MẸ CHỒNG NÀNG DÂU – NHỮNG ÂN OÁN TIỀN KIẾP VÀ CÁCH HÓA GIẢI

(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Trần Trà Giang) Trai lớn dựng vợ, gái lớn gả chồng. Từ ngàn xưa, nếp sống ấy đã thấm vào máu, vào cái nhận thức cố hữu của cả xã hội. Hầu hết mọi người đều cho rằng nếu chẳng có vợ chồng con cái, thì cuộc sống biết nương tựa vào đâu, về già biết nhờ cậy vào ai. Chúng ta thường tự an ủi chính mình bằng cách cố tình lý tưởng hóa sự thật về hôn nhân, rằng dù ngoài kia phong ba bão táp, thì khi trở về nhà, đằng sau cánh cửa sẽ là một chốn bình yên. Ừ thì đúng là đôi khi cũng yên bình thật, thế nhưng đó không phải tất cả. Bình yên một phần, sóng gió lại có khi đến đôi ba phần, bảy tám phần chứ chẳng ít. Rất nhiều người sau khi bước chân vào cuộc sống hôn nhân, bỗng như tỉnh cơn mộng, phát hiện một sự thật rằng hóa ra phần lớn những mâu thuẫn, căng thẳng nhất trong cuộc sống lại xuất phát từ chính những tổ ấm nhỏ bé này. Nhắc đến Trà Giang, cô giáo mầm non quê xứ Nghệ, họ hàng lối xóm nghĩ ngay đến một người con gái dễ mến, rất đỗi hiền lành, điềm đạm, với một giọng nói nhẹ nhàng, và thái độ luôn dễ gần. Giang có một người chồng tốt tính, chăm sóc, lo lắng, yêu thương cô hết mực. Có thể nói là hiếm ai yêu vợ được như anh, tất bật lo cho vợ học ngành mầm non, rồi lại chạy đôn chạy đáo xin việc cho vào một trường mầm non có tiếng ở Đà Nẵng. Lúc nào cũng sợ cô ấy đau cô ấy mệt, chăm sóc Giang từng ly từng tí. Thoạt nghe ai cũng tưởng rằng đời Giang thế là êm ấm, mấy ai sánh bằng, khối người mơ còn chẳng được như vậy. Các chị các cô đi lấy chồng chỉ thấy than thở cả ngày, chạy về nhà mẹ đẻ thút tha thút thít, đằng này Giang phải tự mình công nhận chồng cô quá tốt với mình. Ấy thế nhưng mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh, ai rồi cũng có những nỗi khổ tâm riêng. Chồng đối xử tốt bao nhiêu thì bố mẹ chồng lại khắc nghiệt với cô bấy nhiêu. Đã không ít lần trong tâm trí Giang nảy sinh ý định tự tử vì quá khổ tâm, bức bách bởi sự cay nghiệt của mẹ chồng. Khi còn là cô gái đôi mươi, trẻ trung, mơ mộng, nhìn cuộc đời bằng lăng kính màu hồng, Giang tình cờ quen biết với anh sinh viên trường báo chí đẹp trai, thư sinh. Ra trường, anh trở thành một nhà báo, có công ăn việc làm, thu nhập hết sức ổn định, trở thành niềm tự hào trong mắt gia đình. Trong khi đó, công việc của Giang thì bấp bênh, nghề nghiệp không rõ ràng, thu nhập lúc có lúc không, gia đình Giang cũng thuộc diện nghèo chứ không được khấm khá gì. Chính sự khác biệt đó khiến bố mẹ chồng ngay từ đầu đã nhất quyết phản đối cuộc hôn nhân mà ông bà cho là không môn đăng hộ đối, thậm chí dọa sẽ từ mặt con trai nếu hai đứa vẫn cố tình đến với nhau, bất chấp khi ấy, Giang đã có bầu. -Con xin lỗi mẹ, con là đứa bất hiếu, mong ba mẹ thông cảm mà chấp nhận Giang, đó là cô gái con đã chọn. Con chấp nhận bị từ mặt chứ con không thể bỏ vợ và con của con được – anh con trai nghẹn ứ ở cổ họng, nói trong sự dằn vặt, khổ tâm, với anh dường như không còn sự lựa chọn nào khác. Một bên là cha mẹ, một bên là vợ con, có lẽ đây là trường hợp khó xử nhất đối với một người đàn ông có trách nhiệm trong gia đình. Đứa con trai mình yêu thương đùm bọc bao tháng ngày đã cương quyết như vậy, ông bà giận lắm, xong cũng đành phải nhắm mắt chấp nhận. Chờ đến khi cưới về rồi, bao nhiêu sự căm giận nay được trút hết lên đầu cô con dâu hiền thảo. Ông bà tỏ ý ghét Giang ra mặt, luôn lấy đứa bé trong bụng làm cái cớ cho sự chấp nhận Giang bước chân vào cái nhà này. Đặc biệt với bà mẹ chồng, Giang như cái gai trong mắt, lúc nào cũng muốn nhổ ra ngay. Mỗi lời bà nói ra, nếu không đay nghiến thì cũng là xúc phạm thậm tệ cô, cũng như gia đình cô. Bao nhiêu năm sống trong sự hiềm khích của mẹ chồng, thậm chí nhiều phen bà còn xúi con trai bỏ vợ, xong Giang chẳng một lời oán thán hay cãi mẹ. Mỗi lần bị sỉ nhục, Giang chỉ hiền lành nhoẻn miệng cười kèm theo một vẻ mặt khờ khạo. Đến nỗi bà mẹ chồng phải thốt lên: – Cái con sao mà tao nói đúng nói sai gì nó cũng cười hết á, chửi vào mặt nó mà nó cũng cười, hiền hiền đến mức thành đần. Không phải Giang không hiểu hết những thâm ý cay nghiệt trong lời của bà, mà vì cô hiểu nỗi khổ tâm của chồng, đang kẹt ở giữa với một bên là mẹ, một bên là vợ. Thế nên cô nhịn, cho chồng cô không phải khó xử. Nhưng nhịn mãi thì cũng đến giới hạn của nó, Giang nhiều lần cảm thấy uất ức, chỉ muốn chết quách đi cho xong. Mỗi lần như vậy, Giang chạy vào phòng, khóa chặt cửa, một tay chạm nhẹ vào cái bụng đang lớn lên từng ngày, như vỗ về an ủi đứa con, cô úp mặt vào gối mà khóc, đó không phải tiếng khóc nấc của cảm xúc muốn vỡ òa lên, mà đó là những giọt nước mắt âm thầm lặng lẽ chảy hai bên má của một cô gái tinh tế, sâu sắc và hiểu chuyện. Có lẽ chính tình yêu thương ấm áp chân thành của chồng đã níu giữ cô lại, là động lực giúp Giang trải qua những tháng ngày cay đắng trong căn nhà này. Chẳng những ghét bỏ con dâu, mẹ chồng Giang cũng coi thường ông bà thông gia ra mặt, chẳng nể nang chút nào. Chả là một năm bố mẹ đẻ Giang cũng thu xếp một hai lần vào thăm con, thăm cháu. Dù kinh tế khó khăn, nhưng phận làm con, Giang cố gắng biếu cha mẹ năm trăm, một triệu cho phải phép, chứ nhiều hơn cũng chẳng lấy đâu ra. – Tưởng thế nào, hóa ra vào đây cũng chỉ để xin tiền con trai tôi. – Mẹ chồng Giang đi ngang qua, liếc xéo đôi mắt nhìn ông bà thông gia từ trên xuống dưới, ra vẻ săm soi bộ quần áo cũ kĩ và đôi giầy đã mòn của họ, thả một câu gọn lỏn rồi bỏ đi luôn. Nghe thấy lời nói cay độc như xát muối của bà thông gia, bố mẹ Giang tím tái mặt mày, mới đến thăm con đã phải tìm cách ra về sớm. Chồng Giang thấy vậy, cũng không khỏi xấu hổ thay, cúi đầu, mắt nhìn chằm chằm xuống đất như muốn tìm ngay một cái lỗ để chui vào. Riêng Giang thì lòng chua xót vô cùng, bản thân cô làm dâu chịu xỉa xói đã đành, nay lại còn để bố mẹ bị ảnh hưởng. Vì sao mà chuyện mẹ chồng nàng dâu dường như đã trở thành vấn nạn trong xã hội từ ngàn xưa tới nay chưa bao giờ chấm dứt? Bởi do nhiều yếu tố gây ra. Trước tiên phải kể đến tâm lý mâu thuẫn của hai người phụ nữ ở hai thế hệ, vốn xa lạ và nhiều khác biệt bị cột chặt trong một mối ràng buộc, dù muốn dù không cũng phải ở chung trong một gia đình. Rồi cũng phải kể đến thói quen can thiệp quá sâu của một số bậc làm cha mẹ tới cuộc sống riêng tư của con cái, họ muốn thay con quyết định những thứ đáng nhẽ phải do chúng tự quyết định, họ muốn giúp con cái mình được hạnh phúc, nhưng thực tế họ càng làm vậy, thì họ càng đẩy con cái vào đau khổ triền miên. Xã hội thì đào tạo ra những hệ tư tưởng hết sức trái tự nhiên, như quan niệm về “môn đăng hộ đối” trong trường hợp này là một ví dụ,  gây mâu thuẫn, ảnh hưởng lớn đến hạnh phúc của nhiều gia đình, thậm chí gây ra sự đau khổ cho rất nhiều người. Đó là những nguyên nhân bề nổi trong xã hội, chưa kể đến sự chi phối âm thầm nhưng vô cùng mạnh mẽ của luật nhân quả vẫn liên tục tác động lên những mối quan hệ trong gia đình. Và đây mới là nguyên nhân cốt lõi. Bất lực khi không biết phải giải quyết như thế nào, trong đầu Giang luôn tràn ngập sự thắc mắc, thắc mắc vì sao cuộc đời mình lại rơi vào hoàn cảnh oái ăm, ngang trái như thế, thắc mắc không hiểu mình đã làm gì sai để phải gánh chịu tất cả những điều này, và thắc mắc không biết giờ đây mình nên làm gì để xoay chuyển tình thế? Giang cảm tưởng như mình sắp không thể chịu đựng được nữa, mọi thứ trong cô sắp đạt đến ngưỡng giới hạn, thêm xíu nữa thôi nó sẽ nổ tung tanh bành như một quả bóng bị bơm quá căng bắt buộc phải nổ vậy. Những trăn trở ấy cứ quanh quẩn, quẩn quanh, khiến Giang không cam tâm. Dù không phải một Phật tử thuần thành có bề dày tu tập, nhưng có lẽ bản thân Giang cũng sẵn có chút duyên với Phật, ban đêm trước khi đi ngủ, cô thường niệm danh hiệu Phật A Di Đà và Địa Tạng Vương Bồ Tát. Trong Giang đã sẵn có niềm tôn kính với các Ngài, cô coi các Ngài như người cha hiền luôn che chở cho mình. Một hôm như bao hôm khác, Giang ngồi trong phòng, cung kính thành tâm chắp tay niệm Phật, trong tâm cô khởi lên mong muốn được biết kiếp trước, xin các Ngài giúp cô được thấu rõ nguyên do vì sao cuộc đời mình hiện tại lại bi đát như vậy. Cứ thế vừa niệm Phật vừa trăn trở, mong mỏi được biết câu trả lời, Giang mệt chìm vào giấc ngủ từ lúc nào không hay. Rồi những cảnh tượng lạ lẫm bỗng xuất hiện trong giấc ngủ như những thước phim được tua nhanh, nhưng không hề mơ hồ, hỗn loạn như các giấc mơ bình thường, mà đây là một giấc mơ hết sức chân thực và sống động, logic và mạch lạc. -“Aaaa, cứuuu” … Tiếng la hét chưa kịp cất lên, chưa kịp thoát ra khỏi vòm họng, và cũng chưa có ai kịp nghe thấy, thì đã có một bàn tay to lớn và rắn chắc bịt lấy miệng cô thiếu nữ. Đó là Giang của kiếp trước – cô tiểu thư đài các của một gia đình địa chủ giàu có trong vùng. Đã đến tuổi cập kê, bố mẹ cô ngắm sẵn cho con gái một mối rất “môn đăng hộ đối”, là cậu con nhà phú ông ở xóm bên. Cuộc hôn nhân được sắp xếp theo kiểu cha mẹ đặt đâu con ngồi đó đúng theo phong tục văn hóa phong kiến xưa. Mặc dù được cả hai bên gia đình ưng thuận, nhưng bản thân Giang lại chẳng ưng ý chút nào, chỉ miễn cưỡng mà nghe theo thôi. Gần nhà cô có một anh chàng chuyên chăn trâu mướn cho địa chủ, dù gia cảnh bần hàn, nhưng thấy cô tiểu thư hiền thục dễ thương, anh chăn trâu cũng mặc kệ những rào cản giàu nghèo mà đem lòng thương nhớ cô. Còn cô, mặc dù là tiểu thư đài các, nhưng chưa bao giờ sinh tâm khinh khi những người có địa vị xã hội thấp kém hơn mình, kể cả với các nô tỳ trong nhà, và kể cả với anh chăn trâu mặt mày lấm lem bùn đất này cũng vậy. Thấy anh là người có tình có nghĩa, cô cũng có chút cảm mến, xong chỉ là một chút tình cảm trong sáng mà thôi. Cho đến hôm anh chăn trâu biết được cô sắp đi lấy chồng, lòng dạ anh như lửa đốt. Sẩm tối hôm ấy, gió thổi hiu hiu, cô tiểu thư cùng mấy nô tỳ đang trên đường trở về nhà. Trăng hôm nay sáng hơn mọi ngày, trăng tròn vành vạnh soi chiếu cả một bầu không gian thanh vắng, chiếu rọi cả những đám bụi rậm hai bên đường. Cô để nô tỳ đi về trước, còn mình tự do thơ thẩn ngắm nhìn ánh trăng, tận hưởng những cơn gió mát của mùa hè đang luồn qua từng lọn tóc đen dài mượt mà của cô. -“Aaaa, cứuuu” … Đột ngột cô bị ai đó lôi xệch vào bụi rậm, dùng tay bịt miệng khi cô vừa mới chỉ kịp hét lên một tiếng kêu cứu, nhưng chẳng có ai nghe thấy, xung quanh bốn bề vắng lặng. Trong tư thế khum người phòng vệ, miệng cô vẫn bị người ta bịt chặt, đôi bàn tay ấy khỏe đến nỗi cô không thể động đậy nói thêm lời nào, chỉ cố đưa mắt nhìn ra sau, chợt nhận ra người đàn ông khỏe mạnh đang khống chế cô chả phải ai xa lạ, chính là anh chăn trâu ở bên cạnh nhà. Bí quá hóa liều, vì không muốn mất cô nên anh ta quyết liều một phen, để cho gạo nấu thành cơm, rồi muốn ra sao thì ra. Với sự chống cự yếu đuối, cuối cùng cô tiểu thư đã bị anh cưỡng đoạt. Mọi việc diễn ra quá nhanh và chóng vánh, khiến cô tiểu thư vô cùng sợ hãi. Cô chạy thật nhanh về nhà, nước mắt chảy dài hai bên má, kể hết sự tình cho cha mẹ. Nghe như sấm nổ bên tai, không thể chịu nổi sự thật phũ phàng này, ông bà địa chủ đứng đơ như trời trồng một lúc rất lâu, dường như chưa thể chấp nhận điều mình vừa nghe thấy. Họ thường nghĩ rằng những việc nhơ nhớp ấy chỉ có thể xảy ra ở đâu đó đầu làng, cuối xóm, hay ở tít vùng bên, chứ chẳng bao giờ nghĩ sự việc ấy lại có thể xảy ra ngay tại đây, với chính gia đình họ. Căn nhà tràn ngập không khí sục sôi căm giận, lập tức ông bà địa chủ huy động một đội gia nô đông đảo, gậy gộc lăm lăm trong tay, xồng xộc đến bao vây kín mái nhà lá xiêu vẹo của gã chăn trâu. Rồi họ chửi rủa, họ nện, họ giã cho gã chăn trâu một trận đòn dã man “thừa sống thiếu chết” để thỏa lòng căm phẫn tột độ của gia đình. May sao họ vẫn còn kiềm chế, không đánh chết luôn cái tên chăn trâu “to gan lớn mật” này. Không lâu sau, cô tiểu thư phát hiện mình có thai. Nó trở thành thông tin nóng hổi nhất, được kháo ầm lên ở cái xóm ấy. Khắp mọi ngóc ngách, hang cùng ngõ hẻm, đâu đâu cũng đang bàn tán, nói ra nói vào về cái việc không chồng mà có chửa, chả mấy đã đến tai gia đình phú hộ xóm bên, khiến họ phẫn nộ quyết định từ hôn. Với cô tiểu thư, đó lại là một tin tốt lành, bởi vì vốn dĩ cô cũng không ưng ý việc sắp đặt này. Sẵn có chút cảm mến từ trước, nay chuyện đã tới nước này, cô xin cha mẹ cho lấy anh chăn trâu.  Tất nhiên ông bà địa chủ phản đối kịch liệt, cô liền tuyệt thực để ép cha mẹ tác thành. Dù có căm phẫn tới mức nào, xong thương con gái, và đằng nào thì sự cũng đã rồi, gạo cũng đã nấu thành cơm, ông bà địa chủ cuối cùng đành chịu thua, đồng ý cho con gái về làm vợ gã chăn trâu. Cất cho chúng một cái nhà nho nhỏ, cách xa xa một chút để hai vợ chồng sinh sống, chứ không được ở nhà bố mẹ đẻ, cũng là một cách để phần nào xoa dịu lời ra tiếng vào của dư luận, làng xóm. Một hôm sang thăm con, ông bà địa chủ thấy con gái mình đang dúi vào tay bà mẹ chồng mấy quan tiền. Chẳng cần biết đầu đuôi như thế nào, bà địa chủ liền xông đến giật lấy tiền, vứt xuống đất, lấy chân day day lên, rồi có bao nhiêu lời lẽ miệt thị, cay độc nhất, bà trút hết lên đầu bà thông gia, mẹ của “thằng rể chăn trâu bất đắc dĩ”. Biết thân phận mình nghèo hèn, bà ấy chỉ biết cúi đầu im lặng, nhưng trong lòng bà thì bừng bừng biết bao nhiêu lời nguyền rủa căm hận. Biết được như thế, sợ cha mẹ vốn đã quá khổ tâm vì mình, nay lại chồng thêm nghiệp chướng, kết oán với mẹ chồng, cô phát nguyện bao nhiêu tội lỗi của cha mẹ mình, cô xin gánh hết. Ngay đó, Giang chợt tỉnh sau giấc mơ tiền kiếp chân thực. Giang bất ngờ nhận ra anh chăn trâu kiếp đó chính là người chồng yêu thương của mình hiện tại, và mẹ chồng hiện tại cũng chính là mẹ chồng kiếp trước, cha mẹ đẻ cũng vậy, chỉ khác nhau ở sự hoán đổi gia cảnh giàu nghèo mà thôi. Kiếp xưa chồng Giang, tức anh chăn trâu yêu thương cô như thế nào, nay vẫn vậy. Hơn nữa, anh đã khiến cho cô và gia đình lâm vào cảnh phẫn nộ, nhục nhã, nên kiếp này anh càng yêu thương, chăm lo cho cô nhiều hơn, coi như để đền trả món nợ. Mẹ chồng và mẹ đẻ của cô thì vẫn hiềm khích với nhau như xưa, chỉ là vị trí đã được luật Nhân Quả hoán đổi từ “người khinh thường người khác” thành “kẻ bị khinh thường”. Nhiều người hay mỉa mai chê bai nhau để thỏa mãn tính kiêu ngạo, để cho “sướng cái mồm”, họ cho rằng đó chỉ là lời nói đầu môi, nói xong rồi thì thôi, đâu có để lại hậu quả gì. Nhưng thực tế lại nghiêm trọng hơn ta tưởng, dù chỉ một câu nói đôi khi cũng đủ sức làm cho người nghe suy sụp tinh thần, từ đó ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm, thậm chí cả lối sống, hành vi của người nghe. Sự chê bai, miệt thị có mục đích hạ thấp đối phương và nâng cao tầm giá trị của chính mình, nó khác với lời góp ý thẳng thắn với thiện chí mong muốn người đó nhận ra điều xấu để thay đổi trở nên tốt đẹp hơn. Nói những lời lẽ chê bai, miệt thị người khác sẽ tạo ra ý nghiệp và khẩu nghiệp. Và quả báo trong tương lai sẽ như thế nào ? Quy luật rằng: khi ta khinh chê người khác ra sao, thì quả báo là chính ta sẽ bị khinh chê lại như vậy. Và đó là những gì bố mẹ Giang đã phải trả. Bản thân Giang và mẹ chồng kiếp trước cũng không có hiềm khích gì, nhưng vì lời nguyện sẽ chịu nghiệp thay cha mẹ, nên cô kiếp này gần như lãnh trọn quả báo đó, sinh ra trong gia đình nghèo khó, lớn lên kết hôn thì bị mẹ chồng miệt thị, đối xử vô cùng thậm tệ. Sự trải nghiệm tiền kiếp đã cho Giang một lời giải đáp rõ ràng, mạnh mẽ hơn, vì thế cô càng thấu hiểu và cảm thông hơn với mẹ chồng mình. Giờ đây, Giang đón nhận những ngang trái xảy đến một cách nhẹ nhàng, bình thản, an nhiên hơn nhiều, bởi vì cô đã nhìn ra căn nguyên gốc rễ của nó. Chính là do duyên nợ với mẹ chồng, và nó cần phải được hóa giải. Vậy hóa giải bằng cách nào? Hôm đó, vào khoảng tháng 10/2021, Giang mạnh dạn kể lại câu chuyện và giấc mơ của mình cho một vị thiện tri thức, và được vị ấy hướng dẫn cách hóa giải nhanh chóng bằng việc tạo công đức và hồi hướng cho chủ nợ – chính là mẹ chồng, thông qua một bài viết tên “DUYÊN NỢ & CÁCH TRẢ NỢ.” Giang đọc xong, tâm trí như bừng tỉnh. Cô đã hiểu nguyên lý và quyết tâm áp dụng cách đó triệt để, mỗi ngày Giang cố gắng duy trì niệm 108 câu danh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật” và tụng một bộ kinh Địa Tạng hồi hướng cho mẹ chồng, cứ thế bền bỉ trong một thời gian dài. Ai tụng kinh nhiều sẽ hiểu, đó là một việc cần nỗ lực đến mức nào. Thêm vào đó, cô cố gắng thấu hiểu và quan tâm hơn nữa đến mẹ chồng. Khi bị bà mắng chửi, thì cô vẫn cười, xong không phải là cố gắng gượng nhẫn nhịn như trước, mà cô cố gắng hiểu tâm tư của bà, để rồi bao dung và buông xả nỗi hiềm hận. Thế là tâm được nhẹ nhõm. Cô còn thường bảo chồng phải biết chăm sóc cho mẹ nhiều hơn. Cuối cùng thì những cố gắng của cô cũng làm xoay chuyển được hoàn cảnh. Thật vi diệu, sau một thời gian hồi hướng trả nợ, mẹ chồng Giang đã bớt cay độc. Những lời rủa mắng thưa thớt dần rồi tắt hẳn. Từ bên trong, tự dưng bà cảm thấy Giang quả là một cô con dâu khó tìm. Dù bà chỉ một bề đay nghiến cô bao năm, thì cô vẫn một mực thảo hiền, chịu đựng, nghĩ tốt về bà. Và bà bắt đầu thương con dâu. Và càng ngày thì tình thương ấy càng nhiều hơn. Điều đó khiến Giang vui mừng khôn tả, cuối cùng thì những nỗ lực của cô đã được đền đáp. Mỗi khi gặp điều gì đó bất công, thông thường chúng ta đều than thở, trách trời đất không công bằng, đổ hết tội lỗi cho ai đã đối xử với mình tệ bạc, hoặc ước rằng chưa bao giờ mình gặp phải người đó. Thế nhưng chúng sinh đâu biết rằng thực ra mọi thứ rất công bằng bởi vì đã có luật nhân quả điều khiển không chút sai lệch. Chẳng điều gì lại vô cớ xảy ra, tất cả mọi thứ đều có nguyên nhân của nó. Không ai ngẫu nhiên xuất hiện trong cuộc đời của ta cả. Đã gặp ắt phải có duyên từ tiền kiếp. Gặp mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhau, ắt ngoài duyên còn có nợ. Điều đó là một sự sắp xếp của nhân quả dựa vào chính những ân oán duyên nợ quá khứ nhiều kiếp ta đã tạo ra, nên giờ bắt buộc phải xảy đến với ta, không thể chạy đâu mà thoát được. Thế nên, chuyện hôn nhân hay vô vàn những mối quan hệ khác vốn không thể cưỡng cầu mà thành, cũng không phải muốn bỏ là bỏ được. Không phải cha mẹ có thể bắt ép con cưới gả cho ai tùy ý, cũng chẳng phải tự mình chọn lựa theo ý thích, muốn đến với người này, muốn bỏ người kia mà được. Đó không phải việc bản thân ta có thể thay đổi, mà việc ta có thể làm, đó là trong hiện tại, hãy cố gắng sống tốt với những mối lương duyên đến với cuộc đời ta, dù nó là mối duyên lành hay oan trái. Khéo léo hóa giải những mối oan nghiệp đến từ quá khứ, đồng thời gieo thật nhiều nhân thiện lành, giúp đỡ, thương yêu với mọi người, mọi chúng sinh để chờ đón một tương lai tốt đẹp hơn ở phía trước. Người nào nắm chắc quy luật Nhân Quả trong tay, người ấy mới có thể đủ sáng suốt và năng lực để tự mình hoạch định tương lai cho chính mình. (Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Trần Trà Giang)

MỘT CHUYẾN THIÊN ĐƯỜNG, HAI LẦN QUA ĐỊA NGỤC

(Quang Tử, viết lại từ tự thuật của cô Ba Cháo Gà)

Phần 1: ĐỊA NGỤC

Giấc mộng kì quái

Tối hôm ấy, cũng như bao buổi tối khác, cô Ba đã mua mấy con gà cột sẵn đó, chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng cho buổi sớm mai làm thịt nấu cháo. Không có gì đặc biệt để báo trước rằng đó sẽ là một buổi tối định mệnh đảo lộn mọi thứ cả. Đã hơn một năm rưỡi cô làm cái nghề này, bán cháo gà, khách khứa cũng đã quen với cái hương vị cháo cô nấu. Người này ăn ngon giới thiệu người kia, rồi từ đó thương hiệu “cô Ba Cháo Gà” nổi tiếng ra đời, và chẳng còn ai nhớ đến tên thật của cô, Huỳnh Thị Nhi nữa cả. Cứ đều đều mỗi sáng sớm, 3h là cô đã dậy, cắt tiết làm thịt một vài chú gà xấu số nào đó, nhóm lửa, hầm cháo, rồi nai lưng gánh ra ngoài chợ Vòng Nhỏ, Mỹ Tho, Tiền Giang bán. Lắm người bảo cô làm cái nghề sát sinh này là không tốt, nghiệp chướng chất chồng. Cô hồi trẻ cũng hay đi chùa, cũng quy y Tam Bảo, học tụng kinh trì chú, với những giáo lý Nhân Quả, chính cô cũng nghe qua điều đó từ lâu rồi. Ấy nhưng mà cô mặc kệ, không làm cái nghề này thì làm nghề gì mà nuôi con nuôi cái đây ? Cô đã đi qua bảy cái đời chồng, cung cung phụng phụng, cơm nước nhà cửa hầu hạ hết ông chồng này đến ông chồng khác, để rồi mấy ổng rũ áo ra đi cả, để lại cô bơ vơ một mình tần tảo nuôi con. Thời buổi chiến loạn, kiếm sống khó khăn, hết buôn đồ lậu ở chợ đen, đến bán cháo gà ở chợ Vòng Nhỏ, vất vả lắm chứ cũng đâu sung sướng gì mà muốn làm. Nhưng mà phải làm mới có cái mà ăn, người ta bảo sau này sẽ chịu quả báo, cô cười, quả báo đâu chưa biết chứ không làm là cả nhà chết đói. Chuẩn bị đâu đó xong xuôi, cô vào phòng và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Cái nghề này làm nhiều quá ăn vào tiềm thức hay sao đó, mà đến trong mơ cô cũng thấy nó. Cô Ba mơ thấy mình đem một con gà hồi tối đã chuẩn bị ra cắt tiết. Nó giãy giãy vài cái rồi thật kì quái, nó phình to dần lên rồi biến hình thành một người đàn ông. Cô kinh ngạc thốt lên : – Ủa tại sao ông biến thành người, thế làm sao tôi nhúng nước sôi cho được? Con gà, nay đã trong bộ dạng con người trả lời: – Mầy chết! Chớ nhúng nước sôi, tao là ông nội của mày đây! – Ông nói tôi không tin, ông nội tôi sao trông mặt lại không giống? – Giống sao được, vì hồi còn sống, ông nội sát sinh hại mạng cũng nhiều, khi chết, con cháu lại làm heo, bò, gà, vịt để lo tống táng. Cho nên ông làm thú biết bao nhiêu kiếp mà trả chưa xong, vì thay hồn đổi xác nhiều đời làm sao còn giống được mà con biết. May nhiều đời trước có chút công tu, làm chút việc phước nên được Diêm Vương cho về báo mộng cho con cháu biết. Con ráng tu đừng sát sinh hại vật phải đọa địa ngục, súc sinh như ông, khổ sở lắm. – Ông nói vậy, nhưng tôi cũng chưa tin, ông tên là gì? – Ông là Huỳnh Văn Vấp, cha mầy là Huỳnh Văn Thìn, mầy là Huỳnh Thị Nhi, con tin chưa? – Ông nói đúng sự thật, nhưng thấy tướng mạo tôi còn nghi… -Thôi con ráng tu đi rồi biết, chứ đừng nghi, ông cho con hay, con tội lỗi rất nhiều, vì sát sinh, không những gà vịt mà thôi, cho đến côn trùng, dế, kiến, chuột, bọ, rắn rết đều có tội hết. Con nên cố gắng tu đi, để cầu siêu cho ông với. Bất chợt, chuông đồng hồ réo inh ỏi, cô Ba choàng tỉnh dậy. Giấc mơ thật đáng sợ, không chỉ vì nó kinh dị, mà hơn thế, nó còn ăn khớp với những gì cô được nghe răn dạy về quả báo, về luân hồi… Không lẽ, đó là sự thật ?! Cô Ba cứ thế ngồi bần thần suy tư mãi. Cuối cùng, cô quyết định, không giết con gà kia nữa. Không chỉ thế, đồ nghề cô cũng đem bán hết. Ngày hôm đó, 17 tháng 11 năm Ất Mùi (1955), trùng hợp đó lại là ngày vía Phật A Di Đà, cô Ba chính thức giải nghệ sau 18 tháng bán cháo. Suy cho cùng, không làm nghề này thì vẫn còn nhiều nghề khác mà.

Cú ngoặt

Quả thật, tìm một công việc không tạo nghiệp mà làm cũng không phải quá khó khăn gì lắm, cuộc sống cũng ổn định từ từ. Rồi cũng từ đó, cô tìm đến cửa Phật xin tu học một cách nghiêm túc. Rồi được các thầy giảng giải cho rõ hơn, thế nào là quả báo, thế nào là chuyển nghiệp, thế nào là tu hành. Cô bắt đầu tập ăn chay trường, hàng ngày kiên trì niệm Phật cầu cho những nghiệp chướng của mình được tiêu trừ. Biết nghiệp mình nặng, sợ phải trả quả báo dây dưa trong nhiều kiếp không biết sẽ trôi lăn đi đâu, nên cô Ba nguyện xin các quả báo dồn lại để cô trả hết trong kiếp này, dù đau đớn khủng khiếp trả dồn dập, xong cô vẫn muốn như thế hơn là trả dây dưa nhiều kiếp. Nguyện thế thôi chứ cô cũng không biết Nhân Quả sẽ an bài như thế nào. Rồi cô thỉnh kinh sách về đọc tụng. Ban đầu cô đọc những kinh ngắn như kinh A Di Ðà, phẩm Phổ Môn, Đại Bi Thập Chú, rồi sau chuyển đến đọc những kinh dầy hơn như kinh Ðịa Tạng, kinh Pháp Hoa. Thấm thoắt đã 7 năm sống cuộc sống tu hành của một cư sĩ tại gia, không sát sinh tạo nghiệp nhiều như trước nữa, nên thân tâm cô Ba đã nhẹ nhàng, thanh thản hơn trước rất nhiều. Tưởng chừng cuộc sống sẽ cứ trôi qua êm ả như thế mãi cho đến già. Bất thình lình, một biến cố ập đến mà không ai, dù có trí tưởng tượng phong phú đến mức nào có thể hình dung ra nổi. Hôm ấy là 6h chiều, ngày 23 tháng 4 năm Nhâm Dần ( tức 26/5/1962) trong lúc cô Ba đang niệm Phật như hàng ngày, đột nhiên cô trông thấy một vị thần cao lớn, da đen sì sì thình lình xuất hiện. Ông ta hình thù kì quái, đầu và bụng to một cách bất thường. Dị dạng là vậy, nhưng thần thái ông ta vẫn toát lên một vẻ uy nghiêm của các đấng thần linh làm công vụ. Quá sợ hãi, cô hét lên một tiếng, rồi đổ vật xuống. Ngẩng lên thì cô bàng hoàng thấy linh hồn mình đã tách khỏi thân xác. Con cô rồi hàng xóm láng giềng chỉ một lát đã kéo đến bên cạnh thân thể cô, người xoa tay, người bóp cẳng, khóc lóc lay cô tỉnh dậy nhưng vô vọng. Cô đã tắt thở. Linh hồn cô Ba đứng ở một góc không xa, chứng kiến hết thảy mà không thể nói với mọi người được, họ không còn nghe thấy cô nữa. Nghĩ rằng mình hẳn đã chết, cô Ba lòng buồn vô hạn, tiếc cho một cuộc đời quá ngắn ngủi, tu hành chưa được bao lâu, nghiệp chướng không biết đã tiêu sạch hết chưa mà đã hồn lìa khỏi xác. Không biết làm gì tiếp theo, thôi thì cứ theo thói quen, cô bắt đầu niệm Phật. Lúc này đã có thêm mấy vị thần xuất hiện, có lẽ họ là quỷ sai do Diêm Vương cử đến để bắt hồn. Thấy cô niệm Phật thì họ cũng đổi sang thái độ hòa hoãn, vui vẻ hơn.

Xuống Âm Ty

Rất nhanh họ đưa cô Bay lên cao, theo hướng Nam mà lao vút đi, bay mãi, bay qua làng mạc, thành phố, rồi đến biển cả bao la với những cơn gió lạnh buốt khiến cô Ba toàn thân tê tái. Họ chỉ dừng lại khi đến được một ngọn núi mà họ gọi là núi Thiết Vi – cái tên nghe quen quen, hình như trong kinh Địa Tạng có nhắc đến. Ngọn núi cao lớn, hùng vĩ đến mức khiến người ta dễ choáng ngợp, xung quanh là biển cả bao la. Trên đỉnh núi tuyết phủ trắng xóa, khí trời âm u lạnh lẽo, không tối hẳn mà có ánh sáng lờ mờ trong hơi sương bàng bạc. Tất cả toát lên một vẻ tôn nghiêm, lãnh khốc, khiến những ai mới đến lần đầu đều cảm thấy tinh thần mình bị một khối vô hình trấn áp, đè xuống nặng nề. Họ dẫn cô Ba đến một cửa đá lớn, một vị thần gõ vào ba tiếng thì cửa tự động mở ra, đi tiếp vào sâu trong núi. Cô Ba nghe thấy họ nói với nhau: “Bồ Tát đến rồi”. Và rồi ngay sau đó, là một quang cảnh hùng tráng hiện ra. Đền đài nguy nga tráng lệ, với những cột đá sừng sững, trạm khắc tinh xảo. Khắp nơi hào quang sáng chói, chiếu sáng rực cả một vùng rộng lớn xung quanh. Nơi phát ra hào quang ấy, là hai tòa tháp cao vời vợi, uy nghiêm, ngự ở trên đó là hai vị Bồ Tát tỏa ra ánh sáng tuyệt mỹ xong không kém phần tôn nghiêm. Đó chính là Quán Thế Âm Bồ Tát và Địa Tạng Vương Bồ Tát mà cô Ba đã lễ lạy không biết bao nhiêu lần khi còn ở dương thế. Mừng quá, cô Ba chạy đến tính lễ bái hai vị. Nhưng không để ý đằng sau hai vị Bồ Tát có một đàn gà, vịt khổng lồ đứng chờ sẵn ở đó. Thấy cô tiến lại gần, chúng liền lao ra chặn lại. Cũng là gà, vịt, nhưng chúng to lớn đến khiếp đảm, con nào con nấy phải to như con nghé vậy, kì lạ hơn nữa là chúng nói được tiếng người. Một con cất tiếng: – Chúng ta đợi nhà ngươi từ tháng 10 năm Sửu đến tháng 4 năm Dần mới gặp. Chúng ta được nghe Nhất Ðiện Tần Quảng Vương nói nhà ngươi đã quy y Phật pháp mà tu hành. Nhưng trước kia nhà ngươi ỷ mạnh sát hại chúng ta, nào cắt cổ, nhổ lông, phanh thây, xé thịt để đem lại sự giàu có cho mình mà chẳng chút xót thương đến loài sinh vật yếu đuối ngu khờ này. Ngày nay nhà ngươi xuống đây, chúng ta phải phanh thây ngươi trả hận. Dứt lời, cả một đàn phải đến hơn ngàn con gà lẫn vịt khổng lồ, ào lên như cơn lũ quét kinh hoàng bừng bừng lửa hận. Chúng mổ, chúng đạp, chúng cào, chúng xé, không phải từng nhát một mà xối xả như một cơn mưa rào loạn xạ. Toàn thân cô Ba nát bươm thịt máu lẫn lộn, đau đớn, quằn quại đến cùng tột. Có muốn gào lên thì cũng không có hở ra một giây phút nào để gào, vì phía trên nào móng vuốt, nào cẳng chân, nào mỏ nhọn hoắt liên hoàn trút xuống. Con này chưa mổ xong con khác đã ào lên chen chỗ đạp, cực kì hỗn loạn. Giữa cái thời khắc khủng khiếp ấy, thì một âm thanh trong trẻo, nhẹ nhàng nhưng rõ ràng, vang vang cất lên, chính là của Quán Thế Âm Bồ Tát, ngài từ tốn: – Này các con vật kia, hãy ngưng lại mà nghe ta nói hai điều. Ðiều thứ nhất, là các người tự do trả hận, nhưng tất cả đều phải đứng qua một bên, con này mổ rồi đứng qua bên kia, tới con khác mổ, như vậy mới công bằng. Số các ngươi là một ngàn mười một con, mà một con cứ mổ hoài, còn con khác không mổ được, rồi cứ kiện thưa mãi, ai ở đây mà phân xử cho nổi. Trả thù xong rồi, tùy theo nghiệp lực của các ngươi mà đi đầu thai, con nào còn kiếp thú thì làm thú, con nào mãn kiếp được tiến lên làm người, đó là điều thứ nhất. Còn điều thứ hai là nếu các ngươi không trả hận, để ta cứu nó sống dậy, nó sẽ tụng kinh cầu siêu cho các ngươi tiến lên đầu thai làm người hết, sau này nó sẽ làm thầy của các ngươi mà độ các ngươi tu hành. Trong hai điều, các ngươi muốn điều nào tùy ý, chứ luật công không ép. Câu nói của Quán Thế Âm Bồ Tát thật khiến cho lắm kẻ phàm phu quen suy nghĩ đơn giản phải một phen bất ngờ. Bồ Tát từ bi, vì sao Ngài không hề cản đám gà vịt kia phanh thây cắn xé để bảo vệ cô Ba, thậm chí Ngài còn chủ ý sắp xếp cho bọn chúng báo thù một cách bài bản hơn ? Vì sao ? Vì sự hiểu biết của một bậc Bồ Tát thì cao thâm hơn phàm phu vô vàn lần, Ngài biết rằng “oan có đầu, nợ có chủ”, cản trở chúng là không công bằng. Chúng sinh bình đẳng, không thể vì cảm tính thương chúng sinh này hơn, nên bảo vệ, không thương chúng sinh kia nên mặc kệ oan ức của chúng, mà cần phải bình đẳng cả hai bên, mặt khác cần phải tôn trọng quy luật. Nay ngươi giết ta, mai ta giết ngươi báo thù, đó là Nhân Quả công bằng, dù rất tàn khốc, dẫn đến oan oan tương báo bất tận, nhưng đó lại là quy luật vũ trụ. Không một người ngoài cuộc nào dù uy quyền cao đến đâu có thể lấy quyền năng của mình chặn đứng dòng Nhân Quả, không cho đám gà vịt ấy báo thù được, trừ khi bằng một cách nào đó, khiến chính chúng muốn tha, thôi không báo thù nữa. Ấy thế nhưng rất lạ, đám đông gà vịt kia nghe câu nói của Quán Thế Âm Bồ Tát xong rồi, chúng ngẫm nghĩ một thoáng, rồi đồng loạt dừng lại, từ từ tản ra xa, chừa lại một khoảng trống cho cô Ba thoi thóp thở. Bồ Tát bảo tiếp: -Các ngươi cứ từ từ mà trả hận đi. Chúng trả lời: -Bây giờ chúng tôi muốn ả này tỉnh dậy để cầu siêu cho chúng tôi được làm người, chứ mang kiếp thú hoài, khổ quá! Kết quả, dù không ai cản nhưng chúng cũng bình tâm lại mà từ bỏ báo thù. Lời Bồ Tát nói đã khiến chúng tỉnh ra, nghe qua tưởng đơn giản nhưng một câu nói ấy lại ẩn chứa lòng từ bi và trí tuệ ảo diệu, không thiên lệch bất bình đẳng, không đi ngược quy luật Nhân Quả, đưa ra một phương án mà các bên đều có lợi, hóa giải tận gốc rễ vấn đề. Bồ Tát sai một vị thần đem một thứ nước gì đó tưới vào cô Ba, liền đó cô hồi phục lại. Nhìn quanh, thấy đã thoát khỏi trận huyết tẩy thâm thù của đám gà vịt kia, phần vì hối hận tội lỗi xưa của mình, phần vì cảm kích ân cứu nguy, cô Ba lết đến vái lạy Quán Thế Âm Bồ Tát liên tục. Ngài từ tốn nói: – Nhờ ngươi thức tỉnh tu hành, thọ trì đọc tụng kinh pháp trong 6 năm và cũng may là các con vật này nó họp lại đây để kiện người, xin trả thù có một lần. Bằng không, tự nhiên các kiếp sau này ngươi phải đầu thai làm súc sinh trong một ngàn mười một kiếp để thường mạng (tức một mạng đền một mạng), thì biết bao giờ mới trở lại làm người mà tu hành ? Chúng sinh mê muội, không rõ luật Nhân Quả, cứ tưởng chết rồi là hết, cho rằng “Vật phải dưỡng nhân” rồi mạnh tay sát hại, chừng khi quả báo đến thì kêu trời, kêu đất, ai cứu được. Nhà ngươi có biết các con vật ấy là gì của ngươi không? – Bạch Bồ Tát, con chỉ biết đó là con vật thôi. – Đó là ông bà, cha mẹ, thân bằng quyến thuộc của ngươi trong nhiều đời, nhiều kiếp. Trước kia chúng cũng sát sinh như ngươi nên phải đầu thai làm kiếp súc sinh, ngươi nhìn chẳng ra nên đành tâm sát hại chúng. Ngày nay ông bà cha mẹ tiền kiếp của ngươi lại kiện cáo ngươi để trả thù, thế gian là trả trả vay vay như vậy đó. Chúng sinh cõi Diêm Phù Đề ưa sát hại sinh vật cho cha mẹ, chồng con ăn bổ dưỡng thân thể, hoặc bắt cá, cua để nuôi con cháu. Vì thương mà hại đó là mình hại mình, hại luôn cả cha mẹ, thân quyến đều phải chịu tội chung. Bây giờ ngươi hãy tụng kinh cầu siêu cho chúng nó được tiến lên làm người, giảng cho chúng nó nghe một bài, khuyên chúng nó ráng niệm Phật, và quy y Phật- Pháp- Tăng cho chúng nó. – Con phải tụng kinh gì để cầu siêu cho chúng nó tiến lên làm người ?- cô Ba cung kính hỏi. – Ngươi hãy tụng Ðại Bi -Thập Chú (tức chú Đại Bi và mười thần chú khác), đủ một ngàn mười một biến (một biến tức là một lần) Nghe xong, không để mất thì giờ, cô Ba liền đứng chắp tay và trì tụng Đại Bi Thập Chú một cách rất thành khẩn. Nhưng một nghìn không trăm mười một lần là cũng mất rất nhiều thời gian, vậy nên các vị thần và quỷ sai quanh đó cũng tập trung lại cùng trì tụng giúp cô Ba siêu độ số oan gia gà vịt được nhanh hơn. Nhờ thế chẳng bao lâu sau, đám gà vịt ấy đã đủ công đức được đi đầu thai kiếp người. Chúng lần lượt tiến ra sông Ứ Nê cách đó không xa, một số vị thần múc nước sông ở nhánh nước sông màu trắng cho chúng uống. Con nào uống đủ ba ly, liền rụng hết lông cánh, tay chân mọc ra, biến trở lại thành hình người. Cuối cùng cô Ba đứng thuyết cho chúng nghe một bài pháp, khuyên giải về sự tu hành trong kiếp người, khuyên chúng niệm Phật và quy y Tam Bảo cho chúng. Xong xuôi, một số vị thần lấy ra một cái hồ lô, thu nhỏ chúng lại, hút vào hồ lô, rồi đem lên nhân gian đi đầu thai. Khi họ đã đi khỏi, cô Ba quay lại nơi hai vị Bồ Tát, nghe các Ngài phán: – Ngươi tạo tội ác tày trời, nay dám nguyện trả xong trong một kiếp, có chịu nổi không? – Bạch con chịu nổi. – Vậy thì vào gặp Nhất Ðiện Tần Quảng Vương mà lãnh án. Điện xét xử của Tần Quảng Vương cách đó không bao xa, đó là một trong mười vị Diêm Vương cai quản chốn Âm Phủ. Không đơn giản như người đời vẫn nghĩ về Diêm Vương là chỉ có một người, thực tế Diêm Vương là một chức vụ chung, chia ra mười vị, gọi là Thập Điện Diêm Vương, mỗi vị đảm nhiệm một chức trách khác nhau. Nhất Ðiện Tần Quảng Vương đảm nhiệm việc xét xử, ra phán quyết cho từng linh hồn, phụ giúp Tần Quảng Vương còn có chức vụ Phán quan, chuyên dò xét sổ Sinh Tử để không bỏ sót việc công hay tội nào trong lúc xét xử. Đến trước điện Diêm La, trên cao là Diêm Vương ngồi trên ngai vàng đường bệ, uy nghiêm, đôi mắt trừng trừng nhìn xuống như muốn nói “Ở đây không gì qua được mắt trẫm”, xung quanh tả hữu các quỷ sai mặt mày hung tợn, lạnh lùng, tề chỉnh, binh khí lăm lăm trên tay sẵn sàng đợi lệnh, cô Ba bất giác sợ hãi quỳ xuống, tinh thần hoang mang không biết tội trạng nào sẽ đổ xuống đầu, chỉ biết run rẩy chờ đợi. – Tội lỗi của ngươi rất lớn, nay ngươi nguyện trả xong trong một kiếp thì cứ khai đi –Tần Quảng Vương cất tiếng phán, âm thanh vang rền mang theo một sức mạnh uy quyền ghê gớm. – Bạch Diêm Vương, con có tội sát sinh vì con giết vật rất nhiều, tội trộm cắp vì mua bán gian xảo, tội tà dâm vì có bảy đời chồng, tội nói láo vì con nói láo hơn ai hết, đã vậy mà còn uống rượu nữa… Cô Ba nói đến đâu thì Phán Quan dò trên sổ đến đó một cách chăm chú. Thấy cô Ba dừng, Tần Quảng Vương quát lớn: – Còn tội bán đồ lậu chợ đen sao không khai ? Mua một bán mười làm cho kẻ nghèo không đủ tiền mua, tội ấy như tội ăn cướp, lòng độc như rắn, muốn đầy túi mình chẳng biết thương hại ai. – Bạch ngài, tôi xin chịu tội. Trầm ngâm một chút, Tần Quảng Vương phán : – Ngươi tội sát sinh rất nặng, theo lẽ phải thường mạng, nhưng hôm nay ngươi xuống đây cho chúng nó trả hận, và cầu siêu cho chúng nó coi như đã xong. Nhưng vẫn còn dư báo, nếu sau này ngươi tu hành độ chúng nó thì chấm dứt oan gia, bằng thối thất thì phải chịu thường mạng. Nhờ lòng hiếu thảo nên nay trừ được tội gian tham và tội bán đồ lậu. Hàng ngày niệm Phật rất nhiều nên trừ được tội nói láo. Còn tội dâm dục tuy có mà không tính, vì đó là ngươi đang trả nghiệp. Ngươi hãy lắng nghe ta nhắc lại tiền kiếp của ngươi: Trong sáu kiếp qua ngươi quy y Tam Bảo mà tu hành, nhưng tiếc thay, kiếp vừa qua ngươi xuất gia, từ 8 tuổi cho đến 42 tuổi tu hành tinh tấn, giới hạnh thanh tịnh, độ chúng sinh cũng đông cho nên được làm Hòa Thượng, trụ trì chùa Tổ Ðình vùng Phú Thọ, Chợ Lớn. Nhờ công đức năm kiếp trước cho nên kiếp thứ sáu vừa qua được thông minh sáng suốt, tinh thông kinh – luật – luận, nên được bá tánh sùng bái, các vị Tăng Ni mến phục. Vì học giỏi được người người kính nể, ngươi sinh cống cao ngạo mạn tưởng mình là Phật, lấy làm tự đắc buông lung, không kềm tâm thúc ý, để tâm ý rong ruổi theo trần cảnh, giới luật buông xuôi, tâm đạo giải đãi, lòng phàm bừng dậy, đắm sắc tham tiền, mới phá giới, phạm trai mà tư dâm với cô gái 20 tuổi ở gần chùa. Lấy tiền của Thường Trụ mà nuôi gái tơ, lấy vật dụng của Tam Bảo để mua chuộc ái tình, cho đến 70 tuổi ngươi mới chết. Khi chết xuống đây phải ở địa ngục thứ chín trong 28 năm để đền tội lỗi từ 42 tuổi đến 70 tuổi. Vì lẽ trên, nên bảy đời chồng của ngươi trong kiếp này là bảy người đệ tử ruột của ngươi đi đòi nợ trong kiếp vừa qua, đã cung phụng cho ngươi đủ thức ngon vật lạ. Theo lẽ kiếp này ngươi còn phải làm gái lầu xanh mà trả nợ trăm họ. May nhờ ngươi sớm thức tỉnh tu hành, hồi 17 tuổi có quy y Tam Bảo với Ðại Ðức Thích Hoằng Nghĩa. Ngài dạy ngươi niệm Phật và tụng chú Ðại Bi. Nhờ thế mà qua khỏi nghiệp ở lầu xanh, nhưng phải chịu nghèo khổ buôn bán tảo tần để trả nợ. Từng câu từng chữ Tần Quảng Vương phán giống như từng nhát búa đanh thép nện xuống chắc nịch. Ấy chính là bản tuyên cáo chính thức của luật Nhân Quả. Nghe xong, cô Ba mới bàng hoàng hiểu ra quá khứ phức tạp của mình. Hóa ra cô không chỉ mới biết theo Phật tu tập ở kiếp này, mà nhiều kiếp xưa cũng từng tu học theo Phật, có lúc làm đến Hòa thượng, được ngồi ở trên cao trọng vọng. Mà trò đời thật khó lường, đã xuất gia tinh tấn, thông thạo giáo lý, giới luật tinh nghiêm đến mấy chục năm, ấy vậy mà lại không vượt qua được dục vọng trong lòng. Thế mới biết thế gian nhiều người hiểu biết quá nông cạn, cứ nghĩ cạo đầu xuất gia là sẽ dứt bỏ được bụi trần. Đâu có đơn giản như vậy, vì bụi trần nằm sâu trong tâm chứ đâu có phải ở mấy cọng tóc, tham sân si ẩn sâu trong tiềm thức, chứ đâu nằm ở tấm áo, lại ảo tưởng rằng cạo đầu khoác áo cà sa là sẽ được thanh tịnh ?!! Ngay cả mấy chục năm tu hành chuẩn mực thì cũng chưa chắc chắn được gì cả. Đến khi ngồi trên đỉnh cao được mọi người cung kính, nào biết cái “đỉnh cao” lại nguy hiểm đến vậy. Ngôi vị cao thì kích phát lòng kiêu ngạo, ngã mạn âm thầm phát triển. Kiêu ngạo đã có, thì nó từ từ mở đường cho đủ thứ dục vọng trỗi dậy, nào tham tiềm, nào mê gái, nào thèm của ngon vật lạ… Đến khi dục vọng tích chứa đủ mạnh rồi, thì lý trí đâu có kiềm chế nổi nữa. Và rồi đổ đốn chỉ là sớm hay muộn. Cuối cùng, bên ngoài thì là cao tăng đại đức, ai cũng nghĩ là thánh thiện, đạo cao đức trọng, mà người ta nào biết bên trong tà tâm ngập ngụa, đang tâm dám làm những việc biết rõ mười mươi là quả báo khốc liệt: gian dâm, trộm tiền Tam Bảo mà nuôi gái, ăn thịt uống rượu, phạm giới, phá hoại thanh danh đạo Phật. Mà việc đã làm thì Nhân Quả Nghiệp Báo nào có tha, từng chút từng chút chi ly, rạch ròi. Để rồi lãnh trọn quả báo địa ngục suốt mấy chục năm thê thảm. Dư báo còn kéo dài đến nhiều kiếp sau khổ sở lê lết. Thế mới biết, một chữ “tu” nói thì dễ, mà làm thì khó biết chừng nào. Nhất Ðiện Tần Quảng vương phán tiếp: -Ngươi hãy nghe cho rõ lời trẫm phán: Trong lúc làm Hòa Thượng mà còn mê đắm nhan sắc đàn bà nên lãnh tội đui mù. Ðã là hàng Ðại Ðức trụ trì ngôi Tam Bảo mà đêm đêm sang nhà gái ăn thịt uống rượu mà miệng còn thốt câu: “Vật dưỡng nhân”, không làm gương cho người thế, còn xúi người làm ác nên lãnh tội câm. Ðã xuất gia đầu Phật còn thích nghe tiếng nỉ non êm ả của đàn bà con gái nên lãnh tội điếc, nhưng ngươi biết sớm ăn năn tu hành theo Phật, và cũng nhờ lời đại nguyện của ngươi xin trả nghiệp trong một kiếp. Số ngươi chưa tận, nên cho hoàn dương. Thôi hãy lãnh án mà trở về dương thế làm gương cho người đời, nếu biết ăn năn cố gắng tu hành khi xuống đây sẽ định lại.   Nghe thấy mình được hoàn dương, nhưng sẽ bị mù, câm, điếc, vừa mừng vừa tủi, cô Ba khẩn khoản: – Bạch Diêm Vương, tội câm và điếc con xin lãnh còn tội đui mù xin Ngài khoan hồng cho tôi. – Nghiệp lực của ngươi trẫm không thể nào tha được, ngươi hãy đến Bồ Tát mà xin. Cô Ba liền đó chạy đến trước Quán Thế Âm Bồ Tát mà xin Ngài. Ngài nói: – Ngươi muốn sáng mắt để làm gì? – Bạch Bồ Tát, con thấy chúng sinh nơi địa ngục quá khổ sở nên xin được sáng mắt để tụng kinh Pháp Hoa cầu nguyện cho chúng sinh mau sớm siêu thoát. Địa Tạng Vương Bồ Tát lúc này mới lên tiếng: – Nếu có lời đại nguyện thì phải đốt tâm. Ngay sau đó một vị thần bưng một cái khay như khay trầu đến quỳ trước Bồ Tát, một vị khác đến gắp từ trong khay một cục màu đen đang bốc lửa hừng hực đến bảo cô Ba nuốt. Thấy lửa thì sợ lắm, nhưng cô Ba không dám cãi, há miệng nuốt vào. Lập tức toàn thân cô bỏng rát, lửa bốc ngùn ngụt từ chân tới đầu, cô kinh sợ đến thất hồn lạc phách. Liên tiếp vị thần kia gắp thêm hai cục đen nữa bắt cô Ba nuốt, cũng đều bốc lửa như vậy. Cô đau đớn, ngồi không vững nữa, gục xuống. Đến cục thứ tư, là một cục màu trắng, cũng bốc lửa, nhưng khi nuốt vào thì không thấy nóng, mà bình thường như nuốt cơm vậy. Mấy chục cục tiếp theo cũng thế, đều là màu trắng, duy có một cục màu đỏ, nhưng đều không nóng. Đốt tâm xong, cô Ba thoát được nghiệp đui mù. Quán Thế Âm Bồ Tát dạy: – Tham, sân, si của ngươi hãy còn, ba cục đen là chỉ lòng tham, sân, si của ngươi đấy! Còn cục đỏ này là chỉ ngươi sẽ sinh lên cõi trời, 36 cục trắng kia chỉ lòng trong sạch của ngươi. Vì ngươi quá sợ tội nên quyết chí tu hành, lòng trần không còn nghĩ đến. Như vậy cũng tốt, nhưng phải tinh tấn tu hành cho 3 cục đen này hóa trắng thì ngươi mới hoàn toàn trong sạch, và vì lời đại nguyện từ kiếp trước nên giờ ngươi phải đi phá Ðịa Ngục. Cô Ba ngơ ngẩn không biết phá địa ngục bằng cách nào, nghĩ mãi không ra, thôi thì cô quen niệm Phật nên cứ theo cách này. Cô qua gặp Tần Quảng Vương xin lãnh ấn và được mười tám vị thần dẫn đi khám phá các địa ngục.

Vào địa ngục lần thứ nhất


Địa ngục không phải chỉ có một khu, mà là cả một thế giới khổng lồ, trên thì nền trời âm u, dưới thì nơi nơi xộc lên những mùi tanh hôi khó ngửi, đâu đâu cũng thấy quỷ sứ cao lớn, hoặc đầu trâu, mặt ngựa, hoặc một hình thù quái dị nào khác, mà chỉ nhìn họ thôi tim cũng đã giật thót, đập loạn xạ cả lên rồi. Địa ngục chia làm nhiều khu vực, không hiểu sao trên dương thế chia làm 18 tầng, nhưng gọi vậy không đúng, vì các khu vực không có phân vị trí cao thấp theo tầng, cũng không phải chỉ có 18, có các khu lớn gọi là đại địa ngục, lớn mênh mông bể sở, nhìn không thấy bến bờ. Mỗi đại địa ngục lại chia ra nhiều tiểu địa ngục hành hình các tội khác nhau. Tội hồn chịu hết cực hình trong địa ngục này rồi, nếu vẫn còn nghiệp khác, sẽ bị đưa qua địa ngục khác tra tấn tiếp. Ba ngục đầu cô Ba đến không phải khu hành hình, mà là khu giữ các linh hồn. Ngục thứ nhất là các linh hồn chờ phân xử, chia ra làm 4 loại: số công, số oan, số ưng, số phạt. Số công là các linh hồn chết bình thường, hết tuổi thọ mà chết, và không phạm phải tội giết người. Số oan là kiếp trước không giết người nhưng kiếp này bị người ta giết. Số ưng là kiếp trước giết người nên kiếp này bị người ta giết lại. Số phạt là các vong hồn chết oan rồi không chịu xuống âm ty, lẩn trốn trên dương gian quấy phá người sống, khiến các vị thần phải tốn công theo dõi, nay bắt được đem xuống đây phạt. Sau khi được phân xử xong, các linh hồn này được đưa qua Ngục thứ hai, tùy theo bản án như thế nào mà được các vị thần dẫn đi các nẻo khác nhau, hoặc đi đầu thai kiếp người, hoặc kiếp súc sinh, hoặc đưa đến các cõi tiên, hoặc tống vào địa ngục hành hình. Một vị thần đi cùng cô chỉ vào các vong hồn thuộc số oan mà nói: – Nếu vong nào trước kia không giết ai, nay bị người giết, xong xem nhẹ sống chết, không hận thù, có lòng buông xả, không đòi báo thù thì dù vong ấy có tạo tội cũng được ân xá, đưa đến cõi Nhân Hiền tu thêm, chỉ có tội ngũ nghịch là không trừ được. Còn vong nào cứ xin đi trả thù thì không được hưởng ân xá như vậy. Cô Ba gật gù, thế mới biết giá trị của lòng bao dung, tha thứ là như thế nào, khi mình sẵn lòng tha thứ cho tội lỗi của người khác, thế thì tội lỗi của mình cũng sẽ được tha. Qua ngục thứ ba, là nơi chứa các linh hồn đã chịu cực hình trong các địa ngục khác xong, nay mãn hạn, ở đây chờ xét xử lại và nhận bản án tiếp theo. Trong ba ngục đầu, cô Ba đến từng nơi, lớn tiếng nói với các linh hồn: – Các vị, tôi coi các vong ở ngục này như bà con, cô bác của tôi vậy. Cô bác hãy niệm Phật, có niệm Phật tội mới được tiêu trừ, hãy theo tôi niệm : “Nam Mô A Di Ðà Phật”. “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”. “Nam Mô Tầm Thanh Cứu Khổ Quan Thế Âm Bồ Tát”. ” Nam Mô Ðại Nguyện Ðịa Tạng Vương Bồ Tát.” Rất nhiều vong hồn nghe thấy thế liền niệm theo, ban đầu còn lẻ tẻ, sau từng tốp từng tốp vang vang tiếng niệm Phật, tuy thế cũng không phải tất cả đều chịu niệm Phật. Những vong hồn nào niệm Phật thì chỉ một lát liền thoát khỏi ngục, số nào cứng đầu, nghiệp chướng nặng nề không chịu niệm thì tiếp tục ở lại. Đến ngục thứ tư, là nơi chịu cực hình cho các vong hồn khi còn sống phạm tội đổ bỏ, hủy hoại đồ ăn thức uống. Hình phạt cho họ là ăn giòi, từng lu từng vại giòi nhung nhúc, bốc mùi kinh tởm, bày la liệt khắp nơi. Tùy theo số đồ ăn đã đổ bỏ mà kẻ phải ăn một lu giòi nhỏ, kẻ phải ăn vài lu giòi lớn, có kẻ nghiệp nặng, số lu giòi phải ăn chất đầy như chợ Mỹ Tho vậy. Ngoài ra đây cũng là nơi những kẻ khi còn sống hành nghề nấu rượu. Hình phạt cho họ là phải uống hàng lu rượu, kẻ hai ba lu, kẻ năm bảy lu, kẻ thì số lu rượu phải uống xếp dài cả cây số. Tất nhiên rượu trong địa ngục thì không hề ngon nghẻ gì, cô Ba không nếm qua xong thấy các tội hồn phải uống đều kêu gào quằn quại, nên đoán nó rất khủng khiếp. Cũng như ba ngục trước, cô Ba đi khắp nơi khuyên các tội hồn niệm Phật, rồi niệm lớn cho họ cùng niệm theo. Hễ tội hồn nào nghe lời niệm Phật, thì giòi trong lu biến mất, rượu trong lu cạn đi. Thấy sự tình vi diệu như thế, các tội hồn truyền tai nhau, cứ thế tiếng niệm Phật lan ra khắp nơi, một số lượng đông đảo tội hồn ở ngục này được thoát ra. Bước đến ngục thứ năm, là địa ngục hành hình những kẻ vu khống, thêm bớt, gian dối khiến người khác bị tù đày. Các tội hồn phải bị mang gông tra cùm, mà cái gông thì cực kì to lớn, nặng nề, phía sau thì quỷ sứ đánh tới tấp giục đi, cứ mỗi bước là một roi. Các tội hồn toàn thân đẫm máu, rên siết lết từng bước. Hễ kẻ nào đi không nổi, gục xuống là bị quỷ sứ đánh dồn đánh dập, đánh đến tan xương nát thịt. Nếu bị đánh chết thì quỷ sứ dùng phép hoàn hồn sống lại, lại tiếp tục đeo gông, lại tiếp tục đòn roi, cứ thế nối nhau bất tận. Đến bao giờ mới hết thì còn tùy nghiệp mỗi người nặng nhẹ khác nhau, vài năm, vài chục năm, cho đến vài chục ngàn năm, vài tỉ năm. Ngoài ra, ở đây có một số tội hồn khi còn sống bắt giam chim thú vào lồng để chơi, thỏa mãn thú vui tao nhã, có biết đâu chính mình cũng sẽ chịu cảnh giam cầm tương tự. Chết rồi vào đây, họ bị nhốt trong lồng sắt, than khóc khổ sở. Được cô Ba khuyên niệm Phật, một số liền nghe theo mà niệm thì gông cùm rơi rụng, lồng sắt vỡ tan và họ được thoát ra. Đến ngục thứ sáu, nơi nơi toàn lửa là lửa. Cô Ba bị choáng ngợp bởi sức nóng ran của lửa bạo phát hừng hực khắp nơi. Nơi đây chủ yếu hành hình những kẻ khi sống sát sinh, giết hại muôn loài: trâu, bò, heo, chó, gà, vịt, rắn, rùa v.v… ngoài ra còn có thêm một số tội danh khác như bất hiếu, chửi cha mắng mẹ, bỏ mặc cha mẹ, tiêu xài hoang phí. Nơi đây có những ngọn núi khổng lồ, từ mặt đất bùng bùng cháy lên những đám lửa bỏng rát, chính giữa núi lại có một cột đồng cháy đỏ rực, hẳn là nóng nhất trong các thể loại nóng. Tội hồn nào chỉ ăn thịt mà không tự tay giết thì bị vứt lên núi lửa, còn vừa ăn vừa giết thì bị quỷ sứ vứt lên cột đồng. Tiếng thịt cháy xèo xèo, tiếng gào thét thất thanh hòa trộn với mùi hôi thối, khét lẹt thực sự kinh dị vô vàn. Khi sống họ nướng, họ chiên thịt chúng sinh, chỉ nghĩ đến cái vị thơm ngon đầu lưỡi, không nghĩ đến đau khổ của muôn loài. Và giờ, khi bánh xe nghiệp báo quay ngược trở lại họ, họ phải nếm trải cái đau đớn đã gây ra cho chúng sinh ở một mức độ thảm khốc hơn nhiều. Đáng sợ ! Ấy thế mà rất ít người quan tâm đến vấn đề này. Lúc còn sống, còn cơ hội thay đổi, thì hễ ai khuyên ăn chay, đừng sát sinh, thì cười nhạo, thì làm thinh, hoặc viện mọi lý do vì sức khỏe, vì ngoại giao, vì này vì nọ… Để đến lúc vào đây rồi, vì lí do gì cũng chẳng ý nghĩa chi cả. Ở địa ngục thì lửa và quỷ sứ không cần nghe câu giải thích. Cô Ba tiếp tục chạy đôn chạy đáo khắp nơi khuyên các tội hồn niệm Phật, xong khó quá. Nghiệp chướng quá nặng, họ không niệm được, trừ một số ít những kẻ nghiệp nhẹ ở phía ngoài núi lửa còn niệm được đôi chút mà thoát cực hình. Cô đành rời chỗ đó đi tiếp. Đi một đoạn thì thấy một đám đông người đang chăn nuôi heo, bò, gà, vịt .v.v.. Cô Ba ngạc nhiên: – Ủa! Ở địa ngục cũng có nuôi heo gà, bò dê nữa hay sao ? – Không phải, đây là những chúng sinh, khi còn sống nuôi bò, dê, heo, gà, vịt… để kiếm lợi chứ không sát sinh – một vị thần đi cùng cô giải thích – Chúng phải ở đây mà giữ số thú này, chừng nào số thú này mãn kiếp thú thì chúng mới được đi đầu thai. Ðó là chưa kể những tội khác, còn phải đến các địa ngục khác mà chịu tội nữa. Đi tiếp một đoạn, thì gặp một cảnh tượng hết sức bi hài. Một đám tội hồn bị các quỷ sứ bắt phải hát, hát liên tục, chỉ cần hát không được thì lập tức quỷ sứ ập vào đánh tới tấp liên hoàn đến chết đi sống lại. Lại hát tiếp… Một vị thần giải thích cho cô Ba, đó là những kẻ khi sống dư giả, bỏ tiền đi xem hát mấy cái thể loại âm nhạc kích thích tình ái, khiêu gợi tình dục, dẫn đến tâm thần say mê, mờ mịt. Vị ấy nói thêm: – Những chúng sinh nầy khi còn sống được giàu sang rồi ăn xài lãng phí, phải chi chúng nó dùng tiền để bố thí cho người nghèo đói, hoặc in kinh, tạc tượng Phật, hoặc cúng chùa ủng hộ quý tăng ni tu học thì quý báu biết bao! Lúc chết được sinh về cõi trời hưởng phước, kiếp sau tu thêm mà đạt đến Niết Bàn, chứ đâu mê muội xài phí đồng tiền vô ích mà nay phải vào địa ngục. Đi tiếp một chặng, một cây cầu từ từ hiện ra, nó được gọi tên là cầu Nại Hà, cầu không có tay vịn gì cả, nhìn rất chòng chành, nó không bắc qua sông, mà bắc qua một cái vực không sâu lắm, lớn chừng năm mẫu đất, hoặc có thể hơn. Phía dưới ngập đầy các loại súc sinh cầm thú: voi, hổ, báo, ngựa, dê, lợn, gà, vịt, chó, mèo, rắn, rết… đủ chủng loại. Mỗi loài đứng tụ lại thành một bầy đàn, con nào con nấy ánh mắt hau háu nhìn lên, trực chờ kẻ nào ngã khỏi cầu rơi xuống là cả bầy vồ đến cắn xé. Cô Ba được dẫn lên cầu cùng với các tội hồn khác. Hễ kẻ nào khi sống giết chó, thì đi qua chỗ đàn chó, tự nhiên Nghiệp lực khiến cho té ngã, rơi khỏi cầu, ngã xuống đàn chó phía bên dưới đang nhe nanh nhỏ dãi… Lập tức chúng xồ đến, từng cú đớp, từng cú nhay, xé toạc tội hồn ra từng mảnh, máu thịt vương vãi tung tóe. Tương tự, kẻ giết trâu bò thì bị rơi xuống chỗ đàn trâu bò cho chúng húc, chúng đạp đến chết. Kẻ giết rắn thì gặp đàn rắn lập tức ngã xuống… Một màn kinh dị, toàn thân họ nhung nhúc toàn rắn là rắn cuốn quanh, bị chúng cắn, bị chúng siết. Khắp nơi phía dưới cầu đều cực kì hỗn loạn, nào voi hú với những cú đạp long trời lở đất. Nào hổ gầm, nhảy qua nhảy lại vồ người cắn xé. Nào trâu bò, nào dê chĩa sừng húc túi bụi. Nào chim chóc, gà vịt tua tủa mỏ nhọn, móng sắc mổ, đạp lia lịa … Phía trên cầu thì các tội hồn run rẩy bước đi, sợ hãi đến tột cùng, không biết khi nào thì mình bị rơi xuống dưới. Cô Ba cũng phải đi qua cầu, nhưng may là lúc trước, đám gà vịt bị cô giết đã được cô cầu siêu cả rồi, nên cô đi qua hết cây cầu mà không bị ngã xuống, quả thật được một phen hú vía. Đang đi thì có một con vật kì quái chạy đến, thân thì là người, đầu thì là chó. Mà cái mặt nó lại trông rất quen. – Cô Ba, tôi là chó Nô đây, cô quên tôi sao? Đến đây, cô mới sực nhớ ra, cái mặt đó là mặt của một chú chó nuôi trên chùa, thỉnh thoảng cô lên chùa gặp cũng hay vuốt ve nó, sau nó bị dính bả mà chết. – Ủa, Nô! Mầy chết lâu rồi sao còn ở đây? Nó nói: -Tôi kiếp trước là đệ tử của thầy Giác Tân, vì lòng tham lấy của Tam Bảo, nên phải làm kiếp chó để giữ chùa, kiếp tôi chưa mãn, bị một gã đánh bả thuốc tôi chết, tôi quyết chờ gã xuống đây, trả hận. – Thôi mày xin đi đầu thai đi, thù oán làm gì cho khổ, chẳng lẽ mày đợi mãi sao ? Gặp thoáng chốc nói được vài câu rồi cô Ba đi tiếp, một vị thần nói với cô Ba: – Ngươi thấy chưa, chúng nó vì tội sát sinh hại mạng mà khổ sở như vậy, khi về dương gian, ráng khuyên người đừng sát sinh hại vật và cũng đừng đốt giấy tiền vàng mã, vì chỉ có tội chứ không có phước. Đến ngục thứ bảy, ập vào mũi cô Ba là mùi máu xộc lên tanh tưởi đến rợn người. Trùng trùng điệp điệp khắp nơi bày ra vô số những màn tra tấn đẫm máu me như cắt lưỡi, bẻ răng, móc mắt, xẻo tai, cắt mũi, moi ruột … Những quỷ sứ to lớn, ánh mắt hung tợn, tay lăm lăm không đao thì kiếm, không kìm thì móc sắt, không dao phay thì dao găm nhọn hoắt, sáng loáng, chúng đè từng tội hồn ra mà móc, mà kéo lưỡi, kéo tai, cắt, chặt … liên tục. Các tội hồn gào rú thảm thiết, máu phun như suối. Cứ chặt đứt rồi, lưỡi, tai, mắt… lại hoàn trở lại như ban đầu, lại cắt, lại chặt tiếp, nối nhau bất tận. Có những kẻ bị bằm nát đến chết, máu thịt bầy nhầy không phân biệt được cái nào ra cái nào, thế rồi quỷ sứ lấy một bình nước gì đó tưới lên, lập tức sống lại, thân hình trở lại như ban đầu, lại tiếp tục màn đâm chém. Cứ thế tội hồn một ngày muôn lần chết, muôn lần sống lại, cực hình nối nhau không dứt. Đến lúc này oai thần của cô Ba tích được do tụng trì kinh chú và niệm Phật đã cạn, cô bắt đầu thấy rất mệt, xong cố gắng gồng mình bước tiếp. Được một đoạn cô nhìn thấy một người, không ai xa lạ, chính là người cậu của cô mới mất cách đây hai tháng, đang bị quỷ sứ đâm dao ngập cán vào bụng, rồi thọc bàn tay xương xẩu vào moi từng khúc ruột ra. Đồng thời trên đầu, một quỷ sứ khác banh mồm, thọc cây kìm sắt to bè vào bẻ từng cái răng kêu răng rắc. Máu từ bụng, từ mồm tuôn ra lênh láng, đỏ lòm cả một khoảng rộng trên đất. Vừa sợ, vừa thương xót cậu, tâm lý chịu không nổi, cô Ba ngã lăn ra bất tỉnh. Các vị thần đưa cô Ba đến Thất Điện gặp Thái Sơn Vương – vị Diêm Vương thứ bảy cai quản ngục này. Khi tỉnh lại, cô Ba xin với Thất Điện Thái Sơn Vương được quay trở vào ngục nhưng ngài từ chối: – Không được, vì oai thần của ngươi đã giảm, hãy về tu thêm. – Tôi có người cậu chết hồi tháng hai, đang chịu tội trong ngục, xin Ngài cho tôi trở vào thăm. – Không được, để ta cho quỉ sứ dẫn cậu ngươi ra. Quỉ sứ y lệnh đưa ông ta ra, cô Ba chạy đến vồ vập hỏi: – Hồi đó cậu nói với con cậu tụng kinh Pháp Hoa 40 năm, sao nay cậu còn bị đọa vào địa ngục ? Ông cậu cô Ba thều thào trả lời: – Là cậu nói láo đó. Chính vì cậu nói láo nên nay mới bị hình phạt bẻ răng như vầy. Cậu còn cái tội khinh rẻ người đời, lại thêm hành nghề bốc thuốc tính giá cắt cổ nữa. Vậy con về nói với thằng Khanh, thằng Chình con của cậu, phải bán hết gia sản làm cơm chay mà bố thí, phóng sinh hoặc ấn tống kinh cúng chùa mà cầu siêu cho cậu, vì của ấy là mồ hôi nước mắt của người đời, cậu bóc lột của họ nhiều quá. -Thôi cậu hãy ráng niệm Phật, khi trở về dương thế, con sẽ tụng kinh mà cầu siêu cho cậu, chứ con cậu dễ gì tin theo lời con nói. Lúc ấy Thất Ðiện Thái Sơn Vương cất lời: -Chúng sinh ở cõi Diêm Phù Đề thật quá mê muội, tưởng chết rồi là hết, nên thẳng tay tạo điều ác nghiệp, đến khi chết xuống địa ngục ăn năn đã muộn. Khi về dương gian, Trẫm có đôi lời nhắn nhủ với chúng sinh, mỗi ngày phải ráng tu một giờ, hay nửa giờ, hoặc niệm Phật, hoặc tụng kinh trì chú. Ngươi cũng khuyên chúng sinh đừng đốt giấy tiền vàng mã cầu siêu cho ông bà. Nếu vậy không lẽ Nhất Ðiện Tần Quảng Vương đi ăn hối lộ của người dương thế hay sao? Muốn cho ông bà cha mẹ được siêu thoát, phải bố thí cho kẻ nghèo đói, cúng chùa hộ Tăng Ni tu học, in kinh ấn tống, mua vật phóng sinh mà hồi hướng công đức cho họ, thì cha mẹ ông bà có chết bao nhiêu năm cũng được siêu độ. Ðến đây cô Ba từ biệt ông cậu, cáo biệt Thất Ðiện Thái Sơn Vương để quay lại Nhất Ðiện. Đến nơi gặp Tần Quảng Vương, ngài hỏi: – Ngươi khám phá địa ngục, thấy sự trừng trị có công bằng hay không? – Bạch Ngài, các sự hình phạt rất công bằng, nhưng chúng sinh tạo ác lúc nào không biết, nay thấy chúng sinh bị hình phạt khổ sở, lòng cũng quá xót thương. – Chúng sinh khi còn sống chỉ lo cung phụng cái xác giả tạm mà gây bao tội ác: nào sát hại sinh vật, nào cướp của giết người, lòng tham không đáy, muốn ngồi không mà hốt của thiên hạ để cho gia đình, thân tộc bè bạn vui say, cuối cùng thần thức phải rơi vào địa ngục. Về phần ngươi, thay vì nhà ngươi phải lãnh tội câm, điếc trong 10 năm khi trở lại dương gian, nhưng nhờ công đức phá 7 cửa ngục mà chúng sinh được siêu độ rất nhiều, nên giảm được tội, chỉ còn lãnh tội câm và điếc trong vòng 3 năm rồi xuống đây sẽ định lại. Nếu tinh tấn tu hành, gia đình tu thiện, tránh sát sinh thì còn giảm nữa, bằng không thì mang tật suốt đời. Nhà ngươi biết nhận tội, ăn năn hối cải, chứ có lắm chúng sinh đến đây mà còn chối tội. Trẫm bèn cho xem Kính Chiếu Tiền Ảnh thấy việc làm của mình trên trần thế, lúc ấy hết phương chối cãi. Cũng có nhiều chúng sinh xin sống lại để đem tiền của bố thí cúng chùa. Nhưng xác thân của chúng đã mục rã rồi, đâu còn mà trở lại, vì một vong hồn xuất ra, quỷ sứ thâu nhỏ lại bỏ vào trong hồ lô mang xuống vua Ðông Nhạc, kế đến giải qua Tây Nhạc, đến ngày Trẫm phân sử thì đã gần cả tháng. Lúc đó thây xác đã phân rã, đâu còn mà trở lại. Nên Trẫm cho lên Vọng Hương Ðài, nhìn về quê quán, thấy chồng thì đã có vợ khác, hoặc vợ đã có chồng khác, của cải bị đám con phá tán, gia tài hao mất, tình nghĩa như đám mây bay, rồi gục đầu mà khóc. Đến đây, thời hạn đã hết, cô Ba cáo biệt Tần Quảng Vương, rồi đến chỗ hai vị Bồ Tát lễ bái các ngài, xin phép trở lại dương gian. Đến nơi, vừa định cất tiếng thì nghiệp câm ập đến, không sao nói được lời nào. Bồ Tát thương xót mà dặn rằng: – Khi về dương gian, ngươi nhớ lời đại nguyện mà tinh tấn tu hành. Ba năm sau xuống đây xét lại.

Trở lại trần gian

Các vị thần liền đó đưa cô Ba bay lên trở lại dương thế. Khi đến nhà, thấy cái xác vẫn nằm trên ván, da xanh mét, cứng đờ không động đậy. Mọi người con cái họ hàng vây quanh, nhưng may họ vẫn chưa đem chôn. Một vị thần từ trong cái xác xuất ra, đó là thần giữ xác, vì nếu không dùng thần lực giữ, cái xác sẽ mục rã không thể nhập vào được nữa. Một vị thần đẩy hồn cô Ba nhập vào xác. Trong phút chốc cô Ba dần cảm nhận cơ thể mình trở lại, thấy toàn thân đau nhức, chân tay nặng nề, tâm thần mê man. Phải mất một lúc lâu mới điều hòa hơi thở lại, cảm nhận gân cốt dịch chuyển, máu huyết lưu thông bình thường. Cô Ba mở mắt ra, mọi người kinh ngạc hò gọi nhau vây quanh, con trai cô và một số người thì mừng rỡ đến bên hỏi han, một số kẻ thì sợ sệt đứng xa quan sát, không rõ người hay ma. Xong lúc này cô Ba đã trở thành người câm điếc, không nói chi được, chỉ dùng ánh mắt ra dấu. Lúc ấy đồng hồ chỉ 12 giờ trưa, tính ra cô Ba rơi vào trạng thái chết lâm sàng trong khoảng 18 tiếng đồng hồ. Suốt đến tận mấy hôm sau, hễ cứ nhắm mắt lại là những hình ảnh hãi hùng, những âm thanh khiếp sợ của địa ngục lại hiện ra, tâm thần cô Ba ám ảnh mãi đến ăn ngủ không yên. Nhớ lời mình đã nguyện, cô Ba hàng ngày lấy kinh Pháp Hoa ra tụng đọc bằng mắt, hồi hướng cho các chúng sinh bị hành hình trong địa ngục. Dưới đó, họ bị tra tấn suốt đêm ngày, thì ở đây, cô Ba cũng chẳng quản ngày đêm, kiên trì tụng niệm. Đúng là có mệt thật, nhưng cô Ba biết, cái mệt của mình có thể đổi lại biết bao nhiêu đau đớn cho hàng ngàn chúng sinh, họ sẽ được thoát nhờ việc tụng niệm cô đang làm. Thế nên, mỗi lúc đuối sức, cô lại nghĩ về các chúng sinh khổ sở dưới ấy, trong lòng se thắt lại, lại có động lực để tinh tấn tiếp, không dám buông lung bỏ tụng ngày nào. Con cô Ba thấy mẹ bị như vậy, cũng thành tâm mà ăn chay, ngày ngày tụng kinh Địa Tạng hồi hướng công đức cho mẹ.

Vào địa ngục lần thứ hai


Cứ thế ròng rã suốt 6 tháng, đến ngày 12 tháng 10 âm năm đó (tức 16/11/1962) một lần nữa cô Ba lại thấy các vị thần xuất hiện. Do đã quen nên cô không hốt hoảng như lần đầu. Rất nhanh chóng, họ cõng cô bay lên, bay qua biển tiến nhập Âm Ty, dẫn đến trước đài của Quán Thế Âm Bồ Tát và Địa Tạng Vương Bồ Tát. Được gặp hai vị, cô Ba mừng rỡ như con thơ gặp lại mẹ, liền tiến đến quỳ lạy. Quán Thế Âm Bồ Tát cất tiếng: – Quý thay, nhà ngươi giữ tròn lời đại nguyện, về dương gian trì tụng kinh Pháp Hoa cầu nguyện cho chúng sinh nơi địa ngục. Ta cho ngươi biết, oai thần kinh Pháp Hoa rất lớn, và cũng nhờ ngươi đem hết thân tâm hành trì nên mỗi bộ siêu thăng được trên hai ngàn vong linh thoát địa ngục. Nhà ngươi có đứa con đại hiếu, ăn chay tụng kinh cầu nguyện cho mẹ, tội ngươi được ân xá thêm. Ngài bảo một vị thần đem cho cô một ly nước để uống và rửa mặt. Thật vi diệu, uống và rửa mặt xong, cô Ba lại nói được trở lại như xưa. Bồ Tát nói tiếp: – Oai thần của ngươi đủ sức khám phá địa ngục tiếp, hãy đến Nhất Ðiện Tần Quảng Vương mà lãnh ấn. Cô Ba lễ bái hai vị Bồ Tát, đến gặp Nhất Điện Tần Quảng Vương. Từ xa trông thấy cô, Tần Quảng Vương đã lộ vẻ vui mừng, từ trên ngai vàng bước xuống ôn tồn nói: – Trẫm rất vui mừng cho Hiền Tăng, tưởng đâu 3 năm mới trở xuống nào ngờ chỉ trong 6 tháng. Nay mới biết rõ tâm Ngài vì thương xót chúng sinh nơi địa ngục không quản nhọc nhằn, đem hết tâm trí thọ trì kinh Pháp Hoa để cầu siêu cho chúng. Bao nhiêu công đức tụng trì kinh pháp của con Ngài, Ngài cũng nguyện hồi hướng hết cho chúng sinh, thật quý thay! Một điều nữa, Trẫm muốn cho Hiền Tăng lãnh phần in kinh ấn tống để hộ Tăng Ni tu học và hàng Phật tử có đủ kinh sách tu hành, vậy Ngài nghĩ sao ? – Bạch Ngài, tôi không sợ khó nhọc, nhưng vì tiền tài không có, xin Ngài hoan hỉ cho. Nét mặt Tần Quảng Vương thoáng lộ vẻ không vui, xong ông ta không nói thêm nữa, đóng ấn và cử các vị thần đưa cô Ba vào phá các địa ngục. Cô Ba được đưa thẳng tới ngục thứ bảy lần trước chưa phá xong. Gặp Thất Điện Thái Sơn Vương, ông cũng rất niềm nở đón tiếp, cử thêm người dẫn cô Ba đi. Bước vào ngục, vẫn cái cảnh đẫm máu như lần trước đã vào, địa ngục rộng lớn bao la mà trật đầy quỷ sứ và các tội hồn. Các thể loại tra tấn vẫn như trước, móc mắt, cắt lưỡi, nhổ răng, moi ruột, xẻo tai v.v…tội hồn gào rú, quằn quại trong vũng máu. Dù cô đã giúp siêu độ hàng vạn tội hồn được thoát ra, ấy vậy mà nơi đây hẵng còn vô số. Nó cứ như nồi Thạch Sanh vậy, kẻ này thoát ra thì lại có đầy những kẻ khác được đưa vào, sung sướng gì đâu mà người đời cứ tranh nhau làm đủ thứ việc để được vào đây ? Cứ thế trách sao mãi Địa Tạng Vương Bồ Tát từ vô số kiếp qua, lâu xa như vậy mà Ngài vẫn chưa hoàn thành được đại nguyện độ cho địa ngục trống không. Ở nơi đây, các vị thần giải thích cho cô Ba, là nơi hành hình tội hồn với rất nhiều tội trạng khác nhau: ăn gian nói dối, mưu mô xảo trá hại người, làm bạc giả, cho vay lời cắt cổ, tổ chức cờ bạc, hối lộ gian trá, ngoại tình gian dâm .v.v… Chứng kiến họ bị hành hình, cô Ba lòng thắt lại, chạy đôn chạy đáo khắp nơi: – Hỡi các vong hồn hãy ráng niệm Phật, tôi cũng niệm Phật để cầu nguyện cho tất cả được siêu thoát, vậy các ngươi hãy niệm Phật đi. Nam Mô A Di Đà Phật ! Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ! … Một số tội hồn nghe theo, cũng bắt đầu niệm Phật, thấy thế các quỷ sứ lập tức dừng tra tấn, niệm thêm một lúc thì thoát khỏi ngục. Còn những kẻ không chịu niệm thì tiếp tục hành hình. Sang ngục thứ tám, địa ngục của những vạc dầu, cột đồng. Những vạc dầu khổng lồ sôi sùng sục, sắp thành hàng dài thăm thẳm không biết có bao nhiêu cái. Quỷ sứ tay không ngơi nghỉ, nắm các tội hồn quăng vào vạc dầu, hoặc nắm chân mà nhúng vào vạc, mặc chúng la hét, giãy giụa. Ở một chỗ khác có một cây cột đồng cao sừng sững, đỏ rực vì sức nóng, đường kính khoảng 6 mét, lửa bốc ra hừng hực. Quỷ sứ bắt các tội hồn nhảy vào ôm cột, da thịt vừa chạm vào cột là cháy xèo xèo thành than. Tội hồn nào không chịu ôm cột đồng, liền bị quỷ sứ xiên một nhát bằng cây đinh ba, rồi cắm vào cột, đến khi toàn thân cháy rụi thành than, tan đi hết, thì lại hoàn hồn sống lại, và tiếp tục. Đặc biệt, nơi đây còn tồn tại một đàn diều hâu, chim ưng, chim cắt… con nào con nấy to lớn kinh hồn. Chúng đập cánh xà bên này, vồ bên kia, cắp tội hồn ra xé xác, rỉa thịt, ăn tươi nuốt sống, xương chất thành một đống lớn. Lát sau lại hoàn hồn sống lại, và tiếp tục. Đó là những hình phạt cho những kẻ khi sống lập mưu dụ dỗ phụ nữ bán vào lầu xanh, hoặc cưỡng hiếp phụ nữ; hoặc hành nghề thầy thuốc mà bốc thuốc giết người, phá thai; hoặc ỷ thế giàu có ức hiếp dân lành rồi bỏ tiền đút lót để chạy án; hoặc chia rẽ anh em, xúi người kiện cáo; hoặc chửi Trời mắng Đất, phỉ báng thần thánh .v.v… rất nhiều thể loại tội trạng. Tất nhiên, khi còn sống thì chúng đâu có chịu tin Nhân Quả báo ứng gì, có ai chỉ cho thì cũng cười nhạo chẳng tin, cứ nhìn đời hạn hẹp trong cái khoảng mấy chục năm sống, tưởng chết là hết nên ra sức dẫm đạp lên luân thường đạo lý mà thỏa mãn dục vọng của mình. Để rồi dục vọng dẫn đường cho chúng vào đây. Giờ thì chúng tin rồi, biết rõ ràng rằng có Nhân Quả, có địa ngục thật rồi, xong đã muộn, thời gian đâu có quay ngược lại để mà sửa sai, Nghiệp cứ thế trổ, cực hình cứ thế nối nhau liên miên không dứt. Cô Ba cũng cố gắng khuyên các tội hồn nơi đây niệm Phật, xong quá khó, nghiệp chướng nặng nề, rất ít tội hồn niệm được, mà có niệm được thì cũng chỉ là được dừng hình phạt, cho ngồi nghỉ chốc lát mà thôi. Cô Ba được đưa đi tiếp đến ngục thứ chín, trước tiên là đến điện rồng bái kiến Cửu Điện Đô Thị Vương. Thấy cô Ba đến, Đô Thị Vương cũng niềm nở ra tiếp: – Trẫm nghe có người ở dương gian xuống phá địa ngục, từ lâu Trẫm cũng có lòng trông đợi, đến nay mới được hội kiến thật là quý báu thay. Cô Ba liền cung kính đáp lễ: – Bạch Ngài, trước kia tôi đi khám phá đến ngục thứ bảy thì trở về vì oai Thần chưa đủ, ngày nay khám phá tiếp, xin Ngài hoan hỉ chỉ dạy cho. – Trẫm cũng đi theo cùng. Trước kia Ngài ở ngục này 28 năm, Ngài còn nhớ hay không? Hãy vào đây nhìn xem có ai quen thuộc không? Vừa nói, Đô Thị Vương vừa dẫn cô Ba vào ngục. Đập vào mắt cô Ba là một bàn chông khổng lồ, tua tủa chông nhọn xỉa lên, bên trên là các tội hồn quỳ trên bàn chông, máu tuôn lênh láng, rên la thống thiết. Ngoài ra thì cũng đủ các thể loại cực hình đâm chém, thiêu đốt… như các địa ngục khác. Lạ một điều là các tội hồn đều là người tu hành, không là sư tăng thì cũng là ni cô, họ khi sống ngoài thì mang lốt tu hành đạo mạo, mà trong thì phá giới, làm đủ trò bại hoại Phật môn. Đi một đoạn còn thấy một số bị bắt quỳ tụng kinh dưới ngọn đèn lưu ly, được các thần giải thích rằng khi sống họ nhận tiền người ta để tụng kinh, mà tụng không đủ số, nay phải quỳ đây tụng cho đủ. Cửu Ðiện Ðô Thị Vương thở dài mà nói: – Số này mượn lốt thầy tu mà phá chúng sinh, lạm dụng tiền của Thường Trụ mà làm việc riêng tư phi pháp; hoặc phá giới phạm trai ở chùa mà ăn mặn, sát sinh, hại vật, làm gương ác cho đời; hoặc cống cao ngạo mạn khinh rẻ Tăng Ni thanh tịnh, hủy hoại của đàn na thí chủ, rẻ rúng coi thường cư sĩ Phật tử. Đi tu mà không kính Phật lại hủy Pháp, vọng ngữ, chưa chứng mà nói là chứng, chưa đắc mà nói là đắc, tưởng mình là Phật, khinh rẻ Thánh Thần, xem thường Trời Ðất cho nên ngày nay mới bị hình phạt như vậy. Nghe xong, cô Ba liền chạy đến bên các tội hồn, hi vọng rằng họ ít nhiều có duyên lành từng xuất gia thờ Phật mà sẽ có nhiều tội hồn niệm Phật được, số thoát khỏi đây sẽ nhiều hơn các ngục khác. Cô nói lớn: – Kính thưa quý Ngài, tôi xem quý Ngài như thầy của tôi vậy, cũng vì một chút lỗi lầm chi đó mà phạm giới, vậy hôm nay quý Ngài cùng tôi niệm Phật để tiêu nghiệp chướng trở lại cõi Diêm Phù Đề mà tu nữa cho đến ngày thành Chánh Đẳng Chánh Giác. Thật bất ngờ, dù cố gắng nói thật lớn, lặp đi lặp lại mấy lần, mà không hề có một tội hồn nào niệm Phật theo cô Ba, không một ai thoát ra được cả. Cô Ba bất lực, chỉ biết đứng nhìn mà không biết phải làm như thế nào nữa. Cửu Ðiện Ðô Thị Vương thấy vậy thì lên tiếng nói với chúng: – Các ngươi thật mê muội, có người đến cứu mình mà mình không chịu cứu mình, nếu gọi đây là Tăng Ni bị hình phạt thì không đúng, mà phải gọi là nam và nữ mượn lớp áo đạo để phá đạo, chứ đâu phải Tăng Ni. Tăng Ni thì giới hạnh thanh tịnh. Tăng Ni thì dắt chúng độ sinh. Tăng Ni thì phải yêu thương vạn loài. Tăng Ni thì hi sinh mình vì đạo pháp làm gương cho chúng sinh. Tăng Ni hết kiếp sống thì về Tịnh Độ, về Niết Bàn, chứ Tăng Ni nào ở địa ngục! Thôi Ngài cũng đừng khuyên nữa, chúng đã không sám hối tội lỗi, lo niệm Phật thì để chúng nó ở đó mà chịu hình phạt. Trẫm có mấy đôi lời khi về dương gian nhắc lại lời Trẫm để chúng sinh thức tỉnh tu hành. Nghe xong những lời của Cửu Điện Đô Thị Vương, cô Ba trầm ngâm một lúc, rồi lặng lẽ gật gù. Chí lý! Có lẽ quen suy nghĩ quá nông cạn, cô Ba, mà phần đông Phật tử cũng đều vậy, chỉ nhìn vẻ ngoài cạo đầu, khoác áo tu thì đều cứ coi là sư thầy, sư cô, hết mực tôn kính, coi như một sứ giả của Như Lai. Nhưng có thật vậy không ? Ồ không, làm sao căn cứ vào vẻ ngoài đó mà biết được họ có phải một người xuất gia chân chính, giới luật nghiêm minh, thành tâm tu đạo ? Không thể. Để phân biệt được người chân tu hay giả tu, phải nhìn vào cách sống, vào giới hạnh của họ cả những lúc công khai trước mọi người, lẫn cả những lúc âm thầm không ai biết. Cùng hình tướng xuất gia giống nhau, nhưng người chân tu, cả đời giới hạnh, làm nhiều công đức cho đời, cho Đạo, bỏ thân này thì sinh về những cõi an lành, cao hơn thì vãng sinh về cõi Phật, cao hơn nữa thì đắc đạo nhập Niết Bàn, đó mới là Tăng Ni. Còn những kẻ giả tu, mượn áo Đạo để tạo việc đời, hoặc đi tu thề giữ giới rồi lại ngang nhiên phá giới khiến người đời chê cười đạo Phật, thì như Cửu Điện Đô Thị Vương nói, chỉ là ” nam và nữ mượn lớp áo đạo để phá đạo” thôi. Chết rồi vào địa ngục, ngay đến có người vào siêu độ cũng khó lòng cứu ra được, vì nghiệp giả tu, phá hoại sự trang nghiêm, thanh tịnh của Đạo Phật nặng hơn nhiều những nghiệp chướng khác. Nghĩ lại chính mình kiếp trước cũng phạm phải đại tội này, cũng từng như họ, cô Ba vừa thấy hối hận, vừa ngậm ngùi, xót xa, từng bước nặng nề mà rời khỏi ngục thứ chín. Ngục tiếp theo cô Ba được các vị thần đưa đến, đó là ngục Vô Gián, nổi tiếng về độ khốc liệt. Nó lớn mênh mông không cùng tận, chứa hẳn một cái biển vừa sâu, vừa rộng bao la trong đó, nước biển thì sôi sùng sục, máu đỏ theo nước cuộn trào, các tội hồn chìm chìm nổi nổi lặn ngụp trong đó. Nếu cần phải đặt tên, thì cái biển đó chắc chắn sẽ có tên là Biển Quái Vật, vì ngập đầy khắp nơi là đủ loài quái vật to lớn, kì quái, kinh dị, và độ hung tợn thì không có gì để so sánh với chúng. Con thì nhe nanh để lộ những cái răng như những lưỡi dao sắc bén, con thì có cái mỏ như mỏ chim, nhưng mỏng như lưỡi kiếm mài bén. Chúng thoắt ẩn thoắt hiện trong làn nướ, rồi bất chợt xồ lên ngoạm lấy các tội hồn cắn xé, tay chân, đầu mắt vương vãi, máu phum ào ào hòa vào làn nước biển đỏ lòm lòm. Một số tội hồn trong cơn hoảng loạn bơi được lên bờ, thì bị quỷ sứ trên bờ dùng hung khí lùa xuống, quái vật bên dưới lập tức vồ lấy xé nát. Tiếng gào rú lạc giọng, tiếng nhai xương, xé thịt của đám quái vật, cùng những màn cắn xé man dại, thực sự ám ảnh, kinh tâm lạc phách đến cùng tột. Cô Ba bắt đầu khuyên các tội hồn niệm Phật, xong chẳng ai nghe được gì cả. Phải cố van nài vài ba phen, đám quái vật mới chịu ngưng cắn xé, bỏ lên bờ. Một số vong hồn bắt đầu nghe lời, niệm Phật được một lúc thì cũng lên được bờ, xong đuối quá liền ngủ gục ngay đó. Cô Ba dời chỗ đó, được các vị thần dẫn đến một khu vực khác. Chỗ này rất khác lạ, nó vừa sâu thăm thẳm, vừa tối đen như mực, nhìn không rõ các tội hồn ra sao, chỉ nghe tiếng gào ré liên tục. Không biết họ bị tra tấn kiểu gì, mà tiếng gào của họ nghe rất quái dị, nó khào khào như ve kêu, cực kì ồn ào, nên cô Ba cố gào hét khuyên các tội hồn nhưng không nghe ra được tiếng gì. Cô liền chuyển sang niệm Phật: – Nam Mô A Di Đà Phật ! Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ! Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát ! Nam mô Ðịa Tạng Vương Bồ Tát ! Theo từng tiếng niệm Phật thì địa ngục liền sáng lên, nhìn rõ được quang cảnh. Các tội hồn đông lúc nhúc cũng dừng gào ré, nhô đầu ra. Cô Ba liền khuyên họ: – Tôi niệm Phật có bốn câu mà địa ngục được sáng ra như thế, vậy quý vị phải ráng niệm Phật đi! Họ liền niệm theo, ban đầu còn lẻ tẻ, sau tiếng niệm Phật lan ra vang vọng khắp nơi, cuối cùng cửa ngục mở tung, các tội hồn thoát ra. Các thần dẫn cô Ba đi thêm vài khu vực nữa trong ngục Vô Gián, mỗi nơi một kiểu tra tấn khác nhau, hết sức đa dạng và tàn khốc, đủ muôn kiểu chết đau đớn, chết rồi sống lại, lại tra tấn cho đến chết, một ngày muôn lần sống muôn lần chết nối nhau không ngơi nghỉ nên gọi là Vô Gián. Cuối cùng, các thần đưa cô Ba đến Thập Điện chứng kiến cảnh vong hồn bị đưa đi đầu thai kiếp thú. Trước dòng sông Ứ Nê, các vong hồn được sắp xếp đứng ngay ngắn từng hàng dài. Vong hồn nào từng giết trâu, hoặc tạo nghiệp gì đó sẽ phải đầu thai thành trâu, thì đứng chung một hàng. Tương tự, đầu thai thành chó, thành mèo, thành dê, thành gà, thành vịt, thành rắn, rết… đứng riêng từng hàng. Biết mình sắp bị biến thành súc vật, tương lai mịt mù tăm tối, kẻ thì khóc lóc thảm thiết, kẻ bịt mắt quay đi không dám nhìn. Lần lượt từng vong hồn bị đẩy, bị kéo tới bờ sông, nơi có dòng nước màu đỏ. Quỷ sai múc nước sông cho các vong hồn uống. Nước vừa nuốt xuống lập tức lông lá mọc ra, biến hình thành đủ loại súc sinh. Một quỷ sứ bước đến dùng một cây cọ chấm vào lưỡi từng con vật, liền đó chúng không còn nói tiếng người được nữa. Sau khi đủ số, quỷ sứ dùng phép thu nhỏ chúng lại cho vào hồ lô, rồi bay lên dương gian đưa chúng đi đầu thai. Thấy sự kêu khóc thảm thiết của bọn họ, cô Ba xót thương mà đến van xin Thập Điện Chuyển Luân Vương, xin ngài tha cho bọn họ, nhưng liền bị ngài từ chối: – Vì nghiệp lực của chúng quá nặng nề nên phải chịu đầu thai đền mạng. Nhiều đời nhiều kiếp sát hại sinh mạng nhiều không kể, thậm chí cho đến vật không ăn được chúng nó cũng giết rồi bỏ đi. Tội ác tày trời nên chúng nó phải đền mạng không làm sao được, không ai xin hay thay thế được, dầu có cha con đi nữa thì cũng tội ai nấy chịu, đành như vậy. Cô Ba đành ngậm ngùi cáo biệt Chuyển Luân Vương để trở về Nhất Điện. Về đến nơi, cô đến lễ bái hai vị Bồ Tát. Quán Thế Âm Bồ Tát dạy rằng: – Ngày nay ngươi khám phá Ðịa ngục xong hãy về nói cho người đời nghe lại. Và sau phải cố gắng in kinh ấn tống, ta sẽ hỗ trợ cho. Ngươi có tâm cứu độ chúng sinh nơi địa ngục, nhưng như thế chưa bằng độ chúng sinh ở cõi dương gian, vì cõi đó chúng sinh còn tạo tội thì địa ngục không ngày nào hết. Hôm nay ta trợ duyên cho ngươi ba ly nước để ngươi định tâm nhớ việc địa ngục mà nói cho chúng sinh, nghe rồi lo đi tu hành, quy y, giữ giới, ăn chay, cữ sát sinh thì không còn sa địa ngục nữa. Trong kiếp này ngươi vì trả nghiệp nên kinh luật chẳng thông, bởi vậy không được làm thầy ai hết. Sau này ngươi cũng mở đạo, nhưng đạo của ngươi chỉ dụng pháp “Phá Ðịa Ngục”. Hiện nay nhân duyên của ngươi phải theo giáo pháp Ðại Thừa dùng phương tiện hoá độ chúng sinh, và khuyên người đời chớ lầm mê đốt vàng mã để cầu siêu vô ích. Khuyên người đời hãy nên tụng kinh niệm Phật, cữ sát sinh và in kinh ấn tống như vậy rất dễ tiêu nghiệp chướng, sớm được giải thoát. – Bạch Ðức Bồ Tát, con nguyện vâng lời, dầu cho khổ sở hay trải qua muôn vàn kiếp con cũng không chán nản, con nguyện làm sao cho chúng sinh sớm tỉnh ngộ quay về Phật Pháp là con vui lòng. – Lời nguyện của ngươi sẽ thành và sau này sẽ chứng quả. Cô Ba năm vóc sát đất, tha thiết lễ bái từ biệt hai vị Bồ Tát, rồi đến điện rồng của Tần Quảng Vương để cáo biệt, đồng thời cũng là vì có một khúc mắc muốn thưa hỏi: – Bạch ngài! Tôi có người mẹ tên là Lê Thị Thêm chết ngày 18 tháng 10 năm Canh Tý (tức năm 1960), đến nay cũng gần mãn tang, tôi cố ý kiếm tìm trong các ngục nhưng không gặp, xin ngài từ bi chỉ dạy cho tôi biết mẹ tôi hiện nay ở đâu? – Cũng nhờ Hiền tăng có lòng chí hiếu, tụng trì kinh Địa Tạng hồi hướng cho mẹ, nên mẹ của Hiền Tăng được sinh về cõi Trời Tứ Thiên Vương hưởng phước, mà cửu huyền thất tổ của Hiền Tăng cũng được siêu sinh. Nghe vậy cô Ba vẻ mặt mừng rỡ, bèn quỳ xuống: – Bạch ngài! Tôi có thể lên cõi trời Tứ Thiên Vương để tìm mẹ cho thỏa lòng ao ước được không? – Quý thay! Nếu Hiền Tăng muốn đi tìm mẹ thì phải chí tâm cầu nguyện, chừng nào ơn trên ấn chứng mới được đi. Từ biệt Nhất Điện Tần Quảng Vương rồi, cô được các thần mang theo chiếu chỉ của Tần Quảng Vương, đi thăm quan thêm các cõi khác như cõi Địa Tiên, cõi Nhân Hiền, cõi Long Cung. Cuối cùng mới đưa cô trở lại nhân gian, nhập vào xác như lần trước. Cô nhìn lên đồng hồ, lúc ấy đúng 12 giờ trưa.

Phần 2: THIÊN ĐƯỜNG

Trở về dương gian, cô Ba mang theo một cõi lòng đầy háo hức, mong ngóng được lên trời Tứ Thiên Vương, tất nhiên phần lớn là vì muốn gặp lại mẹ, phần nữa cũng vì tò mò, muốn biết cõi trời thực sự đẹp như thế nào. Thế nên ngày ngày cô rất siêng năng, nhiếp tâm cầu nguyện. Rốt cuộc sau ba tháng, ngày ấy cũng đến, đó là ngày 9 tháng giêng năm Quý Mão ( tức ngày 2/2/1963), Thiên Chủ Tứ Thiên Vương phê chiếu chỉ cho các chư vị thiên thần xuống đón cô Ba lên. Họ trục hồn cô Ba khỏi xác, cũng như lần trước, sẽ có một vị thần giữ xác nhập vào để xác không bị hư hoại, rồi dẫn hồn lên cõi trời Tứ Thiên Vương – cõi trời thấp nhất trong các cõi trời để gặp mẹ cô. Cô Ba thấy mình được thần lực đưa lên bay vun vút, nhanh đến chóng mặt, mới đầu nhìn xuống còn thấy núi non sông hồ trùng điệp, muôn vạn dặm xa xôi hút trong tầm mắt. Bay tiếp lên, thì chỉ còn thấy mây tầng tầng lớp lớp đủ màu sắc, ngước lên thì thấy mặt trời cùng các vì sao như đang trông lớn dần ra. Phải một lúc lâu sau, mới đến một nơi gọi là cổng trời, tuy nhiên không thấy cái cổng nào, mà chỉ toàn mây là mây, có một số thiên thần trang phục uy nghiêm hiện ra chặn lại, các thiên thần dẫn đường liền trình chiếu chỉ ra, và được vui vẻ cho qua. Bay thêm một lúc nữa, các thành quách nguy nga mới thấp thoáng hiện ra giữa những tầng mây, rực sáng những hào quang huyền ảo. Quả là chốn thiên đàng, dù xưa nay người đời vẫn luôn tưởng tượng ra đủ thứ vẻ đẹp kiêu sa nhất để gán cho thiên đàng, nhưng tận mắt chứng kiến rồi, cô Ba mới thấy những tưởng tượng ấy còn thô sơ, quê mùa hơn nhiều lần khi so với thực tế. Các thiên thần đưa cô Ba bay lướt qua một lượt để ngắm nghía toàn cảnh. Khắp nơi là những tòa cung điện lấp lánh, rộng lớn bao la không thấy điểm cuối, với lối kiến trúc trang nghiêm, nhưng lại đầy vẻ tao nhã với những họa tiết không thể tinh xảo hơn. Xen kẽ giữa các công trình cung vàng điện ngọc, lầu vàng, gác tía là những giống cây kì lạ, đẹp đẽ, rực rỡ nhiều sắc hoa tươi thắm, được trồng ngay ngắn theo hàng, theo lối với một bố cục hài hòa. Cả một thành phố khổng lồ xây bằng châu báu bạc vàng nguy nga, tuyệt mỹ, ẩn hiện trong những vạt mây trắng, mây vàng trôi lãng đãng, lại càng tăng thêm vẻ ảo diệu, thi vị. Văng vẳng khắp chốn thiên cung là những bản nhạc trời du dương, thánh thót từng nốt nhạc. Âm thanh của những loại nhạc khí kì lạ, giao hòa với nhau không thể nhuần nhuyễn, tinh tế hơn, lánh lót như rót thẳng vào tận trong tâm hồn, khiến cho cô Ba như muốn lâng lâng, bay bổng theo từng giai điệu lúc lên cao, khi xuống thấp, lúc khoan thai, khi lại sâu lắng. Chiêu đãi khướu giác là những làn hương thơm lạ không rõ bắt nguồn từ đâu, lan tỏa ngào ngạt trong không khí, hít vào mà tâm hồn cảm thấy đê mê, nửa say nửa tỉnh. Tất cả cảnh trí vừa hoành tráng, vừa lạ lẫm, tinh tế trong từng chi tiết nhỏ, rồi bao nhiêu thứ kỳ lạ không biết phải tả như thế nào, khiến cho kẻ mới lần đầu trải nghiệm như cô Ba không khỏi ngơ ngẩn, say sưa mà như quên hết cả mục đích, nguyên nhân mình từ đâu đến đây, và đến đây để làm gì. Cuối cùng, cô được các thiên thần đưa đến trước một điện rồng hết sức cao lớn, uy nghiêm, nổi bật hơn hẳn mọi cung điện khác về độ hoành tráng, tinh xảo. Những dải ánh hào quang từ bên trong tỏa ra ngời sáng lấp lánh, chiếu xa thấu suốt các tầng mây, xong lại khiến cho người ta cảm thấy rất mát mẻ, dễ chịu. Nếu như ở nhân gian, cung điện của vua chúa cũng gọi là điện rồng, xong rồng chỉ là những pho tượng, tạc hình làm biểu tượng, thì ở đây, điện rồng được hiểu theo nghĩa đen thực sự. Xung quanh điện, những thần rồng cao lớn, bề thế, vảy sừng sắc sảo, đôi mắt đầy uy lực, uyển chuyển cuộn mình thành những tư thế oai vệ xếp dọc hai bên. Không chỉ thế, còn có những linh thú chỉ được nghe kể trong truyền thuyết như phượng hoàng, kì lân, kim quy… hình dáng cao lớn, màu sắc sặc sỡ, thần thái trang nghiêm, sinh động mỗi loài một vẻ xong đều xếp theo một hàng lối ngay ngắn, rất quy củ. Thỉnh thoảng cao hứng, chúng lại uốn lượn, quẫy đuôi vờn quanh với phong thái rất ung dung, nhàn nhã, phô diễn vẻ đẹp rực rỡ khiến người xem mê mẩn. Khi các thiên thần đưa cô Ba đến nơi, chúng đồng loạt đứng dậy nghênh đón, thái độ trang trọng mời họ vào trong. Vào trong rồi, lại một lần nữa cô Ba bị choáng ngợp. Không chỉ vì những mái vòm, những hàng cột thuần làm từ châu báu cao vời vợi, cùng vô số món kỳ chân dị bảo tỏa ra muôn màu lấp lánh trang trí khắp nơi, mà còn vì vẻ đẹp của các vị chư thiên đang tỏa ra hào quang sáng ngời. Họ cực kỳ cao lớn, ước tầm phải gấp từ mấy lần, đến mấy chục lần người thường, tùy phước đức mỗi vị. Từ gương mặt đến dáng vẻ, phong thái đều đẹp không tỳ vết, một vẻ đẹp thanh thoát đến mê người. Một người phàm trần như cô Ba lọt thỏm giữa các chư thiên, vừa bé nhỏ, vừa xấu xí chẳng khác nào đem con cóc mà so sánh với các nam thanh nữ tú cả, điều đó không khỏi khiến cô Ba cảm thấy e dè và có phần sợ sệt. Ngự trên ngai rồng giữa chánh điện là một vị cao lớn hơn cả, phải đến tầm hai mươi tư thước, Ngài diện một bộ y phục đỏ, tỏa ra ánh hào quang ngời ngời, vừa uy nghiêm vừa tuấn tú, phi phàm. Không cần giới thiệu thì cô Ba cũng biết đó chính là Thiên chủ – vua cõi trời Tứ Thiên Vương. Nhớ lại ban nãy trên đường đi, các thiên thần cũng đã căn dặn sơ qua cho cô về các nghi lễ thiên đình khi ra mắt, cô cùng các thiên thần dẫn đường liền đến trước Thiên chủ, theo nghi lễ mà tung hô, bái kiến. Sau đó, Ngài miễn lễ, cho ngồi và cất tiếng dạy bảo – âm thanh vừa tao nhã lại vừa sang sảng như tiếng chuông đồng: – Hiền Tăng tuy trước là người trọng tội, sau nhờ lời đại nguyện phá xong mười ngục cứu độ chúng sinh cũng nhiều, phước đức đó rất lớn. Nay vì lòng hiếu thảo cầu xin lên trời gặp mẹ, trẫm cũng rộng hồng ân. Hơn nữa, trẫm cũng muốn cho Hiền tăng lên cõi trời cho biết, sau nói lại cho chúng sinh nghe để chúng biết có Trời, có Phật, có Thánh, có Thần, để chúng sinh khỏi lầm tưởng ngoài cõi đời không còn ai nữa rồi mặc tình làm ác mà phải sa vào địa ngục. Nay trẫm phán đôi lời cho Hiền Tăng rõ: Chúng sinh ở cõi nhân gian lòng tham ác dẫy đầy, nghiệp sát sinh quá nặng, cho nên chiến tranh khói lửa không ngừng. Đã thế còn loạn dâm, hủy đạo, ngỗ nghịch, bất hiếu, bất trung, mở miệng ra là cống cao ngạo mạn, chửi Trời mắng đất, khinh rẻ Thánh Thấn. Hàng tháng chư thần về tâu tội lỗi của chúng sinh tràn ngập, nên cứ một thời gian phải đưa những người thiện sang cõi khác, rồi cho lôi thần, hỏa thần tiêu hủy thế gian, để lập lại như thời thượng cổ cho người hiền chung hưởng. Nhưng đức Quán Thế Âm Bồ Tát vì lòng từ bi đã bao lần ngăn cản để ngài tìm cách cứu độ chúng sinh, nếu làm như vậy thì chúng sinh chết khổ tội nghiệp. Cũng may, hiện nay nhiều vị Bồ tát ở cõi Trời Đâu Suất vì lòng từ bi nên đã giáng trần độ thế rất nhiều. Nhờ các vị Bồ Tát giảng thuyết Kinh pháp nên chúng sinh biết đường tu tỉnh, ăn chay, niệm Phật, thọ trì Kinh pháp. Trẫm phán cho Hiền Tăng rõ: người nào giữ trọn tam quy ngũ giới, khi chết trẫm cho kim đồng ngọc nữ rước về cõi trời Tứ Thiên Vương này hưởng phước tu thêm. Còn từ năm giới tới mười giới thì được về các cõi Trời cao hơn, hoặc về cõi trời Đâu suất gặp Đức Phật Di Lặc giáo hóa tu tiếp. Riêng những vị Tăng Ni Đại Đức khi công hạnh đã viên mãn, có nguyện vãng sinh thì về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Còn những người hàng Phật Tử mà phá đạo, hại đời, hoặc đã xuất gia thọ giới mà phá giới, phạm trai hoặc loạn dâm, đắm sắc khi chết bị đọa vào địa ngục không biết bao nhiêu năm để đền tội. Còn những vị mặc dầu ở tại gia nhưng một lòng vì đạo, phát tâm Bồ Đề, kiến thiết chùa chiền, in kinh ấn tống, ủng hộ tăng ni tu học, đó là hàng Bồ Tát tại gia. Phước báo này đến chỗ vô lậu, cứ tô bồi công đức như vậy lần lần đến quả vị Niết Bàn. Vì ủng hộ tăng ni tức bảo tồn Tăng Bảo thường trụ, thay mặt đức Như Lai giáo hóa chúng sinh. In kinh ấn tống là bảo tồn Pháp Bảo thường trụ ở thế gian để chúng sinh nương theo kinh pháp mà tu hành. Tuy nhiên, những vị tu bồi công đức trên phải luôn luôn khiêm nhường, đừng sinh tâm cống cao ngạo mạn mà tiêu mòn phước báu đi rất uổng phí. Tất cả các Đức Phật đều muốn cho chúng sinh về đất Phật, tất cả các cõi trời đều muốn cho chúng sinh được về trời. Thế mà chúng sinh cứ chăm chăm làm ác, lao đầu vào địa ngục, thật là mê muội. Tuy biết rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, Phật tánh ấy như hạt giống vậy. Hạt giống này phải được trồng trong đất đạo đức, hàng ngày phải được vun tưới bằng pháp của Phật thì hạt mới nẩy mầm lên cây, đơm hoa kết trái Phật, tức thành Phật. Chứ như mê muội đem hạt giống bỏ vào sình lầy tham ác, bỏ vào lửa đỏ bạo tàn, ngang ngược thì hạt không nảy mầm, lại trôi lăn vào cõi súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục chịu thống khổ muôn đời. Trẫm phán bấy nhiêu lời Hiền Tăng cố nhớ về nói lại cho chúng sinh nghe. Sau những lời truyền dạy như sấm rền ấy, Thiên chủ Tứ Thiên Vương sai hai tiên nữ mời mẹ cô Ba đến. Không lâu sau, bà đã xuất hiện tại điện rồng, yết kiến Thiên chủ với nghi lễ tung hô xong, hai mẹ con vui mừng khôn siết, ra riêng một chỗ để hàn huyên. Thực tình cô Ba nhìn vẻ ngoài thì không thể nhận ra mẹ mình, vì khi ở nhân gian bà có dung mạo bình thường của một người phàm trần, còn giờ bà đã mang thân hình cao lớn, kiều diễm tuyệt thế của một thiên nữ, nên cứ ngẩn ra, chần chừ chưa dám lại. May nhờ giọng nói không đổi khác mấy, cô mới nhận ra vị thiên nữ này đúng là mẹ mình. Còn bà thì chỉ chờ đến giây phút này, liền chạy ngay đến ôm trầm lấy cô Ba, mừng mừng tủi tủi mà nói liền một tràng không dứt, cứ như thể sợ không còn cơ hội nào để nói: – Nhi ! Con đã được về trời rồi sao ? Vậy thì tâu với vua trời Tứ Thiên Vương cho mẹ con mình ở chung một chỗ để cùng tu hành. Nhi ạ, ở cõi trời vui lắm, các vị Bồ Tát ở cõi trời Đâu Suất thường xuống đây thuyết pháp, hào quang các ngài sáng ánh tua tủa, ban đầu mẹ tưởng là Phật, mẹ mừng quá, mẹ lạy hoài không thôi, sau nhờ các vị Tiên nói mẹ mới biết đó là Bồ Tát. Mẹ nhờ con biết tu hành cầu siêu cho mẹ mới được về trời, thật con có hiếu với mẹ quá, bằng không mẹ còn khổ nữa, biết ngày nào được ở đây. Mẹ ở tận núi Hoa, chỗ mẹ ở đẹp hơn đây nhiều lắm, một ngày ở đây rất dài, mẹ nghe các vị Tiên cho biết, nó bằng một năm ở cõi thế. Lúc mẹ chết, thằng Thinh (em trai cô Ba) làm thịt một con bò và một con heo để làm đám ma, nếu không có con cầu siêu cho chúng nó đầu thai làm người, thì mẹ phải đầu thai một kiếp làm bò và một kiếp làm heo để đền mạng. Ôi! Khổ biết bao nhiêu, thằng Thinh ngu quá, nó tưởng làm như vậy là báo hiếu cho mẹ, nào ngờ nó làm hại mẹ suýt phải làm súc sinh thật là đau đớn. Nhưng việc đã qua rồi không nhắc lại làm chi, con hãy tâu với Thiên chủ Tứ Thiên Vương xin về ở chung với mẹ đi, ở đây tu hành vui lắm, khỏi phải làm lụng gì hết. Mẹ con mình ráng tu rồi sẽ được trở về cõi trời Đâu Suất, mẹ nghe các vị Tiên nói ở trời Đâu Suất có Bồ Tát Di Lặc, nhờ ngài giáo hóa mình tu thêm, sau một thời gian lâu mới về được cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Nè! Con thấy mẹ không, lúc này mẹ đẹp lắm phải không! Hồi mẹ mới về trời cũng giống như con ngày nay, thật là nhỏ nhoi, xấu xí quá chừng. Thôi con đừng buồn, ở đây ít lâu rồi cũng cao lớn và đẹp như mẹ vậy. Con ạ! Ở đây cúng dường lạ lắm, hễ tâm mình muống cúng dường vị Bồ Tát đang thuyết pháp loại hoa nào tự nhiên loại hoa ấy từ trên hư không đổ xuống tua tủa như mưa, thật là vui. Mới về cõi Trời mẹ tâm tưởng để cúng dường chưa được, phải tu một thời gian sau mẹ mới cúng dường bằng cách tâm tưởng như vậy. Cõi Trời vui lắm, để rồi con thấy mẹ không nói sai đâu. Lúc mẹ còn sống thường mở máy thu thanh để nghe, và thích nhất tuồng hát bội, nhưng ở đây các vị thiên nữ múa hát hay gấp bội lần, còn trên hư không nhạc trời tự nhiên trỗi lên thật hay, mẹ nói không hết được. Thôi con đến xin cùng tứ Thiên Vương cho mẹ con mình ở chung rồi con sẽ thấy lời mẹ nói thật, còn nữa, còn nhiều chuyện lạ nữa, đến xin đi con. Bà nói liền một tràng như thế, cô Ba muốn giải thích nhưng không biết xen vào chỗ nào. Thấy vậy, một số thiên thần bèn đứng ra đính chính, rằng cô Ba chỉ là lên đây tham quan, chứ thọ mạng nhân gian chưa hết. Hàn huyên với mẹ thêm một lúc nữa, tâm tình đã được thỏa mãn, cô Ba lại tiếp tục theo các thiên thần dẫn đường mà tham quan thiên giới. Trước kia cô Ba từng được các thần dẫn đi tham quan cõi Địa Tiên, cõi Nhân Hiền, cõi Long Cung, quả là so với nhân gian thì kì diệu, đẹp đẽ, thanh tịnh hơn cả trăm lần. Ấy nhưng khi so với cõi trời thực sự, dù chỉ mới là cõi trời thấp nhất như cõi Tứ Thiên Vương, thì những cõi kia thật thua xa nhiều lần. Nhưng đọc trong kinh điển Phật dạy, thì cô biết các cõi trời cao hơn như Đao Lợi Thiên, Đâu Suất Thiên, Hóa Tự Tại Thiên, Đại Phạm Thiên… càng lên cao thì còn đẹp đẽ, vi diệu hơn nhiều lần, lũy thừa lần so với cõi Tứ Thiên Vương này. Ấy vậy mà còn không thể so sánh nổi một góc với cõi Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Chính Thiên Chủ Tứ Thiên Vương cùng mẹ cô cũng có nói đến, nhưng quả thực, trí tưởng tượng nhỏ bé, đơn giản của phàm nhân như cô, cố mãi vẫn không sao hình dung ra được cõi đó sẽ còn thù thắng, siêu việt đến mức độ nào. Thôi thì tạm thời gác lại việc so sánh quá sức ấy, cô trở lại với thực tại lộng lẫy đang mời gọi trước mắt. Bồng bềnh trên những đám mây, cô phóng tầm mắt tận hưởng vẻ đẹp của trăm ngàn thứ kì lạ. Mặt đất bằng phẳng, làm từ những thứ như pha lê, cẩm thạch trải ra mênh mông không bờ bến, và sạch bóng, tuyệt không có một hạt bụi, không một cái lá cây rụng nào. Những hàng cây trĩu trịt trái chín mọng từ cành tới ngọn, những bụi hoa rực rỡ mà từng bông lớn như những chiếc ô, tỏa hương bát ngát. Không biết do bàn tay của vị kiến trúc sư thiên tài nào thiết kế, mà lầu ngà tháp ngọc cao vời vợi, cùng vô vàn những đền đài lấp lánh châu báu đan quyện vào thiên nhiên với trăm ngàn thứ cây cỏ hài hòa đến lạ. Đẹp đẽ, rộng lớn là thế xong các vị thiên tử lại khá thưa thớt, đó đây vài vị thong dong cưỡi hạc, cưỡi mây lui tới. Xa xa những nàng thiên nữ uyển chuyển bay lượn trong những điệu múa duyên dáng, thoát tục, vừa múa vừa cất lên những tiếng ca thánh thót mà chắc chắn sẽ khiến những ca sĩ tài năng nhất của thế gian phải im bặt vì hổ thẹn. Đến gần hơn, lúc này thì cô Ba mới có thời gian nhìn ngắm kĩ nhan sắc của các thiên nữ, không biết phải tả như thế nào cho đúng: đẹp mê hồn, từng đôi mắt diễm lệ, từng gò má thanh tao, từng làn da trắng như bạch ngọc… hòa vào nhau thành một vẻ đẹp không tỳ vết. Thật tốt nhất đừng để cánh đàn ông ở dưới trần nhìn thấy, vì thấy qua rồi các ông sẽ chẳng còn hồn phách nào tỉnh táo để mà làm ăn được gì cả. Như cũng muốn thi thố với các thiên nữ, thấp thoáng đó đây từng đàn chim với bộ lông rực rỡ, trang hoàng thêm những vạt đuôi cánh dài điệu đà, có loại biết tên như chim hạc, chim công, cũng có những loại kì lạ không biết tên gì, xong đều đang uốn lượn vờn quanh theo điệu múa của loài thiên điểu. Nơi cõi trời này, vẻ đẹp lộng lẫy, thanh thoát không chỉ cảm nhận ở các giác quan, mà nó còn thấu cảm vào tận sâu trong tâm hồn, khiến cho tâm cảm nhận được những cơn đê mê, ngây ngất khó diễn tả bằng lời. Từng làn hương thơm ảo diệu thoang thoảng nơi nơi, từng tiếng gió thổi man mác, từng tiếng chim kêu lảnh lót hòa cùng vào tiếng tiêu sáo du dương và nhiều nhạc khí khác cộng hưởng thành một bản nhạc trời bất tận, làm nền cho những tiếng hát thiên nữ thánh thót. Tất cả hình như đang đồng thanh hiệp lực, cố ý tạo nên một cơn say khó cưỡng, khiến kẻ nào đi ngang bất giác sẽ bị thôi miên, quên hết mọi sự để chỉ muốn ở mãi nơi đây. Đang mê mẩn trong cơn say ấy, cô Ba chợt nghĩ đến lúc phải về trần gian mà lòng ngao ngán. Trần gian giờ chỉ như một chốn đầy ải, chiến tranh khói lửa triền miên từ thời đại này sang thời đại khác, bệnh tật, mưu sinh, đói kém cùng đủ thứ dằn vặt, nguy hiểm. Con người u mê không hiểu luật, chỉ vì những thú vui vụn vặt, thoáng chốc mà mờ mắt, tranh giành nhau, tạo đủ thứ nghiệp chướng, để mà ghìm nhau vào đau khổ. Chính cô trước kia cũng u mê như vậy, nên giờ đây có cơ hội so sánh, cô hiểu điều đó một cách sâu sắc hơn ai hết. Vốn đang đua nhau chạy thục mạng hướng vào cửa địa ngục, ấy thế mà rất đông người lại hăm hở lắm. Còn những việc thiện lành, sẽ đưa đến những kết quả an lạc, sung sướng lâu dài, thì lại bị chế giễu là “rỗi hơi”, “mê tín”, chẳng mấy ai chịu làm. Thế nhân thật hài hước. Bao nhiêu vị thánh nhân hạ phàm để dạy bảo, mà phần đông nhân loại nghe rồi lại nhăn răng ra cười nhạo chẳng tin, mãi không chịu hiểu ra rằng, đừng tranh giành hơn thua vô ích, chỉ cần biết buông xả, san sẻ cho nhau thì luật Nhân quả sẽ an bài cho tất cả đều được hưởng sung sướng. Đó, cõi thiên đường nơi đây, chính là minh chứng đó. Bao nhiêu điều vi diệu, đẹp đẽ, bao nhiêu trân bảo, thần thông tự tại mà các vị thiên tử nơi đây an hưởng chẳng bao giờ lo vơi cạn, đâu phải tranh giành mới có, vốn đều bắt nguồn từ những sự buông bỏ khi còn sống ở nhân gian. Buông bỏ những mâu thuẫn, chấp nhất, bảo thủ để thôi không còn thù hằn, oán ghét, chửi rủa, hãm hại, chiến tranh, chém giết với nhau, thế là tắt được bao nhiêu ngọn lửa nghiệp chướng. Buông bỏ lòng tham vào tiền tài, danh lợi, quyền thế, để biết bố thí, giúp đỡ, nhường nhịn, thế là thành bao nhiêu phước báo. Buông bỏ những tâm kiêu ngạo, tự cho mình biết tuốt mà vốn thực sự chẳng biết gì, để khiêm nhường, học hỏi lời dạy của thánh hiền, thế là trí tuệ sáng ra, biết đâu mới là con đường đưa đến hạnh phúc chân chính, lâu bền. Cứ y theo quy luật ấy mà sống, thì ai ai cũng sẽ phước báo tràn trề, an nhàn hưởng mãi nơi những cõi trời, cõi Phật bao la này, việc chi phải giành giật hơn thua trong cái cõi người trật hẹp, bon chen lấy khổ sở làm vui thú. Càng nghĩ thì càng chán ngán, chẳng muốn về lại trần gian chút nào. Nhưng vì thọ mạng chưa hết, đại nguyện chưa làm tròn, cô Ba đành ngậm ngùi, gắng gượng dứt khỏi niềm vui thích để rời khỏi chốn bồng lai này, đến từ biệt mẹ rồi trở lại điện rồng xin chiếu chỉ của Thiên chủ Tứ Thiên Vương để xuống lại nhân gian. Xong bất ngờ nghe Ngài phán rằng: – Tuy cõi trời rộng bao la, tốt đẹp vô ngần, các vị Bồ Tát ở cõi trời Đâu Suất thường đến thuyết pháp dạy đạo, song chúng thiên tử cứ mãi say sưa trong cảnh đẹp, ít chịu tu hành. Nay trẫm thỉnh Hiền Tăng đến pháp đài giảng cho chúng thiên tử một thời pháp về cái khổ ở thế gian và nơi địa ngục, để chúng thiên tử sinh tâm lo sợ mà tinh tấn tu hành, kẻo cứ mãi vui chơi đến ngày hết phước, bị đọa lại trần gian thì tội lắm! Hiền Tăng đến ngay tháp đài ở núi Hoa, tháp này có mười tám tầng dành cho các vị Bồ Tát đến thuyết pháp, nhưng khi đến nơi Hiền Tăng chỉ ngồi ở tầng thứ mười, thuyết một thời pháp cho chúng thiên tử nghe. Cô Ba liền cung kính phụng chỉ, một số thiên thần dẫn cô bay đến tháp đài tại núi Hoa. Tòa tháp này cao vời vợi, chia làm nhiều tầng, không biết được làm từ pha lê hay kim cương mà trong suốt, tỏa ra ánh sáng kì ảo. Tứ phía xung quanh là một quảng trường mênh mông, mặt đất làm từ vàng ròng lấp lánh. Sau khi được an vị trên tầng thứ mười, cô Ba không khỏi hồi hộp khi chứng kiến từ khắp các hướng, từng đoàn từng tốp các vị thiên tử cưỡi mây về đây tề tựu, đông như trẩy hội. Nhưng không phải cái kiểu chen chúc lố nhố như ở nhân gian, mà nhất nhất theo một trật tự tề chỉnh, nghiêm trang. Khi tất cả đã an vị, cô Ba bắt đầu cất tiếng giảng về cái khổ của nhân gian. Đã nếm trải qua bao nỗi gian truân, vất vả của cuộc sống nghèo khó giữa thời chiến loạn, lại được chứng kiến đủ kiểu hãi hùng trong địa ngục, nên cô rất tự tin mà nói về nỗi khổ. Nào là khổ của kiếp người từ khi sinh ra đến khi già nua, phải vật lộn bươn trải, nắng mưa dãi dầu kiếm miếng ăn. Trên thì thiên tai, bão lũ, hỏa hoạn… đủ loại, dưới thì rắn rết trùng độc lắm thứ nguy hại, trong thì hết khổ bệnh tật đến khổ đói khát, xa cách người thân yêu cũng khổ, sống gần kẻ đáng ghét cũng vô cùng khó chịu, ngoài thì phải gánh trách nhiệm nặng nề, hết lo cho gia đình đến đối phó với quan quyền, giặc giã, chiến tranh, kẻ xấu mưu hại, sinh ly tử biệt. Niềm vui cũng có xong chỉ là mong manh, thoáng chốc đã tàn, mà để có được thì phải đánh đổi bằng bao nỗ lực vất vả, giành giật bon chen mà chất thêm bao nhiêu nghiệp chướng. Rồi cuối cùng ai cũng phải chết, trắng tay không còn gì, ngoài những nghiệp phước đã tạo. Mà lẽ thường tạo tội luôn dễ hơn làm phước, thế nên lúc chết rồi phần đông sẽ đọa lạc vào các cõi khổ như địa ngục ngập ngụa máu lửa, ngày đêm quỷ sứ tra tấn khủng khiếp, hoặc làm kiếp ngạ quỷ đói khát thê thảm lâu dài, hoặc đầu thai làm súc sinh ngu si, cắn xé nhau để sống. Từng câu từng chữ tuy mộc mạc nhưng chân thực, như được tuôn thẳng ra từ những kinh nghiệm đau thương của chính cô, nên nó rất sinh động và đầy thuyết phục. Các vị thiên tử, thiên nữ nghe mà gương mặt tái dần đi, từ tò mò đến kinh ngạc, rồi dần chuyển thành sợ hãi. Buổi thuyết pháp kết thúc, họ nhìn sang nhau, ánh mắt nơm nớp lo sợ, rồi từng tốp nhóm họp lại thì thầm bàn luận. Cô Ba xuống tòa, rồi đến bên gần các vị thiên tử nghe họ nói chuyện. Một vị bước đến, đại diện cho thính chúng nói với cô: – Nếu không có Hiền Tăng nói rõ về cảnh khổ ở thế gian thì chúng tôi cũng đâu biết. Sinh lên đây quá lâu không còn nhớ, chúng tôi tưởng ở thế gian cũng sung sướng như ở cõi này, nào ngờ khổ quá như vậy. Chúng tôi ở đây nào có nghĩ tới năm tháng, nào có thấy ai già, ai chết bao giờ, hễ bị tội là Thiên chủ bắt đọa xuống trần gian, nhưng tưởng như là đi du ngoạn một lúc vậy thôi, nào ngờ khổ đau đến vậy. Các vị Bồ Tát thường đến đây thuyết pháp cũng có giảng, mà chúng tôi nào có tin lời. Còn Hiền Tăng từ cõi thế gian lên đây, là người trong cuộc, nói rõ cảnh đời khổ sở làm chúng tôi thức tỉnh. Thôi chúng tôi sẽ bắt đầu tinh tấn tu theo Phật, kẻo bị đọa xuống trần gian khổ lắm chịu sao cho nổi. Một vị khác khẩn khoản: – Thỉnh thoảng Hiền Tăng lên đây một lần, nhắc nhở chúng tôi tu hành tinh tấn, chứ các vị thiên thần có chức trách cũng thường xuống cõi nhân gian quan sát, về họ kể lại. Xong lắm lúc chúng tôi cũng chẳng mấy tin lắm. Cô Ba từ biệt bọn họ, trở lại điện rồng của Thiên Chủ Tứ Thiên Vương, sau nghi lễ bái kiến, Ngài nói: -Hôm nay Hiền Tăng đã toại nguyện, khi trở về nhân gian hãy nhắc nhở chúng sinh tinh tấn tu hành, cảnh đẹp ở cõi trời rất rộng đang chờ đón chúng sinh tu thiện. Hiền Tăng nhắc nhở chúng sinh đừng đắm đuối theo xác thân giả tạm, thời gian nó cũng tiêu hoại, phải lo cho cái tâm, mới là cái chắc thật lâu dài, phải nuôi tâm hồn bằng giáo pháp của Phật, phải biết quên mình vì kẻ khác đừng ích kỷ, thì cửa trời đang mở rộng đón chờ. Phán xong, Thiên chủ Tứ Thiên Vương ban chiếu chỉ, cho truyền các thiên thần đưa cô Ba trở lại nhân gian. Cô Ba cung kính cáo biệt ngài, mắt nhìn lại khắp thiên giới một lượt với một niềm lưu luyến khó tả. Rồi cô theo các thiên thần, xuyên qua các tầng mây trở lại nhân gian, nhập vào thân xác. Mở mắt ra, nhìn lại cảnh vật thế gian với đủ những xô bồ, bon chen danh lợi, ngày ngày diễn ra vẫn như thế từ nghìn năm qua chẳng đổi Cô thở dài, bao mối suy tư ngổn ngang về cuộc đời, về kiếp người ào ào trong tâm trí. Chỉ trong chưa đầy một năm ngắn ngủi, cô đã được đi qua những trải nghiệm hiếm ai có được, từ chết lâm sàng đến tật nguyền câm điếc, xuống địa ngục rồi lên thiên đường, chứng kiến tận mắt từ sự khủng khiếp tột độ của quả báo, cũng như những sung sướng tột đỉnh của phước báo. Nhìn thấy hết những điều ấy rồi, lại quay lại nhìn thế gian người người đang sống. Ôi thế gian, hỉ nộ ái ố với những được mất sướng khổ, tình tiền nghiệp tội, bừng bừng đó rồi cũng phai tàn ngay đó, để rồi kéo theo sau là bao nhiêu những nhân quả lâu dài. Rốt cục, sống một kiếp người là có ý nghĩa gì ? Mỗi một người hãy tự suy ngẫm để có riêng cho mình một câu trả lời thích đáng. Còn với cô Ba, cô đã có câu trả lời cho chính mình. Không lâu sau, cô Ba Cháo Gà xuống tóc xuất gia, trở thành một sứ giả của Như Lai với chí nguyện đem những trải nghiệm chân thực của mình, đem những hiểu biết về Đạo về đời của mình truyền bá giúp cho nhiều người thức tỉnh. Pháp danh của cô là Thích Nữ Huệ Hiền. Và câu chuyện ly kỳ về một bà bán cháo gà ở Mỹ Tho xuống địa ngục, cho tận đến thế kỷ sau vẫn còn được người đời truyền tai kể cho nhau nghe. (Quang Tử, viết lại từ tự thuật của cô Ba Cháo Gà)

NHÀ CÓ “VONG” KHÓ BÁN, NÊN LÀM NHƯ THẾ NÀO ?

 

(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Phước Hoa)

Vi vu qua những con phố tấp nập của Hà Nội, không khó khăn gì để nhận thấy những ngôi nhà nho nhỏ xíu xiu, nằm san sát nhau, chạy dài dọc hai bên đường. Đó là đặc trưng của Hà Nội và cũng là của nhiều thành phố lớn khác trên đất nước này. Ai ai cũng biết, sống ở nơi đất chật người đông, tấc đất tấc vàng như trong trung tâm thành phố, để kiếm được căn nhà vừa rộng vừa ít tiền là điều khó như lên mây.

Gia đình Phước Hoa cả thảy có bốn người, suốt bao năm qua, cả nhà vẫn sống trong căn nhà chật hẹp vỏn vẹn có bảy mét vuông tại phường Nam Đồng, quận Đống Đa. Có tin được không? Bạn không nghe nhầm đâu, đúng là bảy mét vuông. Nói không phải đùa, chứ nếu nhìn từ trên cao nhìn xuống, căn nhà trông chả khác nào cái tổ chim cả. Ấy vậy mà họ đã sống ở đó cả chục năm nay.

Nó vốn là của mẹ Hoa, giờ Hoa đã có chồng có con, thêm người thêm thành viên, nên mọi thứ dần trở nên bất tiện quá mức. Có lẽ đã đến lúc phải thay đổi, không thể bám víu mãi ở đây, cần tìm một căn hộ chung cư để ở, tuy không được ở nhà đất nữa, nhưng một căn chung cư sẽ giải quyết được vấn đề diện tích và cả tài chính của gia đình. Mà muốn có tiền mua chung cư thì Hoa cũng phải bán căn nhà này đi mới chuyển đổi được.

Để bán căn nhà này không dễ chút nào, ban đầu Hoa cũng nghĩ diện tích quá nhỏ chính là lý do khiến cô bán mãi không được, nhưng dần dà Hoa phát hiện ra nó không đơn giản như vậy. Thật sự còn có điều bí ẩn đằng sau mà ít ai nghĩ tới.
Hai năm trời ròng rã giao bán nhà đủ kiểu, Hoa đăng cả lên báo và nhờ bên môi giới làm cầu nối cho dễ tìm khách. Thông tin căn nhà được đăng trên các kênh giao bán, người đến xem tận nơi cũng không phải không có, bởi vì tuy diện tích nhỏ hẹp, nhưng vẫn sẽ có những khách hàng có nhu cầu phù hợp. Khách đến xem, người thì khen, kẻ thì chê, có những khách đã ưng ý hứa hẹn đặt cọc, nhưng quái lạ thay, cứ đến phút chót thì họ lại đi đâu mất hoặc có đủ lý do để hủy bỏ.
Một buổi nọ, có khách qua xem nhà, thấy phù hợp nên hẹn sáng hôm sau tới cọc liền, bốn người nhà Hoa khấp khởi vui mừng vì sắp bán được căn nhà chật hẹp và mường tượng tới một không gian sống rộng rãi thoải mái hơn, tha hồ sinh hoạt mà không phải quay đâu cũng chỉ thấy toàn tường là tường như thế này.
Sáng hôm đó, gia đình dậy sớm, đun nước, pha trà chờ người ta đến cọc tiền như đã hẹn, bất ngờ có cuộc điện thoại gọi tới, đầu dây bên kia nói với giọng gấp gáp:
– Em à, chị không mua nhà của em nữa, xin lỗi em. Con trai chị vừa bị tai nạn. Chị phải lo cho cháu đã. Thôi thế nhé, chào em.
Điện thoại ngắt phụp, Hoa chưa kịp định hình được điều gì và cũng chưa kịp nói lời nào. Vậy là thôi, cái mơ mộng về một nơi ở mới vẫn còn lơ lửng chưa thể thực hiện được.
Lại một lần nữa, giữa tháng tư oi bức, có khách tới xem nhà tỏ vẻ ưng ý lắm, muốn gia đình Hoa phải bàn giao nhà trước dịp lễ 30/4, nghĩa là trong chưa đầy hai tuần. Mặc dù chưa có nơi ở mới để chuyển tới, nhưng thấy có người mua là gia đình Hoa hạnh phúc lắm rồi, chuyển đi đâu thì tính sau, giờ cứ lo bán được nhà cái đã. Nghĩ vậy, mừng thầm, Hoa đồng ý giao nhà sớm. Cuối cùng, cũng không hiểu vì sao đến lúc đặt cọc thì họ lại chốt một câu không mua nữa. Kỳ lạ thật.
Thời gian trôi qua, cứ hết khách này đến khách kia tới xem, rồi cũng tới tháng cuối năm cận Tết mà nhà thì vẫn chưa bán được. Khách đến xem thì có, thậm chí còn nói chắc như đinh đóng cột rằng căn nhà này coi như thuộc về họ rồi. Ấy vậy mà ai ngờ đâu, đùng một cái đến lúc đặt cọc tiền, họ lại chạy mất hút.
Thở dài trong ngao ngán, Hoa không biết tới bao giờ mới kết thúc cái cảnh người đến lại đi, đến lại đi như thế này. Hay là, có một lý do nào khác mà mắt thường không nhìn ra ?
Nhớ lại ngày trước, một buổi tối mùa đông lạnh lẽo, đang ngồi ngẩn ngơ xuýt xoa nhấp từng ngụm nước ấm nóng, bỗng có cái bóng trắng nào đó vụt qua trước mắt Hoa rồi bay lên trên gác, dù lướt rất nhanh nhưng đủ để Hoa nhận biết đó là một cô gái tóc dài. Nhưng không phải là người, mà là đó là một vong hồn. Tim đập chân run trước cảnh tượng vừa thấy, nhưng Hoa tin chắc mình không có hoa mắt, cái bóng trắng rõ ràng đó không phải do hoa mắt tưởng tượng ra, và đây cũng không phải lần đầu tiên vong nữ đó xuất hiện.
Mẹ Hoa trước từng kể rằng có một lần bà nhìn thấy một vong hồn của cô gái nào đó ở trong nhà. Bà thi thoảng còn có thể nghe thấy tiếng của các vong linh xung quanh, nhưng nhìn thì chỉ có một lần duy nhất đó thôi. Có lẽ nhờ nhân duyên gì đó đặc biệt, mà mẹ con Hoa nhìn được như vậy.
Ngẫm lại điều này, rồi xâu chuỗi với những sự việc xảy ra, linh tính mách bảo Hoa chính vong linh ấy làm cho gia đình không thể bán nổi căn nhà của mình. Các vong linh thường có tha tâm thông, biết được suy nghĩ của con người, có thể phần nào tác động vào tâm ý con người. Khi những người khách đến xem nhà, ban đầu thấy thích muốn mua, nhưng sau đã bị vong nữ tác động vào tâm ý để không muốn mua nữa hoặc gây ra những sự cản trở khiến việc mua bán không thành công. Cuộc sống của cõi người vốn vẫn luôn có sự ảnh hưởng từ các cõi vô hình khác tác động vào, nhưng chúng ta không thấy nên tưởng rằng không có.
Qua năm 2020, dịch bệnh Covid hoành hành, bán nhà đã khó, nay thêm dịch bệnh làm kinh tế giảm sút, việc bán nhà càng trở nên khó khăn hơn. Nhà nhà người người lo chống dịch, ra đường còn khó, nói chi đến việc đi mua nhà. Gia đình Hoa lại ngồi nhìn nhau chán ngán trong bốn bức tường vây quanh.
Có chút duyên lành với Phật Pháp, thời gian này Hoa cũng đang tìm hiểu và tập hành trì theo Phật Pháp, mỗi sáng sớm Hoa trì bảy biến chú Đại Bi, tuy ít ỏi nhưng cũng là sự khởi đầu trên một con đường mới. Tính đến tháng 8/2021 là tròn hai năm, mới chỉ là khởi đầu và quãng thời gian tu tập còn ngắn ngủi, nhưng Hoa cũng đã có chút hiểu biết cơ bản cần thiết.
Vào một ngày gần cuối năm 2020, tình cờ đang dạo chơi trên facebook, Hoa đọc được một câu chuyện trích trong sách “Duyệt Vi Thảo Đường Bút Ký” kể về một phụ nữ đời Thanh, bị một vong nữ oan gia đeo theo báo thù. Sau đó cô ta đã niệm 10.000 câu “Nam Mô A Di Đà Phật” hồi hướng cho vong nữ đó, khi vừa niệm đủ số là vong nữ liền siêu thoát. Hiểu được sự vi diệu của câu niệm Phật như vậy, Hoa quyết định sẽ thực hành theo.
Ngay tối hôm đó Hoa bắt đầu niệm Phật, và sẽ niệm ít nhất cho đến khi đủ 10,000 câu Phật hiệu để hồi hướng cho vong nữ trong nhà mình được siêu thoát về thế giới Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà và mong vong linh nếu có thể thì hỗ trợ cho Hoa bán được nhà.
Thực ra con số 10,000 chỉ là một con số tương đối, nó đúng với câu chuyện đó, chứ không chắc đúng mọi trường hợp. Vậy niệm bao nhiêu là đủ? Điều đó tùy vào sự thành tâm, định lực, giới hạnh của người tu, cũng như nghiệp chướng của người được hồi hướng nặng nhẹ tới đâu, và còn phụ thuộc vào duyên giữa người hồi hướng và người được hồi hướng. Thế nên có khi 10.000 là đủ, có khi phải 30.000, 50.000,… hay nhiều hơn nữa mới có kết quả.
Ngoài ra, không chỉ có việc niệm Phật là có công đức, mà còn rất nhiều việc khác như trì chú, tụng kinh, vẽ tranh tạc tượng Phật, giúp người, cứu vật, phóng sinh … và nhiều cách khác nữa. Chúng ta đều có thể đem những công đức đó hồi hướng cho những việc cần thiết để giúp mình cũng như giúp người bớt khổ.
Vậy là ngày ngày tranh thủ khi rảnh rỗi Hoa niệm hơn 300 câu Phật hiệu, chừng hơn một tháng thì đủ 10,000 câu. Sau đó Hoa vẫn cứ tiếp tục niệm nhiều hơn nữa để hồi hướng cho vong linh. Không chỉ mình Hoa, mẹ Hoa thấy vậy cũng tinh tấn niệm hơn 1000 câu Phật hiệu mỗi ngày. Cứ như vậy hơn một tháng, hai mẹ con chắp tay niệm Phật thành tâm cung kính mong mọi sự sẽ tốt lành êm đẹp nhờ sự gia hộ của chư Phật.
Ra tết, nhà Hoa lại có khách đến xem, dạo qua một vòng, họ chê lên chê xuống đủ thứ. “Điệu này chẳng hy vọng gì rồi” – cô nghĩ thầm, cái giấc mơ đổi nhà sao nó gian nan quá vậy.
– Em cho anh số tài khoản ngân hàng, anh đặt cọc luôn 20 triệu nhé. – Anh khách xem nhà đột ngột hỏi.
Hả? Cái gì vậy, anh ta vừa nói gì, Hoa có nghe nhầm không?
– Anh cọc trước, hai hôm nữa sẽ chồng đủ tiền nhà cho em. – Anh khách nói tiếp.
Anh ta đang hỏi số tài khoản ngân hàng. Sau vài phút, tiếng ting ting phát ra từ chiếc điện thoại, tiền đã vào, Hoa thở phào nhẹ nhõm, lần này thì chắc rồi. Mọi thứ diễn ra chóng vánh đến mức cô ngỡ như mình đang trong một giấc mơ. Ngay sau đó ba ngày, gia đình khăn gói chuyển đi để giao nhà cho khách.
Lúc này, Hoa đoán biết vong nữ kia đã nhận được công đức, được tiêu trừ nghiệp chướng, siêu thoát và không còn gây cản trở việc bán nhà. Từ khi niệm Phật hồi hướng cho vong nữ đến lúc bán được căn nhà chỉ trong khoảng hai tháng, chả bù cho suốt hai năm rõng rã trôi qua vẫn không bán thành công. Trong lòng Hoa vừa vui mừng vì bán được nhà, vừa cảm thấy an lòng hơn vì vong linh ấy đã phần nào bớt đau khổ.
Ở cảnh giới vô hình, nhiều chúng vong linh do nghiệp quả nên còn trầm luân vất vưởng không thể nào siêu thoát. Họ phải chịu sự đói khát, lạnh lẽo, cô đơn và sự dày vò bức bách của tâm can, chưa kể tới vô vàn cái khổ khác. Chúng ta ở cõi người, tuy rằng có những sự khổ đeo bám, nhưng so với chúng vong linh vẫn còn sung sướng hơn. Lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều, nếu như có thể, hãy mở lòng từ bi tạo các công đức hồi hướng cho họ được tiêu trừ chướng nghiệp, siêu thoát lên cảnh giới an lành. Người đời hay có câu “âm siêu dương thới”, bốn chữ này trong nhiều trường hợp cũng có phần hợp lý không sai.
Phật Pháp vi diệu, dùng trí phàm phu thật sự không thể so lường được, bản thân trường hợp của Phước Hoa và của rất nhiều người khác chính là bằng chứng thực tế hùng hồn không thể phủ nhận. Nếu như ai còn nghi ngờ, thì hãy thử đặt câu hỏi “Tại sao từ ngàn xưa đến nay, vẫn có rất nhiều người ở khắp mọi nơi áp dụng lời Phật dạy mà đạt được kết quả tốt đẹp như vậy?” Từ cổ chí kim, từ thời cổ xưa đến thời hiện đại, từ châu Á sang châu Mỹ, không hiếm những câu chuyện thực tế đã được kể lại.
Đức Phật vì lòng từ bi vô hạn, thương tưởng chúng sinh đang trầm luân đau khổ mà thị hiện ở đời, đem ánh sáng chân lý tới soi đường cho chúng sinh. Các Ngài có rất nhiều pháp môn, tùy căn cơ mỗi người mà ban phát, cũng như tùy bệnh mỗi người mà cho thuốc. Thấy chúng sinh khổ đau phiền não, Phật chỉ cho pháp để được an vui, rốt ráo hơn nữa là mong chúng sinh được giải thoát, chấm dứt tận gốc mọi đau khổ trong cối xay sinh tử luân hồi.

(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Phước Hoa)

LẤY PHẢI CHỒNG VŨ PHU NÊN LÀM NHƯ THẾ NÀO ?

(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Hà Vy)

Bốp! Bốp!


– Im mồm. Thích cãi à. Này thì cãi này.


Vừa nói anh ta vừa dùng tay đánh những đòn như trời giáng vào thẳng đầu của vợ anh – Hà Vy. Từng cái, từng cái một, anh ta đánh cái nào, Hà Vy thấm thía cái đó. Nó thấu tận vào trong óc, làm não cô như muốn long sòng sọc. Ánh mắt chồng cô lúc đó, không phải là nhìn nữa, mà nó như tia lửa điện chiếu thẳng muốn thiêu đốt cả người vợ. May sao anh ta chưa vơ thứ gì đó xung quanh để nện vào đầu Vy, chứ không thì chắc giờ mọi chuyện đã khác.


Là một cô gái chân yếu tay mềm, Vy chỉ biết khóc chứ không chống đỡ được gì. Đứa con trai mới tám tháng, thấy bố đánh mẹ huỳnh huỵch thì cũng khóc thét lên. Chị hàng xóm sát bên thấy huyên náo, liền chạy sang, thấy tình hình thế, chị liền nhảy vào can ngăn. Thế nhưng vô ích, không thể cản được cái gã đàn ông trong cơn hăng máu này. Nhân lúc chồng quay đi, Vy lao ngay ra ngoài trời đang mưa, chạy một mạch ra phòng ông bà chủ nhà trọ ở phía đầu dãy cầu cứu. Hoảng loạn và đau đớn, Vy để mặc những hạt mưa đổ xuống ướt hết cả thân hình gầy gò. May quá cửa phòng ông bà chủ nhà vẫn hé.
– Ông ơi cứu cháu với, chồng cháu đánh cháu, đau quá, đau quá ông ơi. Ông cứu cháu.
Tay Vy vừa ôm đầu, mặt cúi xuống vì đau không ngẩng lên được, vừa nói Vy vừa thút thít, vừa xuýt xoa vết thương. Ông chủ nhà nhìn bộ dạng thảm hại của cô, lập tức khẩn trương hỏi sự tình. Rồi ông cùng Vy bước đến trước cửa phòng trọ, nhìn thấy anh chồng, ông không quát tháo gì cả, chỉ nghiêm mặt mà ôn tồn nói:
– Có gì hai vợ chồng từ từ bảo nhau, sao mà phải đụng chân đụng tay như thế này. Nếu không còn tình thì cũng còn cái nghĩa chứ. Chúng mày hay thật đấy.
Chồng Vy nghe vậy, chẳng nói gì, mặt vẫn hầm hầm, đôi mắt vẫn ngùn ngụt cơn bực, xong đã có vẻ được kiểm soát hơn lúc nãy. Anh bỏ lên gác xép nằm. May là anh ta cũng còn biết nể ông chủ nhà trọ. Vy cảm ơn ông ấy, rồi trở vào phòng, khuôn mặt vẫn nơm nớp lo sợ, tay vẫn trong tư thế che đầu, phi thẳng vào giường nơi thằng bé con đang nằm chơ chọi một góc. Vy kéo vội đứa con vào lòng, nước mắt vẫn chảy dài, một tay ôm con, một tay ôm đầu, hai chân co rút lên, cứ thế Vy nằm im tư thế phòng thủ như vậy.
Tiếng mưa rơi lộp độp trên mái tôn ồn ào quá, nhưng vì đau và mệt, hai mẹ con Vy cũng ngủ thiếp đi từ lúc nào chẳng hay. Trời dần về đêm, mưa cũng ngớt, căn phòng trọ nhỏ nhắn của nhà Vy cũng đã trở về cái quỹ đạo trật tự cần phải có, cả xóm trọ lại yên ắng chìm vào giấc ngủ.
Đó, lấy chồng nó khổ thế đó. Cãi nhau qua lại có mấy câu mà chồng đã nhào vào đánh tới đánh tấp, đến mức Vy phải xin nghỉ làm để nằm nhà dưỡng thương. Và vấn đề chính, là anh ta đã làm Vy quá tổn thương trong lòng. Cô không còn muốn sống với con người vũ phu, tàn nhẫn này thêm chút nào nữa. Ngay sáng hôm sau khi bình minh vừa rạng, Vy bồng bế con trở về nhà mẹ đẻ. Trong lòng cô mang một vết thương lòng đau đớn, và ngập đầy những ý nghĩ oán trách. Vy quyết định sẽ ly hôn.
Ấy thế nhưng vài hôm qua đi, khi đã bình tĩnh hơn thì cô lại lưỡng lự. Nhược điểm của phụ nữ là vậy, ngoài mặt thì dứt khoát, nhưng bên trong vẫn yếu đuối. Thực tình trong lòng Vy vẫn hy vọng anh ta sẽ tới xin lỗi để hàn gắn cuộc hôn nhân đang trên bờ vực thẳm, bởi vì tình nghĩa bấy lâu, và bởi vì Vy không muốn con trai của mình thiếu một tổ ấm trọn vẹn. Người đời hay ví phụ nữ như một giống loài kì lạ, nói một là hai, nói hai là một, nói có là không, nói không là có. Kể ra trong nhiều tình huống đúng là không thể chối cãi cái thực tế này.
Chồng Vy có lẽ cũng không muốn kết thúc cuộc hôn nhân này, nóng lên thì hùng hổ vậy thôi, nhưng anh ta chưa bao giờ có ý định đó. Ấy nhưng mà với cái sĩ diện của thằng đàn ông, anh ta cũng chẳng chịu hạ mình tới xin lỗi hay gọi vợ về. Anh ta cứ mặc kệ thế đấy.
Và thế là cuộc hôn nhân của Vy đi đến hồi bế tắc, dứt không được, hàn gắn cũng chẳng xong. Mỗi ngày trôi qua, Vy đều thống khổ tâm can, chẳng biết làm gì để mở cái nút thắt.
Công việc ở công ty Vy đã xin tạm nghỉ, dành thời gian ở nhà chữa trị vết thương do chồng đánh và chăm sóc con trai, thi thoảng lại ngồi tỉ tê tâm sự với mẹ hay lên mạng đọc tin cho khuây khỏa. Từ ngày Vy lấy chồng, bố mẹ cô vẫn chừa lại căn phòng của con gái chưa sử dụng tới, để thỉnh thoảng Vy về nhà chơi còn có chỗ ngủ nghỉ cho thoải mái, chứ ông bà cũng không nghĩ con gái lại về trong hoàn cảnh này.
Căn phòng nhỏ chứa đầy ánh sáng chan hòa, từ khung cửa sổ có thể nhìn thấy con đường rợp bóng cây. Đó là căn phòng Vy dành trọn tuổi thơ tươi đẹp và mộng mơ ở đó. Giờ đây ngồi ngay tại căn phòng của chính mình, Vy phóng tầm mắt ra ngoài cửa sổ, suy nghĩ miên man, nhớ lại ngày trước, khi cô còn ở cái tuổi cập kê, vẫn hay ngồi bên khung cửa này, lắng nghe những bản ballad nhẹ nhàng du dương và mộng mơ về một chàng hoàng tử sẽ đến rước mình đi.
Và rồi Vy giật mình trở về thực tại của một người phụ nữ ngoài ba mươi, với vết thương bầm tím trên trán. Giờ thì cô đã có cuộc hôn nhân với một chàng hoàng tử, xong là một chàng hoàng tử có đôi bàn tay vũ phu. Hài hước thật.
Tạm gác lại những ưu tư khổ não, Vy với lấy cái điện thoại, mở facebook, lang thang trên news feed cho đỡ buồn, ngón tay lướt qua những bài đăng hàng ngày, rồi đột nhiên dừng lại ở một bức ảnh của Đức Phật. Trong lòng Vy dấy lên niềm tôn kính với Ngài.
Vy đọc kỹ hơn, tò mò ấn vào nút “read more”, à thì hóa ra đây là một câu chuyện thật kể về cặp vợ chồng nọ với những mâu thuẫn trong hôn nhân được đăng trên trang facebook “Quang Tử”. Ồ, mà sao càng đọc Vy càng thấy hoàn cảnh xảy ra trong câu chuyện lại giống nhà mình quá. Vy bắt đầu chăm chú đọc, ngấu nghiến đọc, trông ngóng kết cục của họ rồi sẽ ra sao, như thể đang trông ngóng cái kết của chính mình.
Vi diệu thật. Người vợ trong câu chuyện ấy, cũng bị chồng đánh, sau nhờ đã tụng kinh Phật hồi hướng công đức cho chồng, mà nay hai vợ chồng đã quay về với nhau êm đẹp. Ở phần cuối tác giả còn hướng dẫn chi tiết cách tạo công đức như thế nào, hồi hướng ra sao cho hiệu quả để hóa giải những mối duyên nợ chẳng lành.
Vốn lớn lên trong gia đình có tín tâm với Phật Pháp, từ nhỏ, Vy hay được mẹ cho đi chùa, ăn chay, niệm Phật. Vì theo mẹ, nên Vy cũng làm những việc đó mà chẳng hiểu chi hết, cũng chưa từng nghiên cứu hay học hỏi giáo lý Phật dạy. Nhưng nhờ duyên lành mà mẹ đã gieo cho Vy, nên đọc được bài viết này, Vy liền tin nghe và quyết tâm thực hành ngay. Một tia hy vọng nhỏ nhoi trong Vy đang sáng dần lên.
Cô gái nhận ra rằng tất cả mọi sự việc xảy ra đều có nguyên nhân của nó, không có gì là vô cớ, mà cũng chẳng có gì là bất công ở đây. Sự vũ phu của chồng Vy cũng vậy, cũng đều có nguyên do, là do cô đã mang nợ anh từ kiếp xưa, cụ thể như thế nào cô không biết. Cô chỉ cần biết rằng, giờ cô phải trả hết món nơ ấy thì tình hình mới khác đi được, xong không phải trả nợ bằng cách chịu đựng hành hạ, như thế thì lâu lắm. Mà cần tạo nhiều công đức hồi hướng cho chủ nợ, thì nợ mới tiêu trừ.
Kể từ hôm ấy, Vy bắt đầu nghiên cứu Phật Pháp, bắt đầu làm rất nhiều công đức như Đức Phật đã chỉ dạy để hồi hướng cho chồng và gia đình nhà chồng.
Dần dần, Vy có cái nhìn tích cực hơn nhiều, bởi vì cô không còn đổ lỗi cho người khác, không còn than trời trách đất, cô đã biết nhận trách nhiệm về mình và nghiêm túc muốn thay đổi, sửa chữa bản thân. Cuộc đời Vy từ đó như được lật sang trang mới.
Ngày ngày cô đều tụng bộ Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, từng lời kinh cứ thế thấm nhuần trong tâm thức của cô từng chút từng chút một. Vy thực hành phóng sinh, thả những chú cá, cua, ốc, dế, chim muông, … được trở về tự do. Mỗi lần nhìn từng đàn cá ào ra khỏi chậu trở về với dòng nước dịu êm hiền hòa, trong lòng cô lại dấy lên một niềm vui lạ kỳ, cô cảm nhận được sự vỡ òa sung sướng của những con vật vừa mới đây thôi tưởng sắp tan xương nát thịt, nay hạnh phúc biết bao khi được thoát chết trở về với thiên nhiên.
Rồi Vy tận lực ấn tống kinh sách, và cúng dường lên Tam Bảo với hết lòng thành kính. Tất cả những phước lành đó, công đức đó, Vy đều hồi hướng cho chồng và gia đình chồng.
Chồng Vy từ ngày đó vẫn cứ lặng lẽ sống một mình trong căn phòng trọ. Căn phòng nho nhỏ vậy thôi mà sao giờ thấy cũng trống trải, thiêu thiếu điều gì đó. Phải chăng là thiếu tiếng cằn nhằn của vợ, hay tiếng khóc oe oe của con trai. Bình thường đau đầu là thế, mà sao giờ đây lại mong được nghe mỗi ngày. Anh biết sau trận đánh nảy lửa đó, có nằm mơ cũng chẳng bao giờ vợ anh quay trở lại căn phòng trọ này nữa. Gần đây anh đã suy nghĩ rất nhiều. Bình thường thì chẳng mấy khi anh chịu nhận mình sai, nhưng lần này thì khác, suy nghĩ suốt mấy đêm, anh đã chịu thừa nhận rằng thực sự mình đã sai. Anh hối hận, nhưng lại không có được dũng khí mà đi xin lỗi vợ. Anh cứ như vậy, vật vờ, bơ vơ một mình.
Chiều hôm đó, anh đang ngồi ăn bữa cơm tẻ nhạt do tự anh nấu, thì cánh cửa tự nhiên hé mở, làn gió bất chợt lùa vào mát rượi cả mặt. “Chắc cái then cài cửa lại bị lỏng nên tự bung ra đây mà.” – anh tự lẩm bẩm một mình. Anh quay đầu lại, bất chợt nhìn thấy Vy bế con đi vào nhà. Anh có nhìn nhầm không nhỉ? Ngẩn ra mấy giây, đúng vợ anh rồi. Mừng quá, nhưng anh thì lại cứ ngây ra đó, chẳng biết mở lời như thế nào, anh vốn chẳng phải kiểu người biết ăn nói. Thế nên, cứ lúng túng mãi, Vy thấy anh vậy nên cô lên tiếng trước:

– Anh à, em về rồi đây- Vy đưa mắt nhìn anh, rồi lại nhìn sang mâm cơm – Sao cơm canh đạm bạc thế này, sao đủ chất được chứ ?
Tuy chẳng có xuất hiện từ ” tha thứ” nào, nhưng chồng Vy cũng ngầm hiểu mình đã được vợ tha thứ. Anh lập cập đứng dậy, loay hoay sắp lại đồ đạc cho hai mẹ con. Mừng lắm, nhưng ngoài mặt thì lại cứ cố chưng ra cái vẻ lạnh lùng, không cảm xúc.
Ổn định được vài hôm, Vy xin chồng lập bàn thờ Phật trong nhà để cô có thể lễ bái Tam Bảo mỗi ngày. Anh đồng ý luôn, lại còn giúp Vy khoan tường đóng ban, đóng kệ khá hăng hái. Thật lạ, Vy thấy dạo gần đây mọi chuyện có vẻ dễ dàng, thuận lợi hơn rất nhiều.
Cô thỉnh tượng Phật về an trí lên ban, rồi ngày ngày cô vẫn tụng kinh Địa Tạng, chú Đại Bi và Bạch Y Thần Chú tiếp tục hồi hướng cho chồng và nhà chồng. Và cũng từ đó, cô thấy chồng mình thay đổi từng ngày. Trước cộc cằn, thô lỗ là vậy, mà sau chỉ vài tuần, thái độ đối xử của anh với cô khác hẳn, nhẹ nhàng và biết quan tâm hơn rất nhiều. Vậy nên không khí gia đình đã vui vẻ, thoải mái và ấm cúng hẳn lên.
Mỗi tội là căn phòng trọ nhà Vy đang ở chật hẹp quá, nên cuộc sống có phần bất tiện, nếu không muốn nói là rất khổ sở. Ba người ăn ngủ, sinh hoạt, nấu nướng, làm việc … tất tần tật chỉ quanh quẩn trong một căn phòng hơn hai mươi mét vuông. Để lập ban thờ Phật, Vy cũng phải thiết kế ban thờ có một mảnh vải rèm che, tránh bất kính khi gia đình sinh hoạt hàng ngày. Thế nên, Vy chuyển sang đem công đức tụng kinh, hồi hướng cầu có một căn nhà của riêng mình để có thể bài trí một gian thờ Phật trang nghiêm hơn. Mơ ước vậy thôi chứ thực tế hai vợ chồng chỉ dành dụm được có mười mấy triệu, nhà cửa là một cái gì đó rất xa vời.
Không ngờ. chỉ trong vài tháng Vy đã được toại nguyện. Vy được bố mẹ cho một khoản tiền để mua đất, cộng với vay mượn thêm bên ngoài để đủ chi phí xây nhà. Ban đầu tìm đất cũng khó, toàn những chỗ đắt đỏ, không kham nổi. Nhưng sau đó, run rủi thế nào, lại có một mảnh đất ngay gần công ty của chồng, ở đường Lê Văn Hưu – ven thành phố Pleiku được bán với giá khá mềm. Khấp khởi mừng thầm, Vy tiến hành thủ tục mua bán một cách nhanh chóng.
Điều gì đang xảy ra thế không biết, mọi việc cứ như là trong một giấc mơ. Chỉ sau có bốn tháng Vy tu tập tinh tấn bằng tấm lòng thành kính hết mực, những điều tưởng chừng như không thể có, nay Vy lại có hết, có chồng hiền hòa, yêu thương vợ con, có một nơi của riêng mình để chui ra chui vào đúng nghĩa, lại có một không gian riêng trên tầng cao nhất để làm gian thờ trang nghiêm thanh tịnh.
Đó, mới ngày nào còn ưu sầu khổ não, mà nương nhờ Phật Pháp nay mọi thứ đã được toại nguyện. Nhưng điều đó không tự nhiên mà đến, cũng không phải đơn giản cầu xin Phật ban cho mà được, mà là nhờ sự chuyên cần tinh tấn, bỏ thời gian, sức lực, tài vật … để tu tập, sửa đổi, làm phước. Ấy là nhân, có gieo nhân rồi thì mới có quả để hái. Còn nếu lười biếng giãi đãi, cho rằng chỉ cần xin Phật là Phật ban cho hết, hay bỏ tiền ra nhờ thầy cúng kiếng cho là muốn gì được đó, đơn giản thế chắc ai cũng đã thành tỉ phú hết cả rồi.
Thực tế đâu có vậy, thế giới này vận hành theo cơ chế quy luật của Nhân Quả, làm rồi hưởng kết quả của những việc mình đã làm, chứ thế giới này không vận hành theo cơ chế xin – cho. Hiểu cho đúng thì phải nghĩ rằng: bản thân mình cần nỗ lực là chính, là chủ đạo, rồi từ đó chư Phật – Bồ Tát mới gia hộ thêm vào cho mau toại nguyện.
Vy giờ đây tuy bận rộn việc xây cất căn nhà và trông con trai nhỏ, nhưng trong lòng thì luôn phơi phới và thầm cảm ân Phật Pháp đã thay đổi cuộc đời cô. Trong quá trình xây nhà, Vy phát tâm ăn chay trong thời gian ba tháng. Mỗi bữa cơm chỉ có đồ chay lạt, nhẹ nhàng, thanh tịnh, không còn mang sự oán hờn và máu thịt tanh hôi của chúng sinh. Tưởng vài tháng rồi thôi, ai ngờ sau ba tháng đó, mỗi lần gắp miếng cá miếng thịt đưa vào miệng Vy lại thấy ghê, cảm thấy hôi tanh không thể nào nuốt được. À thì hóa ra sau ba tháng ăn chay quen miệng, vị giác của Vy cũng thay đổi. Nhờ đó mà Vy quyết định trường chay luôn, không quay lại ăn mặn nữa.
Đối với những người đang ăn mặn, việc ăn chay là điều gì đó rất khó khăn, thậm chí dường như ta sẽ cảm thấy không thể nào ăn chay được. Thực tế không phải như vậy. Chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi thói quen, bởi vì ăn được hay không chỉ do thói quen của chúng ta. Khoa học có nghiên cứu, phân tích và tìm ra rằng con người cần ba mươi ngày để thay đổi một thói quen, vậy nên chúng ta cần dùng ý chí để cố gắng trong thời gian đầu, ít nhất là ba mươi ngày. Trải qua thời gian đó rồi, việc ăn chay sẽ dễ dàng hơn, thậm chí lúc đó thói quen của chúng ta đã thay đổi, những món mặn sẽ không còn hấp dẫn nữa.
Thấm thoắt cũng đã năm năm trôi qua, nay đã là năm 2022, những hàng cây nhỏ Vy trồng từ hồi xây xong nhà nay đã cao hơn nhiều lắm, ngôi nhà tuy không quá lớn, nhưng nó ngập tràn ánh nắng chan hòa buổi sớm và những làn gió nhẹ thổi vi vu mỗi khi chiều về. Ngôi nhà nhỏ riêng của vợ chồng Vy nay đã đầy ắp tiếng cười, có cả sự ra đời của một thành viên nữa. Bé trai thứ hai của Vy nay được mười tháng và ăn chay từ trong bụng mẹ, con khỏe mạnh hoạt bát như những em bé bình thường, da trắng hồng, khuôn mặt bầu bĩnh vô cùng đáng yêu.
Sau một thời gian nghiên cứu Phật Pháp kĩ càng, Vy cũng đã chọn được cho mình một con đường để đi, đó là con đường vãng sinh Tịnh Độ. Một người khi chưa biết Phật Pháp, chưa hiểu về luân hồi sinh tử, thường sẽ mơ màng, mông lung không hiểu mình là ai, đến từ đâu và rồi sẽ đi về đâu, cuộc đời họ hoặc bị xoay vần, cắn xé trong cối xay cơm áo gạo tiền gia đình quyến thuộc, hoặc là lênh đênh vô định không biết mục đích sống của bản thân là gì.
Còn với Vy, cô gái ấy đã biết mình sống để làm gì, mình cần đi đâu và hành trang cần chuẩn bị những gì. Thế nên tâm cô không còn bị mông lung, lo sợ về một tương lai bất định. Mọi sự đến rồi đi nhẹ nhàng hơn, Vy tu tập tinh tấn, chăm làm việc phước thiện, yêu thương mọi người hơn. Phật Pháp nhiệm màu, với trí phàm phu không thể nào thấy hết được. Phật Pháp giúp chúng ta bớt đau khổ, tìm được niềm vui, rốt ráo còn đưa chúng sinh tới bến bờ giải thoát an vui tịch tịnh.


Vận bộ áo màu xanh lam bằng vải thô đơn giản mà thanh lịch, Vy chắp hai tay trước ngực, mắt nhìn lên tượng Đức Phật, lòng dâng trào một niềm cảm ân sâu sắc không thể diễn tả bằng lời. Vy lặng lẽ cung kính lạy một lạy, năm vóc sát đất, nguyện đời đời được sống trong ánh sáng của Phật Pháp chiếu soi.

(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Hà Vy)

Hành trình độ cha về cửa Phật

(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Trần Thị Thanh Huyền) Ai mà ngờ được, ở cái tuổi gần sáu mươi, ông Sơn vẫn có một công việc để làm ngày tám tiếng, cũng giờ hành chính như công nhân viên chức chứ chả đùa đâu. Cái hay là công việc của ông tuy chẳng ra tiền nhưng cái ông kiếm được lại quý báu gấp trăm ngàn vạn lần giá trị của tiền, vì đó là một sứ mệnh. Ngày nào cũng như ngày nào, đều tăm tắp, khi mặt trời đã lên cao, đồng hồ điểm bảy giờ sáng, ông Sơn lại nghiêm chỉnh, tươm tất ngồi vào bàn. Rồi cũng giống như bao người, cặm cặm cụi cụi hết buổi sáng, nghỉ trưa hai tiếng, tan sở lúc sáu giờ. Gọi là tan sở cho vui chứ thực ra trụ sở của ông đặt chính tại nhà, bàn làm việc của ông thì nằm gần ô cửa sổ có những song sắt được sơn màu trắng tinh khôi. Nắng, gió, và thi thoảng là tiếng hót của những chú chim sẻ vẫn cứ thay phiên lọt qua ô cửa hỏi thăm ông. Dù chúng có thân thiện thế nào thì ông Sơn cũng chả mấy khi đoái hoài đến chúng, bởi vì ông còn bận làm công việc với một tâm thế vô cùng tập trung và đầy tâm huyết: chép kinh. Dù cô con gái tên Huyền của ông có muốn nói chuyện một chút cho vui, mà không biết lựa giờ giấc, cứ nhằm lúc ông đang tập trung mà hỏi thì chỉ có bị đuổi ra chỗ khác ngay. Nhưng không phải ai cũng biết, ông Sơn còn được khỏe mạnh ngồi đây chép kinh đã hơn hai năm có lẻ, từ 2020 đến nay là 2022, tất cả đều nhờ vào Phật Pháp nhiệm màu, nhờ sự cố gắng không mệt mỏi, và cả những giọt nước mắt những lúc vô vọng cũng như lúc đầy hy vọng của hai cha con. Trên hồ sơ bệnh án được cất giữ trong hộc tủ, những nét mực cũ kĩ còn ghi lại rất rõ thông tin về ông: Trần Văn Sơn sinh ngày mồng 3 tháng 3 năm 1965, ngụ tại căn nhà nhỏ số 459/18/2 Trương Công Định, phường 7, thành phố Vũng Tàu, đã từng mắc phải căn bệnh ung thư phổi quái ác từ năm 2008. Suốt mười bốn năm trời ròng rã, ông chỉ sống và thở nhờ một cái lá phổi duy nhất, bởi vì căn bệnh đã cướp đi lá phổi kia của ông. Giữa cái môi trường ô nhiễm như hiện nay, người bình thường thở bằng hai lá còn thấy uể oải, nữa là ông Sơn còn có một lá phổi, chả thế mà trong cơn đại dịch Covid như bây giờ, Huyền chẳng dám cho ông mở cửa ra khỏi nhà. Tưởng rằng sau lần phẫu thuật cắt lá phổi đó là xong xuôi, ai ngờ đâu mười năm sau, tức năm 2018, ông Sơn lại bị di căn thành ung thư thanh quản, xạ trị 35 tia trong 7 tuần không ăn thua, đành phẫu thuật cắt thanh quản, mất luôn cả giọng nói ấm áp quen thuộc, mỗi lần muốn nói phải dùng đến máy hỗ trợ. Đâu đã được yên, một thời gian sau tái khám ở viện, người ta phát hiện một khối u khác đã mọc lên, cần điều trị gấp, tuy nhiên, đây là một khối u rất khó xử lý. Nỗi đau về thể xác lại chất thêm nỗi đau tinh thần, khi vợ ông ra đi đột ngột đúng vào thời gian đó, ông Sơn có nhiều lúc nghĩ buông xuôi số phận, mất hết ý chí cố gắng vượt qua bệnh tật để đi luôn theo người vợ yêu dấu của mình. Chẳng cầm lòng nhìn cha mình ngày một tiều tụy, thất thần và buông xuôi như vậy, Huyền- cô con gái “rượu” xinh đẹp và rất hiếu thảo của ông, luôn đau đáu mong cứu được cha, mặc dù đi tới bệnh viện nào người ta cũng bó tay trả về không thể làm gì được nữa. Mỗi một cái lắc đầu của bác sỹ, là một lần Huyền thắt ruột thắt gan, ứa những giọt nước mắt lăn dài trên đôi gò má ngày càng nhô lên vì sụt cân. Huyền sinh năm 1993, còn trẻ nhưng đã mở được một tiệm nail nhỏ nằm trong một con hẻm cũng nhỏ không kém, hàng ngày vẫn vừa lo toan cả việc cửa hàng lẫn lo chạy chữa cho cha. Cô con gái bé nhỏ nhưng cũng là bờ vai duy nhất còn lại để ông Sơn nương nhờ vào lúc này. Thế rồi cũng có một tia hy vọng lóe lên, bác sỹ ngày trước đã xạ trị cho ông Sơn giới thiệu cho Huyền một vị bác sỹ rất giỏi tên là Lý Xuân Quang, hiện đang là trưởng khoa Tai Mũi Họng của bệnh viện Đại học Y Dược. -Nếu ông ấy nói mổ được thì sẽ được, còn không thì đành chấp nhận số phận vậy. – vị bác sỹ vừa nói vừa đặt bàn tay lên đôi vai nặng trĩu nỗi buồn của Huyền vỗ nhẹ an ủi. Huyền tức tốc tới tìm bác sỹ Quang để trình bày về tình trạng của ba mình cũng như cho ông xem hồ sơ bệnh án. Trong căn phòng khám của bác sỹ Quang lúc này, mọi thứ dường như im bặt và vô cùng căng thẳng. Bác sỹ Quang lật từng trang bệnh án, lại nhíu mày tỏ ý quan ngại hết sức. Huyền chỉ biết lặng thinh, khuôn mặt lộ rõ vẻ lo lắng. Huyền không nhìn bác sỹ mà chỉ cúi mặt xuống với ánh mắt vô định và chờ đợi một sự phản hồi. – Vẫn còn kịp, tôi mổ được, đem ổng lên bệnh viện sớm gặp tôi để hội chuẩn và tiến hành mổ gấp vì khối u mới mọc lên lại còn ít chưa ăn ra các tứ chi – Bác sỹ Quang nói và dặn dò Huyền một vài điều cần thiết. Vừa mừng vừa lo, Huyền rối rít cảm ơn rồi chào bác sỹ, sau đó lập tức về nhà làm tư tưởng cho ông Sơn. Huyền tuy đầy lo lắng, căng thẳng nhưng trong lòng vẫn ào lên một niềm hy vọng lớn lao. Có lẽ mẹ mới mất đã làm cô suy sụp nhiều rồi, giờ nếu mất cả cha nữa, cô phải làm thế nào để sống tiếp đây. Không thể để điều đó xảy ra được. Bước vào phòng ngủ của ba, cô thấy ông Sơn đang nằm dài trên chiếc giường gỗ có trải một cái chiếu cói mỏng phía trên, ông kê đầu lên gối nằm ngoặt đầu sang một bên, mắt đã nhắm tịt vì quá mệt và kiệt sức. Huyền tiến lại gần lay lay vai ông, ghé vào sát tai thì thầm gọi với cái giọng vừa nhỏ nhẹ vừa khẩn thiết: -Ba, ba, bác sỹ Quang bảo mổ được. Mai hai ba con mình tới viện luôn nhé. -Thôi! Để tao đi theo mẹ mày cho xong, tao cũng chả thiết sống nữa để làm gì. Khổ quá rồi. Đau lắm rồi. – Ông Sơn thều thào nói với giọng buông xuôi. Huyền tiếp tục kiên trì diễn giải cho ông hiểu mọi trường hợp có thể xảy ra, và không quên nhấn mạnh khả năng thành công của ca mổ tới đây. Ông Sơn biết thừa khả năng thành công chẳng có mấy, niềm hy vọng thành công mong manh đó không thể nào thắng nổi sự đau đớn khủng khiếp đang hành trên thân thể ông và nỗi đau mất vợ chưa thể nào nguôi được, đau đến nỗi ông chỉ muốn chết quách đi cho xong chứ còn sống mà làm gì. Nhưng cô con gái cứ rỉ rả thuyết phục ông cả ngày, xem chừng không mổ ông cũng không yên được, cuối cùng ông cũng đồng ý. Hai ngày sau, hai cha con có mặt tại bệnh viện chỗ bác sỹ Quang để tiến hành phẫu thuật. Thật không may, mười mấy ngày sau mổ, ông Sơn bị vỡ mạch máu – một trong những trường hợp đã được dự đoán trước có thể xảy ra, tưởng lần này là thôi xác định bỏ mạng rồi, vậy mà không hiểu làm sao ông Sơn vẫn sống, nhưng giờ chỉ ăn được bằng ống qua lỗ mũi chứ không thể ăn bằng đường miệng, vì không có đường để thức ăn xuống được dạ dày. Thời gian sau đó, người ta lại mổ tiếp cho ông Sơn thêm mấy lần nữa mà vẫn chẳng ăn thua. Về phần con gái ông, Huyền vẫn tiếp tục tìm mọi phương cách để cứu ba, y khoa không ăn thua, vậy là cô chuyển hướng sang tâm linh. Bạn bè của cô nhiều người là Phật tử tu học nhiều năm, họ tư vấn và dẫn dắt cô từng bước tìm hiểu Phật Pháp, rồi dần dần cô đọc thêm kinh sách và tham khảo nhiều vị thiện tri thức, cô nhận ra rằng căn bệnh của ba cô là do nghiệp chướng và do các oan gia trái chủ báo thù mà thành bệnh trên thân. Vậy là cô quyết định lên bảo tháp thờ xá lợi Phật tại Thích Ca Phật Đài, nơi đạo tràng Bảo Tháp mà cô mới xin tham gia, cùng mọi người tu tập để cầu siêu cho mẹ được siêu thoát và hồi hướng công đức cho oan gia trái chủ của ba, một công đôi việc luôn thể.
Huyền hồi hướng công đức cho ba
Hiểu được nguyên nhân thật sự của bệnh tật, Huyền cũng khuyên ông Sơn tin sâu nhân quả, chịu khó tu tập để có thể hóa giải được bệnh tật nhanh hơn, bởi vì trong kinh Địa Tạng có dạy rằng người thân làm công đức hồi hướng cho thì người nhận cũng chỉ nhận được một phần bẩy, còn lại sáu phần là của người tu tập chính. Vậy thì bản thân người bệnh nên tự mình tu tập mới là tốt nhất. Ông Sơn thì lại chẳng tin. Ông luôn cho rằng mình bị vậy là do cái thói quen hút thuốc khó bỏ chứ chả phải “oan gia oan nghiệt” nào ở đây cả. Một lần nữa, niềm hy vọng của Huyền cứ vừa mới kịp lóe lên thì đã lại bị vùi tắt. Cha cô thực ra vô cùng bảo thủ, đã không ít lần Huyền cố gắng lựa lời giảng giải nhưng chẳng lay động được điều gì trong cái suy nghĩ cố chấp của ba. Quan điểm của ông cũng vững vàng như cái tên của ông vậy. Nghĩ đến cảnh người ba yêu dấu của mình đang quá cận kề với cái chết, đến cảnh cô sẽ bơ vơ một mình không còn được hưởng tình yêu thương của cả cha lẫn mẹ, Huyền chỉ còn biết bất lực ngồi khóc. Mỗi lần không kìm nén được cảm xúc như vậy, Huyền thường ngồi xụp xuống, nép mình vào phía góc phòng, rồi nấc nghẹn lên từng tiếng vì nghĩ thương ba và thương cả bản thân mình. Tiếng khóc nấc dồn dập của sự bất lực và tuyệt vọng. Tìm được cách cứu ba, mà ba lại chẳng chịu làm, cô đành phải tiếp tục một mình tu tập mong vớt vát được một phần công đức hồi hướng cho ba, tuy ít nhưng còn hơn là không làm gì. Huyền cứ đều đều mỗi sáng là cô lên bàn thờ lạy Phật, thành khẩn phát mười điều nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát. Rồi tranh thủ thời gian lúc vắng khách thì Huyền tụng kinh Địa Tạng khoảng ba, bốn mươi phút. Một mực kiên trì tu tập ngày này qua tháng khác như thế, Huyền chỉ xin cầu hai điều: “Con xin hồi hướng công đức này, cầu mong các oan gia trái chủ đang hành bệnh trên thân ba con được siêu thoát an lành, và mong chư Phật Bồ Tát từ bi gia hộ cho ba sớm tin hiểu Phật Pháp mà tu tập. ” Gần nửa năm trôi qua, những nỗ lực không ngừng nghỉ của Huyền cuối cùng cũng đến ngày có kết quả, nó đến bằng một nhân duyên ít ngờ đến. Bệnh tình của ông Sơn thì cứ dây dưa, tái đi tái lại, phải đưa lên bệnh viện mổ hết lần này đến lần khác. Đến lần thứ năm, kết thúc ca mổ tưởng rằng mọi thứ đã ổn định, nhưng ai ngờ chỉ sau ba ngày, chỗ mổ vẫn bị dò không thể nào ăn được. Khi người ta lấy mũi tiêm chích vào lỗ dò, thì ôi thôi tất cả những gì ông đã ăn vào đều bị xì ra hết.
Ông Sơn trong phòng hồi sức
Lần này bác sỹ Quang nhìn ông Sơn đang nằm trên giường bệnh quằn quại đau đớn, với đủ các loại dây dợ, ống dài ngắn khác nhau chằng chịt trên thân, bác sỹ lắc đầu, chắc ông cũng đã ngao ngán lắm rồi: -Tôi đã mổ đến lần này là lần thứ năm rồi mà vẫn không giải quyết được, ông về ăn chay niệm Phật đi chứ nghiệp của ông nặng quá – bác sỹ Quang nói rồi quay sang nhìn Huyền, lại quay sang nhìn ông Sơn lần nữa – Chỉ có con gái ông đi cùng ông trên quãng đường này, chứ chẳng còn ai đi cùng ông nữa đâu. Lời nói của bác sỹ Quang làm ông Sơn không khỏi chấn động, bởi vì từ trước đến giờ, mỗi lần con gái khuyên ông nương theo Phật Pháp tu hành, ông Sơn đều gạt bỏ, cho đó là chuyện không đâu. Nhưng lần này lại do chính bác sỹ Quang nói ra – một người theo quan niệm của ông thì hết sức “khoa học và duy vật”, nên ông không khỏi bất ngờ và suy nghĩ lại. Lẽ thường hay thế, người nhà nói trăm câu không lọt tai, nhưng người ngoài nói một câu thì lại vô ngay đầu. Mà thực ra cũng chẳng phải ngẫu nhiên, trần đời này vốn dĩ chẳng có gì đến mà không có lý do, hết thảy đều do luật Nhân quả an bài theo những cách thức bí ẩn mà mắt thường không thấy được. Chính nhờ công đức của Huyền hồi hướng suốt nửa năm ròng, nên nhân quả đã sắp xếp an bài: vào giây phút ấy ông Sơn sẽ được nghe câu nói ấy từ bác sỹ. Và rồi sau đó, mọi diễn tiến tiếp theo từng bước, từng bước một, đều xảy ra theo đúng như những gì Huyền đã khấn hồi hướng hàng ngày. Đó là một quyền năng vi diệu khi con người ta hiểu và vận dụng được luật nhân quả vào cuộc sống. Từ viện trở về nhà, Huyền đỡ ông Sơn vào giường nằm nghỉ, vừa đặt lưng xuống, ông Sơn gặng hỏi: -Cuối tuần mày lên Tháp hả? -Vâng – nghĩ ngợi vài giây, Huyền nói tiếp với một tia hy vọng – Con mời mọi người về sám hối cầu siêu oan gia cho ba nhé? -Ừ! – ông Sơn đáp gọn rồi đi nghỉ luôn. Một tiếng “Ừ” đơn giản, nhưng đằng sau nó là một cuộc đấu tranh tư tưởng ghê gớm của ông, giữa một bên là quan niệm duy vật cố hữu bao năm của một người đàn ông từng trải, chẳng tin thần thánh tâm linh gì cả, với một bên là sức thuyết phục không mệt mỏi của con gái, giờ lại thêm cả ông bác sỹ nữa. Cuối cùng thì cái tính bảo thủ của ông cũng đã phải giương cờ trắng đầu hàng, dù nó không được thoải mái cho lắm. Mừng rơi nước mắt, Huyền mời đạo tràng khoảng bảy, tám người cùng tới nhà cầu siêu oan gia cho ông Sơn hai buổi, rồi ông còn được mọi người hướng dẫn trì chú Diệt Định Nghiệp Chân Ngôn- một thần chú có khả năng tiêu trừ nghiệp cực kỳ mạnh mẽ của đạo Phật. Trước cung cách bài bản và sự nhiệt tình của mọi người, ông Sơn đã chịu lắng nghe, lắng nghe một cách thành khẩn chứ không phải kiểu nghe chiếu lệ. Và nghe rồi thì ông thực hành rất nghiêm túc, ngày nào ông cũng trì chú Diệt Định Nghiệp được khoảng mười lăm phút, và hai cha con vẫn duy trì cầu siêu oan gia khoảng mười mấy lần nữa. Nhiệm màu thay, sau một tháng trì chú như vậy, cùng với kết quả của việc cầu siêu oan gia và công đức hồi hướng của Huyền cho ba gần nửa năm trời, thì bệnh tình của ông Sơn đã khỏi hẳn, giờ ông đã ăn uống được một cách bình thường. Thật không thể tưởng tượng được, trước đó, bác sỹ chuyên khoa giỏi nhất cũng đã phải bó tay trả về kia mà. Hai cha con đón nhận kết quả mà muốn vỡ òa trong hạnh phúc, chặng đường gian khổ đã qua rồi, cuối cùng thì ông Sơn đã bình phục thật rồi. Bệnh tình đã ổn định, giờ đây ông Sơn rất tinh tấn. Vì giọng nói có vấn đề nên ông không thể tụng kinh một cách thoải mái được, cảm thấy day dứt trong lòng, ông quyết định chuyển sang chép kinh. Và chẳng ai ngờ được ông Sơn lại chép kinh một cách nghiêm túc, miệt mài và tâm huyết như vậy. Ông ngồi cả ngày từ sáng tới tối, chỉ nghỉ một lúc buổi trưa để ăn cơm. Giờ đi làm của dân văn phòng thế nào, thì giờ chép kinh của ông cũng hệt như thế. À mà không, dân văn phòng thì còn được nghỉ chủ nhật, còn ông thì không có ngày nào tên là ngày nghỉ cả, thậm chí nhiều ngày cao hứng, ông chép liền tù tì một mạch đến mười mấy tiếng. Tất cả những bộ kinh đại thừa phổ biến ông đều chép hết cả, mà còn chép đi chép lại rất nhiều lần, số kinh ông đã chép chất lên chắc phải cao hơn đầu người, điểm qua có kinh Hoa Nghiêm, kinh Đại Bát Niết Bàn, kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kinh Kim Quang Minh, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Địa Tạng, Lương Hoàng Bảo Sám, Từ Bi Thủy Sám … toàn là những quyển kinh rất dày, ngay cả đọc cho hết thì cũng đã là một việc không phải Phật tử nào cũng có thể làm được. Cả ngày ông Sơn chỉ quan tâm tới việc chép kinh, ngoài ra thì tự nấu chay để ăn, cũng không nhờ người khác phải phục vụ mình. Nếu có ai tới chơi hỏi thăm, thì ông cũng chỉ tiếp đón qua loa một lúc rồi xin phép đi nghỉ, thực ra cũng là để còn tập trung chép kinh thôi. Kì lạ thay, sức khỏe ông Sơn ngày càng tiến triển một cách rõ rệt, thậm chí sắc mặt còn vô cùng hồng hào và khỏe mạnh, ông cũng đã ăn uống được bình thường, không còn phải ăn bằng đường ống từ lâu, đi tái khám thì mọi thứ đều đã hoàn toàn bình thường. Nếu như không nói, có khi chẳng ai biết ông từng bị bệnh nặng như vậy. Chẳng những sức khỏe cải thiện mà nhờ việc chép kinh nên tư tưởng ông được thấm nhuần triết lý Phật Đà, trí tuệ của ông Sơn cũng thăng tiến lên một nấc thang mới. Khi đại dịch đến, nếu người người nhà nhà đều hoang mang hoảng sợ trước tử thần, thì ông Sơn lại vô cùng điềm tĩnh. – Chết do Covid là cái chết nhẹ nhàng nhất. Thở không được cái là đi luôn, chứ đâu cần phải đau đớn vật vã ngày này qua tháng khác. Thế là nhẹ nhàng lắm rồi. Đây có thể cũng là lúc sẵn dịp để chúng ta trở về với ngôi nhà thực sự của mình.- Ông Sơn nói với ánh mắt chiêm nghiệm suy tư, làm Huyền cũng chả hiểu ông đang nói gì. Ông nhìn thấu được bí mật của kiếp nhân sinh, nó chẳng có ý nghĩa gì đáng giá ngoài việc hành hạ con người ta từ cái khổ này sang cái khổ khác mà thôi. Vậy có gì mà phải ham? Giờ thì ông chỉ muốn một lòng tu tập mong sau này được siêu thoát về cảnh giới an lành tốt đẹp. Từ một người chẳng tin tưởng Phật Pháp mà chỉ sau một thời gian ngắn như vậy, ông Sơn thay đổi tư duy và quan điểm sống một trăm tám mươi độ, làm tất cả mọi người ai nấy đều kinh ngạc. Sự siêng năng tu học của ông nay đã vượt xa nhiều người. -So với ba, giờ sự tinh tấn của con không bằng cái móng tay của ba luôn đó.- Huyền nói với ông Sơn mà vừa thấy mừng cho ba, vừa thấy xấu hổ cho bản thân. Ông Sơn không những tu tập chép kinh hồi hướng cho mình, còn hồi hướng cho cả gia đình con trai và cả vợ chồng Huyền. Nhờ công đức đó, mà con trai ông từ một người ngang bướng, tham lam, sân hận giờ bỗng trở nên hiền lành, có hiếu và biết đủ không còn tham nữa. Thậm chí anh còn mua quà tặng ba, một việc từ bé chưa bao giờ anh làm được. Công ty thưởng tết, anh cũng đem số tiền đó cho cô em gái, làm Huyền bất ngờ không thể tin nổi vào điều đang xảy ra trước mắt. Bệnh viện trả về, nhưng Phật Pháp đã cứu sống cái mạng của ông Sơn để cho ông tu tập, giữ lại cho Huyền người cha để nương tựa chở che. Ngày nào cũng vậy, nhìn thấy cha mình đang chăm chỉ chép kinh, lòng cô lại mỉm cười an nhiên hạnh phúc. Nắng, gió, và thi thoảng là tiếng hót của những chú chim sẻ vẫn cứ tiếp tục ghé vào ô cửa sổ hỏi thăm ông, nhưng ông vẫn chẳng đoái hoài đến chúng, ông còn bận với sứ mệnh thiêng liêng của ông: chép kinh Phật. (Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Trần Thị Thanh Huyền)

NHỮNG ẢO TƯỞNG THƯỜNG GẶP Ở PHẬT TỬ- BÀI 2 – “NÚT ẤN THẦN KỲ”

Có một anh chàng trong khi lướt Facebook, vô tình đọc được một vài bài viết về những câu chuyện linh ứng trong đạo Phật, và biết được rằng, có những con người đã ở vào diện bế tắc toàn tập, thập tử nhất sinh, bỗng dưng họ niệm Phật, tụng kinh trì chú, hay làm nghi thức gì gì đó không nhớ tên, nhưng mà “linh lắm”. Ấy thế là, tình hình bẻ lái quay ngoắt 180 độ, thoát nạn ngay. “Ồ, thế thì hay thật! ” – anh nghĩ. Lâu lâu, anh lại sưu tầm thêm được vài chuyện nữa, cũng thấy tương tự vậy. Người bệnh thì hết bệnh, người tai nạn cũng thoát chết trong gang tấc, người không con thì có con .v.v… Hỏi dò vài người, thấy thiên hạ cũng đồn như vậy. “Phật Pháp nhiệm màu lắm” “Kinh chú này uy lực mạnh lắm !” “Tượng Phật ở chùa ấy linh lắm” v.v… và .v.v… Và thế là anh ta hình thành một định kiến neo giữ trong đầu: “Khi nào ta gặp nạn, ta cũng sẽ làm như vậy. Đạo Phật vi diệu, như một nút ấn thần kỳ, chắc chắn lúc gặp nạn, ấn cái nút ấn ấy, ta sẽ được cứu.” Xong chỉ thế thôi. Chấm hết. Anh ta không quan tâm tìm hiểu sâu thêm, không chịu đầu tư thời gian nghiên cứu giáo lý, nghiền ngẫm kinh điển đạo Phật. “Những cái này chắc cũng tốt, nhưng đọc nhức đầu thật đấy, trong khi còn bận bao thứ khác” – anh ta nghĩ trong đầu, và ngón tay vẫn đều đều vuốt lên, vuốt lên trên chiếc điện thoại, tiếp tục lướt Facebook, Tiktok…một việc làm đã thành thông lệ của anh vào mỗi tối, cho đến tận đêm khuya. Vì không đọc, nên anh ta cũng chẳng biết rằng Phật Pháp có dạy một số điều tuyệt đối không nên làm, nếu không sẽ có hậu quả không thể cứu vãn. Thế nên anh ta đã làm ( hi vọng không biết không có tội! ). Và có những điều khác, dù khó, xong cần nỗ lực hoàn thành, lợi ích sẽ vô cùng to lớn. Xong anh ta đã không làm. “Thì cũng đâu có sao, bao nhiêu người vẫn sống vậy, mình vẫn sống vậy bao năm qua, có sao đâu?” – anh tự giải thích. Nếu như ai đó cố nói với anh ta cho anh ta biết những điều thiếu sót này. Thì anh ta sẽ trả lời rằng… anh ta bận. Mà quả thật, đúng là anh ta có bận, nào là đồng nghiệp gọi đi nhậu, nào là họp lớp, nào là có game mới phát hành… vân vân và mây mây. Đùng một phát, vào một ngày như bao ngày, tự dưng từ đâu một cái hoạn nạn đổ sầm xuống đầu anh ta. Đau khổ, cuống quýt, sợ hãi, anh ta tìm khắp nơi một cái giải pháp, mọi người đều lắc đầu bó tay. Ờ mà hình như lúc này những cái “bận” thường ngày của anh ta cũng không còn… bận nữa. Và rồi, anh ta chợt nhớ tới cái “nút ấn thần kỳ” mà anh ta đã neo trong đầu. “Phải rồi, chẳng phải người ta nói Phật Pháp nhiệm màu lắm sao. Ta được cứu rồi” – anh ta chắc mẩm, và đi tìm những người theo Phật tu học nhiều năm, hiểu rõ Phật Pháp – may quá, anh có lưu trong danh sách bạn bè Facebook một người như thế. Anh vội nhắn tin và trình bày hoàn cảnh cái hoạn nạn của anh nó thế này, thế kia, và xin một lời hướng dẫn. Người ấy đọc xong trình bày của anh, thì thở dài và hồi đáp: -Thực tình tôi cũng muốn giúp anh, nhưng trường hợp này nghiệp chướng quá nặng, thường thì chỉ những người có bề dày tu tập nhiều năm, phước duyên họ lớn họ mới vượt qua được. Còn trong trường hợp của anh, nước xa không cứu được lửa gần. Anh cần chuẩn bị tinh thần cho tình huống xấu nhất. Tôi rất tiếc. -Nhưng mà, tôi tưởng… – anh định nói rằng chẳng phải có rất nhiều người thoát nạn đó sao, nhiều người nói rằng họ được Phật cứu đó sao, thế vì sao tôi lại…?! Nhưng rồi thôi, nói gì thì bây giờ tình cảnh của anh vẫn thế. Suy sụp, anh ta gục xuống trên bàn, đủ thứ suy nghĩ, đủ thứ câu hỏi cứ quay cuồng rất lâu trong đầu. Giải pháp thì không ra, nhưng ít nhất, bây giờ anh đã hiểu đúng hơn về hai chữ “Đạo Phật”. Đạo – một chữ Hán Việt, dịch ra nghĩa là con đường, “Đạo Phật” là con đường mà Đức Phật dạy cho mọi người để đi trên đó, không hề có nghĩa nào là “cái nút ấn” cả. Trước kia, vào một lúc lơ đễnh nào đó, có lẽ anh đã dịch sai. Và đâu đó văng vẳng lên trong đầu anh ta mấy câu thơ, chẳng nhớ nổi đã đọc ở đâu nữa, chỉ biết giờ đây, nó rất “khớp”: Bình thường thì chẳng thắp hương Cùng đường mới nghĩ tìm nương Phật đài. Nhân quả nào có lệch sai Nghiệp gieo giờ chịu, bi ai cũng đành… Trách ai thủa ấy ngạnh ương Kinh hay chẳng đọc, chỉ đường chẳng theo Nghiệp quật nay lúc ngặt nghèo Thôi thì chấp nhận, đúng theo lẽ thường… (Quang Tử)

HÀNH NGHỀ “LÀM GÁI” BỊ ĐỌA ĐỊA NGỤC NHƯ THẾ NÀO ?

(Những mẩu chuyện về thiền sư An Lạc Hạnh) Như một quy luật của cuộc sống, khi kinh tế xã hội phát triển nhanh vượt bậc, thì các giá trị tâm linh lại giảm sút nghiêm trọng. Con người thời đại ngày nay càng ngày càng sa đọa, càng ngày càng tạo ác, chẳng ác nào là không dám làm. Mà theo luật nhân quả, tạo ác thì phải lãnh nghiệp ác, đó là lẽ tất nhiên. Tịnh xá Liên Hoa (Tân Uyên, Bình Dương) hôm đó lại có khách viếng thăm, đều là những người đang gặp vấn đề tâm linh tới xin thiền sư An Lạc Hạnh cứu giúp. Nhắc đến sư ông, ai ai cũng đều vô cùng kính trọng, bởi sự từ bi và đức hạnh cùng những năng lực đặc biệt, nên tiếng lành đồn xa, nhiều người lặn lội từ khắp mọi nơi đều tới tìm sư ông giải cứu. Ngồi từ trong nhà khách nhìn ra ngoài sân, cái nắng đã dịu hơn khi về chiều, có hai người phụ nữ tất tả đi vào xin được trình bày về hoàn cảnh của mình. Người phụ nữ trẻ khoác ngoài một chiếc áo chống nắng màu xanh tím than, điểm vài họa tiết màu vàng, khuôn mặt đen đúa khắc khổ có lẽ vì sương gió nhiều, tóc buộc túm đằng sau rất gọn. Cô nhẹ nhàng khúm núm chọn một chiếc ghế trong dãy ghế gỗ dài, ngay gần với sư ông để tiện bề thưa hỏi. Người phụ nữ còn lại là một ni sư, dáng vẻ nhỏ nhắn, khuôn mặt có vẻ an nhiên, điềm đạm.
Cô Thanh Bình kể lại sự việc
Sau hỏi ra mới biết, bà vốn là mẹ chồng của cô gái trẻ kia, trước gọi là bà Cóc, là Phật tử chùa Hoằng Pháp tại thành phố Hồ Chí Minh, mới xuất gia gần một năm tại thiền viện Thường Chiếu, xã Phước Thái, huyện Long Thành, Đồng Nai. Chính bà là người dẫn dắt cho người con dâu tới tìm sư ông nhờ giúp đỡ. Thường những người tới đây chẳng mấy ai tươi cười, ai ai cũng đầy vẻ u sầu, ảo não, bế tắc. Cũng đúng thôi, không thế thì thường người ta chẳng tới tìm sư ông làm gì. Chúng sinh thời nay đa số chỉ khi đau khổ quá không chịu nổi mới tìm tới cửa chùa xin giải cứu. Đúng là nước ngập chân rồi mới chịu nhảy đó mà. Thật đáng buồn thay! Nhìn dáng vẻ khúm núm, ngại ngần của hai mẹ con, sư ông cất giọng nhẹ nhàng, từ bi hỏi về hoàn cảnh cụ thể ra sao. Đã lâu sư ông không còn chữa bệnh cho người nữa, nay lại có hai vị này tới hỏi, sư ông cũng vẫn tiếp để xem có thuộc diện xem xét cứu giúp hay không. Chứ nay già yếu rồi, cỗ máy thân thể này theo quy luật vô thường cũng phải đến lúc khô dầu chẳng chạy được trơn chu nữa. Gia đình bà Cóc sinh sống tại đường Nguyễn Hữu Hào, phường 6, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh. Con dâu của bà là Nguyễn Thị Thanh Bình, cũng có chút duyên lành Phật Pháp nên đã quy y tại tịnh xá Linh Quang, đường Nguyễn Khoái, quận 4, lấy pháp danh Diệu Chung. Vốn dĩ hôm nay hai mẹ con tìm tới đây là vì cả năm trời nay cô Bình bị chứng mất ngủ, tới đêm hay ngồi nói chuyện một mình rất kỳ quái. Người nhà tưởng cô bị bệnh thần kinh hoang tưởng nên đưa tới bệnh viện Nhiệt Đới thành phố Hồ Chí Minh để thăm khám, các bác sỹ ở đây kết luận cô bị trầm cảm và điều trị kê thuốc cho cô đã được một thời gian. Tuy vẫn theo điều trị của bác sỹ, nhưng bản thân cô Bình khăng khăng cho rằng mình không bị trầm cảm, và vì cô hay có cảm giác tự nhiên rùng mình, nên ngờ ngợ đoán ra mình đã bị vong mượn xác. Chẳng thể để tình trạng này diễn ra lâu hơn, hai mẹ con ngay lập tức tất tưởi chạy xuống Bình Dương tìm đến tịnh xá Liên Hoa ngay khi vừa xuất viện trở về. Dường như hiểu ra vấn đề, để không mất nhiều thời gian, sư ông không hỏi thêm gì nữa, lập tức nói chuyện với vong với chất giọng ấm áp, từ bi quen thuộc: “Nếu vong hồn nào chết khổ muốn cứu vớt thì cứ mượn khẩu về đi, tôi cứu cho, chứ người trần xin tôi không cứu.” Khi sư ông vừa dứt lời, trong giây lát, lập tức sắc mặt cô Bình thay đổi, khuôn mặt bỗng trở nên nhăn nhó, miệng bỗng nhiên méo xệch sang một bên, ú ớ vài từ không thành tiếng. Quả nhiên có một vong linh đã gá vào xác cô Bình lên nói chuyện với sư ông. Tưởng là oan gia trái chủ nào gây khó khăn oán hận gì cô Bình, thì ra chả phải ai xa lạ, vong linh khai mình tên là Huỳnh Thị Phụng, chết ngày mùng 2 tháng 10 năm Kỷ Mão, chính là mẹ đẻ của cô Bình đây. Vong linh nhập vào xác cô nhiều lần suốt thời gian qua chỉ mong được cứu giúp vì quá khổ sở. Bà Phụng có nhiều con, nhưng chỉ có cô Bình là người con hiếu thảo nhất, nên bà chỉ hy vọng dựa vào cô con gái này có thể giúp mình. Sau khi nghe vong linh bà Phụng thưa bạch như vậy, sư ông đưa mắt nhìn sang bà Cóc ( tức bà thông gia của bà Phụng) để chứng thực xem mẹ đẻ của cô Bình có đúng tên như vậy hay không. Bà Cóc dạ dạ gật gật cái đầu tỏ ý đồng tình. Vong linh bà Phụng tiếp tục nói với vẻ đầy hối hận và đau đớn, hồi tưởng lại về quá khứ một thời của mình. Bà kể cách đây mấy chục năm về trước, bố mẹ chồng của bà ( tức ông bà nội của cô Bình) có xây cất một ngôi chùa tư trên phần đất đai của gia đình, lấy tên là chùa Quốc Ân Tự. Sau đó cha mẹ chồng bà lần lượt qua đời, cả người chồng cũng ra đi, để lại ngôi chùa cho bà cùng bảy đứa con thơ dại nheo nhóc. Bầu trời như sụp đổ trước mắt người phụ nữ chân yếu tay mềm này. Cuộc sống quá đỗi khó khăn đè lên đôi vai người mẹ, nhìn những đứa con nhỏ nhắn đang chờ từng bữa cơm, bà Phụng không thể yên lòng. Không biết làm gì để sống và nuôi bảy đứa con, bỗng bà Phụng nảy ra ý tưởng đem ngôi chùa tư nhà chồng để lại này, thành chỗ cho thuê phòng để các đôi nam nữ vào làm chỗ hành nghề mại dâm. Mỗi một lần cho họ vào mướn chỗ là bà thu về 20-30 nghìn đồng, thời đó từng ấy là cũng nhiều chứ chẳng ít ỏi gì. Mỗi ngày cũng tầm 5-10 người thuê, vậy là mỗi ngày bà cũng có đồng ra đồng vào cho các con có miếng ăn ấm bụng. Ai ngờ đâu, kể từ đây, cuộc đời bà và các con của bà bắt đầu trở nên vô cùng thảm thương. Đây vốn đã không phải công việc thiện lành gì, lại được thực hiện ngay trong khuôn viên của chùa Quốc Ân Tự, một nơi thờ Phật trang nghiêm, những điều này đã làm cho bà Phụng phải gánh chịu hậu quả nặng nề khủng khiếp do chính mình tạo ra. Chùa Quốc Ân Tự do là chùa tư, không trực thuộc giáo hội Phật giáo, nên sau này đã bị giải tỏa để xây dựng các công trình khác. Nhà cũng không còn, người cũng đã rời đi, nhưng có phải như thế là chấm dứt tất cả hay không? Không! Bà Phụng rời đi chẳng mang theo được thứ gì, chỉ trừ nghiệp lực thì luôn đeo bám bà như bóng với hình không thể hô biến là biến đi được. Có lẽ bà khi xưa cũng u mê, vô minh chẳng hiểu hết được mình đang tạo ác nghiệp như thế nào, chỉ nghĩ rằng đó là việc kiếm kế sinh nhai lo cho con cái, nhưng ai ngờ đâu những việc đó lại gây ra hậu quả nặng nề tai hại. Đôi mắt đầy sợ hãi, vong linh bà Phụng tiếp tục kể. Đúng là nhân quả nhãn tiền, vì đã tiếp tay cho trai gái hành nghề mại dâm, nên về sau, bà Phụng mắc bệnh ung thư tử cung phải tiến hành xạ trị nhiều lần, chịu những cơn đau quằn quại hành hạ ngày đêm không dứt. Đã khó khăn, giờ lại thêm bệnh tật, thật là nhà đã nghèo nay còn mắc cái eo, khổ hết chỗ nói. Tưởng rằng chỉ có thế? Nhưng thật không đơn giản, vì tội của bà không hề nhẹ, để cho người ta làm chuyện bậy bạ ngay trong khuôn viên nhà chùa là tội tày đình, tội này nặng vô cùng, làm ô uế cửa chùa, nơi đáng nhẽ cần sự thanh tịnh, tôn nghiêm. Cứ định kì bà Phụng lại lên bệnh viện Ung Bướu, hôm đó cũng tới ngày xạ trị tiếp theo, và cũng chính hôm đó, bà đột ngột bị tai biến đứt mạch máu não, miệng thì méo xệch sang một bên, mắt vẫn còn mở trừng trừng, bà ra đi ngay lúc đó, hưởng thọ 55 tuổi, chẳng kịp trăn trối điều gì. Mọi chuyện tưởng chừng chấm dứt khi một con người đã ra đi khỏi cõi trần thế này, nhưng không, bà xuống âm phủ còn phải gánh tiếp quả báo của mình. Bà kể, khi bà mới xuống đó, thấy bao trùm không gian là một màu đen kịt, thấp thoáng phập phùng những ánh sáng đỏ đỏ lập lòe lúc ẩn lúc hiện, làm cho bất kì ai cũng phải rùng mình khiếp sợ dựng tóc gáy. Rồi bà được dẫn ra trước điện, Diêm Vương vạch rõ tội trạng của bà không mảy may sai lệch, thiếu sót, để cho bà Phụng biết rõ những tội lỗi của mình, rồi phán đem bà vào địa ngục, chịu hình phạt bị giam nhốt đánh đập, không được ăn uống. Khổ sở vô cùng, bà Phụng rên xiết nấc lên từng tiếng xin sư ông cứu giúp cho, bà hối hận lắm rồi. Khi bà Phụng chết, tuy người nhà có thỉnh thầy về tụng kinh, cúng trai tăng, đầy đủ hết cả, nhưng từng ấy cũng chưa đủ để bù đắp cho những ác nghiệp của bà. Những việc đó đúng là việc rất tốt mà con cháu có thể làm để giúp vong hồn được bồi đắp thêm phước báo, sớm siêu thoát, nhưng cái chính vẫn ở tội phước của người mất. Chứ nếu đơn giản thì đã chẳng ai phải xuống địa ngục mà lên trời hết cả. Thương tình vong linh bà Phụng thành khẩn nhận lỗi, lại biết sám hối ăn năn, nên sư ông khuyên bà Phụng trước hết lạy 108 lạy sám hối ngay lập tức,  nhưng sau đó mỗi ngày bà phải lạy 1000 lạy nữa để sám hối tội lỗi của mình. Vong linh bà Phụng không mảy may đắn đo, liền thực hiện ngay, bởi đó là chiếc phao cứu sinh duy nhất bà có thể nắm lấy lúc này, không thì chỉ có xuống địa ngục tiếp tục bị tra tấn cho tan xương nát thịt chưa biết bao giờ mới có ngày ra. Sư ông nhấn mạnh rằng chỉ những vong linh thực sự biết sám hối ăn năn thì sư mới dùng phước đức tu hành của mình chú nguyện cho thoát khổ được, để cho họ có cơ hội quay đầu tu thiện, nương nơi Tam Bảo quyết chí tu hành. Ngay cả với người trần gian cũng vậy, hãy thường xuyên sám hối những tội lỗi của mình, sám hối với các oan gia trái chủ của mình, bởi vì chúng sinh trôi lăn trong luân hồi sinh tử từ vô thủy kiếp đến nay, tội gì mà đã chả từng tạo, oan gia trái chủ nhiều không đếm hết, vì vậy việc sám hối là rất cần thiết phải làm. Vong linh bà Phụng lúc này hướng lên Tam Bảo, chắp tay thành khẩn, nguyện theo sư ông hướng dẫn: “Con có tội lỗi, giờ con xin hứa từ nay về sau phát tâm tu hành theo Phật, không dám làm quấy nữa, xin cầu ơn trên chứng minh, con tu hành được bao nhiêu cũng sẽ hồi hướng cho các chúng sinh đều được giác ngộ theo Phật tu hành được siêu thoát. Nam Mô Năng Cứu Thoát Bồ Tát Ma Ha Tát.” Sư ông sau đó cũng dốc sức chú nguyện thêm cho các vong linh mau được thoát khổ địa ngục. Tất nhiên chẳng phải ai cũng có năng lực để giúp bà Phụng được hiệu quả nhanh như vậy, đó là nhờ vào công đức tu hành cao thâm từ nhiều kiếp trước tới nay của sư ông. Còn với người  thường, muốn cứu thân nhân thoát khỏi địa ngục, thì cần kiên trì tụng kinh trì chú, làm nhiều việc phước thiện lớn lao hồi hướng cho thân nhân mới thoát được. Hơn nữa tuy bà Phụng làm việc sai quấy, nhưng cũng do phúc phần nào đó bà đã từng tạo trong các kiếp sống trước, mà nay mới có được nhân duyên tốt lành với thiền sư An Lạc Hạnh. Bà Phụng khi còn sống làm việc thất đức, chắc cũng chẳng ngờ rằng vì mình mà cuộc đời ba cô con gái cũng trở nên tan nát và chua chát. Vì từ nhỏ đã sống trong hoàn cảnh gia đình như vậy, nên cả ba cô con gái đều học làm gái mại dâm để kiếm tiền. Sau còn hút chích xì ke, ma túy nhiễm HIV mà chết thảm hại. Nhà chỉ có cô Bình là vượt được hoàn cảnh, không dính vào con đường tội lỗi, thì giờ đang ngồi đây để giúp mẹ và các chị em thoát khổ. Cứu thoát được cho mẹ đẻ khỏi cảnh khổ nơi âm ty, cô Bình không kìm được lòng, van xin sư ông rủ lòng thương xót cứu cho ba chị em gái của mình cũng đang khổ lắm. Sở dĩ cô Bình biết điều này vì trong đám giỗ của chị gái mình tên Nguyễn Ngọc Minh, gia đình có cúng trai tăng cho chị, thì vong hồn cô Minh nhập lên xin được cứu giúp cho bản thân và cả hai cô em gái là Hồng và Loan. Một lần nữa, cô Bình lại chắp tay chờ vong linh chị gái mình lên nương gá mượn xác. Một lát sau, cô Bình lại rùng mình, bất thình lình cười cười như ngây như dại, rồi lại chợt bật khóc, khuôn mặt nhăn nhó. Ai cũng biết cô Minh đã lên rồi, mượn khẩu em gái, cô Minh bộc bạch về cuộc đời của mình. Bố mất để lại bảy anh chị em nheo nhóc, chẳng biết bám víu vào đâu, thương các em khó khăn, khổ sở quá, lại thấy ngày ngày người ta làm gái cũng có đồng ra đồng vào. Vậy là đến năm 16 tuổi, Minh theo người ta hành nghề mại dâm lấy tiền phụ giúp gia đình. Chẳng những thế, Minh còn làm người thứ ba, cướp chồng, phá hoại hạnh phúc của người ta, khiến cho gia đình họ nhà tan cửa nát. Chính vì tội này mà nay vong hồn của Minh phải đọa địa ngục chịu cực hình ôm cột đồng nóng chảy. Cột đồng lớn tới mức cô chẳng thể ôm hết nổi, sức nóng đau rát đến kinh hồn khiếp đảm, vừa ôm còn vừa bị quất từ đằng sau tới tấp vô cùng đau đớn, chẳng thể dùng ngôn từ mà tả cho hết được. Tất cả mọi phước nghiệp của chúng sinh đều được ghi lại và được luật nhân quả căn ke từng ly từng tí, chẳng mảy may sai sót dù chỉ bẳng sợi lông. Cô Minh vì muốn giúp đỡ gia đình đang hoàn cảnh khó khăn mà hy sinh chấp nhận để cho thân thể của mình trở nên ô uế. Xuất phát từ tấm lòng đó nên tội cũng đã được giảm nhẹ hơn, nếu không thì sau khi hết hình phạt ôm cột đồng nóng đỏ, còn phải đến các địa ngục khác chịu những hình phạt tra tấn khủng khiếp khác. Luật nhân quả rất linh hoạt, tạo nghiệp thì phải chịu quả báo, nhưng vì mục đích làm để giúp gia đình người thân, nên nghiệp giảm nhẹ, được thỉnh thoảng cho lên dương gian báo người thân tìm cách cứu, và đến hôm nay, lại được người thân tìm cách cứu thoát cho, chứ không phải ai cũng được cứu. Tiếp đến, vong hồn hai cô con gái khác của bà Phụng là Hồng và Loan cũng được cứu thoát tương tự. Quá nhiều hậu quả, và cái nào cũng hết sức bi thảm. Nếu như bà Phụng biết được cái kết cục như thế này, có lẽ cách đây 20 năm về trước, bà sẽ chẳng dám cho người ta mướn phòng như thế. Thật xót xa biết mấy cho gia đình bà và những đứa con. Sư ông thở dài, cất lên những lời thấm thía răn dạy người đời: “Bà con thấy chưa, cuộc sống dù có khó khăn vất vả mấy thì cũng chịu khó cố gắng chọn cái nghề lương thiện, đừng vì khổ quá mà chọn lấy cái nghề bất thiện này, rồi cuối cùng có khổ không cơ chứ”. Sau khi được sư ông chỉ hướng dẫn cho sám hối, phát nguyện chừa bỏ không dám phạm những tội lỗi, và dốc sức chú nguyện cứu giúp, cả vong hồn bà Phụng và ba người con gái đều được thoát địa ngục, lên trần gian ngụ tại tịnh xá Liên Hoa, nguyện từ nay tu thiện, nương tựa Tam Bảo tu hành. Sư ông cũng không quên dặn họ từ nay không theo cô Bình nữa, để cô còn khỏe mạnh mà lo làm ăn. Thiền sư An Lạc Hạnh như người cha già nhắn nhủ những đứa con ngu si, ngây dại của mình, sự từ bi của ông làm ai nấy đều cảm động. Cô Bình tỉnh lại, lúc này bỗng nhiên thấy lòng khoan khoái, thanh thản, nhẹ nhàng, như vừa làm tròn được bổn phận của đứa con báo hiếu cho mẹ và giúp các chị em của mình thoát ra khỏi màn đêm tăm tối. Báo hiếu đâu phải chỉ là lo cho cha mẹ chốn ở, cơm ăn, áo mặc, là hàng ngày đem đến cho cha mẹ những niềm vui thế gian thường tình. Đó chỉ là những thứ vô thường, không bền chắc. Người con có hiếu nhất chính là có thể giúp cha mẹ mình kết duyên lành với Phật Pháp, giúp cha mẹ tìm thấy con đường ánh sáng dẫn lối thoát ra khỏi màn vô minh tăm tối của luân hồi sinh tử, đó mới là chân thật báo hiếu. *Hiện nay thiền sư An Lạc Hạnh không còn nhận chữa những bệnh tâm linh, bởi thiền sư tuổi đã cao, sức đã yếu một phần, phần nhiều còn vì sư ông không muốn can thiệp vào nghiệp quả của con người thời kì này nữa. (Tĩnh Như – thuật lại từ sự việc có thật tại tịnh xá Liên Hoa, Bình Dương)

NƠI ẤY, TÔI TÌM THẤY ÁNH SÁNG CỦA CUỘC ĐỜI.

_Tĩnh Như_ NƠI ẤY, TÔI TÌM THẤY ÁNH SÁNG CỦA CUỘC ĐỜI. KHỦNG HOẢNG TRONG ĐỜI Cuộc sống cứ thế chảy trôi êm đềm, cho đến một ngày mưa phùn gió bấc, bầu trời không còn trong xanh mà tối tăm mịt mờ, cũng chẳng có  tia nắng nào xuyên qua nổi những đám mây đang cuồn cuộn ngoài kia, không hiểu do nhân duyên gì, như một định mệnh đã được sắp đặt từ trước, tôi va phải người đàn ông của đời mình, người là cầu nối đem đến cho tôi một trải nghiệm hoàn toàn khác về cuộc sống, khác đúng như cái cách mà thời tiết đã dự báo vậy. Tôi và anh là đồng nghiệp trong một công ty. Làm chung một thời gian, tình yêu nảy nở đầy lãng mạn. Không lâu sau, chúng tôi nắm tay nhau tiến lên lễ đài hôn nhân, với đầy những tia hi vọng lấp lánh trong mắt nhau về một tương lai ngập tràn hạnh phúc. Ấy nhưng mà, cuộc sống mới mở ra lại không còn màu hồng tươi sáng như trước nữa, cuộc đời tôi chuyển sang một trang mới tối tăm mù mịt. Người ta thì lên xe hoa, nhưng tôi lên xe hoa mà cứ ngỡ như lên xe tăng vậy. Những mộng mơ, ngây thơ không còn nữa, thay vào đó là những tháng ngày căng não, chiến đấu không mệt mỏi, chẳng khác nào một chiến sĩ thực thụ trên mặt trận giữ vững hòa bình cho cái tổ không được ấm lắm của mình. Tôi chẳng kể sâu hơn về những khúc mắc trong đời sống hôn nhân, bởi có lẽ những ai đã lập gia đình đều phần nào thấu hiểu. Những khó khăn chất chồng của những tháng ngày bất tận lo lắng cơm áo gạo tiền, kèm theo đủ thứ xung đột, mâu thuẫn không ngừng gia tăng trong gia đình, chúng đã đè nén tâm hồn non nớt của tôi từ năm này sang tháng khác. Tích lại mãi mà không giải tỏa được, cuối cùng tôi bị tổn thương tâm lý nghiêm trọng, tôi cảm thấy mình thực sự bất lực trước cuộc đời đen tối này. Tôi hoang mang, đau khổ, muốn cười không cười nổi, muốn khóc cũng chẳng xong, thân tôi tự do, mà tâm thì như đang bị giam cầm trong ngục tù. Tôi đã có lúc muốn phát điên vì bị bế tắc. Vẫn nhớ cảm giác lúc đó, khi đưa con dao mới mua sắc lẹm với từng nhát cắt, vô tình tôi bị dao cứa vào đứt tay, máu chảy thành dòng đỏ chót. Kì lạ chưa, một cảm giác rất đã và thoải mái xâm chiếm hết sự suy sụp tinh thần hiện tại, đến nỗi làm tôi khởi lên tâm ý muốn lấy dao cứa thêm chút nữa. Tôi đã tạm thời tập trung vào vết thương mà quên đi sự chán chường, bế tắc của mình, nên thành ra lại thấy thoải mái hơn. Lúc này, tôi mới hiểu tâm trạng của những người mắc bệnh trầm cảm đến mức tự hủy hoại thân thể bằng cách lấy dao cứa tay cứa chân. Họ tự hành hạ thể xác để làm vơi đi nỗi đau tinh thần. Chính thức khi đó tôi mới hiểu tại sao những người trầm cảm lại làm như vậy. Nhưng nếu bạn đang trong tình cảnh như tôi lúc đó, cũng đừng thấy vậy mà dại dột làm thử, vì nó không phải là giải pháp, mà chỉ là một sự lấn át, lấy nỗi đau này để lấn át đi một nỗi đau khác. Làm như vậy cuối cùng cũng chỉ khiến cả thân và tâm bạn trở nên tan nát hơn thôi. May mắn thay, tôi nhận ra bản thân đang có những biểu hiện không ổn. Tôi biết mình cần tìm cách thoát ra khỏi tình trạng này. Tuy rằng lúc đó chẳng biết bằng cách nào, chỉ biết mình cần phải thoát ra mà thôi. TÌM LỐI THOÁT Tôi có một thói quen, thường hay tự thắc mắc và tự đặt câu hỏi cho những gì xảy ra trong cuộc sống. Tôi thường chẳng tin theo số đông, mà cũng chẳng nghe theo số ít, tôi chỉ nghe theo những gì tự mình chiêm nghiệm được. Và chính những sự thắc mắc luôn đau đáu trong tâm đến nỗi quên ăn quên ngủ đã đưa đẩy tôi tìm thấy được những câu trả lời xác đáng. Sự thật là thế, nếu bạn nghe theo người khác một cách vô thức, thì cuộc đời bạn thật hên xui, chả khác nào bạn đã phó mặc cuộc đời vào tay kẻ khác. Hên thì tốt, mà xui thì thôi xong. Nếu bạn không hỏi, bạn sẽ không có câu trả lời. Vì vậy, biết thắc mắc, biết luôn đặt câu hỏi cũng chính là con đường dẫn lối đưa ta tới bến bờ của trí tuệ. Bạn biết đấy, chúng ta đã lăn lộn với bao thăng trầm, bao hỷ nộ ái ố của cuộc đời, có lẽ đều đã từng tự hỏi: Cuộc sống này là gì? Vì sao chúng ta có mặt ở đây? Tại sao người hiền lành, tử tế mà vẫn phải chịu nhiều thống khổ? Cớ gì mà người xấu xa, ác độc lại cứ nhơn nhởn sống vui vẻ ngoài kia? Vậy thì câu “ở hiền gặp lành” người đời vẫn nói có đúng hay chăng? Nếu đúng, nhưng tới già rồi mới gặp lành thì cũng đến lúc sắp lìa đời, vậy thì “gặp lành” cũng còn có ý nghĩa gì nữa đâu? Nếu ở hiền không hẳn gặp lành, vậy chẳng nhẽ ác sẽ gặp lành hay sao? Nếu chết là hết, nếu như ta chỉ sống có một lần, thì tại sao lại phải sống một cách vất vả như thế này để làm gì, cố gắng nhiều như thế này để làm gì? Khi mà chỉ chết là mọi thứ sẽ chấm dứt tất cả? Nếu đúng vậy thì cuộc sống này có ý nghĩa gì nữa đâu? Vậy phải chăng còn có sự sống tồn tại sau cái chết? … Vô vàn biết bao nhiêu sự hoài nghi, thắc mắc. Những câu hỏi đó cứ quanh quẩn, quẩn quanh trong tâm trí đang hỗn loạn của tôi. Tôi hoang mang chẳng biết mình nên sống như thế nào cho phải. Đã có nhiều người khuyên rằng “sống tử tế quá, nghĩ cho người khác quá, thì chỉ có thiệt thân, mình không thương mình, trời tru đất diệt”. Có lúc tôi đã thử sống theo như mọi người khuyên bảo xem sao, nhưng vẫn cảm thấy có gì đó không ổn, lương tâm tôi vẫn cứ day dứt. Tôi tự cho rằng chắc hẳn phải có một chân lý nào đó trong cái vũ trụ bao la vô tận này mà tôi chưa biết. Từ trong tiềm thức, tôi vẫn có niềm tin “ở hiền sẽ gặp lành”. Có thể chỉ là nó không đơn giản như câu nói kia mà thôi. ĐI TÌM CHÂN LÝ SỐNG. Có lẽ vì đang cảm thấy thống khổ trong sự bế tắc cùng cực của chính mình, nên ngọn lửa khao khát tìm được chân lý sống của tôi bùng cháy mãnh liệt hơn bao giờ hết. Lúc này, tôi cho rằng chỉ cần tôi tìm thấy nó, tôi sẽ không còn phải suy nghĩ đắn đo gì nữa, tôi cứ theo chân lý mà sống thôi. Thực tình, tôi chả biết phải bước đi từ đâu, vì chẳng có manh mối nào chỉ cho tôi biết chân lý nằm ở đâu để mà đến. Tôi chỉ có thể cứ lần mò, lần mò, từng chút, từng chút một, mong tìm ra chút manh mối nào đó. Bắt đầu vắt óc lên suy nghĩ, tôi thấy mình kiến thức còn non kém, cái gì cũng mơ hồ. Và thế là tôi chọn đọc sách, tôi cho rằng chỉ có đọc sách mới tiếp cận được kiến thức một cách chắt lọc và nhanh nhất. Tôi từ nhỏ đã có một sở thích rất kì:  thích đi mua sách nhưng không thích đọc. Tôi thường hào hứng vào các nhà sách để ngắm nghía, ngó nghiêng, chọn quyển này, lựa quyển kia, tôi lại hào hứng mang chúng về, hào hứng mở ra. Rồi sự hào hứng ấy luôn tắt lịm khi tôi đọc được chỉ bốn, năm trang đầu. Hài thật! Nó cứ lặp đi lặp lại như vậy suốt nhiều năm. Tôi biết mình chẳng phải người thích đọc sách, ấy thế mà giờ đây, khát khao có được chân lý quá lớn, nó dập tắt sự lười đọc, ngại đọc của tôi. Cuộc hành trình đi mua sách lại tiếp tục, nhưng lần này tôi lựa chọn kĩ càng hơn. Tôi bắt đầu lang thang trên trang thương mại điện tử chuyên bán sách, trên đây thường cho phép người mua được đọc thử vài trang đầu. Tôi cũng có xem qua phần nhận xét của những người đã mua trước đó, cảm thấy ưng ý, tôi mua liền. Đọc hết một quyển, lại lựa quyển tiếp theo. Tôi kinh qua hầu hết các lĩnh vực: sức khỏe, tài chính, tâm lý, phát triển bản thân, hôn nhân gia đình vân vân và mây mây chẳng thiếu thứ gì. Khác với ngày trước, chỉ đọc vài trang đầu rồi để chúng mốc meo hết cả, nay tôi đã đọc quyển nào thì sẽ không bỏ sót một từ, kể cả chữ trên trang bìa, hay lời dẫn. Đúng là trong đau khổ, con người ta lại hay có động lực để vươn lên một cách mạnh mẽ hơn bao giờ hết. May sao, công việc khi đó lại khá rảnh, trong giờ làm ở công ty, cứ tranh thủ lúc rảnh là tôi đọc, trong túi lúc nào cũng có quyển sách mang theo người, hở ra là đọc. Cả gia đình bắt đầu gọi tôi là mọt sách, một danh hiệu thật xa xỉ với tôi trước đó. Sau một thời gian lang thang trên Tiki và đọc như vậy, cũng lượm lặt được cho mình nhiều kiến thức hay ho, có thể áp dụng trong cuộc sống. Áp dụng rồi thì sao? Nó cũng giúp tâm lý của tôi khá hơn đôi chút, nhưng chỉ là tạm thời, rồi đâu lại vào đó. Nó chỉ giúp tôi giải quyết phần ngọn, còn cái gốc chân lý tôi vẫn chưa thấy đâu cả. Nó như thuốc gây tê, giúp tôi trải qua cơn đau một cách nhẹ nhàng hơn. Hết thuốc, là lại đau như thường, lại vật vã khổ sở như trước. Vừa le lói một chút, mọi thứ lại vụt tắt, tôi thất vọng, vò đầu bứt tai chẳng biết phải làm gì nữa. Tôi tiếp tục lang thang trên Tiki tìm thêm những quyển sách hay. Và rồi, có lẽ đó là nhân duyên. Mọi lần khi nhìn thấy cuốn sách “Hành Trình Về Phương Đông” do giáo sư John Vũ -bút danh Nguyên Phong- phóng tác được mọi người review rất tốt, nhưng khi đọc thử vài trang đầu không hiểu sao tôi lại không có cảm hứng. Tôi cũng không nghĩ mình hứng thú với đề tài tâm linh. Có điều đến giờ đã đọc kha khá sách rồi, chẳng biết mua quyển nào về đọc nữa, tôi chẹp miệng ừ thôi, chả còn gì để đọc, thì lựa bừa quyển này xem sao. Bừa vậy mà lại thành trúng. Hóa ra đó lại là cuốn sách hấp dẫn tôi nhất cho tới thời điểm đó. Ngấu nghiến và say mê đọc, cả một thế giới quan mới dường như hiện ra trước mắt tôi. Từ một người không có ý niệm gì về tâm linh, tôi đã lên kế hoạch nghiên cứu về lĩnh vực huyền bí này. Tôi trước kia vốn là kẻ vô thần, nên khi bắt tay vào lĩnh vực này, tôi chủ động nghiên cứu tìm hiểu dưới tâm thế khách quan, không mê tín, dưới góc độ trung lập, không phủ nhận mà cũng chưa khẳng định điều gì. Giai đoạn đầu tôi muốn xác nhận xem liệu cuộc sống sau cái chết có khả năng tồn tại hay không. Tôi tìm đọc rất nhiều sách tâm linh, đầu tiên tôi tìm sách của các tác giả người phương Tây- một nền văn hóa ít tin vào tâm linh- để cho khách quan. Ngày đó tôi thiên đọc những cuốn sách mang tính khoa học, nêu ra hiện tượng và giải thích, hoặc các trường hợp thực tế trên thế giới đã ghi nhận. Khi đọc tôi không hoàn toàn tin tưởng ngay vào những gì tác giả nói, tôi sẽ luôn đặt ra câu hỏi, so sánh sự giống và khác nhau giữa mỗi tác giả, sẽ cố gắng đi tìm lời giải thích hợp lý và mang thiên hướng khoa học nhất cho những băn khoăn còn tồn tại trong đầu mình. Thực ra đến sau này tôi mới nhận ra mình đã từng rất chấp trước vào khoa học, cứng đầu cho rằng chỉ có những điều khoa học nhân loại chứng minh được thì mới là hợp lý. Tôi cũng chấp vào những quốc gia hùng mạnh nơi sản sinh ra các nhà khoa học kiệt xuất, nên chỉ đọc những cuốn sách do các tác giả phương Tây viết ra. Đến giờ này thì mọi suy nghĩ của tôi đã khác, không còn bỏ lỡ lời giảng giải của những cổ nhân phương Đông có trí tuệ sâu xa vượt bậc. Nhưng dù sao đó cũng là tiến trình tâm lý của số đông hiện nay, của những người đề cao thái quá khoa học công nghệ nhân loại, mà lãng quên đi những giá trị tâm linh cao quý. Và dù sao khi con người ta muốn vươn tới những giá trị cao tột, đương nhiên phải từng bước mà đi từ thấp lên cao, cũng không thể nhảy cóc được, bởi những bậc thang đầu tiên mà không vững thì khi lên cao sẽ ngã đó. Sau rất nhiều bằng chứng thực tế đã thấy, tôi bắt đầu có niềm tin rằng sự sống sau cái chết là có thật. Muốn chắc chắn hơn, tôi lại chủ ý tìm tư liệu phản bác vấn đề này, nhưng tôi không tìm được tư liệu nào thuyết phục. Kể từ đó, tôi tin vào tâm linh. Một khoảng thời gian chìm đắm trong thế giới tâm linh qua các trang sách, tôi cảm thấy bản thân có chút thay đổi. Tôi bắt đầu vỡ ra nhiều điều, tôi nhìn nhận mọi việc bắt đầu khác đi một chút. Tôi mơ hồ tìm được manh mối cho những câu hỏi lớn trong đời, manh mối cho con đường tìm kiếm chân lý sống. Một ngày đẹp trời, giữa cái nắng hè rực rỡ nhưng không quá gay gắt, tôi một mình lái xe băng qua những con đường đông đúc của thành phố để tới gặp chị Hương – người phụ nữ thành đạt và đức hạnh – người sáng lập quỹ hạnh phúc cho mọi người, một quỹ chuyên tài trợ mổ tim miễn phí cho các em bé có hoàn cảnh khó khăn. Chia sẻ về bí quyết để có được hạnh phúc như hiện tại, chị nói với tôi và các bạn khác rằng: “Các em muốn có cuộc sống hạnh phúc, thì chỉ cần thực hiện được những điều trong ba cuốn Phật Học Phổ Thông giảng nói, thực hiện được những điều đó thì đời sống của các em sẽ rất hạnh phúc”. Như bắt được manh mối, tôi đã nhớ câu nói đó quyết không để quên mất, hạnh phúc chẳng phải điều tôi đang tìm kiếm đó sao. Là người chẳng biết gì về đạo Phật, nhưng tôi đoán chắc gần chùa sẽ có, hân hoan phấp phới trong lòng, như thể tôi sắp có chân lý trong tay vậy. Ngồi trên xe máy xuyên qua những tia nắng hè xen lẫn thoảng đâu đây những làn gió mát, tâm hồn tôi tự dưng phơi phới. Cuối cùng tôi cũng tìm được, mang chúng về đọc ngay. Ồ! Lại một lần nữa, thế giới quan được mở ra, giống như lúc tôi mơ hồ tìm được manh mối về sự sống sau cái chết vậy, lần này tôi đã có thêm một quyết định lớn trong đời, chính thức dấn thân vào con đường tìm hiểu và nghiên cứu Phật Pháp. Tôi bắt đầu lang thang trên mạng tìm nghe các thầy giảng Phật pháp trên youtube, trên facebook. Khi nghe cũng giống như đọc sách, tôi luôn so sánh, đối chiếu, tìm ra sự sai khác trong các bài giảng từ các nguồn khác nhau, tôi luôn đặt ra những nghi vấn, rồi lại đi tìm câu trả lời cho mình. Hành trình của tôi là như vậy đó, luôn luôn đặt câu hỏi, rồi lại đi tìm câu trả lời. Chính vì vậy, nên tôi mới biết được rằng Pháp của Phật rất thông tuệ và tôi mới bước chân vào Phật Pháp được như ngày hôm nay. Ở đó, tôi đã tìm ra được những chân lý thường hằng của vũ trụ vô tận này. Vì sao tôi nói vậy? Bởi chỉ có những ai thực sự đi trên con đường tìm hiểu Phật Pháp, mới hiểu nó cũng khó khăn lắm. Thời nay chúng ta không còn may mắn có Đức Phật tại thế trực tiếp giảng giải. Đã hơn 2500 năm trôi qua, thời gian đã làm méo mó đi sự thật. Nên đã phải rất nỗ lực và đầu tư thời gian, công sức, thêm vào đó sự tâm huyết, và cả nhân duyên của chính mình, tôi mới đi tới được ngày hôm nay, tuy chưa là gì trong biển trí tuệ vô tận, nhưng với tôi cũng là một bước ngoặt vô cùng lớn lao trong kiếp nhân sinh này. Ngay lúc này đây, tôi cũng biết rằng trước mắt mình con đường còn dài thăm thẳm cho tới ngày thấu hiểu được trí tuệ của Phật.  Nhưng dài thì dài thật, khó cũng khó thật. Nhưng tôi đã may mắn hơn nhiều người khác, rằng nay tôi đã biết có con đường để thoát khỏi những thống khổ. Đó là Phật Pháp. Đức Phật đã cho tôi con đường giải thoát, nay việc của tôi là nỗ lực và kiên trì để đi cho tới đích mà thôi. Một điều tôi muốn nhắc để chúng ta cùng nhớ. Đó là khi tìm hiểu điều gì, hãy tìm hiểu kĩ, tìm hiểu sâu rộng, đừng tìm hiểu một  cách hời hợt nông cạn, đừng tin điều gì mù quáng mà không tự đặt câu hỏi ngược lại, đừng tin chỉ vì người ta nói thế, hãy tự mình đi sâu vào. Là thế đó. HÀNH TRÌNH HỌC PHẬT  Biết rằng Phật Pháp sẽ cho tôi lối thoát, mỗi ngày tôi đều say mê nghe pháp và đọc sách về Phật Pháp. Tôi tranh thủ từng phút, từng giờ để nghe và đọc. Cứ hễ rảnh là tôi mở youtube lên nghe giảng, mở sách ra đọc. Mỗi lời pháp tôi đều nghiền ngẫm, suy tư, có khi đọc đi đọc lại một câu. Dù có nhiều điều tôi không hiểu hết được ý nghĩa thâm sâu của nó, nhưng tôi đã nhận ra rằng Đức Phật sẽ cho tôi mọi câu trả lời. Chỉ là tôi có thể hiểu hết hay không mà thôi. Có lẽ vì tâm cầu đạo lúc đó quá tha thiết, nên tôi được chư Phật, Bồ tát gia hộ cho một lần được thấy tiền kiếp của mình trong mơ. Tuy không thấy được nhiều sự kiện trong kiếp sống đó, nhưng đủ để tôi ấn tượng vô cùng, nhớ mãi chẳng quên. Chẳng có gì là dễ dàng cả. Mọi con đường đều có khó khăn riêng. Sau một thời gian say mê đắm chìm trong những kiến thức sâu rộng của Phật Pháp, tôi bị khựng lại vì gặp phải một chướng ngại lớn. Chính vì Đức Phật đã không còn tại thế, nên những lời giảng của Ngài đã bị bóp méo đi phần nào, gây ra những sự hiểu nhầm, phản bác, đả kích lẫn nhau. Tôi như người đứng giữa ngã ba đường, mà chẳng biết phải rẽ lối nào. Vậy là tôi chôn chân một chỗ, đứng im một thời gian. Vẫn cứ tiếp tục đọc thật nhiều, nghe thật nhiều, nhưng sự tiến bộ không có nhiều nữa, vì tôi bị kẹt giữa những luồng ý kiến trái chiều, mà bản thân lại không đủ trí tuệ để suy xét cho ra đâu mới là sự thật. Đâu mới là lời Phật dạy đây? Chẳng nhẽ tôi phải dừng lại ở đây sao? Không thể như vậy được. Tôi vẫn đau đáu lắm. Đức Phật đã sinh ra tôi một lần nữa, để tôi có thể bước tiếp những bước đi nhẹ nhàng hơn trong đời. Tôi mong muốn được sống một cuộc đời có ánh sáng của Phật Pháp, của chân lý soi sáng. Tôi tự nhủ không thể dừng lại ở đây. Một thời gian, tôi thử đi chùa tham gia các khóa tu nho nhỏ dành cho thanh niên, xem các cụ tụng kinh, sám hối, nghe các thầy giảng pháp, đi nấu ăn phát từ thiện cho các bệnh nhân khó khăn … những việc đó rất có ích, nhưng mà tôi vẫn cứ trăn trở. Giáo lý Phật Pháp thâm sâu, nhiệm màu, chắc hẳn cần phải khám phá, nghiên cứu, tìm tòi sâu xa hơn nhiều nữa. Và giữa vô vàn những pháp môn tu tập, nhiều môn phái, nhiều lý thuyết, nhiều lý luận, tôi cảm thấy hoang mang không biết nên đi theo ai, theo con đường nào, làm sao mà không bị lầm đường lạc lối, rơi vào tà kiến, tu phải tà pháp … Hôm đó, chỉ là vô tình lướt qua trên facebook, bỗng dưng thấy một bài đăng tìm người muốn nghiên cứu Phật Pháp, thật sự lúc đó tôi cảm giác như vớ được vàng. Mặc dù tôi thấy mình còn thiếu điều kiện để tham gia, khóa học yêu cầu phải là những người không có vướng bận gì nhiều trong cuộc sống, mà tôi thì vướng bận đủ thứ. Nhưng nghĩ rồi, không thể để vụt mất cơ hội này được. Tôi đăng kí ngay lập tức chẳng đắn đo. Việc nghiên cứu giáo lý này không hề đơn giản, phải tư duy, nghiền ngẫm, nghiên cứu, động não nhiều. Mặc dù công việc bộn bề, gia đình ràng buộc, nhưng tôi vẫn cố gắng hết sức dành thời gian mỗi ngày để nghiên cứu cùng các bạn đồng tu. Vì tôi nhận ra điều gì là quan trọng nhất, với tôi tu tập chính là mục đích chính của cuộc đời. Chúng tôi trao đổi với nhau hàng ngày những kiến thức và hỏi đáp, giải quyết các thắc mắc. Cái hay nhất chính là tôi có thể biết cách làm thế nào kiểm nghiệm một kiến thức là đúng hay sai. Thời kì này là thời mạt pháp, thật giả lẫn lộn làm người ta cứ hoang mang mãi mà không biết thế nào mới là đúng, chẳng phân biệt nổi đâu là chánh, là tà. Chỉ cần không may đi theo đường tà thì nguy hại vô cùng. Đúng là có bạn có khác, nhìn sự tinh tấn của mọi người, tôi cũng tự lên giây cót cho bản thân. Ban ngày chẳng có thời gian công phu tu tập, tôi phải tranh thủ từng giờ từng phút để thực hiện thời khóa công phu của mình, từ lúc nấu cơm, cho đến giặt quần áo, rồi lúc đi bộ, lái xe … bất kể lúc nào có thể tôi đều tận dụng cả. Chúng tôi nghiên cứu và tu tập theo 3 bước VĂN – TƯ – TU. Tính tôi chẳng phải cứ nói là tin. Thực sự bây giờ nhiều Phật tử tu tập đó, công phu đó mà chẳng hiểu bản thân đang làm gì, vì sao lại làm như vậy, đúng kiểu tu mù. Tính tôi hơi cứng đầu, nhìn thấy vấn đề đó, nhưng cứ phải nhìn nó thật lâu, ngẫm nó thật sâu, lật nó qua phải, lật tiếp sang trái, nhìn đằng trước, ngó đằng sau, có khi mổ xẻ nó ra tung tóe. Nhìn ra rồi lại thử thực hành, tự trải nghiệm. Chúng tôi cứ tuân theo 3 bước đó mà làm, tránh để bản thân lầm đường lạc lối, mà chẳng may chớm lạc, thì biết mà quay đầu lại ngay. Điều này nữa cũng vô cùng tuyệt vời mà tôi muốn chia sẻ. Trải qua nhiều kiếp sống, ai mà chẳng đã từng tạo nghiệp, gây thù chuốc oán, nghiệp từ thân khẩu ý, tham sân si … chúng ta đều đã từng làm. Vì thế mà cuộc sống này nhiều khi đầy những khổ đau vì trả nghiệp. May sao vẫn còn có cách giải quyết. Chúng ta trước hết cần dừng tạo nghiệp ác, tăng làm việc thiện để tạo phước báu cho bản thân, rồi dùng công đức đó mà hồi hướng trả nợ, trả nghiệp. Bản thân tôi tuy nghiệp còn nặng, nhưng sau một thời gian kiên trì hồi hướng trả nghiệp thì nay cuộc sống so với khi chưa tu tập cũng đã khởi sắc hơn. Không còn cảm giác bất lực, chán nản nữa, tuy còn nhiều chướng duyên chưa thể dứt trừ được hết, nhưng so với trước kia cũng đã là một sự thay đổi đáng kể. Các bạn trong nhóm tôi đều đang thực hành như vậy. Mong rằng tất cả chúng ta đều dần được an lạc hạnh phúc hơn ngay trong kiếp sống này. Tôi nhớ lắm câu nói: Phật giáo đơn giản là “Việc ác dù nhỏ nhất cũng không làm, việc thiện dù bé nhất cũng cố gắng làm”. Nếu như ai ai cũng sống theo kim chỉ nam đó, chắc chắn thế gian này sẽ trở thành thế giới Cực Lạc trong mỗi chúng ta. Phật Pháp vô cùng thậm thâm vi diệu không thể nói hết. Việc học Phật cũng như chúng ta đi học ở trường vậy, phải theo tuần tự thứ lớp, từ lớp một dần lên tới lớp 12, rồi đại học, cao học … Chúng ta không thể chưa tốt nghiệp lớp một mà lên được lớp 2. Vì nếu không học lớp một thì bạn có học lớp 2 cũng chẳng hiểu được gì, vì hoàn toàn chẳng có kiến thức nền căn bản để có thể tiến xa hơn. Nếu như có người học ngay được lớp 2, đó là vì họ đã học lớp một từ kiếp sống trước, chứ chẳng phải là nhảy cóc được. NHỮNG BÀI HỌC ĐÁNG NHỚ   NHÂN DUYÊN GIẢ HỢP Thông thường chúng ta hay áp đặt suy nghĩ và định kiến của mình lên một sự vật hay sự việc nào đó. Bằng cách đặt tên, đặt định nghĩa, chúng ta đóng khung khái niệm một sự vật, hiện tượng mà không linh hoạt biết cách mở ra. Khi đóng khung tư duy của mình lại, không biết đặt câu hỏi tư duy ngược, không thử phá vỡ cái khung đó, thì chúng ta sẽ mất đi cơ hội khám phá ra bản chất của vạn vật. Tôi lấy ví dụ về một sự vật cho chúng ta dễ hình dung. Ví như một cái bàn mà chúng ta vẫn nhận biết. Nó được hình thành từ rất nhiều mối nhân duyên: đó là gỗ của một loài cây, là những cái đinh ghép các mảnh gỗ lại với nhau, là công sức của người đóng cái bàn đó, là những chất dinh dưỡng đã nuôi lớn thân cây đó, là công sức của người chăm sóc cây, là ánh nắng mặt trời quang hợp cho cây cao lớn, là người đốn cây, là những đồng tiền dùng để mua cái bàn đó về nhà v.v…. nhiều không kể hết. Vậy tại sao nó lại có tên là “cái bàn”? Chính là do con người tự đặt tên cho nó, tự định nghĩa nó, rồi lại tự đóng khung tư duy của mình trong cái định nghĩa do chính mình tạo ra. Nhưng thực tế “cái bàn” không chỉ được làm từ gỗ, nó có thể được làm từ rất nhiều chất liệu khác như thủy tinh, inox, sắt, nhựa, đá v.v… Và ngay cả một cái ghế cũng có thể trở thành một “cái bàn” nếu ta biết cách sử dụng hiệu quả. Hay một tảng đá chưa được đẽo khắc cũng có thể trở thành một cái bàn. Bởi đơn thuần “cái bàn” chỉ là một mặt phẳng mà thôi. Vậy đấy, khi định nghĩa và đặt tên cho nó, tư duy của chúng ta trở nên bó hẹp trong khái niệm, khó mà thoát ra được để mở rộng tư duy, nhìn rõ bản chất của sự vật. Rồi ví như “cái bàn” đó người ta không sử dụng nữa, mà đem phá nó ra, đem miếng gỗ đó để khắc thành một bức tranh. Vậy “cái bàn” đã biến thành bức tranh. Rồi người ta chán bức tranh lại đem nó ra đẽo thành nhiều khúc để nhóm bếp. Giờ đây nó đã trở thành một vật để nhóm lửa. Nhóm lửa xong nó thành một đống tro tàn. Dần dần theo thời gian đống tro tàn cũng tan biến. Thế rốt cuộc, nó là cái gì? Nó lúc là cái bàn, lúc không phải cái bàn, lúc là cái này, lúc là thứ khác, lúc thì tan biến luôn. Và mọi sự vật, hiện tượng trên đời này đều vận hành như vậy, vốn dĩ đều không có thực thể, mà chỉ là những mối tập hợp của rất nhiều nhân duyên tập hợp lại mà thành, rồi lại tan rã, hợp thành, lại tiếp tục tan rã. Nếu bạn quán sát được sâu sắc về nhân duyên giả hợp, điều đó sẽ giúp bạn nhìn rõ bản chất của vạn vật, giúp mở rộng tư duy, thoát ra khỏi những khái niệm và phát triển sự sáng tạo. Hiện nay có rất nhiều sáng chế phát kiến thông minh giúp con người sinh sống tiện nghi hơn. Ví dụ như tại các thành phố lớn đông đúc chật chội, giá cả nhà đất tăng lên ngất ngưởng, những gia đình kinh tế kém vì thế không thể có một nơi ở rộng rãi, họ chui rúc trong những ngôi nhà bé tí như tổ chim. Làm thế nào để sắp đặt nội thất được trong không gian chật hẹp như vậy? Điều này đã thúc đẩy các nhà thiết kế nội thất phá bỏ các khái niệm cũ để phát minh ra những thiết kế nội thất thông minh tiện lợi tiết kiệm không gian cho căn nhà. Giờ đây chúng ta hoàn toàn có thể sắm chỉ một chiếc bàn học, mà đến lúc cần đi ngủ, chỉ cần kéo các chi tiết đã được thiết kế riêng ra để biến chiếc bàn thành một chiếc giường, khi không ngủ nữa chỉ cần gập chiếc giường lại thành chiếc bàn để lấy không gian sinh hoạt. Hay một người muốn đi vào rừng cần mang theo rất nhiều đồ vật thiết yếu, như một cái bật lửa để nhóm củi, một tấm bản đồ để chỉ đường, một chiếc la bàn để xác định phương hướng, một chiếc đèn pin để soi sáng, một con dao để cắt v.v. nhưng nếu mang tất cả các món đồ đi thì sẽ rất nặng và lích kích, họ không thể mang theo hết như vậy được. Vì vậy nên các nhà sáng chế đã phát minh ra một vật dụng thoạt nhìn chỉ như cái đèn pin, nhưng bên trong lại chứa được tất cả các vật dụng còn lại, vô cùng nhẹ và nhỏ gọn. Nếu như các nhà thiết kế, sáng chế không biết phá bỏ tư duy cũ, phá cái khung khái niệm rằng một chiếc bàn chỉ có thể là một chiếc bàn, hay một chiếc đèn pin chỉ có thể là một chiếc đèn đơn thuần chứ không thể biến thành một thứ gì đó khác, thì làm sao có các phát kiến sáng tạo như thế được. Vậy vì sao có sự tập hợp các mối nhân duyên lại với nhau để tạo nên sự vật, hiện tượng như vậy. Đó là nhờ sức mạnh của nghiệp lực, nhân quả. Lấy ví dụ về gia đình. Do nghiệp lực, bạn kết hôn cùng một người, đối với bạn khi đó “gia đình” chính là bạn và người bạn vô cùng yêu thương. Do nghiệp lực mà thành, thì khi nghiệp hết, cũng vì thế mà tan. Bạn và người chồng/vợ của bạn chia tay. Lúc này, bạn và người đó không còn là một gia đình nữa. Thế nên nếu chúng ta cứ cố chấp vào khái niệm định nghĩa mà đóng khung tư duy của mình lại, chúng ta sẽ rơi vào sự bám chấp về hình tướng. Do vậy, khi hình tướng đó tan rã, chúng ta trở nên đau khổ vô cùng. Tại sao vậy? Vì ta đã chấp vào thứ không hề có thật. Thật vậy. Chúng không hề có thật, chúng chỉ là do nhân duyên mà hợp lại. Vạn sự vô thường chính là bởi nhân duyên giả hợp này, duyên đến thì hợp lại, duyên đi thì tan rã. Thấm thía điều này, bạn có thể tự mình trải qua những nỗi đau một cách dễ dàng hơn. Một ví dụ điển hình, do nhân duyên, nghiệp lực mà các bạn tập hợp lại thành một lớp học, ngày ngày tham gia học tập cùng nhau, có cô giáo chủ nhiệm, có nhà trường quản lý, có giáo trình sách vở v.v. Đến khi duyên hết, nghiệp tan, các bạn phải chia tay nhau, lớp học của bạn tan rã. Như thường tình, các bạn sẽ buồn vì sự chia ly, nhưng người biết quán sát nhân duyên sẽ trải qua nó một cách êm ả nhẹ nhàng, không buồn rầu, đau khổ. ĐỪNG TRÁCH NGƯỜI, HÃY TRÁCH MÌNH Tôi ngộ ra một điều rất đơn giản và căn bản nhưng từ trước đến nay hầu hết đều mắc sai lầm. Mỗi khi đau khổ hay phiền não tôi đều trách móc đủ thứ, trách người đối xử không tốt, trách trời đất không công bằng, trách hoàn cảnh không thuận lợi, trách nọ, trách kia. Khi tôi không hạnh phúc, tôi trách tại người chồng của mình và mong muốn anh ấy thay đổi. Cuối cùng, chính sự trách móc này là sai lầm, nó đã khóa tôi lại không cho tôi lối thoát. Tại sao tôi lại sai lầm như vậy? Bởi vì tôi đã hiểu sai nguyên nhân dẫn đến đau khổ của mình. Vốn dĩ không phải tại người bạn đời, mà do chính bản thân tôi. Không chỉ trong hạnh phúc hôn nhân gia đình, mà trong mọi việc, chúng ta cần hiểu rằng tất cả nguyên nhân gốc rễ là tại mình chứ không phải từ các yếu tố bên ngoài. Vậy nên nếu tôi cứ cố gắng thay đổi người bạn đời của mình, nghĩa là tôi đang giải quyết phần ngọn. Cái tôi cần làm thực ra là cần thay đổi chính bản thân mình. Khi bản thân thay đổi, mọi thứ xung quanh sẽ thay đổi theo. Đó cũng là quy luật nhân quả mà thôi. TU ĐỂ GIẢI THOÁT Cuộc sống này có quá nhiều cám dỗ, và chúng sinh thời mạt pháp thì nghiệp nặng sâu dày, dù biết đời là bể khổ, cần phải thoát ra, nhưng biết là một chuyện, có làm được hay không lại là chuyện khác. Có nhiều người gặp khổ nạn, nên có động lực tu tập rất chuyên cần, tinh tấn. Đến khi giải quyết được nạn rồi, phước báo tăng lên, mải mê hưởng phước, sướng quá mà quên luôn việc tu tập. Nhưng theo quy luật vô thường, không có điều gì tồn tại mãi mãi, ngay cả niềm hạnh phúc hưởng lạc của chúng ta, nó đến ngày cũng phải biến mất. Mà khi hưởng phước, theo thói đời lại hay tạo ác, ví như có nhiều tiền rồi sẽ tiêu xài hoang phí, ăn uống vô độ, sát sinh hại vật mua vui cho mình. Hay khi có danh có tiếng lại sinh tâm khinh chê người hèn kém hơn mình. Những điều này là nhân ác gây quả ác sau này. Vậy là vòng tròn khổ đau – vui thích cứ thi nhau lặp lại không thể dứt trừ được. Vì thế, người tu hành cần nhận thức sâu sắc về cái khổ của thế gian, của luân hồi sinh tử; sự vui trong luân hồi chỉ là vui trong chốc lát, không phải trường tồn, nó không chân thật, chỉ là ảo tưởng mà thôi. Chúng sinh vì vậy khi tu không nên mong cầu phước thế gian, mà hãy hướng tới mục đích giải thoát khỏi cối xay sinh tử luân hồi. Đó mới là mục đích cứu cánh mà Đức Phật muốn chúng sinh hướng tới. PHÁT NGUYỆN Biển tri thức của vũ trụ này bao la mênh mông rộng lớn, lại rất thâm sâu vi diệu, Đức Phật cũng đã từng trải qua vô số kiếp tu hành khổ nhọc mới chứng được trí tuệ toàn giác. Con đường ấy không hề dễ dàng, thậm chí có vô số chông gai rào cản. Rào cản của người học Phật bao gồm cả rào cản bên ngoài lẫn từ bên trong tâm trí, liệt kê sơ qua có thể kể đến như: các tà kiến mà xã hội tạo ra để đánh lừa chúng ta, là oan gia trái chủ, là ma vương ma quân, là sự kém duyên với Tam Bảo, chủ nợ hoành hành, lục đục trong nội bộ, trí tuệ kém cỏi, tập khí xấu, khổ quá hay sướng quá cũng đều khó tu v.v… Chúng sinh thời mạt pháp nghiệp nặng nề, nhiều rào cản như vậy thì làm sao tu học cho nổi. Chẳng nhẽ chúng ta bó tay buông bỏ hay sao ? Thật ra vẫn có cách để giải quyết được chúng, và một trong những cách quan trọng nhất đó là “PHÁT NGUYỆN”. Đã có nhân thì sẽ có quả. Đã phát nguyện chắc chắn sẽ thành tựu. Có điều chúng ta cần kiên trì thực hiện phát nguyện mỗi ngày và tâm không thối chuyển. Do lực của lời nguyện, mà sau này mọi việc sẽ theo quy luật nhân quả trổ ra để ta được như ý, không ngay kiếp này thì trổ ở các kiếp sau. Có thể thấy, tất cả các Đức Phật, các vị đại Bồ Tát từ nhiều kiếp xưa đều có phát các lời nguyện. Như Ngài Địa Tạng Bồ Tát có lời nguyện “địa ngục vị không, thệ bất thành Phật”, ngài nguyện rằng nếu như còn có chúng sinh trong địa ngục thì ngài sẽ không thành Phật. Trải qua hằng hà sa số kiếp, cho đến nay ngài đã thành Đại Bồ Tát mà chúng sinh trong pháp giới tôn thờ, thương kính. Vì vậy, phát nguyện là việc vô cùng quan trọng đối với người tu. Muốn phát nguyện đúng chánh pháp cũng cần phải có trí tuệ. Nếu không có trí tuệ, chúng ta có thể phát nguyện sai, dẫn đến hậu quả khôn lường. Trong kinh Phổ Hiền hạnh nguyện, Đức Phật tán thán mười hạnh nguyện của ngài Phổ Hiền rất trí tuệ và có công đức không thể nghĩ bàn. Nên nếu chúng ta chưa đủ trí tuệ để tự mình lập lời nguyện, thì nên hành theo mười lời nguyện của ngài Phổ Hiền để được lợi lạc trên con đường tu tập. Dần dần khi trí tuệ phát sinh, chúng ta sẽ có thể tự lập thêm các điều nguyện khác nữa. CON ĐƯỜNG TÔI LỰA CHỌN Thuở xưa, khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, Ngài đã chỉ bày rất nhiều pháp môn tu tập cho chúng sinh tu hành. Vì sao lại phải có nhiều pháp môn đến vậy? Bởi Đức Phật trí tuệ vẹn toàn đã nhìn ra được sự khác biệt giữa mỗi chúng sinh. Mỗi người chúng ta, không ai giống ai, duyên nghiệp, căn cơ đều sai khác, nên sẽ có người phù hợp với pháp môn này, người phù hợp với pháp môn kia. Pháp môn thì có rất nhiều, nhưng có thể nói Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, và Mật Tông là ba pháp phổ biến được nhiều người tu tập nhất trong thời đại ngày nay. Thời Đức Phật còn tại thế, ai có duyên được Đức Phật dùng tuệ giác để quán sát căn cơ và chọn cho pháp môn phù hợp thì còn gì bằng. Nhưng chúng ta bây giờ không có may mắn đó, chúng ta phải tự biết chính mình, thử và chọn cho mình pháp môn phù hợp nhất để sự nghiệp tu hành sớm đạt thành tựu. Đấy là lý do vì sao người tu pháp môn này thì nhanh chóng có kết quả, người tu pháp môn kia lại sớm được lợi ích hơn, chính bởi sự phù hợp với căn cơ, duyên nghiệp của mỗi người. Bản thân tôi sau khi đã trải qua một quá trình tu tập và trải nghiệm, tôi cũng đã chọn được cho mình một con đường để đi, đó là pháp môn Tịnh Độ. Dù đi theo con đường nào thì cũng cùng một đích đến, đó là quả vị Phật toàn giác. Nhưng giữa mỗi con đường sẽ có sự sai khác. Tu Tịnh Độ nghĩa là chúng ta tu để được vãng sinh về các cõi tịnh độ của các Đức Phật. Khi được về đó rồi, chúng sinh được nương nhờ phước đức của Phật nên được tu hành trong điều kiện thuận lợi hơn, sẽ không có khổ đau phiền não chướng ngại như ở trong luân hồi nữa. Tuy nhiên, thời gian để viên thành Phật quả trên cõi Tịnh Độ sẽ lâu hơn so với việc chúng ta tu trong luân hồi, đồng nghĩa với việc độ sinh sẽ bị trì hoãn. Tu trong luân hồi nhiều chướng nạn, nhưng chính vì tu trong khó khăn gian khổ thì công đức lớn hơn nhiều lần, vì vậy mau thành Phật đạo hơn. Bản thân tôi tự nhận thấy năng lực của mình còn yếu kém, không chống đỡ nổi sự khốc liệt của luân hồi sinh tử, nên mong nương nhờ Phật lực của Đức A Di Đà Phật để được tu hành trên Tây Phương Cực Lạc. Vì vậy, tôi chọn con đường Tịnh Độ. Nó phù hợp với căn cơ, tính cách, mong cầu của bản thân tôi. Còn mỗi người sẽ tự có sự lựa chọn của riêng mình. Không có pháp môn nào tốt hơn pháp môn nào. Pháp môn phù hợp nhất chính là pháp môn tốt nhất. Lựa căn cơ chúng sinh tại cõi Nam Diêm Phù Đề, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có giới thiệu cho chúng ta rất nhiều cõi tịnh độ, mà nổi tiếng nhất, đó là cõi Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà, và cõi Đông Phương Lưu Ly của Phật Dược Sư. Bản thân tôi chọn sinh về Tây Phương Cực Lạc, vì vậy nên tôi đọc kinh Vô Lượng Thọ và kinh Quán Vô Lượng Thọ để học cách tu tập sinh về nơi đây. Để sinh về Cực Lạc, Đức Phật dạy cần có đủ ba điều Tín, Nguyện, Hạnh. Tín là ta cần tin có Đức Phật A Di Đà và cõi Tây Phương, tin vào hạnh nguyện và lòng từ bi của Ngài. Nguyện là cần phải phát lời nguyện mong được sinh về Cực Lạc, vì có nhiều người tin nhưng lại không có mong muốn về đó. Hạnh là sự tu dưỡng đức hạnh, không tạo ác, chuyên làm việc thiện, giúp người, bố thí, tụng kinh, niệm Phật, trì chú, cúng dường, phóng sinh, ấn tống kinh Phật v.v. để tu bồi công đức, hồi hướng cầu sinh về Cực Lạc. Đây là ba yếu tố quyết định, cần phải vững vàng như kiềng ba chân, không yếu tố nào lung lay, yếu kém, nhờ vậy chúng ta sẽ được vãng sinh Cực Lạc đúng theo như 48 đại nguyện của Đức A Di Đà Phật. Cái khó trong việc tu tập đó chính là cái tâm của ta có chân thật hay không. Nhiều người tuy miệng nói mong về Tây Phương, nhưng vẫn quá tham đắm tiền tài danh vọng, vẫn mải mê hưởng thụ dục lạc thế gian, không tỉnh giác để luôn nhận thức được mục đích của kiếp sống này. Những người như vậy nên tự bình tâm, suy ngẫm, quán xét chính tâm ý của mình xem đã phát tâm chân thật hay chỉ là lời nói nơi miệng lưỡi. Việc quan sát tâm rất quan trọng, tâm chúng ta luôn vọng tưởng và rong ruổi chạy nhảy khắp nơi, nếu chúng ta không chịu khó quan sát tâm, sẽ không thể nhận ra bản tâm chân thật của chính mình. *** Trên đây là sơ lược về con đường học Phật của bản thân tôi từ những ngày đầu còn bỡ ngỡ, một mình dò dẫm bước đi. Đến nay, tôi may mắn đã có những người thầy chỉ dạy, những người bạn đồng tu cùng hỗ trợ giúp đỡ nhau trên con đường tu học Phật Pháp. Tôi biết ơn khôn xiết Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã từ bi để lại cho chúng sinh con đường thoát khổ, tôi cảm ân các Đức Phật, Bồ Tát đã không nề hà mỏi mệt, dùng lòng đại bi mẫn, kiên trì cứu độ chúng sinh. Tôi biết ơn những người thầy, những bạn đạo đã luôn ở bên và dìu dắt tôi tu tập. Tôi biết ơn cha mẹ đã cho tôi thân người, cho tôi sức khỏe, và sự chăm sóc yêu thương tận tụy, để tôi có phương tiện tu học như ngày hôm nay. Tôi biết ơn tất cả chúng sinh trong tận cùng hư không pháp giới này, bởi tất cả chúng ta đều là một thể, vốn chẳng phải hai. Tôi nguyện đem tất cả lòng biết ơn sâu sắc này phát tâm vô thượng bồ đề, sớm thành Phật quả, quảng độ chúng sinh. Nam Mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo! (Tác giả : Tĩnh Như)

GẶP KHÓ KHĂN, NÊN HỒI HƯỚNG THẾ NÀO CHO HỢP LÝ ?

– Anh Quang Tử cho em hỏi, em đang gặp khó khăn trong cuộc sống, em cố gắng tu tập, làm nhiều việc thiện để hồi hướng cầu cho mình thoát khỏi khó khăn. Nhưng lại nghe giảng đâu đó rằng, hồi hướng như vậy là ích kỉ, chỉ biết đến mình. Mặt khác nếu không giải quyết được khó khăn, thì đầu óc em cứ luẩn quẩn vì nó mãi. Điều đó khiến em rất phân vân. Xin anh cho lời khuyên. Quang Tử: – Bạn thân mến, nhiều người  không có hiểu rõ giáo lý, không biết như thế nào gọi là trình tự trước sau, không biết như thế nào là hợp lý cả, xong lại hay buông ra những lời khuyên áp đặt cho người khác. Bạn nghe loáng thoáng hồi hướng công đức là phải không ích kỉ, phải hồi hướng cho khắp pháp giới chúng sinh, nhưng bạn có biết rằng, hồi hướng công đức cho khắp chúng sinh, đó là lời dạy của Đức Phật dành cho Bồ Tát, chứ không phải dạy cho người bình thường? Với mỗi hạng chúng sinh, Đức Phật dạy cách hồi hướng khác nhau, không hề máy móc, không chỉ có một cách mà là vô số cách tùy theo trường hợp. Đây là một ví dụ, trong kinh Đại Bi Tâm Đà Ra Ni, sau khi Quán Thế Âm Bồ Tát tuyên thuyết ra chú Đại Bi, Đức Phật dạy: ” …Nếu người có tật ban đêm sợ hãi ra vào không yên, lấy chỉ trắng xe thành niệt, gia trì chú 21 biến, kết thành 21 gút buộc nơi cổ, thì tật ấy sẽ dứt. Chẳng những trừ được sự khủng bố mà cũng diệt được tội. Nếu trong nhà sanh nhiều tai nạn, dùng nhánh cây thạch lựu chặt thành 1.080 đoạn ước độ một tấc, mỗi đoạn 2 đầu đều thoa mật tô lạc. Kế đó, đem lò nhỏ để trước bàn Phật, cứ tụng xong một biến chú, liền đốt một đoạn. Khi thiêu hết 1.080 đoạn, tất cả tai nạn thảy đều tiêu trừ. Nếu ở các nơi đấu tranh, luận nghị, muốn được hơn người dùng cành bạch xương bồ gia trì chú 21 biến, đeo nơi cánh tay phải, tất sẽ được toại nguyện. Nếu muốn được trí huệ nên dùng nhánh xa xa di, chặt thành 1080 đoạn, mỗi đoạn 2 đầu thoa sữa ngưu tô thuần chất và sữa ngưu tô hòa với bạch mật, cứ mỗi lần tụng chú lại đốt một đoạn. Nên nhớ trong một ngày đêm chia ra ba thời, mỗi thời tụng chú và đốt 1080 đoạn. Thật hành đúng 7 ngày, chú sư sẽ được trí huệ thông ngộ…” Bạn thấy chứ, chính Đức Phật dạy hồi hướng công đức  cầu cho việc đang vướng bận trước mắt của mỗi người được giải quyết, chứ đâu phải Phật dạy tất cả luôn luôn chỉ được “hồi hướng khắp pháp giới chúng sinh” đâu? Nói rằng bạn hồi hướng như vậy, thì bạn là người ích kỉ, đó là một câu thừa. Bạn cần biết rằng, phải tu đến chứng được quả vị Thánh như A La Hán trở lên, bản ngã mới không còn, thì mới coi là không ích kỉ được. Còn bạn là một người bình thường đang tu theo Phật, bạn không phải Phật, không phải Bồ Tát, không phải đã chứng quả vị A La Hán, thì đương nhiên bạn vẫn là một người phàm phu bình thường, vậy thì việc bạn ích kỉ, là điều đương nhiên. Không thể lấy tiêu chuẩn và cách làm của Thánh áp đặt bắt bạn phải theo đúng như vậy được, điều đó vô lý. Mà cố ý làm theo một cách vô lý như vậy, bạn không giải quyết được những chướng ngại tu hành đang bao vây, dẫn đến mất cân bằng, làm suy yếu động lực, và có thể khiến bạn phải bỏ cuộc, không tu nữa. Mà đã không tu nữa, thì chẳng có thêm được cái tốt lành nào nữa cả, giải quyết khó khăn cuộc sống,không, phá trừ được tâm ích kỉ, cũng không, tiếp tục tu tiến cho đức hạnh tăng lên, được giải thoát an vui, cũng không luôn. Vậy cứ bắt ai tu gi cũng phải hồi hướng tất cả như cách Bồ Tát làm, đó là một cách áp đặt thiển cận, không thông minh. Bạn cần biết, tu hành từ phàm phu đến trình độ đại từ đại bi của Bồ Tát, của Thánh nhân là một quá trình dài, rất dài vô số kiếp. Quá trình ấy chia làm nhiều chặng, mỗi một chặng tích chất và cách thức làm rất khác nhau, chặng đầu khác hẳn chặng giữa, và khác xa vô cùng so với chặng cuối. Một người đang ở chặng đầu không thể nào lấy cách thức của chặng giữa hay chặng cuối áp dụng nổi. Cũng như vậy, bạn đang ở thời kì bắt đầu tu học, bạn gặp khó khăn, và khó khăn ấy nếu không giải quyết, nó sẽ làm ảnh hưởng đến tâm lý, đến thời gian, đến thời khóa tu hành của bạn. Vậy thì, cách hợp lý là bạn phải giải quyết nó trước bằng cách hồi hướng công đức tu hành của mình, tập trung cầu cho bạn có thể vượt qua khó khăn. Như vậy có 2 lợi ích: vừa giúp mình vượt qua được khó khăn, vừa duy trì được thời khóa. Sau này khó khăn qua rồi, bạn sẽ được thoải mái lựa chọn, và khi ấy không còn gì ngăn cản bạn hồi hướng cho khắp pháp giới chúng sinh cả, lúc ấy, bạn có thể tập mở rộng tâm như các vị Bồ Tát làm. Còn nếu không làm theo trình tự như vậy, bạn mặc kệ khó khăn, cố gắng chịu đựng, dồn công đức hồi hướng cho một điều vĩ đại nhưng phải rất lâu hàng triệu kiếp nữa phước đức mới trổ ra. Bạn thân mến, trừ một số người có ý chí siêu việt, đạo lực hùng mạnh do tu nhiều kiếp ra, còn người bình thường không duy trì nổi. Vì dù sao, những người mới tu công đức tích chưa được nhiều, thường vẫn đang phải sống cái cuộc sống cơm áo gạo tiền, gia đình, công việc …của thế gian này, áp lực của chúng rất mạnh, dồn dập cái này chưa qua cái khác đã đến, mà phước chưa đủ nên không sao thoát ra khỏi nó được. Người mới tu hành đạo lực còn non, nếu gặp khó khăn bủa vây không được giải quyết, sẽ khiến cho tâm lý bị phân tâm, cuộc sống trật vật, sức lực suy hao, quỹ thời gian bị bóp nghẹt, kéo dài như vậy, từ từ sẽ dẫn đến tâm lý chán nản, mất động lực, rồi bỏ dở việc tu hành. Và lúc đó, hãy nhìn nhận thực tế rằng, một khi đã bỏ tu, thì chẳng còn lợi ích nào cả, đừng nói lợi ích vĩ đại cao xa, mà ngay lợi ích nhỏ nhoi cũng chẳng có cái nào cả. Vậy nên trình tự hợp lý là, trước tiên hồi hướng công đức giải quyết khó khăn, gây trở ngại bản thân, sau khi cuộc sống ổn định, thoải mái rồi thì nâng cấp lên, hồi hướng cho chúng sinh khắp pháp giới. Lợi ích lớn bé, gần xa, của ta, của người, trước sau đều được đầy đủ.

ĐƯỜNG VỀ VỚI ĐẠO KHÔNG DỄ NHƯ BẠN TƯỞNG

(Nhã Phong) Học, học nữa, học mãi. Câu khích lệ tinh thần của bao sĩ tử từ xưa đến nay. Cũng vì triết lý sống đậm bản sắc hiếu học của dân tộc ta từ xưa mà sản sinh ra cho đất nước rất nhiều những bậc vĩ nhân lỗi lạc vang danh khắp thiên hạ. Nhưng mà khoan. Học gì, thì lại không thấy mọi người nói đến. Tôi là một đứa rất hay tò mò, ham học hỏi và tìm hiểu những thứ mới mẻ. Ngay từ lúc mới biết đọc, tôi đã ôm cuốn từ điển tiếng việt dầy cộp, nâng niu như kho báu, đến tối là chăng đèn lên giường đọc, sách. Hết sách này đến sách nọ, từ thiên nhiên khoa học, động thực vật, từ sâu thẳm đại dương cho đến tận cùng vũ trụ, trên trời dưới đất tôi đọc hết, với một niềm say mê kiến thức bất tận. Lớn lên một chút, thì tôi đã được nhồi nhét cho một hệ tư tưởng là đi học để sau này kiếm tiền, không thì cạp đất mà ăn. Nên thôi thì cũng cố mà học. Trải qua các kỳ thi từ tiểu học cho đến trung học thì cuối cùng tôi cũng lết được lên đại học. Và rồi kết thúc sự nghiệp học dang dở, quẳng sách và bút, quá chán nản vì công cuộc học hành chả đâu vào đâu của mình. Tôi tự cảm thấy rằng, học thật là chán. Chả có gì thú vị. Tôi thường hay đặt ra một câu hỏi, một câu hỏi xuyên suốt thời thơ ấu và cho đến lúc lớn : Ý nghĩa của cuộc sống này là gì ? Phải chăng là cũng như mọi người, sinh ra, lớn lên, lập gia đình, có con và già chết. Một vòng lặp luẩn quẩn quả thực là rất nhạt nhẽo, chả có gì thú vị. Chắc hẳn phải có gì đó hấp dẫn hơn, ẩn chứa đâu đó trong thế giới này mà tôi chưa tìm ra được. Tôi luôn ấp ủ, khao khát một ngày được tìm ra nó, tìm ra sự thật của vũ trụ mênh mông vô tận này, những bí mật thú vị. Cho đến một buổi sáng mùa đông không đẹp trời cho lắm, tôi vô tình lướt Youtube và giật mình tìm ra câu trả lời cho câu hỏi của mình. Câu hỏi mà bấy lâu nay, do guồng xoay của cuộc sống, của chuyện tình cảm yêu đương, của công việc, gia đình, xã hội, của những mệt mỏi chán chường mà tôi bỗng quên mất. Ý nghĩa cuộc sống. Đó là điểm khởi đầu để tôi học đạo. Đạo Phật nói chung, và Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói riêng đã chỉ điểm cho tôi một con đường, thắp lên ánh sáng rực rỡ với đầy đủ các sắc màu, khiến tôi như bừng tỉnh khỏi cơn mộng mị sau khoảng thời gian ngủ quên. Càng vào sâu, càng tìm hiểu, càng đọc nhiều, tôi như bị cuốn vào một thế giới Phật pháp muôn màu muôn vẻ, tráng lệ, oai hùng, kỳ bí, rực rỡ mà cũng không kém phần kịch tính. Và đó là lúc tôi quay lại con đường học, quay lại với đam mê bất tận thủa nhỏ của mình: Học Đạo. BƯỚC NGOẶT Có thể bạn đã biết, hoặc chưa biết. Phật pháp rất sâu, vô cùng sâu, với vô số các pháp môn, đường lối, tông sư, thầy tổ, kinh sách, kiến thức. Phải nói là với một người mới tìm hiểu đạo như tôi, dù có một tâm thế nhiệt huyết mãnh liệt khi mới bắt đầu, thì khoảng một thời gian sau, tôi bắt đầu thấy chùn bước. Ban đầu là tôi tìm hiểu về thiền, vâng và đủ mọi thể loại thiền tôi mò ra, từ thiền chỉ, quán, Vipassana, Tứ niệm xứ, quán hơi thở, khí công, thiền điện nhân, khai mở luân xa, vân vân mây mây. Cũng ngồi bắt chân kiết già, để tay kết ấn, mới đầu thì chỉ được 10 phút là hai cổ chân đau nhức không chịu được, rồi lâu dần cũng quen. Tôi bắt đầu làm quen với việc quan sát tâm, cũng dần dà cảm nhận được vọng tưởng, suy nghĩ miên man trong đầu. Nhưng một thời gian thì tôi cảm thấy xa vời, không biết tiếp theo thế nào, ngồi đến bao lâu. Đọc các bài viết, hướng dẫn về thiền thì mơ hồ, khó hiểu. Hơi sốt ruột, tôi lại mò sang học Tịnh Độ tông. Có lẽ có cơ duyên nào đó, những miêu tả về cõi Tây Phương, với những cảnh sắc thù thắng, âm nhạc, mùi hương, ….nó khá giống với một giấc mơ tôi đã từng mơ. Trong giấc mơ đó, tôi đến một nơi có khung cảnh tuyệt đẹp, mỹ lệ, với âm thanh hòa nhã vi diệu, mùi hương nhẹ nhàng thanh tịnh, đất thì mềm mịn như nhung, tôi lướt đi trong hư không như những vị tiên trong phim thần thoại. Vậy nên tôi có niềm tin tuyệt đối vào pháp môn này không một chút nghi ngờ. Tuy nhiên, tu tập một thời gian thì tôi cảm thấy chán. Nếu cứ hoài niệm Phật rồi vãng sinh tịnh độ, thì cũng chả cần phải đọc gì nhiều, học gì nhiều, mà tính tôi thì lại thích tìm tòi. Vậy nên tôi dừng. (mãi sau này tôi mới biết được pháp môn Tịnh Độ không chỉ có vậy ) Rồi tôi lại tìm hiểu về Mật Tông, những câu thần chú được mô tả là cực kỳ vi diệu, uy lực kinh hồn. Có lẽ tôi cũng may mắn, vì có người quen tu Mật Tông nên tôi cũng cắp sách sang học hỏi được ít nhiều. Những lễ nghi, các giáo lý của các vị Rinpoche, đức Đạt Lai Lạt Ma, các pháp quán đảnh, Du già bổn sư …nhưng rồi tu tập một thời gian, việc trì hoài một vài câu thần chú mà không hiểu ý nghĩa, những lễ nghi quá phức tạp và cầu kỳ khiến một đứa có hơi chút cẩu thả như tôi cảm thấy hơi phiền. Quả thực lúc đó tôi cảm thấy hơi nản, mặc dù Phật pháp rất thú vị, nhưng mà khó quá. Tu mãi chả hiểu gì, cho dù thời gian đó cũng có chút thành quả ở việc tĩnh tâm, tọa thiền, thuộc nhiều câu thần chú, nhưng mà tôi biết rằng đạo Phật không chỉ dừng lại ở đó. Phải có cái gì sâu xa hơn thế nữa, vi diệu thậm thâm hơn nữa đang chờ đón ở phía trước. Ở cái thời điểm bối rối và không biết phải làm gì tiếp theo, tôi bỗng nhớ đến một câu nói của cô tôi (người dẫn tôi tìm hiểu Mật tông ) rằng: Hãy phát tâm tìm cầu một vị minh sư, hay một vị thiện tri thức để có thể thắp sáng, dẫn lối trên con đường đạo. Vì vậy tôi phát tâm, cầu nguyện rằng bản thân mình có thể gặp một vị thiện tri thức để có thể hướng dẫn tôi với. Chứ quả thực tôi rối rồi, không biết phải làm gì nữa. Vào một ngày đẹp trời, tôi vô tình lướt facebook và thấy một bài đăng của anh Quang Tử, muốn tìm một nhóm các bạn trẻ có mong muốn tìm hiểu về Phật pháp. Thú thực thì mới đầu tôi cũng không có kỳ vọng gì nhiều đâu, nhưng vì bản tính hiếu kỳ, thôi thì cứ apply đăng ký xem sao. Và quả thực, vào nhóm một thời gian, tôi như ve sầu thoát xác. Các kiến thức về Phật pháp mà tôi thu gom tích lũy được sắp xếp lại một cách hoàn chỉnh, các pháp môn tu tập bắt đầu hiện rõ ràng trước mặt, nền móng bắt đầu được xây lên. Và lúc đó, tôi chính thức đi sâu vào Đạo. NHÂN QUẢ – LUÂN HỒI Bài học đầu tiên chúng tôi được học đó là Nhân quả luân hồi. Lúc mới vào đạo, tôi tìm hiểu rất ít về nhân quả, thực ra cũng không tìm hiểu gì nhiều. Lao đầu vào các pháp môn cao siêu trên ngọn mà chả thu được kết quả gì. Cho đến khi được học về nhân quả, đọc các câu truyện nhân quả, phân tích sâu xa căn nguyên, đường đi của cái quy luật này, tôi mới nhận ra tại sao mà người ta hay gán đạo Phật là đạo của nhân quả. Quy luật nhân quả thực sự là rất phức tạp, đan xen chồng chéo mà lại hết sức chuẩn xác, chi li từng tí một. Các nhân duyên liên kết nhuần nhuyễn với nhau qua các yếu tố: thân, khẩu, ý, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không gian, thời gian…rất phức tạp và khó hiểu. Nhưng cũng thật may mắn, Đức Thích Ca Mâu Ni với lòng từ bi vô hạn, vì thương xót chúng sinh mà Ngài đã để lại các câu chuyện, kinh điển, lời dạy ẩn chứa những bài học nhân quả vô cùng quý báu. Phải nói là thực sự quý báu, một kho tàng vô giá không có gì sánh bằng. Giống như bạn lái xe ra đường mà hiểu rõ luật giao thông, hay mua bán đất mà hiểu rõ giấy tờ thủ tục vậy. Bạn khó có thể mắc sai lầm. Thông qua các câu chuyện nhân quả, kinh điển, chúng tôi đi vào điều tra, săm xoi, bới móc các tiểu tiết, lần tìm manh mối, những dấu vết của luật nhân quả. Những dấu vết tưởng chừng như nhỏ nhưng lại là những manh mối quan trọng để mở toang ra cánh cửa, cho phép ta hiểu rõ cái quy luật Nhân quả rộng lớn bao trùm khắp tận cùng hư không vũ trụ này. Các bài phân tích được làm đi làm lại, đối chiếu, lập bảng, thống kê, chúng tôi tụm năm tụm ba, suy nghĩ tư duy, vặn hết những gì có trong bộ não toàn bã đậu dưới sự hướng dẫn của anh Quang Tử để tìm ra vấn đề, rút ra kết luật, và đi đến quy luật. Cho đến hiện tại, khi viết những dòng này, đối với tôi, việc nắm vững quy luật nhân quả cực kỳ cần thiết trong quá trình tu hành. Hiểu rõ luật khiến cho cuộc sống của bạn, hiện tại, tương lai, và xa hơn nữa là vô số kiếp sau sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Nếu nắm vững luật nhân quả, bạn sẽ là một nghệ sỹ thực thụ. Nghệ sỹ của số phận. Bạn có thể quy hoạch ra con đường của số phận, tùy ý bạn chọn. Bạn có thể thiết kế một khu vườn tâm thức với đầy đủ các hạt giống thiện căn, mầm cây Bồ Đề và loại bỏ được thứ cỏ dại, cây độc không cần thiết. Với việc khéo léo quan sát, tính toán, tư duy, phân tích nhân quả thì trí tuệ bạn được khai mở rõ rệt, bạn sắc sảo hơn, tinh tế hơn, óc quan sát nhanh nhạy hơn. Và lúc đó bạn và góc nhìn của bạn về cuộc đời sẽ thay đổi. Khi bạn hiểu rõ được nguyên nhân, bản chất vấn đề, các phiền não sẽ không còn làm ảnh hưởng đến bạn nhiều nữa. Ngay hiện tại, cuộc sống bạn sẽ được lập trình lại, bạn bắt đầu biết cách gieo nhân lành. Ví dụ: bạn muốn giàu ư ? Hãy bố thí, hay cho đi bằng tất cả tấm lòng và đừng mong cầu báo đáp. Bạn muốn khỏe mạnh, sống lâu ư? Hãy phóng sinh, ăn chay, và cầu nguyện cho chúng sinh nương nơi cửa Phật để giải thoát triệt để khổ đau luân hồi. Bạn muốn trí tuệ ư? Hãy chia sẻ những kiến thức Phật pháp hữu ích, ấn tống. Và bạn muốn thành Phật ư ? Hãy phát Bồ Đề tâm và khiến chúng sinh thành Phật. Bên cạnh đó, bạn càng tin sâu nhân quả thì có cho tiền, bạn cũng không dám làm ác. Giới hạnh của bạn tự khắc vào khuôn. Luật nhân quả tinh tế, chính xác bao nhiêu thì nó cũng đáng sợ bấy nhiêu. Và rồi tôi nhận ra, chúng sinh rất khổ, khổ vô cùng. Kẹt trong cái luân hồi này mà nếu không biết tu đạo giải thoát thì…như Đức Phật đã dùng từ biển khổ để diễn tả. Khổ không để đâu cho hết. Vũ trụ này giống như một trại giam, và dùng luật nhân quả để vận hành. Chúng sinh là những tù nhân, những tù nhân đau khổ, đui mù, câm điếc, ốm đau bệnh tật, ngu si, bị kẹt ở trong đó và không thể thoát ra được. Những nỗi khổ cứ hằng ngày dày vò, giằng xéo chúng sinh, người có được chút phước mỏng tuy được sinh cõi trời đi nữa, nhưng rồi cũng bị bào mòn nhanh chóng, người nghiệp nặng thì đau khổ, thậm chí phải thường xuyên vào rồi ra, rồi lại vào các tầng địa ngục, trải qua hàng trăm ức kiếp không thể thoát ra khỏi. Và bạn biết không, điều đau lòng nhất mà tôi cảm thấy thương xót vô cùng đó là chúng sinh sống trong khổ mà nghĩ là sướng, rồi coi cái yên vui, vắng lặng nơi đạo là khổ, u mê không thuận theo lời Thánh Hiền chỉ dạy, mặc tình phóng túng không biết hối lỗi. Thật là đáng thương xót. NỀN MÓNG VỮNG CHẮC Phải nói rằng, với một đứa ưa tìm tòi khám phá như tôi, thì việc loạn kiến thức trong đạo là một điều dễ hiểu. Tám mươi tư nghìn pháp môn, khối lượng kiến thức khổng lồ và đồ sộ, ví như việc xây nhà, nếu bạn không xây được nền móng vững chắc thì sớm muộn có ngày ngôi nhà bạn sẽ đổ sập. Và trong đạo cũng vậy. May mắn thay, đến với nhóm học đạo, tôi đã được tiếp cận với một pháp môn vi diệu, là nền móng vững như bàn thạch giúp cho việc tu hành trải vô lượng kiếp của tôi trở nên chắc chắn, cũng như kẻ một con đường thẳng tắp đến quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đó là Phổ Hiền Hạnh Nguyện. Thật không ngoa khi nói rằng, đây là tinh hoa của Phật giáo đại thừa. Phát nguyện giống như một lời thề, một lời hứa hẹn đối với chính bản thân mình và với vũ trụ. Khi bạn phát lên lời nguyện và kiên định với nó, có thể sang kiếp sau bạn quên mất lời nguyện đã từng phát. Nhưng hãy yên tâm rằng, một khi bạn đã phát nguyện, thì cho dù bạn có lang thang khắp sáu nẻo luân hồi, cuộc đời của bạn sẽ luôn vận hành theo những lợi nguyện bạn đã phát. Có thể ví như việc, trong cái dòng chảy sinh mệnh từ vô thỉ kiếp này, bạn tự tay nắn lại dòng chảy của mình. Thông qua thân, khẩu, ý với việc thành tâm phát nguyện, dòng chảy của luân hồi nhân quả của bạn sẽ được thiết lập lại, con đường mới được hình thành, và rồi việc bạn cần làm chỉ là bước đi. Thật may thay, Bồ Tát Phổ Hiền với đức hạnh không gì sánh, với lòng từ bi và trí tuệ vượt bậc đã tích tập, thu gom lại cốt tủy của toàn bộ con đường tu đạo và dồn nén hết vào mười nguyện này. Mới đầu khi thực hành pháp môn này, tôi có chút mơ hồ, chỉ là phát nguyện, giống như một lời hứa, có gì đâu mà anh Quang Tử lại phải quan trọng đến vậy. Ngày nào cũng vậy, cứ phát đi phát lại hạnh nguyện Phổ Hiền. Nhưng một thời gian sau, khi thấm nhuần tư tưởng của Phổ Hiền Hạnh Nguyện, tôi đã thực sự bất ngờ vì sự vi diệu của pháp môn này, và tôi bắt đầu nhận ra, con đường của lời nguyện. Ví dụ đơn giản cho dễ hình dung, với lời nguyện thứ nhất: Lễ kính chư Phật. Một Phật tử khi mới bắt đầu vào đạo, việc quan trọng nhất, đặc biệt cần thiết là phải lễ kính đối với vị thầy, hay Đức Bổn Sư của mình. Trước khi tôi phát nguyện, đối với tôi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một nhà triết học, một nhà tư tưởng, một vị giảng sư tuyệt vời, tôi tôn trọng và cung kính Ngài. Nhưng đối với một Phật tử đã xác định đi trên con đường Phật đạo, như thế là chưa đủ. Cho đến khi thực hành phát nguyện một thời gian, tôi mới thực sự hiểu, lễ kính là như thế nào. Đó là khi, với mỗi lần tôi quỳ xuống chắp tay lạy Ngài, khi năm vóc sát đất, toàn thân tôi rúng động vô cùng bởi sự uy nghiêm, đức hạnh, trí tuệ và lòng từ bi của Ngài. Đó là khi, tôi gìn giữ, nâng niu tất cả những pháp ngài nói, lời ngài thuyết, từng câu từng chữ, dù chưa hiểu gì, tôi vẫn cố ghi nhớ, lưu lại, và cố gắng áp dụng, vì tôi biết, đó là lời Ngài thuyết ra, và nó là châu báu. Đó là khi, tôi cố gắng làm theo những lời dạy bảo của Ngài, không dám trái ý, vì tôi biết Ngài chỉ muốn tốt cho tôi. Và đó là khi, với cuộc sống bộn bề lo toan, đầy những cạm bẫy, những cám dỗ cuộc đời, những miệng lưỡi dèm pha, những sự bất công vô lý, tôi vẫn nhẫn chịu, vững bước trên con đường đã chọn, vì tôi biết rằng, Ngài luôn ở bên tôi và sẽ không bao giờ rời bỏ tôi, cũng như các đệ tử của Ngài vậy. Thực hành một thời gian, tôi nhận ra rằng, một lời nguyện với tâm kiên định, vững chắc sẽ có một sức mạnh lớn, nắn chỉnh dòng chảy của thân và tâm. Dẹp trừ được các tập khí xấu ác, những tam độc hừng hực, những cạm bẫy rình rập, chỉ trực chờ mà ăn tươi nuốt sống bạn. Đó mới chỉ là lời nguyện đầu tiên, còn chín lời nguyện nữa với đường đi nhân quả vi diệu sâu xa vô cùng, kết hợp nhuần nhuyễn, bổ trợ cho nhau, tạo thành một trận pháp vĩ đại khôn cùng. CÁC PHÁP QUÁN Bên cạnh phát nguyện, chúng tôi được làm quen với các pháp quán: Quán Vô Thường, Quán Bất Tịnh, Quán Từ Bi. Và khi bắt tay vào thực hành các pháp quán, tôi nhận ra rằng, quán tưởng giống như việc, thay vì bạn dùng đầu ngón tay để chọc thủng miếng vải, rất khó, thì ở đây bạn dùng kim vậy, sẽ dễ xuyên thủng hơn nhiều. Miếng vải dụ cho tấm màn giả dối của xã hội, của bản ngã, của những điên đảo mộng tưởng, ngăn che bạn nhìn ra sự thật, chân lý vũ trụ; còn cây kim dụ cho sự nhận thức, trí tuệ, tư duy, thế giới quan của bạn. Quán tưởng giúp cho tôi phá màn si mê, u tối, lọc sạch những phiền não, cấu uế của thế gian, như mặt nước trong không chút gợn bẩn, như mặt gương sáng được lau sạch sẽ, tôi nhìn thấy được rõ hơn bản chất của các pháp. Với việc Quán Vô Thường, tôi dần dần buông bỏ những bám chấp, ham muốn giả tạo của thế gian. Những sự việc khiến tôi bị cuốn vào cái lối sống ô trược đầy thị phi và gian dối này. Vì tôi biết rằng, tất cả mọi thứ đều sẽ hoại diệt, không có gì là tồn tại mãi mãi. Khi ham muốn những thứ vật chất không còn, thì phiền não mỏng dần. Phiền não mỏng rồi, thì thân tâm hoan hỷ, việc tu hành sẽ tinh tấn hơn, quyết tâm hơn, và tập trung hơn rất nhiều. Quán Thân Bất Tịnh cũng rất tuyệt vời. Phàm những ái luyến, bám chấp, những điên đảo mộng tưởng, những luân hồi trói buộc đều xuất phát từ vô minh. Vô minh là việc chấp cứng vào cái tôi, cho rằng cái thân tứ đại ảo giả, như bóng nước, như sương mai này là của mình rồi chấp chặt vào đó mà tạo ra vô số việc bất thiện mà luân hồi trong sáu nẻo sinh tử mãi không thoát ra khỏi. Quán Thân Bất Tịnh khiến tôi tỉnh táo ra hơn, giảm bớt được sự bám chấp không đáng có này nữa, vì tôi biết rằng, cái thân thể hôi thối này sớm muộn rồi cũng mục tan vào đất, đâu có gì đáng trân quý. Bản ngã theo đó cũng dần tiêu trừ, lửa ái dục dập tắt. Bản ngã giảm thì tâm cung kính tăng, hạn chế được tâm kiêu mạn, loại trừ ghen tị,… Càng quán sâu, tôi càng nhận ra vấn đề của bản ngã, các tập khí xấu lần lượt hiện ra một cách rõ ràng, bản ngã thì cứ luôn rình rập muốn vùng lên, cực kì khó kiểm soát. Và khi đó, tôi hiểu được rằng, chúng sinh đều đang bị cái bản ngã nuốt chửng không thể thoát ra khỏi. Về pháp môn Quán Từ Bi, phải nói rằng tâm từ bi là gốc rễ của con đường Bồ Tát đạo. Lấy từ bi làm gốc, Bồ Tát luân hồi trong sáu nẻo đường dữ mà cứu độ chúng sinh. Nếu không có tâm từ bi, con đường tu hành trắc trở sẽ rất dễ thối thất. Và pháp Quán Từ Bi sẽ giúp hình thành nên tâm từ bi. Lợi ích của tâm từ bi thì rất lớn, rất nhiều, sau một thời gian dài kiên trì thực hành pháp quán này, tôi đã có được một số công phu nhất định. Tâm từ bi phát khởi rõ ràng, chắc chắn, duy trì được lâu hơn so với hồi mới tu. Lòng từ càng lớn thì càng tinh tấn tu học, mong cầu trí tuệ tối thượng để đem an vui, lợi ích cho chúng sinh. Lòng bi càng sâu thì càng thương xót, mong muốn tìm đủ mọi phương tiện, thí xả mọi vật sở hữu để khiến chúng sinh bớt khổ. Lòng từ bi chân thật, rõ ràng thì dụng công tu hành sẽ không hư dối, tương ưng với pháp, tâm Bồ Đề phát khởi mãnh liệt, ví như dòng nước mát thấm nhuần các hạt giống thiện căn, vun bồi và nuôi dưỡng Bồ Đề tâm mau lớn mạnh. CHÁNH KIẾN Chánh kiến là gì? Nói đơn giản thì là kiến thức đúng đắn. Đúng là như thế nào ? Là đúng với sự thật, thực tướng của các pháp. Chánh kiến đứng đầu tiên trong Bát Chánh Đạo, nói lên một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc tu hành, đó là phải có kiến thức đúng đắn. Có Chánh Kiến, sẽ làm bàn đạp cho Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Và Chánh Định. Bánh xe Bát Chánh Đạo lăn chuyển đúng, thì con đường tu hành sẽ thuận lợi, không sai lệch. Nếu không có Chánh Kiến, mà là tà kiến, thì sẽ kéo theo bát tà đạo, dẫn đến sai lệch trên đường lối tu hành. Cực kỳ nguy hiểm. Xã hội hiện tại đang ở thời kỳ Mạt pháp. Chánh kiến thì ít mà tà kiến thì nhiều. Thực ra, ít ở đây không phải là giáo pháp không còn, thực tế ngược lại, sách vở kinh điển không thiếu, lên mạng search cũng ra cả kho. Nhưng đáng tiếc thay, chúng sinh thời này mắc nghiệp tà kiến nặng, xa rời giáo pháp. Cũng vì nguyên nhân đó, nên anh Quang Tử đã dạy chúng tôi một bài học cực kỳ cần thiết ở thời điểm này. Đó là các phép tư duy. Một hệ thống tư duy được lập trình lại, logic hơn, chặt chẽ hơn, phức tạp hơn, được gọi là “ Con đường thứ 4 ”. Tuy có chút hại não, nhưng đó lại là chiếc chìa khóa cần thiết để mở con đường chánh đạo rực rỡ đầy lôi cuốn, hạn chế tối đa ảnh hưởng của tà kiến thế gian. Cụ thể thì chúng tôi có rất nhiều bài học, bài tập, làm đi làm lại, với phương pháp dùng bộ 3 bằng chứng – lý luận – quy luật nhằm tìm ra sự thật trong vô số thông tin thật giả lẫn lộn. Bên cạnh đó còn phải áp dụng các cách tư duy, suy luận, quan sát, lập sơ đồ,… rất nhiều. Càng học cách tư duy, càng có chánh kiến, tôi lại càng thấy, chúng sinh thời này thật mê muội. Mê mà không biết là mình mê, bị dẫn dắt, dụ dỗ như những chú lừa bị buộc vào cối xay và buộc trên lưng cành cây có treo lủng lẳng củ cà rốt. Chú lừa ta cứ mãi chạy đuổi theo củ cà rốt luôn ở phía trước, mệt mỏi và khổ sở không ngừng. Chẳng hề hay biết mình bị biến thành động cơ cho cái cối xay của ông chủ. Thật đáng tiếc. SỰ NGHIỆP VĨ ĐẠI Khi xưa, lúc chưa tìm hiểu về đạo Phật, thì tôi nghĩ, đi tu là phải lên chùa gõ mõ tụng kinh, hoặc lên núi ẩn cư như những vị cao tăng ngày xưa, ngày ăn vài cọng rau, uống nước suối cầm hơi. Loanh quanh với cỏ cây núi rừng hay bốn bức tường. Đại khái là một cuộc sống tẻ nhạt, vô vị, xa lánh sự đời. Nhưng tôi đã lầm, sự thật thì ngược lại hoàn toàn. Đạo Phật không phải là xa lánh sự đời, tận hưởng cuộc sống tĩnh lặng nơi núi non, mà kỳ thực, đạo Phật, đặc biệt là con đường Bồ Tát đạo là lao vào đời. Tôi dùng từ “lao” để miêu tả rõ nét về lòng từ bi, sự dũng mãnh và trí tuệ của chư vị Bồ Tát tu hành theo con đường này. Dẫu biết thế gian là khổ, là đủ những cạm bẫy, ô trược và cực kỳ khốc liệt, nhưng với tấm lòng từ bi sâu xa, gạt bỏ bản ngã, buông bỏ mọi sở hữu mà lao vào biển khổ, hiến dâng thân mình để cứu khổ chúng sinh. Chúng tôi được anh Quang Tử giới thiệu cho con đường đạo khác biệt so với tôi nghĩ ngày xưa, cực kỳ chông gai, hiểm trở, đầy ắp máu và nước mắt. Nhưng thành quả đổi lại là không gì có thể so sánh. Bắt đầu từ việc up bài trên các trang mạng xã hội, trau dồi kỹ năng đọc, viết, và nhiều kỹ năng khác. Chúng tôI biết được cách đưa giáo pháp đến với mọi người, bắt đầu bằng những câu chuyện nhân quả, từ cơ bản đến phức tạp, rồi luyện viết, làm video, … rất nhiều kỹ năng. Tất cả đều nhằm mục đích phụng sự chúng sinh. Sau đó thì độ khó bắt đầu tăng dần, nhẹ nhàng là các buổi làm Phật sự cúng dường, phóng sinh, ấn tống,.. rồi đến các việc phải cần một chút dũng cảm như đi nghĩa trang cầu siêu… rất nhiều thứ khác. Mang ơn Đức Thế Tôn thương xót, được lãnh ngộ giáo lý sâu xa vi diệu của Ngài, lòng tôi rất đỗi hạnh phúc và vui mừng cùng cực, cũng chỉ mong đem chút tài hèn, sức mọn này mà phục vụ chúng sinh, báo ơn Như Lai. Cố gắng hoằng dương chánh pháp vi diệu, lan tỏa ánh sáng Phật pháp chiếu rọi khắp nơi, khiến cho tất cả đều được giải thoát. Đức Phật trước khi nhập Niết Bàn có dặn dò các hàng đệ tử của Ngài rằng: “Hãy tự thắp đuốc lên mà đi”. Đối với tôi, lời căn dặn này có ý nghĩ sâu sắc vô cùng. Càng về sau, thế gian càng thống khổ, con người thì hung hiểm độc ác, tà kiến hừng hực, kẻ làm ác thì nhiều mà kẻ làm lành thì ít, tà sư nhiều không kể hết, con đường tu hành phía trước dự liệu sẽ rất gian nan. Chư hiền Thánh tăng thì cũng đều rời bỏ thế gian dần, biết nghiệp chướng còn nặng, nhân duyên còn sâu dày chưa thể đi được, cho nên tôi cũng tự nhủ bản thân, sẽ cố hết sức mình, thắp lên ngọn đuốc pháp, phá tan u tối, đưa giáo pháp cứu khổ đến khắp tất cả chúng sinh. Con đường tu hành tương lai chắc chắn sẽ gặp vô số khó khăn và trở ngại. Nhưng chung quy thì có lẽ vẫn nằm trong mấy chữ: nhìn không thấu, buông không đành. Nhìn không thấu do vẫn còn chấp trước, phân biệt, tà kiến, vô minh…mà không nhận ra được sự thật. Buông không đành do tập khí hừng hực, vì tham lam, ái dục, đắm luyến si mê vào thế gian mà bị 6 căn dẫn dắt mà tạo vô số ác nghiệp. Đây hầu như là vấn đề mà ai cũng mắc phải, và cách khắc phục không còn cách nào khác là phải kiên trì, bền bỉ, phát tâm từ bi rộng lớn, phát thệ nguyện sâu rộng, sám hối nghiệp chướng, thân cận thiện tri thức, tu các pháp quán, tạo nhiều công đức, huân tập thiện căn …. dần dần mọi chướng ngại đều sẽ vượt qua được. Tôi tin là vậy. LỜI KẾT Cho đến hôm nay ngồi viết những dòng này, ngẫm thấy con đường đạo thời Mạt pháp thật gian nan, chúng sinh u mê tà kiến, tập khí hừng hực thật khó mà nhiếp thọ. Sức bản nguyện của tôi thì yếu kém, thiên căn, phước đức, trí tuệ đều thiếu sót khiến tôi tự cảm thấy tủi hổ đối với bản thân, đối với chư Phật, Bồ Tát và đối với chúng sinh. Tự hứa với bản thân, sẽ phải cố gắng hơn nữa, tinh tấn hơn nữa, để không phụ lòng mong mỏi của Đức Từ Phụ, để có thể góp phần gánh vác sự nghiệp vô thượng của mười phương ba đời chư Phật, để có thể làm con thuyền lớn đưa chúng sinh vượt dòng sinh tử qua đến bờ Niết Bàn. “ Nguyện xin Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni thường gia hộ, nguyện xin Đức A Di Đà từ bi nhiếp thọ chúng sinh vãng sinh Cực Lạc quốc, nguyện xin Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai đem nước cam lồ tiêu tai giải nạn, nguyện xin Bồ Tát Quán Thế Âm tầm thanh cứu khổ mỗi khi con khẩn cầu, nguyện xin Bồ Tát Đại Thế Chí thường hộ niệm khi con niệm Phật, nguyện xin Bồ Tát Địa Tạng dũng mãnh tinh tấn nhiếp thọ chúng sinh địa ngục không mỏi nhàm, nguyện xin Bồ Tát Phổ Hiền dẫn dắt con luôn đi theo con đường chánh đạo, nguyện xin Bồ Tát Văn Thù thương xót khai mở con mắt trí tuệ cho con và chúng sinh, và nguyện xin Đức Di Lặc Thế Tôn từ bi dìu dắt vô lượng chúng sinh thoát luân hồi sinh tử”. (Tác giả : Nhã Phong)