MẸ CHỒNG NÀNG DÂU – NHỮNG ÂN OÁN TIỀN KIẾP VÀ CÁCH HÓA GIẢI
MỘT CHUYẾN THIÊN ĐƯỜNG, HAI LẦN QUA ĐỊA NGỤC
(Quang Tử, viết lại từ tự thuật của cô Ba Cháo Gà)
Phần 1: ĐỊA NGỤC
Giấc mộng kì quái
Tối hôm ấy, cũng như bao buổi tối khác, cô Ba đã mua mấy con gà cột sẵn đó, chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng cho buổi sớm mai làm thịt nấu cháo. Không có gì đặc biệt để báo trước rằng đó sẽ là một buổi tối định mệnh đảo lộn mọi thứ cả. Đã hơn một năm rưỡi cô làm cái nghề này, bán cháo gà, khách khứa cũng đã quen với cái hương vị cháo cô nấu. Người này ăn ngon giới thiệu người kia, rồi từ đó thương hiệu “cô Ba Cháo Gà” nổi tiếng ra đời, và chẳng còn ai nhớ đến tên thật của cô, Huỳnh Thị Nhi nữa cả. Cứ đều đều mỗi sáng sớm, 3h là cô đã dậy, cắt tiết làm thịt một vài chú gà xấu số nào đó, nhóm lửa, hầm cháo, rồi nai lưng gánh ra ngoài chợ Vòng Nhỏ, Mỹ Tho, Tiền Giang bán. Lắm người bảo cô làm cái nghề sát sinh này là không tốt, nghiệp chướng chất chồng. Cô hồi trẻ cũng hay đi chùa, cũng quy y Tam Bảo, học tụng kinh trì chú, với những giáo lý Nhân Quả, chính cô cũng nghe qua điều đó từ lâu rồi. Ấy nhưng mà cô mặc kệ, không làm cái nghề này thì làm nghề gì mà nuôi con nuôi cái đây ? Cô đã đi qua bảy cái đời chồng, cung cung phụng phụng, cơm nước nhà cửa hầu hạ hết ông chồng này đến ông chồng khác, để rồi mấy ổng rũ áo ra đi cả, để lại cô bơ vơ một mình tần tảo nuôi con. Thời buổi chiến loạn, kiếm sống khó khăn, hết buôn đồ lậu ở chợ đen, đến bán cháo gà ở chợ Vòng Nhỏ, vất vả lắm chứ cũng đâu sung sướng gì mà muốn làm. Nhưng mà phải làm mới có cái mà ăn, người ta bảo sau này sẽ chịu quả báo, cô cười, quả báo đâu chưa biết chứ không làm là cả nhà chết đói. Chuẩn bị đâu đó xong xuôi, cô vào phòng và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Cái nghề này làm nhiều quá ăn vào tiềm thức hay sao đó, mà đến trong mơ cô cũng thấy nó. Cô Ba mơ thấy mình đem một con gà hồi tối đã chuẩn bị ra cắt tiết. Nó giãy giãy vài cái rồi thật kì quái, nó phình to dần lên rồi biến hình thành một người đàn ông. Cô kinh ngạc thốt lên : – Ủa tại sao ông biến thành người, thế làm sao tôi nhúng nước sôi cho được? Con gà, nay đã trong bộ dạng con người trả lời: – Mầy chết! Chớ nhúng nước sôi, tao là ông nội của mày đây! – Ông nói tôi không tin, ông nội tôi sao trông mặt lại không giống? – Giống sao được, vì hồi còn sống, ông nội sát sinh hại mạng cũng nhiều, khi chết, con cháu lại làm heo, bò, gà, vịt để lo tống táng. Cho nên ông làm thú biết bao nhiêu kiếp mà trả chưa xong, vì thay hồn đổi xác nhiều đời làm sao còn giống được mà con biết. May nhiều đời trước có chút công tu, làm chút việc phước nên được Diêm Vương cho về báo mộng cho con cháu biết. Con ráng tu đừng sát sinh hại vật phải đọa địa ngục, súc sinh như ông, khổ sở lắm. – Ông nói vậy, nhưng tôi cũng chưa tin, ông tên là gì? – Ông là Huỳnh Văn Vấp, cha mầy là Huỳnh Văn Thìn, mầy là Huỳnh Thị Nhi, con tin chưa? – Ông nói đúng sự thật, nhưng thấy tướng mạo tôi còn nghi… -Thôi con ráng tu đi rồi biết, chứ đừng nghi, ông cho con hay, con tội lỗi rất nhiều, vì sát sinh, không những gà vịt mà thôi, cho đến côn trùng, dế, kiến, chuột, bọ, rắn rết đều có tội hết. Con nên cố gắng tu đi, để cầu siêu cho ông với. Bất chợt, chuông đồng hồ réo inh ỏi, cô Ba choàng tỉnh dậy. Giấc mơ thật đáng sợ, không chỉ vì nó kinh dị, mà hơn thế, nó còn ăn khớp với những gì cô được nghe răn dạy về quả báo, về luân hồi… Không lẽ, đó là sự thật ?! Cô Ba cứ thế ngồi bần thần suy tư mãi. Cuối cùng, cô quyết định, không giết con gà kia nữa. Không chỉ thế, đồ nghề cô cũng đem bán hết. Ngày hôm đó, 17 tháng 11 năm Ất Mùi (1955), trùng hợp đó lại là ngày vía Phật A Di Đà, cô Ba chính thức giải nghệ sau 18 tháng bán cháo. Suy cho cùng, không làm nghề này thì vẫn còn nhiều nghề khác mà.Cú ngoặt
Quả thật, tìm một công việc không tạo nghiệp mà làm cũng không phải quá khó khăn gì lắm, cuộc sống cũng ổn định từ từ. Rồi cũng từ đó, cô tìm đến cửa Phật xin tu học một cách nghiêm túc. Rồi được các thầy giảng giải cho rõ hơn, thế nào là quả báo, thế nào là chuyển nghiệp, thế nào là tu hành. Cô bắt đầu tập ăn chay trường, hàng ngày kiên trì niệm Phật cầu cho những nghiệp chướng của mình được tiêu trừ. Biết nghiệp mình nặng, sợ phải trả quả báo dây dưa trong nhiều kiếp không biết sẽ trôi lăn đi đâu, nên cô Ba nguyện xin các quả báo dồn lại để cô trả hết trong kiếp này, dù đau đớn khủng khiếp trả dồn dập, xong cô vẫn muốn như thế hơn là trả dây dưa nhiều kiếp. Nguyện thế thôi chứ cô cũng không biết Nhân Quả sẽ an bài như thế nào. Rồi cô thỉnh kinh sách về đọc tụng. Ban đầu cô đọc những kinh ngắn như kinh A Di Ðà, phẩm Phổ Môn, Đại Bi Thập Chú, rồi sau chuyển đến đọc những kinh dầy hơn như kinh Ðịa Tạng, kinh Pháp Hoa. Thấm thoắt đã 7 năm sống cuộc sống tu hành của một cư sĩ tại gia, không sát sinh tạo nghiệp nhiều như trước nữa, nên thân tâm cô Ba đã nhẹ nhàng, thanh thản hơn trước rất nhiều. Tưởng chừng cuộc sống sẽ cứ trôi qua êm ả như thế mãi cho đến già. Bất thình lình, một biến cố ập đến mà không ai, dù có trí tưởng tượng phong phú đến mức nào có thể hình dung ra nổi. Hôm ấy là 6h chiều, ngày 23 tháng 4 năm Nhâm Dần ( tức 26/5/1962) trong lúc cô Ba đang niệm Phật như hàng ngày, đột nhiên cô trông thấy một vị thần cao lớn, da đen sì sì thình lình xuất hiện. Ông ta hình thù kì quái, đầu và bụng to một cách bất thường. Dị dạng là vậy, nhưng thần thái ông ta vẫn toát lên một vẻ uy nghiêm của các đấng thần linh làm công vụ. Quá sợ hãi, cô hét lên một tiếng, rồi đổ vật xuống. Ngẩng lên thì cô bàng hoàng thấy linh hồn mình đã tách khỏi thân xác. Con cô rồi hàng xóm láng giềng chỉ một lát đã kéo đến bên cạnh thân thể cô, người xoa tay, người bóp cẳng, khóc lóc lay cô tỉnh dậy nhưng vô vọng. Cô đã tắt thở. Linh hồn cô Ba đứng ở một góc không xa, chứng kiến hết thảy mà không thể nói với mọi người được, họ không còn nghe thấy cô nữa. Nghĩ rằng mình hẳn đã chết, cô Ba lòng buồn vô hạn, tiếc cho một cuộc đời quá ngắn ngủi, tu hành chưa được bao lâu, nghiệp chướng không biết đã tiêu sạch hết chưa mà đã hồn lìa khỏi xác. Không biết làm gì tiếp theo, thôi thì cứ theo thói quen, cô bắt đầu niệm Phật. Lúc này đã có thêm mấy vị thần xuất hiện, có lẽ họ là quỷ sai do Diêm Vương cử đến để bắt hồn. Thấy cô niệm Phật thì họ cũng đổi sang thái độ hòa hoãn, vui vẻ hơn.Xuống Âm Ty
Rất nhanh họ đưa cô Bay lên cao, theo hướng Nam mà lao vút đi, bay mãi, bay qua làng mạc, thành phố, rồi đến biển cả bao la với những cơn gió lạnh buốt khiến cô Ba toàn thân tê tái. Họ chỉ dừng lại khi đến được một ngọn núi mà họ gọi là núi Thiết Vi – cái tên nghe quen quen, hình như trong kinh Địa Tạng có nhắc đến. Ngọn núi cao lớn, hùng vĩ đến mức khiến người ta dễ choáng ngợp, xung quanh là biển cả bao la. Trên đỉnh núi tuyết phủ trắng xóa, khí trời âm u lạnh lẽo, không tối hẳn mà có ánh sáng lờ mờ trong hơi sương bàng bạc. Tất cả toát lên một vẻ tôn nghiêm, lãnh khốc, khiến những ai mới đến lần đầu đều cảm thấy tinh thần mình bị một khối vô hình trấn áp, đè xuống nặng nề. Họ dẫn cô Ba đến một cửa đá lớn, một vị thần gõ vào ba tiếng thì cửa tự động mở ra, đi tiếp vào sâu trong núi. Cô Ba nghe thấy họ nói với nhau: “Bồ Tát đến rồi”. Và rồi ngay sau đó, là một quang cảnh hùng tráng hiện ra. Đền đài nguy nga tráng lệ, với những cột đá sừng sững, trạm khắc tinh xảo. Khắp nơi hào quang sáng chói, chiếu sáng rực cả một vùng rộng lớn xung quanh. Nơi phát ra hào quang ấy, là hai tòa tháp cao vời vợi, uy nghiêm, ngự ở trên đó là hai vị Bồ Tát tỏa ra ánh sáng tuyệt mỹ xong không kém phần tôn nghiêm. Đó chính là Quán Thế Âm Bồ Tát và Địa Tạng Vương Bồ Tát mà cô Ba đã lễ lạy không biết bao nhiêu lần khi còn ở dương thế. Mừng quá, cô Ba chạy đến tính lễ bái hai vị. Nhưng không để ý đằng sau hai vị Bồ Tát có một đàn gà, vịt khổng lồ đứng chờ sẵn ở đó. Thấy cô tiến lại gần, chúng liền lao ra chặn lại. Cũng là gà, vịt, nhưng chúng to lớn đến khiếp đảm, con nào con nấy phải to như con nghé vậy, kì lạ hơn nữa là chúng nói được tiếng người. Một con cất tiếng: – Chúng ta đợi nhà ngươi từ tháng 10 năm Sửu đến tháng 4 năm Dần mới gặp. Chúng ta được nghe Nhất Ðiện Tần Quảng Vương nói nhà ngươi đã quy y Phật pháp mà tu hành. Nhưng trước kia nhà ngươi ỷ mạnh sát hại chúng ta, nào cắt cổ, nhổ lông, phanh thây, xé thịt để đem lại sự giàu có cho mình mà chẳng chút xót thương đến loài sinh vật yếu đuối ngu khờ này. Ngày nay nhà ngươi xuống đây, chúng ta phải phanh thây ngươi trả hận. Dứt lời, cả một đàn phải đến hơn ngàn con gà lẫn vịt khổng lồ, ào lên như cơn lũ quét kinh hoàng bừng bừng lửa hận. Chúng mổ, chúng đạp, chúng cào, chúng xé, không phải từng nhát một mà xối xả như một cơn mưa rào loạn xạ. Toàn thân cô Ba nát bươm thịt máu lẫn lộn, đau đớn, quằn quại đến cùng tột. Có muốn gào lên thì cũng không có hở ra một giây phút nào để gào, vì phía trên nào móng vuốt, nào cẳng chân, nào mỏ nhọn hoắt liên hoàn trút xuống. Con này chưa mổ xong con khác đã ào lên chen chỗ đạp, cực kì hỗn loạn. Giữa cái thời khắc khủng khiếp ấy, thì một âm thanh trong trẻo, nhẹ nhàng nhưng rõ ràng, vang vang cất lên, chính là của Quán Thế Âm Bồ Tát, ngài từ tốn: – Này các con vật kia, hãy ngưng lại mà nghe ta nói hai điều. Ðiều thứ nhất, là các người tự do trả hận, nhưng tất cả đều phải đứng qua một bên, con này mổ rồi đứng qua bên kia, tới con khác mổ, như vậy mới công bằng. Số các ngươi là một ngàn mười một con, mà một con cứ mổ hoài, còn con khác không mổ được, rồi cứ kiện thưa mãi, ai ở đây mà phân xử cho nổi. Trả thù xong rồi, tùy theo nghiệp lực của các ngươi mà đi đầu thai, con nào còn kiếp thú thì làm thú, con nào mãn kiếp được tiến lên làm người, đó là điều thứ nhất. Còn điều thứ hai là nếu các ngươi không trả hận, để ta cứu nó sống dậy, nó sẽ tụng kinh cầu siêu cho các ngươi tiến lên đầu thai làm người hết, sau này nó sẽ làm thầy của các ngươi mà độ các ngươi tu hành. Trong hai điều, các ngươi muốn điều nào tùy ý, chứ luật công không ép. Câu nói của Quán Thế Âm Bồ Tát thật khiến cho lắm kẻ phàm phu quen suy nghĩ đơn giản phải một phen bất ngờ. Bồ Tát từ bi, vì sao Ngài không hề cản đám gà vịt kia phanh thây cắn xé để bảo vệ cô Ba, thậm chí Ngài còn chủ ý sắp xếp cho bọn chúng báo thù một cách bài bản hơn ? Vì sao ? Vì sự hiểu biết của một bậc Bồ Tát thì cao thâm hơn phàm phu vô vàn lần, Ngài biết rằng “oan có đầu, nợ có chủ”, cản trở chúng là không công bằng. Chúng sinh bình đẳng, không thể vì cảm tính thương chúng sinh này hơn, nên bảo vệ, không thương chúng sinh kia nên mặc kệ oan ức của chúng, mà cần phải bình đẳng cả hai bên, mặt khác cần phải tôn trọng quy luật. Nay ngươi giết ta, mai ta giết ngươi báo thù, đó là Nhân Quả công bằng, dù rất tàn khốc, dẫn đến oan oan tương báo bất tận, nhưng đó lại là quy luật vũ trụ. Không một người ngoài cuộc nào dù uy quyền cao đến đâu có thể lấy quyền năng của mình chặn đứng dòng Nhân Quả, không cho đám gà vịt ấy báo thù được, trừ khi bằng một cách nào đó, khiến chính chúng muốn tha, thôi không báo thù nữa. Ấy thế nhưng rất lạ, đám đông gà vịt kia nghe câu nói của Quán Thế Âm Bồ Tát xong rồi, chúng ngẫm nghĩ một thoáng, rồi đồng loạt dừng lại, từ từ tản ra xa, chừa lại một khoảng trống cho cô Ba thoi thóp thở. Bồ Tát bảo tiếp: -Các ngươi cứ từ từ mà trả hận đi. Chúng trả lời: -Bây giờ chúng tôi muốn ả này tỉnh dậy để cầu siêu cho chúng tôi được làm người, chứ mang kiếp thú hoài, khổ quá! Kết quả, dù không ai cản nhưng chúng cũng bình tâm lại mà từ bỏ báo thù. Lời Bồ Tát nói đã khiến chúng tỉnh ra, nghe qua tưởng đơn giản nhưng một câu nói ấy lại ẩn chứa lòng từ bi và trí tuệ ảo diệu, không thiên lệch bất bình đẳng, không đi ngược quy luật Nhân Quả, đưa ra một phương án mà các bên đều có lợi, hóa giải tận gốc rễ vấn đề. Bồ Tát sai một vị thần đem một thứ nước gì đó tưới vào cô Ba, liền đó cô hồi phục lại. Nhìn quanh, thấy đã thoát khỏi trận huyết tẩy thâm thù của đám gà vịt kia, phần vì hối hận tội lỗi xưa của mình, phần vì cảm kích ân cứu nguy, cô Ba lết đến vái lạy Quán Thế Âm Bồ Tát liên tục. Ngài từ tốn nói: – Nhờ ngươi thức tỉnh tu hành, thọ trì đọc tụng kinh pháp trong 6 năm và cũng may là các con vật này nó họp lại đây để kiện người, xin trả thù có một lần. Bằng không, tự nhiên các kiếp sau này ngươi phải đầu thai làm súc sinh trong một ngàn mười một kiếp để thường mạng (tức một mạng đền một mạng), thì biết bao giờ mới trở lại làm người mà tu hành ? Chúng sinh mê muội, không rõ luật Nhân Quả, cứ tưởng chết rồi là hết, cho rằng “Vật phải dưỡng nhân” rồi mạnh tay sát hại, chừng khi quả báo đến thì kêu trời, kêu đất, ai cứu được. Nhà ngươi có biết các con vật ấy là gì của ngươi không? – Bạch Bồ Tát, con chỉ biết đó là con vật thôi. – Đó là ông bà, cha mẹ, thân bằng quyến thuộc của ngươi trong nhiều đời, nhiều kiếp. Trước kia chúng cũng sát sinh như ngươi nên phải đầu thai làm kiếp súc sinh, ngươi nhìn chẳng ra nên đành tâm sát hại chúng. Ngày nay ông bà cha mẹ tiền kiếp của ngươi lại kiện cáo ngươi để trả thù, thế gian là trả trả vay vay như vậy đó. Chúng sinh cõi Diêm Phù Đề ưa sát hại sinh vật cho cha mẹ, chồng con ăn bổ dưỡng thân thể, hoặc bắt cá, cua để nuôi con cháu. Vì thương mà hại đó là mình hại mình, hại luôn cả cha mẹ, thân quyến đều phải chịu tội chung. Bây giờ ngươi hãy tụng kinh cầu siêu cho chúng nó được tiến lên làm người, giảng cho chúng nó nghe một bài, khuyên chúng nó ráng niệm Phật, và quy y Phật- Pháp- Tăng cho chúng nó. – Con phải tụng kinh gì để cầu siêu cho chúng nó tiến lên làm người ?- cô Ba cung kính hỏi. – Ngươi hãy tụng Ðại Bi -Thập Chú (tức chú Đại Bi và mười thần chú khác), đủ một ngàn mười một biến (một biến tức là một lần) Nghe xong, không để mất thì giờ, cô Ba liền đứng chắp tay và trì tụng Đại Bi Thập Chú một cách rất thành khẩn. Nhưng một nghìn không trăm mười một lần là cũng mất rất nhiều thời gian, vậy nên các vị thần và quỷ sai quanh đó cũng tập trung lại cùng trì tụng giúp cô Ba siêu độ số oan gia gà vịt được nhanh hơn. Nhờ thế chẳng bao lâu sau, đám gà vịt ấy đã đủ công đức được đi đầu thai kiếp người. Chúng lần lượt tiến ra sông Ứ Nê cách đó không xa, một số vị thần múc nước sông ở nhánh nước sông màu trắng cho chúng uống. Con nào uống đủ ba ly, liền rụng hết lông cánh, tay chân mọc ra, biến trở lại thành hình người. Cuối cùng cô Ba đứng thuyết cho chúng nghe một bài pháp, khuyên giải về sự tu hành trong kiếp người, khuyên chúng niệm Phật và quy y Tam Bảo cho chúng. Xong xuôi, một số vị thần lấy ra một cái hồ lô, thu nhỏ chúng lại, hút vào hồ lô, rồi đem lên nhân gian đi đầu thai. Khi họ đã đi khỏi, cô Ba quay lại nơi hai vị Bồ Tát, nghe các Ngài phán: – Ngươi tạo tội ác tày trời, nay dám nguyện trả xong trong một kiếp, có chịu nổi không? – Bạch con chịu nổi. – Vậy thì vào gặp Nhất Ðiện Tần Quảng Vương mà lãnh án. Điện xét xử của Tần Quảng Vương cách đó không bao xa, đó là một trong mười vị Diêm Vương cai quản chốn Âm Phủ. Không đơn giản như người đời vẫn nghĩ về Diêm Vương là chỉ có một người, thực tế Diêm Vương là một chức vụ chung, chia ra mười vị, gọi là Thập Điện Diêm Vương, mỗi vị đảm nhiệm một chức trách khác nhau. Nhất Ðiện Tần Quảng Vương đảm nhiệm việc xét xử, ra phán quyết cho từng linh hồn, phụ giúp Tần Quảng Vương còn có chức vụ Phán quan, chuyên dò xét sổ Sinh Tử để không bỏ sót việc công hay tội nào trong lúc xét xử. Đến trước điện Diêm La, trên cao là Diêm Vương ngồi trên ngai vàng đường bệ, uy nghiêm, đôi mắt trừng trừng nhìn xuống như muốn nói “Ở đây không gì qua được mắt trẫm”, xung quanh tả hữu các quỷ sai mặt mày hung tợn, lạnh lùng, tề chỉnh, binh khí lăm lăm trên tay sẵn sàng đợi lệnh, cô Ba bất giác sợ hãi quỳ xuống, tinh thần hoang mang không biết tội trạng nào sẽ đổ xuống đầu, chỉ biết run rẩy chờ đợi. – Tội lỗi của ngươi rất lớn, nay ngươi nguyện trả xong trong một kiếp thì cứ khai đi –Tần Quảng Vương cất tiếng phán, âm thanh vang rền mang theo một sức mạnh uy quyền ghê gớm. – Bạch Diêm Vương, con có tội sát sinh vì con giết vật rất nhiều, tội trộm cắp vì mua bán gian xảo, tội tà dâm vì có bảy đời chồng, tội nói láo vì con nói láo hơn ai hết, đã vậy mà còn uống rượu nữa… Cô Ba nói đến đâu thì Phán Quan dò trên sổ đến đó một cách chăm chú. Thấy cô Ba dừng, Tần Quảng Vương quát lớn: – Còn tội bán đồ lậu chợ đen sao không khai ? Mua một bán mười làm cho kẻ nghèo không đủ tiền mua, tội ấy như tội ăn cướp, lòng độc như rắn, muốn đầy túi mình chẳng biết thương hại ai. – Bạch ngài, tôi xin chịu tội. Trầm ngâm một chút, Tần Quảng Vương phán : – Ngươi tội sát sinh rất nặng, theo lẽ phải thường mạng, nhưng hôm nay ngươi xuống đây cho chúng nó trả hận, và cầu siêu cho chúng nó coi như đã xong. Nhưng vẫn còn dư báo, nếu sau này ngươi tu hành độ chúng nó thì chấm dứt oan gia, bằng thối thất thì phải chịu thường mạng. Nhờ lòng hiếu thảo nên nay trừ được tội gian tham và tội bán đồ lậu. Hàng ngày niệm Phật rất nhiều nên trừ được tội nói láo. Còn tội dâm dục tuy có mà không tính, vì đó là ngươi đang trả nghiệp. Ngươi hãy lắng nghe ta nhắc lại tiền kiếp của ngươi: Trong sáu kiếp qua ngươi quy y Tam Bảo mà tu hành, nhưng tiếc thay, kiếp vừa qua ngươi xuất gia, từ 8 tuổi cho đến 42 tuổi tu hành tinh tấn, giới hạnh thanh tịnh, độ chúng sinh cũng đông cho nên được làm Hòa Thượng, trụ trì chùa Tổ Ðình vùng Phú Thọ, Chợ Lớn. Nhờ công đức năm kiếp trước cho nên kiếp thứ sáu vừa qua được thông minh sáng suốt, tinh thông kinh – luật – luận, nên được bá tánh sùng bái, các vị Tăng Ni mến phục. Vì học giỏi được người người kính nể, ngươi sinh cống cao ngạo mạn tưởng mình là Phật, lấy làm tự đắc buông lung, không kềm tâm thúc ý, để tâm ý rong ruổi theo trần cảnh, giới luật buông xuôi, tâm đạo giải đãi, lòng phàm bừng dậy, đắm sắc tham tiền, mới phá giới, phạm trai mà tư dâm với cô gái 20 tuổi ở gần chùa. Lấy tiền của Thường Trụ mà nuôi gái tơ, lấy vật dụng của Tam Bảo để mua chuộc ái tình, cho đến 70 tuổi ngươi mới chết. Khi chết xuống đây phải ở địa ngục thứ chín trong 28 năm để đền tội lỗi từ 42 tuổi đến 70 tuổi. Vì lẽ trên, nên bảy đời chồng của ngươi trong kiếp này là bảy người đệ tử ruột của ngươi đi đòi nợ trong kiếp vừa qua, đã cung phụng cho ngươi đủ thức ngon vật lạ. Theo lẽ kiếp này ngươi còn phải làm gái lầu xanh mà trả nợ trăm họ. May nhờ ngươi sớm thức tỉnh tu hành, hồi 17 tuổi có quy y Tam Bảo với Ðại Ðức Thích Hoằng Nghĩa. Ngài dạy ngươi niệm Phật và tụng chú Ðại Bi. Nhờ thế mà qua khỏi nghiệp ở lầu xanh, nhưng phải chịu nghèo khổ buôn bán tảo tần để trả nợ. Từng câu từng chữ Tần Quảng Vương phán giống như từng nhát búa đanh thép nện xuống chắc nịch. Ấy chính là bản tuyên cáo chính thức của luật Nhân Quả. Nghe xong, cô Ba mới bàng hoàng hiểu ra quá khứ phức tạp của mình. Hóa ra cô không chỉ mới biết theo Phật tu tập ở kiếp này, mà nhiều kiếp xưa cũng từng tu học theo Phật, có lúc làm đến Hòa thượng, được ngồi ở trên cao trọng vọng. Mà trò đời thật khó lường, đã xuất gia tinh tấn, thông thạo giáo lý, giới luật tinh nghiêm đến mấy chục năm, ấy vậy mà lại không vượt qua được dục vọng trong lòng. Thế mới biết thế gian nhiều người hiểu biết quá nông cạn, cứ nghĩ cạo đầu xuất gia là sẽ dứt bỏ được bụi trần. Đâu có đơn giản như vậy, vì bụi trần nằm sâu trong tâm chứ đâu có phải ở mấy cọng tóc, tham sân si ẩn sâu trong tiềm thức, chứ đâu nằm ở tấm áo, lại ảo tưởng rằng cạo đầu khoác áo cà sa là sẽ được thanh tịnh ?!! Ngay cả mấy chục năm tu hành chuẩn mực thì cũng chưa chắc chắn được gì cả. Đến khi ngồi trên đỉnh cao được mọi người cung kính, nào biết cái “đỉnh cao” lại nguy hiểm đến vậy. Ngôi vị cao thì kích phát lòng kiêu ngạo, ngã mạn âm thầm phát triển. Kiêu ngạo đã có, thì nó từ từ mở đường cho đủ thứ dục vọng trỗi dậy, nào tham tiềm, nào mê gái, nào thèm của ngon vật lạ… Đến khi dục vọng tích chứa đủ mạnh rồi, thì lý trí đâu có kiềm chế nổi nữa. Và rồi đổ đốn chỉ là sớm hay muộn. Cuối cùng, bên ngoài thì là cao tăng đại đức, ai cũng nghĩ là thánh thiện, đạo cao đức trọng, mà người ta nào biết bên trong tà tâm ngập ngụa, đang tâm dám làm những việc biết rõ mười mươi là quả báo khốc liệt: gian dâm, trộm tiền Tam Bảo mà nuôi gái, ăn thịt uống rượu, phạm giới, phá hoại thanh danh đạo Phật. Mà việc đã làm thì Nhân Quả Nghiệp Báo nào có tha, từng chút từng chút chi ly, rạch ròi. Để rồi lãnh trọn quả báo địa ngục suốt mấy chục năm thê thảm. Dư báo còn kéo dài đến nhiều kiếp sau khổ sở lê lết. Thế mới biết, một chữ “tu” nói thì dễ, mà làm thì khó biết chừng nào. Nhất Ðiện Tần Quảng vương phán tiếp: -Ngươi hãy nghe cho rõ lời trẫm phán: Trong lúc làm Hòa Thượng mà còn mê đắm nhan sắc đàn bà nên lãnh tội đui mù. Ðã là hàng Ðại Ðức trụ trì ngôi Tam Bảo mà đêm đêm sang nhà gái ăn thịt uống rượu mà miệng còn thốt câu: “Vật dưỡng nhân”, không làm gương cho người thế, còn xúi người làm ác nên lãnh tội câm. Ðã xuất gia đầu Phật còn thích nghe tiếng nỉ non êm ả của đàn bà con gái nên lãnh tội điếc, nhưng ngươi biết sớm ăn năn tu hành theo Phật, và cũng nhờ lời đại nguyện của ngươi xin trả nghiệp trong một kiếp. Số ngươi chưa tận, nên cho hoàn dương. Thôi hãy lãnh án mà trở về dương thế làm gương cho người đời, nếu biết ăn năn cố gắng tu hành khi xuống đây sẽ định lại. Nghe thấy mình được hoàn dương, nhưng sẽ bị mù, câm, điếc, vừa mừng vừa tủi, cô Ba khẩn khoản: – Bạch Diêm Vương, tội câm và điếc con xin lãnh còn tội đui mù xin Ngài khoan hồng cho tôi. – Nghiệp lực của ngươi trẫm không thể nào tha được, ngươi hãy đến Bồ Tát mà xin. Cô Ba liền đó chạy đến trước Quán Thế Âm Bồ Tát mà xin Ngài. Ngài nói: – Ngươi muốn sáng mắt để làm gì? – Bạch Bồ Tát, con thấy chúng sinh nơi địa ngục quá khổ sở nên xin được sáng mắt để tụng kinh Pháp Hoa cầu nguyện cho chúng sinh mau sớm siêu thoát. Địa Tạng Vương Bồ Tát lúc này mới lên tiếng: – Nếu có lời đại nguyện thì phải đốt tâm. Ngay sau đó một vị thần bưng một cái khay như khay trầu đến quỳ trước Bồ Tát, một vị khác đến gắp từ trong khay một cục màu đen đang bốc lửa hừng hực đến bảo cô Ba nuốt. Thấy lửa thì sợ lắm, nhưng cô Ba không dám cãi, há miệng nuốt vào. Lập tức toàn thân cô bỏng rát, lửa bốc ngùn ngụt từ chân tới đầu, cô kinh sợ đến thất hồn lạc phách. Liên tiếp vị thần kia gắp thêm hai cục đen nữa bắt cô Ba nuốt, cũng đều bốc lửa như vậy. Cô đau đớn, ngồi không vững nữa, gục xuống. Đến cục thứ tư, là một cục màu trắng, cũng bốc lửa, nhưng khi nuốt vào thì không thấy nóng, mà bình thường như nuốt cơm vậy. Mấy chục cục tiếp theo cũng thế, đều là màu trắng, duy có một cục màu đỏ, nhưng đều không nóng. Đốt tâm xong, cô Ba thoát được nghiệp đui mù. Quán Thế Âm Bồ Tát dạy: – Tham, sân, si của ngươi hãy còn, ba cục đen là chỉ lòng tham, sân, si của ngươi đấy! Còn cục đỏ này là chỉ ngươi sẽ sinh lên cõi trời, 36 cục trắng kia chỉ lòng trong sạch của ngươi. Vì ngươi quá sợ tội nên quyết chí tu hành, lòng trần không còn nghĩ đến. Như vậy cũng tốt, nhưng phải tinh tấn tu hành cho 3 cục đen này hóa trắng thì ngươi mới hoàn toàn trong sạch, và vì lời đại nguyện từ kiếp trước nên giờ ngươi phải đi phá Ðịa Ngục. Cô Ba ngơ ngẩn không biết phá địa ngục bằng cách nào, nghĩ mãi không ra, thôi thì cô quen niệm Phật nên cứ theo cách này. Cô qua gặp Tần Quảng Vương xin lãnh ấn và được mười tám vị thần dẫn đi khám phá các địa ngục.Vào địa ngục lần thứ nhất


Địa ngục không phải chỉ có một khu, mà là cả một thế giới khổng lồ, trên thì nền trời âm u, dưới thì nơi nơi xộc lên những mùi tanh hôi khó ngửi, đâu đâu cũng thấy quỷ sứ cao lớn, hoặc đầu trâu, mặt ngựa, hoặc một hình thù quái dị nào khác, mà chỉ nhìn họ thôi tim cũng đã giật thót, đập loạn xạ cả lên rồi. Địa ngục chia làm nhiều khu vực, không hiểu sao trên dương thế chia làm 18 tầng, nhưng gọi vậy không đúng, vì các khu vực không có phân vị trí cao thấp theo tầng, cũng không phải chỉ có 18, có các khu lớn gọi là đại địa ngục, lớn mênh mông bể sở, nhìn không thấy bến bờ. Mỗi đại địa ngục lại chia ra nhiều tiểu địa ngục hành hình các tội khác nhau. Tội hồn chịu hết cực hình trong địa ngục này rồi, nếu vẫn còn nghiệp khác, sẽ bị đưa qua địa ngục khác tra tấn tiếp. Ba ngục đầu cô Ba đến không phải khu hành hình, mà là khu giữ các linh hồn. Ngục thứ nhất là các linh hồn chờ phân xử, chia ra làm 4 loại: số công, số oan, số ưng, số phạt. Số công là các linh hồn chết bình thường, hết tuổi thọ mà chết, và không phạm phải tội giết người. Số oan là kiếp trước không giết người nhưng kiếp này bị người ta giết. Số ưng là kiếp trước giết người nên kiếp này bị người ta giết lại. Số phạt là các vong hồn chết oan rồi không chịu xuống âm ty, lẩn trốn trên dương gian quấy phá người sống, khiến các vị thần phải tốn công theo dõi, nay bắt được đem xuống đây phạt. Sau khi được phân xử xong, các linh hồn này được đưa qua Ngục thứ hai, tùy theo bản án như thế nào mà được các vị thần dẫn đi các nẻo khác nhau, hoặc đi đầu thai kiếp người, hoặc kiếp súc sinh, hoặc đưa đến các cõi tiên, hoặc tống vào địa ngục hành hình. Một vị thần đi cùng cô chỉ vào các vong hồn thuộc số oan mà nói: – Nếu vong nào trước kia không giết ai, nay bị người giết, xong xem nhẹ sống chết, không hận thù, có lòng buông xả, không đòi báo thù thì dù vong ấy có tạo tội cũng được ân xá, đưa đến cõi Nhân Hiền tu thêm, chỉ có tội ngũ nghịch là không trừ được. Còn vong nào cứ xin đi trả thù thì không được hưởng ân xá như vậy. Cô Ba gật gù, thế mới biết giá trị của lòng bao dung, tha thứ là như thế nào, khi mình sẵn lòng tha thứ cho tội lỗi của người khác, thế thì tội lỗi của mình cũng sẽ được tha. Qua ngục thứ ba, là nơi chứa các linh hồn đã chịu cực hình trong các địa ngục khác xong, nay mãn hạn, ở đây chờ xét xử lại và nhận bản án tiếp theo. Trong ba ngục đầu, cô Ba đến từng nơi, lớn tiếng nói với các linh hồn: – Các vị, tôi coi các vong ở ngục này như bà con, cô bác của tôi vậy. Cô bác hãy niệm Phật, có niệm Phật tội mới được tiêu trừ, hãy theo tôi niệm : “Nam Mô A Di Ðà Phật”. “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”. “Nam Mô Tầm Thanh Cứu Khổ Quan Thế Âm Bồ Tát”. ” Nam Mô Ðại Nguyện Ðịa Tạng Vương Bồ Tát.” Rất nhiều vong hồn nghe thấy thế liền niệm theo, ban đầu còn lẻ tẻ, sau từng tốp từng tốp vang vang tiếng niệm Phật, tuy thế cũng không phải tất cả đều chịu niệm Phật. Những vong hồn nào niệm Phật thì chỉ một lát liền thoát khỏi ngục, số nào cứng đầu, nghiệp chướng nặng nề không chịu niệm thì tiếp tục ở lại. Đến ngục thứ tư, là nơi chịu cực hình cho các vong hồn khi còn sống phạm tội đổ bỏ, hủy hoại đồ ăn thức uống. Hình phạt cho họ là ăn giòi, từng lu từng vại giòi nhung nhúc, bốc mùi kinh tởm, bày la liệt khắp nơi. Tùy theo số đồ ăn đã đổ bỏ mà kẻ phải ăn một lu giòi nhỏ, kẻ phải ăn vài lu giòi lớn, có kẻ nghiệp nặng, số lu giòi phải ăn chất đầy như chợ Mỹ Tho vậy. Ngoài ra đây cũng là nơi những kẻ khi còn sống hành nghề nấu rượu. Hình phạt cho họ là phải uống hàng lu rượu, kẻ hai ba lu, kẻ năm bảy lu, kẻ thì số lu rượu phải uống xếp dài cả cây số. Tất nhiên rượu trong địa ngục thì không hề ngon nghẻ gì, cô Ba không nếm qua xong thấy các tội hồn phải uống đều kêu gào quằn quại, nên đoán nó rất khủng khiếp. Cũng như ba ngục trước, cô Ba đi khắp nơi khuyên các tội hồn niệm Phật, rồi niệm lớn cho họ cùng niệm theo. Hễ tội hồn nào nghe lời niệm Phật, thì giòi trong lu biến mất, rượu trong lu cạn đi. Thấy sự tình vi diệu như thế, các tội hồn truyền tai nhau, cứ thế tiếng niệm Phật lan ra khắp nơi, một số lượng đông đảo tội hồn ở ngục này được thoát ra. Bước đến ngục thứ năm, là địa ngục hành hình những kẻ vu khống, thêm bớt, gian dối khiến người khác bị tù đày. Các tội hồn phải bị mang gông tra cùm, mà cái gông thì cực kì to lớn, nặng nề, phía sau thì quỷ sứ đánh tới tấp giục đi, cứ mỗi bước là một roi. Các tội hồn toàn thân đẫm máu, rên siết lết từng bước. Hễ kẻ nào đi không nổi, gục xuống là bị quỷ sứ đánh dồn đánh dập, đánh đến tan xương nát thịt. Nếu bị đánh chết thì quỷ sứ dùng phép hoàn hồn sống lại, lại tiếp tục đeo gông, lại tiếp tục đòn roi, cứ thế nối nhau bất tận. Đến bao giờ mới hết thì còn tùy nghiệp mỗi người nặng nhẹ khác nhau, vài năm, vài chục năm, cho đến vài chục ngàn năm, vài tỉ năm. Ngoài ra, ở đây có một số tội hồn khi còn sống bắt giam chim thú vào lồng để chơi, thỏa mãn thú vui tao nhã, có biết đâu chính mình cũng sẽ chịu cảnh giam cầm tương tự. Chết rồi vào đây, họ bị nhốt trong lồng sắt, than khóc khổ sở. Được cô Ba khuyên niệm Phật, một số liền nghe theo mà niệm thì gông cùm rơi rụng, lồng sắt vỡ tan và họ được thoát ra. Đến ngục thứ sáu, nơi nơi toàn lửa là lửa. Cô Ba bị choáng ngợp bởi sức nóng ran của lửa bạo phát hừng hực khắp nơi. Nơi đây chủ yếu hành hình những kẻ khi sống sát sinh, giết hại muôn loài: trâu, bò, heo, chó, gà, vịt, rắn, rùa v.v… ngoài ra còn có thêm một số tội danh khác như bất hiếu, chửi cha mắng mẹ, bỏ mặc cha mẹ, tiêu xài hoang phí. Nơi đây có những ngọn núi khổng lồ, từ mặt đất bùng bùng cháy lên những đám lửa bỏng rát, chính giữa núi lại có một cột đồng cháy đỏ rực, hẳn là nóng nhất trong các thể loại nóng. Tội hồn nào chỉ ăn thịt mà không tự tay giết thì bị vứt lên núi lửa, còn vừa ăn vừa giết thì bị quỷ sứ vứt lên cột đồng. Tiếng thịt cháy xèo xèo, tiếng gào thét thất thanh hòa trộn với mùi hôi thối, khét lẹt thực sự kinh dị vô vàn. Khi sống họ nướng, họ chiên thịt chúng sinh, chỉ nghĩ đến cái vị thơm ngon đầu lưỡi, không nghĩ đến đau khổ của muôn loài. Và giờ, khi bánh xe nghiệp báo quay ngược trở lại họ, họ phải nếm trải cái đau đớn đã gây ra cho chúng sinh ở một mức độ thảm khốc hơn nhiều. Đáng sợ ! Ấy thế mà rất ít người quan tâm đến vấn đề này. Lúc còn sống, còn cơ hội thay đổi, thì hễ ai khuyên ăn chay, đừng sát sinh, thì cười nhạo, thì làm thinh, hoặc viện mọi lý do vì sức khỏe, vì ngoại giao, vì này vì nọ… Để đến lúc vào đây rồi, vì lí do gì cũng chẳng ý nghĩa chi cả. Ở địa ngục thì lửa và quỷ sứ không cần nghe câu giải thích. Cô Ba tiếp tục chạy đôn chạy đáo khắp nơi khuyên các tội hồn niệm Phật, xong khó quá. Nghiệp chướng quá nặng, họ không niệm được, trừ một số ít những kẻ nghiệp nhẹ ở phía ngoài núi lửa còn niệm được đôi chút mà thoát cực hình. Cô đành rời chỗ đó đi tiếp. Đi một đoạn thì thấy một đám đông người đang chăn nuôi heo, bò, gà, vịt .v.v.. Cô Ba ngạc nhiên: – Ủa! Ở địa ngục cũng có nuôi heo gà, bò dê nữa hay sao ? – Không phải, đây là những chúng sinh, khi còn sống nuôi bò, dê, heo, gà, vịt… để kiếm lợi chứ không sát sinh – một vị thần đi cùng cô giải thích – Chúng phải ở đây mà giữ số thú này, chừng nào số thú này mãn kiếp thú thì chúng mới được đi đầu thai. Ðó là chưa kể những tội khác, còn phải đến các địa ngục khác mà chịu tội nữa. Đi tiếp một đoạn, thì gặp một cảnh tượng hết sức bi hài. Một đám tội hồn bị các quỷ sứ bắt phải hát, hát liên tục, chỉ cần hát không được thì lập tức quỷ sứ ập vào đánh tới tấp liên hoàn đến chết đi sống lại. Lại hát tiếp… Một vị thần giải thích cho cô Ba, đó là những kẻ khi sống dư giả, bỏ tiền đi xem hát mấy cái thể loại âm nhạc kích thích tình ái, khiêu gợi tình dục, dẫn đến tâm thần say mê, mờ mịt. Vị ấy nói thêm: – Những chúng sinh nầy khi còn sống được giàu sang rồi ăn xài lãng phí, phải chi chúng nó dùng tiền để bố thí cho người nghèo đói, hoặc in kinh, tạc tượng Phật, hoặc cúng chùa ủng hộ quý tăng ni tu học thì quý báu biết bao! Lúc chết được sinh về cõi trời hưởng phước, kiếp sau tu thêm mà đạt đến Niết Bàn, chứ đâu mê muội xài phí đồng tiền vô ích mà nay phải vào địa ngục. Đi tiếp một chặng, một cây cầu từ từ hiện ra, nó được gọi tên là cầu Nại Hà, cầu không có tay vịn gì cả, nhìn rất chòng chành, nó không bắc qua sông, mà bắc qua một cái vực không sâu lắm, lớn chừng năm mẫu đất, hoặc có thể hơn. Phía dưới ngập đầy các loại súc sinh cầm thú: voi, hổ, báo, ngựa, dê, lợn, gà, vịt, chó, mèo, rắn, rết… đủ chủng loại. Mỗi loài đứng tụ lại thành một bầy đàn, con nào con nấy ánh mắt hau háu nhìn lên, trực chờ kẻ nào ngã khỏi cầu rơi xuống là cả bầy vồ đến cắn xé. Cô Ba được dẫn lên cầu cùng với các tội hồn khác. Hễ kẻ nào khi sống giết chó, thì đi qua chỗ đàn chó, tự nhiên Nghiệp lực khiến cho té ngã, rơi khỏi cầu, ngã xuống đàn chó phía bên dưới đang nhe nanh nhỏ dãi… Lập tức chúng xồ đến, từng cú đớp, từng cú nhay, xé toạc tội hồn ra từng mảnh, máu thịt vương vãi tung tóe. Tương tự, kẻ giết trâu bò thì bị rơi xuống chỗ đàn trâu bò cho chúng húc, chúng đạp đến chết. Kẻ giết rắn thì gặp đàn rắn lập tức ngã xuống… Một màn kinh dị, toàn thân họ nhung nhúc toàn rắn là rắn cuốn quanh, bị chúng cắn, bị chúng siết. Khắp nơi phía dưới cầu đều cực kì hỗn loạn, nào voi hú với những cú đạp long trời lở đất. Nào hổ gầm, nhảy qua nhảy lại vồ người cắn xé. Nào trâu bò, nào dê chĩa sừng húc túi bụi. Nào chim chóc, gà vịt tua tủa mỏ nhọn, móng sắc mổ, đạp lia lịa … Phía trên cầu thì các tội hồn run rẩy bước đi, sợ hãi đến tột cùng, không biết khi nào thì mình bị rơi xuống dưới. Cô Ba cũng phải đi qua cầu, nhưng may là lúc trước, đám gà vịt bị cô giết đã được cô cầu siêu cả rồi, nên cô đi qua hết cây cầu mà không bị ngã xuống, quả thật được một phen hú vía. Đang đi thì có một con vật kì quái chạy đến, thân thì là người, đầu thì là chó. Mà cái mặt nó lại trông rất quen. – Cô Ba, tôi là chó Nô đây, cô quên tôi sao? Đến đây, cô mới sực nhớ ra, cái mặt đó là mặt của một chú chó nuôi trên chùa, thỉnh thoảng cô lên chùa gặp cũng hay vuốt ve nó, sau nó bị dính bả mà chết. – Ủa, Nô! Mầy chết lâu rồi sao còn ở đây? Nó nói: -Tôi kiếp trước là đệ tử của thầy Giác Tân, vì lòng tham lấy của Tam Bảo, nên phải làm kiếp chó để giữ chùa, kiếp tôi chưa mãn, bị một gã đánh bả thuốc tôi chết, tôi quyết chờ gã xuống đây, trả hận. – Thôi mày xin đi đầu thai đi, thù oán làm gì cho khổ, chẳng lẽ mày đợi mãi sao ? Gặp thoáng chốc nói được vài câu rồi cô Ba đi tiếp, một vị thần nói với cô Ba: – Ngươi thấy chưa, chúng nó vì tội sát sinh hại mạng mà khổ sở như vậy, khi về dương gian, ráng khuyên người đừng sát sinh hại vật và cũng đừng đốt giấy tiền vàng mã, vì chỉ có tội chứ không có phước. Đến ngục thứ bảy, ập vào mũi cô Ba là mùi máu xộc lên tanh tưởi đến rợn người. Trùng trùng điệp điệp khắp nơi bày ra vô số những màn tra tấn đẫm máu me như cắt lưỡi, bẻ răng, móc mắt, xẻo tai, cắt mũi, moi ruột … Những quỷ sứ to lớn, ánh mắt hung tợn, tay lăm lăm không đao thì kiếm, không kìm thì móc sắt, không dao phay thì dao găm nhọn hoắt, sáng loáng, chúng đè từng tội hồn ra mà móc, mà kéo lưỡi, kéo tai, cắt, chặt … liên tục. Các tội hồn gào rú thảm thiết, máu phun như suối. Cứ chặt đứt rồi, lưỡi, tai, mắt… lại hoàn trở lại như ban đầu, lại cắt, lại chặt tiếp, nối nhau bất tận. Có những kẻ bị bằm nát đến chết, máu thịt bầy nhầy không phân biệt được cái nào ra cái nào, thế rồi quỷ sứ lấy một bình nước gì đó tưới lên, lập tức sống lại, thân hình trở lại như ban đầu, lại tiếp tục màn đâm chém. Cứ thế tội hồn một ngày muôn lần chết, muôn lần sống lại, cực hình nối nhau không dứt. Đến lúc này oai thần của cô Ba tích được do tụng trì kinh chú và niệm Phật đã cạn, cô bắt đầu thấy rất mệt, xong cố gắng gồng mình bước tiếp. Được một đoạn cô nhìn thấy một người, không ai xa lạ, chính là người cậu của cô mới mất cách đây hai tháng, đang bị quỷ sứ đâm dao ngập cán vào bụng, rồi thọc bàn tay xương xẩu vào moi từng khúc ruột ra. Đồng thời trên đầu, một quỷ sứ khác banh mồm, thọc cây kìm sắt to bè vào bẻ từng cái răng kêu răng rắc. Máu từ bụng, từ mồm tuôn ra lênh láng, đỏ lòm cả một khoảng rộng trên đất. Vừa sợ, vừa thương xót cậu, tâm lý chịu không nổi, cô Ba ngã lăn ra bất tỉnh. Các vị thần đưa cô Ba đến Thất Điện gặp Thái Sơn Vương – vị Diêm Vương thứ bảy cai quản ngục này. Khi tỉnh lại, cô Ba xin với Thất Điện Thái Sơn Vương được quay trở vào ngục nhưng ngài từ chối: – Không được, vì oai thần của ngươi đã giảm, hãy về tu thêm. – Tôi có người cậu chết hồi tháng hai, đang chịu tội trong ngục, xin Ngài cho tôi trở vào thăm. – Không được, để ta cho quỉ sứ dẫn cậu ngươi ra. Quỉ sứ y lệnh đưa ông ta ra, cô Ba chạy đến vồ vập hỏi: – Hồi đó cậu nói với con cậu tụng kinh Pháp Hoa 40 năm, sao nay cậu còn bị đọa vào địa ngục ? Ông cậu cô Ba thều thào trả lời: – Là cậu nói láo đó. Chính vì cậu nói láo nên nay mới bị hình phạt bẻ răng như vầy. Cậu còn cái tội khinh rẻ người đời, lại thêm hành nghề bốc thuốc tính giá cắt cổ nữa. Vậy con về nói với thằng Khanh, thằng Chình con của cậu, phải bán hết gia sản làm cơm chay mà bố thí, phóng sinh hoặc ấn tống kinh cúng chùa mà cầu siêu cho cậu, vì của ấy là mồ hôi nước mắt của người đời, cậu bóc lột của họ nhiều quá. -Thôi cậu hãy ráng niệm Phật, khi trở về dương thế, con sẽ tụng kinh mà cầu siêu cho cậu, chứ con cậu dễ gì tin theo lời con nói. Lúc ấy Thất Ðiện Thái Sơn Vương cất lời: -Chúng sinh ở cõi Diêm Phù Đề thật quá mê muội, tưởng chết rồi là hết, nên thẳng tay tạo điều ác nghiệp, đến khi chết xuống địa ngục ăn năn đã muộn. Khi về dương gian, Trẫm có đôi lời nhắn nhủ với chúng sinh, mỗi ngày phải ráng tu một giờ, hay nửa giờ, hoặc niệm Phật, hoặc tụng kinh trì chú. Ngươi cũng khuyên chúng sinh đừng đốt giấy tiền vàng mã cầu siêu cho ông bà. Nếu vậy không lẽ Nhất Ðiện Tần Quảng Vương đi ăn hối lộ của người dương thế hay sao? Muốn cho ông bà cha mẹ được siêu thoát, phải bố thí cho kẻ nghèo đói, cúng chùa hộ Tăng Ni tu học, in kinh ấn tống, mua vật phóng sinh mà hồi hướng công đức cho họ, thì cha mẹ ông bà có chết bao nhiêu năm cũng được siêu độ. Ðến đây cô Ba từ biệt ông cậu, cáo biệt Thất Ðiện Thái Sơn Vương để quay lại Nhất Ðiện. Đến nơi gặp Tần Quảng Vương, ngài hỏi: – Ngươi khám phá địa ngục, thấy sự trừng trị có công bằng hay không? – Bạch Ngài, các sự hình phạt rất công bằng, nhưng chúng sinh tạo ác lúc nào không biết, nay thấy chúng sinh bị hình phạt khổ sở, lòng cũng quá xót thương. – Chúng sinh khi còn sống chỉ lo cung phụng cái xác giả tạm mà gây bao tội ác: nào sát hại sinh vật, nào cướp của giết người, lòng tham không đáy, muốn ngồi không mà hốt của thiên hạ để cho gia đình, thân tộc bè bạn vui say, cuối cùng thần thức phải rơi vào địa ngục. Về phần ngươi, thay vì nhà ngươi phải lãnh tội câm, điếc trong 10 năm khi trở lại dương gian, nhưng nhờ công đức phá 7 cửa ngục mà chúng sinh được siêu độ rất nhiều, nên giảm được tội, chỉ còn lãnh tội câm và điếc trong vòng 3 năm rồi xuống đây sẽ định lại. Nếu tinh tấn tu hành, gia đình tu thiện, tránh sát sinh thì còn giảm nữa, bằng không thì mang tật suốt đời. Nhà ngươi biết nhận tội, ăn năn hối cải, chứ có lắm chúng sinh đến đây mà còn chối tội. Trẫm bèn cho xem Kính Chiếu Tiền Ảnh thấy việc làm của mình trên trần thế, lúc ấy hết phương chối cãi. Cũng có nhiều chúng sinh xin sống lại để đem tiền của bố thí cúng chùa. Nhưng xác thân của chúng đã mục rã rồi, đâu còn mà trở lại, vì một vong hồn xuất ra, quỷ sứ thâu nhỏ lại bỏ vào trong hồ lô mang xuống vua Ðông Nhạc, kế đến giải qua Tây Nhạc, đến ngày Trẫm phân sử thì đã gần cả tháng. Lúc đó thây xác đã phân rã, đâu còn mà trở lại. Nên Trẫm cho lên Vọng Hương Ðài, nhìn về quê quán, thấy chồng thì đã có vợ khác, hoặc vợ đã có chồng khác, của cải bị đám con phá tán, gia tài hao mất, tình nghĩa như đám mây bay, rồi gục đầu mà khóc. Đến đây, thời hạn đã hết, cô Ba cáo biệt Tần Quảng Vương, rồi đến chỗ hai vị Bồ Tát lễ bái các ngài, xin phép trở lại dương gian. Đến nơi, vừa định cất tiếng thì nghiệp câm ập đến, không sao nói được lời nào. Bồ Tát thương xót mà dặn rằng: – Khi về dương gian, ngươi nhớ lời đại nguyện mà tinh tấn tu hành. Ba năm sau xuống đây xét lại.
Trở lại trần gian
Các vị thần liền đó đưa cô Ba bay lên trở lại dương thế. Khi đến nhà, thấy cái xác vẫn nằm trên ván, da xanh mét, cứng đờ không động đậy. Mọi người con cái họ hàng vây quanh, nhưng may họ vẫn chưa đem chôn. Một vị thần từ trong cái xác xuất ra, đó là thần giữ xác, vì nếu không dùng thần lực giữ, cái xác sẽ mục rã không thể nhập vào được nữa. Một vị thần đẩy hồn cô Ba nhập vào xác. Trong phút chốc cô Ba dần cảm nhận cơ thể mình trở lại, thấy toàn thân đau nhức, chân tay nặng nề, tâm thần mê man. Phải mất một lúc lâu mới điều hòa hơi thở lại, cảm nhận gân cốt dịch chuyển, máu huyết lưu thông bình thường. Cô Ba mở mắt ra, mọi người kinh ngạc hò gọi nhau vây quanh, con trai cô và một số người thì mừng rỡ đến bên hỏi han, một số kẻ thì sợ sệt đứng xa quan sát, không rõ người hay ma. Xong lúc này cô Ba đã trở thành người câm điếc, không nói chi được, chỉ dùng ánh mắt ra dấu. Lúc ấy đồng hồ chỉ 12 giờ trưa, tính ra cô Ba rơi vào trạng thái chết lâm sàng trong khoảng 18 tiếng đồng hồ. Suốt đến tận mấy hôm sau, hễ cứ nhắm mắt lại là những hình ảnh hãi hùng, những âm thanh khiếp sợ của địa ngục lại hiện ra, tâm thần cô Ba ám ảnh mãi đến ăn ngủ không yên. Nhớ lời mình đã nguyện, cô Ba hàng ngày lấy kinh Pháp Hoa ra tụng đọc bằng mắt, hồi hướng cho các chúng sinh bị hành hình trong địa ngục. Dưới đó, họ bị tra tấn suốt đêm ngày, thì ở đây, cô Ba cũng chẳng quản ngày đêm, kiên trì tụng niệm. Đúng là có mệt thật, nhưng cô Ba biết, cái mệt của mình có thể đổi lại biết bao nhiêu đau đớn cho hàng ngàn chúng sinh, họ sẽ được thoát nhờ việc tụng niệm cô đang làm. Thế nên, mỗi lúc đuối sức, cô lại nghĩ về các chúng sinh khổ sở dưới ấy, trong lòng se thắt lại, lại có động lực để tinh tấn tiếp, không dám buông lung bỏ tụng ngày nào. Con cô Ba thấy mẹ bị như vậy, cũng thành tâm mà ăn chay, ngày ngày tụng kinh Địa Tạng hồi hướng công đức cho mẹ.Vào địa ngục lần thứ hai


Phần 2: THIÊN ĐƯỜNG


NHÀ CÓ “VONG” KHÓ BÁN, NÊN LÀM NHƯ THẾ NÀO ?
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Phước Hoa)
Vi vu qua những con phố tấp nập của Hà Nội, không khó khăn gì để nhận thấy những ngôi nhà nho nhỏ xíu xiu, nằm san sát nhau, chạy dài dọc hai bên đường. Đó là đặc trưng của Hà Nội và cũng là của nhiều thành phố lớn khác trên đất nước này. Ai ai cũng biết, sống ở nơi đất chật người đông, tấc đất tấc vàng như trong trung tâm thành phố, để kiếm được căn nhà vừa rộng vừa ít tiền là điều khó như lên mây.
Gia đình Phước Hoa cả thảy có bốn người, suốt bao năm qua, cả nhà vẫn sống trong căn nhà chật hẹp vỏn vẹn có bảy mét vuông tại phường Nam Đồng, quận Đống Đa. Có tin được không? Bạn không nghe nhầm đâu, đúng là bảy mét vuông. Nói không phải đùa, chứ nếu nhìn từ trên cao nhìn xuống, căn nhà trông chả khác nào cái tổ chim cả. Ấy vậy mà họ đã sống ở đó cả chục năm nay.
Nó vốn là của mẹ Hoa, giờ Hoa đã có chồng có con, thêm người thêm thành viên, nên mọi thứ dần trở nên bất tiện quá mức. Có lẽ đã đến lúc phải thay đổi, không thể bám víu mãi ở đây, cần tìm một căn hộ chung cư để ở, tuy không được ở nhà đất nữa, nhưng một căn chung cư sẽ giải quyết được vấn đề diện tích và cả tài chính của gia đình. Mà muốn có tiền mua chung cư thì Hoa cũng phải bán căn nhà này đi mới chuyển đổi được.
Để bán căn nhà này không dễ chút nào, ban đầu Hoa cũng nghĩ diện tích quá nhỏ chính là lý do khiến cô bán mãi không được, nhưng dần dà Hoa phát hiện ra nó không đơn giản như vậy. Thật sự còn có điều bí ẩn đằng sau mà ít ai nghĩ tới.
Hai năm trời ròng rã giao bán nhà đủ kiểu, Hoa đăng cả lên báo và nhờ bên môi giới làm cầu nối cho dễ tìm khách. Thông tin căn nhà được đăng trên các kênh giao bán, người đến xem tận nơi cũng không phải không có, bởi vì tuy diện tích nhỏ hẹp, nhưng vẫn sẽ có những khách hàng có nhu cầu phù hợp. Khách đến xem, người thì khen, kẻ thì chê, có những khách đã ưng ý hứa hẹn đặt cọc, nhưng quái lạ thay, cứ đến phút chót thì họ lại đi đâu mất hoặc có đủ lý do để hủy bỏ.
Một buổi nọ, có khách qua xem nhà, thấy phù hợp nên hẹn sáng hôm sau tới cọc liền, bốn người nhà Hoa khấp khởi vui mừng vì sắp bán được căn nhà chật hẹp và mường tượng tới một không gian sống rộng rãi thoải mái hơn, tha hồ sinh hoạt mà không phải quay đâu cũng chỉ thấy toàn tường là tường như thế này.
Sáng hôm đó, gia đình dậy sớm, đun nước, pha trà chờ người ta đến cọc tiền như đã hẹn, bất ngờ có cuộc điện thoại gọi tới, đầu dây bên kia nói với giọng gấp gáp:
– Em à, chị không mua nhà của em nữa, xin lỗi em. Con trai chị vừa bị tai nạn. Chị phải lo cho cháu đã. Thôi thế nhé, chào em.
Điện thoại ngắt phụp, Hoa chưa kịp định hình được điều gì và cũng chưa kịp nói lời nào. Vậy là thôi, cái mơ mộng về một nơi ở mới vẫn còn lơ lửng chưa thể thực hiện được.
Lại một lần nữa, giữa tháng tư oi bức, có khách tới xem nhà tỏ vẻ ưng ý lắm, muốn gia đình Hoa phải bàn giao nhà trước dịp lễ 30/4, nghĩa là trong chưa đầy hai tuần. Mặc dù chưa có nơi ở mới để chuyển tới, nhưng thấy có người mua là gia đình Hoa hạnh phúc lắm rồi, chuyển đi đâu thì tính sau, giờ cứ lo bán được nhà cái đã. Nghĩ vậy, mừng thầm, Hoa đồng ý giao nhà sớm. Cuối cùng, cũng không hiểu vì sao đến lúc đặt cọc thì họ lại chốt một câu không mua nữa. Kỳ lạ thật.
Thời gian trôi qua, cứ hết khách này đến khách kia tới xem, rồi cũng tới tháng cuối năm cận Tết mà nhà thì vẫn chưa bán được. Khách đến xem thì có, thậm chí còn nói chắc như đinh đóng cột rằng căn nhà này coi như thuộc về họ rồi. Ấy vậy mà ai ngờ đâu, đùng một cái đến lúc đặt cọc tiền, họ lại chạy mất hút.
Thở dài trong ngao ngán, Hoa không biết tới bao giờ mới kết thúc cái cảnh người đến lại đi, đến lại đi như thế này. Hay là, có một lý do nào khác mà mắt thường không nhìn ra ?
Nhớ lại ngày trước, một buổi tối mùa đông lạnh lẽo, đang ngồi ngẩn ngơ xuýt xoa nhấp từng ngụm nước ấm nóng, bỗng có cái bóng trắng nào đó vụt qua trước mắt Hoa rồi bay lên trên gác, dù lướt rất nhanh nhưng đủ để Hoa nhận biết đó là một cô gái tóc dài. Nhưng không phải là người, mà là đó là một vong hồn. Tim đập chân run trước cảnh tượng vừa thấy, nhưng Hoa tin chắc mình không có hoa mắt, cái bóng trắng rõ ràng đó không phải do hoa mắt tưởng tượng ra, và đây cũng không phải lần đầu tiên vong nữ đó xuất hiện.
Mẹ Hoa trước từng kể rằng có một lần bà nhìn thấy một vong hồn của cô gái nào đó ở trong nhà. Bà thi thoảng còn có thể nghe thấy tiếng của các vong linh xung quanh, nhưng nhìn thì chỉ có một lần duy nhất đó thôi. Có lẽ nhờ nhân duyên gì đó đặc biệt, mà mẹ con Hoa nhìn được như vậy.
Ngẫm lại điều này, rồi xâu chuỗi với những sự việc xảy ra, linh tính mách bảo Hoa chính vong linh ấy làm cho gia đình không thể bán nổi căn nhà của mình. Các vong linh thường có tha tâm thông, biết được suy nghĩ của con người, có thể phần nào tác động vào tâm ý con người. Khi những người khách đến xem nhà, ban đầu thấy thích muốn mua, nhưng sau đã bị vong nữ tác động vào tâm ý để không muốn mua nữa hoặc gây ra những sự cản trở khiến việc mua bán không thành công. Cuộc sống của cõi người vốn vẫn luôn có sự ảnh hưởng từ các cõi vô hình khác tác động vào, nhưng chúng ta không thấy nên tưởng rằng không có.
Qua năm 2020, dịch bệnh Covid hoành hành, bán nhà đã khó, nay thêm dịch bệnh làm kinh tế giảm sút, việc bán nhà càng trở nên khó khăn hơn. Nhà nhà người người lo chống dịch, ra đường còn khó, nói chi đến việc đi mua nhà. Gia đình Hoa lại ngồi nhìn nhau chán ngán trong bốn bức tường vây quanh.
Có chút duyên lành với Phật Pháp, thời gian này Hoa cũng đang tìm hiểu và tập hành trì theo Phật Pháp, mỗi sáng sớm Hoa trì bảy biến chú Đại Bi, tuy ít ỏi nhưng cũng là sự khởi đầu trên một con đường mới. Tính đến tháng 8/2021 là tròn hai năm, mới chỉ là khởi đầu và quãng thời gian tu tập còn ngắn ngủi, nhưng Hoa cũng đã có chút hiểu biết cơ bản cần thiết.
Vào một ngày gần cuối năm 2020, tình cờ đang dạo chơi trên facebook, Hoa đọc được một câu chuyện trích trong sách “Duyệt Vi Thảo Đường Bút Ký” kể về một phụ nữ đời Thanh, bị một vong nữ oan gia đeo theo báo thù. Sau đó cô ta đã niệm 10.000 câu “Nam Mô A Di Đà Phật” hồi hướng cho vong nữ đó, khi vừa niệm đủ số là vong nữ liền siêu thoát. Hiểu được sự vi diệu của câu niệm Phật như vậy, Hoa quyết định sẽ thực hành theo.
Ngay tối hôm đó Hoa bắt đầu niệm Phật, và sẽ niệm ít nhất cho đến khi đủ 10,000 câu Phật hiệu để hồi hướng cho vong nữ trong nhà mình được siêu thoát về thế giới Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà và mong vong linh nếu có thể thì hỗ trợ cho Hoa bán được nhà.
Thực ra con số 10,000 chỉ là một con số tương đối, nó đúng với câu chuyện đó, chứ không chắc đúng mọi trường hợp. Vậy niệm bao nhiêu là đủ? Điều đó tùy vào sự thành tâm, định lực, giới hạnh của người tu, cũng như nghiệp chướng của người được hồi hướng nặng nhẹ tới đâu, và còn phụ thuộc vào duyên giữa người hồi hướng và người được hồi hướng. Thế nên có khi 10.000 là đủ, có khi phải 30.000, 50.000,… hay nhiều hơn nữa mới có kết quả.
Ngoài ra, không chỉ có việc niệm Phật là có công đức, mà còn rất nhiều việc khác như trì chú, tụng kinh, vẽ tranh tạc tượng Phật, giúp người, cứu vật, phóng sinh … và nhiều cách khác nữa. Chúng ta đều có thể đem những công đức đó hồi hướng cho những việc cần thiết để giúp mình cũng như giúp người bớt khổ.
Vậy là ngày ngày tranh thủ khi rảnh rỗi Hoa niệm hơn 300 câu Phật hiệu, chừng hơn một tháng thì đủ 10,000 câu. Sau đó Hoa vẫn cứ tiếp tục niệm nhiều hơn nữa để hồi hướng cho vong linh. Không chỉ mình Hoa, mẹ Hoa thấy vậy cũng tinh tấn niệm hơn 1000 câu Phật hiệu mỗi ngày. Cứ như vậy hơn một tháng, hai mẹ con chắp tay niệm Phật thành tâm cung kính mong mọi sự sẽ tốt lành êm đẹp nhờ sự gia hộ của chư Phật.
Ra tết, nhà Hoa lại có khách đến xem, dạo qua một vòng, họ chê lên chê xuống đủ thứ. “Điệu này chẳng hy vọng gì rồi” – cô nghĩ thầm, cái giấc mơ đổi nhà sao nó gian nan quá vậy.
– Em cho anh số tài khoản ngân hàng, anh đặt cọc luôn 20 triệu nhé. – Anh khách xem nhà đột ngột hỏi.
Hả? Cái gì vậy, anh ta vừa nói gì, Hoa có nghe nhầm không?
– Anh cọc trước, hai hôm nữa sẽ chồng đủ tiền nhà cho em. – Anh khách nói tiếp.
Anh ta đang hỏi số tài khoản ngân hàng. Sau vài phút, tiếng ting ting phát ra từ chiếc điện thoại, tiền đã vào, Hoa thở phào nhẹ nhõm, lần này thì chắc rồi. Mọi thứ diễn ra chóng vánh đến mức cô ngỡ như mình đang trong một giấc mơ. Ngay sau đó ba ngày, gia đình khăn gói chuyển đi để giao nhà cho khách.
Lúc này, Hoa đoán biết vong nữ kia đã nhận được công đức, được tiêu trừ nghiệp chướng, siêu thoát và không còn gây cản trở việc bán nhà. Từ khi niệm Phật hồi hướng cho vong nữ đến lúc bán được căn nhà chỉ trong khoảng hai tháng, chả bù cho suốt hai năm rõng rã trôi qua vẫn không bán thành công. Trong lòng Hoa vừa vui mừng vì bán được nhà, vừa cảm thấy an lòng hơn vì vong linh ấy đã phần nào bớt đau khổ.
Ở cảnh giới vô hình, nhiều chúng vong linh do nghiệp quả nên còn trầm luân vất vưởng không thể nào siêu thoát. Họ phải chịu sự đói khát, lạnh lẽo, cô đơn và sự dày vò bức bách của tâm can, chưa kể tới vô vàn cái khổ khác. Chúng ta ở cõi người, tuy rằng có những sự khổ đeo bám, nhưng so với chúng vong linh vẫn còn sung sướng hơn. Lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều, nếu như có thể, hãy mở lòng từ bi tạo các công đức hồi hướng cho họ được tiêu trừ chướng nghiệp, siêu thoát lên cảnh giới an lành. Người đời hay có câu “âm siêu dương thới”, bốn chữ này trong nhiều trường hợp cũng có phần hợp lý không sai.
Phật Pháp vi diệu, dùng trí phàm phu thật sự không thể so lường được, bản thân trường hợp của Phước Hoa và của rất nhiều người khác chính là bằng chứng thực tế hùng hồn không thể phủ nhận. Nếu như ai còn nghi ngờ, thì hãy thử đặt câu hỏi “Tại sao từ ngàn xưa đến nay, vẫn có rất nhiều người ở khắp mọi nơi áp dụng lời Phật dạy mà đạt được kết quả tốt đẹp như vậy?” Từ cổ chí kim, từ thời cổ xưa đến thời hiện đại, từ châu Á sang châu Mỹ, không hiếm những câu chuyện thực tế đã được kể lại.
Đức Phật vì lòng từ bi vô hạn, thương tưởng chúng sinh đang trầm luân đau khổ mà thị hiện ở đời, đem ánh sáng chân lý tới soi đường cho chúng sinh. Các Ngài có rất nhiều pháp môn, tùy căn cơ mỗi người mà ban phát, cũng như tùy bệnh mỗi người mà cho thuốc. Thấy chúng sinh khổ đau phiền não, Phật chỉ cho pháp để được an vui, rốt ráo hơn nữa là mong chúng sinh được giải thoát, chấm dứt tận gốc mọi đau khổ trong cối xay sinh tử luân hồi.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Phước Hoa)
LẤY PHẢI CHỒNG VŨ PHU NÊN LÀM NHƯ THẾ NÀO ?
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Hà Vy)
Bốp! Bốp!
– Im mồm. Thích cãi à. Này thì cãi này.
Vừa nói anh ta vừa dùng tay đánh những đòn như trời giáng vào thẳng đầu của vợ anh – Hà Vy. Từng cái, từng cái một, anh ta đánh cái nào, Hà Vy thấm thía cái đó. Nó thấu tận vào trong óc, làm não cô như muốn long sòng sọc. Ánh mắt chồng cô lúc đó, không phải là nhìn nữa, mà nó như tia lửa điện chiếu thẳng muốn thiêu đốt cả người vợ. May sao anh ta chưa vơ thứ gì đó xung quanh để nện vào đầu Vy, chứ không thì chắc giờ mọi chuyện đã khác.
Là một cô gái chân yếu tay mềm, Vy chỉ biết khóc chứ không chống đỡ được gì. Đứa con trai mới tám tháng, thấy bố đánh mẹ huỳnh huỵch thì cũng khóc thét lên. Chị hàng xóm sát bên thấy huyên náo, liền chạy sang, thấy tình hình thế, chị liền nhảy vào can ngăn. Thế nhưng vô ích, không thể cản được cái gã đàn ông trong cơn hăng máu này. Nhân lúc chồng quay đi, Vy lao ngay ra ngoài trời đang mưa, chạy một mạch ra phòng ông bà chủ nhà trọ ở phía đầu dãy cầu cứu. Hoảng loạn và đau đớn, Vy để mặc những hạt mưa đổ xuống ướt hết cả thân hình gầy gò. May quá cửa phòng ông bà chủ nhà vẫn hé.
– Ông ơi cứu cháu với, chồng cháu đánh cháu, đau quá, đau quá ông ơi. Ông cứu cháu.
Tay Vy vừa ôm đầu, mặt cúi xuống vì đau không ngẩng lên được, vừa nói Vy vừa thút thít, vừa xuýt xoa vết thương. Ông chủ nhà nhìn bộ dạng thảm hại của cô, lập tức khẩn trương hỏi sự tình. Rồi ông cùng Vy bước đến trước cửa phòng trọ, nhìn thấy anh chồng, ông không quát tháo gì cả, chỉ nghiêm mặt mà ôn tồn nói:
– Có gì hai vợ chồng từ từ bảo nhau, sao mà phải đụng chân đụng tay như thế này. Nếu không còn tình thì cũng còn cái nghĩa chứ. Chúng mày hay thật đấy.
Chồng Vy nghe vậy, chẳng nói gì, mặt vẫn hầm hầm, đôi mắt vẫn ngùn ngụt cơn bực, xong đã có vẻ được kiểm soát hơn lúc nãy. Anh bỏ lên gác xép nằm. May là anh ta cũng còn biết nể ông chủ nhà trọ. Vy cảm ơn ông ấy, rồi trở vào phòng, khuôn mặt vẫn nơm nớp lo sợ, tay vẫn trong tư thế che đầu, phi thẳng vào giường nơi thằng bé con đang nằm chơ chọi một góc. Vy kéo vội đứa con vào lòng, nước mắt vẫn chảy dài, một tay ôm con, một tay ôm đầu, hai chân co rút lên, cứ thế Vy nằm im tư thế phòng thủ như vậy.
Tiếng mưa rơi lộp độp trên mái tôn ồn ào quá, nhưng vì đau và mệt, hai mẹ con Vy cũng ngủ thiếp đi từ lúc nào chẳng hay. Trời dần về đêm, mưa cũng ngớt, căn phòng trọ nhỏ nhắn của nhà Vy cũng đã trở về cái quỹ đạo trật tự cần phải có, cả xóm trọ lại yên ắng chìm vào giấc ngủ.
Đó, lấy chồng nó khổ thế đó. Cãi nhau qua lại có mấy câu mà chồng đã nhào vào đánh tới đánh tấp, đến mức Vy phải xin nghỉ làm để nằm nhà dưỡng thương. Và vấn đề chính, là anh ta đã làm Vy quá tổn thương trong lòng. Cô không còn muốn sống với con người vũ phu, tàn nhẫn này thêm chút nào nữa. Ngay sáng hôm sau khi bình minh vừa rạng, Vy bồng bế con trở về nhà mẹ đẻ. Trong lòng cô mang một vết thương lòng đau đớn, và ngập đầy những ý nghĩ oán trách. Vy quyết định sẽ ly hôn.
Ấy thế nhưng vài hôm qua đi, khi đã bình tĩnh hơn thì cô lại lưỡng lự. Nhược điểm của phụ nữ là vậy, ngoài mặt thì dứt khoát, nhưng bên trong vẫn yếu đuối. Thực tình trong lòng Vy vẫn hy vọng anh ta sẽ tới xin lỗi để hàn gắn cuộc hôn nhân đang trên bờ vực thẳm, bởi vì tình nghĩa bấy lâu, và bởi vì Vy không muốn con trai của mình thiếu một tổ ấm trọn vẹn. Người đời hay ví phụ nữ như một giống loài kì lạ, nói một là hai, nói hai là một, nói có là không, nói không là có. Kể ra trong nhiều tình huống đúng là không thể chối cãi cái thực tế này.
Chồng Vy có lẽ cũng không muốn kết thúc cuộc hôn nhân này, nóng lên thì hùng hổ vậy thôi, nhưng anh ta chưa bao giờ có ý định đó. Ấy nhưng mà với cái sĩ diện của thằng đàn ông, anh ta cũng chẳng chịu hạ mình tới xin lỗi hay gọi vợ về. Anh ta cứ mặc kệ thế đấy.
Và thế là cuộc hôn nhân của Vy đi đến hồi bế tắc, dứt không được, hàn gắn cũng chẳng xong. Mỗi ngày trôi qua, Vy đều thống khổ tâm can, chẳng biết làm gì để mở cái nút thắt.
Công việc ở công ty Vy đã xin tạm nghỉ, dành thời gian ở nhà chữa trị vết thương do chồng đánh và chăm sóc con trai, thi thoảng lại ngồi tỉ tê tâm sự với mẹ hay lên mạng đọc tin cho khuây khỏa. Từ ngày Vy lấy chồng, bố mẹ cô vẫn chừa lại căn phòng của con gái chưa sử dụng tới, để thỉnh thoảng Vy về nhà chơi còn có chỗ ngủ nghỉ cho thoải mái, chứ ông bà cũng không nghĩ con gái lại về trong hoàn cảnh này.
Căn phòng nhỏ chứa đầy ánh sáng chan hòa, từ khung cửa sổ có thể nhìn thấy con đường rợp bóng cây. Đó là căn phòng Vy dành trọn tuổi thơ tươi đẹp và mộng mơ ở đó. Giờ đây ngồi ngay tại căn phòng của chính mình, Vy phóng tầm mắt ra ngoài cửa sổ, suy nghĩ miên man, nhớ lại ngày trước, khi cô còn ở cái tuổi cập kê, vẫn hay ngồi bên khung cửa này, lắng nghe những bản ballad nhẹ nhàng du dương và mộng mơ về một chàng hoàng tử sẽ đến rước mình đi.
Và rồi Vy giật mình trở về thực tại của một người phụ nữ ngoài ba mươi, với vết thương bầm tím trên trán. Giờ thì cô đã có cuộc hôn nhân với một chàng hoàng tử, xong là một chàng hoàng tử có đôi bàn tay vũ phu. Hài hước thật.
Tạm gác lại những ưu tư khổ não, Vy với lấy cái điện thoại, mở facebook, lang thang trên news feed cho đỡ buồn, ngón tay lướt qua những bài đăng hàng ngày, rồi đột nhiên dừng lại ở một bức ảnh của Đức Phật. Trong lòng Vy dấy lên niềm tôn kính với Ngài.
Vy đọc kỹ hơn, tò mò ấn vào nút “read more”, à thì hóa ra đây là một câu chuyện thật kể về cặp vợ chồng nọ với những mâu thuẫn trong hôn nhân được đăng trên trang facebook “Quang Tử”. Ồ, mà sao càng đọc Vy càng thấy hoàn cảnh xảy ra trong câu chuyện lại giống nhà mình quá. Vy bắt đầu chăm chú đọc, ngấu nghiến đọc, trông ngóng kết cục của họ rồi sẽ ra sao, như thể đang trông ngóng cái kết của chính mình.
Vi diệu thật. Người vợ trong câu chuyện ấy, cũng bị chồng đánh, sau nhờ đã tụng kinh Phật hồi hướng công đức cho chồng, mà nay hai vợ chồng đã quay về với nhau êm đẹp. Ở phần cuối tác giả còn hướng dẫn chi tiết cách tạo công đức như thế nào, hồi hướng ra sao cho hiệu quả để hóa giải những mối duyên nợ chẳng lành.
Vốn lớn lên trong gia đình có tín tâm với Phật Pháp, từ nhỏ, Vy hay được mẹ cho đi chùa, ăn chay, niệm Phật. Vì theo mẹ, nên Vy cũng làm những việc đó mà chẳng hiểu chi hết, cũng chưa từng nghiên cứu hay học hỏi giáo lý Phật dạy. Nhưng nhờ duyên lành mà mẹ đã gieo cho Vy, nên đọc được bài viết này, Vy liền tin nghe và quyết tâm thực hành ngay. Một tia hy vọng nhỏ nhoi trong Vy đang sáng dần lên.
Cô gái nhận ra rằng tất cả mọi sự việc xảy ra đều có nguyên nhân của nó, không có gì là vô cớ, mà cũng chẳng có gì là bất công ở đây. Sự vũ phu của chồng Vy cũng vậy, cũng đều có nguyên do, là do cô đã mang nợ anh từ kiếp xưa, cụ thể như thế nào cô không biết. Cô chỉ cần biết rằng, giờ cô phải trả hết món nơ ấy thì tình hình mới khác đi được, xong không phải trả nợ bằng cách chịu đựng hành hạ, như thế thì lâu lắm. Mà cần tạo nhiều công đức hồi hướng cho chủ nợ, thì nợ mới tiêu trừ.
Kể từ hôm ấy, Vy bắt đầu nghiên cứu Phật Pháp, bắt đầu làm rất nhiều công đức như Đức Phật đã chỉ dạy để hồi hướng cho chồng và gia đình nhà chồng.
Dần dần, Vy có cái nhìn tích cực hơn nhiều, bởi vì cô không còn đổ lỗi cho người khác, không còn than trời trách đất, cô đã biết nhận trách nhiệm về mình và nghiêm túc muốn thay đổi, sửa chữa bản thân. Cuộc đời Vy từ đó như được lật sang trang mới.
Ngày ngày cô đều tụng bộ Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, từng lời kinh cứ thế thấm nhuần trong tâm thức của cô từng chút từng chút một. Vy thực hành phóng sinh, thả những chú cá, cua, ốc, dế, chim muông, … được trở về tự do. Mỗi lần nhìn từng đàn cá ào ra khỏi chậu trở về với dòng nước dịu êm hiền hòa, trong lòng cô lại dấy lên một niềm vui lạ kỳ, cô cảm nhận được sự vỡ òa sung sướng của những con vật vừa mới đây thôi tưởng sắp tan xương nát thịt, nay hạnh phúc biết bao khi được thoát chết trở về với thiên nhiên.
Rồi Vy tận lực ấn tống kinh sách, và cúng dường lên Tam Bảo với hết lòng thành kính. Tất cả những phước lành đó, công đức đó, Vy đều hồi hướng cho chồng và gia đình chồng.
Chồng Vy từ ngày đó vẫn cứ lặng lẽ sống một mình trong căn phòng trọ. Căn phòng nho nhỏ vậy thôi mà sao giờ thấy cũng trống trải, thiêu thiếu điều gì đó. Phải chăng là thiếu tiếng cằn nhằn của vợ, hay tiếng khóc oe oe của con trai. Bình thường đau đầu là thế, mà sao giờ đây lại mong được nghe mỗi ngày. Anh biết sau trận đánh nảy lửa đó, có nằm mơ cũng chẳng bao giờ vợ anh quay trở lại căn phòng trọ này nữa. Gần đây anh đã suy nghĩ rất nhiều. Bình thường thì chẳng mấy khi anh chịu nhận mình sai, nhưng lần này thì khác, suy nghĩ suốt mấy đêm, anh đã chịu thừa nhận rằng thực sự mình đã sai. Anh hối hận, nhưng lại không có được dũng khí mà đi xin lỗi vợ. Anh cứ như vậy, vật vờ, bơ vơ một mình.
Chiều hôm đó, anh đang ngồi ăn bữa cơm tẻ nhạt do tự anh nấu, thì cánh cửa tự nhiên hé mở, làn gió bất chợt lùa vào mát rượi cả mặt. “Chắc cái then cài cửa lại bị lỏng nên tự bung ra đây mà.” – anh tự lẩm bẩm một mình. Anh quay đầu lại, bất chợt nhìn thấy Vy bế con đi vào nhà. Anh có nhìn nhầm không nhỉ? Ngẩn ra mấy giây, đúng vợ anh rồi. Mừng quá, nhưng anh thì lại cứ ngây ra đó, chẳng biết mở lời như thế nào, anh vốn chẳng phải kiểu người biết ăn nói. Thế nên, cứ lúng túng mãi, Vy thấy anh vậy nên cô lên tiếng trước:
– Anh à, em về rồi đây- Vy đưa mắt nhìn anh, rồi lại nhìn sang mâm cơm – Sao cơm canh đạm bạc thế này, sao đủ chất được chứ ?
Tuy chẳng có xuất hiện từ ” tha thứ” nào, nhưng chồng Vy cũng ngầm hiểu mình đã được vợ tha thứ. Anh lập cập đứng dậy, loay hoay sắp lại đồ đạc cho hai mẹ con. Mừng lắm, nhưng ngoài mặt thì lại cứ cố chưng ra cái vẻ lạnh lùng, không cảm xúc.
Ổn định được vài hôm, Vy xin chồng lập bàn thờ Phật trong nhà để cô có thể lễ bái Tam Bảo mỗi ngày. Anh đồng ý luôn, lại còn giúp Vy khoan tường đóng ban, đóng kệ khá hăng hái. Thật lạ, Vy thấy dạo gần đây mọi chuyện có vẻ dễ dàng, thuận lợi hơn rất nhiều.
Cô thỉnh tượng Phật về an trí lên ban, rồi ngày ngày cô vẫn tụng kinh Địa Tạng, chú Đại Bi và Bạch Y Thần Chú tiếp tục hồi hướng cho chồng và nhà chồng. Và cũng từ đó, cô thấy chồng mình thay đổi từng ngày. Trước cộc cằn, thô lỗ là vậy, mà sau chỉ vài tuần, thái độ đối xử của anh với cô khác hẳn, nhẹ nhàng và biết quan tâm hơn rất nhiều. Vậy nên không khí gia đình đã vui vẻ, thoải mái và ấm cúng hẳn lên.
Mỗi tội là căn phòng trọ nhà Vy đang ở chật hẹp quá, nên cuộc sống có phần bất tiện, nếu không muốn nói là rất khổ sở. Ba người ăn ngủ, sinh hoạt, nấu nướng, làm việc … tất tần tật chỉ quanh quẩn trong một căn phòng hơn hai mươi mét vuông. Để lập ban thờ Phật, Vy cũng phải thiết kế ban thờ có một mảnh vải rèm che, tránh bất kính khi gia đình sinh hoạt hàng ngày. Thế nên, Vy chuyển sang đem công đức tụng kinh, hồi hướng cầu có một căn nhà của riêng mình để có thể bài trí một gian thờ Phật trang nghiêm hơn. Mơ ước vậy thôi chứ thực tế hai vợ chồng chỉ dành dụm được có mười mấy triệu, nhà cửa là một cái gì đó rất xa vời.
Không ngờ. chỉ trong vài tháng Vy đã được toại nguyện. Vy được bố mẹ cho một khoản tiền để mua đất, cộng với vay mượn thêm bên ngoài để đủ chi phí xây nhà. Ban đầu tìm đất cũng khó, toàn những chỗ đắt đỏ, không kham nổi. Nhưng sau đó, run rủi thế nào, lại có một mảnh đất ngay gần công ty của chồng, ở đường Lê Văn Hưu – ven thành phố Pleiku được bán với giá khá mềm. Khấp khởi mừng thầm, Vy tiến hành thủ tục mua bán một cách nhanh chóng.
Điều gì đang xảy ra thế không biết, mọi việc cứ như là trong một giấc mơ. Chỉ sau có bốn tháng Vy tu tập tinh tấn bằng tấm lòng thành kính hết mực, những điều tưởng chừng như không thể có, nay Vy lại có hết, có chồng hiền hòa, yêu thương vợ con, có một nơi của riêng mình để chui ra chui vào đúng nghĩa, lại có một không gian riêng trên tầng cao nhất để làm gian thờ trang nghiêm thanh tịnh.
Đó, mới ngày nào còn ưu sầu khổ não, mà nương nhờ Phật Pháp nay mọi thứ đã được toại nguyện. Nhưng điều đó không tự nhiên mà đến, cũng không phải đơn giản cầu xin Phật ban cho mà được, mà là nhờ sự chuyên cần tinh tấn, bỏ thời gian, sức lực, tài vật … để tu tập, sửa đổi, làm phước. Ấy là nhân, có gieo nhân rồi thì mới có quả để hái. Còn nếu lười biếng giãi đãi, cho rằng chỉ cần xin Phật là Phật ban cho hết, hay bỏ tiền ra nhờ thầy cúng kiếng cho là muốn gì được đó, đơn giản thế chắc ai cũng đã thành tỉ phú hết cả rồi.
Thực tế đâu có vậy, thế giới này vận hành theo cơ chế quy luật của Nhân Quả, làm rồi hưởng kết quả của những việc mình đã làm, chứ thế giới này không vận hành theo cơ chế xin – cho. Hiểu cho đúng thì phải nghĩ rằng: bản thân mình cần nỗ lực là chính, là chủ đạo, rồi từ đó chư Phật – Bồ Tát mới gia hộ thêm vào cho mau toại nguyện.
Vy giờ đây tuy bận rộn việc xây cất căn nhà và trông con trai nhỏ, nhưng trong lòng thì luôn phơi phới và thầm cảm ân Phật Pháp đã thay đổi cuộc đời cô. Trong quá trình xây nhà, Vy phát tâm ăn chay trong thời gian ba tháng. Mỗi bữa cơm chỉ có đồ chay lạt, nhẹ nhàng, thanh tịnh, không còn mang sự oán hờn và máu thịt tanh hôi của chúng sinh. Tưởng vài tháng rồi thôi, ai ngờ sau ba tháng đó, mỗi lần gắp miếng cá miếng thịt đưa vào miệng Vy lại thấy ghê, cảm thấy hôi tanh không thể nào nuốt được. À thì hóa ra sau ba tháng ăn chay quen miệng, vị giác của Vy cũng thay đổi. Nhờ đó mà Vy quyết định trường chay luôn, không quay lại ăn mặn nữa.
Đối với những người đang ăn mặn, việc ăn chay là điều gì đó rất khó khăn, thậm chí dường như ta sẽ cảm thấy không thể nào ăn chay được. Thực tế không phải như vậy. Chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi thói quen, bởi vì ăn được hay không chỉ do thói quen của chúng ta. Khoa học có nghiên cứu, phân tích và tìm ra rằng con người cần ba mươi ngày để thay đổi một thói quen, vậy nên chúng ta cần dùng ý chí để cố gắng trong thời gian đầu, ít nhất là ba mươi ngày. Trải qua thời gian đó rồi, việc ăn chay sẽ dễ dàng hơn, thậm chí lúc đó thói quen của chúng ta đã thay đổi, những món mặn sẽ không còn hấp dẫn nữa.
Thấm thoắt cũng đã năm năm trôi qua, nay đã là năm 2022, những hàng cây nhỏ Vy trồng từ hồi xây xong nhà nay đã cao hơn nhiều lắm, ngôi nhà tuy không quá lớn, nhưng nó ngập tràn ánh nắng chan hòa buổi sớm và những làn gió nhẹ thổi vi vu mỗi khi chiều về. Ngôi nhà nhỏ riêng của vợ chồng Vy nay đã đầy ắp tiếng cười, có cả sự ra đời của một thành viên nữa. Bé trai thứ hai của Vy nay được mười tháng và ăn chay từ trong bụng mẹ, con khỏe mạnh hoạt bát như những em bé bình thường, da trắng hồng, khuôn mặt bầu bĩnh vô cùng đáng yêu.
Sau một thời gian nghiên cứu Phật Pháp kĩ càng, Vy cũng đã chọn được cho mình một con đường để đi, đó là con đường vãng sinh Tịnh Độ. Một người khi chưa biết Phật Pháp, chưa hiểu về luân hồi sinh tử, thường sẽ mơ màng, mông lung không hiểu mình là ai, đến từ đâu và rồi sẽ đi về đâu, cuộc đời họ hoặc bị xoay vần, cắn xé trong cối xay cơm áo gạo tiền gia đình quyến thuộc, hoặc là lênh đênh vô định không biết mục đích sống của bản thân là gì.
Còn với Vy, cô gái ấy đã biết mình sống để làm gì, mình cần đi đâu và hành trang cần chuẩn bị những gì. Thế nên tâm cô không còn bị mông lung, lo sợ về một tương lai bất định. Mọi sự đến rồi đi nhẹ nhàng hơn, Vy tu tập tinh tấn, chăm làm việc phước thiện, yêu thương mọi người hơn. Phật Pháp nhiệm màu, với trí phàm phu không thể nào thấy hết được. Phật Pháp giúp chúng ta bớt đau khổ, tìm được niềm vui, rốt ráo còn đưa chúng sinh tới bến bờ giải thoát an vui tịch tịnh.
Vận bộ áo màu xanh lam bằng vải thô đơn giản mà thanh lịch, Vy chắp hai tay trước ngực, mắt nhìn lên tượng Đức Phật, lòng dâng trào một niềm cảm ân sâu sắc không thể diễn tả bằng lời. Vy lặng lẽ cung kính lạy một lạy, năm vóc sát đất, nguyện đời đời được sống trong ánh sáng của Phật Pháp chiếu soi.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Hà Vy)
Hành trình độ cha về cửa Phật






NHỮNG ẢO TƯỞNG THƯỜNG GẶP Ở PHẬT TỬ- BÀI 2 – “NÚT ẤN THẦN KỲ”
HÀNH NGHỀ “LÀM GÁI” BỊ ĐỌA ĐỊA NGỤC NHƯ THẾ NÀO ?












