4 ngày đêm trôi dạt giữa biển cả, anh ngư dân thoát chết nhờ niệm Phật

Người về từ cõi chết

Trước căn nhà tranh đơn sơ, một đám đông tụ họp xôn xao bàn tán. Trong số đó có một người phụ nữ ôm hai đứa con nhỏ, vẻ mặt bồn chồn, đó là vợ của anh Trần Văn Việt, một ngư dân 43 tuổi, sống ở ấp Hòa Hiếu 1, xã Định Hòa, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Cách đây mấy hôm, chị đã nhận được tin báo từ chủ ghe, rằng chồng chị đã rơi xuống biển và chết mất xác. Chị đau đớn khóc than, chấp nhận sự thật đau xót rằng chồng mình đã vĩnh viễn nằm dưới lòng biển cả. Nhưng rồi một kỳ tích đã xảy ra, khiến chị và họ hàng lối xóm nghe tin mà không dám tin vào tai mình: anh Việt vẫn còn sống sau 4 ngày đêm chơi vơi giữa biển cả, không phao, không đồ ăn, không nước uống. Thế nên họ tập hợp lại ở đây đón anh trở về. Phải nhìn tận mắt, sờ tận tay họ mới tin được. Trời đã tối, từ phía xa xa, thấp thoáng một chiếc xe ô tô đang tiến dần tới. Anh Việt mở cửa xe, bước xuống với khuôn mặt sạm đen, bong chóc nhiều chỗ, nhưng nhìn chung thì sức khỏe vẫn ổn. Mọi người trông thấy bóng dáng quen thuộc thì chạy đến vây lấy anh, mừng vui khôn siết chẳng nói nên lời. Những người ngư dân trong xóm thì không ngừng xuýt xoa về kỳ tích thoát chết của Việt. Với kinh nghiệm bao năm đi biển, việc một người hoàn toàn tay không có thể sống sót 4 ngày đêm giữa biển cả là điều không thể lý giải nổi. Họ chỉ có thể gọi đó là sự màu nhiệm, một hiện tượng siêu nhiên vượt ngoài hiểu biết của con người. Việt bước vào nhà, ngồi xuống giường, vây quanh anh là vợ con, họ hàng, làng xóm, vừa vui mừng, vừa háo hức nghe anh thuật lại quá trình anh thoát nạn. Việt chậm rãi kể lại cho mọi người nghe về bốn ngày đêm đầy kì lạ ấy.
Ngư dân Trần Văn Việt kể lại quá trình 4 ngày đêm trôi dạt trên biển

4 ngày đêm trôi dạt giữa biển cả

Giữa tháng 5 năm 2023, Việt theo tàu cá Ngọc Lợi ở Biến Tre khởi hành ra khơi bắt đầu chuyến hành trình đánh bắt cá. Với anh, như bao ngư dân khác, đàn cá là thức ăn, là nguồn kinh tế nuôi sống gia đình. Chúng đơn giản là công cụ để nuôi sống con người, thế thôi. Và anh đã gắn bó với nghề hơn 27 năm ròng mà chẳng lăn tăn suy nghĩ gì nhiều. Sau hai tuần lênh đênh ngoài biển, tàu đã cách đất liền 200 hải lý (hơn 370km). Lúc đó là khoảng 7 giờ tối ngày 1/6/2023, bao phủ không gian là một màu đen lẫn lộn giữa trời và biển, điểm xuyết vài chấm sáng nhỏ nhoi của những ngôi sao và ánh sáng lập lòe nhấp nháy của vài tàu đánh cá phía xa xa. Vẫn là bản giao hưởng âm thanh quen thuộc của tiếng sóng nước dập dìu, hòa với tiếng động cơ nổ phành phạch. Việt tính đi tắm, anh cởi áo, vòng lối bên mạn tàu đi ra phía sau là chỗ vệ sinh tắm rửa. Không may lúc đó một nhịp sóng xô vào ghe khiến nó chòng chành hất anh chới với, anh vươn tay định chụp lấy cái ống kim loại gần đó, mà chụp hụp. Chẳng kịp bấu víu vào đâu nữa, Việt rơi tùm xuống biển. Anh hốt hoảng hét thật to kêu cứu, nhưng hét mãi mà chẳng ai nghe thấy gì, bởi tiếng máy nổ của động cơ tàu đã nuốt trọn cả tiếng kêu cứu ấy. Tàu cá Ngọc Lợi ngày một đi xa khỏi Việt, ánh đèn trên tàu cứ nhỏ dần, nhỏ dần rồi mất hút phía chân trời, mang theo tất cả hi vọng của anh. Xung quanh anh giờ đây chỉ có biển cả và màn đêm thăm thẳm, mêng mông không bờ bến. Việt hiểu ngay mình đang phải đối mặt với điều gì, nỗi sợ hãi dâng lên và càng lúc càng tăng thêm. Là một ngư dân lâu năm, anh tất nhiên bơi giỏi, nhưng giỏi cỡ nào thì cũng chỉ trụ được tầm một ngày là cùng. Tình hình của anh rất căng, không phao, không nước ngọt, không đồ ăn, không gì cả ngoài chiếc quần đang mặc trên người. “Giờ muốn sống thì buộc phải tìm được tàu đi ngang qua. Xa mấy cũng phải lội tới.” – anh thầm nghĩ và nhìn quanh. Cũng may là có vài đốm sáng của các ghe khác le lói phía xa. Vậy là Việt dùng hết sức mình bơi theo hướng đó. Thi thoảng anh lại hét lên thật to hy vọng có ghe tàu nào nghe thấy, nhưng vẫn chẳng có một tín hiệu đáp trả nào. Việt như một kẻ vô hình giữa biển trời rộng lớn. Anh dần rơi vào tuyệt vọng. Sau này anh mới được biết, khi anh rớt xuống biển, mọi người trên ghe không thấy anh, đã huy động nhiều ghe quay lại, quần tới quần lui, tìm muốn nát khu vực đó mà không thấy gì. Họ đành báo về cho gia đình anh là anh đã chết mất xác. Một ngày, một đêm trôi qua, Việt vẫn lênh đênh giữa biển khơi mênh mông không bờ bến. Cái đói, cái khát và lạnh lẽo bủa vây làm anh kiệt sức, chẳng thể bơi được nữa. Còn chút hơi tàn, Việt cố gắng khua khoắng chân tay để nổi được trên mặt nước, vớt vát sự sống. Khát quá, anh nhấp chút xíu nước biển cầm cự, nhưng cứ hễ liều uống nhiều hơn một chút thì không thể nào chịu nổi cái vị mặn chát xé cổ họng của nó. Thi thoảng có mưa thì Việt ngửa đầu lên hứng từng giọt nước mưa vào miệng, nhưng chúng thì chẳng thấm vào đâu với cơn khát ghê gớm trong anh. Ban ngày, nắng trên biển cực kì gay gắt, khiến da mặt Việt cháy sạm, lột từng mảng, lộ ra lớp da non trắng ởn. Thỉnh thoảng lại có đàn cá nhỏ lao tới anh như vớ được bữa ăn ngon, thi nhau rỉa khắp bụng và chân, cũng đau đớn lắm. Việt gỡ chúng ra từ từ rồi thả chúng về với biển cả. Như thường tình, chúng có thể là một nguồn thức ăn cho anh, ít nhất cũng đỡ được cơn đói cồn cào một chút. Nhưng Việt chợt động lòng, một thứ suy nghĩ xa lạ lóe lên trong đầu: “Có lẽ những con cá này cũng muốn sống, muốn bình yên về với biển cả, như mình đây đang muốn sống, muốn bình yên về với đất liền.” Thời gian ngâm mình trong lòng biển càng lúc càng dài, nước mặn làm miệng anh lở loét và mắt không thể nào mở ra được. Việt nhận ra có lẽ mình sắp chết. Sóng bắt đầu dữ dằn hơn do sự ảnh hưởng của một cơn áp thấp nhiệt đới, nhưng Việt lấy đâu ra sức mà đối đầu với chúng nữa, chỉ còn cách thả trôi tính mạng của mình theo làn nước đó mà thôi. Đành phải chấp nhận số mình kết thúc ở đây sao? Trong khoảnh khắc ấy, anh đã định bỏ cuộc. Nhưng rồi, hình ảnh người vợ và hai đứa con hiện lên trong tâm trí. “Mình chết thì cũng đành vậy, nhưng rồi vợ và hai con phải sống thế nào? Đứa nhỏ mới chỉ 4-5 tuổi, rồi ai sẽ nuôi nó?” Việt không thể đầu hàng, hơi thở còn, thì Việt sẽ tiếp tục kiên cường đến cùng.

Anh ngư dân thoát chết nhờ niệm Phật

Ấy thế nhưng nghĩ là một chuyện, thực tế lại là một chuyện khác. Anh quá bé nhỏ trước đại dương bao la, sức đã cùng, lực đã kiệt, anh chưa từng nghe thấy ai có thể sống sót khi rơi vào tình cảnh này cả. Chỉ có phép màu mới có thể vượt qua chuyện này. Phép màu ư ? Việt chợt nghĩ tới Phật, tới Quán Thế Âm Bồ Tát với nhiều chuyện màu nhiệm mà từ nhỏ anh đã được nghe kể. Bằng những hơi thở yếu ớt còn sót lại, anh mở miệng cầu cứu: – Mẹ Quan Âm cứu con, Phật Tổ cứu con. Con còn con nhỏ 4-5 tuổi không ai nuôi nấng. Nếu con được sống trở về, con xin hứa bỏ nghề đánh cá, không làm nữa, nhất định không làm nữa. Dứt lời, Việt bắt đầu niệm liên tục: – Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô A Di Đà Phật … Khi Việt bắt đầu niệm, anh không còn cố bơi hay khua khoắng tay chân, thay vào đó anh khoanh chân ở tư thế xếp bằng lơ lửng trong dòng nước, hai tay chắp vào nhau, miệng niệm liên hồi. Ngạc nhiên chưa, trong tư thế đó cơ thể anh không bị chìm xuống, mà từ cổ trở lên vẫn nổi trên mặt nước. Thậm chí anh còn lạy Phật được 3-4 lần bằng cách cúi rạp cả mặt và đầu xuống nước, rồi lại ngẩng lên. Có bao nhiêu sự tha thiết, anh dồn hết cả vào câu niệm Phật. Cứ thế niệm rất lâu, cho đến khi anh mệt quá ngủ thiếp đi. Trong cơn mơ, anh thấy đồ ăn thức uống bày ra ê hề xung quanh, anh ăn uống thỏa thê. Điều kỳ lạ là đến lúc tỉnh lại, anh thấy mình đúng là không còn đói và khát nữa. Một điều đáng ngạc nhiên khác, người thường ngâm mình trong nước biển lâu như vậy sẽ thấy lạnh run lên cầm cập, chỉ cần một ngày là các cơ bắp sẽ bị chuột rút, co quắp lại, còn Việt thì chỉ thấy mát lạnh như lúc trời mưa, vậy thôi chứ không có gì đáng ngại. Ngày thứ ba, vẫn chẳng có tàu cá nào nhìn thấy Việt cả. Từ lâu anh đã không bơi nữa, vì đâu còn sức mà bơi, anh chỉ lo niệm Phật thôi, và một sức mạnh bí ẩn nào đó vẫn giữ anh lơ lửng không chìm. Lạ hơn nữa, dưới chân anh như có một nền đất sình lầy vậy, Việt thử bước đi, thấy nó trơn tuột nhưng có thể bước từng bước chậm rãi, anh đi bộ như vậy cả mấy hải lý liền để tìm tàu. Điều này quá vô lý, nhưng mà nó lại đã diễn ra! Ai hỏi thì anh không biết lí giải như thế nào, chỉ biết là nhờ vậy mà anh vẫn còn sống ở đây, và đó là bằng chứng. Nếu chẳng phải sức gia hộ của chư Phật, thì chẳng nhẽ anh có thần thông sao? Đi mãi, đi mãi vẫn chẳng thấy chút hy vọng nào lấp ló cả. Việt mệt lả, anh thả trôi mình luôn giữa lòng biển cả mà ngủ thiếp đi. Anh biết mình đang được an toàn trong sự gia hộ của Phật, của Bồ Tát, anh chắc chắn thế, vì không thì anh đã chẳng còn sống đến giờ, vậy nên Việt chẳng sợ hãi, hoang mang. Anh cứ thế ngủ ngon lành, lúc thì nằm ngửa, có lúc còn nằm sấp, mơ màng chìm vào những giấc mơ. Cuối cùng, vào chiều ngày 4/6/2023, có một con tàu của Phan Rang phát hiện ra anh đang bất tỉnh trong tư thế nằm úp, nổi bồng bềnh trên mặt biển. Khi ấy, con tàu đang cách đảo Phú Quý khoảng 35 hải lý (gần 70 km) về hướng Tây Nam. Các thuyền viên cảm thấy thật kỳ lạ, ban đầu họ cho rằng đây là một xác chết, vì nếu nằm sấp như thế làm sao mà thở ? Làm sao mà sống ? Ấy vậy mà khi các thuyền viên vớt Việt lên tàu, thì nhận ra anh vẫn sống, tình trạng không quá tệ, chỉ là miệng và lưỡi anh đã lở loét nặng, da bong tróc nhiều mảng, thân thể có vài vết thương do bị cá rỉa, hai mắt đỏ lừ không mở ra được, miệng rên hừ hừ nói trong mê sảng: – Tôi vừa đi ăn nhậu hay sao mà giờ say thế nhỉ? – Nhậu nhẹt gì. Tôi thấy anh nằm úp mặt trên biển, trôi tự do, nên vớt vào đây, chứ ăn nhậu ở đâu. Họ lấy nước rửa mặt, lau khô, ủ ấm, nhỏ thuốc nhỏ mắt và đút sữa cho Việt, dần dần anh hết mê sảng, tỉnh lại mới nhận ra mình đã được cứu thoát, lời cầu nguyện của anh với chư Phật, Bồ Tát đã được đáp ứng. Việt không ngớt lời cảm hơn các thuyền viên, và được họ đưa vào trung tâm y tế đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận để y bác sĩ chăm sóc thêm hai ngày, rồi mới đưa về nhà. Đó là lần đi đánh cá kinh hoàng nhất trong suốt hơn 27 năm ra biển, và cũng sẽ là lần cuối cùng của Việt. Nhớ lại bốn ngày bốn đêm lênh đênh trên biển giành giật sự sống khỏi bàn tay thần chết, anh vẫn chưa hoàn hồn. Anh ngậm ngùi nói với vợ và bà con: – Tôi đã hứa với Phật, nếu được cứu sống, tôi không làm nghề đánh cá nữa. Từ nay tìm kế sinh nhai khác, có bao nhiêu ăn bấy nhiêu. Việt đã hứa nên sẽ giữ lời. Có lẽ giờ đây anh cũng đã thấm thía nỗi đau đớn, thống khổ của biết bao con cá bị anh tước đoạt sinh mạng. Anh thèm khát sự sống bao nhiêu, thì chúng cũng vậy, nào có khác gì? Cơm áo gạo tiền vẫn là vấn đề muôn thuở mà chẳng mấy ai lại không trăn trở về nó. Có một công việc với nguồn thu nhập ổn định để nuôi sống bản thân và gia đình là mong mỏi của hầu hết chúng ta. Dù như vậy, chúng ta vẫn cần tỉnh táo để lựa chọn nghề nghiệp phù hợp. Một công việc thiện lành, không gây tổn hại đến bất kì chúng sinh nào, đem lại lợi ích cho xã hội sẽ dẫn tới kết quả tốt đẹp. Một công việc gây tổn hại đến chúng sinh, nhất là nghiệp sát sẽ dẫn tới quả báo thống khổ trong đời hiện tại và những đời sau. Đó là quy luật Nhân Quả, một quy luật chi phối hoàn toàn đời sống của tất cả sinh linh trong vũ trụ. Trải qua tai nạn trên biển, cập kề cái chết, Việt quyết tâm từ bỏ nghề nghiệp đã nuôi sống gia đình anh bấy lâu, mặc dù hoàn cảnh của anh rất nghèo khó. Đó là điều không phải ai cũng làm được. Nhiều người dù biết công việc mình làm là nghiệp ác nhưng vẫn không dám từ bỏ và viện lý do cơm áo gạo tiền để biện minh cho sự lựa chọn của mình. Bởi vì chẳng chịu quay đầu, nên quả báo đau khổ đang chờ đợi họ trong tương lai. Chư Phật mười phương ra đời, vì lòng từ bi thương xót, thường đưa tay cứu vớt chúng sinh khổ nạn, dùng sức phương tiện dìu dắt chúng sinh quay về nẻo thiện, để được an lạc về sau. Qua câu chuyện có thật đã xảy ra với Việt và rất nhiều trường hợp báo ứng hiện đời, cùng linh ứng Phật Pháp khắp nơi, hy vọng rằng tất cả chúng ta sớm nương theo giáo lý Phật Pháp, bỏ ác làm lành, thoát khổ được vui. (Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Trần Văn Việt)

BÍ QUYẾT ĐIỀU PHỤC CON HƯ

  Giữa quán nhậu ồn ào đủ thứ tiếng, chợt vang lên một giọng nam khào khào như muốn át đi mọi âm thanh khác: – Thằng kia, mày nhìn gì tao ? Muốn chết à? Tý gằn giọng, hai mắt long sòng sọc trợn lên. Máu điên nổi phừng phừng, anh quờ tay vớ ngay vỏ chai bia trên bàn, hùng hổ xông tới bàn nhậu bên cạnh, hai hàm răng bặm chặt vào nhau, vung tay đập một nhát vào đầu một người thanh niên khi cậu ta chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra. Người thanh niên thét lên một tiếng, đưa tay ôm đầu, máu đỏ tươi đã chảy thành dòng xuyên qua từng kẽ ngón tay. – Tại sao anh đánh tôi? – Ai bảo mày nhìn tao làm gì? – Tôi chỉ tình cờ đưa mắt qua thôi mà. – Tình cờ cũng không được. Nghe chưa? Không khí xung quanh vô cùng căng thẳng, khách ở các bàn khác quyết định bỏ bữa nhậu còn dang dở, nhanh chóng trả tiền rồi bỏ đi kẻo vạ lây. Chủ quán biết vậy cũng chẳng dám ho he nửa lời, bởi cảnh này vẫn thường xảy ra mỗi khi Tý xuất hiện. Người ta thường gọi anh là “Tý điên”, là con trai ông Nguyễn Định Kế, cư ngụ tại huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Anh nổi tiếng cả vùng là kẻ lưu manh đầu gấu, thích đâu đánh đấy không cần lý do. Trong cốp xe của Tý luôn có sẵn một thanh kiếm dài và nhiều hung khí khác nhau để phục vụ tính côn đồ hành hung bất chấp của mình. Các chủ quán nhậu thấy anh lui tới thì sợ xanh mặt, khách đang ngồi cũng tự khắc đứng dậy sang ngồi quán khác vì sợ máu điên của Tý. Ông Kế vốn là một Phật tử tu pháp môn Tịnh Độ, ăn chay niệm Phật chuyên cần, nhưng có người con hư hỏng, ngỗ nghịch hết phần người khác nên không khỏi phiền muộn. Tý thường xuyên bỏ nhà đi, có khi hai ba tháng chẳng về, nếu có về Lâm Hà cũng chẳng thèm ghé qua nhà hỏi thăm cha mẹ. Chỉ có đánh lộn, nhậu nhẹt khắp nơi mới là thú vui của anh. Mỗi khi hay tin con trai gây gổ, ông Kế lại ôm đầu sầu não. Chỉ những lúc tĩnh tọa niệm Phật mới giúp ông vơi bớt đi nỗi u sầu chất chứa trong lòng. Tý đã gây họa quá nhiều, ông Kế biết những gì con trai làm sẽ có quả báo khốn khổ, không sớm thì muộn, không kiếp này thì kiếp sau. Vì muốn cứu con, người cha già không đành lòng, quyết tâm phải làm gì đó kéo Tý ra khỏi con đường tội lỗi này. Vốn có nhân duyên với tịnh thất Quan Âm thuộc huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, ông Kế mỗi dịp cuối tuần thường lên đây chuyên tu cùng đại chúng. Ông mạnh dạn chia sẻ về đứa con của mình với thầy trụ trì – Đại Đức Thích Giác Nhàn và được thầy hướng dẫn cách thức hóa giải. Bằng tình thương của một người cha, ông Kế chẳng quản khó khăn mệt nhọc, quyết dùng Phật Pháp điều phục đứa con nghịch tử. Thực hiện theo lời thầy hướng dẫn, ông Kế về nhà, ngày ngày lạy Phật, niệm Phật và tụng kinh hồi hướng công đức cho Tý. Cứ sáng ra ông tụng nửa cuốn kinh Vô Lượng Thọ, chiều về lại tụng nốt nửa cuốn còn lại, cả ngày thì niệm Phật không tính kể. Tất cả công đức ông đem hồi hướng hết cho Tý. Ròng rã như vậy nhiều ngày, ông Kế có niềm tin mãnh liệt rằng Phật Pháp nhất định giúp con ông hồi đầu hướng thiện. Ấy thế mà, hai tháng đã trôi qua, người cha không thấy có gì chuyển biến cả, ông thấy nản, và cũng có chút thất vọng nên lên hỏi lại thầy Thích Giác Nhàn. Thầy nghe rồi thì không vẽ thêm cách thức nào khác, chỉ động viên ông phải tiếp tục kiên trì mới có kết quả. “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”, tự mình thay đổi đã khó, muốn thay đổi người khác còn khó hơn nhiều, không thể mới hai tháng đã thoái chí được. “Thầy nói phải, chưa gì mình đã định bỏ cuộc. Vì thằng Tý, dù có bao lâu cũng phải cố.” – ông Kế tự nhủ. Một tháng sau, Tý bất chợt trở về nhà. Đã lâu rồi anh không gặp cha. Vốn là một kẻ máu lạnh vô tình, chẳng bao giờ biết rung động. Thế nhưng lần này Tý không khỏi ngậm ngùi khi nhìn thấy bóng dáng ông Kế hiện rõ những dấu hiệu tuổi già, những vết chân chim đã hằn sâu nơi khóe mắt, thân thể còm cõi, không còn tráng kiện như xưa, rồi chẳng bao lâu nữa cũng sẽ phải ra đi như một lẽ tất yếu. Tý nhìn cha cất tiếng nói: – Thôi ba lo tu đi cho thanh thản đầu óc. Nhỡ đâu còn có kiếp sau thì nhờ tu cũng sẽ nhẹ nhàng hơn. – Mày nói được câu đấy thì mày cũng nên tu đi. – Ông Kế nhẹ nhàng đáp lời con trai. Thực tình Tý nói vậy thôi, chứ trong lòng chẳng suy nghĩ được như thế. Anh chỉ động lòng thương cha già cả, chứ biết gì đâu mà tu tập. Thế nhưng cứ như thể có một điều gì đó dẫn dắt suy nghĩ của Tý. Một hôm, khi đang nằm nghỉ, anh vắt tay lên trán, lắng lòng ngẫm nghĩ về cuộc đời: “Mình gần 40 tuổi rồi, chẳng mấy cũng già như ba, cũng sẽ đến lúc phải ra đi. Chẳng hay mình sẽ đi về đâu sau khi từ giã cõi đời?” – Tý tự vấn trong lòng, đau đáu về câu hỏi mình tự đặt ra, nhưng anh chưa có được câu trả lời. Một ngày cuối tuần, Tý chợt cao hứng lấy xe đòi chở ba mẹ lên tịnh thất Quan Âm. Khi vừa vào tới phòng của Đại Đức Thích Giác Nhàn, nhìn thấy thầy, bỗng nhiên anh run rẩy, nổi da gà, tóc tai dựng đứng, cả người lạnh ngắt. “Quái lạ! Sao ngoài đời mình chả biết sợ ai. Vào đây gặp thầy tu mình lại như vậy nhỉ?”- Tý thắc mắc. Trở về nhà, chính cái cảm giác kì lạ đó đã khơi gợi trong lòng “Tý điên” nhiều suy nghĩ, mà từ trước tới nay chẳng mảy may nghĩ tới. Những thắc mắc, những câu hỏi vu vơ cứ thế trỗi lên: “Tất cả những việc từ trước đến nay mình làm có đúng không? Hay mình thử thay đổi xem sao? Sao mình không làm những việc mà mấy người đi chùa hay làm nhỉ? Ăn chay, niệm Phật ư?” Vậy là chẳng cần cha mở lời, tới Chủ nhật, Tý gọi điện hỏi: – Chủ nhật này ba có đi chùa không? Để con đưa ba đi. Ông Kế tròn xoe mắt ngạc nhiên về những lời mình vừa nghe được. Ông bắt đầu mơ hồ nhận ra sự thay đổi của Tý. Ông mừng thầm, hy vọng ba tháng tu tập hồi hướng công đức của ông cho Tý đã có hiệu quả. Không như lần trước, chỉ là tài xế đưa ông Kế lên chùa, lần này, Tý lân la vào ngồi niệm Phật cùng đại chúng, chuyên chú được một lúc bỗng thấy một cảm giác bình yên hiếm có, xưa nay anh chưa từng cảm nhận được. Thấy tâm tư của Tý đã chuyển biến rõ rệt, ông Kế nhìn con, đặt tay lên bờ vai của Tý, nhẹ nhàng khuyên nhủ: – Quay đầu đi con. Quay đầu là bờ. Tám chữ ấy lập tức đánh động vào tâm trí, đánh thức sự lương thiện đã bị ẩn giấu quá lâu trong tiềm thức của anh, Tý mơ màng nhận ra từ trước tới nay mình đã sai. Dần dà được tiếp xúc với giáo lý Phật Pháp, anh cũng có được câu trả lời cho những thắc mắc của mình. Hóa ra chết không phải là hết. Hóa ra chúng sinh từ vô số kiếp đến nay vẫn trôi lăn đau khổ trong sáu cõi luân hồi sinh tử chưa có điểm dừng. Anh cũng hiểu nếu mình không chịu thay đổi, cứ sống mãi như trước, chắc chắn sau này phải bị đọa lạc trong các cảnh giới khổ đau muôn trùng. Một buổi nọ, đám bạn bè chuyên nhậu nhẹt tuy đã biết chuyện nhưng vẫn gọi Tý sang làm vài chén: – Ê mày, tu thì cũng phải có bạn bè chứ. Lên đây với anh em, có rượu với mồi ngon đang chờ. – Tao ăn chay rồi. Giờ tao chỉ đi chùa, không đi nhậu. – Thôi mày để yên cho người ta tu, mày lên đấy thì ai dám đến chùa nữa. – Một người tỉnh ngồi với một người say, khó ngồi lắm. Thôi tao không đi đâu. Mới đầu bạn bè chẳng ai tin Tý có thể thay đổi chóng mặt như vậy. Nhưng sự quả quyết đó đã chứng minh cho họ thấy “Tý điên” giờ không còn điên, không còn say nữa, Tý đã tỉnh thật rồi. Từ đó, Tý càng chăm chỉ niệm Phật, lạy Phật mỗi ngày. Anh cũng tự biết kiểm soát tâm tính, khi thấy mình quen theo thói cũ hay nổi sân, anh lại nhiếp tâm niệm Phật để khống chế cơn giận dữ. Cứ kiên trì như thế tính tình anh dần dịu lại, những cơn sân hận ngày một ít đi theo thời gian. “Tý điên” từng bước lột xác thành một con người mới, những dấu vết của lối sống lưu manh trước kia dần phai nhạt. Anh quy y Tam Bảo, lấy pháp danh là Diệu Âm Quảng Hiền, nhanh chóng tiếp nhận pháp môn Tịnh Độ, dứt mặn trường chay, ngày ngày niệm Phật cầu sinh Cực Lạc. Quả là một sự thay đổi chóng mặt khiến ông Kế vỡ òa trong niềm hạnh phúc. Mỗi khi nhắc đến phép màu đã xảy đến với gia đình ông, ông Kế xúc động đến rơi nước mắt, phần vì mừng, phần vì lòng biết ơn Phật Pháp đã cứu rỗi đứa con trai của ông, dẫn lối nó về con đường sáng, và đem hai chữ “bình yên” đến với gia đình ông. Sự kiên trì của ông đã đem lại kết quả thật sự.
Ông Nguyễn Định Kế và con trai chia sẻ câu chuyện tại Tịnh Thất Quan Âm
Nhân quả luôn đúng từng li từng tí, tuyệt nhiên không có sai sót. Tuy nhiên do phước nghiệp quá khứ mỗi người một khác, sức tu từng người cũng sai biệt mạnh yếu khác nhau, nên thời gian từ khi gieo nhân tới khi trổ quả có khi nhanh, có khi rất lâu. Vậy nên việc hồi hướng công đức cầu một điều gì đó đặc biệt cần sự kiên trì. Nếu chỉ vì chưa thấy kết quả ngay đã vội nản lòng mà bỏ dở, thì bạn sẽ không thấy kết quả gì cả. Sẽ ra sao nếu khi ông Kế niệm Phật hai tháng không thấy kết quả gì, ông bỏ cuộc ? Một là con trai ông vẫn thế, hai là ông sẽ mất tín tâm vào Phật Pháp, và ba là chúng ta sẽ không có một tấm gương sáng để mọi người noi theo học tập. Trường hợp thực tế của cha con ông Kế là một lời nhắc nhở tới những người tu về sự kiên trì, bền bỉ. Đó là một trong những yếu tố then chốt giúp sự nghiệp tu hành của chúng ta đi tới đích. (Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của ông Nguyễn Định Kế và con trai)

NHỜ CON GÁI, NGƯỜI CHA TỰ TỬ ĐƯỢC SIÊU THOÁT CÕI LÀNH

Tự tử

Tuyết lặng người đi khi nghe mẹ gọi điện báo tin sét đánh. Bố Tuyết đã xảy ra chuyện lớn. Lúc đó mẹ Tuyết vừa làm xong chút việc, về phòng mở cửa, vừa bước vào bỗng thấy thình lình trước mặt một đôi chân lơ lửng giữa phòng, chưa kịp định hình là cái gì, bà căng hết cỡ tròng mắt, đưa ánh mắt chạy dọc từ đôi chân lên tới phía trần nhà để thấy rõ khuôn mặt. – Aaaaa! Ông ơiiiiiii! Bà kêu lên một tiếng thất thanh. Bà không nhìn nhầm, đó chính là chồng bà. Cổ ông đang được treo lên bằng một sợi dây thừng dài vắt trên cao và thắt nút chắc chắn. Ông đã bất tỉnh. Bà thất thần hốt hoảng trong chốc lát, rồi cố gắng bình tĩnh trở lại trước một cảnh tượng trước nay chỉ thấy trong phim. Tình hình vô cùng khẩn cấp. Bà la lớn gọi người nhà tới đỡ ông xuống đem đi cấp cứu ngay lập tức, rồi gọi điện thông báo cho Tuyết sự tình. Trong đầu Tuyết như nổ sầm một tiếng. Cô phóng như bay về nhà. Tên đầy đủ của cô là Nguyễn Thị Tuyết, sinh năm 1990, cư trú tại huyện Kiến Thụy, Hải Phòng. Bố mẹ cô là những người hiền lành, có tín tâm vào thế giới tâm linh, bản thân Tuyết cũng đã bén duyên đôi chút với Phật Pháp. Cô hiểu tự sát là tội nặng, hủy hoại nhân duyên được làm người, thì sau này phải chịu thống khổ vô vàn, khó lòng siêu thoát. Nhưng Tuyết không hiểu tại sao bố cô bất thình lình tự tử, chẳng nhẽ chỉ vì áp lực cuộc sống? Ông rất thương vợ thương con, chẳng nhẽ ông đành lòng bỏ mặc mà đi như vậy? Còn nước còn tát, gia đình Tuyết, mỗi người một chân một tay, tức thì đưa ông vượt đường xa lên cấp cứu tại một bệnh viện ở Hà Nội. Ông nằm trên giường bệnh trong trạng thái hôn mê. Là cô con gái ông hết mực yêu thương, Tuyết buồn rầu, bất lực nhìn bố nằm im một chỗ. Cô kéo chiếc ghế khẽ ngồi cạnh bên giường, nắm lấy đôi bàn tay đen sạm vì nắng gió, đôi bàn tay đã vất vả lao động cực nhọc nuôi gia đình, Tuyết thì thầm bên tai ông: – Bố cố gắng khỏe lên, tiếp tục sống cùng chúng con nhé. Ông hôn mê, nhưng dường như nghe thấy lời tâm sự của con gái, những giọt nước mắt từ đâu đầy dần, rồi ứa tràn ra khỏi khóe mi, chảy dài xuống má. Tuyết hiểu bố đang lắng nghe những lời cô nói, không khỏi xúc động, càng nắm đôi bàn tay bố chặt hơn một chút như một sự đáp lời. Hai ngày ở viện trôi qua, đến đêm hôm đó, tình hình trở nặng không thể cứu chữa. Gia đình cô theo sự khuyên bảo của bác sỹ, đưa ông trở về để ông được ra đi tại nhà, phần nào ấm cúng hơn một không gian lạ lẫm như bệnh viện. Trong lòng Tuyết nặng trĩu, biết tự tử là tội nặng, nên cô chuẩn bị tinh thần làm công đức hồi hướng cho bố, đỡ đi phần nào sự thống khổ đang chầu trực trước mắt. Trở về nhà, trong khi những người khác bận bịu lo hậu sự, Tuyết lặng lẽ quỳ trước bàn thờ, nén những giọt nước mắt trực ào ra, chuyên tâm tụng một biến kinh Địa Tạng hồi hướng cho bố được tiêu trừ nghiệp chướng. Việc tang lễ gấp gáp, lu bu, Tuyết phải tiếp khách nên nhờ người cô là em gái bố tụng nốt. Người cô tụng xong, nhìn anh trai đang hấp hối thương cảm nói: – Buông bỏ nhân gian, đi nhẹ nhàng anh nhé. Cũng ngay khoảnh khắc ấy, ông trút hơi thở cuối cùng nhằm lúc 13:09 ngày 7 tháng 2 năm 2023. Ông ra đi với khuôn mặt tím tái. Sau đó, Tuyết vẫn tiếp tục tụng kinh, niệm Phật, phóng sinh hồi hướng cho bố, sớm ngày nào hay ngày đó. Thật nhiệm màu, nhờ sức gia trì của Phật Pháp và tấm lòng của người con hiếu thảo, ngày hôm sau khi ông được đưa vào quan tài, người nhà sờ thấy chân tay ông mềm mại, tướng mạo đẹp đẽ, nét mặt khoan thai như người đang ngủ, da mặt hồng hào hẳn lên, không còn tím tái như khi vừa tắt thở, cũng chẳng còn đen sạm như khi còn sống. Thế nhưng trong lòng Tuyết vẫn lăn tăn về lý do tự vẫn của ông. Chẳng thể nào tự dưng vô duyên vô cớ ông lại kết liễu đời mình như vậy…

Siêu độ

Do đã biết đến trang facebook của anh Quang Tử từ trước, ngày 12 tháng 3 năm 2023, Tuyết nhắn tin nhờ anh chỉ cho cách siêu độ và được anh hướng dẫn nhiều cách thức tạo công đức cùng Nghi thức cầu siêu vong linh đã được rất nhiều người áp dụng đạt lợi ích lớn. Từ đó, Tuyết càng miệt mài hơn, cô tiếp tục tụng kinh, phóng sinh, cúng dường tạo tượng Địa Tạng Bồ Tát, và làm Nghi thức cầu siêu không mệt mỏi. Khoảng hơn 1 tháng sau, bố cô nhập vào một vị sư ở ngôi chùa làng khóc lóc. Vong linh nấc lên từng tiếng nói: – Đau cổ quá. Tôi không muốn chết như thế. Tôi không tự tử mà bị người ta kéo lê đi rồi treo cổ lên. Gia đình làm đàn cầu siêu tôi đều nhận được, hoan hỷ lắm. Nhưng thương vợ con, tôi chẳng nỡ xa đâu… Tuyết ngỡ ngàng khi biết lý do bố mình chết. Nghi vấn của cô quả không sai. Chẳng có lý do gì ông lại đột ngột làm điều dại dột như vậy. Thế nhưng tại sao ông bị những chúng sinh trong cõi vô hình ám hại? Kỳ lạ thật. “Còn điều gì ẩn giấu đằng sau cái chết của bố” – Tuyết tự vấn. Và nhanh chóng Tuyết có được câu trả lời. Không lâu sau, nghe người lớn trong họ kể lại rằng. Đời cụ nhà cô thời xưa làm Chánh Tổng, từng xử tử oan nhiều người. Nên ba đời nhà cô đều có người bị thắt cổ như vậy. Người anh họ của Tuyết cũng đã mất, về báo mộng xin gia đình lập đàn cầu siêu cho những vong hồn bị người cụ xử tử oan ức trong quá khứ. Nhưng bố mẹ anh họ không tin, cho đó chỉ là giấc mơ, nên bố mẹ Tuyết tự mời thầy về lập đàn siêu độ, mà có lẽ chưa ăn thua. Vậy là mọi chuyện ngã ngũ, giải quyết những nghi vấn trong lòng Tuyết bấy lâu. Chính những oan gia trái chủ của cụ cố về báo oán gia đình. Giữa họ và những người bị bắt đi như bố Tuyết thực ra trong tiền kiếp cũng từng có ân oán với nhau. Nhân duyên chằng chịt khiến cho sự việc diễn ra như vậy. Nhân quả báo ứng là có thật, dù đầu thai chuyển kiếp cũng không tránh được. Riêng về phần cụ cố, sau khi chết chắc chắn cũng phải chịu quả báo vì những sai lầm của mình.

Siêu thoát

Ngày tháng trôi quá, Tuyết vẫn kiên trì làm công đức, cầu siêu vong linh cha. Một hôm, vào lúc 5 giờ sáng, mẹ Tuyết đã thức dậy từ lâu, nhìn ra ngoài không trung thấy xuất hiện một luồng ánh sáng đẹp rực rỡ, lơ lửng trên bầu trời, tỏa ánh hào quang ra nhiều phía. Trong lòng bà chợt nghĩ đó là chồng mình, bà nói: – Anh về đó phải không? Nếu đúng là anh thì anh lên cao cho em xem. Mẹ Tuyết dứt lời, luồng ánh sáng ấy vụt lên. Bà nói tiếp: – Nếu đúng là anh thì anh xuống thấp cho em xem. Và thế là ánh sáng lại đi xuống. Bà tuy nhớ chồng, nhưng thấy hiện tượng như vậy trong lòng cũng được an ủi phần nào. Đêm ngày 22 tháng 5 năm 2023, mẹ Tuyết lại có một giấc mơ, bà thấy mình lạc vào một bầu không gian tuyệt mỹ với ánh sáng lung linh màu nhiệm. Chưa kịp biết mình đang ở chốn nào, bà thấy bóng dáng một người đàn ông từ từ xuất hiện cùng một bông hoa sen vô cùng to đẹp và rực rỡ. Bà vỡ òa khi nhận ra đó chính là chồng mình. Nét mặt ông rạng ngời, tỏa sáng, khoan thai, trẻ hơn rất nhiều so với ngày còn sống. Ông nhìn bà, khẽ nở một nụ cười từ bi khiến bà rất hoan hỷ. Và không chỉ có mình mẹ Tuyết mơ thấy. Cách đó mấy hôm. bác của Tuyết (là anh ruột của bố) hớt hơ hớt hải sang nhà, chưa kịp uống miếng nước trà, bác đã hồ hởi kể: – Bác mừng quá. Thế là bố mày siêu thoát rồi. – Sao bác biết? Bác kể đi ạ. – Bác nằm mơ thấy bố cháu nét mặt tươi cười hoan hỷ lắm, đến chào bác, chào cả nhà và bảo “Em đi đây”. Bác cũng quên chẳng hỏi là đi đâu, thế rồi bố mày cười rồi lui xa dần. Nghe bác kể, ánh mắt Tuyết sáng lên lấp lánh, trong lòng cô phấp phới niềm vui. Bố cô đã không còn luyến ái gia đình vợ con, không còn đau khổ, tức tối trước cái chết đột ngột của bản thân. Ông đã xả bỏ để siêu sinh về một cảnh giới tốt đẹp an lành hơn, tất cả là nhờ những công đức Tuyết ngày đêm miệt mài làm hồi hướng cho ông. Đời là biển khổ, ấy nhưng không phải qua đời thì sẽ qua được biển khổ. Sống ở trên đời đúng là khổ trăm ngàn thứ, xong khi chết đi rồi cũng vẫn sẽ có những nỗi khổ khác. Cái khổ nối tiếp nhau bủa vây chúng ta từ kiếp này sang kiếp khác. Vì thương chúng sinh, Đức Phật đã ra đời, ban cho ánh sáng chân lý soi rọi sự u mê tăm tối của thế gian. Chỉ cần chúng ta chịu thực hành theo lời Phật, mọi khổ đau sẽ dần tan biến, nhường chỗ cho sự an vui tịch tịnh vĩnh hằng, không chỉ cho một mình ta, mà còn cho cả những người thân yêu chúng ta nữa. (Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Nguyễn Thị Tuyết)

NHỮNG ẢO TƯỞNG THƯỜNG GẶP Ở PHẬT TỬ – Bài 3 – GIẢ ĐỊNH KHÔNG THỰC

Một thí chủ có chút quan tâm đến Phật giáo đã lặn lội đường xa đến đặt câu hỏi với một thiền sư:
– Nếu tất cả mọi người trên thế giới đều là những người tu hành, xuất gia như ông thì nhân loại có thể tiếp tục được không?
Thiền sư dường như không nghe thấy câu hỏi này, và hỏi một cách bình tĩnh và quan tâm:
– Cô năm nay bao nhiêu tuổi và đang làm ở ngành nào ?
Nữ thí chủ:
– Dạ, 37 tuổi, tôi làm bác sĩ.
Thiền sư:
– Năm xưa hẳn cô đã thi đậu đại học và tốt nghiệp ?
Nữ thí chủ:
– Vâng. Đúng vậy, năm đó tôi thi vào trường Y, lại là trường tốt nhất cả nước. Sau 5 năm miệt mài học tập, tôi đã tốt nghiệp loại ưu.
Thiền sư:
– Vì sao cô không chọn các trường khác để thi vào ?
Nữ thí chủ:
– Tôi thích làm bác sĩ, và do tôi có thực lực nên chọn thi vào trường đại học tốt nhất, các trường đại học khác đều không thú vị.
Thiền sư:
– Nếu mọi người đều nghĩ như cô, làm như cô, không phải tất cả các trường đại học khác đã đóng cửa sao? Rộng ra xã hội, ai cũng đậu đại học tốt nhất, ra làm bác sĩ cả, liệu trên đời có ai chịu làm nông dân, làm công nhân…? Chẳng phải như thế sẽ không còn lương thực, chẳng có đồ đạc dùng, nhân loại sẽ chết đói cả sao ?
Nữ thí chủ nín lặng, suy nghĩ hồi lâu không biết trả lời như thế nào.
Thiền sư:
– Rất may, thực tế điều đó không hề xảy ra ? Tại sao vậy ?
Nữ thí chủ:
– Là vì thực tế mỗi người trong hàng tỉ người trên đời đều khác nhau. Khác nhau về hoàn cảnh, về sở thích, về năng lực, về tính cách… nên sẽ chọn lựa đủ các ngành nghề khác nhau chứ không phải chỉ chọn mỗi ngành Y. Và xã hội cũng sẽ điều tiết để buộc mọi người làm các ngành nghề mà xã hội cần, chứ không phải ai muốn ngành nghề nào sẽ được làm đúng ngành nghề đó.
Thiền sư:
– Vậy cô đã có câu trả lời cho câu hỏi của mình chưa ?
Nữ thí chủ:
– Đa tạ ngài, tôi đã hiểu rồi. Hóa ra bấy lâu nay tôi loay hoay với một vấn đề giả định mà chẳng bao giờ xảy ra trong thực tế cả.
_____________
Rất nhiều người trong cuộc sống cũng giống như vị bác sĩ trên, hay loay hoay với những giả định không bao giờ xảy ra cả. Tệ hơn, họ còn dựa vào đó để ra những quyết định thực sự.
Họ vặn hỏi những người tu hành : “Nếu ai cũng ăn chay hết, lại còn phóng sinh liên tục, chẳng phải các loài vật sẽ sinh sôi ngập đầy Trái Đất sao ?” Và dựa vào lí luận đó xúi giục mọi người đừng ăn chay, phóng sinh nữa.
Hoặc họ nói: “Nếu ai cũng tu hành thành Phật, giải thoát hết, thì thế giới này sẽ tuyệt tự, sẽ trống rỗng sao ?” Và dựa vào đó tự mình không tu hành, còn xúi giục mọi người đừng tu hành theo Phật nữa.
Thật hài hước, những giả định đó vốn mãi mãi nằm trong trí tưởng tượng của họ, ngàn xưa đến ngàn sau chưa bao giờ xảy ra cả. Thực tế người tu hành theo Phật pháp chưa bao giờ đông hơn người không tu, người ăn chay, hay phóng sinh chưa bao giờ chiếm đa số cả.
Mà cho dù chuyện đó có xảy ra, thì thể giới cũng sẽ chẳng làm sao cả. Trước khi có loài người, muôn loài vẫn sinh sống tốt, số lượng luôn cân bằng và giới hạn theo quy luật tự nhiên, chẳng hề có chuyện sinh sôi trật hành tinh. Rồi nếu ai cũng tu thành Phật cả thì vũ trụ này đã quá tuyệt vời, tất cả được sống trong Niết Bàn an lạc vĩnh hằng, hơi đâu bận tâm chuyện thế giới này trống rỗng. Xong dù sao chúng đều là giả định, không phải thực tế.
Vậy tại sao chúng ta phải bận tâm về những giả định “không hề xảy ra” đó, tại sao lại căn cứ vào điều “không hề xảy ra” để quyết định làm hay không làm việc gì đó ?
Còn thực tế ? Thực tế thì luật Nhân quả luôn tồn tại ở đó, rất khắt khe và khắc nghiệt, những người buông lung thường xuyên sát sinh, ăn thịt, tạo nghiệp đủ loại, không biết tu tập chút nào sẽ thường xuyên hứng chịu các quả báo khốc liệt. Thực tế là cuộc đời luôn đầy đau khổ, sinh lão bệnh tử nối tiếp nhau hết kiếp này đến kiếp khác, không lo tìm đường Giải Thoát, Giác Ngộ thì khổ sở sẽ là vô tận. Hãy tỉnh thức, nhìn vào thực tế, biết đúng như thật, và trí tuệ sẽ phát sinh.
(Quang Tử)

SÁM  PHẬT  ĐẢN  SINH

SÁM  PHẬT  ĐẢN  SINH

 

Vô biên kiếp kiếp lầm mê

Chúng sinh sáu nẻo ê chề khóc than.

Tử – sinh đau đớn vô vàn

Mấy ai hiểu được, chỉ toàn đắm say

Tham sân si, chất thêm dày,

Vui đâu thoáng chốc, Nghiệp cày nát thân.

Quẩn quanh chuyển kiếp bao lần,

U mê nào biết phải cần thoát ra.

*

Từ trời Đâu Suất bao la

Hộ Minh Bồ Tát xót xa dõi nhìn

Từ bi như biển trong tim

Hướng về sáu nẻo mãi chìm cõi mê.

Nguyện xưa bao kiếp vọng về

Giờ cần viên mãn lời thề độ sinh.

Từ trời Đâu Suất uy linh

Ngài liền hạ thế, chuyển sinh cõi người

Vua cha Tịnh Phạn vui tươi

Đón tin thái tử chào đời nay mai.

Thần dân nô nức trong ngoài

Cầu mong hoàng hậu hoài thai an lành.

*

Tháng tư ngày tám trong xanh

Tỳ Ni ngự uyển, ngoài thành vua cha,

Chư thiên khắp chốn rải hoa

Rồng thần tưới mát, ngân nga nhạc trời

Thái tử rạng rỡ ra đời

Bước sen bảy đóa, muôn nơi chúc mừng

Cờ hoa phấp phới tưng bừng

Ma-gia hoàng hậu rưng rưng lệ trào

Ba hai tướng tốt thanh cao

Tám mươi vẻ đẹp, ai nào sánh ngang ?

*

Trải bao xuân hết, thu tàn

Thái tử nay đã là chàng thanh niên

Thấy đời khốn khổ triền miên

Sinh lão bệnh tử, khắp miền khóc than.

Từ bi thương xót vô vàn

Đêm khuya bỏ lại ngai vàng đi tu.

Sáu năm khổ hạnh cần cù,

Trải qua thiền định hoang vu giữa rừng.

Ma quân kéo đến trừng trừng

Người ngồi tĩnh lặng, chẳng ngưng hành thiền

Sao mai khoảnh khắc lóe lên

Người thành đạo quả, chứng nên Phật Đà

Từ nay có Phật Thích Ca

Tam thiên thế giới mưa hoa nhạc trời,

Mừng vui khôn siết nơi nơi

Phật quang chiếu khắp rạng ngời thế gian

Mở ra chánh pháp vô vàn

Thanh âm Phật thuyết phá tan mê lầm.

Chúng sinh bừng ngộ trong tâm

Nghiệp tiêu khổ hết, muôn lần phước tăng

Gần xa khắp cõi sông Hằng

Nhân thiên quy ngưỡng, siêng năng hành trì

Bao người Phật dạy hết nghi

Chứng Thanh Văn quả, xả ly luân hồi

Hoặc thương những kẻ lăn trôi

Bao người phát nguyện nối ngôi Phật Đà

Độ sinh cứu khắp bao la

Hành Bồ Tát đạo suốt ba tăng kỳ,

Trùng trùng gian khổ xá chi

Sau thành Phật Đạo, cứu nguy sáu đường.

*

Từ ngày có chốn tựa nương

Chúng sinh học Đạo tỏ tường Pháp thiêng

Lại đem thắp sáng mọi miền

Mấy ngàn năm Đạo hoằng truyền thế gian

Chở che cứu khổ vô vàn

Nhờ ân Phật dạy muôn đàng sướng vui.

*

Chúng con mắt lệ bùi ngùi

Sinh thời mạt pháp, Người lui Niết Bàn

Chẳng được chiêm ngưỡng Phật quang,

Nhưng còn Kinh Luật mênh mang nhiệm màu

Giữ gìn, lan tỏa cho nhau

Y kinh hành đạo, mai sau sẽ thành.

Kiếp người một thoáng mong manh

Nguyện lòng theo Phật, tu nhanh không tàn

Nén hương khói tỏa trăng ngàn

Tâm tâm nhớ Phật vô vàn thánh ân.

*

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật !

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật !

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật !

*

( Vài dòng thơ mọn thay hoa

Quang Tử kính bút, thiết tha dâng Người)

HÓA GIẢI DUYÊN ÂM, NHÀ CỬA ÊM ẤM

Biểu hiện duyên âm

Lấy được người chồng biết quan tâm, chăm lo cho vợ là ao ước của khối chị em. Ấy vậy mà Như thì ngược lại, chồng cô rất tình cảm, luôn quan tâm đến vợ, còn Như thì lại cảm thấy khó chịu với điều này, nhất là mấy tháng gần đây, thậm chí cô chủ động tìm cách xa lánh anh. Tình cảm vì thế dần dà nguội nhạt, và từ lâu, cô tách ra ngủ riêng, vợ chồng chung một nhà mà luôn có một bức tường xa cách. Cô tên đầy đủ là Trần Quế Như, hiện sống tại khu Vinhomes trên đường Nguyễn Xiển, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài những khi ở nhà thì Như dành hầu hết thời gian tại trường mầm non mà cô và vài người bạn cùng nhau mở tại Thủ Đức. Thật tình, thi thoảng Như thấy mình vô lý, nhưng rồi tâm tư lại tự biện minh cho bản thân bằng đủ thứ lý do. Đã vậy, chả hiểu sao gần ba tháng nay, bụng Như cũng phình to lên một cách bất thường. Cho đến hôm 15 âm lịch, đang nửa tỉnh nửa mơ, cô bất giác nhìn thấy cái bóng mờ của một người đàn ông mặc đồ màu trắng đi vào phòng ngủ. Anh ta tiến lại chỗ Như khiến cô hết hồn, mặt mày tái mét như tàu lá chuối. Chưa kịp phản ứng gì, cái bóng mờ đã đè lên người cô, giữ chân giữ tay, cưỡng bức đòi quan hệ. Như hốt hoảng, vùng lên giẫy giụa, dùng hết sức lực của hai chân đạp cái bóng ra khỏi người. Sau lần đó, cô giật mình nhận ra mình bị duyên âm bám theo quấy phá, gây ảnh hưởng tới cuộc sống hôn nhân. Dần nhận thấy sự việc không đơn giản, cô tự nhủ: “Phải giải quyết vấn đề này ngay, để vậy không ổn.”

Sai lầm

Như hỏi han khắp nơi rồi tìm đến các thầy cúng, thầy bùa, cô đồng… hy vọng cắt được duyên âm. Và rồi họ bất chấp dùng đủ mọi cách trục vong ra khỏi người cô, từ đánh đuổi cho tới dán bùa trấn yểm. Như không biết được rằng, trấn yểm vốn là gây thêm oán thù với vong linh, dù có thành công đi nữa cũng là biện pháp lợi bất cập hại. Có lần, ở điện thờ chỗ cô đồng, Như đang đứng bỗng choáng váng ngồi xụp xuống, vẻ mặt biến sắc, đôi mắt hốt nhiên đờ đẫn, khuôn mặt bắt đầu nhăn nhó và khóc lóc, rồi gào thét càng lúc càng thảm thiết hơn. Chẳng ai hiểu vì sao Như khóc, mà đến chính cô cũng không hiểu nổi hành động kì quặc của mình. Sau Như mới biết hóa ra cô bị vong nhập, cô đồng đánh đuổi suốt 4 tiếng đồng hồ vong mới chịu xuất ra. Ấy vậy mà, tốn cả núi tiền nhưng tình hình không hề lay chuyển. Vong ra rồi lại vào, còn vợ chồng cô vẫn lục đục như trước. Do sự tác động âm thầm của vong linh, cuộc hôn nhân của vợ chồng Như đã đứng trên bờ vực thẳm. Cứ đà này gia đình cô sẽ tan nát mất. Vốn có chút nhân duyên với Phật Pháp, hay đi chùa thắp hương nhưng cô cũng chưa hiểu gì nhiều về giáo lý. Cho tới khi biết đến trang facebook Quang Tử, đọc các bài viết Phật Pháp về nhiều nội dung khác nhau trên đây, cô mới nhận ra mình đang hiểu sai vấn đề. Khi bị vong linh đi theo gây cản trở cuộc sống, không phải cứ tìm thầy pháp trục xuất họ ra khỏi người là xong. Họ không phải vô duyên vô cớ mà đến với mình, mà luôn có mối nhân duyên ẩn giấu nào đó từ nhiều kiếp luân hồi. Đối với các vong duyên âm, nhiều khi họ chính là vợ chồng, người yêu của mình từ những kiếp trước, vì giờ mình đã đầu thai thành người, còn họ thì vẫn là vong hồn, âm dương cách trở mà thành ra hiện tượng duyên âm. Vậy nên muốn hóa giải phải có phương pháp hợp tình hợp lý. Nếu không hóa giải đúng cách, cứ bỏ chút tiền nhờ thầy bùa thầy pháp trấn yểm vong, không những không giải quyết tận gốc rễ vấn đề, mà sẽ khiến tình hình thêm phức tạp, chưa kể dùng đến bùa sẽ kéo thêm âm binh về nhà mình, nguy hiểm khó lường.

Hóa giải duyên âm đúng cách

Lúc này Như mới hiểu ra vấn đề không đơn giản như trước mình tưởng, cô quyết định nhắn tin nhờ anh Quang Tử hướng dẫn cách hóa giải duyên âm sao cho thấu tình đạt lý, đúng chánh Pháp để đôi bên đều lợi lạc. Cô được anh gửi cho NGHI THỨC CẦU SIÊU DUYÊN ÂM (Link của nghi thức ở ngay bên dưới, bạn có thể bấm vào tham khảo) NGHI THỨC CẦU SIÊU DUYÊN ÂM Trong đó có hướng dẫn chi tiết cách thức để tự mình làm tại nhà, cứ theo đó lấy tâm chân thành mà cầu siêu cho họ. Như về tháo hết bùa ngải đã dán từ trước và thực hiện theo nghi thức cầu siêu này. Mỗi lần cầu siêu, Như chuẩn bị một ít đồ chay, nước, trái cây… dọn lên một chiếc bàn nhỏ, thành tâm tụng niệm, khai thị giúp vong linh tự nguyện buông bỏ ái luyến và siêu thoát về cảnh giới an lành. Trong lần đầu tiên cầu siêu duyên âm, Như cảm nhận có ai đó động vào lưng mình 3 lần, khiến cả tấm lưng đau buốt ê ẩm tới hết ngày hôm sau. Bất chấp mệt mỏi, đau đớn, Như vẫn kiên trì thực hiện cầu siêu hàng ngày. Đến buổi thứ ba, sau khi kết thúc lễ, Như chợt nhìn xuống bụng, và ngạc nhiên: “Ô. Cái bụng phình to suốt ba tháng nay xẹp hẳn xuống rồi. Hay thật.” Thấy có chút kết quả, cô càng quyết tâm hơn. Sau bảy lần cầu siêu như vậy, hiện tại cô không còn uể oải, chán nản như trước, mà khỏe khoắn vui vẻ hẳn lên. Trong giấc ngủ, Như không còn mộng mị hay nhìn thấy cái bóng nào nữa. Đặc biệt, cô yêu thương chồng hơn, không còn xa lánh anh, hôn nhân từ đó được hàn gắn trở lại. Nhờ những buổi cầu siêu như vậy, vong linh cũng được kết duyên lành với Phật Pháp, tự nguyện buông bỏ, vui vẻ siêu thoát, trả lại cho Như một cuộc sống bình yên. Cả người sống lẫn vong linh đều được tăng trưởng công đức lành, tiến tu giải thoát, vẹn cả đôi đường. Phật Pháp là minh triết trong vạn pháp, thấu suốt chân lý vũ trụ, thị hiện ở thế gian dẫn dắt chúng sinh thoát khỏi khổ đau một cách bình đẳng, không vì lợi ích cho riêng một chúng sinh này mà tổn hại chúng sinh khác. Trải qua sự việc này, Như được khai sáng và thấm nhuần sự từ bi và trí tuệ của Phật Pháp, nên ngày càng tăng trưởng tín tâm, dốc lòng học hỏi và hành trì lời Phật dạy. (Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Trần Quế Như)

NHỮNG ẢO TƯỞNG THƯỜNG GẶP Ở PHẬT TỬ – BÀI 1- ĐƠN GIẢN HÓA

   

Đơn giản hóa những điều không hề đơn giản

  Vũ trụ này rất nhiều quy luật chằng chịt, sống giữa đời mà không chịu tìm hiểu các quy luật để biết việc gì cần làm, việc gì cần tránh, nói thẳng là lười tư duy cho não nó khỏe, thì không thể tránh khỏi việc sẽ bị các quy luật vũ trụ mạnh như vũ bão “cán qua”, nhẹ thì bị thương, nặng thì bị nghiền nát. Lúc đó gào khóc kêu than cũng đã muộn. Đạo Phật thường giảng về quy luật Nhân quả và cách thức giữ giới để tránh được những quả báo khốc liệt. Đạo Phật cũng dạy về quy luật Vô Thường để con người ta học cách buông bỏ, không khổ sở vì các bám chấp. Và Đạo Phật còn dạy nhiều quy luật quan trọng khác nữa, liên quan chặt chẽ, thiết thực tới cuộc sống vui buồn sướng khổ của con người. Nhưng được mấy ai chịu dày công tìm hiểu và ngẫm nghĩ, rồi áp dụng thực hành vào cuộc sống. Đa số mọi người thường tìm một cách đơn giản để hiểu được Đạo, kiểu như khi cần làm gì đó thì hỏi người này người kia, nghe các loại “người ta nói”, hoặc giả khá hơn thì chọn nghe một số vị giảng sư nào đó thấy mến mộ mà nghe. Còn đối với việc học giáo lý Phật Pháp một cách nghiêm túc, tìm tài liệu có giá trị, đọc nhiều kinh điển của Phật thuyết, đa số thường viện các lí do như bận rộn việc gia đình, bận việc mưu sinh… để không tìm hiểu. Lấy lí do nhức đầu, chán, buồn ngủ … để không phải tư duy, nghiền ngẫm giáo lý. Lấy lí do truyền thống, sức ép gia đình, sức ép đám đông xã hội… để né tránh áp dụng thực hành lời Phật dạy. Rồi chính vì không tìm hiểu – tư duy – áp dụng thực hành (không đủ trình tự Văn – Tư – Tu ) nên không có được nền tảng hiểu biết một cách rõ ràng về đạo lý, về các Quy luật, nên chắc chắn sẽ phạm sai lầm, cuộc sống sẽ gặp phải các vấn đề, nạn lớn, nạn nhỏ, họa đơn, họa kép. Lúc đấy mới đi tìm hiểu thì cũng chỉ là tìm cách khắc phục hậu quả mà thôi, mà hậu quả cũng chia nhiều loại, có cái khắc phục được ngay, có cái… chỉ có chờ đầu thai kiếp khác mới hết, và thân mình phải hứng chịu nhiều khổ sở đáng tiếc. Đến lúc đấy thì mới vơ với hỏi hết người này đến người kia tìm cách hóa giải, toàn là “nghe người ta nói” mà chẳng biết phân biệt thật giả, cao thấp, chẳng biết cái người nói ấy có đủ trình độ để nói đúng không ? có đủ độ tín nhiệm để nghe theo không hay sẽ rơi vào bẫy lừa ? Lắm người u mê đến mức chỉ là nghe “mấy bà hàng xóm” hay ngồi lê đôi mách nói rồi cũng lật đật làm theo, trong khi những người đó nào có chuyên môn gì để hướng dẫn được người khác. Rồi nào thì hỏi thầy bói, hỏi cô đồng, chẳng phân biệt được Phật Pháp chân chính với những tín ngưỡng dân gian khác biệt nhau xa đến mức nào. Một số người thì tự tin rằng “Tôi thường xin Phật gia hộ cho tôi đi đúng chánh pháp, thì chắc chắn tôi sẽ gặp được chân sư, hiểu đúng giáo lý”. Tin buồn cho những ai tưởng như vậy, đời không như bạn tưởng đâu ! Hiểu đúng chánh pháp là một thứ vô cùng quý giá, và mọi thứ quý giá đều phải đánh đổi bởi một lượng công sức bỏ ra tương xứng, chứ không phải xin là có. Đức Phật chưa từng hứa khả trong kinh điển nào là Ngài sẽ ban cho tất cả những ai khấn xin “Chánh pháp” đều sẽ có được “Chánh pháp” cả, bạn hãy nhớ điều đó. Và ngay cả với những người may mắn gặp được Chánh pháp, nhưng vì thói quen tư duy lỏng lẻo, ít chịu suy ngẫm thấu đáo, thích hiểu một cách “đơn giản hóa”, thì Chánh pháp đi qua “lăng kính tư duy” của người như vậy cũng sẽ biến thành tà pháp. Người đó lấy đúng giáo lý Phật dạy trong kinh ra, nhưng giáo lý ấy cũng sẽ bị bóp méo, bẻ cong, giải thích thành một lối hiểu sai lầm, từ đó áp dụng một cách sai lầm, gây ra các loại hậu quả.   Rồi một số người thì thích đi tìm các bậc cao tăng, minh sư để mong học được các pháp bí truyền. Bạn cần biết việc này cũng rất khó, vì thời nay thật giả lẫn lộn, làm sao bạn biết được ai là minh sư ?  Rồi thầy trò cần phải có duyên mới có thể truyền dạy, đã là một bậc minh sư thì các Ngài đều hiểu rõ về chữ Duyên, về Căn cơ khác biệt nên đều cẩn trọng, không phải gặp ai cũng vơ với nhận đồ đệ, rồi thao thao bất tuyệt giảng Đạo đâu.   Cho dù bạn nhờ duyên phước gặp được bậc Thiện tri thức nói chuẩn đạo lý, thì vị đó cũng chỉ hướng dẫn rõ ràng, hiệu quả cho những người có tâm cầu đạo mạnh mẽ, sẵn sàng đầu tư thời gian nhiều năm, sẵn sàng chịu khó chịu khổ học Đạo, hoặc đã có được nền tảng giáo lý vững vàng. Còn với những người quá sơ cơ, thì cùng lắm chỉ hướng dẫn được vài điều sơ đẳng mà thôi, không phải giáo lý trọng yếu, có năng lực vi diệu của Phật Pháp. Vì những giáo lý đó luôn luôn phải được dạy và học một cách bài bản trong nhiều năm, nhiều kiếp, không bao giờ hỏi một hai câu mà truyền dạy được. Tìm được một bậc Minh sư đã khó, còn có thể trở thành một đệ tử thật sự của bậc Minh sư đó còn khó hơn ngàn lần. “Gió tầng nào gặp mây tầng đó”. Nếu bản thân không có chút nỗ lực phấn đấu để trở thành một “người xứng đáng” trước, làm sao có thể đón nhận được sự dạy bảo chân truyền đầy quý giá từ các bậc Minh sư ? Rốt cuộc làm sao có thể thông suốt được đạo lý, thấu hiểu được các Quy luật phức tạp của thế giới này ?  

CÁCH KHẮC PHỤC

Thay vì cố “đơn giản hóa” những quy luật, những giáo lý không hề đơn giản, hoặc lệ thuộc vào việc nghe “người ta nói” – bất kể người ta đó là một ông thầy nổi tiếng, hay chỉ là người vô danh, sau đó chọn TIN hay KHÔNG TIN theo cảm xúc, theo lối mòn quan điểm của mình xưa nay. Hãy dành thời gian chủ động tìm hiểu, suy xét lại để có được một TƯ DUY ĐỘC LẬP, đặt ra các câu hỏi phản biện, vẽ ra các bảng so sánh, tìm thêm các bằng chứng, dữ liệu cùng chủ đề, đọc nhiều những câu chuyện có thật trong Phật Pháp, đọc nhiều kinh điển Phật dạy… để có được cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn, chân thực hơn. Sau đó tổng kết các ý lại thành một hệ thống, tham khảo, đối chiếu với lời dạy của các vị thiện tri thức, bạn sẽ có được một vốn hiểu biết của riêng mình, thấy rõ đúng ở đâu, sai ở đâu một cách cụ thể. Từ đó từng bước áp dụng vào cuộc sống, biến các lý thuyết thành sự thực hành. Trải qua bề dày thực hành rồi, bạn sẽ có một cái nhìn khác xa so với người chỉ biết lý thuyết suông. Những kết luận bạn rút ra được từ thực tế hành trì sẽ hợp lý hơn, linh hoạt hơn, sâu sắc hơn nhiều lần mà sách vở không tài nào miêu tả rõ được. Và đó là khởi đầu cho một trí tuệ sáng suốt. Tuy nhiên, cũng đừng bám chấp lấy kết luận đó, quá trình tiếp cận sự thật, hiểu được chân lý cần trải qua rất nhiều lần tổng kết rút ra kết luận, rồi lại phá bỏ chính cái kết luận mình đã rút ra, khi tìm thấy những bằng chứng mới nằm ngoài cái biết hiện tại. Khi ấy ta lại phải phân tích lại, lập luận, xây dựng lại một hệ thống kiến giải về các quy luật mới chính xác hơn. Điều đó cũng giống như leo lên trên một cái thang dẫn lên cao, người ta sẽ không ngừng lặp đi lặp lại động tác: một tay thì với tới các nấc thang trên cao, đồng thời tay kia phải buông ra khỏi nấc thang phía dưới mà mình đang nắm. Lặp đi lặp lại nhiều lần quá trình xây- phá những kiến giải về các quy luật, kiến giải của bạn sẽ trở nên uyên bác, chính xác và toàn diện hơn, đến gần được với sự thật hơn. Khi đó, trí tuệ, hiểu biết chân chính mới thực sự là của bạn, không lệ thuộc vào ai, tự mình vận dụng được các quy luật vào cuộc sống, biết phải làm gì là đúng đắn trong từng trường hợp phức tạp của cuộc đời. (Quang Tử)

KHỎI BỆNH TÂM LÝ NHỜ SIÊU ĐỘ OAN GIA

  Đêm xuống, Mây vùi mình trên giường, cúi gầm đầu úp vào gối, hai bàn tay vòng ra sau ôm lấy cổ, cô thu chân lại khép lên sát bụng. Trông Mây như một con rùa đang ẩn mình trốn trong chiếc mai. Cô nghĩ quẩn: “Tại sao con người mình lại như thế? Thà chết còn hơn, mình không muốn sống nữa.” Trở về nhà sau giờ tan sở, một ngày làm việc mệt mỏi áp lực cuối cùng đã kết thúc. Ở đây trên chiếc giường này, chỉ còn lại Mây với màn đêm tĩnh mịch. Vậy mà trong lòng cô vẫn ngập ngụa những lo lắng, căng thẳng, bất an. Chúng đua nhau khủng bố tinh thần cô, một phần vì áp lực công việc, một phần vì những lý do vẩn vơ không rõ ràng. Tên đầy đủ của cô là Lê Thị Mây, sinh năm 1991, sống ở phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang. Khi còn nhỏ, Mây khá nhút nhát. Lớn hơn chút nữa cô thường rụt rè trong giao tiếp, luôn cảm thấy hồi hộp trước đám đông. Đến khi đi làm, va vấp nhiều hơn, Mây cũng không thay đổi được mấy, ngược lại ngày càng trở nên tự ti, khép mình, không muốn tiếp xúc với ai. Chính bản thân cô cũng không hiểu tại sao mình lại có những cảm xúc tiêu cực như vậy trong suốt một khoảng thời gian dài. Bất cứ một việc nhỏ nào xảy ra không như ý muốn đều khiến Mây căng thẳng, thậm chí sợ hãi. Chẳng những thế, đầu óc cô kém nhanh nhạy. Trong công việc, Mây thường mất nhiều thời gian mới hiểu ra được những vấn đề rất đơn giản và giải quyết nó. Chính áp lực công việc khiến sự bất an sợ hãi trong con người Mây lên tới đỉnh điểm. Đã nhiều lúc cô chỉ muốn chết. Chết quách đi để chấm dứt sự khủng hoảng tâm lý không rõ căn nguyên này. Đối với Mây, cuộc đời cô bị bao trùm bởi một màn đêm tăm tối không có lối ra. Cô bất lực với chính bản thân mình. Mẹ Mây nhìn bộ dạng con gái, không khỏi sốt ruột, bà khẽ ngồi xuống mép giường, nhẹ nhàng nói: – Hay con thử tu học theo Phật Pháp, có khi lại giúp tinh thần an ổn hơn. Chị gái Mây thấy vậy, quay sang đồng tình: – Phải đấy, em cứ thử xem sao. Mây đáp lời: – Con không tin đâu. Phật Pháp làm sao có thể giúp được con. Thấy Mây nói vậy, mẹ và chị gái cũng đành chịu, không khuyên bảo được. Tiện thể, mẹ hỏi cô: – Dạo này bàn chân con còn lạnh nhiều không? – Đông hay hè thì nó vẫn cứ lạnh như vậy đó mẹ ạ, chẳng thuyên giảm chút nào. Con toàn phải đi tất cho khỏi lạnh – Mây trả lời. Thế rồi, cô tình cờ quen một chị Phật tử, vốn là bạn của chị gái, thường ngày rất tinh tấn tu học. Khi biết tình trạng của Mây như vậy, cũng có lời khuyên cô nên đọc kinh Địa Tạng. Tưởng rằng Mây sẽ từ chối. Ấy vậy mà lần này cô tin tưởng chị Phật tử ấy, về nhà tìm đọc ngay.  Sau đó còn tự tìm hiểu thêm về những câu chuyện nhân quả trên các trang mạng, và rất nhiều bài viết về Phật Pháp trên trang thuvienquangtu.com. Đọc nhiều, Mây nhận ra vấn đề, biết rằng chết không phải là hết, rằng nhiều đời nhiều kiếp mình đã tạo bao nghiệp ác không đếm xuể, gây thù chuốc oán với rất nhiều chúng sinh, nên chiêu cảm quả báo đau khổ trong hiện tại. Giờ cần phải dừng tay tạo nghiệp và làm công đức hồi hướng cho các chư vị oan gia trái chủ để gỡ bỏ oán kết, mới mong mọi thứ có thể tốt đẹp lên. Kể từ đó, Mây chính thức bước chân vào tu tập. Cô đọc kinh Địa Tạng, niệm Phật, phóng sinh và ngày nào cũng hồi hướng công đức làm được cho các chư vị oan gia trái chủ. Cứ như thế miệt mài suốt 6 tháng trời, thì có một giấc mơ kì lạ xảy ra. Trong giấc mơ, Mây thấy trên hai chân của mình có rất nhiều con tôm và ốc đeo bám. Cô liền lấy tay bóc chúng ra khỏi chân, từng con từng con một. Đến khi tỉnh dậy, Mây chợt nhận ra chân mình không còn bị lạnh đến nỗi phải đi tất như ngày xưa nữa. Lúc này cô mới biết vong linh của những con tôm, con ốc này là oan gia trái chủ đến đòi nợ cô, suốt bao năm qua làm chân cô bị lạnh. Nhờ hồi hướng công đức bấy lâu, nay mới có thể hóa giải. Bệnh tình nhờ vậy mà tan biến. Trong suốt 6 tháng đó, tâm lý Mây đã dần ổn định, mạnh mẽ hơn trước, không còn lo sợ linh tinh, chủ động giao tiếp được với mọi người. Trước đám đông cô không còn tự ti, mà thoải mái hơn. Trí óc cũng nhanh nhẹn hơn, trước kia mất cả ngày mới hiểu ra được vấn đề, thì nay chỉ 5-10 phút cô đã hiểu và giải quyết công việc nhanh chóng. Mây thốt lên với mẹ: – Thật nhiệm màu mẹ ạ. Rồi ánh mắt cô dịu xuống, trầm ngâm nói: – Con đã sai rồi. Trước kia con chẳng tin Phật Pháp. Thế mà nay chính Phật Pháp đã cứu con thoát khỏi những năm tháng khủng hoảng. – Thật ra cũng nhờ sự cố gắng và quyết tâm tu tập của con. Nếu con không quyết định học và thực hành theo Phật Pháp, thì Phật Pháp có nhiệm màu thật, cũng chẳng thể nào giúp con được. Con đường thì có sẵn, chỉ là con có chịu bước đi không thôi. – Mẹ cô ôn tồn đáp. – Đúng là có thực hành thì mới tin được mẹ ạ. Vậy mà trước kia con chẳng chịu nghe lời mẹ và chị. Từ đó trở đi, niềm tin Phật Pháp trong cô được ươm mầm nảy nở. Dù bệnh đã khỏi, tâm lý đã ổn định như người bình thường, Mây vẫn tiếp tục tu học để đạt được nhiều lợi ích lớn lao hơn nữa mà Phật Pháp có thể mang lại cho những ai quyết tâm thực hành. Vậy là mỗi khi đêm về, một ngày kết thúc, Mây đã có thể ngủ một giấc thoải mái, bình yên, không còn sợ hãi hay lo lắng những điều vụn vặt của đời thường, để dành sức nương theo ánh sáng Phật Pháp đưa đường dẫn lối cho Mây sống đúng đắn và ý nghĩa hơn, cho kiếp này và cả những kiếp sau. (Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Lê Thị Mây)

NHỜ CHÚ ĐẠI BI VÀ SÁM HỐI, KHỎI BỆNH THẦN TỐC

Mai hít một hơi rồi thở ra từ từ, chậm rãi và nhẹ nhàng hết sức có thể, nhưng vẫn không tránh được cơn đau dữ dội như ngàn mũi tên đâm thẳng vào lồng ngực. Mỗi lần thở là một lần bị tra tấn, cứ như vậy liên tục không ngừng. Vì đương nhiên, cô không thể nào ngừng thở được. Chẳng hiểu căn bệnh quái quỷ nào hành hạ Mai thống khổ đến thế, thở đã không xong, chân cũng chẳng bước nổi. Mỗi khi muốn đi lại, Mai dùng hai tay vịn vách tường làm điểm tựa, hai chân lê lết dưới nền đất. Vừa bước đi Mai vừa rên rỉ, rồi ngồi thụp xuống sàn nhà, tự nói một mình: “Đau quá, đau quá! Thế này chết quách đi cho xong.” Cô không thể ăn uống và liên tục thức trắng đêm vì đau. Điều đó càng khiến cơ thể thêm kiệt sức. Không chịu đựng được nữa, Mai quyết định tìm tới bác sĩ. Sau quá trình thăm khám và xét nghiệm, bác sĩ gửi cho cô tờ phiếu thông báo kết quả như sau: “Bệnh nhân: Võ Mai, năm sinh: 1978, cư trú: tiểu bang Melbourne – Úc, mắc chứng đau dây thần kinh neuropathic pain do virus xâm nhập.” Bác sĩ không quên gửi kèm cho Mai một toa thuốc, tuy nhiên sau khi uống thuốc, bệnh tình vẫn không hề có chuyển biến gì. Là một người gốc Việt định cư tại Úc, nơi đây dân cư thưa thớt, Phật Giáo không có phổ biến, ít chùa chiền như ở Việt Nam, nên cơ duyên biết đến Phật Pháp dễ dàng nhất là qua internet. Một hôm nọ Mai tình cờ biết đến những bài viết Phật Pháp trên trang web thuvienquangtu.com, cô đọc mải miết say mê từ bài này sang bài khác, mơ màng nhận ra bệnh tật chính là kết quả của nghiệp ác mình đã tạo trong quá khứ. Trong đó nêu ra rất nhiều câu chuyện người thật việc thật khỏi bệnh nhờ tu tập như thế nào. Thực tình Mai chưa từng nghĩ mình sẽ chữa bệnh bằng Phật Pháp. Cô cho rằng đó là điều rất khó tin và có phần mê tín. Nhưng có bệnh thì vái tứ phương, Mai thầm nghĩ: “Đau muốn chết rồi. Có bệnh thì cứ thử, nếu không khỏi cũng chẳng mất gì.” Vậy là Mai lê từng bước chân, tới trước ban thờ Phật, cầm trên tay tờ nghi thức sám hối trích trong kinh Kim Quang Minh kết hợp chú Đại Bi, mà cô tìm thấy trên thuvienquangtu.com rồi in ra cho dễ đọc. Vừa đọc từng chữ vừa toát mồ hôi vì quá đau. Cô quỳ, ngồi, rồi lăn lê, quằn quại trên sàn nhà, khi thì tựa vào vách tường tạm nghỉ cho đỡ đau, xong lại đọc tiếp. Mai cứ thế đọc, tuy hình thức chưa được trang nghiêm, nhưng tâm rất chân thành, thậm chí có những đoạn cảm thấy bất ngờ, xúc động. Từng lời văn sám hối như tiếng sấm rền dội vào tâm can làm Mai thức tỉnh. Chính giây phút này cô mới nhận ra mình chẳng lương thiện như mình vẫn ảo tưởng. Hóa ra bên cạnh sự tử tế, cô cũng đã tạo ra rất nhiều điều vô cùng sai trái. Cô vừa đọc vừa rùng mình hồi tưởng lại những lần tạo nghiệp, xấu hổ ăn năn day dứt trong lòng, mong muốn sửa đổi. Sám hối xong, Mai tụng chú Đại Bi. Ngay khi bắt đầu tụng chú, một cảm giác lâng lâng, nhẹ nhàng khó tả lan tràn khắp cơ thể, cơn đau dường như được lắng dịu bớt phần nào. Tuy có giảm đau đôi chút, nhưng vẫn chưa đáng kể là bao. Sau đó, Mai tiếp tục niệm danh hiệu Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát, mong cho căn bệnh quái gở này tan biến đi. Cơ thể đau đớn khiến Mai không thể duy trì lâu, cô vật xuống giường trong khi miệng vẫn lẩm nhẩm: “Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát! Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát! …” Đang nửa tỉnh nửa mơ, cô giật mình thảng thốt khi thấy một làn nước lạnh tạt thẳng vào người. Mai nhanh chóng ngồi bật dậy, phủi áo và nói: “Ôi trời! Ai tát nước vào người lạnh quá đi.” Thế nhưng nhìn lại thì quần áo vẫn khô rang, không có dấu hiệu của tí nước nào. Trời Melbourne, Úc nửa cuối năm 2021 vẫn đang là mùa đông, thời tiết khá lạnh, khiến cô buốt hết người. Mai xuýt xoa và không ngừng thắc mắc không biết làn nước lúc nãy cô cảm thấy là từ đâu đến. Nhưng khoan đã, cô ngạc nhiên thốt lên: “Ôi sao mình có thể thở được bình thường rồi kìa.” Và quan trọng khi thở không còn bị đau nữa. Mai cố tình thử hít một hơi thật sâu vào lồng ngực kiểm tra một lần nữa. “Đúng là không còn đau đớn một chút nào.” – Mai reo lên sung sướng. Cô ra khỏi giường đi đi lại lại một hồi dễ dàng như người chưa từng bị bệnh. Thật kì diệu. Mai không còn thắc mắc nữa. Chỉ có thể nhờ sự nhiệm màu của chú Đại Bi, sự gia trì của Quán Thế Âm Bồ Tát, sự ăn năn sám hối, cố gắng tu tập của chính bản thân Mai, bệnh tật mới có thể tan biến như chưa hề xuất hiện như vậy. Khi đọc những câu chuyện có thật của rất nhiều người khỏi bệnh nhờ Phật Pháp, Mai còn nghi ngờ, thậm chí cho rằng có phần mê tín. Nhưng sau khi chính bản thân được trải nghiệm, tín tâm của Mai đã kiên định, cô không còn chút lăn tăn gì về điều đó. Từ nay, cô hết lòng thành kính nơi Tam Bảo, cố gắng học hỏi giáo lý, y giáo phụng hành theo lời Phật, để cuộc sống ngày càng tươi sáng, tốt đẹp. (Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Võ Mai)

VONG LINH CHA PHÙ HỘ CON GÁI VÃNG SINH

  Sự đau đớn cắn xé dày vò khắp cơ thể, Thảo không thể mở miệng nói, nuốt thứ gì cũng đau, hơi thở của cô yếu ớt, đi được vài ba bước là cạn kiệt sức lực. Cùng một lúc cả hai căn bệnh ung thư máu và ung thư tủy đang từng phút từng giờ hủy hoại cô. Thảo nằm trong căn phòng tối tăm ẩm thấp, không có đủ ánh sáng lọt vào, nó tối đến mức người ngoài bước vào cũng chẳng nhìn rõ khuôn mặt của Thảo, dù trời vẫn còn sáng. Tên đầy đủ của cô là Nguyễn Thị Kim Thảo, pháp danh Diệu Hiếu, sinh năm 1974, cư trú tại thôn 5, xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Từ khi lọt lòng người ta đã gọi Thảo là đứa con hoang, không được thừa nhận. Cô mồ côi cha từ khi còn chưa ra đời, nên Thảo chẳng biết cha mình là ai? Khi lên ba tuổi, cô bé ấy lang thang khắp các quán xá để ăn lại những thức ăn thừa người ta bỏ dở. Thảo không có nhà cửa. Khi đêm xuống, họ thấy cô bé nằm chơ vơ dưới mái hiên của các căn nhà. Lớn lên một chút, Thảo bán vé số, rồi đi giúp việc nhà cho người, và trải qua đủ loại công việc khác nhau, có lẽ chỉ trừ nghề trộm cắp là cô không làm. Thảo không gia đình, không nơi nương tựa, cô nghèo khố rách áo ôm, nhưng may thay Thảo vẫn giữ được cho mình bản tính lương thiện, nhất định không làm những việc tội lỗi. Tới lúc trưởng thành, nhân duyên đưa đẩy Thảo cưới người chồng hiện tại và sinh được hai đứa con, chấm dứt chuỗi ngày tháng vô gia cư suốt nhiều năm. Tưởng rằng cô đã cập bến hạnh phúc khi hơi ấm của tình thương gia đình – cái cô thiếu thốn bấy lâu nay lan tỏa vào cuộc đời Thảo, nhưng không, đời một lần nữa nhấn chìm cô vào một vực sâu khác. Đầu năm 2012, Thảo bàng hoàng phát hiện mình mắc ung thư máu và ung thư tủy. Tuy vẫn định kì tới bệnh viện thăm khám nhưng cô biết cái chết đã tới rất gần bên cô. Chẳng hiểu do nhân duyên gì, Thảo tự nhiên muốn đi chùa, cô hay lui tới rất nhiều chùa ở miền Nam như Long An, Đồng Nai. Sau nhiều lần như vậy, Thảo được biết tới Phật Pháp, biết về luân hồi sinh tử và con đường vãng sinh về cõi Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà do các sư thầy trong chùa giảng giải cho cô nghe. Cô thầm nghĩ: “Thôi thì đằng nào cũng sắp chết, chết mà được về với Phật thì cũng mãn nguyện, sống như thế này khổ quá rồi, chả thiết tha gì nữa. Hóa ra vẫn có con đường thoát khổ, chẳng phải không có như mình vẫn tưởng.” Kể từ đó Thảo phát tâm ăn chay và niệm Phật nguyện vãng sinh Tịnh độ khi hết kiếp người. Nhưng mọi chuyện không dễ dàng. Mỗi ngày trôi qua, cơ thể Thảo ngày một yếu. Cô cho rằng ăn chay không đủ chất để nuôi một cơ thể bệnh tật yếu ớt như thế này, nên sau hai tháng ăn chay, cô thoái tâm quay về ăn mặn. Tâm nguyện muốn vãng sinh của cô hãy còn hời hợt, không đủ để Thảo quyết tâm tu tập chăm chỉ và buông xả cái thân xác bệnh tật này để về Tịnh độ. Thảo vẫn còn sợ chết. Cho đến một hôm bác sĩ thông báo với cô: “Em yếu lắm rồi, không sống được quá 10 ngày nữa đâu.” Dù gì cũng chẳng còn tiền để đi viện, khi nghe kết luận của bác sĩ, Thảo quyết định không đến viện nữa, chỉ ở nhà tụng kinh niệm Phật, quyết chí ăn chay trở lại đợi ngày chết. Đối với cô lúc này không còn gì để mất nữa rồi. Tấm thân tiều tụy này cũng không còn ý nghĩa gì với Thảo, nó chỉ đem lại sự khổ sở đau đớn mà thôi. Lúc này, tâm nguyện vãng sinh của cô mới thực sự lớn mạnh, không còn nuối tiếc cuộc đời một chút nào nữa, chỉ nhanh chóng muốn được Phật tiếp dẫn về Cực Lạc. Khi thấy Thảo sắp ra đi, một người bạn của gia đình cô là anh Bình gợi ý mời ban hộ niệm của đạo tràng Hoa Sen – chùa Thanh Hà – thành phố Đà Nẵng tới khai thị, trợ niệm cho Thảo và được gia đình đồng ý. Nhìn thấy ban hộ niệm tới, Thảo thều thào nói với cô trưởng ban: – Cô ơi! Con không muốn lành bệnh, con muốn được vãng sinh Cực Lạc càng sớm càng tốt. Sao Phật A Di Đà lâu đón con quá? Cô trưởng ban ánh mắt hiền từ, nắm lấy tay Thảo an ủi, đáp lời: – Con đừng lo lắng, con cứ thành tâm niệm Phật tinh tấn, khi Tín – Nguyện – Hạnh đầy đủ, thời khắc số mạng tận, Phật nhất định đến đón con. Cô trưởng ban vừa nói xong, mặt Thảo bỗng nhiên biến sắc, mắt trợn trừng, mồm vừa há hốc, vừa khóc thét lên từng tiếng rất to và thảm thiết, cả khuôn mặt rung lên từng cơn. Thấy sự việc không bình thường, theo kinh nghiệm của bản thân, cô trưởng ban dự đoán các vị oan gia trái chủ của Thảo đang nhập vào cô, liền lên tiếng khai thị: – Tôi xin các chư vị oan gia hãy buông bỏ hận thù, tha thứ cho cô Thảo đây, để cô ấy có thể vãng sinh Cực Lạc, khi cô ấy vãng sinh rồi sẽ quay lại độ các vị được giải thoát. Xin các vị từ bi mà tha cho cô Thảo. Chúng tôi niệm Phật cũng sẽ hồi hướng công đức cho các vị. Bỗng một giọng nói lạ cất lên từ nơi miệng Thảo: – Tôi không phải oan gia, tôi là cha của nó. Tôi chỉ muốn giúp nó. Nó là đứa con mồ côi bất hạnh. Tôi tên Nguyễn Văn Kiều, tuổi Tân Tỵ. Tôi là một chiến sĩ đã hy sinh khi nó còn ở trong bụng mẹ. Tôi làm ngạ quỷ đã gần 40 năm. Làm ngạ quỷ vài năm tôi quyết định một mình lên núi cao tu hành để giúp con cháu, nhưng riêng đứa con gái này quá bất hạnh. Tôi thương nó lắm. Từ khi biết con gái lâm trọng bệnh, tôi quay về để giúp đỡ nó. Cô trưởng ban hộ niệm lần đầu tiên gặp trường hợp này, nên rất cảm động trước tình thương của vong linh người cha dành cho con gái, cô đáp lời: – Vong linh thật có tấm lòng yêu thương con gái. Nay vong linh đã ở đây, vậy hãy thoát ra khỏi người con gái, cùng chúng con niệm Phật nguyện vãng sinh. Vong linh nói tiếp: – Tôi ở bên nó đã 6-7 tháng rồi. Chính tôi là người dẫn dắt nó đi chùa, để nó biết tu tập, ăn chay, niệm Phật cầu giải thoát. Có thời gian nó thoái tâm quay về ăn mặn, tôi giận nên bỏ đi, nhưng đến khi tới bước đường cùng nó cũng hiểu ra, biết ăn chay trở lại, một lòng tu tập, tôi lại về giúp nó. Cũng chính tôi là người dẫn dắt cậu Bình giới thiệu ban hộ niệm đạo tràng Hoa Sen cho gia đình. Tôi ở trong thân nó cũng để giúp đỡ nó có thể nói được, đi lại được một chút cho tiện việc sinh hoạt cá nhân. Chứ tôi mà ra là nó không còn chút hơi sức nào nữa đâu. Nó yếu lắm rồi. Cô trưởng ban ân cần khuyên bảo vong linh: – Nếu vong linh thật sự muốn con mình được giải thoát, chỉ có cách là vong linh hãy thoát ra khỏi thân con gái, rồi một lòng niệm Phật cầu vãng sinh. Vong linh hiện nay ở cõi vô hình, không có thân, nên chỉ cần Tín – Nguyện – Hạnh đầy đủ là Phật sẽ tới đón vong linh ngay. Khi vong linh vãng sinh rồi mới có thể độ cho con cái được. Còn về phần cô Thảo, nếu muốn vãng sinh cũng phải tỉnh táo để có Tín – Nguyện – Hạnh sâu chắc mới được Phật tiếp dẫn. … Sau 3 ngày khai thị liên tiếp, cuối cùng vong linh cụ ông cũng hiểu ra vấn đề, giơ hai tay lên cao, vẫy chào tạm biệt tất cả mọi người, dõng dạc tuyên bố: – Khuya nay tôi sẽ đi về Tây Phương Cực Lạc trong khoảng từ 11 giờ đêm đến 1 giờ sáng. Tôi đã hứa thì tôi sẽ làm. Đời tôi chưa một lần thất hứa với ai. Thấy sự dũng mãnh của vong linh, cô trưởng ban hoan hỷ đáp lời: – Chúng con phát nguyện sáng ngày mai sẽ phóng sinh, và đêm nay từ 10 giờ đêm đến 1 giờ sáng sẽ lạy Phật, niệm Phật hồi hướng công đức cầu cho vong linh vãng sinh Cực Lạc. Chúng con cũng sẽ hết lòng hộ niệm cho Phật tử Kim Thảo. Vong linh hãy yên tâm.
Kim Thảo niệm Phật trước lúc vãng sinh
Đúng như đã hứa, đêm hôm đó nhằm ngày 7 tháng 11 năm 2012, sau 1 giờ sáng – thời điểm vong linh đã ra đi, cũng chính là lúc Thảo trở nên đờ đẫn, mê man, không còn nói chuyện được như lúc vong linh cha cô còn ở trong thân hỗ trợ. Khi mặt trời lên, ban hộ niệm và gia đình thực hiện phóng sinh hồi hướng công đức cho cả hai cha con. Ngay khi phóng sinh xong, Thảo bắt đầu nói được, dần tỉnh táo trở lại và đặc biệt không còn thấy đau đớn như mọi hôm. Phật Pháp thật nhiệm màu. Lúc trước còn thoi thóp từng hơi, lúc sau Thảo đã có thể niệm Phật nhiều giờ cùng đạo tràng không biết mệt mỏi. Có những lúc cô niệm liên tục 8 tiếng đồng hồ, dũng mãnh hơn cả người khỏe mạnh bình thường, tưởng chừng như bệnh tật đã bay biến đi lúc nào không hay. Bác sĩ nói cô không sống quá 10 ngày nữa, vậy mà ban hộ niệm đã trợ niệm cho Thảo suốt gần 30 ngày. Đạo tràng niệm bao nhiêu, Thảo niệm bấy nhiêu với tất cả quyết tâm. Thảo nói với cô trưởng ban: – Con sẽ tinh tấn niệm Phật tới lúc ra đi, cô đừng lo. Sự quyết chí của người bệnh như tiếp thêm động lực cho ban hộ niệm không quản ngày đêm, hao tổn sức lực, thời gian suốt một tháng trời. Không phụ lòng mọi người, vào ngày 4 tháng 12 âm lịch năm 2012, sau 8 giờ hộ niệm kể từ khi trút hơi thở cuối cùng, Thảo an lành vãng sinh về miền Cực Lạc với thoại tướng đẹp, hơi ấm tụ nơi đỉnh đầu, vĩnh viễn thoát khỏi mọi sự khổ đau của sinh tử luân hồi đã hành hạ cô trong vô số kiếp. (Tĩnh Như, viết lại từ video hộ niệm cho Nguyễn Thị Kim Thảo)