp cổ. Linh tính mách bảo, chị bèn đến Trung tâm UIA để gọi vong thai nhi. Qua nhà ngoại cảm, vong hiện về, gào khóc: “Con hận mẹ. Vì yêu con trai hơn mà mẹ nỡ giết bỏ con. Chính con bóp cổ thằng cún không ăn được đấy”.
Qua nhà ngoại cảm, vong hiện về, gào khóc: “Con hận mẹ. Vì yêu con trai hơn mà mẹ nỡ giết bỏ con. Chính con bóp cổ thằng cún không ăn được đấy”. ( Ảnh minh họa )
Nghe vậy, chị Hậu sợ hãi, mặt xanh đít nhái. Chị quỳ sụp xuống cầu xin vong thứ lỗi, vì gia đình đằng nội cần có người nối dõi nên mới phải dứt bỏ con. Kể lể, khóc than, van lạy vong nhi cả tiếng đồng hồ, nó mới chịu gật đầu không hại em trai nữa. Ông Khanh bảo, đó chỉ là một trong vô vàn trường hợp mà ông đã chứng kiến. Theo ông Khanh, mỗi người có một lý do riêng để chối bỏ giọt máu của mình: Người vì hoàn cảnh gia đình, người vì lẫm lỡ, người vì lý do sức khỏe và cả cái tư tưởng cổ hủ “trọng nam khinh nữ” từ thuở nào còn giằng níu đến tận bây giờ. Nhưng xét cho cùng, vì bất cứ lý do gì thì việc phá bỏ thai nhi đều là có tội. Và việc các hài nhi nổi giận, báo oán cũng là lẽ thường. Bởi mỗi bào thai dù mới chỉ vài tháng tuổi đều là những sinh linh, đã có linh hồn. Các nhà khoa học trên thế giới đã chứng minh rằng, ngay từ khi còn trong bụng mẹ, đứa trẻ đã biết cười, biết bày tỏ cảm xúc, thái độ. Cho nên, khi người mẹ mang thai cần phải luôn tạo cuộc sống tươi vui bằng cách như nghe nhạc vui, treo tranh đẹp… Trong trường hợp treo tranh xấu thì đứa con cũng buồn rầu, ủ rũ đi. Rõ ràng, tinh thần của người mẹ ảnh hưởng rất lớn đến đứa trẻ nên ngay từ trong trứng nước đã là một sinh linh cần được nâng niu. Điều này cũng rất gần với quan điểm của nhà Phật. Theo đạo Phật thì ngay từ khi bắt đầu thụ thai, ý thức, thần thức đã xâm nhập vào bào thai. Bào thai đã là một mầm sống, là một sinh linh cần được nâng niu, bảo vệ. Cho nên hành động phá thai cũng giống như việc cướp đi sự sống của một con người. Một bà mẹ đi phá thai là phạm giới, mắc tội sát sinh, lỗi rất lớn. Vì thế, họ đau khổ, lương tâm dằn vặt và mong muốn sám hối là điều dễ hiểu. (Trích ” Những chuyện có thật về Nhân Quả và Phật Pháp Nhiệm Màu”- Hoàng Anh Sướng )