Với những ai yêu thích dòng nhạc Hoa lời Việt, thịnh hành vào cuối những năm 90, đầu những năm 2000, thì đều đã quen thuộc với những cái tên như Đan Trường, Lam Trường, Lý hải… Tuy nhiên, khi nhắc đến Nguyễn Đức, hẳn không ít người phải ngờ ngợ, nó vừa quen, vừa lạ. Anh là một ca sĩ sở hữu giọng ca rất ấm áp, ngọt ngào, từng một thời rất đắt show tại những sân khấu lớn tại Tp.HCM, là một trong những người tiên phong đưa nhạc Hoa lời Việt lên ngôi.
Ấy nhưng rất tiếc, khi sự nghiệp đang lên như diều gặp gió, thì bỗng… diều đứt dây, cái tên Nguyễn Đức dần rơi vào quên lãng. Chuyện gì đã xảy ra với anh ?
Nguyễn Đức sinh năm 1969, là con út trong một gia đình khá giả, từ nhỏ đã được gia đình hết mực cưng chiều. Lớn lên, anh sớm bộc lộ năng khiếu và đam mê ca hát, và chọn đi theo con đường âm nhạc. Một lần nữa, may mắn lại mỉm cười với anh, sự nghiệp ca hát rất thuận lợi, những bản nhạc Hoa lời Việt của anh được khán giả đón nhận nồng hậu, show diễn tới tấp, đài truyền hình cùng các hãng băng đĩa giải trí liên tục mời anh hợp tác để thu âm.
Đắt show, tiền bạc ào ào chảy vào túi, nhưng khi đó, anh không dùng đồng tiền kiếm được để đầu tư thêm cho sự nghiệp, cũng không dùng chăm lo cho gia đình, báo hiếu ba mẹ, cũng chưa từng mua tặng người thân một món quà. Đơn giản là anh hưởng thụ, tiêu xài cho những thú vui của bản thân.
Vào năm 2000, một lần anh được các fan hâm mộ rủ đi chơi vũ trường, anh vui vẻ nhận lời. Trong ánh đèn nhập nhòe sáng tối, một fan đưa cho anh nửa viên thuốc màu hồng.
– Anh Đức uống đi.
Nhìn viên thuốc là lạ, anh định từ chối. Thấy anh lưỡng lự, một cậu khác nói thêm vào:
– Anh Đức ơi, chơi đi, vui lắm, cái này mắc tiền lắm. 500 nghìn (thời đó bằng một chỉ vàng) một viên đó, không rẻ đâu ạ. Chúng em mời anh.
Thấy họ nhiệt tình, Đức cũng phân vân, rồi cả nể, đánh bạo cho vào miệng. Sau này anh mới biết đó là viên thuốc lắc, một loại ma túy tổng hợp.
Đám bạn thấy anh dùng thuốc, liền hô lên tán thưởng, rồi tiếp tục cùng nhau quay cuồng, nhảy nhót trong nền nhạc sập sình một cách điên dại, kì quái. Chỉ khoảng 10 phút sau, Đức bắt đầu đứng không vững, đầu óc như trên mây, mất hết lý trí, hòa với đám đông điên cuồng nhảy múa.
Sau cuộc ăn chơi thâu đêm suốt sáng đó, đám “fan hâm mộ” còn rủ rê Đức đi thêm nhiều ngày nữa, cho tới khi anh chính thức trở thành một con nghiện. Ngày này qua tháng nọ, được đám bạn nhà giàu bao, nên Đức mặc sức tận hưởng những cuộc vui bất tận khắp các vũ trường và nhà hàng sang trọng.
Dần dà, vì bận bịu chơi bời phê pha, nên anh không đoái hoài gì tới ca hát nữa. Các sân khấu vẫn mời, nhưng anh viện đủ lý do từ chối. Cứ thế không bao lâu, sự nghiệp tuột dốc, khán giả dần quên mất cái tên Nguyễn Đức.
Nhưng cuộc vui nào rồi cũng đến lúc phải tàn. Năm 2003, vì phạm tội bị truy nã nên nhóm bạn đó tan rã. Không còn ai bao, Đức phải dùng tiền của mình để chơi thuốc. Chả mấy chốc, túi anh cũng rỗng sạch. Lúc đó mới nhớ ra mình đã thất nghiệp từ lâu, giờ phải làm sao để có tiền mua thuốc chơi tiếp đây ?
Trong cái khó ló cái “dại”, anh chơi cờ bạc nhiều hơn, hi vọng nó sẽ cho anh tiền nong dư giả để mua thuốc. Nhưng không ngờ, nó chỉ càng khoét sâu thêm cái hố túng quẫn của anh.
Đến lúc không còn chỗ nào xoay tiền, anh dụ dỗ mẹ bán căn nhà tại quận 5 đang ở, mua một căn nhỏ hơn ở quận 3. Ba đã mất, các chị đều đã ra ở riêng, chỉ còn mẹ và anh trong nhà, nên cũng không ai phản đối được. Thương con, mẹ anh đồng ý, bán nhà xong để dư ra được 20 cây vàng sử dụng khi cần thiết. Nhưng bà không biết rằng, cậu quý tử của bà đã tiêu sạch số tài sản đó chỉ vỏn vẹn thời gian ngắn vùi mình trong sòng bạc.
Chẳng bao lâu sau (2004), Đức tiếp tục thủ thỉ với mẹ bán căn nhà quận 3 chuyển mua căn khác nhỏ hơn tại quận 10. Hai mẹ con cứ thế chuyển từ nhà lớn sang nhà nhỏ dần. Kinh tế gia đình ngày càng kiệt quệ, thường xuyên phải dùng mỳ ăn liền cầm cự qua ngày. Sau 7 năm ăn chơi buông thả, một ca sỹ trẻ có tiếng tăm, với cuộc sống sung sướng đã thành một con nghiện đói thuốc, lại đói cả ăn, còn khiến cho gia cảnh ngày càng u ám hơn.
Bước đường cùng, anh cầm cố căn nhà ở quận 10 cho ngân hàng được 100 triệu, lấy tiền tiêu xài. Nhưng ngựa quen đường cũ, hết vũ trường đến chơi thuốc, rồi cờ bạc đề đóm, số tiền đó cũng nhanh chóng được anh phá sạch sẽ. Rồi tiếp theo, cũng như bao con nghiện khác, Đức bán xe, bán cả bàn ghế đồ đạc trong nhà, rồi chuyển sang bán thuốc lắc để có tiền chơi.
Từ ngày Đức hư hỏng, ăn chơi, nghiện ngập, suốt ngày nói dối, đàn đúm thâu đêm suốt sáng, mẹ Đức đã buồn khổ vì anh rất nhiều. Nay lại phải bán hết nhà này đến nhà khác, kinh tế gia đình tụt dốc, mẹ anh càng thêm phần sầu não. Đôi mắt của bà từ lâu đã không còn lấp lánh niềm vui, đôi mắt ấy giờ chỉ biết thẫn thờ nhìn đứa con trai thân tàn ma dại, ngày đêm đâm đầu vào những hố sâu thăm thẳm của cuộc đời.
Do chơi thuốc lâu ngày, cơ thể Đức ngày càng suy nhược. Đã thế lắm hôm chơi thuốc quá liều, bị sốc thuốc, Đức suýt chết mấy lần, may nhờ được đưa vào bệnh viện cấp cứu kịp thời nên còn cái mạng. Các bác sĩ quen mặt Đức rồi, cũng ngán ngẩm thốt lên:
– Đừng có vô đây nữa. Cứ sống mãi như thế này sao?
Phải rồi, có lẽ anh cũng chẳng muốn sống như thế này nữa đâu. Nhưng chót dại dính phải ma túy, bỏ được nó khó như bắc thang lên trời.
Có lần, Đức lại sốc thuốc, nhà không còn tiền đưa anh đi cấp cứu, đành để anh “tự sinh tự diệt” ở nhà. Đức lê lết bò trên sàn, thở thoi thóp, anh đã sẵn sàng để đi theo thần chết. Trời lúc đó mưa rất to, tiếng mưa rơi ào ào trên mái tôn át hết hầu như mọi âm thanh khác, trừ tiếng gào khóc thảm thiết của mẹ.
Khi hơi thở đã gần cạn kiệt, nhìn bóng dáng người mẹ già vẫn luôn bên anh bất kể anh thế nào. Thế mà anh chưa làm được gì báo hiếu mẹ cả, chỉ toàn làm mẹ khổ thôi. Anh hối hận, hối hận thật sự. Khao khát được sống trong anh lại trỗi dậy. Đức chợt nhớ tới Ngài Quan Âm, dồn hết tâm lực, gồng người lên, lết đến bàn thờ Quán Thế Âm Bồ Tát lẩm nhẩm khấn nguyện:
– Con hư đốn, con biết tội lỗi của mình. Xin Ngài hãy cứu sống con. Một lần này thôi, con không dám nữa. Con chưa làm được điều gì cho mẹ, cho gia đình, cho mọi người. Xin Ngài thương mà hãy cứu con.
Dường như được sự gia hộ của Bồ Tát, tự nhiên linh tính của anh thôi thúc anh phải đứng dậy, đi tới đi lui để xả chất độc dược trong người, không thể lê lết nằm một chỗ như vậy.
Đức bắt đầu bấu tay vào tường, gắng gượng đứng dậy, đi đi lại lại chậm rãi, vừa đi vừa thở hổn hển như cá mắc cạn. Sau đó, anh uống nhiều nước, rồi đi tiểu nhiều lần. Cơn sốc thuốc cũng theo đó tan biến một cách thần kì.
Sau lần suýt chết ấy, Đức suy nghĩ rất nhiều. Trong số đám bạn của anh, vài đứa chết vì sốc thuốc, đứa thì bị đâm chết, thậm chí có đứa bị tử hình. Ngay chính anh cũng mấy lần tưởng chết. Anh nghiệm ra cuộc sống này thật mong manh, nay sống mai chết không thể biết trước.
“Cuộc sống vô thường ngắn ngủi, còn biết bao nhiêu việc ý nghĩa cần làm, tại sao mình cứ chôn chân trong mấy trò điên rồ đó chứ?” – Đức nghĩ.
Kể từ đó, anh quyết tâm làm lại cuộc đời. Anh cắt liên lạc, tránh xa đám bạn xấu. Rồi vận hết ý chí bình sinh, bỏ chơi thuốc, bỏ hết các trò ăn chơi cờ bạc. Giờ đây, anh chỉ mong mỏi được quay trở lại cuộc sống bình thường để còn báo hiếu cho mẹ.
Một người bạn của chị gái khuyên nhủ Đức chịu khó đi chùa lễ Phật, sẽ giúp anh dễ dàng vượt qua khó khăn. Nhưng những khoản nợ nần cứ treo lơ lửng trước mắt, khiến anh không có tâm thế đâu vô chùa. Đức tự nhủ: “Mình phải ca hát trở lại, lấy tiền nuôi má”
Đã lâu không hát, nhưng đam mê âm nhạc chưa bao giờ tắt trong con người anh. Nó chỉ tạm thời ngủ quên, và nay thì phải đánh thức nó dậy. Anh liên hệ với các sân khấu xin đi diễn lại, nhưng họ từ chối. Anh đành xin đi hát đám cưới, nhưng ngay những đám cưới nho nhỏ cũng không tới lượt. Đức gọi điện cho nhiều anh em đồng nghiệp tìm mối:
– Có cái đám cưới nào không? Cho tôi đi hát với.
– Cát xê có 30 nghìn thôi Đức ạ.
– 30 nghìn cũng được.
– Nhưng đủ người rồi Đức ơi. Thông cảm nhé.
Thật trớ trêu, khi người ta cần anh thì anh từ chối, khi anh cần người ta thì người ta lại lánh xa. Cái tiếng ăn chơi nghiện ngập vốn đã lan ra khắp giới showbiz từ lâu, chẳng ai còn dám mời anh nữa. Đức buồn rầu cúp máy.
Chả mấy chốc, khoản thế chấp nhà cho ngân hàng đã tới thời gian đáo hạn. Nếu không có tiền trả nợ, thì hai mẹ con Đức sẽ phải ra đường. Bí quá, anh đành rao bán nhà lấy tiền trả nợ. Anh đăng bán trên các trang báo, gọi cả môi giới để mong bán được nhanh chóng. Nhưng chờ mãi chẳng bán nổi, người đến xem cũng có, nhưng không ai chốt cả. Lòng anh nóng như lửa đốt, lo lắng không yên.
“Tới nước này rồi, hay cứ lên chùa thử xem.”- Anh tự nhủ.
Một ngày đầu tháng 10 âm lịch, Đức lên xe buýt ra chùa Hoằng Pháp. Vào tới khuôn viên chùa, đôi mắt anh ngước nhìn lên cao, thấy dòng chữ “Phật Pháp nhiệm màu” rất lớn. Đức chợt xúc động, rơi nước mắt, quỳ dưới tôn tượng Quán Thế Âm Bồ Tát mà khẩn khoản:
– Con lạy Ngài, xin ngài hãy cứu con, con không biết Phật Pháp nhiệm màu là thế nào hết. Nếu mà thật sự linh thiêng, xin Ngài cho con về bán được ngôi nhà, để cứu con với má con.
Lễ Phật xong, Đức phóng tầm mắt, nhìn ngắm khuôn viên chùa, từng làn gió thong thả thổi vài chiếc lá rụng trên sân, nắng vàng phủ lên tôn tượng Phật hắt xuống thành bóng mát phủ lên vai anh. Bất chợt, Đức cảm nhận thấy một sự bình yên lạ thường. Không biết đời mình sau này sẽ về đâu, nhưng chí ít anh cũng tìm được một cảm giác bình yên mà từ lâu vắng bóng.
Ngay hôm sau, đang bồn chồn lo âu, chỉ còn vài chục tiếng nữa là ngân hàng tới tịch thu nhà, chợt chuông điện thoại reo, Đức nhấc máy. Đầu dây bên kia là đạo diễn Phương Sóc, ngỏ ý muốn mua căn nhà này, rồi ngay lập tức đặt cọc tiền.
Cuộc trao đổi mua bán diễn ra nhanh chóng kì lạ, khiến Đức mất vài phút ngẩn ngơ. Đã một thời gian dài đăng bán mãi không được, đằng này chỉ sau đúng một hôm kể từ khi Đức khấn xin Quán Thế Âm Bồ Tát.
“Phật Pháp nhiệm màu là thật” – Đức khẳng định.
Bán được nhà, trả xong các khoản nợ. Đức mua hương hoa trái cây lên chùa cúng dường, một lần nữa, anh lại khấn xin Quán Thế Âm Bồ Tát gia hộ cho mình có thể quay lại sự nghiệp âm nhạc, đem tiếng hát của mình ca ngợi Tam Bảo, Phật Pháp.
Một lần nữa anh lại toại nguyện. Những người đồng nghiệp cũ bắt đầu rủ anh đi hát cho các chùa, các chương trình thiện nguyện, anh hăng hái tham gia ngay. Không lâu sau, anh có cơ hội hợp tác với nhạc sỹ Vũ Ngọc Toản để thu âm, trình diễn những ca khúc Phật giáo ở khắp mọi miền. Tuy thu nhập không nhiều, hoặc có khi không có thù lao, nhưng Đức rất hạnh phúc vì lại có cơ hội đứng trên sân khấu.
Cảm động trước sự từ bi gia hộ của Quán Thế Âm Bồ Tát, Đức liên hệ với nhạc sỹ Hàn Châu, kể lại chuyện đời mình, khẩn khoản nhờ nhạc sỹ sáng tác riêng một ca khúc như một sự tri ân sâu sắc anh muốn dâng lên Tam Bảo.
Và trong chương trình Phật Pháp nhiệm màu kỳ 26 tại chùa Hoằng Pháp năm 2014, trước hàng ngàn Phật tử, Nguyễn Đức đã đem bài hát “Lạy Phật Quan Âm” ấy hát lên bằng tất cả trái tim chân thành, sự biết ơn vô bờ với Quán Thế Âm Bồ Tát. Bằng một chất giọng ấm áp đầy truyền cảm, cùng với phong thái nhẹ nhàng, từ ái, bài hát đã tỏa ra một nguồn năng lượng bình an, hạnh phúc lan tỏa đến mọi người và dần trở nên nổi tiếng. Cũng từ lần biểu diễn đó, sự nghiệp anh có một sự chuyển biến lớn.
Ca sĩ Nguyễn Đức liên tiếp được mời đi các chương trình khắp trong và ngoài nước, đem tiếng hát ca ngợi Phật Pháp lan tỏa nơi nơi. Anh cũng không quản ngại xa xôi, sẵn sàng lặn lội tới tận những vùng sâu vùng xa hát từ thiện. Và bây giờ, Nguyễn Đức đã trở thành một tên tuổi vang danh gắn liền với dòng nhạc Phật giáo.
Đức có thu nhập ổn định trở lại. Không dại dột như xưa đem tiền đốt vào những cuộc chơi trác táng, anh dành dụm tiền mua một căn nhà ở quận 8 để hai mẹ con ở, và mua thêm vài mảnh đất nữa. Đức chia sẻ với mọi người:
– Có Phật Pháp, đời mình thật sung sướng, tâm luôn thanh thản, đi đâu cũng được mọi người thương mến, được làm công việc ý nghĩa.
Mỗi ngày, anh đều đặn lên chùa Bửu Đà tụng kinh, học hỏi giáo lý. Tâm tính dần biến chuyển, đến nay đã không còn tha thiết gì với những cám dỗ sa đọa ngoài xã hội. Anh chỉ tập trung vào sự nghiệp âm nhạc Phật giáo, và chăm sóc mẹ già. Phần lớn thời gian anh đều ở bên cạnh mẹ, săn sóc bà từng chút một. Ngoài ra, Đức dần tiến sâu vào học hỏi, thực hành giáo lý Phật Pháp.
Anh thường ngày trì kinh Pháp Hoa đều đặn, đi đứng nằm ngồi thường niệm Phật, trì chú Đại Bi. Mỗi ngày trôi qua như vậy đều là một ngày an lạc, hạnh phúc đối với anh.
Cuộc đời luôn đầy rẫy những cám dỗ, trực chờ kéo con người ta rơi xuống bùn lầy. Đức đã không đủ bản lĩnh để tránh khỏi những cám dỗ đó. Rất nhiều người trong số chúng ta cũng vậy. Nhưng một lần sa chân không có nghĩa là không còn đường cứu thoát. Với sự nỗ lực hết mình, cùng với ánh sáng soi lối của Phật Pháp, ca sĩ Nguyễn Đức đã bước ra khỏi vũng lầy nhơ nhớp, đứng dậy làm lại cuộc đời. Câu truyện của anh đã truyền cảm hứng cho những ai lầm đường lỡ bước, có thêm động lực để làm lại cuộc đời, tìm về nơi ánh sáng.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Nguyễn Đức)
Mong muốn cho người thân đã mất được siêu thoát về một chốn an lành là một ước muốn hết sức đáng trân trọng và cũng rất tự nhiên của con người. Tuy nhiên, làm như thế nào để người thân đã khuất thực sự được an lành, là một vấn đề không hề đơn giản.
Nguyễn Hồng Hạnh, pháp danh Liên Tịnh, sinh năm 1993, sống tại Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Cha cô là một người hiền lành, chất phác, nhưng không may mắc bệnh ung thư xương răng, đã tạ thế năm 2012. Hồi cha cô mới mất, cả gia đình không biết Phật Pháp, nên cũng chỉ mời thầy cúng kiếng tang lễ như mọi nhà mà thôi.
Vài năm sau, mẹ và cô dần biết đến Phật Pháp. học hỏi giáo lý, rồi cô chuyển sang ăn chay được mấy năm. Đặc biệt có duyên với Bồ Tát Địa Tạng, nên hai mẹ con thường thích tụng kinh Địa Tạng. Cho tới nay, khi đã hiểu Phật Pháp hơn cô thấy mình phải làm gì đó giúp cha siêu thoát lên cõi an lành thì cô mới yên tâm được. Và chỉ có Phật Pháp mới giúp cô thực hiện được điều đó.
Năm 2022, vào tiết thanh minh, cô và mọi người trong gia đình cùng đến tảo mộ cho người cha đã khuất. Những kí ức về cha cứ thế ào ạt ùa về, cô quỳ xuống trước phần mộ, chắp tay cung kính đọc phẩm 9 kinh Địa Tạng. Sau đó, cô tha thiết trì niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng và Đức Phật A Di Đà. Vừa tụng niệm, vừa hướng về người cha của mình, có bao nhiêu công đức, cô xin hồi hướng cho ông được siêu thoát.
Cảm thấy như thế vẫn còn ít, trở về nhà, Hạnh phát nguyện cầu siêu cho ông. Mỗi lần tụng đọc Kinh Địa Tạng, cô đều quỳ thẳng cung kính, tuy khá đau nhức nhưng vì cha cô đã cố gắng vượt qua.
Sau một thời gian ngắn đọc tụng, đêm hôm đó, lần đầu sau khoảng 10 năm cha mất ông trở về trong giấc mơ của cô. Vẫn là hình ảnh ông đau bệnh, nằm một chỗ y như hồi mới mất, ông vận chiếc áo thun trắng mà ông hay mặc hàng ngày lúc sinh thời. Khối u vẫn lở loét trên khuôn mặt biến dạng.
Đoán rằng cha cô vẫn còn chịu khổ sở trong vô hình, nên mới báo mộng cho cô như vậy. Hạnh xót xa trong lòng. Cô quyết tâm kiên trì tạo công đức hồi hướng cho cha đến khi nào có chuyển biến mới thôi. Không chỉ duy trì đọc kinh Địa Tạng, Hạnh phát tâm cúng dường trai tăng, phóng sinh, tạc tượng và một số việc thiện khác.
Một thời gian ngắn sau, một lần nữa, cô mơ thấy cha, vẫn khoác trên người bộ quần áo quen thuộc, dù nằm mệt mỏi nhưng cố gượng dậy chào hỏi mọi người. Cô nói với ông trong giấc mộng:
– Ba ơi, ba nhớ niệm Phật cùng con nhé.
Nghe lời con gái, ông ngồi niệm Phật cùng mọi người, bất chấp khổ đau đang bủa vây lấy mình, rồi Hạnh tỉnh giấc.
Những ngày sau đó, cô tụng thêm hơn 10 biến kinh Địa Tạng, và niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng 10,000 biến hồi hướng cho cha.
Lần tiếp theo, cha cô lại trở về trong giấc mộng của con gái, lần thứ ba này đã có sự tiến triển rõ rệt. Ông đi lại khỏe mạnh, hơn nữa còn niệm Phật chăm chỉ cùng đại chúng. Thấy thế, cô cũng thấy nhẹ lòng, cuối cùng đã có chuyển biến, ít ra cha cô không còn phải chịu đau đớn nữa.
Hạnh có một người bạn là nhà ngoại cảm, có khả năng giao tiếp với chúng sinh cõi vô hình. Hôm đó, cô tới thăm nhà chị để tặng kinh Chiêm Sát Sám Nghi. Nói chuyện được một lúc chị liền nói:
– Ba em đang đi theo em đó, thân tướng ông khỏe mạnh và muốn chị chuyển lời tới em. Bác nhờ chị gửi lời cảm ơn em. Nhờ em tu tập hồi hướng công đức cho bác nên bây giờ bác đã hết đau đớn rồi. Bác bảo khi tụng kinh Địa Tạng cho bác, em hay thấy nóng bừng lên ở cổ và mặt, những lúc em bị như vậy là do uy lực của kinh điển đang tiêu trừ nghiệp chướng cho bác, giúp bác đỡ khổ hơn nhiều. Mà bác cũng nói rằng thấy em tu thì bác cứ tu theo chứ không hiểu tu để làm gì đâu.
“Ôi trời, đúng thật rồi. Bởi vì mình có nói gì với chị ấy về chuyện này đâu.” – Hạnh khấp khởi trong lòng.
Nghe chị bạn truyền đạt lại lời cha, cô mới nhìn ra điểm cần lưu ý. Cô chỉ khuyên cha niệm Phật nhưng lại chưa khai thị về cảnh giới Tây Phương. Đúng là thiếu sót thật. Chị ấy khuyên cô nên tụng kinh Vô Lượng Thọ, nhằm giúp ông biết về cõi Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà mà nguyện sinh về cõi đó.
Thấy hợp lý, khi về cô liền phát tâm tụng kinh Vô Lượng Thọ, niệm Phật, kết hợp khai thị cho cha theo cuốn “Nghi thức cầu siêu” của Quang Tử để ông nắm được bản chất của thế gian và vì sao nên phát nguyện vãng sinh Cực Lạc.
Và đây là link cuốn Nghi thức đó:
SÁCH “NGHI THỨC CẦU SIÊU”
Cứ như vậy một thời gian ngắn sau, Hạnh mơ thấy cha về lần thứ 4. Lần này, ông rất vui vẻ nói chuyện với mọi người, ánh mắt lộ rõ niềm hoan hỷ, rồi bay vút lên không trung. Từ đó trở đi, cô không còn mơ thấy ông một lần nào nữa.
Thức giấc, cô bồi hồi, tự nhủ: “Ba đã siêu thoát rồi.”
Cô đã làm được điều mong mỏi bấy lâu. Trong lòng dâng trào một niềm hạnh phúc và cảm ân sâu sắc tới sự gia trì của chư Phật, Bồ Tát.
Vốn là một người có tín tâm Phật Pháp, sau những gì đã trải nghiệm, niềm tin ấy càng thêm sâu chắc, uy lực của Phật Pháp mạnh mẽ, nhiệm màu không thể nghĩ bàn, là cứu cánh giúp cha cô thoát khổ được vui, giúp cô làm tròn đạo hiếu, là con thuyền đưa tất cả chúng sinh ra khỏi biển mê về nơi bờ Giác, miễn là chúng ta chịu bước lên con thuyền ấy.
Rất đông người vẫn cho rằng sám hối oan gia là một việc mê tín, viển vông. Ấy nhưng thực tế lại vẫn luôn có những trường hợp bất ngờ.
Cô gái với 7 năm bệnh tật
“Lại nữa rồi, đau quá. Aaaaaa!!!…”
Thắm hét lên, chợt khụy gối, rồi cả người từ từ nằm rụp xuống sàn. Thắm quằn quại, khuôn mặt nhăn nhó, hai tay ôm ghì lấy phần bụng trái đang đau dữ dội, hai chân co quắp lên áp sát bụng, cả người Thắm trong tư thế cuộn tròn đối phó với cơn đau. Miệng cô không ngừng phát ra âm thanh, khi thì thét lên, lúc lại rên rỉ, có khi cơn đau kéo dài làm Thắm mệt lả, chỉ còn nghiến răng nghiến lợi, những tiếng rên nhỏ lại dần, thậm chí thiếp đi lúc nào không rõ.
Tô Thị Thắm, sinh năm 1998, ở xóm 1, xã Nghĩa Thuận, thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An. Học xong cấp 3, cô thi đỗ đại học, trở thành tân sinh viên trường Kinh Tế Quốc Dân. Sau mấy năm đèn sách vất vả, Thắm mơ mộng về tương lai tươi sáng với một sự nghiệp phát triển. Thế nhưng mọi việc không theo chiều hướng cô mong muốn. Ngay từ thời còn ngồi trên giảng đường, sức khỏe Thắm đã có vấn đề.
Cô thường xuyên bị những cơn đau bụng cường độ mạnh như vậy hành hạ khổ sở, kèm thêm chứng rối loạn lưỡng cực, lúc vui lúc buồn, lúc hưng phấn khi lại trầm cảm không lý do. Sức khỏe thể chất lẫn tinh thần đều bị tụt dốc, khiến Thắm mệt mỏi, chán chường, bi quan với cuộc đời. Cả sinh hoạt lẫn công việc đều bị ảnh hưởng trầm trọng.
Cơn đau như thế kia không phải chỉ diễn ra một thời gian ngắn, mà đã kéo dài liên tục suốt bảy năm trời đằng đẵng, phá hủy đi những năm tháng thanh xuân tươi đẹp của một cô gái còn rất trẻ. Thắm không thể ngồi yên mãi được, có bệnh thì vái tứ phương.
Thắm bắt đầu rong ruổi khắp các bệnh viện lớn nhỏ, đếm sơ sơ cũng tầm chục cái, kể cả những nơi có tiếng như viện Bạch Mai, viện Đại Học Y Hà Nội, viện Ung Bướu cũng không thiếu dấu chân của cô. Vậy mà không nơi nào tìm ra căn nguyên chứng đau bụng kì lạ này, họ chỉ có thể kê thuốc trị triệu chứng, nhưng rốt cuộc cũng chẳng có kết quả. Thuốc tây không được, Thắm chuyển sang thuốc Nam, rồi thuốc Bắc. Cuối cùng đau vẫn hoàn đau, chẳng ăn nhằm gì. Thậm chí, chứng đau bụng ngày càng phát tác mạnh mẽ hơn.
Là một sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc, ra trường Thắm không thiếu những lời mời vào làm tại nhiều ngân hàng lớn. Nhưng bệnh nặng khiến cô không thể nhận lời. Hậu quả là Thắm phải ở nhà ba năm trời, hoàn toàn không thể đi làm được. Bệnh tật khiến chứng rối loạn tâm lý của cô càng thêm nặng. Có những lúc cô không kiểm soát được hành vi của mình, đứng ngồi không yên, cứ đi đi lại lại cả ngày không biết để làm gì.
Và lại thêm một vấn đề đáng ngại nữa, ấy là chứng mất ngủ, dù cô đã uống thuốc ngủ nhưng không tác dụng. Những đêm trường trằn trọc không sao ngủ được càng khiến tình hình tồi tệ thêm. Sau rất nhiều cố gắng nỗ lực chữa bệnh, Thắm gần như tuyệt vọng.
Tưởng rằng cánh cửa tương lai đã khóa lại trước mắt Thắm. Thế nhưng trên đời này vốn có rất nhiều điều kì diệu nằm ngoài hiểu biết thông thường của con người, có những cách chữa bệnh không phải tới bệnh viện, thậm chí chẳng tốn một xu, chỉ cần bạn chịu khó thực hành.
Nhờ nhân duyên nào đó, Thắm biết tới Phật Pháp, chú Đại Bi và phương pháp lạy sám hối. Đã tới nước này, có gì còn ngần ngại, Thắm biết cách nào sẽ thử ngay cách đó. Cô bắt đầu trì chú Đại Bi và lạy sám hối, có những ngày tinh tấn, cô trì lên tới 108 biến chú. Đã rất nhiều người nhờ thực hành Phật Pháp mà khỏi bệnh. Thắm tin tưởng và hy vọng mình cũng không ngoại lệ.
Ấy thế nhưng, sau một thời gian Thắm thực hành mà chưa thấy đỡ chút nào. Những cơn đau vẫn hành hạ cô đến điên dại, rồi cô nghĩ quẩn: “ Chết quách đi cho xong.” Sự đau đớn quá mức chịu đựng khiến Thắm muốn tự tử, không ai có thể giúp cô hết đau, thì cô sẽ tự “giúp” mình. Nghĩ là làm, Thắm chạy ra hiệu thuốc mua thật nhiều Panadol, rồi trở về nhà, cô bóc từng vỉ thuốc, gom lại được 50 viên, cứ thế uống hết vào bụng, rồi nằm chờ chết.
Thắm đinh ninh hôm nay sẽ là ngày cuối cùng của cuộc đời mình, chấm dứt mọi sự đau đớn trong suốt bao năm qua. Vậy mà cuối cùng cô thấy khó chịu, rồi nôn ói hết ra, lại bình thường như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Thêm một lần nữa, Thắm tự tử bằng cách thắt cổ, nhưng lóng ngóng mãi vẫn không thành công.
Sau hai lần tự tử không thành, Thắm thở dài, rồi chợt nghĩ: “Lẽ nào chư Phật không muốn mình chết nên đã cứu mình chăng?”
Vậy nên Thắm đổi ý, từ bỏ ý định tự tử, Thắm xốc lại tinh thần, tiếp tục kiên cường trên cuộc hành trình chữa bệnh dai dẳng. Một lần Thắm nghĩ: “Đã có nhiều người khỏi bệnh nhờ Phật Pháp rồi, chẳng có gì để nghi ngờ cả, chỉ sợ mình chưa biết cách thực hiện sao cho bài bản và hiệu quả.”
Cô tìm hiểu và thực hành theo rất nhiều phương pháp tu tập khác nhau, hết chùa này đến hội nhóm tâm linh khác, rốt cuộc một thời gian dài vẫn chưa có gì thay đổi. Rồi Thắm tình cờ biết tới facebook của anh Quang Tử. Ở đâu có phương pháp, Thắm đều chẳng ngần ngại hỏi han.
Sám hối oan gia và kết quả bất ngờ
Nghĩ vậy, ngày 14/06/2023, cô quyết định nhắn tin cho anh Quang Tử, kể lại về căn bệnh của mình nhờ tư vấn, và được anh nhận định rằng, vấn đề của cô là do các vong oan gia trái chủ gây ra. Nên anh gửi cho Thắm Nghi thức Cầu siêu sám hối oan gia đã được soạn bài bản, trong đó kết hợp nhiều pháp môn khác nhau như sám hối, niệm Phật, trì chú, khai thị… để tối ưu hiệu quả.
Và đây là link Nghi thức đó, bấm vào để xem chi tiết:
NGHI THỨC SÁM HỐI – CẦU SIÊU OAN GIA TRÁI CHỦ
Chẳng trì hoãn thêm nữa, sau khi được hướng dẫn, Thắm hăm hở bắt tay ngay vào hành trì. Thế nhưng, một lần nữa, kết quả làm cô có đôi chút hoang mang. Một tuần sau, ngày 21/06/2023, cô nhắn tin thông báo cho anh Quang Tử:
– Dạ, anh cho em hỏi, từ hôm sám hối oan gia đến nay, bụng em chẳng đỡ mà còn đau dữ dội hơn nữa, cả ngày lẫn đêm không chịu nổi. Có phải oan gia trái chủ đến đòi nợ không anh?
Anh Quang Tử trả lời:
– Đúng vậy đó. Em cố gắng chịu đựng và tiếp tục sám hối oan gia. Họ trả thù lần cuối rồi sẽ tha thứ và nhiều kiếp sau cũng không quay lại báo thù nữa.
Sám hối oan gia 1 tháng được khỏi bệnh
Thắm yên tâm hơn, quyết tâm chịu đựng sự đau đớn này. Dù sao đó cũng là do cô đã có lỗi với họ, cô chỉ biết hổ thẹn với lòng chứ không dám oán trách gì cả, liên tục miệt mài cầu siêu cho oan gia.
Hơn một tháng sau, Thắm đã thực hành nghi thức sám hối oan gia được khoảng 30 lần. Cơn đau đã nhẹ đi tới 90%, chỉ còn 10% âm ỉ đau trong bụng. Thật là một kì tích. Suốt bảy năm trời bị căn bệnh hành hạ, các bệnh viện đều bó tay, mọi loại thuốc đều vô hiệu, nay Thắm mừng rỡ, xác thực công năng không thể nghĩ bàn của Phật Pháp. Cô quyết tâm thực hiện tiếp cho tới khi nào bệnh tình dứt điểm mới thôi.
Chẳng những bệnh đau bụng thuyên giảm đáng kể, mà bệnh rối loạn tâm lý của Thắm cũng chuyển biến rõ rệt. Giờ cô vui vẻ, lạc quan, ngủ cả đêm an lành chẳng cần đến thuốc, cuộc sống bước sang một trang mới. Sau ba năm ở nhà không thể đi làm, nay Thắm đã xin được một công việc rất tốt, làm giáo viên tại một trung tâm Tiếng Anh gần nhà. Cánh cửa tương lai đã mở ra, Thắm vô cùng biết ơn Phật Pháp đã giúp cô khỏi bệnh.
Công năng của Phật Pháp vẫn luôn mạnh mẽ như thế, nhưng nghiệp chướng của chúng sinh sai khác rất nhiều, nên người kết quả đến nhanh, người chậm. Nếu ngay từ lúc mới trì chú và lạy sám hối đơn thuần chưa mang lại kết quả, hoặc sau khi thực hành nghi thức sám hối oan gia bị đau đớn dữ dội hơn, Thắm không kiên trì tiếp tục nổi, mất niềm tin nơi Phật Pháp mà bỏ ngang, thì nay cô vẫn sẽ phải vùi mình trong bệnh tật.
Chính sự kiên trì, quyết tâm, cộng thêm sự tư duy, suy xét vấn đề, ham học hỏi v.v… mỗi yếu tố đều góp phần hỗ trợ Thắm cũng như tất cả chúng ta tiến lên trên con đường tu học, giải quyết những khổ nạn của hiện tại và hướng đến sự giải thoát viên mãn về sau.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Tô Thị Thắm)
Mỗi bài viết là một ngọn đèn nhỏ, mong soi sáng phần nào trên hành trình tu học của bạn. Để những ngọn đèn ấy không ngừng cháy sáng, lan tỏa ánh sáng Phật Pháp đến khắp mọi nơi là tâm nguyện của chúng tôi, nhưng để hành trình này được bền bỉ, chúng tôi rất cần sự chung tay của bạn.
Nếu nhận thấy những bài viết này mang lại lợi ích cho bạn, cũng như nhiều người khác, xin hãy đồng hành cùng chúng tôi bằng cách ủng hộ kinh phí để duy trì hoạt động hoằng pháp.
Mọi đóng góp xin gửi về STK Vietcombank: 0081001314166 (Dinh Bao Trung)
Dù nhỏ bé hay lớn lao, sự sẻ chia của bạn đều là động lực quý giá để chúng tôi tiếp tục hành trình ý nghĩa này. Chân thành tri ân!
“Lại nữa rồi, đau quá. Aaaaaa!!!…”
Thắm hét lên, chợt khụy gối, rồi cả người từ từ nằm rụp xuống sàn. Thắm quằn quại, khuôn mặt nhăn nhó, hai tay ôm ghì lấy phần bụng trái đang đau dữ dội, hai chân co quắp lên áp sát bụng, cả người Thắm trong tư thế cuộn tròn đối phó với cơn đau. Miệng cô không ngừng phát ra âm thanh, khi thì thét lên, lúc lại rên rỉ, có khi cơn đau kéo dài làm Thắm mệt lả, chỉ còn nghiến răng nghiến lợi, những tiếng rên nhỏ lại dần, thậm chí thiếp đi lúc nào không rõ.
Tô Thị Thắm, sinh năm 1998, ở xóm 1, xã Nghĩa Thuận, thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An. Học xong cấp 3, cô thi đỗ đại học, trở thành tân sinh viên trường Kinh Tế Quốc Dân. Sau mấy năm đèn sách vất vả, Thắm mơ mộng về tương lai tươi sáng với một sự nghiệp phát triển. Thế nhưng mọi việc không theo chiều hướng cô mong muốn. Ngay từ thời còn ngồi trên giảng đường, sức khỏe Thắm đã có vấn đề.
Cô thường xuyên bị những cơn đau bụng cường độ mạnh như vậy hành hạ khổ sở, kèm thêm chứng rối loạn lưỡng cực, lúc vui lúc buồn, lúc hưng phấn khi lại trầm cảm không lý do. Sức khỏe thể chất lẫn tinh thần đều bị tụt dốc, khiến Thắm mệt mỏi, chán chường, bi quan với cuộc đời. Cả sinh hoạt lẫn công việc đều bị ảnh hưởng trầm trọng.
Cơn đau như thế kia không phải chỉ diễn ra một thời gian ngắn, mà đã kéo dài liên tục suốt bảy năm trời đằng đẵng, phá hủy đi những năm tháng thanh xuân tươi đẹp của một cô gái còn rất trẻ. Thắm không thể ngồi yên mãi được, có bệnh thì vái tứ phương.
Thắm bắt đầu rong ruổi khắp các bệnh viện lớn nhỏ, đếm sơ sơ cũng tầm chục cái, kể cả những nơi có tiếng như viện Bạch Mai, viện Đại Học Y Hà Nội, viện Ung Bướu cũng không thiếu dấu chân của cô. Vậy mà không nơi nào tìm ra căn nguyên chứng đau bụng kì lạ này, họ chỉ có thể kê thuốc trị triệu chứng, nhưng rốt cuộc cũng chẳng có kết quả. Thuốc tây không được, Thắm chuyển sang thuốc Nam, rồi thuốc Bắc. Cuối cùng đau vẫn hoàn đau, chẳng ăn nhằm gì. Thậm chí, chứng đau bụng ngày càng phát tác mạnh mẽ hơn.
Là một sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc, ra trường Thắm không thiếu những lời mời vào làm tại nhiều ngân hàng lớn. Nhưng bệnh nặng khiến cô không thể nhận lời. Hậu quả là Thắm phải ở nhà ba năm trời, hoàn toàn không thể đi làm được. Bệnh tật khiến chứng rối loạn tâm lý của cô càng thêm nặng. Có những lúc cô không kiểm soát được hành vi của mình, đứng ngồi không yên, cứ đi đi lại lại cả ngày không biết để làm gì.
Và lại thêm một vấn đề đáng ngại nữa, ấy là chứng mất ngủ, dù cô đã uống thuốc ngủ nhưng không tác dụng. Những đêm trường trằn trọc không sao ngủ được càng khiến tình hình tồi tệ thêm. Sau rất nhiều cố gắng nỗ lực chữa bệnh, Thắm gần như tuyệt vọng.
Tưởng rằng cánh cửa tương lai đã khóa lại trước mắt Thắm. Thế nhưng trên đời này vốn có rất nhiều điều kì diệu nằm ngoài hiểu biết thông thường của con người, có những cách chữa bệnh không phải tới bệnh viện, thậm chí chẳng tốn một xu, chỉ cần bạn chịu khó thực hành.
Nhờ nhân duyên nào đó, Thắm biết tới Phật Pháp, chú Đại Bi và phương pháp lạy sám hối. Đã tới nước này, có gì còn ngần ngại, Thắm biết cách nào sẽ thử ngay cách đó. Cô bắt đầu trì chú Đại Bi và lạy sám hối, có những ngày tinh tấn, cô trì lên tới 108 biến chú. Đã rất nhiều người nhờ thực hành Phật Pháp mà khỏi bệnh. Thắm tin tưởng và hy vọng mình cũng không ngoại lệ.
Ấy thế nhưng, sau một thời gian Thắm thực hành mà chưa thấy đỡ chút nào. Những cơn đau vẫn hành hạ cô đến điên dại, rồi cô nghĩ quẩn: “ Chết quách đi cho xong.” Sự đau đớn quá mức chịu đựng khiến Thắm muốn tự tử, không ai có thể giúp cô hết đau, thì cô sẽ tự “giúp” mình. Nghĩ là làm, Thắm chạy ra hiệu thuốc mua thật nhiều Panadol, rồi trở về nhà, cô bóc từng vỉ thuốc, gom lại được 50 viên, cứ thế uống hết vào bụng, rồi nằm chờ chết.
Thắm đinh ninh hôm nay sẽ là ngày cuối cùng của cuộc đời mình, chấm dứt mọi sự đau đớn trong suốt bao năm qua. Vậy mà cuối cùng cô thấy khó chịu, rồi nôn ói hết ra, lại bình thường như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Thêm một lần nữa, Thắm tự tử bằng cách thắt cổ, nhưng lóng ngóng mãi vẫn không thành công.
Sau hai lần tự tử không thành, Thắm thở dài, rồi chợt nghĩ: “Lẽ nào chư Phật không muốn mình chết nên đã cứu mình chăng?”
Vậy nên Thắm đổi ý, từ bỏ ý định tự tử, Thắm xốc lại tinh thần, tiếp tục kiên cường trên cuộc hành trình chữa bệnh dai dẳng. Một lần Thắm nghĩ: “Đã có nhiều người khỏi bệnh nhờ Phật Pháp rồi, chẳng có gì để nghi ngờ cả, chỉ sợ mình chưa biết cách thực hiện sao cho bài bản và hiệu quả.”
Cô tìm hiểu và thực hành theo rất nhiều phương pháp tu tập khác nhau, hết chùa này đến hội nhóm tâm linh khác, rốt cuộc một thời gian dài vẫn chưa có gì thay đổi. Rồi Thắm tình cờ biết tới facebook của anh Quang Tử. Ở đâu có phương pháp, Thắm đều chẳng ngần ngại hỏi han.
Sám hối oan gia và kết quả bất ngờ
Nghĩ vậy, ngày 14/06/2023, cô quyết định nhắn tin cho anh Quang Tử, kể lại về căn bệnh của mình nhờ tư vấn, và được anh nhận định rằng, vấn đề của cô là do các vong oan gia trái chủ gây ra. Nên anh gửi cho Thắm Nghi thức Cầu siêu sám hối oan gia đã được soạn bài bản, trong đó kết hợp nhiều pháp môn khác nhau như sám hối, niệm Phật, trì chú, khai thị… để tối ưu hiệu quả.
Và đây là link Nghi thức đó, bấm vào để xem chi tiết:
NGHI THỨC SÁM HỐI – CẦU SIÊU OAN GIA TRÁI CHỦ
Chẳng trì hoãn thêm nữa, sau khi được hướng dẫn, Thắm hăm hở bắt tay ngay vào hành trì. Thế nhưng, một lần nữa, kết quả làm cô có đôi chút hoang mang. Một tuần sau, ngày 21/06/2023, cô nhắn tin thông báo cho anh Quang Tử:
– Dạ, anh cho em hỏi, từ hôm sám hối oan gia đến nay, bụng em chẳng đỡ mà còn đau dữ dội hơn nữa, cả ngày lẫn đêm không chịu nổi. Có phải oan gia trái chủ đến đòi nợ không anh?
Anh Quang Tử trả lời:
– Đúng vậy đó. Em cố gắng chịu đựng và tiếp tục sám hối, cầu siêu cho họ. Họ trả thù lần cuối rồi sẽ tha thứ và nhiều kiếp sau cũng không quay lại báo thù nữa.
Thắm yên tâm hơn, quyết tâm chịu đựng sự đau đớn này. Dù sao đó cũng là do cô đã có lỗi với họ, cô chỉ biết hổ thẹn với lòng chứ không dám oán trách gì cả, liên tục miệt mài cầu siêu cho oan gia.
Hơn một tháng sau, Thắm đã thực hành nghi thức sám hối – cầu siêu oan gia được khoảng 30 lần. Cơn đau đã nhẹ đi tới 90%, chỉ còn 10% âm ỉ đau trong bụng. Thật là một kì tích. Suốt bảy năm trời bị căn bệnh hành hạ, các bệnh viện đều bó tay, mọi loại thuốc đều vô hiệu, nay Thắm mừng rỡ, xác thực công năng không thể nghĩ bàn của Phật Pháp. Cô quyết tâm thực hiện tiếp cho tới khi nào bệnh tình dứt điểm mới thôi.
Chẳng những bệnh đau bụng thuyên giảm đáng kể, mà bệnh rối loạn tâm lý của Thắm cũng chuyển biến rõ rệt. Giờ cô vui vẻ, lạc quan, ngủ cả đêm an lành chẳng cần đến thuốc, cuộc sống bước sang một trang mới. Sau ba năm ở nhà không thể đi làm, nay Thắm đã xin được một công việc rất tốt, làm giáo viên tại một trung tâm Tiếng Anh gần nhà. Cánh cửa tương lai đã mở ra, Thắm vô cùng biết ơn Phật Pháp đã giúp cô khỏi bệnh.
Công năng của Phật Pháp vẫn luôn mạnh mẽ như thế, nhưng nghiệp chướng của chúng sinh sai khác rất nhiều, nên người kết quả đến nhanh, người chậm. Nếu ngay từ lúc mới trì chú và lạy sám hối đơn thuần chưa mang lại kết quả, hoặc sau khi thực hành nghi thức sám hối với oan gia bị đau đớn dữ dội hơn, Thắm không kiên trì tiếp tục nổi, mất niềm tin nơi Phật Pháp mà bỏ ngang, thì nay cô vẫn sẽ phải vùi mình trong bệnh tật.
Chính sự kiên trì, quyết tâm, cộng thêm sự tư duy, suy xét vấn đề, ham học hỏi v.v… mỗi yếu tố đều góp phần hỗ trợ Thắm cũng như tất cả chúng ta tiến lên trên con đường tu học, giải quyết những khổ nạn của hiện tại và hướng đến sự giải thoát viên mãn về sau.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Tô Thị Thắm)
Có một sự thiên lệch không hề nhỏ luôn thường trực trên cái thế giới này ? Những thứ tốt đẹp, thì luôn phải vất vả nỗ lực mới có được, ấy thế mà sẽ lại bị Vô thường xóa sổ, còn những thứ tồi tệ, thì lại cứ nhan nhản mọc lên không ngừng. Muốn có sung sướng thì phải nỗ lực gây dựng, tạo phước, trong khi với khổ đau, dù qua bao nhiêu nỗ lực để xua tan, mà chúng thì cứ tràn ngập.
Giống như cây lương thực, trái cây ngon ngọt thì phải nỗ lực trồng mới có, còn cỏ dại, cây độc thì chẳng cần làm gì, tự nhiên chúng cũng mọc đầy khắp nơi, diệt mãi không hết. Cuộc sống như một cán cân bị lệch, và thật oái oăm, nó lại lệch về phía những thứ đau khổ.
Những trường hợp ta đã bàn ở phần trước, có rất nhiều người được hưởng những niềm vui sướng do họ từng tạo phước, làm những điều tốt đẹp nào đó. Xong chẳng được bao lâu, họ sẽ lại rơi vào đau khổ. Không giống với cấu trúc của chuyện cổ tích, nhân vật chính sau bao nhiêu gian khó, cuối cùng sẽ được tận hưởng cái kết có hậu, được “hạnh phúc mãi mãi về sau”.
Thực tế thì khác hẳn, nhất là khi nhìn trên bình diện tổng thể nhiều kiếp luân hồi. Chẳng có cái gọi là “khổ tận cam lai”, mà đúng ra nhìn trên bình diện tổng thể, vui sướng, hạnh phúc, chẳng qua chỉ là những phút nghỉ giải lao ít ỏi giữa những cơn khổ dai dẳng mà thôi.
Leo lên được đỉnh cao quyền lực, danh vọng, phú quý như Tô Tần, thì rồi chỉ được mấy chục năm, thoáng cái đã bị đày đọa lâu dài mấy ngàn năm trong cảnh địa ngục, súc sinh. Ngay cả được sinh lên trời hưởng lạc thú tiên cảnh như tiền kiếp của Trần Tiểu Húc, đến khi hết phước, rồi cũng rơi trở lại xuống nhân gian, nhiều kiếp chịu đủ thứ trầm luân, khổ nạn, bệnh tật.
Mà thậm chí trong lúc hưởng lạc thú của phước báo, thì vẫn xen kẽ những cái khổ này khổ nọ. Như khi Thủ Huồng tái sinh làm vua Đạo Quang, ngồi ngai vàng chí tôn, thì cũng phải đau đầu, khổ não với bao vấn nạn của quốc gia như bị giặc giã xâm lược, bị quần thần đục khoét, tham nhũng.
Một quan niệm sai lầm cho rằng khổ đau đơn thuần là do Nghiệp chướng, không tạo nghiệp sẽ không khổ, nhưng thực tế không đơn giản như vậy.
Có những nỗi khổ là do Nghiệp, như những chúng sinh tạo nghiệp phải vào địa ngục, như khi Tô Tần bị đầu thai nhiều kiếp súc sinh bị cắt cổ, mổ bụng v.v…
Xong còn có những nỗi khổ cứ theo chu kỳ là xuất hiện, không cần biết có nghiệp hay không. Như tiền kiếp Trần Tiểu Húc, khi được sinh lên trời hưởng lạc thú tuyệt đỉnh, nhưng sau 300- 500 năm thì bị rớt xuống trở lại nhân gian.
Bạn cần biết, khi một vị thiên tử cõi trời hết thọ mạng, phải xuống lại các cõi dưới, họ sẽ cảm thấy hết sức lo sợ, thống khổ, bao nhiêu sung sướng cõi trời từ nay chấm hết, tương lai là những kiếp sống ngụp lặn nơi thế gian bao khổ sở, bon chen, tranh đấu, hãm hại nhau. Nó còn ghê gớm hơn khi so với một tỉ phú bị phá sản, mất sạch gia tài, rớt xuống làm một người nghèo vô gia cư vậy.
Vậy vị thiên tử ấy đã tạo nghiệp gì mà phải chịu đau khổ này ? Không! Đó không phải do Nghiệp, mà là một nỗi khổ đã được ấn định ngay từ khi được sinh lên cõi trời. Cõi trời có nhiều điểm ưu việt hơn nhân gian, nhưng nó không phải vĩnh hằng. Khi quy luật Vô thường đến gõ cửa, sung sướng chấm hết, thì đó chính là lúc khổ Ái biệt ly giày vò, càng lưu luyến sự sung sướng bao nhiêu, thì Ái biệt ly càng ghê gớm bấy nhiêu. Như vậy cái khổ này là do chu kỳ sinh diệt mà ra, đó là do Vô thường, chứ không phải do Nghiệp.
Tương tự như vậy, trên thế gian bất luận người có phước nhiều đến thế nào, cứ sống qua 50 tuổi thì đều sẽ phải đối mặt với sự già nua, lão hóa, và rồi tiếp đến là cái chết đến gõ cửa. Đâu phải do tất cả mọi người từng tạo Nghiệp gì đó nên phải chịu những khổ đó, đơn giản vì luân hồi sinh tử này bản chất nó là như vậy, đi qua Thành – Trụ, rồi thì sẽ phải đối mặt với Hoại – Không, vậy thôi.
Nếu bạn đã nhận ra bản chất của cuộc đời này, cái gì cũng chóng tàn, chỉ mỗi cái khổ xem chừng là bất tận, lớp lớp nối nhau. Vậy xin chúc mừng, bạn đã có được một bước tiến dài trong trí tuệ nhân sinh. Không chỉ mình bạn đâu, mà hầu hết những người từng trải, chứng kiến đủ nhiều những chuyện xảy ra trên thế gian này, cũng đều phải thốt lên rằng “Đời là biển khổ”.
Khi mới bước vào đời lúc độ tuổi còn thanh xuân, tâm lý con người thường ngập đầy những hi vọng, hoài bão, về những điều mình sẽ làm trong tương lai. Người ta hay có tâm lý lạc quan, mang tên là “tư duy tích cực” để đối phó với cơn mưa những điều bất hạnh vẫn cứ tí tách rơi đều vào cuộc sống.
Khi ấy, cho dù có gặp phải những điều khổ não, thì niềm hi vọng về tương lai sẽ trấn an tâm lý con người ta như một liều thuốc an thần, để sự tích cực trong tư tưởng luôn được duy trì, để người ta có thể sống một cách vui vẻ. Nhưng sự vui vẻ ấy sẽ được bao lâu, khi cái cơn mưa bất hạnh kia thì mãi chẳng chịu dừng ?
Chẳng lâu đâu, vì thực tế thì khác xa so với tưởng tượng và chẳng giống tí nào với những lời an ủi, động viên tích cực ta vẫn thường nghe. Đến một lúc nào đó khi tuổi đời đã dầy lên, tương lai không còn gì nhiều để hứa hẹn, để trật ra một cái đám tang chờ đợi mình.
Khi phía trước chẳng còn gì đáng mong chờ, người ta sẽ có xu hướng nhìn lại những năm tháng đã đi qua. Một cách công tâm, hầu như ai cũng đếm được không biết bao nhiêu sự cố, va vấp, bao nhiêu áp lực, khó khăn, bao nhiêu chán ngán, buồn bã, bao nhiêu khổ sở đã trải qua trên đường đời. Số lượng của chúng lấn át một cách rõ ràng khi so với những vui thú có được, và đó thì lại là thực tế, chứ không giống như những hi vọng thời trẻ, vốn chỉ tồn tại trong tưởng tượng.
Và ta đành phải thừa nhận rằng: cái cuộc đời mà mình đang sống trong đấy, thật phũ phàng, nhưng phần lớn toàn là khổ mà thôi.
– Vậy tại sao ta cứ phải sống trong đó ? – Và nếu không sống trong đó thì sống ở đâu ?
Hai câu hỏi hóc búa này sẽ nảy lên khi người ta bắt đầu nghiêm túc suy xét về con đường đời của mình. Và thường thì người ta không tài nào trả lời thông suốt được cả hai câu này.
Một số trốn tránh thực tại bằng rượu giải sầu, bằng các chất kích thích, và cách này thì hậu quả tồi tệ khỏi phải bàn. Một số khác thì đành nghiến răng chịu đựng, và đánh lạc hướng tư tưởng bằng cách tập trung làm một việc gì khác để quên đi đau khổ. Nhưng cam chịu thì rõ ràng không thể nào cải thiện tình hình.
Một số khác sẽ đành quay trở lại với cách “tiêm Morphine tinh thần” bằng những suy nghĩ tích cực giả tạo. Nhưng như đã nói ở trên, cách này chẳng duy trì được bao lâu, vì giấy không gói được lửa, Morphine không chữa được bệnh. Nỗi khổ thì nó cứ lì lợm ở đó mãi, và chẳng có cách nào né tránh được.
Xong chúng ta vẫn còn một cách khác. Đó là đối diện, nhìn thẳng vào thực tế, hiểu rõ những thứ khổ đau ấy nó là gì ? Nó như thế nào? Nó từ đâu đến ? Và làm thế nào đặt dấu chấm hết cho nó ?
Nói thì dễ, nhưng trả lời được thì là chuyện khác. Điều đó khó vô cùng. Lịch sử văn minh mấy nghìn năm của nhân loại chứng kiến không biết bao nhà hiền triết đã thất bại trong việc tìm cho ra câu trả lời thỏa đáng. Họ cũng đưa ra đủ thứ lý thuyết nghe hay ho, nhưng thực tế thì chẳng giúp thay đổi được điều gì. May mắn cho chúng ta, cuối cùng cũng có một người đã thành công.
Cách đây hơn 2500 năm tại xứ Ấn Độ, thái tử Tất Đạt Đa của tiểu quốc Sakya, trong các chuyến đi vi hành của mình, chứng kiến nỗi khổ liên miên bất tận của con người trên thế gian, Ngài đã quyết định đi tìm cho ra tận cùng nguyên nhân của mọi đau khổ, và cách để đặt dấu chấm hết cho chúng.
Ngài từ bỏ ngai vàng, lặn lội vào rừng sâu núi thẳm, thử qua rất nhiều phương pháp tu luyện khác nhau để tìm cho ra câu trả lời. Sáu năm sau đó, giữa một khu rừng hoang vắng, dưới cội cây Bồ Đề, thái tử Tất Đạt Đa đã thiền định suốt 49 ngày đêm, và cuối cùng, Ngài đắc đạo, đạt đến cảnh giới Giác Ngộ tối thượng, chứng thành quả vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác, hiệu là Thích Ca Mâu Ni Phật.
Vậy khi đã chứng Đạo rồi thì Ngài có thể giải đáp những câu hỏi kia cho chúng ta không ? Tin vui cho chúng ta, câu trả lời là “Có”.
Ngay bài pháp đầu tiên sau khi chứng Đạo thành Phật, giảng tại rừng Lộc Uyển, Đức Phật đã giảng về Tứ Diệu Đế và cho chúng ta những câu trả lời thỏa đáng. Năm đệ tử đầu tiên nghe bài pháp ấy, chỉ một thời gian sau đó, thực hành theo lời Phật dạy, cũng đã chứng Đạo với quả vị A La Hán.
Mở đầu của Tứ Diệu Đế chính là Khổ Đế – Đức Phật tuyên bố Khổ chính là một chân lý của vũ trụ này, nghĩa là nó là một đặc tính, một định luật cố hữu gắn chặt với cuộc sống của mọi chúng sinh, chứ không chỉ là một hiện tượng rải rác, đơn lẻ.
… Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo. sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, buồn bã, đau thương là khổ, lo lắng, bực tức là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, bám chấp năm ấm là khổ.
12 loại khổ này được thiết kế theo kiểu một mạng lưới bủa vây trên con đường đời mà mỗi người phải đi qua. Mạng lưới này khởi đầu với Sinh và kết thúc ở Tử, ở giữa là các loại còn lại luân phiên hành hạ con người. Cụ thể hơn, ta có 4 loại khổ đi liền với 4 giai đoạn, sự kiện chính của cuộc đời: Sinh – Lão – Bệnh – Tử
Với 3 hoàn cảnh thường gặp, là Ái biệt ly, Oán tắng hội, Cầu bất đắc
Với 4 trạng thái tâm lý: Buồn bã – Đau thương – Lo lắng – Bực tức
Và tổng thể có thể gom lại trong khổ Bám chấp 5 ấm, loại khổ này xem như là tổng quát, bao hàm cả các loại khổ khác.
*Lưu ý:
Ở đây ta cần làm rõ một số từ ngữ, Khổ Sinh là nỗi khổ gặp phải khi sinh ra, chứ không phải ý nói Sinh luôn đồng nghĩa với Khổ. Giống như các thanh sắt thường xuất hiện rỉ sét, nhưng không có nghĩa là tất cả các thanh sắt trên đời đều rỉ sét.
Có một số trường hợp khi sinh ra không có gặp đau khổ, đó là các trường hợp các chư thiên được sinh ra, họ hóa sinh – tức tự biến hóa thành hình chứ không có phải nở từ trứng hay cha mẹ mang thai mà sinh ra.
Tương tự như vậy với Khổ Lão – Khổ Tử. Hầu hết khi đi đến giai đoạn già, chết, các nỗi khổ sẽ xuất hiện hành hạ chúng ta. Nhưng không phải 100%, vẫn luôn có những trường hợp ngoại lệ, ví như các thiền sư có thể nhập định và bỏ luôn thân xác, đó cũng là chết nhưng hoàn toàn không có chút đau khổ nào. Trong y học, các bác sĩ có thể điều chế những liều thuốc độc gây chết một cách cực kỳ nhẹ nhàng, không đau đớn, gọi là “cái chết nhân đạo” cho những bệnh nhân không thể chữa được nữa.
Và nữa, không phải kiếp sống nào chúng sinh cũng sẽ phải nếm đủ hết các loại khổ, ví như người chết trẻ sẽ không phải chịu khổ Lão, hay như người sinh lên cõi trời không gặp khổ về Bệnh. Xong đó chỉ là một kiếp, trong khi luân hồi là vô tận, qua những kiếp sau thì vẫn tiếp tục nếm đủ các thể loại khổ thôi, chẳng thoát đi đằng nào được.
Có thể nói, các thể loại khổ đau đã được bày bố sẵn trên con đường đời của bạn ngay từ lúc bạn chào đời. Chúng chỉ chờ tới lúc bạn đến nơi và xồ ra thôi. Và câu chuyện của một người vô danh sau đây sẽ giúp bạn dễ dàng hình dung ra điều này.
CHUYỆN ĐỜI NGƯỜI …
“Tôi là một người bình thường, vô danh trên thế giới này, sống một cuộc đời như phần lớn mọi người đã sống. Để đến được với thế giới này, tôi phải được sinh ra như bao đứa trẻ khác. Hầu hết mọi người đều cho rằng việc sinh ra thì có gì đâu mà gọi là khổ. Thực ra đó là vì các ký ức tuổi thơ từ khi trong bụng mẹ đến khi 2 tuổi đã bị quên lãng cả. Nhưng nếu nhớ lại được thì mọi người sẽ thấy việc ở trong thai gò bó, chật chội và quá trình được sinh ra không dễ chịu chút nào.
Và đây là thứ khổ đầu tiên tôi cũng như vô số những đứa trẻ khác đã nếm trải.
KHỔ SINH :
Khi một chúng sinh tiến nhập vào trong bào thai, các dây thần kinh cảm thụ dần phát triển, cảm nhận rõ nét được xung quanh, nhưng khi ấy da thịt thì vô cùng mỏng manh, chưa có lấy một chút sức chịu đựng nào. Thế nên nhất cử nhất động của người mẹ mang thai đều có thể khiến thai nhi đau đớn, như cử động mạnh thì thai nhi chịu dằn xóc khổ sở, uống nước nóng thì thai nhi thấy bỏng rát, uống nước lạnh thì thai nhi thấy tê buốt. Ngày này qua tháng khác bị giam nhốt trong bụng mẹ chật hẹp, tay chân lúc nào cũng phải giữ trong tư thế co quắp.Đến ngày sinh nở, cả cơ thể phải quay đầu, chui qua sản môn chật hẹp, Đức Phật ví như một con voi phải chui qua một khe đá hẹp, bị dồn ép tột độ, toàn thân đau nhức kinh khủngVừa ra đến bên ngoài, liền bị bà đỡ – hay hộ sinh đem đi tắm rửa, kỳ cọ các thứ máu mủ, nước ối… làn da mỏng manh lập tức thấy như kim châm dao cắt. Rồi bắt đầu từ đó, mở ra cả một cuộc đời với đủ thứ áp lực, sóng gió, tùy nghiệp chướng nặng nhẹ mà khổ nhiều hay khổ ít.Tuy nhiên thường ít ai nhắc đến nỗi khổ của sinh, lí do đơn giản là không ai còn nhớ. Khi trưởng thành, mọi kí ức khi ở trong thai, lúc mới chào đời, 1-2 năm tuổi hầu hết đều đã quên không nhớ được gì.
Sinh ra không được bao lâu, vì cơ thể non nớt, yếu ớt, nên tôi thường xuyên bị bệnh, hết cảm đến sốt, hết sốt đến ho, hết ho đến phát ban…hàng chục loại bệnh khác nhau, chưa kể các tai nạn lớn nhỏ như đứt tay, trầy da, bỏng, bong gân, té gãy xương… khiến tôi thành khách hàng thân thiết của bệnh viện.
Và đây là loại khổ thứ 2 tôi gặp phải, đáng ghét ở chỗ, là chúng không có hết hẳn, mà sẽ đeo đuổi tôi đến suốt cuộc đời, bệnh này lành thì đến bệnh khác phát sinh, nặng nhẹ khác nhau, đủ kiểu. Ở tuổi trưởng thành thì đỡ đỡ đi phần nào vì lúc đó sung sức, xong đến khi già đi thì bệnh mới thực sự là nghiêm trọng với những bệnh trầm kha, nan y như suy thận, viêm phổi, thoái hóa cột sống, ung thư…
Tôi thắc mắc liệu trên đời từng có một ai chưa bao giờ bị bệnh tật gõ cửa không, nhưng mãi chẳng tìm ra người như thế.
KHỔ BỆNH:
Đây là nỗi khổ dễ hiểu nhất, không cần giải thích nhiều mọi người vẫn hiểu. Vì sao vậy ? Vì nó quá nhiều, quá phổ biến ai cũng từng trải qua, ai cũng đã nhìn thấy người người xung quanh mình trải qua, không nặng thì nhẹ. Nguyên nhân thì đủ kiểu, có những bệnh do môi trường bên ngoài tác động khiến cơ thể bệnh, như thời tiết, khí hậu, vi khuẩn, virus, tác động vật lý… có những bệnh thì do bẩm sinh, do di truyền, do cơ địa, do các bộ phận bên trong cơ thể vận hành không điều hòa mà thành bệnh. Liệt kê ra thì có đến hàng trăm ngàn loại bệnh nặng nhẹ khác nhau cùng với các thứ tai nạn đủ thể loại gây đau đớn cho cả cơ thể lẫn tinh thần.
Rồi tôi lớn dần, tôi được ở bên những người yêu thương tôi, cha, mẹ, ông bà, anh chị em, bạn bè, thầy cô… và tôi rất yêu quý họ. Nhưng rồi chẳng hiểu sao, họ không ở mãi bên tôi, mà lần lượt rời xa tôi, không cách này thì cách khác. Đầu tiên là ông tôi qua đời, rồi đến bà. Nhiều năm sau, mẹ tôi ra đi vì một bệnh lạ, không lâu sau bố bỏ tôi đi tìm hạnh phúc của riêng ông, chẳng bao giờ tôi gặp lại nữa.
Đến tuổi trưởng thành, khi trái tim đã đủ tuổi để loạn nhịp trước những người mình thầm thương trộm nhớ, tôi lại càng có nhiều người mà tôi thương yêu hơn. Họ bước vào cuộc đời tôi, rồi lại lần lượt rời xa tôi, có người là chia tay trong nước mắt vì không hợp, có người vì hoàn cảnh phải rời xa, có người là sinh ly tử biệt. Mỗi lần thế, tôi cảm thấy rất buồn và đau khổ. Nhưng phải đến khi đứa con đầu lòng của tôi mất vì một căn bệnh nan y, tôi mới biết tột cùng đau khổ là như thế nào.
Không chỉ có những con người, cuộc sống cũng không ngừng ban cho tôi những điều tuyệt diệu, hương vị ngày tết khi cả gia đình quây quần, những chuyến du lịch cùng “người ấy” đến những nơi tuyệt đẹp, những buổi tụ họp tiệc tùng thú vị cùng hội bạn thân, rồi sắm được những món đồ rất giá trị, sở hữu được chiếc xe mơ ước… Tất cả chúng khiến tôi yêu thích bằng đủ kiểu khác nhau. Nhưng bạn biết gì không ?
Chúng đến và đi chứ không cái nào ở lại mãi với tôi. “Mọi bữa tiệc đều phải đến lúc tàn” và đó là lúc những cơn buồn đến với tôi. Hết tết, tự nhiên tôi thấy buồn. Tiệc tan, mọi người chào nhau mỗi người đi một ngả, tôi cũng buồn.
Chiếc xe đâm vào gốc cây bị hỏng nặng không sửa được, tôi buồn thối ruột. Chiếc điện thoại xịn sò tiết kiệm mãi mới sắm được, lỡ tay rơi mất từ lúc nào, tôi bần thần mất mấy ngày. Chú chó cưng gắn bó suốt mấy năm với tôi bị xe cán chết, tôi bỏ ăn cả tuần. Ngay đến cả bộ phim tôi yêu thích, cũng làm tôi buồn khi xem hết tập cuối, một cảm giác trống trải, hụt hẫng khi nó không còn tập nào nữa.
Cuộc sống ban tặng cho tôi những điều tuyệt vời, để rồi sau đó tịch thu lại bằng nhiều cách khác nhau. Thành ra, những thứ tôi yêu quý đều để lại trong tôi những vết thương trong lòng. Cuộc đời này trớ trêu thật.
KHỔ ÁI BIỆT LY:
Sống trong đời, tâm ta không ngừng sản sinh ra các tình cảm yêu thích đối với những thứ hợp ý mà mình tiếp xúc, dù là yêu thích một người, hay yêu thích một con vật, một đồ vật cụ thể hay một điều gì đó trừu tượng. Nhưng cuộc đời này, mọi thứ đều phải tuân theo luật Vô thường, không gì tồn tại mãi, mọi thứ ta yêu thích thì đến một lúc phải tan hoại, hoặc phải chia xa với ta, và khi ấy, tâm sẽ phải hứng chịu một nỗi đau khổ, gọi là Ái biệt ly.
Bên cạnh những điều tuyệt vời mà tôi gặp, đời còn đem đến cho tôi rất nhiều thứ phiền toái, tồi tệ. Hồi đi học thì tôi đến khổ với mấy đứa bạn học xấc láo, hung hăng hay bắt nạt tôi.
Rồi khi trưởng thành thì có hàng đống những kẻ nối dài vào danh sách này: gã sếp hung dữ, bảo thủ; khách hàng thô lỗ; những đồng nghiệp xấu tính, đố kỵ suốt ngày đâm chọc, nói xấu sau lưng; rồi cả bà hàng xóm phách lối, mồm không ngớt chửi bới nữa… Những người tôi ghét và ghét tôi thì nhiều đếm không xuể, cứ ra ngõ là gặp, chả hiểu sao cứ đụng mặt hoài.
Rồi thì đến những hoàn cảnh khó chịu nhưng suốt ngày gặp phải, nào là cái nóng kinh hồn của mùa hè lại còn cúp điện, nào là tiếng ồn của mấy nhà hàng xóm hát karaoke inh ỏi bất chấp giờ giấc, thú thật, họ hát dở như đang đấm vào tai người nghe vậy, thế mà họ lại thích hát lắm.
Nào là cảnh kẹt xe lê thê cả tiếng đồng hồ dưới trời nóng bức đầy khói bụi, nào thiên tai bão lũ năm nào cũng càn quét mấy bận, nào những lần khủng hoảng kinh tế khiến tôi thất nghiệp .v.v… ti tỉ thứ tôi rất ghét, hành hạ đời tôi đến thảm. Không hiểu sao chúng lại nhiều thế, và tại sao tôi cứ phải gặp chúng mãi, hết cái này đến cái khác.
KHỔ OÁN TẮNG HỘI:
Ngược lại với Ái biệt ly là oán tắng hội. Cuộc sống luôn không thiếu những thứ khiến cho mình khó chịu, và sinh tâm ghét bỏ, nhưng vì nghiệp chướng, vì ác duyên nợ nần, ta lại thường xuyên tiếp xúc, gặp những thứ mình ghét bỏ. Và đây là một thứ khổ nhức nhối rất khó chịu.
Cũng như bạn, như bao người khác, tôi cũng có nhiều ước muốn. Không biết chúng từ đâu ra nhưng các thể loại mong muốn nhiều thật đấy, chúng không ngừng phát sinh.
Đi học thì tôi ao ước một lần được làm thủ khoa của trường, xong thế nào mà chỉ luôn đứng hạng nhì. Lớn lên, tôi muốn kết hôn với một người bạn đời lý tưởng, bên nhau hạnh phúc đi hết cuộc đời, ấy thế mà người tôi cưới lại chả giống tí nào với mong ước đó cả. Dung mạo thì bình thường, nếu không muốn nói là tầm thường, vừa mập vừa thô kệch. Tính tình thì vô tâm, hay cáu gắt, mỗi lần bực cái gì lại hét toáng lên như cái còi tầu kê sát lỗ tai tôi vậy. Còn nhiều cái nữa, nhưng thôi, tôi chẳng muốn kể.
Khi đi làm, như bao người, tôi muốn làm sếp, lương khá khá một chút, sếp nhỏ cũng được, ấy thế mà bao năm trời tôi vẫn chỉ giữ chức nhân viên quèn, cố mấy cũng chả lên được, lương thì chỉ đủ sống, nhiều khi nhà có gì phát sinh là y như rằng chật vật.
Sau tôi xin nghỉ, vay mượn anh em, bạn bè một số vốn mở một công ty. Sau ba năm cày cuốc, nó cũng hoạt động tốt, doanh thu ổn. Tôi muốn mở rộng hơn, nên tìm thêm những nhân viên giỏi về làm. Nhưng thế quái nào những nhân viên mới tuyển về làm ăn rất bát nháo. Họ có chuyên môn thật, nhưng lại thông đồng nhau bòn rút tiền công ty, bán dữ liệu cho đối thủ cạnh tranh, và trong 2 năm thôi, công ty tôi phá sản, tôi phải còng lưng đến tận 10 năm sau mới trả hết các khoản nợ.
Quái lạ, sao những thứ tôi muốn lại cứ ở ngoài tầm với vậy ? Đời tôi thảm quá vậy ?
KHỔ CẦU BẤT ĐẮC:
Cầu bất đắc là khổ với cái mình muốn mà chưa có, hoặc không có được. Tâm mong cầu của mỗi người hoạt động không ngừng nghỉ, nó không dừng lại khi các nhu cầu căn bản được đáp ứng, mà hễ có được cái này rồi nó lại muốn có cái khác, càng có nhiều thì lại càng muốn thêm nhiều thứ.Tham muốn thì không ngừng nở rộng với vận tốc gió bão. Nhưng phước báo thì lại chạy theo vận tốc của ốc sên ( với người biết tạo phước) hoặc thậm chí còn thụt lùi (với người hay làm việc tổn phước). Vậy nên người càng nhiều mong cầu, nhiều dục vọng, thì lại càng dễ bị khổ của cầu bất đắc dày vò. Loại khổ này gần giống với Ái biệt ly, xong Ái biệt ly là khổ vì mất đi cái mình yêu thích đang có, còn Cầu bất đắc là khổ vì chưa có và không có.
Với bao nhiêu thứ tồi tệ ấy luân phiên nã pháo vào cuộc đời tôi, trong tôi không ngừng tuôn ra những thứ cảm xúc tiêu cực:
Khi gặp phải hoàn cảnh xấu, mất mát, đáng thất vọng, tôi buồn bã.
Khi gặp phải hoàn cảnh khốn đốn, bi đát hơn, mất mát nặng nề, tôi thấy đau thương.
Khi gặp phải bất lợi, khó khăn đang đến và sắp đến, tôi lo lắng.
Khi gặp phải phải hoàn cảnh trái ý, tôi bực tức.
Những cảm xúc tiêu cực này, tôi không hề muốn có chúng, nhưng chúng thì lại cứ xuất hiện và tồn tại trong tôi, mà lại nằm ngoài tầm kiểm soát của tôi. Nhiều khi tôi tự hỏi, chúng có phải là của tôi không ? Nếu là của tôi thì vì sao tôi không tài nào tắt được chúng ?
Khổ của những cảm xúc tiêu cực:
Buồn bã Đau thương Lo lắng Bực tứcĐó là những cảm xúc tiêu cực phát sinh trong tâm khi ta gặp phải những hoàn cảnh trái ý nghịch lòng, thất vọng, mất mát, khó khăn, tổn hại, bi đát.v.v…
Rồi sau bao năm tháng mài mòn hết sinh lực vốn có trong tôi, tôi thấy mình đã già nua từ bao giờ. Sức khỏe không còn sung sức như trước, tôi làm gì cũng khó khăn, mệt mỏi. Sức đề kháng không còn tốt, tôi mắc đủ thứ bệnh lớn nhỏ, toàn thân thường xuyên đau nhức, nào là bệnh xương khớp, nào là tiểu đường, tim mạch… Dung mạo tôi tự hào một thời, nay lụ khụ, bệ rạc, nhăn nhúm.
Tuổi già không chỉ tàn phá cơ thể, mà nó còn tàn phá luôn cả tinh thần, đầu óc không còn minh mẫn nữa, tôi cứ nhớ nhớ quên quên mọi chuyện, trí lực chậm chạp, đã vậy cảm xúc lại cứ như thời trẻ con, dễ xúc động, dễ khóc như một đứa trẻ vậy.
Ôi, thật là chết tiệt, cái khoảng thời gian phải chịu đựng cảnh già nua này kéo dài thật lê thê, mãi chưa kết thúc. Sao Thượng Đế không cho tôi chết sớm hơn để mau thoát khỏi cái cảnh bị tù đày, hành hạ trong chính cơ thể của mình như thế này chứ ?
KHỔ LÃO:
Cơ thể con người cũng như bao thứ khác, phải chịu sự tàn phá của quy luật Vô thường, khi đã sống qua độ tuổi 50, con người ta sẽ đối diện với sự lão hóa. Đó là một nỗi khổ bào mòn một cách chậm rãi, càng già đi thì cơ thể xuống dốc về mọi mặt. Sức lực yếu ớt, sức đề kháng suy giảm, mở cửa cho đủ loại bệnh hoành hành, đi lại khó khăn, dung mạo xấu dần, mọi năng lực từ thể lực, trí lực, thị lực, thính lực .v.v…sút giảm, khiến cho con người ta bất lực dần trước dòng chảy cuộc sống vẫn tiếp tục tiến về phía trước.
Rồi thì cuối cùng, cái khoảnh khắc ấy cũng đến: cái Chết. Dù chẳng muốn sống nữa đâu, nhưng không hiểu sao tôi vẫn sợ chết. Và khi nó đến thật kinh dị, bệnh tình tôi trở nặng hơn lúc nào hết, cơ thể bị dày vò trong những cơn quặn đau kéo dài tưởng chừng vô tận, mọi sức lực bị rút cạn khỏi tôi. Bệnh viện đã từ chối tiếp tục chữa chạy, trả tôi về nhà để mọi người chuẩn bị hậu sự.
Nhìn mọi người thân xung quanh khóc lóc, ủ rũ, càng khiến tôi day dứt, ở không xong, đi cũng không đành. Cuối cùng, một cơn đau khủng khiếp ập đến, trời đất quay cuồng, tối sầm lại. Một lúc sau, tôi thấy mình lơ lửng bên ngoài thân xác, ngoái lại nhìn những người thân đang cuống quýt khóc than. Thế là xong một kiếp người.
KHỔ TỬ:
Con người, cũng như bao sinh vật khác, không thể sống mãi bất tử, sớm hay muộn rồi đều phải đối mặt với cái chết. Có hàng trăm cách để chết khác nhau, có cái chết chậm rãi đến, có cái chết bất thình lình, có cái chết nhẹ nhàng, có cái chết tức tưởi, thảm khốc… chỉ rất ít trường hợp có được một cái chết an bình, còn đại đa số thì sẽ đón nhận cái chết với sự đau đớn đi kèm.Nếu không phải do tai nạn, bị giết mà chết bất đắc kì tử, hay tự sát, thì thường người ta sẽ chết vì những căn bệnh nào đó, khoảnh khắc chết thường cũng chính là khi bệnh phát tác mạnh nhất, thân thể suy kiệt nhất, thần thức hỗn loạn, đau nhức khủng khiếp, tâm luyến ái, bám chấp vào sự sống giằng co với thực tế là thời hạn sống đã cạn, khiến cho thân tâm khổ sở.
Khi còn trẻ, chưa trải qua hết các giai đoạn của cuộc sống, Khổ đau với tôi là một thứ tôi không quá quan tâm, vì tôi cho rằng nó có thể được xử lý bằng cách này hay cách khác. Gặp phải sự cố nào thì tôi sẽ tìm cách giải quyết, tra Google không có thì có thể tìm trong các cuốn sách, hỏi những người có kinh nghiệm. Bệnh thì đã có bác sĩ, việc nào khó thì có thể thuê dịch vụ làm, thiếu tiền thì đã có các khóa học dạy làm giàu, muốn có người yêu đã có các sách dạy tán tỉnh, quyến rũ không khó để mua.v.v… cái gì cũng có cách giải quyết cả.
Nhưng càng trải qua nhiều sự tình hơn, càng lớn tuổi hơn, tôi mới nhận ra mình đã quá ảo tưởng. Vấn đề luôn nhiều hơn, phức tạp hơn so với những giải pháp, đã vậy các giải pháp không phải khi nào cũng dùng được, hoặc không có hiệu quả, thậm chí một số phản tác dụng.
Các sách dạy làm giàu chẳng hạn, nó đã được xuất bản cả thế kỷ nay, đủ các tên tuổi tầm cỡ, bán chạy như tôm tươi, biết bao nhiêu người đọc và thực hành theo. Nhưng nhìn lại kìa, bất kỳ đất nước nào cũng đầy rẫy những người nghèo, trong số họ biết bao người đã đọc các sách làm giàu, thậm chí học các khóa học làm giàu bài bản. Nhưng liệu họ có thoát khỏi nghèo khó không ? Rất tiếc, tình hình vẫn thế, chứ nếu không thì mọi người đã giàu cả hết rồi, làm gì còn người nghèo nữa.
Ồ không! Hình như chỉ có tác giả cuốn sách, cùng với những người dạy làm giàu mới là những kẻ giàu lên nhờ tiền bán sách, bán khóa học. Thế mà một thời tôi đã tin tưởng chúng, mấy cái loại sách dạy làm giàu.
Một lần tôi tranh cãi với một người bạn, anh ta phê phán tôi:
– Đừng có bi quan như vậy, hãy nhìn đi, chẳng phải nhân loại đã phát minh ra bao nhiêu thứ tuyệt vời, giúp cho cuộc sống bớt đau khổ, xã hội ấm no, hạnh phúc đó sao ? So với thời xa xưa, thì cuộc sống của chúng ta khác gì thiên đường?
Tôi nhìn anh ta và chậm rãi:
– Xét ở một góc nhìn nào đó, đúng là như vậy. Tôi cũng đã suy nghĩ về điều này rất nhiều. Nhân loại chúng ta từ thuở xa xưa đã luôn đối mặt với những khó khăn, gian khổ. Và loài người đã không ngừng sử dụng trí óc để phát minh ra những giải pháp, chế tạo ra những công cụ để chiến thắng những khó khăn, xua tan những đau khổ.
Sau hàng ngàn năm không ngừng cải tiến, những công cụ, giải pháp ấy đã được lớp lớp các thế hệ nhà phát minh nâng cao đến một tầm mức siêu hạng, tối tân như ngày nay, khiến cho ai ai cũng choáng ngợp và có cảm giác như chúng ta đang dần đến gần với một thế giới vắng bóng khổ đau, chỉ toàn là hạnh phúc, một vườn địa đàng trên thế gian.
Nhưng, khi ta thôi chỉ nhìn vào các số liệu lạc quan, gác các bài báo, tạp chí ca tụng công nghệ sang một bên, mà nhìn vào thực tế với một góc nhìn toàn diện, ta sẽ nhận ra một thực tế hết sức phũ phàng.
Thời xa xưa, để đối phó với những loài mãnh thú săn đuổi con người khắp nơi, những nhà phát minh cổ đại đã mày mò tìm cách tạo ra lửa, cũng như chế tạo ra hàng loạt những loại vũ khí sắc nhọn như giáo mác, cung tên, dao kiếm và phát triển những kỹ thuật chiến đấu lợi hại.
Quả nhiên, muông thú dần không còn là mối đe dọa với loài người, mà thậm chí còn trở thành nguồn thức ăn phong phú. Với những vũ khí được phát minh ra, con người sở hữu được sức mạnh kinh khủng và trở thành chúa tể muôn loài.
Nhưng, khi không còn phải lo đối phó với thú dữ nữa, thì con người quay sang dùng sức mạnh đó để đánh giết nhau. Người này đánh giết người kia, bộ lạc này đánh giết bộ lạc kia, quốc gia này đánh giết quốc gia kia, và chiến tranh ra đời.
Trải dài trên dòng lịch sử hàng ngàn năm của mọi quốc gia khắp thế giới, các cuộc chiến tàn khốc không ngừng xảy ra, xương máu đổ xuống không có giấy bút nào ghi chép được hết. Nó đạt đến kỷ lục về độ khốc liệt trong Thế chiến 1 (1914 -1918) với khoảng 19 triệu người chết và Thế chiến 2 (1939- 1945) với khoảng 70 triệu người chết.
Tóm lại, dù là xưa kia hay hiện tại, con người vẫn luôn bị giết chóc, chỉ khác là bị giết bởi mãnh thú, hay bị giết bởi đồng loại mà thôi.
Thời xa xưa, để chống lại cái đói, con người phải vất vả săn bắt hái lượm, di chuyển từ vùng này sang vùng khác, phát triển những kỹ năng sinh tồn với thiên nhiên hoang dã. Khi ấy, ai cũng phải tự tìm ra số thức ăn nuôi sống chính bản thân mình, gia đình mình.
Nhưng rồi người ta dần tìm ra cách thuần hóa được các giống cây trồng và những loại gia súc, gia cầm, con người chuyển sang lối sống định cư, hình thành nông nghiệp.
Sau mấy nghìn năm, kỹ thuật ngày càng tiên tiến, sản lượng nông nghiệp ngày càng dồi dào, phong phú. Một người làm nông có thể tạo ra sản lượng đủ nuôi sống hàng chục người, thậm chí ở Israel – nơi sa mạc cằn cỗi, một nông dân có thể cung cấp đủ lương thực nuôi 100 người, còn ở Mỹ, một nông dân có thể nuôi đến 132 người. Thật tuyệt vời, vậy chẳng phải loài người sẽ không bao giờ phải lo sợ gì về cái đói rồi sao?
Ồ không ! Bằng nhiều cách khác nhau, các nơi trên thế giới vẫn phải vật lộn với nạn đói, rất nhiều người vẫn chết vì đói. Cho đến thời điểm hiện tại (2023), hàng năm vẫn có đến hàng trăm ngàn người chết đói ở các nước châu Phi, châu Á như Afghanistan, Angola, Cộng hòa Trung Phi, Ethiopia, Haiti, Kenya, Lebanon, Somalia, Syria, Yemen…
Xã hội loài người càng phát triển thì quy mô những nạn đói càng khủng khiếp, đó là vì trong những thời điểm thuận lợi, dân số tăng quá đông, nhưng sự thuận lợi đâu thể duy trì mãi được, chỉ cần có một trục trặc nào đó như thiên tai, hạn hán, chiến tranh, quyết sách sai lầm của nhà nước… là nạn đói sẽ ập đến ngay. Mà do quy mô dân số lớn nên số lượng người chết đói sẽ khủng khiếp hơn nhiều so với xã hội chuyên săn bắt hái lượm với dân số ít.
Năm 1945 tại Việt Nam, khi đó còn trong tình trạng bị Nhật chiếm đóng, do lệnh “nhổ lúa trồng đay”, và thu gom lương thực cho quân đội của phát xít Nhật, nạn đói đã xảy ra khiến khoảng 2 triệu người Việt Nam chết đói.
Nhưng con số đó thì chẳng ăn nhập gì với nạn đói ở Trung Quốc giai đoạn từ 1958 đến 1961 do những chính sách sai lầm trong phong trào Đại Nhảy Vọt, khiến đến khoảng 40 triệu người dân chết đói.
Tóm lại, dù là thời xưa săn bắt hái lượm hay là thời đại tiên tiến như hiện tại, vẫn luôn có nhiều người chết vì cái đói.
– Thế còn những lĩnh vực khác, chẳng phải y học hiện nay đã phát triển lắm sao ? – Anh bạn tôi phản biện lại – Đủ loại máy móc, thiết bị y tế tối tân, công nghệ nano, công nghệ gen, vacxin v.v…đã cứu sống biết bao người đó.
– Đúng, không ai phủ nhận những sự tiến bộ về y học đó đã cứu sống rất nhiều bệnh nhân, nhưng đó không phải tất cả.
Thực tế, nếu như y học phát triển lên thì bệnh tật cũng không ngừng tiến hóa. Y học chiến thắng được một bệnh nan y này, thì lại xuất hiện một loại bệnh mới khó nhằn hơn, dịch hạch, dịch đậu mùa được chế ngự thì mọc ra dịch AIDS, dịch SARS, dịch Ebola… và xem chừng bệnh tật luôn mạnh hơn y học vài cấp, và con người ta vẫn cứ chết vì bệnh tật đó thôi. Đơn cử như gần đây nhất, đại dịch Covid xuất hiện cuối năm 2019, đã cướp đi gần 7 triệu người trên toàn cầu, cả những nước nghèo lẫn những nước có nền y khoa tiên tiến nhất, hiện đại nhất đều có hàng ngàn, hàng vạn người tử vong đó thôi.
Đúng là bệnh thì đã có bác sĩ, bệnh viện, thuốc men, máy móc rất hiện đại, nhưng không phải các bác sĩ vẫn luôn mồm nói câu “Chúng tôi đã cố gắng hết sức…” đó sao ?
Chẳng phải trong mọi bệnh viện luôn có một cái nhà xác để dành cho những ca không thể chữa khỏi được đó sao ? Nó vẫn luôn ở đó, ai cũng biết, nhưng có lẽ mọi người đã bỏ quên nó khi đọc những thành tích về y học.
Tóm lại, bất luận Y học phát triển đến mức nào, thì thời nay cũng vẫn như thời xa xưa, con người ta vẫn cứ bị hành hạ, bị chết vì bệnh tật.
Khổ đau, nó giống như một đám cháy bất tận, mặc dù nhân loại đã rất nỗ lực dùng đủ cách, nhưng chưa từng có một thời khắc nào, chúng ta hoàn toàn dập tắt được chúng cả.
Anh bạn tôi nghe xong, im lặng rất lâu. Có lẽ anh ta đã nhận ra những gì tôi nói rất phũ phàng, nhưng lại là sự thật. Đấy là mới kể sơ sơ một hai điểm, còn lại thì biết bao nỗi khổ bất cứ ai cũng phải trải qua mà không hề có một giải pháp nào chống đỡ được.
Bạn làm thế nào để mình đừng già nua đi ? Bạn làm thế nào để bất tử, không phải đối diện với cái chết ? Bạn làm sao khi hay tin bạn đời mình ngoại tình ? Khi mà dù ly dị hay giải quyết như thế nào thì vết thương lòng vẫn cứ chừng ừng ở trong tim bạn. Bạn làm sao khi đứa con bé nhỏ thân thương của bạn bị đột tử vì một chứng bệnh lạ không thuốc chữa ? Bất lực và đau đớn, và chỉ có thể chấp nhận hiện thực đó, không hề có giải pháp.
Cuộc sống nó là thế, và hình như cũng không ai giấu diếm gì những điều đó. Nhưng vì sao trước kia tôi lại không để ý nhỉ ? Vì sao tôi lại ảo tưởng rằng mọi chuyện đều có hướng giải quyết nhỉ ?
Đi hết kiếp người rồi, khi nhìn lại, thấy lại suy nghĩ của mình, thật không khỏi buồn cười, quá là ấu trĩ và ngây ngô. Và đây, tôi có một câu hỏi dành cho bạn: “Bạn đã từng thấy, từng nghe nói tới một ai, dù là người thường hay vĩ nhân đi nữa, đã trải qua hết một kiếp sống mà không va phải bất cứ loại khổ nào được liệt kê phía trên không ?”
_________________
Trên đây là lời than vãn của một nhân vật hư cấu, và nếu bạn thắc mắc tại sao tôi không phân tích dựa trên một người có thật ? Đó là vì chẳng cần một nhân vật xa lạ nào để chứng minh cho những điều này, chính mỗi người chúng ta đều đang trải nghiệm những thực tế phũ phàng ấy của cuộc sống, chính mỗi người đều đã là nhân chứng sống động rồi, thậm chí nhiều người còn khổ hơn, thê thảm hơn câu chuyện trên nhiều lần. Vậy nên nhân vật không rõ danh tính, giới tính ở trên là lời than thở của chính mỗi người chúng ta với thực tại này, chỉ khác là nó giúp làm rõ ràng, sáng tỏ hơn vấn đề mà thôi.
Tuy nhiên vẫn còn một loại khổ chưa được nhắc tới, đó là khổ:
BÁM CHẤP VÀO NGŨ ẤM
Để hiểu được loại khổ này hơi phức tạp một chút.
Đức Phật chia cấu tạo thân tâm của tất cả chúng sinh thuộc tất cả các cảnh giới thành 5 bộ phận, gọi là Ngũ uẩn, hay Ngũ ấm (năm ấm). Thực sự khái niệm Ngũ ấm này không dễ để hiểu cặn kẽ, chính xác, ở đây để các bạn bớt nhức đầu nhằm tập trung vào chủ đề chính, tôi sẽ giải thích Ngũ ấm một cách đơn giản, dễ hiểu nhất có thể.
Sắc ấm: chính là thân thể của mỗi người, mỗi chúng sinh
Thọ Ấm: là cảm giác, bộ phận cảm nhận các trạng thái hạnh phúc, đau khổ, vui, buồn, nóng, lạnh và cả những trạng thái trơ không sướng, không khổ
Tưởng Ấm: là bộ phận chuyên suy tưởng với đủ những ý nghĩ, hình ảnh, âm thanh trong tâm trí, giúp hồi tưởng những việc quá khứ, tưởng tượng những viễn cảnh chưa xảy ra, kể cả những viễn cảnh ảo nhất, điên rồ nhất.
Hành Ấm: là hệ thống thần kinh điều khiển mọi hoạt động cơ thể. Bộ phận này sẽ bao gồm rất nhiều mảng, từ chạy nhảy, nói chuyện, làm việc, suy nghĩ, tính toán, sáng tạo, khởi lên tình cảm, ham muốn… và gồm cả hệ thống thần kinh thực vật, điều khiển tim đập, tiêu hóa, hô hấp… điều khiển cả phần tiềm thức tạo ra giấc mơ, trực giác.v.v…
Thức Ấm: là tri giác nhận biết, trí nhớ.
Vậy tại sao Đức Phật nói bám chấp vào 5 ấm này là khổ?
Có rất nhiều vấn đề, đầu tiên cả 5 ấm này đều không ngừng đòi hỏi. Sắc ấm, tức cơ thể thì liên tục đòi hỏi phải nạp thức ăn, nước uống, dưỡng khí. Thiếu dưỡng khí tầm 5-10 phút là chết, thiếu nước 4-5 ngày là chết, thiếu thức ăn 5-7 tuần là cũng chết.
Trước khi đạt đến hạn mức tử vong, thì nó sẽ hành cho cơ thể khổ sở với cảm giác ngộp thở, khát và đói. Chính chúng – cái chết, ngộp, khát và đói đã thúc đẩy con người cùng muôn loài phải không ngừng bươn chải, chịu nhiều vất vả để mưu sinh.
Và chỉ thế thôi sao ? Không, cơ thể còn đòi hỏi lắm thứ nữa, như nó cần sự sạch sẽ, và ta phải tìm nước để tắm rửa cơ thể, nếu không được tắm rửa thường xuyên, nó sẽ ngứa ngáy. Rồi nó đòi hỏi ngủ nghỉ, và ta phải tìm giường nệm, dọn chỗ cho nó nằm, không được đáp ứng thì nó sẽ mệt mỏi, đau nhức. Nó đòi hỏi sự an toàn, tránh mưa nắng, gió, bão, vậy nên phải xây nhà cho nó ở .v.v… còn rất nhiều thứ khác, bạn có thể tự viết thêm ra bên dưới.
Với mỗi đòi hỏi, thì ta sẽ phải lao động mệt mỏi mà đáp ứng. Có lẽ nhiều người đã quá quen với điều đó đến mức không nghĩ đến, và cho đó là điều hiển nhiên của cuộc sống. Nhưng nếu bạn dành thời gian suy nghĩ lại, bạn sẽ nhận ra bạn đã vất vả như thế nào khi sở hữu cái thân thể này.
Đến Thọ ấm, sự tình leo thang lên một cấp độ mới, nó đòi hỏi ta phải tránh những cảm nhận khó chịu, như nóng, lạnh, ồn ào, đắng cay, sự khinh bỉ, thù ghét .v.v… Và nó cũng đòi hỏi ta không ngừng tìm đến những cảm nhận dễ chịu, thoải mái như mát mẻ, ấm áp, lãng mạn, thú vị, hay ho, ngọt ngào, sự trọng vọng, yêu quý .v.v…
Ngay cả với những khi ở giữa dễ chịu và khó chịu, là trạng thái trơ, không có cảm nhận gì, thì Thọ ấm dần dần cũng cảm thấy tẻ nhạt, chán trường, buộc ta phải làm gì đó cho đỡ chán, từ đó phát sinh ra nhiều thứ rắc rối.
Khác với nhu cầu của Sắc ấm sẽ có điểm dừng, Thọ ấm thì khác, nó có cơ chế tăng cấp. Nghĩa là hôm nay đáp ứng ở cấp độ 1 là Thọ ấm thấy thỏa mãn, nhưng ngày mai thì khác, phải tăng lên cấp độ 2, 3… nó mới thỏa mãn, và xu hướng của nó là “càng được thỏa mãn, thì nó càng tăng cấp“.
Ví dụ, khi khó khăn, một người phải đào củ, hái rau dại ăn qua bữa, lâu lâu có chút gạo, nấu được bữa cơm trắng ăn. Lúc này anh ta thấy vị của cơm trắng thật sự rất ngon, cực kỳ thỏa mãn. Vậy nên anh cố lao động nhiều để kiếm tiền mua gạo.
Đến lúc khá hơn, thì cơm đã là thứ bình thường luôn có, ngày nào cũng ăn, cũng loại cơm trắng đó, nhưng với anh ta, giờ vị nó trở thành nhạt nhẽo.
Thọ ấm thấy chán. Anh ta muốn đổi sang ăn phở ở các quán phở có tiếng, tuy nhiên chỉ đủ tiền để tháng ăn 1-2 lần. Lúc này ăn một tô phở, Thọ ấm của anh ta thấy rất ngon, rất thỏa mãn. Anh ta lại cố nai lưng làm lụng kiếm tiền nhiều hơn, để có thể tha hồ ăn phở.
Thời gian sau anh ta làm ăn giàu lên, tiền bạc dư giả. Vậy là ngày nào anh ta cũng ăn phở, tưởng chừng như từ nay Thọ ấm sẽ luôn được thỏa mãn. Nhưng không. Chỉ ăn được một tháng, thì cũng tô phở đó, anh ta lại cảm thấy ngán, ngán đến tận cổ.
Kịch bản lập lại, anh ta lại cố làm lụng để ăn hải sản, ăn thịt rừng, rồi đến những món đặc sản hiếm có trên đời… Cuối cùng, dù anh đã đánh đổi bằng bao nhiêu công sức, thời gian vất vả làm lụng đi nữa, nhưng rồi chẳng có món nào khiến Thọ ấm thỏa mãn nữa cả,
Kịch bản này đúng với mọi lĩnh vực khác khi Thọ ấm chen chân vào, khi ta thay vì nhận ra và kiểm soát nó, thì lại đi nuông chiều nó.
Nếu như Sắc ấm chỉ cần ăn no, đủ dinh dưỡng là được, thì Thọ ấm còn nhiêu khê hơn, nó đòi hỏi thức ăn phải ngon, phải phong phú, phải bài trí đẹp mắt, phải thế này thế nọ, và không ngừng tăng cấp.
Nếu như Sắc ấm chỉ cần có chỗ chui ra chui vào tránh mưa nắng là được, thì Thọ ấm sẽ đòi hỏi phải có nhà đẹp, thiết kế sang trọng, hợp sở thích. Nếu như Sắc ấm chỉ cần có quần áo che thân đủ ấm, mặc thoải mái là ổn. Thì Thọ ấm sẽ đòi hỏi nó phải đẹp, thời thượng, quý phái, lịch lãm…
Tương tự, Tưởng ấm, Hành ấm, Thức ấm cũng có những đòi hỏi của mình, như Tưởng ấm thì thích tưởng tượng ra các viễn cảnh sung sướng, hồi tưởng những chuyện vui, hành ấm thì đòi hỏi phải vận động, suy tính, thức ấm thì tò mò, đòi hỏi muốn biết thêm nhiều điều, hóng nghe nhiều tin tức. Và với ấm nào thì Thọ ấm cũng sẽ chen chân vào, cùng với cơ chế tăng cấp của nó, không ngừng gia tăng đòi hỏi.
Mà như đã nói, để thỏa mãn các đòi hỏi, thì ta phải trả giá bằng cái gì đó, bằng công sức, bằng tiền của, bằng những gì ta có. Như vậy, càng cố chiều chuộng sự đòi hỏi của các ấm, tức là ta càng phải trả giá nhiều, đó là công thức.
Đến khi những gì ta có không thể đáp ứng được các loại đòi hỏi thì sao ? Thế thì ta rơi vào nỗi khổ Cầu bất đắc.
Rất nhiều người không cam chịu nỗi khổ của Cầu bất đắc, khi mà những gì họ đang có không thể đáp ứng được, thế là họ sẵn sàng làm những việc sai trái, phạm pháp, tạo Nghiệp xấu.
Và từ đó phát sinh ra trộm cắp, cướp, giết, lừa đảo, cưỡng hiếp, chiến tranh xâm lược… và rồi họ nhận về những cái kết đau khổ do sự trừng phạt của luật pháp, rồi ghê gớm hơn nữa, là luật Nhân quả nghiệp báo. Như các bạn đã tìm hiểu trong các phần trước, nó thật sự hãi hùng và khủng khiếp.
Và đó là một phần của Khổ “Bám chấp năm ấm” thôi. Ta có thể kể thêm về mối liên quan của nó đến các loại khổ khác, như:
– Khi bắt đầu một kiếp sống mới, năm ấm của một người được hình thành, đó là lúc chịu khổ Sinh.
– Khi năm ấm theo luật Vô thường, trải qua thời kỳ Hoại, thì là lúc chịu khổ Lão. Đến thời kỳ Diệt, thì chịu khổ Tử.
– Khi Sắc ấm gặp trục trặc, hoặc do ngoại lực tác động, hoặc do nội bộ cơ thể không điều hòa, thì ta chịu khổ Bệnh.
– Khi gặp các hoàn cảnh tồi tệ, mất mát, bi thảm khiến Thọ ấm cảm thấy khó chịu, đau đớn, dẫn đến những cảm xúc buồn bã, đau thương, lo lắng, tức giận.
KẾT
Tổng hợp lại, bạn có thể hình dung luân hồi lục đạo mà chúng ta đang sống trong đó giống như một mê cung vòng lặp, mà mê cung đó lại hiện hữu 12 loại quái vật rải rác khắp nơi, chính là 12 loại khổ trên. Chúng đã bao vây chặt mọi ngả đường. Chúng không phải luôn luôn hiện hữu, mà có một chế độ xen kẽ với những khoảng nghỉ, tạm thời không khổ.
Ở các khoảng nghỉ này, con người ta có thể hưởng thụ những sung sướng gì đó, đây là một cơ chế nhằm đánh lạc hướng, khiến người ta quên đi mất tình cảnh bị khổ sở bao vây, mà muốn ở lâu trong luân hồi, khởi lên những ý nguyện sống ở đất nước này, kết hôn với người kia, làm công việc này, hưởng thú vui kia v.v…
Khi gặp phải một nỗi khổ nào đó, thì người ta chỉ tìm cách dập tắt nỗi khổ trước mắt đó, kiểu như bệnh thì tìm thuốc chữa, chứ không thể nhìn rộng ra bức tranh toàn cảnh, để nhận ra mình đang ở trong một cái mê cung đầy quái vật. Mà không nhận ra được cái mê cung ấy, thì làm gì có ý định thoát được ra khỏi nó. Đã không thoát ra khỏi nó, thì đương nhiên tương lai sẽ tiếp tục gặp phải những thống khổ, kiếp kiếp nối nhau không dứt.
Khổ đau gắn chặt với từng kiếp sống của mọi chúng sinh, không có cách nào tách rời được. Kiếp kiếp nối nhau, luân hồi vô tận, cũng có nghĩa là khổ đau vô tận, bất luận là người phước báo lớn như thế nào cũng không thay đổi được quy luật này.
Và sai lầm của đa số mọi người là cố tìm cách vừa muốn sống trong thế gian này, sống trong dòng luân hồi sinh tử này, vừa mong tìm ra cách thức nào đó để không có khổ đau, chỉ thuần sung sướng, hạnh phúc mà thôi.
Không ! Muốn chấm dứt được khổ đau một cách toàn diện, chỉ có cách duy nhất là thoát khỏi luân hồi sinh tử. Tuyệt không có một cách nào khác. Và đó là mục tiêu chính của Phật Pháp: giải thoát chúng sinh khỏi luân hồi.
Khép lại chương này, chúng ta hãy cùng đọc một câu truyện ngụ ngôn mà Đức Phật từng kể cho vua Pasenadi, được trích từ kinh Bách Dụ để cùng ngẫm nghĩ lại về cái thế giới chúng ta đang sống:
” Một thuở nọ, Đức Phật ở tại vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc trong thành Xá-vệ. Khi ấy Thế Tôn ở giữa đại chúng mà bảo vua Pasenadi rằng:
– Này đại vương! Ta nay sẽ vì bệ hạ mà lược nói một thí dụ về sự tham đắm hương vị, tạo lỗi lầm, và gặp hoạn nạn của chúng sinh ở chốn sinh tử. Nay đại vương hãy lắng nghe và khéo tư duy.
Vô lượng kiếp vào thuở quá khứ, có một người đi vào nơi hoang dã và bị một con voi hung dữ rượt đuổi. Gã hoảng sợ chạy bạt mạng và không có chỗ lánh thân. Bất chợt kẻ đó thấy một cái giếng khô và cạnh giếng có một rễ cây thòng xuống. Và thế là hắn liền bám rễ cây leo xuống và đu lủng lẳng trốn trong giếng.
Lúc ấy có hai con chuột, một trắng một đen, cùng nhau gậm nhấm rễ cây ở phía trên. Ở xung quanh giếng có bốn con rắn độc muốn cắn kẻ kia, còn ở bên dưới thì có một con rồng độc. Trong lòng của hắn kinh hoàng bởi rắn với rồng, và lo sợ rễ cây sẽ bị đứt. Ở trên chùm rễ cây còn có tổ ong mật, khi cây dao động, đám ong bay xuống chích hắn. Lại còn có những bụi lửa hoang cứ lăn đến thiêu đốt gốc cây kia. Thế nhưng vào lúc đó có năm giọt mật rơi vào trong miệng người ấy. (anh ta nhắm mắt quên hết tất cả để tận hưởng vị mật)
Nhà vua thưa:
– Bạch Thế Tôn! Sao người này đang chịu vô lượng khổ ách mà còn tham đắm chút hương vị kia?
Lúc bấy giờ Thế Tôn dạy rằng:
– Này đại vương! Nơi hoang dã ẩn dụ cho đêm dài dằng dặc của vô minh. Kẻ chạy trốn ẩn dụ cho phàm phu. Con voi ẩn dụ cho Vô thường. Cái giếng ẩn dụ cho bờ sinh tử nguy hiểm. Rễ cây ẩn dụ cho tính mạng. Hai con chuột, một trắng một đen, ẩn dụ cho ngày và đêm. Sự gậm nhấm rễ cây ẩn dụ cho từng niệm sinh diệt. Bốn con rắn độc ẩn dụ cho tứ đại. Năm giọt mật ẩn dụ cho ngũ dục. Con ong ẩn dụ cho tà niệm. Lửa ẩn dụ cho già, bệnh. Rồng độc ẩn dụ cho cái chết.
Cho nên, đại vương! Phải biết rằng Sinh – Lão – Bệnh – Tử thật quả là đáng sợ. Bệ hạ hãy luôn tư duy ý niệm của mình, chớ để bị ngũ dục bức bách và nuốt chửng.”
(Trích trong sách “Thấu hiểu luật Vũ trụ” – Quang Tử )
Người phụ nữ húp từng ngụm cháo loãng, rên rỉ mỗi khi thức ăn chạm vào vết thương trên lưỡi trước khi trôi xuống họng. Vết phồng rộp lở loét lâu ngày khoét thủng một mảng lưỡi to bằng ngón tay, khiến cô ăn chẳng được, uống chẳng xong, ngày đêm vật vã thống khổ. Đã thế, cứ khoảng năm giờ chiều, khi trời về sẩm tối, cơn sốt lại ập đến hành hạ, rút hết chút sức lực yếu ớt còn sót lại.
Suốt nhiều ngày, cô tới phòng khám tư gần nhà chích thuốc giảm đau, nhưng cứ vậy mãi không ổn. Không chần chừ nữa, cô lui tới rất nhiều bệnh viện để thăm khám. Rong ruổi qua 5 bệnh viện: Thống Nhất, Hoàn Mỹ, Da Liễu, Tai Mũi Họng, Hòa Hảo, bác sỹ đều nói lưỡi cô bị viêm rồi kê đơn thuốc đủ loại, nhưng rốt cuộc vẫn không khỏi. Cho tới khi làm xét nghiệm tế bào tại bệnh viện Ung Bướu, cô mới hay chứng viêm loét lâu ngày đó đã chuyển biến nguy hiểm.
Cô là Đoàn Thị Hoa, sinh năm 1968, pháp danh Diệu Phước, sinh ra ở một miền quê nghèo, là con thứ 4 trong gia đình có 6 anh chị em. Học xong cấp 2, cô chuyển tới sống cùng gia đình chú thím ở quận 12, thành phố Hồ Chí Minh. Thấy gia cảnh chú thím khó khăn, cô xin phép đi làm kiếm tiền phụ giúp.
Cô lăn lộn nhiều nghề, làm công nhân, rồi đi bán kem, sau đó chuyển sang làm bếp tại một nhà hàng Hamburger ở số 66/68 đường Hai Bà Trưng, phường Bến Nghé, quận 1. Ở đây, người ta giao cho cô công việc chuyên làm thịt, cắt cổ gà. Mỗi ngày trung bình cắt cổ hơn 30 con gà. Cứ như vậy ròng rã suốt ba năm.
Cuộc đời Hoa quanh quẩn với mưu sinh kiếm sống, rồi lấy chồng sinh con, chưa hề biết đến hưởng thụ là gì? Đối với cô, ngày ngày cuộc sống cứ lặng lẽ trôi qua như thế đã là may mắn rồi. Ai ngờ đâu, bệnh tật ập đến xáo trộn tất cả.
Quả báo sát sinh
Bác sỹ cầm phiếu kết quả xét nghiệm của bệnh nhân Đoàn Thị Hoa, nhìn ngó qua lại không thấy người thân đi cùng, đành nói thẳng với cô:
– Em bị ung thư lưỡi, đã di căn sang cổ, phải nhập viện mổ gấp, cắt bỏ phần lưỡi bị lở loét, rồi chuẩn bị tiến hành xạ trị, hy vọng còn nước còn tát.
– Bác sỹ có nhầm không? – Hoa hỏi lại.
– Không. Đừng chần chừ nữa, sắp xếp nhập viện mổ ngay đi, không chậm trễ thêm được nữa đâu.
Kết luận của bác sỹ làm cô xây xẩm mặt mày, tay chân bủn rủn, bàng hoàng mãi chẳng bình tĩnh được. Cô tạm biệt bác sỹ rồi lững thững ra về với khuôn mặt thất thần, ánh mắt vô định, quên cả đường về nhà, nhìn cô chẳng khác nào một cái xác không hồn biết đi.
Cuối cùng, cô cũng về được tới nhà, ngồi xuống ghế, hai tay ôm mặt, bật khóc nức nở. Lúc này cô mới hoàn hồn, suy nghĩ về căn bệnh quái ác đang trực lôi cô đi khỏi cuộc đời này. Mấy ngày liền, mắt cô lúc nào cũng đỏ hoe, sưng húp, nước mắt luôn đọng ở khóe mi rồi rơi xuống lã chã. Hoa ngửa mặt lên trời, oán trách:
“Sao con không ở ác, mà trời cho con bệnh ung thư?”
Cô hỏi thì cứ hỏi, than thì cứ than, chứ chẳng tìm đâu ra được câu trả lời.
Ngày 23 tháng 2 năm 2009, cô tới bệnh viện Ung Bướu làm thủ tục phẫu thuật. Cô nằm trong phòng mổ suốt từ 8 giờ sáng ngày 24 tới 4 giờ sáng ngày 25 mới được chuyển sang phòng hồi sức. Nằm trên giường bệnh, cô nói không ra tiếng, chỉ ú ớ, rồi quằn quại vì đau. Hoa đưa tay ôm hờ phần cổ vừa bị rạch rồi lại khâu đau đớn muôn vàn, tưởng chết đi luôn được.
“Trời ơi, sao trông mình giống mấy lũ gà ở quán ngày trước, mỗi khi mình rạch cổ nó thì nó giãy giụa quằn quại. Mình đã đau thế này thì nó đau gấp bao lần nữa?”
Hoa chợt nghĩ, lóe lên chút thương cảm trong lòng với mấy con gà đã từng qua tay cô mổ xẻ, rồi nhanh chóng quay trở lại với những cơn đau xé da xé thịt của chính mình.
Vì Hoa không thể nào ăn uống bình thường bằng miệng, các bác sỹ buộc phải thòng một cái ống dài xuyên từ trên lỗ mũi thọc xuống tận dạ dày để đẩy thức ăn vào duy trì sự sống cho cô. Khi ống dẫn thức ăn được đưa dần vào, cô giãy giụa, lấy tay kéo ống ra phản kháng:
– Bác sỹ để con chết. Con không chịu nổi đâu.
Bác sỹ an ủi:
– Cố lên nào, phải cố thôi.
Có lẽ vì đã quá quen với những trường hợp chống đối như thế, bác sỹ phải vừa động viên vừa cương quyết giúp Hoa vượt qua sự khó chịu khủng khiếp này. Ba ngày trôi qua, vết khâu cũng liền dần, cô được rút ống, tập ăn bằng miệng, bắt đầu với cháo loãng suốt mấy tháng trời.
Đâu có dừng lại ở đó, muốn tiến hành xạ trị, Hoa phải nhổ cùng lúc 5 cái răng hàm, máu chảy ra ướt sũng mồm, mỗi ngày riêng thấm máu cũng hết cả cuộn giấy. Hoa chứng kiến bộ dạng của bản thân, tuyệt vọng, nằm ôm đầu khóc lóc thảm thiết.
“Ai cho liều thuốc chuột để tôi chết đi, tôi chịu không nổi, tôi không muốn sống nữa.”
Cô muốn tự tử. Nhưng không, cô còn một đứa con nhỏ cần chăm sóc, không thể ích kỉ như vậy được, cô phải sống vì con. Đó là động lực duy nhất giúp cô chống chọi với bệnh tật, chiến đấu với tử thần.
“Mình phải sống.” – cô tự dặn lòng.
Ai từng chứng kiến bệnh nhân ung thư trải qua quá trình xạ trị thì đều rõ họ trở nên tiều tụy như thế nào. Với Hoa cũng không khác, da đen sạm, máu ở miệng vẫn tiếp tục rỉ ra, thịt dần teo tóp chỉ còn da bọc xương. Hoa soi gương, tủi thân thầm nghĩ:
“Trông mình khác nào con gà ác, xấu xí chẳng còn ra hình người.”
Đến cô còn chẳng thiết nhìn mình, nói gì tới những người xung quanh. Chứng kiến bộ dạng của Hoa, hàng xóm anh em đều kinh hãi xa lánh, chẳng ai muốn tới gần. Trong suốt quá trình điều trị, chỉ có chị gái và anh trai chăm sóc cô được một tuần sau phẫu thuật, sau đó còn duy nhất mình cô tự chăm lo cho mình, tự nấu cháo, tự xay cháo, tự xúc, tự ăn, sinh hoạt cá nhân hoàn toàn tự lo liệu.
Người ta thắc mắc không biết chồng cô đâu? Chả hiểu vì sao đúng đợt cô bệnh thập tử nhất sinh, chồng cô lại đi làm xa mất tăm chả thấy về, để một mình người bệnh tự chăm bản thân, chăm luôn cả đứa con thơ.
Một hôm, chồng cô gọi điện về:
– Em à! Anh muốn đi lấy vợ khác.
Cái gì thế này? Hoa sững sờ. Từng lời từng chữ như con dao găm thẳng vào tim. Hoa sắp chết đến nơi, chẳng nhẽ anh ta còn muốn tiếp tay cho vợ ra đi nhanh hơn?
Hoa bình tĩnh trở lại, đáp lời chồng:
– Anh lấy 10 vợ cũng được, nhưng hãy để sau được không? Thời gian này em cần có động lực chữa bệnh, em còn phải sống để nuôi con. Em khỏi bệnh rồi anh đi cũng được.
– Không, anh muốn đi, không muốn về nhà nữa.
Thấy chồng một mực nằng nặc đòi ly hôn lấy vợ khác, cô ngầm hiểu do hiện tại mình quá xấu xí nên chồng chán ngán không muốn đoái hoài. Trong lòng tuyệt vọng, cô ôm con vào lòng, gào khóc, rất nhiều lần muốn tự tử để sớm kết thúc những đau đớn đắng cay này.
“Chết là hết. Một nhát dao là xong.” – cô nghĩ, rồi lại nhìn đứa con bé bỏng đang ôm ấp trong lòng, vứt dao xuống đất.
Sau tia xạ trị thứ 25, Hoa kiệt sức, trở về nhà nằm im một chỗ không dậy được, ăn gì vào cũng nôn ói. Suốt ba tháng sau đó, cô mất ngủ, dù uống thuốc ngủ cũng không tài nào ngủ được.
Cứ như vậy, cô sống lay lắt, vừa yếu ớt vừa tủi thân, chẳng muốn gặp gỡ ai, chỉ có hai mẹ con lủi thủi trong căn nhà nhỏ. Cuộc đời cô nào có khác địa ngục trần gian là mấy. Hoa bất lực, tìm tới các thầy bói, một ngày có khi đi xem tận 2,3 thầy, hễ thầy nào nói tốt thì cô tăng thêm hy vọng, thầy nào nói xấu thì lại chán chường khóc lóc, xem hoài xem mãi vẫn chẳng giải quyết được gì.
Hành trình chữa lành
Một hôm nọ, có bà cụ già cách nhà Hoa chừng 1 cây số, nghe mọi người xung quanh kể về hoàn cảnh của cô, mạnh dạn tới nhà động viên an ủi:
– Đừng dại mà tự sát, xuống địa ngục còn khổ hơn đấy.
– Chết là hết, chứ còn xuống địa ngục gì nữa bà. – cô đáp.
Thấy vậy, bà cụ lấy ra cuốn băng của chùa Hoằng Pháp và cuốn băng “Niệm Phật chuyển hóa tế bào ung thư” đưa cho Hoa, dặn nhớ nghe kĩ, khuyên cô niệm Phật để chữa bệnh.
Hoa thấy vô lý liền nói:
– Bác sỹ còn chẳng chữa được, thì niệm Phật làm sao mà hết được chứ?
– Con cứ coi đi, bệnh của con là bệnh nghiệp- Bà cụ đáp.
Nể bà cụ, Hoa nhận cuốn băng nhưng cô chẳng quan tâm và cũng chẳng xem. Nhưng ngày nào cũng như ngày nào, bà cụ đều ghé qua nhà cô động viên không biết nhàm chán. Sự nhiệt tình của bà khiến Hoa động lòng, vì nể bà nên đành xem thử.
Sau khi xem xong, Hoa mới biết đến khái niệm “nhân quả”, “báo ứng” … những thứ từ trước tới nay cô chưa từng nghe qua. Biết vậy thôi nhưng Hoa không tin.
Bà cụ rủ Hoa:
– Mai có khóa tu ở chùa Pháp Bửu, một tháng tổ chức vào bốn ngày Chủ nhật, con đi theo bà nhé.
– Thôi con ở nhà chờ chết, không đi đâu nữa.
– Chết có phải là hết đâu mà cứ đòi chết.
Hoa ngẫm nghĩ một hồi, nể bà nên đồng ý, nhưng không quên nhấn mạnh một câu:
– Con đi cho khuây khỏa, chứ con không tin.
– Cũng được, đi cho khuây khỏa. – bà cụ đáp.
Một thời gian sau, bà cụ rủ Hoa lên chùa làm lễ quy y, giữ năm giới: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, rồi về nhà chuyên tâm niệm Phật.
Hoa nói:
– 4 giới kia con làm được, ngoại trừ sát sinh.
Nói đến hai chữ “sát sinh”, bỗng dưng toàn thân cô chấn động, nổi da gà. Cô nghĩ vu vơ:
“Ngày xưa mình sát sinh nhiều quá nên giờ gặp quả báo chăng?”
Trong lòng Hoa chợt hoang mang, bán tín bán nghi, rồi đồng ý lên chùa quy y vào ngày 15/1/2010. Trong buổi lễ, Hoa chăm chú nghe thầy giảng Pháp, tới đoạn nói đến quả báo sát sinh, chợt khựng lại, nhớ ngày xưa mình sát sinh quá nhiều. Trung bình một ngày cắt cổ hơn 30 con gà trong suốt ba năm. Nghĩ lại Hoa không khỏi rùng mình. Trong đầu cô hiện lên cảnh những con gà bị cô cắt cổ rồi nhớ lại lần phẫu thuật cắt đi một nửa lưỡi và rạch cổ chẳng khác gì nhau.
“Chẳng nhẽ nhân quả là có thật?”
Hoa sợ hãi, nghe lời bà cụ, trở về nhà lập ban thờ Phật, tụng kinh sám hối. Vì di chứng của bệnh tật, Hoa tụng kinh rất khó, mãi mới đọc được một đoạn trong đau đớn, nhưng cô không bỏ cuộc. Ngày ngày cô kiên trì sám hối trước tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, tích cực phóng sinh, ăn chay, niệm Phật, không nghĩ đến cái chết và bệnh tật nữa. Ban đầu cô ăn chay 4 ngày/tháng, rồi tăng dần lên 10 ngày/tháng, sau đó chuyển hẳn sang ăn chay trường. Thời khóa tụng kinh đều đặn mỗi ngày 2 tiếng.
Sau một thời gian miệt mài tu tập, sức khỏe cô dần ổn định, tăng từ 39kg lên 55kg, cơ thể khỏe lại dần như người bình thường. Chẳng những thế, chồng cô không còn ý định bỏ cô lấy vợ mới. Anh về nhà sống cùng vợ, vui vẻ đưa cô đi phóng sinh, còn động viên cô đi chùa lễ Phật.
Ngày 1/9/2010, Hoa lên bệnh viện tái khám. Bác sỹ ngạc nhiên thông báo:
– Em hoàn toàn khỏi bệnh rồi, không còn biểu hiện ung thư nữa. Thật hiếm có.
Hoa vỡ òa, nước mắt rơi trong niềm hạnh phúc và biết ơn. Cô thốt lên:
– Phật Pháp đã cứu đời con.
Đúng vậy. Phật Pháp đã cứu cuộc đời Hoa. Trước kia, do vô minh, cô không hề biết sát sinh động vật là tội ác. Cô nghĩ đơn giản mình đang kiếm sống nuôi gia đình, không hề để ý tới sự đau đớn khổ sở của những con vật tội nghiệp. Nay đã biết rồi, Hoa mạnh dạn chừa bỏ, lại siêng năng làm việc thiện, nên nghiệp chướng phần nào được tiêu trừ.
Đức Phật dạy rằng trên đời có hai hạng người đáng quý: một là người không bao giờ phạm lỗi, hai là người có lỗi nhưng biết ăn năn sửa đổi. Và cô chính là một người như vậy. Nếu không phải nhờ sự nỗ lực quay đầu sám hối nghiệp chướng, bỏ ác làm lành, tu tập tinh tấn của bản thân cô, thì chư Phật dù rất muốn cũng khó mà cứu được.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Đoàn Thị Hoa)
Một cậu thiếu niên hướng đạo sinh muốn làm một việc thiện trong ngày, cậu đã chọn cách giúp người già băng qua đường đầy xe cộ. Cậu nhìn thấy một cụ già, và sau mười lăm phút vất vả toát cả mồ hôi, cậu cũng thành công đưa được bà cụ ấy qua đường. Rồi cậu tự hào đem chiến tích của mình kể cho bạn mình nghe. Bạn cậu ngạc nhiên hỏi lại:
– Tại sao chỉ dẫn qua đường thôi mà đến nỗi toát mồ hôi suốt 15 phút ?
– Uhm, tại… bà ấy không có muốn sang đường.
Bạn thử đặt mình vào tâm trạng của bà cụ tội nghiệp xem bà ấy thấy như thế nào, sẽ rất thú vị đấy. Đó là chuyện hài, nhưng thực tế cuộc sống lại không thiếu những việc như vậy, khi mà người ta nhân danh từ bi, để làm những việc thiện mà chẳng biết kết quả của việc đó như thế nào.
TỪ BI KHI KHÔNG CÓ TRÍ TUỆ DẪN LỐI SẼ THẾ NÀO ?
Ví như ta có một con tàu, ta đổ đầy nhiên liệu vào bình thì tàu sẽ chạy được. Vậy cứ thế chạy được chưa ? Chưa đâu, ta còn cần bản đồ, la bàn, thiết bị định vị để đánh lái đưa con tàu đi đến nơi cần phải đến, nếu không, tàu sẽ bị mất phương hướng, hoặc đâm vào đá ngầm, đâm vào các tàu khác, hoặc đi lung tung cho đến khi cạn nhiên liệu giữa đại dương.
Cũng như vậy, từ bi là điều rất đáng quý, nhưng từ bi cần phải được soi lối bởi trí tuệ, để biết làm điều gì, làm như thế nào mới tốt cho chính mình, cho mọi người, mọi chúng sinh. Nếu không có trí tuệ soi sáng, từ bi nhiều khi gây ra những hậu quả không thể ngờ.
Từ bi cần có trí tuệ dẫn lối
Từ cái màn thành cái lưới
Ở một số nước châu Phi, hàng năm có rất nhiều người chết vì bệnh sốt rét do bị muỗi đốt và truyền bệnh. Nhiều nơi người dân nghèo không có tiền mua màn, họ cứ thế ngủ để phơi cho muỗi đốt, và dịch sốt rét cứ hoành hành. Khi các đoàn công tác xã hội đi khảo sát, thấy hiện trạng ấy nên họ muốn làm một điều gì đó.
Họ kêu gọi nhiều nhà từ thiện quyên góp để mua thật nhiều màn tặng cho người dân châu Phi. Không lâu sau, màn được phân phát miễn phí ở nhiều nơi, ai cũng vui mừng, cả người dân châu Phi lẫn những nhà công tác xã hội và những người quyên góp. Ấy nhưng họ không vui mừng được bao lâu.
Té ra người dân châu Phi ngoài vấn đề với muỗi, họ còn gặp vấn đề cấp thiết hơn: kiếm cái sinh nhai. Khi được tặng màn, họ không đem chúng mắc lên khi ngủ, mà vì họ thiếu dụng cụ đánh bắt cá, nên họ đã cắt màn rồi may vào nhau thành những tấm lưới, đem lên thuyền, ra biển đánh bắt cá. Rốt cuộc, muỗi vẫn đốt, nhiều người vẫn cứ chết vì sốt rét.
Nhưng chưa hết, vì lưới làm từ màn có mắt lưới cực nhỏ, chúng không chỉ đánh bắt cá to, chừa lại cá con để mai mốt chúng còn lớn lên như lưới tiêu chuẩn. Loại lưới chế từ màn này vét tất tần tật cá con luôn một thể.
Hậu quả: một thời gian sau, biển cả nơi những người châu Phi này đánh cá sạch bóng chẳng còn thấy mống cá nào. Và giờ xuất hiện thêm một khó khăn nữa đến với họ: cái đói. Xét trên cái nhìn của luật Nhân quả, thì việc này còn dẫn đến những hậu quả ghê gớm hơn nhiều chứ không chỉ dừng lại ở việc đói kém thức ăn. Một cục diện không biết giải quyết như thế nào.
Đó là chuyện ở một phương trời xa xôi, giờ chúng ta cùng nhìn lại những việc thiện gần ngay xung quanh chúng ta.
Phóng sinh thành “Phóng tử”
Phóng sinh là một việc thiện được nhiều người ca ngợi. Ấy thế nhưng gần đây có rất nhiều bài báo, tổ chức không ngừng đưa ra cảnh báo về một vấn nạn do phóng sinh mà ra. Không khó khăn gì để tìm hiểu cả, chỉ cần lên Google gõ từ khóa “nạn chim phóng sinh”, bạn sẽ thấy ngay, rất nhiều.
Theo đúng nghĩa của từ “Phóng sinh”, đáng lí ra người đi phóng sinh cần tìm những con vật sắp bị giết hại, kiểu như những con vật ở ngoài chợ người ta sắp làm thịt, rồi mua chúng, tìm một môi trường phù hợp mà chúng có thể sống tốt, và thả chúng ở đó, hoàn tất việc cứu mạng chúng.
Nhưng làm đúng như thế có vẻ khá mệt, tính toán nhiều bước như: Nên mua con vật gì ? Chúng hiện sắp gặp nguy hiểm gì ? Mua ở đâu? Chúng sống ở môi trường nào? Tìm nơi nào phù hợp để thả ? Rồi tiếp phải thêm một công đoạn chở chúng đi thả…
Thành ra để phóng sinh đúng cách khá là vất vả, không chỉ tốn tiền thôi mà còn vừa tốn công vắt óc suy nghĩ, vừa tốn sức đem thả. Điều đó khiến nhiều người ái ngại.
Và nhận ra nhu cầu của nhiều người muốn phóng sinh xong lại ngại tính toán, ngại đem thả, thế là một số người đã đi bẫy và bắt rất nhiều chim, nhốt vào lồng bán ở cổng chùa. Ai muốn phóng sinh chỉ cần bỏ tiền và thả chim ra, rất đơn giản. Nhìn cảnh tượng chúng tung bay lên trời khá nên thơ, những người mua chim tin rằng mình vừa tạo phước đức.
Thế nhưng vì họ không có suy nghĩ, tìm hiểu, nên họ không biết rằng: Nếu không có rất đông những người như họ tạo ra một nguồn “cầu” khổng lồ, thì những con chim kia đâu ai bẫy nhiều như thế làm gì, chúng sẽ được tự do như chúng vốn thế và không bị bắt nhốt ở đây, hồi hộp chờ đợi vận may được người ta thả ra. Họ không biết rằng phần nhiều trong số chim đó không may mắn được ai mua, sẽ chết rục xác trong lồng, mà giá như trên đời không ai mua, thì chúng đâu có bị thế này.
Phỏng vấn một bà cụ tên Mười, ngụ phường Tân Định, quận 1, TP.HCM, từng gắn bó 10 năm với nghề bẫy chim sẻ để bán phóng sinh. Mỗi buổi sáng, bà mang hàng chục chiếc bẫy ra đặt dọc đường, bắt hàng chục con chim bán với giá 5.000 đồng/con, mỗi ngày kiếm được một hai trăm nghìn nuôi cả gia đình.
Bà Mười chia sẻ: “Đó là cái nghiệp chứ không phải nghề, chim thì bán cho các đầu mối. Nhưng khi mua về họ nhốt trong lồng dày đặc, có khi họ đâm mù mắt, cắt lông cánh để chim không bay xa được.
Khi có người mua chim để phóng sinh thì chim chỉ bay luẩn quẩn rồi họ bắt lại, bán tiếp. Mình làm như thế này cũng là việc ác. Nhưng nhờ thế mình kiếm được tiền”.
Vậy là việc “phóng sinh” khi qua tay một số người làm sai quy cách đã dần bị biến thành “phóng tử”, thật đáng tiếc. Phóng sinh đã bị lòng từ bi không kèm theo trí tuệ làm biến dạng như thế. Vậy còn những việc khác ?
Ấn tống ngược trình tự
Đơn cử việc ấn tống nhé. Đó là việc tặng kinh sách thiện cho người khác, được xếp vào hình thức bố thí Pháp, tức Pháp thí. Pháp thí được Đức Phật gọi là vua của mọi việc bố thí, công đức vô lượng, siêu việt không gì so sánh. Thoạt nhìn việc này có vẻ đơn giản, cứ bỏ tiền ra in kinh sách Phật Pháp, rồi đem tặng cho mọi người, thế là mình có công đức vô lượng rồi.
Với suy nghĩ đơn giản đó, có nhiều người đã xuất tiền ra với tất cả lòng thành rất đáng quý của họ, và còn vận động thêm nhiều người khác cùng xuất tiền in thật nhiều kinh Phật – chọn những bộ kinh họ thích nhất, nghĩa lý thù thắng nhất, chứa đựng công đức siêu việt nhất.
Sau khi hàng thùng kinh điển được nhà in giao tới, thơm phức mùi giấy mới, họ bắt đầu háo hức đem đi tặng. Nhưng mà… tặng cho ai, tặng ở đâu nhỉ ?
Bây giờ họ mới bắt đầu suy nghĩ việc này. Ấy nhưng trả lời được thì không dễ chút nào. Họ đã in hàng trăm, hàng ngàn cuốn, vậy là giờ cần tặng cho hàng trăm, hàng ngàn người muốn đọc những kinh này. Đi tìm đỏ mắt khắp nơi cũng chỉ được vài người muốn thỉnh. Mà để kinh đóng từng thùng lớn ở nhà thì rất chiếm diện tích, lại không phát huy được tác dụng, nên người tặng kinh rất sốt ruột.
Họ thử đem tới các chùa tặng cho các vị tăng ni, xong chùa thì đã có đủ kinh rồi, chùa thì cần loại kinh khác chứ không phải loại kinh họ đã in. Họ xin để tại các chùa tặng cho Phật tử, ai muốn thì cứ lấy. Nhưng số kinh ấy cứ lay lắt nằm đó, năm này qua tháng khác không vơi đi được mấy, vì số lượng người cần đến loại kinh này không có nhiều như số lượng kinh đã in.
Lâu dần, rất nhiều kinh sách phơi nắng, phơi gió đến bạc màu, xuất hiện hoen ố, rồi bị mối đục khoét, hư hoại dần dù chưa một lần được ai đọc qua. Cuối cùng, khi kinh bị mục nát không thể đọc tụng được nữa, các vị tăng ni đành đem đi hỏa hóa ( nghi thức đốt những kinh sách cũ không đọc được nữa, cần phải làm đúng quy cách, không sẽ thành nghiệp )
Không phải ai ấn tống kinh sách cũng gặp phải tình cảnh này, nhưng kịch bản trên rất phổ biến. Quang Tử đã gặp rất nhiều người rơi vào tình trạng này, họ cầu cứu hỏi cách giải quyết làm sao, nhưng tôi cũng chịu.
Đáng lí người ấn tống cần tính toán trước và làm theo trình tự: tìm nguồn Cầu trước rồi mới Cung, tìm người muốn đọc kinh sách xem họ ở đâu, họ muốn đọc kinh sách gì, số lượng bao nhiêu, làm thế nào chuyển kinh sách đến tay họ?
Sau khi nắm được rồi thì mới đi mua đúng những loại kinh sách đó với số lượng hợp lý, và chuyển tặng. Có như vậy việc ấn tống mới được hoàn thành viên mãn, công đức vô lượng.
KẾT LUẬN
Thực ra việc thiện nguyện nào cũng như vậy cả, đều luôn cần khảo sát thực tế, suy tính kỹ lưỡng, lập kế hoạch chu đáo mới có thể hoàn thành tốt được. Chẳng có việc nào là dễ cả, đặc biệt là những việc có quy mô lớn, lâu dài, làm không khéo là sẽ kéo theo nhiều hệ lụy.
Thế giới này vận hành theo những quy luật khá phức tạp. Và những việc thiện nguyện cũng phải tuân theo những quy luật ấy, nếu cố làm đại, làm ẩu không theo quy tắc nào sẽ dẫn đến hậu quả đáng tiếc.
Thế nên dù xuất phát từ những tấm lòng chân thành, hết sức đáng ca ngợi, nhưng cũng không thể vì thế mà thả nổi những việc thiện nguyện làm theo kiểu bộc phát, không có trù tính kỹ lưỡng, không có kế hoạch hợp lý, không được trí tuệ soi lối.
Hi vọng bài viết này sẽ giúp những người có trái tim từ bi đáng quý hoàn thiện thêm kỹ năng cho mình, cẩn trọng hơn mỗi khi hành thiện, để ngày càng viên mãn được những việc thiện nguyện, tràn đầy lợi ích thực tiễn, lợi mình, lợi người, lợi ích cho tất cả.
(Quang Tử)
Quyến yếu ớt ngã khụy xuống, máu từ trong người ộc ra như suối, từ đầu đến chân nhuốm một màu đỏ tươi. Cô nhìn thấy toàn thân mình nằm trên vũng máu rồi bất ngờ lịm đi lúc nào chẳng hay. Một lát sau, người thân phát hiện ra Quyến bị băng huyết trầm trọng mới nhanh chóng đưa cô tới bệnh viện.
Băng ca được đẩy vào phòng, các bác sỹ tức tốc tiến hành cấp cứu rồi truyền nước biển cho cô. Dần dần Quyến tỉnh lại, nhưng trong người vẫn khó chịu bức bách kì lạ, cô đưa tay lên ôm lấy phần ngực như có ai đang bóp nghẹt, cả tay và chân đều bị co rút.
Thấy tình hình chưa ổn, họ quyết định siêu âm cho cô, tìm thấy một khối u kích thước khá lớn nên đã tiến hành mổ lấy ra ngay lập tức. Quyến vừa sinh con được ba tháng, lại bị băng huyết từ trước, cộng thêm quá trình mổ xẻ khiến lượng máu trong người lúc này gần cạn kiệt, tính mạng như ngàn cân treo sợi tóc. Để bù cho lượng máu đã mất, bệnh viện phải huy động rất nhiều đơn vị máu mới đủ truyền kịp thời, giúp cô thoát cơn thập tử nhất sinh.
Cô Hồ Thị Quyến sinh ra ở một vùng quê xa xôi hẻo lánh thuộc tỉnh Trà Vinh, gia đình đông con chỉ sống dựa vào nghề làm ruộng, nên cuộc sống khổ cực vất vả. Đến thì con gái, như bao người khác, Quyến xây dựng tổ ấm cùng anh Trần Văn Thuận, có với nhau bốn mặt con: ba gái và một trai.
Cuộc sống hôn nhân cũng chẳng khấm khá hơn là bao. Để cải thiện kinh tế, hai vợ chồng làm công việc mua bán heo, rồi tiến tới mở lò mổ, một số heo đem giao cho bạn hàng, số còn lại Quyến mang ra ngoài chợ bán lẻ cho người dân. Làm ăn phát triển, gia đình cô tậu được căn nhà, cơm ăn áo mặc no đủ. Tưởng rằng cuộc sống từ đó êm đềm hạnh phúc, ai ngờ đâu vài ba năm sau, bệnh tật bất ngờ ập xuống.
Trong người Quyến thường xuyên xuất hiện những khối u lớn, cứ mổ lấy ra, một thời gian sau lại mọc tiếp. Lặp đi lặp lại như vậy, Quyến đã phải phẫu thuật nhiều lần, mỗi lần cô đều rất đau đớn, mệt mỏi, quằn quại.
Chột dạ, Quyến nghĩ mình chả khác nào mấy con heo trong chuồng, hết con này đến con kia lần lượt lên bàn mổ, bản thân cô thì năm lần bảy lượt cũng phải “lên thớt”. Nằm trong phòng hồi sức, hình ảnh những con heo kêu réo quằn quại dưới lưỡi dao sắc lẹm lại gờn gợn hiện lên trong tâm trí.
Vẫn như mọi lần, Quyến phát hiện thêm một khối u nữa xuất hiện, dù đã mổ nhiều, nhưng lần nào cô cũng lo lắng như lần đầu tiên. Ca mổ hoàn thành, bác sỹ thông báo với cô:
– Không giống ba lần trước, lần mổ này là u ác tính, cô phải truyền hóa chất thôi.
Quyến bất ngờ, hồi hộp hỏi lại một lần để xác quyết:
– Tôi bị ung thư sao bác sĩ ?
Bác sỹ hạ giọng đáp:
– Đúng vậy.
Mặc dù đã quen sống trong bệnh tật nhiều năm, Quyến vẫn sững sờ trước kết luận này. Cô không nghĩ “thần chết” lại gọi tên cô sớm đến vậy.
Cô bỏ dở công việc ở lò mổ, nằm trong viện truyền hóa chất. Mỗi lần truyền xong, cơ thể như có lửa đốt bứt rứt khó chịu, tóc rụng cả đầu, người xanh xao hốc hác gầy xọm cả đi. Nhìn lại quãng thời gian sống chung với bệnh tật suốt bao năm, Quyến tự hỏi:
“Mình đã làm gì sai mà phải chịu đau đớn khổ sở như vậy? Cuộc đời thật bất công.”
Bất hạnh đâu chỉ dừng lại ở bệnh tật. Đứa con trai duy nhất của cô mắc bệnh động kinh, cứ đều đặn một tháng lên cơn co giật ba đến bốn lần. Bệnh viện đã kiểm tra nhưng không phát hiện ra nguyên nhân rõ ràng, dù đã điều trị nhiều lần nhưng đâu vẫn hoàn đó.
Có người có tất cả, vậy mà cô dường như chẳng có gì. Con thì bệnh tật, chồng cũng chẳng ra chồng. Dân gian có câu “sướng quá hóa hư”, kể ra cũng đúng với trường hợp của chồng cô.
Khi còn đói khổ, anh Thuận chịu khó lao động, quan tâm vợ con, nhưng từ khi công việc mổ heo phát đạt, cũng gọi là dư dả một chút, thì anh sinh tật ăn chơi, nhậu nhẹt, có khi đi suốt chẳng thèm về nhà. Mọi công việc trong gia đình từ bé đến lớn đều do một tay Quyến cáng đáng. Ấy thế nhưng anh Thuận không những chẳng biết điều, cứ hễ về nhà lúc nào, lại cãi nhau với vợ lúc đó.
Quyến giờ đây đã sức tàn lực kiệt trước những bất hạnh dồn dập ập xuống đầu. Cô không ngừng trăn trở về nguyên nhân do đâu mình lại phải chịu đựng tất cả những nỗi thống khổ này. Và đó vẫn là một câu hỏi chưa có lời đáp.
Năm 2001, mẹ của Quyến lâm trọng bệnh. Ba năm sau, bà ra đi. Tham khảo mọi người xung quanh, Quyến tìm tới chùa thỉnh sư cô tới giúp đỡ gia đình làm tang lễ. Khi sư cô tới nhà, thấy gia đình mổ năm con heo làm đám, sư cô liền khai thị:
– Không được sát sinh như vậy, nhất là trong đám tang. Làm như vậy, sau này mẹ cô phải đầu thai làm heo, gia đình sát sinh ắt cũng phải hứng chịu quả báo.
Từng lời từng chữ sư cô nói ra khiến Quyến có chút bối rối. Cô đáp lời:
– Thưa sư cô, mẹ con đã khuất bóng, con nghĩ làm thịt năm con heo để làm đám, coi như lần cuối được báo hiếu cho trọn vẹn.
Sư cô liền nhấn mạnh:
– Gieo nhân lành gặp quả lành, gieo nhân ác gặp quả ác. Khi mình mang đau khổ tới cho chúng sinh khác, thì đương nhiên mình cũng phải chịu đau khổ tương ứng. Nhân nào quả nấy, cô phải nhớ rõ đấy.
Vốn sinh ra và lớn lên ở một miền quê hẻo lánh, chẳng có chùa chiền, không có Phật Pháp, Quyến không hề biết thế nào là Nhân quả báo ứng, cô không biết rằng sát sinh động vật lại là một tội ác. Những điều sư cô nói thật xa lạ, tuy nhiên Quyến cũng cảm thấy có phần hợp lý. Cô trầm ngâm, suy tư, rồi bắt đầu lo lắng, hoang mang. Nhưng cảm giác đó cũng sớm tan biến khi việc tang lễ còn đang ngập ngụa.
Sau này, vào những lúc rảnh rỗi, mấy lời khai thị đó lại hiện lên văng vẳng trong đầu. Quyến ngẫm nghĩ, mơ hồ bắt được manh mối lí giải cho thắc mắc về những bất hạnh trong đời mình. Cô bắt đầu năng đến chùa, một phần để tụng kinh hồi hướng cho mẹ như lời sư cô hướng dẫn, một phần muốn tiếp xúc với chùa chiền, Phật Pháp nhiều hơn.
Cuối năm 2004, vào một buổi đêm, Quyến chìm vào giấc ngủ, trong giấc mơ, cô thấy mấy người phụ việc đang mổ heo trong lò. Trong đó có một con heo vừa được mổ xong xuôi rồi đẩy xuống khỏi bàn, nó đã bị chọc họng, phanh thây, máu me còn đẫm trên thân. Bất thình lình Quyến nhìn thấy con heo đó chính là đứa con trai bị động kinh của mình, cô hết hồn, bật người tỉnh dậy. Rồi Quyến bình tĩnh trở lại, cô thầm nghĩ:
“Phải chăng những lời sư cô nói là đúng?”
Chẳng những thế, nhiều lần Quyến mộng mị thấy mình tự tay lôi mấy đứa con mà hàng ngày cô hết mực yêu thương, đem lên bàn mổ heo, cô dùng dụng cụ đâm họng, lóc da, xẻ thịt con mình như đang làm thịt những con heo không khác.
Mỗi khi tỉnh dậy, cô kinh hãi thất thần, hình ảnh đó ám ảnh cô ngày đêm. “Đó chỉ là giấc mơ linh tinh”- Quyến tự nhủ trấn an tinh thần. Nhưng vì giấc mơ lặp lại nhiều lần nên cô cứ nửa tin nửa ngờ, không phân định được.
Quãng thời gian này, Quyến tạm ngưng làm nghề vì phải nghỉ điều trị ung thư, do vậy trong nhà không nuôi con heo nào cả. Một hôm, cô lại nằm mơ, nhưng giấc mơ lần này là về người mẹ đã tạ thế. Trong mơ, Quyến thấy nhà con gái có nuôi một con heo bự. Con heo đang nằm gọn trong chuồng, nó hướng về phía cô, ánh mắt ươn ướt, cất tiếng nói:
– Con ơi, con lại tấn mùng cho mẹ đi, muỗi cắn mẹ dữ lắm.
Quyến giật mình, tiếng con heo giống y như tiếng mẹ cô khi còn sống. Cô hỏi:
– Trời ơi, thế này là sao vậy mẹ?
– Mẹ đã thành heo rồi. – Con heo trả lời.
Khi tỉnh dậy, Quyến không tin nổi vào những gì mình vừa mơ thấy, nhưng thương mẹ, dù sức khỏe đang rất yếu, cô vẫn quyết đi lên nhà con gái một phen. Lên đến nơi, Quyến mới hay đúng là con gái mình còn nuôi một con heo, nó rất bự và nằm trong chuồng y như cái dáng vẻ trong giấc mơ đêm qua, không lẫn vào đâu được. Cô đi tới vuốt ve nó, nhớ lại lời sư cô nói rằng mẹ cô sẽ phải đọa làm heo mà khóc nức nở.
Mấy hôm sau, cô con gái xuống nhà báo tin:
– Con heo bự đó chỉ bỏ ăn có một buổi chiều mà đã chết mất rồi.
Quyến hay tin, đau lòng rơi lệ khóc. Quyến khóc không chỉ vì cái chết của con heo, tức mẹ cô đầu thai, mà còn vì hối hận trước nghiệp sát sinh bao năm của mình, vì sự thống khổ của biết bao con heo đã qua tay cô làm thịt.
Cô không còn nửa tin nửa ngờ lời sư cô nói. Cô đã có câu trả lời cho những nỗi bất hạnh trong đời mình. Nhân quả báo ứng là có thật. Chẳng có gì bất công cả, những đau khổ cô và gia đình phải chịu đựng là xác đáng, chưa kể quả báo còn kéo dài trong tương lai nhiều kiếp về sau.
Quyến rùng mình, sợ hãi nghiệp quả, quyết tâm bỏ hẳn nghề đồ tể. Cô hồi đầu, sám hối lỗi lầm, quy y Tam Bảo, lấy pháp danh là Diệu Minh. Những ngày tháng truyền hóa chất trong bệnh viện mệt mỏi quá, thi thoảng Quyến ra ngoài đi lang thang, tình cờ ngang qua một ngôi chùa ở Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh, liền xin được vào lễ Phật. Lễ Phật xong, cô lắng lòng, ngồi lại kể câu chuyện cuộc đời mình cho sư thầy trụ trì, và được thầy giảng giải cho cô nghe nhiều hơn về Phật Pháp. Thầy khuyên:
– Con hãy bắt đầu tu tập, ăn chay, niệm Phật để bù đắp tội lỗi xưa kia của mình và hướng tới một đời sống an lạc hơn.
Quyến nhanh chóng tiếp nhận, ngay khi trở về lại bệnh viện, cô không còn nghĩ ngợi gì nhiều, ngày ngày chuyên tâm niệm Phật.
Quyến thương chồng, muốn anh hồi đầu giống mình, nên một lần đánh bạo khuyên nhủ anh:
– Gia đình chúng ta ra nông nỗi này là do hành nghề đồ tể, cướp đi sinh mạng, gieo rắc đau khổ cho biết bao chúng sinh. Trên đời này có nhân quả báo ứng. Anh hãy sám hối tu tập cùng em đi.
– Em nói linh tinh gì vậy?
Vợ thì tha thiết là thế, còn anh Thuận lại nghĩ chắc Quyến chẳng còn sống được bao lâu mới nói năng lung tung, nên chẳng đoái hoài lời cô nói.
Quyến được trở về nhà sau lần mổ thứ năm và truyền tám liều hóa trị. Kể từ lúc đó, Quyến bỏ ăn mặn, chuyển sang chay trường, siêng năng học hỏi giáo lý Phật Pháp, tu tập tinh tấn mỗi ngày. Cô cầu nguyện:
– Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát! Xin Người hãy cứu con, con muốn được sống tiếp để tu hành hồi hướng công đức cho chúng sinh.
Giờ đây, Quyến chỉ một lòng tu tập, không chán trường hay để ý nhiều tới căn bệnh ung thư của mình nữa. Thời gian cứ thế trôi qua, vào tháng 5 năm 2007, Quyến tự nhiên bị cảm sốt liên tục, bất ngờ mọc lên một khối u ở gần cánh mũi.
Tình huống này chẳng còn mới lạ gì với Quyến, cô bình tĩnh lên bệnh viện khám, được bác sĩ kê đơn thuốc, sau 15 ngày thì tiến hành mổ lấy u. Trong khoảng thời gian nửa tháng chờ mổ đó, cô thường xuyên lên chùa niệm Phật, vừa niệm cô vừa lấy tay rờ rờ vào khối u.
Một buổi sáng sớm tinh mơ, đồng hồ điểm 4 giờ, Quyến tỉnh dậy rửa mặt, cô nhìn vào gương, thốt lên:
– Ô! Khối u đâu mất tiêu rồi.
Cô nghĩ có khi nào mình vừa ngủ dậy, mắt còn lờ đờ nên nhìn không rõ, cô vội lấy tay dụi vào hai mắt cho tỉnh ngủ hẳn, rướn đôi mắt tới gần phía gương, một tay cứ lần lần trên mặt.
– Biến mất rồi, cái u biến mất thật rồi. – Quyến reo lên sung sướng.
Cô biết đó là nhờ công đức tu hành, niệm Phật, khối u đã không còn nữa. Và từ đó trở đi, sức khỏe của Quyến cũng ngày một tiến triển tốt hơn.
Chứng kiến từng ấy chuyện xảy ra, anh Thuận cuối cùng cũng phải thừa nhận có nhân quả báo ứng, phát tâm đi chùa niệm Phật cùng vợ, thi thoảng làm thiện nguyện. Nếu trước ngang tàng, thì nay đã hiền lành, đàng hoàng hơn, quan tâm vợ con hơn trước.
Anh cũng quy y cửa Phật, lấy pháp danh Huệ Tiết. Từ một gia đình làm nghề đồ tể, giờ đây họ đã quay đầu, trở thành một gia đình Phật tử. Cả hai vợ chồng và các con đều quy y Tam Bảo, nguyện bỏ ác làm lành, nương theo giáo lý Phật Pháp để được an lạc về sau.
Quy luật Nhân quả là một quy luật quan trọng, chi phối đời sống của mọi chúng sinh. Không khó để quan sát sự hiện diện của nó trong mọi lĩnh vực đời sống. Nắm vững quy luật Nhân quả, chúng ta hoàn toàn có thể tự tạo ra và làm chủ tương lai của chính mình.
Muốn có một tương lai tốt đẹp, hãy gieo nhân thiện lành. Chớ dại dột tạo nghiệp ác, tương lai phía trước chắc chắn đầy khổ đau. Chân lý rõ ràng là thế, nhưng không phải ai cũng chịu quan sát và rút ra bài học cho bản thân. Đến khi quả báo đã chín muồi, thì hối hận không kịp.
(Tĩnh Như, viết lại theo lời kể của Hồ Thị Quyến)
( Trích AI MUA XE RÁC – thiền sư Thái Lan Ajahn Brahm)
SỨC MẠNH CỦA THA THỨ
Khi bị ai đó làm tổn thương, chúng ta không bắt buộc phải trả thù hay trừng trị họ. Nếu là người Công Giáo, hay Hồi Giáo thì chúng ta có thể nghĩ thượng đế sẽ trừng phạt họ. Nếu là người Phật Tử, hay Ấn Độ Giáo thì chúng ta hãy để luật nhân quả trừng trị họ. Giả sử bạn không theo những đạo trên mà theo đạo khoa học hiện đại như tâm lý trị liệu, thì bạn nên biết là người não hại bạn sẽ mang mặc cảm tội lỗi và phải tốn nhiều thời gian, tiền bạc để giải tỏa nó.
Vậy thì tại sao chúng ta lại cần phải “dạy cho họ một bài học”?
Nếu suy nghĩ chín chắn thì chúng ta không cần phải ra tay trừng trị họ. Mọi việc sẽ trôi chảy êm đẹp nếu chúng ta biết tha thứ và buông xả cơn giận.
Trong tu viện của tôi có hai nhà sư người Mỹ đang xích mích với nhau. Một người từng là thủy quân lục chiến trước đây ở Việt Nam. Còn người kia từng là một nhà kinh doanh giàu có ở Mỹ nhưng từ bỏ danh vọng để đi tu. Cả hai đều còn trẻ, khỏe, có tài và cương quyết.
Đúng ra các nhà sư không nên cãi nhau, nhưng chuyện này vẫn xảy ra như thường. Và các nhà sư cũng không được đánh nhau, nhưng chuyện này cũng có thể xảy ra.
Hai nhà sư kia lời qua tiếng lại một hồi lâu, rồi bắt đầu lớn tiếng, xấn lại trừng mắt nhìn nhau như sẵn sàng để cho đối thủ vài cú.
Đang giữa cơn thịnh nộ chửi bới nhau như vậy, bất thình lình nhà sư cựu chiến binh sụp xuống đất quỳ lạy cung kính, làm nhà sư cựu thương gia hết sức kinh ngạc. Nhà sư cựu chiến binh ngẩng mặt lên nói:
– Tôi thành thật xin lỗi. Xin bạn hãy tha thứ cho tôi.
Quả thật đây là một hành động bất ngờ và hi hữu, xuất phát tự nhiên từ đáy lòng chứ không tính toán trước. Nó được làm một cách thành thật khiến người đối diện cảm nhận được ngay. Và nhà sư thương gia kia đã cảm động bật khóc.
Vài phút sau mọi người thấy họ thân mật trở lại với nhau như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Đó là điều mà các nhà sư nên làm.
Theo tôi nghĩ, vị sư cựu chiến binh kia không thể tự nhiên trong cơn thịnh nộ, thiếu điều sắp đấm đối thủ, mà có thể xụp xuống lạy như vậy nếu như trước đó nhà sư ấy chưa từng có bề dày thực tập quán chiếu về từ bi, tha thứ và sám hối.
Chưa chứng quả Thánh, thì ai mà chẳng có lúc sân lên, nhưng người có tu, biết tu thì mới biết sám hối. Còn người không tu thì sẽ để cho cơn sân nắm đầu lôi đi và sẽ không có chuyện sụp xuống quỳ lạy xin lỗi.
________________________
Vấn đề của cái giận là chúng ta thích giận. Nốii vậy có lẽ nhiều người không đồng ý, vì có ai lại thích giận bao giờ? Khi giận lên, nó cho chúng ta cảm giác mạnh bạo, oai hùng, không còn biết sợ và uy hiếp mọi người làm họ nể phục.
Vì thế mà vô tình chúng ta “ghiền giận” và thích giận. Khi giận lên, la hét, đập phá thì chúng ta cảm thấy hả dạ, cảm thấy “đã nư”. Nhưng trong cái giận có nhiều sự nguy hiểm, đưa tới kết quả tai hại không thể lường được. Chúng ta cần phải ý thức được sự nguy hiểm của cái giận thì may ra mới từ bỏ nó được.
NGỤ NGÔN “CON QUỶ ĂN GIẬN”
Một thuở xa xưa, trong lúc nhà vua đi vắng, có một con quỷ xuất hiện ngang nhiên bước vào cung điện. Mặt mũi nó rất xấu xí, thân thể toát ra mùi hôi thối, khi nó mở miệng thì nói ra những lời ghê tởm, khiến lính canh và các quan trong cung điện đều hoảng sợ đứng chết trân. Nhân đó, con quỷ đi thẳng vào triều đình và leo lên ngai vua ngồi. Khi thấy con quỷ ngồi lên ngai vua, các quan và lính gác mới hoàn hồn chạy tới đuổi.
“Hãy mau ra khỏi nơi đây”, mọi người đều la lên. “Đây không phải là nhà của ngươi, nếu ngươi không đi ra thì chúng ta sẽ chém người thành từng mảnh”.
Khi nghe những lời sân si như vậy thì người con quỷ tự nhiên lớn lên vài phân, mặt nó trở nên xấu xí hơn, mùi hôi trên người nó tanh hơn, và lời nói của nó càng tục tĩu hơn.
Mọi người cùng rút kiếm, chĩa giáo la hét dọa nạt nó. Cứ sau mỗi tiếng la hét, mỗi hành động hung hăng, và ngay cả mỗi ý nghĩ tức giận của quân lính thì con quỷ lại lớn thêm vài phân, hình thù xấu xí hơn, mùi tanh hôi hơn, và lời nói càng tục tĩu hơn.
Hai bên đang la hét, chửi bởi nhau như vậy thì nhà vua trở về. Ngài nhìn thấy có một con quỷ to tướng đang ngồi trên ngại của mình. Chưa bao giờ ngài thấy một con quỷ xấu xí như vậy. Mùi hôi trên người nó nồng nặc đến nỗi dòi bọ cũng phải bỏ chạy. Lời nói của nó tục tĩu, nham nhở, ngay cả những tay bợm nhậu chuyên chửi thề cũng không bằng.
Nhà vua rất bình tĩnh. Đó cũng là lý do vì sao ngài là vua. Ngài biết mình phải đối phó ra sao.
– Chào mừng bạn- nhà vua nói một cách thân mật. Chào mừng bạn đã tới thăm cung điện của ta. Có ai đã mời bạn ăn uống gì chưa?.
Trước những lời nói thân mật này, con quỷ tự nhiên nhỏ đi vài phân, mặt mũi bớt xấu đi một chút, mùi bớt hôi, và ăn nói bớt hung dữ.
Mọi người trong cung điện đều nhận ra ngay sự thay đổi này. Thế là một người bước tới hỏi con quỷ có muốn uống trà không?
“Thưa bạn muốn dùng trà Ấn Độ hay trà Ăng Lê? trà bạc hà, rất tốt cho sức khỏe của bạn?” Một người khác điện thoại đặt mua bánh pizza”, loại bự nhất dành cho những người béo phì, vì con quỷ khá to lớn.
Một người khác thì tự tay đi làm bánh mì thịt cho con quỷ. Một người lính đã tới gần xoa bóp chân cho con quỷ, và một người khác thì xoa bóp lưng cho nó. “Ui chao ơi! Đã quá!” con quỷ rên lên.
Cứ sau mỗi lời nói, hành động hay ý nghĩ dễ thương của mọi người xung quanh thì con quỷ lại nhỏ đi vài phân, bớt xấu, bớt hôi và bớt hung dữ. Trước khi bánh pizza được giao tới cung điện thì con quỷ đã thu nhỏ trở lại kích thước ban đầu khi nó mới tới.
Nhưng mọi người vẫn chưa chịu ngưng. Họ vui vẻ tiếp tục đối xử tử tế, dễ thương với con quỷ khiến nó teo dần tới mức nhỏ hơn con kiến. Và chỉ cần thêm vài hành động dễ thương nữa thì con quỷ tan biến mất.
Con quỷ đó có tên là “Con Quỷ Ăn Giận” (anger-eating demon).
Người hôn phối của chúng ta, bạn bè, đồng nghiệp của chúng ta nhiều lúc cũng có thể biến thành “Con Quỷ Ăn Giận”. Nếu chúng ta nổi sân với họ thì hãy nhìn xem, họ sẽ trở nên xấu xí, nói năng hung dữ. Và vấn đề sẽ tăng lên vài phân mỗi lần chúng ta nổi giận với họ. Hy vọng bạn đã nhận ra sai lầm của mình và biết cách sửa đổi.
Cái đau cũng là một loại “con quỷ ăn giận”. Khi bị đau, chúng ta hay nổi giận nghĩ trong đầu: “Cái đau này dễ ghét quá! Mày đi ra chỗ khác. Tạo không muốn có mày ở đây!” và cái đau sẽ được gia tăng thêm với sự góp mặt của nỗi khó chịu, bực dọc, than oán.
Quả thật khó mà dễ thương nổi với cái gì làm mình đau nhức, khổ sở, nhưng nhiều lúc không còn cách nào khác hơn nữa. Khi chúng ta biết chấp nhận, thật lòng đón tiếp cái đau và đối xử tử tế với nó, thì nó sẽ nhỏ dần, bớt quậy, bớt phá, bớt làm dữ và từ từ có thể tan biến luôn (vì cái gì cũng vô thường mà, cơn đau sẽ đến rồi đi).
Có vài bệnh ung thư cũng thuộc loại “con quỷ ăn giận”, chúng nó xấu xí, đăng ghét, ai cũng sợ, vậy mà chúng ngang nhiên đi vào người chúng ta và ngồi chễm chệ trên “ngại vàng”. Đa số mọi người đều xua đuổi nó là chuyện đi nhiên “Ung thư ơi, máy mau đi chỗ khác chơi. Tạo không muốn có mày đâu!”
Nhưng nếu sau khi làm đủ mọi cách mà nó vẫn không đi thì tốt hơn chúng ta nên đổi thái độ, chào mừng vì đón tiếp nó từ tế giống như nhà vua ở cung điện kia. (đây không phải cách chữa, mà là cách điều chỉnh thái độ, nó sẽ giúp tình hình bớt tồi tệ hơn)
Là người ta, ai cũng biết là không nên giận, vì giận là một trong ba cái độc (tham, sân, si), nó làm mình phiền não và tạo nghiệp xấu, nhưng khó ai dẹp trừ được cái giận.
Chúng ta thường có thói quen khi bị người khác làm trái ý thì nó sân lên, người ta nói một thì mình hùng hố nói lại hai, ba để lấn át, nhưng nào ngờ họ không sợ mà còn nổi sân với mình, và căng thẳng có thể leo thang.
Chỉ có trí tuệ thấy ra được nhiên liệu làm lửa sân bốc cháy, và biết cách khôn ngoan tưới nó bằng nước từ bi thì nó mới bị dập tắt.
__________________
Lạm bàn
(Quang Tử )
Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy:
“ Lửa nào dập được lửa ?
Thù nào diệt được thù?
Từ bi diệt hận thù
Là định luật ngàn thu.”
Thật là một bài học quý báu, để mỗi chúng ta khắc cốt ghi tâm, ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày, cuộc sống sẽ bớt đi rất nhiều những phiền muộn của cãi vã, xung đột, oán giận…cũng như tránh đi được bao nhiêu phiền toái hệ lụy sau đó. Cuộc đời tốt đẹp hơn rất nhiều từ những thay đổi rất nhỏ trong tâm chúng ta.
( Trích AI MUA XE RÁC – thiền sư Thái Lan Ajahn Brahm)
Những lúc gặp nạn, chán đời, bạn thường nghĩ “thật oan ức, tại sao lại xảy ra cho tôi?”, thật không công bằng chút nào!
______________
Một tù nhân, tuổi trung niên, sau lớp giảng hàng tháng trong tù, đã xin đến gặp tôi (Ajahn Brahm) để thưa chuyện. Ông này đã tham dự lớp giảng từ nhiều tháng nên tôi cũng quen mặt.
– Thưa thầy Brahm – ông nói – Tôi muốn cho thầy biết là tôi không có phạm tội mà họ đã nhốt tôi vào tù. Tôi là kẻ vô tội. Tôi biết nhiều tù nhân cũng nói như vậy mặc dù họ phạm tội, nhưng tôi hoàn toàn nói thật. Tôi không bao giờ nói láo với thầy đâu. Tôi xin thề với thầy đó.
Tôi tin lời ông ấy. Hoàn cảnh và điệu bộ của ông đã linh tính cho tôi biết là ông nói sự thật. Tôi bắt đầu suy nghĩ, thật bất công cho ông ta quá, và đang tìm cách an ủi. Nhưng ông đã cắt đứt dòng tư tưởng của tôi. Với một nụ cười bí hiểm, ông nói:
-Thưa thầy Brahm, nhưng tôi lại có phạm nhiều tội khác, xong những lúc đó tôi lại không bị bắt. Cho nên… nghĩ lại thì kể ra cũng công bằng thôi!
Tôi phá lên cười. Thì ra tên tù nhân lưu manh này đã hiểu luật nhân quả, và có thể hiểu rõ hơn vài tu sĩ mà tôi biết.
Có khi nào bạn phạm tội, hành hung, ăn cắp, phạm pháp mà không bị bắt không? Và khi đó bạn có than “Trời ơi, không công bằng! Tại sao tôi không bị bắt?”.
Nhưng khi lâm vào cảnh khổ mà không biết lý do tại sao thì chúng ta liền than “Trời ơi, bất công quá! Tại sao lại tôi?”
Giống như tên tù nhân tôi vừa kể, có thể chúng ta đã làm nhiều tội lỗi mà không bị bắt lúc đó. Bây giờ mới nhìn thấy vô cớ bị bắt, nhưng thật ra có lẽ cũng công bằng thôi.
Tên tù nhân trên đã bị bắt oan về một tội mà ông không phạm, nhưng trước đó ông đã phạm nhiều tội khác mà không bị bắt. Bây giờ mới nhìn thì thấy ông bị bắt oan, nhưng suy xét trên thời gian dài ra thì cũng chẳng oan chút nào.
Có nhiều Phật tử ăn chay, niệm Phật, cúng dường, bổ thị, làm phước mà vẫn gặp những chuyện không may, thường hay than thở “Tôi tu hành, ăn chay, làm phước mà sao cử gặp nạn hoài?”.
Đạo Phật dạy nhân quả ba đời: quá khứ – hiện tại – vị lai. Có những người kiếp này làm các việc bất thiện mà vẫn sung sướng, đó chẳng qua cũng giống như người phạm tội mà chưa bị bắt. Đến kiếp sau đang sống lương thiện thì lại bị bắt vào tù một cách oan uổng. Nhìn vào thấy oan, nhưng xét kỹ trên thời gian dài, thì cũng công bằng thôi.
Vậy khi không làm điều gì xấu ác mà gặp nạn thì chúng ta nên nhớ là không có gì oan uống hết. Có thể chúng ta đã tạo các từ nhiều kiếp trước, đến kiếp này thì quá mới chín mùi trổ ra.
__________________
Ở một khía cạnh khác, nhiều người Tây phương hiểu lầm luật nhân quả. Hễ thấy ai bị đau khổ thì họ liền cho là do tạo nghiệp ác đời trước nên bây giờ phải trả quá, không có cách nào thoát khỏi. Sự thật không hẳn như vậy, giống như câu chuyện thí dụ sau đây.
Có hai người đàn bà cùng làm bánh.
Người thứ nhất có trong tay những nguyên liệu khá tồi tệ. Bột mì thì cũ với vài chỗ mốc phải khều vứt đi. Bơ thì sắp lên mùi. Đường trắng thì loang lổ vài đốm nâu (vì ai đó đã dùng muỗng cà phê còn ướt múc vào). Trái cây mà bà có chỉ vỏn vẹn một chùm nho cũ. Và cái lò bếp của bà thuộc đời trước chiến tranh thế giới.
Người thứ nhì có trong tay những nguyên liệu hào hạng. Bột mì được bảo đảm xuất xứ từ các xưởng không xài chất hóa học. Bơ thuộc loại không gây béo phì và rất mềm dễ nhồi nặn. Đường vàng nguyên chất chưa bị tẩy trắng. Trái cây thì chín mới hái ngoài vườn. Cái lò bếp thì thuộc loại hiện đại nhất với đủ loại chương trình tự động.
Thử hỏi người đàn bà nào sẽ làm ra một cái bánh ngon nhất?
Chưa chắc người có nguyên liệu hảo hạng sẽ là người làm bánh ngon nhất. Đôi khi người có nguyên liệu tồi tệ, nhưng lại lành nghề và bỏ hết tâm sức vào sự làm bánh, lại là người cho ra cái bánh ngon nhất. Và ngược lại, người có nguyên liệu tốt lại vụng về, vẫn sẽ chỉ làm được cái bánh không ai muốn ăn.
Vài người bạn tôi quen, họ có trong tay nhiều nguyên liệu khá tồi tệ trong đời như: Sinh ra trong gia đình nghèo, từ nhỏ bị đối xử tệ bạc, học hành dốt nát, có người bị tàn tật và không chơi thể thao được. Nhưng họ đã cố gắng vận dụng khả năng dư thừa của mình để cho ra một cái bánh xứng đáng, khiến tôi phải cúi đầu khâm phục. Bạn có bao giờ gặp những người như thế chưa?
Vài người bạn khác, họ có trong tay những nguyên liệu hảo hạng của cuộc đời: Sinh ra trong gia đình giàu sang được cha mẹ cưng chiều, học hành giỏi, đẹp trai, tài ba, nổi tiếng. Đó là nhờ phước báo họ đã làm từ kiếp trước.
Nhưng rồi họ đã phung phí tuổi trẻ trong rượu chè, cờ bạc, hút sách. Bạn có biết những người như vậy không?
_______________
Lạm bàn:
Luật nhân quả là một dòng chảy của những nguyên nhân – kết quả gối đầu nhau, hiện tại vừa là kết quả của quá khứ, vừa là nguyên nhân của tương lai. Chúng ta dù có quá khứ tệ như thế nào, thì đó mới chỉ là phân nửa. Và phân nửa kia là cách chúng ta làm gì với những nguyên liệu sẵn có trong cuộc đời, đó mới là phần quan trọng nhất.
Trong kinh Phật cũng có nói về bốn hạng người.
1) Từ bóng tối đi vào bóng tối: Sinh ra từ nơi nghèo khó và tiếp tục tạo nghiệp xấu.
2) Từ bóng tốt đi vào ánh sáng: Sinh ra từ nghèo khó và phấn đấu làm lành thoát khổ
3) Từ ánh sáng đi vào bóng tối: Sinh ra nơi giàu sang và ăn chơi, trụy lạc tạo nghiệp, để rồi xuống dốc.
4) Từ ánh sáng đi vào ánh sáng: Sinh ra từ nơi giàu sang và tiếp tục làm lành, càng ngày phước báo càng nhiều.
Nói cách khác, luật Nhân Quả không có nghĩa là mọi sự đều là kết quả của đời trước, mà chỉ có 50% của đời trước và 50% của đời hiện tại. Chính nhờ 50% của đời hiện tại, nên chúng ta có cơ hội để chuyển nghiệp với các phương pháp sám hối, tạo nhiều việc thiện, tích công đức. Vì thế luật nhân quả không phải là định mệnh an bài, ráng ngồi chịu trận trả nghiệp.