Bà Ba nằm yên trên giường, hơi thở thoi thóp yếu ớt, mỗi giây phút trôi qua, sinh mạng của bà tiến lại gần hơn với cái chết. Vài phút sau, nhịp thở thay đổi đột ngột, bà thở hổn hển gấp gáp, rồi hắt ra vài hơi không còn thấy hít vào nữa. Người thân xem xét thấy bà đã ra đi, nên sẵn sàng tinh thần lo phần hậu sự.
Bà Ba tên đầy đủ là Nguyễn Thị Ba, pháp danh Diệu Tịnh, cư trú ở huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Gia đình bà có ba đời tu học Phật Pháp, nhờ sự gieo duyên của người đi trước, từ nhỏ bà đã có niềm tin sâu sắc nơi Tam Bảo, ăn chay, niệm Phật A Di Đà và Bồ tát Quán Thế Âm hết sức chân thành. Trong gia đình, bà vừa là người mẹ, vừa đóng vai trò của một người cha, hết lòng dạy dỗ con cháu về cách đối nhân xử thế, về đạo làm người.
Con cái trong nhà, nhờ sự hướng dẫn chỉ bảo của bà, nên cũng hiểu lễ nghĩa, thường giữ giới nhà Phật và hiếu thuận với người lớn. Con gái bà Ba nối tiếp truyền thống tu học Phật Pháp, theo mẹ quy y Tam Bảo, pháp danh Diệu Hòa, ăn chay, tụng kinh, niệm Phật từ bé.
Thời gian tính từ lúc bà Ba ngừng thở đã 15 tiếng đồng hồ, mắt đứng tròng, phân và nước tiểu ào ạt tràn ra khỏi cơ thể khiến căn phòng nơi bà nằm xộc lên mùi khó chịu. Gia đình đang tất bật chuẩn bị cho tang lễ, thì bà Ba bất ngờ động đậy, hơi thở hồi phục, mắt hé lên, tỉnh lại trong sự hoảng hốt và hoang mang của tất cả mọi người. Con cháu không hiểu chuyện gì đang xảy ra, trong chúng khởi lên suy nghĩ không biết đây là “ma” hay là người? Ai nấy đều run rẩy toát mồ hôi hột trước sự kiện hy hữu hiếm có này. Nhưng bà Ba thực sự đã sống lại một cách vi diệu như thế.
Thật kì lạ, bà Ba chết đi sống lại như vậy tới hai lần. Lần chết lâm sàng thứ hai cũng y như lần đầu không khác. Sau 15 tiếng đồng hồ tắt thở, bà sống dậy, cũng không đến bệnh viện, chỉ ở nhà luôn miệng lẩm rẩm niệm Phật.
Con gái Diệu Hòa thấy mẹ hai lần cận kề sinh tử rất khó hiểu, liền đứng trước ban thờ Phật, thành kính chắp tay phát nguyện:
– Có lẽ do nhân duyên của mẹ con chưa tới, vậy nay con xin đổi một phần tuổi thọ của mình để cho mẹ được sống thêm một thời gian nữa. Con mong chư Phật Bồ Tát chứng minh gia hộ.
Diệu Hòa thương mẹ cả đời tu tập mà đến lúc lâm chung không được an lành ra đi, mới khuyên mẹ phát nguyện cầu sinh về cõi nước Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà sau khi xả báo thân. Bởi tuy nương tựa Tam Bảo từ nhỏ, tin tưởng trì niệm danh hiệu Phật Bồ Tát nhưng bà Ba không hề biết tới lời nguyện tiếp dẫn chúng sinh lúc lâm chung của Phật A Di Đà nên không phát nguyện hồi hướng những công đức bà làm được trong đời để vãng sinh.
Diệu Hòa biết vậy nên giảng giải cho mẹ nghe về pháp môn Tịnh độ, cô nói với mẹ:
– Phật dạy muốn được vãng sinh về cõi nước Cực Lạc, cần có đủ ba yếu tố: Tín – Nguyện – Hạnh. Mẹ đã có niềm tin sâu chắc nơi Đức Phật A Di Đà và tu tập đức hạnh cả một đời, mẹ chỉ thiếu phát nguyện về Cực Lạc thôi. Nay mẹ nguyện sinh Cực Lạc đi để được giải thoát mẹ nhé.
Bà Ba sau khi nghe con gái giảng giải mới tường tận về pháp môn Tịnh Độ, liền tin tưởng, đáp lời Diệu Hòa:
– Vậy thì từ nay mẹ không lưu luyến cõi trần này nữa, mẹ quyết tâm muốn về Cực Lạc với Phật A Di Đà con ạ. Lên đó rồi mẹ tu tiếp.
Bà Ba tuổi đã cao, sức khỏe kém, nên từ ngày đó trở đi bà niệm Phật với tâm thế mong sớm được về Tây Phương, thoát ly cảnh khổ Ta Bà. Có lẽ cũng nhờ tấm lòng hiếu thảo của Diệu Hòa phát nguyện dành tuổi thọ của mình cho mẹ, mà bà Ba có thêm trọn một năm sống và tu tập, phát nguyện cầu sinh Cực Lạc.
Một năm sau kể từ lần chết lâm sàng thứ hai, vào một đêm, Diệu Hòa nằm mơ thấy Đức Phật A Di Đà vô cùng đẹp đẽ, thân tướng trang nghiêm, phát ra hào quang sáng rực rỡ tỏa khắp bốn phương tám hướng. Ánh hào quang ấy vừa rạng ngời vừa dịu êm khiến thân tâm Diệu Hòa tự nhiên an lạc thơ thới. Ngài xuất hiện tới bên ngôi nhà của gia đình và nhẹ nhàng thả bông hoa sen đang cầm trên tay vào trong ngôi nhà.
Tỉnh dậy trong niềm sung sướng hạnh phúc, Diệu Hòa dự liệu chắc hẳn mẹ mình sắp được vãng sinh, nên đã chuẩn bị tinh thần từ trước. Cô phát nguyện tụng 49 biến kinh Địa Tạng hồi hướng cho mẹ thêm phần công đức.
Sau khi Diệu Hòa miệt mài hoàn thành 49 biến kinh, một hôm bà Ba tới bên con, vẻ mặt an nhiên tự tại, ôn tồn nói:
– Ngày 19 tháng 9 âm lịch này mẹ đi theo Phật rồi, cả nhà chuẩn bị lo liệu trước đi nhé.
Đúng như lời bà, ngày 19/9 âm lịch năm 2017 trùng ngày vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, sau khi nghe một thời kinh Phổ Môn được 15 phút, bà niệm Phật ra đi nhẹ nhàng trong sự minh mẫn, sắc diện hồng hào tươi tắn như người trang điểm khiến tất cả những ai chứng kiến đều bất ngờ. Không gian ngôi nhà đặc biệt ấm áp sáng sủa lạ thường, hoàn toàn không cảm thấy sự lạnh lẽo thê lương như những đám ma bình thường khác. Bà Ba khi ấy hưởng thọ 81 tuổi.
Vào đêm chôn thi thể bà, Diệu Hòa mơ thấy mẹ mình với hình dáng đẹp đẽ, mặc bộ quần áo màu vàng. Bà mỉm cười nhẹ nhàng nói với Diệu Hòa:
– Mẹ đã về trời Tây.
Tỉnh dậy, Diệu Hòa hạnh phúc vô ngần khi biết chắc chắn mẹ mình đã vãng sinh Cực Lạc, đã vĩnh viễn thoát sinh tử nơi cõi trần gia khổ ải này. Tuy nhớ mẹ, nhưng trong lòng cô hoan hỷ chứ không buồn phiền.
Ngày thứ 20 sau khi mất, bà Ba tiếp tục về trong giấc mơ, nói với Diệu Hòa:
– Đường đi lên rất ít người, đường đi xuống thì rất đông.
Không hiểu ý của mẹ, Diệu Hòa hỏi:
– Tại sao mẹ nói như vậy?
Bà Ba đáp:
– Vì người đời niệm Phật thì nhiều, nhưng nguyện đủ thứ trong cõi thế gian, chứ không một lòng nhất tâm nguyện vãng sinh Cực Lạc giải thoát luân hồi nên chẳng được vãng sinh. Đáng tiếc làm sao.
Diệu Hòa nhớ như in câu nói đó. Lời nói của mẹ cô là sự cảnh tỉnh đối với nhiều người tu Tịnh Độ, miệng nói cầu vãng sinh, nhưng tâm chẳng tha thiết vãng sinh, mà cứ lo lắng, ham muốn đủ thứ chuyện đời, Nguyện lực bị thiếu nên mãn kiếp vẫn chẳng về Cực Lạc được.
Vậy nên người đã chọn tu theo Tịnh Độ cần hiểu, Tín – Nguyện – Hạnh, cả 3 đều phải huân tập vững vàng. Sau khi đã hiểu và tin tưởng vào Phật A Di Đà, vào pháp môn Tịnh Độ, thì cần buông bỏ thế sự, tha thiết nguyện sinh về Cực Lạc, rồi tinh tấn hành trì niệm Phật, làm nhiều công đức hồi hướng được vãng sinh. Được như vậy, mãn kiếp mới hưởng được thành quả vi diệu, nhắm mắt cõi Ta Bà, mở mắt nơi Cực Lạc, vui hưởng an lạc vĩnh hằng, thẳng tiến tu hành đến khi viên thành Chánh Giác.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Diệu Hòa)
Dạo gần đây, cơ thể ông Oanh gầy yếu, mệt mỏi, sụt cân trông thấy. Mọi người trong gia đình tưởng ông yếu dần do tuổi đã cao. Thế nhưng sau này trong những bữa cơm, ông bắt đầu nuốt thức ăn không trôi, như có thứ gì đó mắc nghẹn trong cổ họng, nuốt gì vào bụng cũng khó khăn. Có khi ông Oanh buồn nôn, khó thở, đau tức ngực, giọng nói thều thào như người bệnh.
Một ngày tháng 12 năm 2020, khi sự khó chịu trong người lên tới đỉnh điểm, gia đình liền vội vã đưa ông tới bệnh viện. Sau một hồi làm đầy đủ các xét nghiệm cần thiết, bác sỹ gọi người thân của ông vào phòng nói:
– Ông nhà mắc ung thư thực quản, e là không còn sống được bao lâu. Tốt nhất gia đình nên chuẩn bị tinh thần trước. Chỉ có cách tiến hành xạ trị, biết đâu hợp thì kéo dài được thêm sự sống ngày nào hay ngày đó.
Nghe bác sỹ kết luận, cả gia đình bàng hoàng, đờ đẫn trong giây lát. Tuy rằng năm nay ông Oanh đã trải qua 88 mùa lá rụng, cũng là con số nhiều người mong mỏi chẳng được, thế nhưng người thân vẫn không khỏi xúc động khi nghe tin sét đánh này. Nghĩ đến cảnh sinh ly tử biệt sớm đây thôi cũng đủ làm họ rưng rưng nước mắt.
Sau một hồi bình tĩnh trở lại, suy xét kĩ càng, gia đình quyết định không để ông Oanh biết bệnh tình, đồng thời từ chối hóa xạ trị vì biết hóa xạ trị khiến bệnh nhân càng thêm mệt mỏi đau đớn, mà cuối cùng vẫn không cứu được tính mạng.
Mỗi ngày trôi qua, khối u cứ thế to dần chèn ngang cổ họng khiến ông Oanh khó thở và không thể ăn uống bằng miệng, cứ nuốt thứ gì đều bị nôn ra hết, kể cả uống nước cũng không được. Bốn tháng sau, bác sỹ buộc phải chỉ định đặt ống bơm thẳng thức ăn vào dạ dày để duy trì sự sống cho bệnh nhân. Chính từ lúc đặt ống là lúc ông biết bệnh tình của mình không hề nhẹ. Gia đình vì thế không thể nào giấu thêm được nữa.
Tên đầy đủ của ông là Triệu Văn Oanh, pháp danh Phúc An, cư trú tại phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Thời trẻ, ông đi bộ đội theo đường binh nghiệp, nhưng sau khi kết hôn và có con, ông quyết định chuyển sang kinh doanh buôn bán để có thêm tiền trang trải cuộc sống.
Chân dung ông Triệu Văn Oanh
Cả gia đình ông Oanh đều là Phật tử, ngày trước ông Oanh từng ở chùa mấy năm làm công quả, giúp sư thầy quán xuyến trông coi chùa khi sư đi vắng. Ông tu theo Tịnh Độ, thường ngày niệm Phật nguyện sau này mãn kiếp được sinh về cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà.
Vợ ông cũng quy y Tam Bảo đã lâu, con trai lớn tu tập tính đến nay cũng được 10 năm, con gái lớn tu tập được 5 năm, chỉ có cô con gái út tên Huyền Linh là không tha thiết lắm chuyện tâm linh, nghe mọi người nói chuyện giáo lý nhưng nhận thức cô vẫn mơ màng, bán tín bán nghi. Được cái cô cũng không phản bác, nương theo truyền thống gia đình, người thân bảo tụng kinh thì cô tụng kinh, bảo niệm Phật thì cô niệm Phật.
Mỗi lần đến phiên Linh vào viện chăm bố, ông Oanh đều khóc than với cô vì luyến tiếc cuộc đời, vợ con, nhất là thương Linh – cô con gái nhỏ nhất trong nhà. Là một Phật tử, cũng biết chút giáo lý Phật Pháp, biết đời vô thường, nay sinh mai diệt, ấy thế nhưng biết là một chuyện, làm được hay không lại là chuyện hoàn toàn khác. Tới lúc cập kề sinh tử, ông vẫn không thoát ra được khỏi tâm lý ái luyến thế gian, vẫn tiếc nuối cuộc đời với đủ thăng trầm hỷ nộ ái ố.
Xung quanh có rất nhiều người nằm cùng phòng, toàn ca bệnh nặng chờ chết, họ đau đớn rên xiết cả ngày mất ăn mất ngủ. Vậy mà riêng với ông Oanh, nhờ sự gia trì của câu Phật hiệu nên không hề đau đớn. Chính điều đó cũng khiến Linh để ý, bắt đầu có thêm tín tâm hơn vào Phật Pháp.
Thương bố, cả nhà cùng tụng kinh và làm đại lễ phóng sinh cá chép bầu hồi hướng cho ông bình an trải qua bệnh tật, khi ra đi cũng được an lành vãng sinh như ý nguyện bấy lâu.
Hai tháng sau khi đặt ống dẫn thức ăn, vào một buổi trưa cuối tuần, ông Oanh ngủ thiếp đi rồi rơi vào trạng thái hôn mê lúc nào không biết. Cứ thế hôn mê sâu suốt 5 ngày. Rồi cuối cùng ông cũng ra đi, chấm dứt một kiếp người.
Kể từ thời gian ông hôn mê, gia đình cùng đạo tràng Hoa Sen Vàng của chùa Bảo Sơn, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc đã ngày ngày tụng kinh hồi hướng cho ông. Ba người con của ông hết lòng báo hiếu cha, phát tâm chép kinh Địa Tạng, riêng con trai cả và con gái lớn nguyện ăn chay, tụng kinh Địa Tạng, niệm Phật trong suốt 49 ngày liên tục. Tất cả công đức đem hồi hướng cho bố được vãng sinh về Tây Phương.
Nhưng mọi chuyện không suôn sẻ như ước nguyện của mọi người. Có lần, Linh đang ngồi trong nhà, bỗng nhiên thoáng một cái, tận mắt cô nhìn thấy bóng của bố mình đi từ phòng ngủ vòng ra chỗ ban thờ, khiến Linh được một phen hết hồn. Có lẽ linh hồn ông vẫn chưa buông bỏ được tình cảm sâu nặng với vợ con nên còn quanh quẩn trong nhà, chưa siêu thoát được.
Sau khi ông Oanh mất được 20 ngày, cả vợ và các con cùng ngồi tụng kinh thì hương linh của ông liền nhập vào Linh, khóc lóc sầu khổ như muốn nói điều gì đó mà chẳng thể mở miệng nói, cái cổ họng của ông vẫn bị nghẹn y như khi còn sống, mọi cảm giác đau đớn của bố, Linh đều cảm nhận được hết.
Cả nhà thương xót, biết rằng ông chưa siêu thoát, chưa được vãng sinh, nên càng dốc sức tu tập hồi hướng công đức cho ông càng nhiều càng tốt, chẳng kể ngày đêm. Hôm đó, tức còn một hôm nữa là sang 49 ngày, Linh chép kinh Địa Tạng còn quyển Hạ chưa xong, nên quyết tâm ngồi chép một mạch từ 8 giờ sáng tới 8 giờ tối, rốt cuộc vẫn chưa xong. Khi ấy các ngón tay cô nhức mỏi không thể cầm bút viết được nữa. Nhưng Linh không cam lòng, chắp tay hướng lên hư không nói:
– Con mong Ngài Địa Tạng gia hộ cho con hết mỏi tay để con có thể hoàn thành nốt quyển kinh trước 49 ngày, lấy công đức đó hồi hướng cho bố.
Vừa dứt lời, Linh cảm nhận rõ ràng cả bàn tay bỗng nhiên nhẹ bẫng, ngay lập tức không còn một chút cảm giác đau mỏi nào. Được cảm ứng quá nhanh chóng, Linh bật khóc vì xúc động trước sự từ bi gia hộ của Địa Tạng Vương Bồ Tát, càng hăng say quyết chí ngồi chép tiếp tới đêm cho xong.
Qua 100 ngày, trong lúc cả gia đình ngồi tụng kinh, ông Oanh lại một lần nữa nhập vào Linh, nhưng khác mọi lần, ông không còn khóc lóc, chỉ nhất nhất ngồi niệm Phật. Vợ ông thấy vậy quay ra hỏi gì ông cũng chỉ nói một câu:
– Niệm Phật đi
10 phút trôi qua, cả hương linh lẫn những người còn sống cùng nhất tâm hòa mình trong tiếng niệm Phật, ông Oanh – vẫn đang nhập vào thân con gái út bất ngờ reo lên:
– Ô, bố nhìn thấy Phật rồi. Ánh sáng của Người đẹp quá con ơi. Phật đẹp quá con ơi !
Thấy ông nói vậy, cả gia đình ai nấy đều sung sướng, tiếp tục niệm Phật liên hồi dũng mãnh hơn hẳn bình thường, câu nào câu nấy vang dội cả bầu không gian lẫn thân tâm mọi người, không ai còn nghĩ gì khác ngoài niệm Phật, câu Phật hiệu cứ thế đua nhau nối tiếp không ngừng:
– Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô A Di Đà Phật …
Lát sau, ông Oanh mừng rỡ, liên mồm nói:
– Con xin Người tiếp dẫn chân linh của con về thế giới Tây Phương Cực Lạc.
Cứ thế ông nói đi nói lại mấy lần, rồi đột nhiên quay về hướng cậu con trai cả, cúi rụp xuống lạy con một lạy, từ tốn gọi:
– Con ơi, bố cảm ơn con nhiều lắm. Lúc bố ốm bệnh con là người tận tình chăm sóc, lúc bố ra đi, con cũng là người tận lực tụng kinh niệm Phật hồi hướng công đức cho bố.
Ông tiếp tục quay về hướng vợ nhắn nhủ:
– Bà ơi, Phật tới rồi. Tôi đi trước nhé, bà ở lại nhớ nhất tâm niệm Phật nghe chưa.
Dứt lời, ông đứng lên nhẹ nhàng, không như mấy lần trước ra là ra luôn, lần này Linh cảm thấy rõ rệt linh hồn ông Oanh đứng dậy, từ từ thoát ra bay lên không trung. Từ đó người nhà không còn mơ thấy ông, hay thấy ông nhập vào Linh nữa. Cũng kể từ đây, vô số kiếp sống với đầy sinh lão bệnh tử, mệt mỏi của ông ở cõi Ta Bà khổ đau này chấm hết, để mở ra cho ông một tương lai rực sáng nơi cõi Cực Lạc vĩnh hằng.
Tất cả mọi người trong gia đình, chẳng ai không xúc động khi chứng kiến cảnh tượng ông được vãng sinh. Đúng là trăm nghe không bằng một thấy. Đó là minh chứng hùng hồn nhất củng cố niềm tin Phật Pháp trong lòng cô con gái út và toàn thể gia đình.
Một thời gian sau đó, Linh liên tiếp bị các vong hồn khác nhập vào. Có khi là vong linh bộ đội hi sinh thời kháng chiến, có khi là vong người Thái, người Hoa, có khi còn có cả vong linh súc sinh như chó, cá… Họ được chứng kiến cảnh tượng ông Oanh bay lên về với Phật A Di Đà vô cùng tráng lệ, cảm thấy hết sức hâm mộ. Nên họ cũng khao khát được hưởng ké một chút duyên lành từ Phật Pháp, bèn nhập vào Linh kể lể những khổ sở của mình, khẩn khoản nhờ Linh cùng mọi người tụng kinh niệm Phật hồi hướng cho họ. Linh nhận lời, tụng kinh siêu độ cho các vong linh một thời gian, và sau không thấy họ nhập vào nữa.
Từ đó, Huyền Linh không còn mơ màng hay hoài nghi về nhân quả, về Phật Pháp như trước. Những sự kiện cô đích thân trải nghiệm đã dấy lên trong lòng một niềm hy vọng. Linh chính thức bước vào con đường tu học Phật Pháp, để tương lai một ngày nào đó, cô cũng được như cha mình.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Huyền Linh)
Đem sự thật đến cho nhân loại – đó chính là điểm chung của Phật giáo và khoa học. Vì sự thật là một thể thống nhất, nên khi cùng nói về nó, Phật giáo và khoa học sẽ có những điểm giao thoa, ăn khớp với nhau ở rất nhiều lĩnh vực.
Ví dụ như từ thế kỷ 16 trở về trước, đa số nhân loại không biết gì về những sinh vật không thể nhìn thấy vì chúng quá nhỏ, đó là vi khuẩn, vi rút. Đến tận thập niên 1670, Antonie Van Leeuwenhoek, nhà khoa học và thương nhân người Hà Lan, đã cải tiến kính hiển vi và phát hiện ra vi khuẩn. Đến khi đó, khoa học mới biết đến những sinh vật nhỏ bé vô cùng mắt thường không nhìn thấy, gây kinh ngạc cho toàn nhân loại, và đây được coi là một khám phá vĩ đại của loài người.
Thế nhưng từ trước đó hàng ngàn năm, Đức Phật đã miêu tả về những sinh vật nhỏ bé đó. Thủa đó, khi Đức Phật trông thấy các đệ tử dùng gáo múc nước sạch trong chum để uống, Phật dạy: “Các ông phải niệm chú trước khi uống nước ấy, vì trong nước đó có nhiều sinh vật rất nhỏ bé”.
Thời đó chưa có kính hiển vi, người ta chỉ có thể tin Phật mà làm theo chứ không thể nhìn thấy vi khuẩn. Nhưng với công nghệ hiện nay thì nhân loại đã nhìn thấy được, và điều Phật nói đã được công nghệ khoa học chứng thực.
Về thiên văn vũ trụ, trước thế kỷ 18, nhân loại chỉ biết đến những ngôi sao với số lượng có hạn có thể quan sát bằng mắt thường. Mãi đến sau thế kỉ 18, với sự phát triển của kính viễn vọng hiện đại, khoa học dần mới biết đến các thiên hà cách xa Trái Đất không thể quan sát được bằng mắt thường. Các nhà khoa học đã kinh ngạc vì số lượng của các thiên hà ấy là rất khổng lồ, nhiều hơn số cát trong sông trong biển. Mỗi thiên hà lại chứa cực kì – cực kì nhiều hành tinh, ngôi sao. Mỗi mỗi chúng đều đang không ngừng được hình thành, tồn tại rồi diệt mất.
Còn Đức Phật, ngài không cần kính viễn vọng, bằng Phật nhãn siêu việt Ngài vẫn biết, và thường xuyên miêu tả trong kinh điển về các “tam thiên đại thiên thế giới” khác nhau trong vũ trụ, nhiều hơn số cát trong sông Hằng, vô biên vô lượng (“tam thiên đại thiên thế giới” là một đơn vị thiên văn trong Phật giáo, tương đương với một thiên hà)
Có lần đức Phật cùng các thầy Tỳ-kheo đi vào rừng, nhìn thấy những lá cây rơi lả tả, những lá vàng úa sắp lìa cành, đồng thời có những chồi non vừa nẩy lộc và những mầm vừa nhú khỏi vỏ cây, Ngài dạy các đệ tử: “Các thế giới đang hoại, sắp hoại và đang thành, sắp thành, cũng như lá cây trong rừng đang rụng, sắp rụng và đang nẩy chồi, sắp nẩy chồi.”
Rất nhiều những tri thức vượt thời đại như thế đã khiến Albert Einstein, nhà khoa học lỗi lạc nhất thế kỉ XX tò mò và bỏ công nghiên cứu về giáo lý đạo Phật. Càng nghiên cứu thì ông lại càng thấy bất ngờ vì những điều Đức Phật dạy, không những chính xác, mà còn bỏ xa hiểu biết hạn chế của khoa học. Và ông – đại diện không thể uy tín hơn cho giới khoa học, phải thừa nhận rằng:
“Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng được các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để theo xu hướng của khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học.”
Khoa học và Phật giáo
Vậy thì cái phần mà Einstein nói là vượt qua cả khoa học ấy là những gì ? Rất nhiều, với trí óc hạn hẹp của tôi thì chỉ có thể nhìn ra được vài điểm.
Thứ nhất, Đức Phật biết mọi sự thật, mọi quy luật của vũ trụ này, nhưng Ngài chỉ chọn lọc dạy những điều mang đến an vui, hạnh phúc cho chúng sinh. Thậm chí những kiến thức thừa, Ngài cũng cắt bỏ tránh làm đệ tử phân tâm, mất thời gian mà chẳng thu được lợi ích đáng kể.
Trong kinh Tạp A-hàm có viết:
” …Bấy giờ, Đức Thế Tôn cùng đại chúng đi đến rừng Thân Thứ, rồi ngồi dưới bóng cây. Khi ấy, Đức Thế Tôn tay bốc một nắm lá cây, hỏi các Tỳ-kheo:
– Lá cây trong nắm tay này nhiều hay lá cây trong rừng nhiều?
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
– Bạch Thế Tôn, lá cây trong nắm tay Phật rất ít, còn lá cây trong rừng thì nhiều vô lượng, gấp trăm, ngàn, vạn, triệu lần cho đến tính toán thí dụ cũng không thể so sánh.
– Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta thành Đẳng Chánh Giác, những pháp mà Ta đã tự thấy, rồi tuyên thuyết cho mọi người như lá cây trong tay. Vì sao? Vì pháp này có lợi ích cho nghĩa, có ích lợi cho pháp, ích lợi cho Phạm hạnh, minh tuệ chánh giác, hướng thẳng Niết Bàn.
Cũng nhiều như lá cây trong rừng lớn, Chánh pháp mà Ta tự mình chứng tri, không được Ta nói ra, cũng nhiều như thế. Vì sao?
Vì những pháp ấy không lợi ích cho nghĩa, không ích lợi cho pháp, không ích lợi cho Phạm hạnh, minh tuệ chánh giác, hướng thẳng Niết-bàn.”
Còn các nhà khoa học thì khác, họ nghiên cứu, khám phá, và sáng chế ra đủ thứ, đủ mọi lĩnh vực theo đam mê từng người, hoặc theo đơn đặt hàng của các doanh nhân, của nhà nước, các tổ chức khác nhau…
Còn việc định hướng tương lai cho nhân loại, liệu những công trình nghiên cứu của họ sẽ tác động như thế nào đến con người, có lợi hay có hại, lợi đến đâu và hại đến đâu ? Cái nào nhiều hơn ? Những cái đó… rất tiếc, không nằm trong mối quan tâm của đại đa số các nhà khoa học.
Các nhà khoa học có thể điều chế ra các liều thuốc cứu người, đồng thời cũng sẵn sàng chế ra trăm nghìn thứ thuốc độc, súng ống, bom đạn để giết người cho thật hiệu quả.
Tất nhiên, không thể vơ đũa cả nắm. Tôi tin rằng trong cộng đồng giới khoa học, sẽ vẫn luôn có những vị không chỉ giỏi chuyên môn, mà đồng thời cũng có lương tri, có tấm lòng nhân ái, vô tư cống hiến vì lợi ích nhân loại.
Tuy nhiên, chúng ta cần phải hiểu rằng, thế giới này từ xưa đến nay luôn chịu áp lực của những thế lực chính trị, họ là những ông vua nắm trong tay quân đội và quyền lực, họ là những tập đoàn tài phiệt nắm trong tay tiền bạc và thế lực, thậm chí, còn có cả những thế lực ngầm không ai biết là ai, âm thầm sắp xếp trật tự thế giới. Đối với họ, bất cứ thứ gì đều có thể biến thành công cụ phục vụ cho mục đích của họ.
Vậy điều gì ngăn cản họ bỏ tiền ra thuê, hoặc dí họng súng vào bắt những nhà khoa học làm việc cho mình ? Điều gì buộc họ không đem các thành tựu của khoa học phục vụ những mục đích đen tối ? Không gì cả ! Cho dù ban đầu các nhà khoa học nghiên cứu, sáng chế để phục vụ cho một mục đích tốt, thì cuối cùng vẫn bị lợi dụng biến thành công cụ trong tay những thế lực đen tối.
Vậy nên lịch sử thế giới mới trở thành một bức tranh ám màu thuốc súng trên nền đỏ của máu như chúng ta đã thấy.
Vậy tại sao điều tương tự không xảy ra với giáo lý của Đức Phật ?
Đó là vì Đức Phật chỉ tập trung dạy những phương pháp điều phục các phần xấu, phần bất thiện trong con người, từ đó giúp cho mỗi người nâng cấp bản thân, thăng tiến tâm linh, trí tuệ, đạt được những an vui, những năng lực vi diệu chính ngay bên trong thân tâm mỗi người, mà không cần đến các vật dụng hay công cụ bên ngoài.
Ai không chịu tu dưỡng điều phục phần xấu trong mình, thì cũng không thể tiến lên cảnh giới viên mãn. Đó là một bộ khóa thông minh, tránh để những năng lực mạnh mẽ rơi vào tay những kẻ bất thiện.
Ngoài ra, Đức Phật cũng biết trước sẽ có những thế lực muốn thao túng Phật giáo cho những mưu đồ chính trị, nên Ngài đã có những thiết lập vô cùng trí tuệ và tinh tế, để hạn chế tối đa việc Phật giáo bị biến thành công cụ của kẻ xấu.
Ví dụ như, trước khi nhập Niết Bàn, Đức Phật thuyết một bộ kinh tên Đại Bát Niết Bàn, trong đó có chi tiết, các đệ tử hỏi ngài rằng, sau này ai sẽ là người kế vị, thay Đức Phật lãnh đạo Phật giáo. Đức Phật trả lời rằng: “Hãy lấy giới luật làm thầy“. Nghĩa là không đặt quyền thống lĩnh Phật giáo vào tay bất kì người nào, xóa bỏ “chiếc ngai quyền lực” ra khỏi đạo Phật, để cho tất cả đệ tử nương tựa vào chính bản tâm tu hành, nghiêm trì giới luật của mình.
Ngoài ra, Đức Phật còn căn dặn một điều mấu chốt khác : “Y pháp bất y nhân” – nghĩa là nương theo “giáo pháp” chứ không nương theo “người nói giáo pháp”. Vì rằng chân lý là hoàn hảo, nhưng con người thì không thể hoàn hảo. Rao giảng đạo lý thì dễ, mà thực hành đúng theo đạo lý thì lại khó hơn nhiều.
Vậy nên Phật dạy cho đệ tử muôn đời sau của mình, cần tách bạch ra làm hai, “giáo pháp” khác, “người nói pháp” khác. Cần đặt tín nhiệm và tôn chỉ tu hành vào “giáo pháp”, chứ không phải “người nói pháp”, vì họ có thể là người gương mẫu, thực hành đúng pháp, xong, lại cũng có thể là người nói được làm không được.
Dù sao, các đệ tử đời sau của Phật, dù là cao tăng, danh sư nổi tiếng, cũng vẫn không phải một vị thánh trí tuệ hoàn hảo như Đức Phật, huống chi sẽ có nhiều người do bẩm sinh giỏi thuyết pháp, thuyết phục được nhiều tín đồ, nhưng kì thực phẩm hạnh, trí tuệ không đạt yêu cầu, đâu thể chắc chắn.
Như thế, đệ tử Phật chân chính làm đúng lời Phật căn dặn, chỉ dựa vào giới luật Đức Phật đã ban hành, dựa vào kinh điển, giáo lý Đức Phật đã dạy mà tu hành, “tự mình thắp đuốc mà đi”, chứ không phải chịu quyền quản lý của ai.
Thành ra, các thế lực muốn mua chuộc hay uy hiếp người quyền lực nhất đạo Phật nhằm thao túng toàn bộ tín đồ Phật giáo là điều không thể, vì chẳng có ai nắm quyền lực như vậy cả. Và Phật Pháp vẫn trường tồn một bản sắc thánh thiện, an nhiên trước mọi biến cố đen tối của dòng lịch sử.
(Quang Tử)
Vào đúng khoảnh khắc chồng vừa tắt thở, bà Ích hướng về thi thể gào thét, chửi mắng té tát vào mặt người chồng quá cố.
– Ông xui, ông khiến cho tôi đẻ lắm vào, rồi bỏ đi thế này à? Có tỉnh dậy ngay mà nuôi con không?
Hai hàm răng nghiến vào nhau, ánh mắt hừng hực như phóng ra những tia lửa điện, bà Ích dùng hết sức mình kéo tay kéo chân ông nhà. Bà muốn ông phải sống lại để chăm lo cho gia đình, cho 17 cái tàu há mồm non nớt. Chứ một mình thân gái như bà gồng gánh sao nổi.
Người nhà dù biết tính tình, cũng không khỏi ngạc nhiên khi chứng kiến sự phản ứng dữ dội, không chút e dè của bà Ích đối với một tử thi. Chẳng những thế, nhiều ngày sau, bà tiếp tục đứng trước bàn thờ của chồng, hướng lên di ảnh chửi rủa không kiêng nể.
Bà là Trần Thị Ích, sinh năm 1932, sống ở Ngã Ba Vũng Tàu, Biên Hòa, Đồng Nai. Bà Ích không biết chữ nên mọi người hay kêu bà dốt nát cục mịch, cộng thêm tính khí nóng nảy bốp chát chẳng ai bằng, khiến con cháu và những người xung quanh đều mệt mỏi khi tiếp xúc.
Vợ chồng bà sinh được cả thẩy 22 người con, 5 đứa chết, còn lại 17 đứa gồm 11 con gái, 6 con trai. Gia đình đông con, chồng mất sớm, cuộc sống thiếu thốn cả về kinh tế lẫn tình cảm. Một mình nuôi từng ấy người con quả thật là điều quá khó khăn.
Để có tiền nuôi con, bà mở một quán nhậu, phục vụ đủ loại món ăn do chính tay mình làm thịt chế biến, nào chim quay mắc mật, tắc kè xào lăn, vịt nướng nguyên con, dế tẩm bột chiên giòn, rượu thuốc ngâm đủ loại v.v… không thiếu thứ gì.
Cứ đến ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch hàng năm, dân gian thường gọi là Tết Đoan Ngọ, tết diệt sâu bọ, bà Ích sai đám con nít quanh nhà đi bắt dế về đem bán cho bà làm món nhậu.
Bà lớn tiếng hô đám trẻ:
– Cứ con dế nào to thì bắt đem về đây, tao mua hết cho chúng mày.
Bọn trẻ chẳng có việc gì làm, thấy vui vui lại có tiền thì hăng hái làm ngay. Chẳng mấy chốc, bà đã có cả một rổ toàn dế cơm to bằng ngón tay cái, con nào con nấy đều múp mẩy. Những con dế còn sống khỏe re, bà Ích một tay túm thân nó, tay kia nhanh chóng vặt nghéo cái đầu, vặt nốt mấy cái chân, còn chừa lại cái thân bà ném vào một chiếc rổ, đem đi rửa sạch, ngâm muối, lăn bột chiên giòn thành món khoái khẩu cho mấy ông khách quen.
Lươn thì mỗi ngày bà làm hàng rổ, khi cả đám còn sống khỏe, bà Ích đun một nồi nước sôi sùng sục, đổ ụp vào chúng, con nào con nấy đau đớn quằn quại, lê lết mãi mới chết được. Còn chim cùng đủ thứ con vật khác, thì mua về cho nằm xếp lớp, rồi bà tự tay mổ bụng, vặt lông, rút xương, tẩm ướp gia vị rồi đem thui, đem nướng làm đủ món trên đời.
Suốt bao năm trời, bà kiếm tiền nuôi con bằng công việc sát sinh tàn bạo phục vụ cho biết bao khách nhậu nhẹt rượu chè. Tuy có đồng ra đồng vào giúp các con đỡ đói, nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo, gia cảnh nhà bà không thể nào khấm khá lên được.
Cuộc sống khó khăn, tính cách lại cộc cằn, hung dữ nên chẳng có mấy ai chịu làm bạn với bà, cùng lắm chỉ chào hỏi vài câu cho có, chứ người thân lối xóm cũng ngại không muốn dây dưa. Mỗi lần thấy các con dạy dỗ cháu bằng đòn roi, bà Ích không ngại ngần đổ thêm dầu vào lửa:
– Mẹ cha chúng mày, đánh cật lực vào cho chết mẹ nó đi.
Mặc dù chúng đang trong cơn giận dữ mới phải dùng tới roi vọt, nhưng những câu chửi rủa cay nghiệt của bà đối với bọn con nít vẫn khiến con trai con gái không khỏi ngỡ ngàng. Lâu dần thì chúng cũng quen, mặc kệ bà muốn nói gì thì nói.
Có vài đứa con đi làm xa nhà, nghèo khó chứ không khấm khá gì, vậy nhưng tháng nào chưa kịp gửi tiền về cho mẹ đều bị bà mắng té tát như hắt nước vào mặt:
– Chúng mày cóc gửi tiền về nuôi tao à ? Cái loại mất dạy.
Và còn nhiều lần thậm tệ hơn nữa. Bà hơn thua với cả con cháu trong nhà, chứ chưa nói tới người ngoài.
Nghèo khó là vậy, nhưng bà Ích lại bỏ một đống tiền đi hầu đồng bóng, bị ma nhập quỷ dựa mấy lần rồi nhảy múa lung tung như người điên, rồi cũng chẳng thấy khá lên chỗ nào, chỉ thấy tốn thêm một khoản. Hồi đó bà không tin Phật, chẳng biết và cũng chẳng quan tâm Nhân quả báo ứng là cái gì.
Báo ứng
Bao nhiêu tham lam, sân hận, si mê, tà kiến, bao nhiêu ác niệm, khẩu nghiệp, sát nghiệp nặng nề lớp này đến lớp khác chồng chất lên vai một người đàn bà tần tảo – một mình gồng gánh nuôi 17 đứa con. Nỗi bất hạnh và sự vất vả ấy đã khiến bà Ích gần như quên đi mất nhân phẩm của chính mình.
Người ta bảo mất cái này được cái khác, thế nhưng cuộc đời dường như chưa khi nào mỉm cười với người đàn bà này. Trong suốt 41 năm cuộc đời, bà Ích đi lại khó khăn do mắc bệnh viêm khớp chân. Căn bệnh này là biến chứng của một lần tai biến khi sinh nở.
Chưa hết, tột cùng của sự đau khổ khiến bà Ích luôn nghĩ về cái chết, chính là chứng bệnh lắc đầu. Một ngày, không rõ nguyên nhân, đầu bà đột nhiên lắc đi lắc lại, lắc bên này rồi lắc sang bên kia, hệt như một cái đồng hồ quả lắc, cứ như vậy không kể ngày đêm, kéo dài suốt mười mấy năm trời. Một khoảng thời gian dài đằng đẵng như vậy, đến đồng hồ còn phải hết pin, cần bảo dưỡng, chứ huống hồ là con người, chịu sao nổi.
Bà Ích chịu đựng bao nhiêu sự đau khổ, nhưng có lẽ đây là nỗi thống khổ nhất từ trước đến giờ. Với một cái đầu lắc liên tục, bà không thể ăn uống sinh hoạt bình thường, thân khổ đã đành, tâm can bà cũng vì thế bức bách khó chịu, chỉ muốn chết quách đi cho xong.
– Mẹ cha cái đầu, sống thế này sống để làm gì nữa? – Bà Ích vừa lắc đầu liên tục vừa nói.
Hàng xóm láng giềng không ai không biết tới cái đầu lắc của bà, đồn nhau tại bà sát sinh động vật ghê rợn quá nên chiêu cảm quả báo khốn khổ như vậy. Bà biết vậy thì chửi đổng chu chéo cả làng cả xóm, nhìn thấy ai bà cũng ghét, cũng chỉ muốn gây sự.
Khỏi bệnh kinh niên
Bà Ích đi khắp nơi, hết bệnh viện này đến bệnh viện khác nhưng chẳng đâu tìm ra nguyên nhân mà cũng không có cách gì chữa được. Một hôm, có bà bác xuống chơi, thương đứa cháu quá mới mách:
– Mày lên Tịnh Thất Quan Âm của thầy Thích Giác Nhàn niệm Phật xem có hết bệnh không. Chứ trông mày khổ quá, đến tao nhìn mày lắc thôi mà còn chóng hết cả mặt.
Tuy cái đầu lắc đau đớn, Bà Ích vẫn rướn người, gào lên vang cả nhà:
– Ôi giời, lên đấy niệm Phật thì ở mẹ nó nhà mà niệm cho xong. Niệm cho chết luôn đi. Cháu chán sống lắm rồi.
Cả ngày không lao động được, chỉ nằm dài xem phim trong phòng, xem hết các thể loại phim từ sáng sớm cho tới tối khuya, xem tới mức độ phát chán. Ngán quá rồi mà không ngủ được, quay đi ngó lại cũng chẳng biết làm gì, bà Ích đành nghe lời bà bác ngồi niệm Phật giết thời gian, mà cũng để mong cho chết quách đi cho xong chuyện.
Lúc đó đồng hồ điểm 1 giờ sáng, bà mới đem một cái chiếu cói nhỏ trải trước hình tượng Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát, ban đầu định quỳ nhưng khớp chân nó kêu đau đớn quá, nên bà chỉ ngồi bình thường mà niệm: “Nam Mô A Di Đà Phật”.
Mới đầu thì uể oải, niệm câu được câu mất, bứt rứt khó chịu trong người. Nhưng một lúc sau thuần thục hơn, bà được đà niệm riết tới tận 10 giờ trưa ngày hôm sau quên ăn quên ngủ.
Bà ngồi lâu đến nỗi chân tay cứng đờ không cử động được. Tới 11 giờ trưa, bà mới có thể nhúc nhích người, vội đi nấu nồi cháo ăn tạm cho đỡ đói. Ăn xong bà vào giường nằm cho đỡ mệt, bà vừa nằm vừa niệm Phật tiếp đến khi thiếp đi. Khi tỉnh dậy, bà Ích thoạt nhiên thấy thân tâm nhẹ nhõm, một cảm giác đã quá lâu rồi bà không được trải qua.
“Mà sao tự dưng có gì đó là lạ nhỉ?” – bà Ích tự hỏi trong lòng và chợt nhận ra cái đầu của bà đang nằm yên trên gối. Bà không tin, đưa hai tay lên ôm đầu, thử rờ rờ xem có lắc nữa không? Rồi bà reo lên:
– Ơ! Nó không lắc nữa. Nó không lắc nữa thật rồi.
Bà Ích vừa hô vừa cười tươi như hoa, một nụ cười rạng rỡ hiếm hoi trong suốt mấy chục năm cuộc đời. Vậy là cuối cùng sau hơn mười mấy năm trời, cái đầu bà đã được yên ổn như mọi người. Bà niệm Phật để mong chết, ai ngờ đâu chẳng chết, bệnh lại khỏi mới kì diệu làm sao.
Thấy bà Ích khỏi bệnh, mọi người xung quanh ngạc nhiên liền hỏi han:
– Ô hay nhỉ, hôm nay đầu bà không bị lắc nữa à? Bà chữa kiểu gì thế?
Không hằn học như mọi ngày, bà tươi cười nói:
– Tao niệm Phật nên hết lắc đầu rồi.
Nhưng mọi người không ai tin, tưởng bà Ích giấu diếm, tự uống thuốc gì rồi không chịu nói ra.
Căn bệnh lắc đầu đã đeo bám bà quá lâu, nên dù khỏi bệnh, nó vẫn cứ ám ảnh, khiến bà sợ hãi nó sẽ quay trở lại hành hạ mình. Vì vậy bà ngày ngày vẫn tiếp tục niệm Phật từ 6 giờ tối liên tục tới 11 giờ đêm không ngừng nghỉ, ngày này qua tháng khác không bỏ ngày nào. Quả là một sự siêng năng hơn hẳn nhiều Phật tử lâu năm khác.
Nhớ tới lời khuyên của bà bác, bà Ích lò dò tìm lên Tịnh Thất Quan Âm trên Lâm Đồng để niệm Phật cùng đại chúng. Tuy chăm chỉ niệm Phật vượt trội hơn các Phật tử khác, nhưng tính khí nóng nảy cộc cằn vẫn chưa thuyên giảm. Tất cả mọi người xung quanh đều lánh xa bà, chẳng ai muốn làm thân.
– Thầy ơi, thầy đừng cho bà này lên đây, bà ấy lên có khi phá tan cái đạo tràng này mất. – một phật tử nói với thầy Thích Giác Nhàn.
Tuy vậy, thầy vẫn bình tĩnh ngồi lại hỏi han, nói chuyện, giảng giải cho bà nghe về nhân quả, Phật Pháp. Nhờ đó bà Ích hiểu ra những đau khổ, cay đắng mình phải chịu đựng trong cuộc đời này đều do ác nghiệp trong quá khứ chiêu cảm, nhất là nghiệp sát sinh nặng nề khi xưa. Hóa ra trước kia hàng xóm láng giềng nói bà bị quả báo do sát sinh, mở quán nhậu lại là sự thật. Ấy vậy mà bà cứ chửi rủa người ta.
Sau vài tháng nhất tâm niệm Phật, căn bệnh khớp chân của bà cũng khỏi, không cần điều trị hay uống một viên thuốc nào. Nếu trước kia phải có người dìu bà mới lên được tới Tịnh Thất thì nay bà có thể tự đi lại được. Chỉ trong vài tháng, bà Ích tự mình nỗ lực niệm Phật chữa lành những căn bệnh nan y ám ảnh bà cả cuộc đời. Đúng là chỉ có Phật Pháp mới có thể giúp bà như vậy.
Bà Trần Thị Ích chia sẻ lại câu chuyện niệm Phật khỏi bệnh kinh niên
Thay tâm đổi tính
Thời gian trôi qua, Bà Ích đã trở lại cuộc sống sinh hoạt bình thường cùng với con cháu, ăn uống đi lại như bao người khác. Thi thoảng các con bà vẫn dùng roi vọt với bọn con nít trong nhà. Nhìn thấy cảnh tượng ấy, bà nói:
– Có gì con từ từ dạy bảo nó. Đừng đánh nữa tội nghiệp.
Con gái bà tròn xoe mắt đáp:
– Ủa, dạo gần đây mẹ lạ nhỉ? Trước mẹ toàn rủa con đánh chết nó đi mà. Giờ tự nhiên cứ hiền hiền, không giống mẹ bình thường.
– Chả là tao thì là ai? – Bà Ích trả lời
– Làm sao mà mẹ lại thay đổi bất ngờ thế?
– Do tao niệm Phật đấy, mày cũng niệm Phật đi. Mà mới đẻ đừng có giết gà ăn nữa. Muốn tẩm bổ thì niệm Phật là khỏe hết.
Chẳng hiểu từ khi nào, bà Ích lại biết thương xót mạng sống của mấy con gà, đâu có như trước giết đủ các loại sinh vật không ghê tay. Còn con gái bà nghe mẹ nói vậy thì vẫn hoài nghi, mặc dù đã chứng kiến mẹ mình khỏi bệnh nhờ niệm Phật.
Chẳng những các con bà thấy lạ, mà người ngoài cũng ngạc nhiên khi thấy tính khí bà Ích đợt này khác hẳn. Không còn khuôn mặt hằm hằm, chỉ trực “ăn tươi nuốt sống” những ai đụng tới mình, giờ đây bà luôn cảm thấy vui vẻ an lạc, không còn ghét ai hay thù hận cuộc đời. Ngay cả với người chồng đã khuất, suốt bao năm nay bà không hề thờ ông, thì giờ bà đã buông xuống những oán hận, biết thương cho số phận yểu mệnh của chồng, chịu lập ban thờ cho ông tại nhà để hương khói.
Một người chị gái hỏi bà tại sao bà có thể thay đổi quá nhiều như vậy. Bà trả lời do bà niệm Phật. Đi đâu bà cũng bảo người ta niệm Phật, dù họ có tin hay không.
– Bà hay thật đấy! – người chị cảm thán.
Đúng vậy. Bà Ích hay thật. Và Phật Pháp cũng thật sự không thể nghĩ bàn. Câu hồng danh “Nam Mô A Di Đà Phật” có thể giúp bà xoay chuyển cuộc đời, chuyển hóa cả thân tâm một cách vi diệu. Từ một kẻ tham lam, sân hận, si mê, tà kiến, sát sinh, bi quan, bệnh tật … trở thành một người hiền lành khỏe mạnh, buông ác hành thiện, lạc quan vui vẻ, niệm Phật tu hành.
Dần dần chứng kiến sự thay đổi ngày một nhiều và tốt lên thấy rõ, mọi người xung quanh hay con cháu trong nhà cuối cùng cũng phải công nhận bà Ích có được ngày hôm nay là nhờ Phật Pháp.
Bà niệm Phật mỗi ngày 5 tiếng đồng hồ liên tục trong niềm an lạc hoan hỷ, không biết mệt mỏi. Bà nói với đại chúng trong pháp hội tại Tịnh Thất Quan Âm: “79 năm qua chỉ toàn là đau khổ, đến nay biết niệm Phật tôi mới cảm nhận được sự sung sướng nhất trong đời.”
Một lòng tin tưởng Phật Pháp và câu hồng danh “Nam Mô A Di Đà Phật”, bà Ích nguyện nương theo Tam Bảo y giáo phụng hành hết kiếp này, cũng như vô tận kiếp sau. Đó là chìa khóa, mở ra niềm hạnh phúc chân thật trong cuộc đời. Không chỉ thế, khi bà đã hiểu ra, và niệm Phật để nguyện vãng sinh Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, tín – nguyện – hạnh đầy đủ, đó sẽ còn là con đường đưa bà thoát hẳn khổ đau của muôn kiếp luân hồi.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của bà Trần Thị Ích)
Mong muốn được mọi người khen ngợi, coi trọng luôn là một nhu cầu thiết yếu trong tâm hồn mỗi người. Ngược lại, nhận sự chê bai, công kích, coi thường từ mọi người, lại khiến tâm sầu muộn, khó chịu vô cùng.
Một vị thiền sư dạo bước trên sân chùa, gặp một người phụ nữ đến vãn cảnh. Vốn cô thường hay đến chùa, có chút quen biết nên thiền sư chào hỏi với cô vài câu. Quan sát một lúc vị thiền sư nói với cô ta:
– Hôm nay cô trang điểm rất đẹp, gương mặt nhìn thật dễ thương.
Cô ấy rạng rỡ hẳn lên:
– Thật thế ạ ? Vui quá. Cảm ơn thầy.
– Ấy nhưng bộ đồ cô mặc trông quê mùa quá. Với lại giọng cười nghe hơi vô duyên.
Mặt cô ta biến sắc, từ đang tươi tắn bỗng tối sầm lại. Cô quay sang chỗ khác, không nói gì thêm. Chờ một lát sau, thiền sư lại hỏi:
– Nghe tôi chê thế, cô có thấy buồn không ?
– Vâng. Có buồn thưa thầy.
– Thế lúc tôi khen, cô thấy vui chứ ?
– Dạ, có, lúc đó thì rất vui.
– Vậy cô thấy có vấn đề gì không hợp lý không ?
– Uhm… dạ, vấn đề gì ạ? – cô gái lộ vẻ băn khoăn.
Vị thiền sư ung dung mỉm cười và nói:
– Cuộc sống của cô, vui hay buồn không do cô tự quyết định, lại để một người ngoài như tôi, dễ dàng thao túng chỉ bằng cách uốn ba tấc lưỡi. Muốn cô vui, tôi khen một câu. Muốn cô sầu khổ, tôi chê một câu. Vui buồn sướng khổ của cuộc đời mình, lại phụ thuộc trong tay người khác, thậm chí chỉ là những người xa lạ, tùy ý điều khiển với mấy câu khen chê. Thế chẳng phải bất hợp lý hay sao ?
Cô gái đăm chiêu một lúc, rồi như chợt tỉnh ra, vái tạ vị thiền sư một cách cung kính.
Khen và chê, sự đề cao và khinh bỉ đến từ mọi người, vốn là những điều tất yếu mỗi người chúng ta sẽ gặp trong cuộc đời. Ngay kẻ bất tài, hèn mọn, hay xấu xa thế nào thì cũng có lúc được ai đó khen ngợi. Ngược lại, đến tận những bậc Thánh nhân vĩ đại của nhân loại, như chúa Jesus, như Đức Phật Thích Ca, các Ngài vẫn thường xuyên bị người đời phỉ báng, chửi rủa thậm tệ.
Qua đó ta thấy được, lời khen chê và sự thật vốn không phải lúc nào cũng đi cùng nhau, thậm chí là cách xa nhau. Vì người ta biết được rằng khen thì sẽ lấy được thiện cảm của người khác, còn chê bai, chỉ trích sẽ khiến người nghe buồn khổ. Mà công cụ này thì luôn sẵn có trên miệng mỗi người, nào có tốn tiền mua.
Thế nên người đời khi cần lấy lòng, hay khi cao hứng thường khen bất chấp, không quan tâm khen có đúng sự thật không, lời khen sẽ có kết quả về sau như thế nào. Đến khi không ưa ai, muốn họ phiền não, thì dùng đến chê bai, chửi bới, làm công cụ hành hạ tâm can người họ không ưa.
Đời là thế, thế nhân là thế, hôm nay có thể dùng miệng tung hô ai đó đến tận mây xanh, hôm sau lại chính cái miệng đấy dìm họ xuống vực thẳm, xưa nay đời vẫn vậy không có chi lạ.
Người có trí tuệ, nhìn thấu bản chất của khen và chê, vốn chỉ là âm thanh phát ra do thanh quản kết hợp với môi, lưỡi, ý nghĩ vọng tưởng trong đầu, nhiều khi chẳng ăn khớp gì với sự thật. Từ đó không còn quan trọng lời khen tiếng chê của thế nhân, nhất là của những người không có trình độ hiểu biết, hoặc những kẻ không thành thật, nói lời không tôn trọng sự thật. Nghe khen không mừng, nghe chê không phiền muộn, chỉ đơn giản nhìn lại xem sự thật có đúng vậy không, nếu đúng thì rút kinh nghiệm. Nhờ đó tâm được thanh thản, ung dung trước rừng miệng lưỡi thế gian.
ĐƯỢC – MẤT
Đi qua một cuộc đời, mỗi người chúng ta thông qua nỗ lực, hoặc may mắn, đều có ĐƯỢC nhiều thứ: tài sản, thanh danh, quyền lực, tình cảm, người thân, mối quan hệ.v.v… nhưng rồi những thứ đó đến một ngày lại MẤT đi, để lại những tiếc nuối, sầu khổ.
Thời Đức Phật, có một người phụ nữ tên Kisa Gotami, cô sinh được một đứa con trai và cảm thấy vui sướng vô vàn. Hàng ngày cô hết mực yêu thương chiều chuộng con, chăm bẵm từng chút một. Bỗng một ngày con trai cô mắc bệnh rồi chết. Kisa đau đớn đến gần như điên loạn, cô không chịu an táng con trai, mà khăng khăng nghĩ rằng sẽ có cách để nó tỉnh lại.
Cô bế xác con tìm đến Đức Phật vì nghe nói Ngài có thần thông quảng đại, khẩn thiết xin Đức Phật cứu. Đức Phật nói với Kisa hãy tìm một gia đình xưa nay không có người chết, xin họ vài hạt cải đem về đây, Đức Phật sẽ làm phép cứu cho con trai cô sống lại.
Nghe thế Kisa mừng rỡ vô cùng, vội lật đật đi xin hạt cải. Cô tìm đến nhà đầu tiên, hỏi họ rằng gia đình họ xưa nay từng có người chết không, họ lắc đầu. Cô tiếp tục qua nhà khác, đi hết làng trên xóm dưới, kiên trì hỏi lần lượt từng nhà, nhưng không hề có gia đình nào chưa từng có ai chết cả. Không nản, cô tiếp tục đi khắp hang cùng ngõ tận dò hỏi.
Vất vả suốt ngày dài, hỏi đến nhà nào cũng đều có người chết, không con cháu chết thì cha mẹ, ông bà chết, không vợ chết thì chồng chết, không anh chết thì em chết… dần dần Kisa chợt tỉnh ngộ: cái chết là một điều hiển nhiên, nó sẽ đến với tất cả mọi người, không thể khác.
Cô bình tĩnh lại, không đi tìm hạt cải nữa, mà gạt dòng lệ, đem xác con trai an táng trong rừng Thi Lâm, rồi quay về gặp Đức Phật xin xuất gia học Đạo, không bao lâu chứng quả vị A La Hán.
Khi đối diện với mất mát, người ta thường tập trung tìm lí do, vì sao lại phải chịu mất mát như vậy ? Làm thế nào để có được lại ? Hiếm ai có thể nhìn ra rằng, có thể có vô số lí do dẫn đến sự mất mát, xong bất kể lí do nào đi nữa, sự mất mát vẫn luôn diễn ra. Đó chính là quy luật VÔ THƯỜNG của vạn vật: Không gì tồn tại mãi, có sinh thì phải có diệt, có được thì phải có mất.
Khi được thì dĩ nhiên rất vui. Nhưng đó cũng là chỗ để tham đắm nổi lên, bám chấp vào thứ mình có được, mở đường cho những sai lầm. Và rồi không gì có thể cản đường sức phá hủy của quy luật Vô thường, có được rồi thì đến một ngày sẽ phải có mất, nếu không mất bằng cách này thì cũng mất bằng cách khác.
Đến khi đối mặt với mất mát thì thân tâm sầu khổ, than trời trách người, dằn vặt vì lí do này lí do kia chứ không chịu chấp nhận rằng mất mát chính là kết cục mà vũ trụ đã định sẵn ngay từ lúc được.
Muốn không đau khổ vì sự thất thường lúc được lúc mất trong cuộc đời, bạn hãy suy nghiệm để thấu suốt quy luật VÔ THƯỜNG : “Được rồi ắt có ngày phải mất”. Nhờ thế nên khi có được điều gì đó, tâm bớt đắm luyến vào cái mình được, đến khi nó mất đi, vì bất cứ lí do gì, tâm ta sẽ bình thản đón nhận.
(Quang Tử)
Thanh bước vào chuồng, đưa mắt nhìn con heo đang đi đi lại lại vòng quanh chuồng, dáng vẻ thấp thỏm, sợ hãi. Cũng phải thôi. Chắc nó đã chứng kiến mấy con hôm trước còn trong chuồng, thoáng chốc bị anh lôi đi, rồi sau đó là những tiếng kêu xé màn đêm hãi hùng, và đoán được chuyện gì xảy ra.
Không quan tâm, sợ hay không cũng thế thôi, Thanh mở cửa chuồng, đưa tay tóm lấy đuôi heo kéo mạnh nó ra. Con này nặng, lại phản kháng dữ dội khiến Thanh hơi vất vả. Nhưng bằng kinh nghiệm nhiều năm làm nghề, đó chỉ là chuyện nhỏ.
Thanh với tay lấy cái móc kim loại được thiết kế riêng, thọc một nhát vào họng nó. Con heo ré lên tiếng thất thanh, máu bắt đầu chảy ra từ cổ họng, giãy giụa, đau đớn, bốn chân không yên, ghì chặt xuống nền đất không muốn đi, nhưng vẫn phải chấp nhận bị Thanh lôi xềnh xệch mà không làm gì được.
Thanh dùng sức giữ và đập vào đầu nó thật mạnh, nhanh tay lấy cái thau nhựa đã được chuẩn bị sẵn để bên cạnh, rồi dùng con dao bầu nhọn hoắt rạch một đường sắc lẹm từ giữa họng đi xuống. Tiếp đến, anh thọc dao vào tim nó nhưng không trúng.
Lúc này máu của con heo tuy đã chảy lênh láng thành dòng ồ ạt nhưng nó vẫn chưa chết. Mặc dù máu me đầm đìa, da thịt bị thọc chỗ này, xẻ chỗ kia, nó vẫn không đầu hàng số phận, lê lết một cách tuyệt vọng vòng vòng quanh lò mổ muốn trốn chạy. Nhưng biết chạy đi đâu? Trông dáng vẻ bi thảm như thây ma và đôi mắt lừ đừ của nó, đến một tay đồ tể lão luyện như Thanh cũng có chút rùng mình.
Rồi thì con heo cũng gục xuống. Chỉ một lát sau, đôi tay thuần thục của Thanh đã phanh thây, rã thịt, cạo lông sạch sẽ, lọc từng bộ phận riêng rẽ rồi rửa sạch, gói gọn vào từng chiếc túi nilon, thắt lại đưa ông chú đem ra chợ bán. Còn túi mật heo tươi, nghe người ta nói bổ dưỡng lắm, anh khéo cắt nó ra ăn tươi nuốt sống. Mà anh thật ra cũng chả biết nó có bổ thật không?
Tên đầy đủ cha mẹ đặt cho anh là Trần Ngọc Thanh, sinh năm 1971, ngụ tại đường 30/4, phường 12, thành phố Vũng Tàu. Năm 19 tuổi, ba đưa anh về ở bên nhà nội. Và cũng từ ngày đó, anh bắt đầu mổ heo thuê cho ông chú chuyên bán thịt ngoài chợ cho tới năm 31 tuổi.
Ròng rã suốt 12 năm trời, đêm nào Thanh cũng mổ trung bình 4 đến 5 con heo. Riêng dịp tết, do nhu cầu tăng đột biến, số lượng heo anh mổ vượt trội gấp rất nhiều lần. Tuy tiền công mổ thuê cũng chẳng được mấy, thế nhưng sau giờ làm, Thanh đi chơi suốt, chìm đắm vào bài bạc, bi-a, gái gú.
Nhiều khi tự bản thân anh cũng thấy đời mình chẳng đâu vào đâu, không có mục đích sống rõ ràng. Thực tình anh không ham thích gì công việc mổ heo, và cũng chẳng biết đó là nghề bất thiện. Anh làm chỉ đơn thuần vì đó là công việc kiếm miếng cơm manh áo, thế thôi, chứ anh chẳng lường được những hậu quả sau này mình sẽ phải gánh chịu.
Quả báo
Sau hơn chục năm trong nghề, bệnh tật bất ngờ ập đến. Trong cơ thể Thanh xuất hiện rất nhiều khối u to, nổi hẳn lên ở dưới cánh tay và bụng, trông lồi lồi lõm lõm nhìn rất ghê. Sờ bằng tay cũng đếm sơ sơ gần 50 khối u, thật đáng sợ. Những khối u đó ngày đêm đau nhức, khiến cơ thể Thanh bứt rứt, khó chịu, đứng ngồi không yên, vô cùng mệt mỏi.
Chẳng những thế, anh mắc chứng đau đầu, đau một cách dữ dội như muốn nổ tung.
– Chắc anh chết mất em ơi. – Thanh vừa ôm đầu, hai mắt nhắm nghiền, hai hàm răng xít lại, vừa rên rỉ nói với vợ.
Trong cơn đau đớn cùng cực, Thanh bất giác nghĩ đến dáng vẻ của những con heo đã bị anh tàn sát, rồi nghĩ đến tình cảnh hiện tại của bản thân cũng thê thảm không kém. Đôi tay Thanh đã gieo rắc không biết bao nhiêu đau đớn cho dòng tộc loài heo. Anh nợ chúng không biết bao nhiêu máu, không biết bao nhiêu mạng. Nỗi đau chúng đã phải chịu đựng, giờ đây chính anh cũng đang bắt đầu từ từ nếm trải, nào có khác gì.
Đằng nào cũng ốm bệnh, lại chẳng tha thiết gì với nghề đồ tể. Bất chấp sự khó khăn về kinh tế sẽ phải đối mặt, Thanh quyết định từ bỏ công việc này, chuyển sang làm lái xe từ năm 2002, chấm dứt chuỗi ngày tháng sát sinh không ghê tay. Vừa đi làm tranh thủ kiếm thêm vài đồng, vừa tìm cách chữa bệnh, hoàn cảnh này thật không dễ dàng gì với một người đang ốm yếu.
Thanh bắt đầu tìm đến các bệnh viện. Đầu tiên, anh tới bệnh viện ở Bà Rịa, nhưng các bác sỹ nói không thể trị được những khối u này. Thanh lại mò mẫm khăn gói lên bệnh viện Ung Bướu thành phố Hồ Chí Minh, cũng nhận được câu trả lời không khác.
Nếu phẫu thuật cắt bỏ các khối u, sợ rằng nó sẽ phát tán khắp nơi trong cơ thể, đến lúc đó càng nguy hiểm hơn nhiều. Rồi Thanh lại tìm qua bệnh viện Nhiệt Đới và phát hiện thêm căn bệnh viêm Gan siêu vi B, khiến anh càng thêm suy sụp. Thanh bi quan, thở dài nói với vợ.
– Em à, cơ thể anh đau đớn, mệt mỏi, đi đâu người ta cũng nói không chữa được. Đời anh vậy là xong rồi.
– Tây y không chữa được, thì mình vái tứ phương. Đến nước này rồi, ở đâu có cách thì mình thử. Anh đừng bỏ cuộc. – Vợ anh động viên.
Thanh cố gắng gượng, xốc lại tinh thần, tìm xuống Trà Vinh cắt thuốc nam, đồng thời chịu khó tẩm bổ thân thể bằng đủ loại thịt thà cá mú, gà, bò, heo v.v… Món gì anh cũng ăn, với hy vọng cơ thể được cung cấp nhiều chất dinh dưỡng nhất có thể.
Ngày này qua tháng khác, xác thuốc sau khi sắc xong đổ ra vườn nhà đã chất thành đống, mà bệnh tình vẫn không có chuyển biến. Thanh nghĩ rằng cuộc đời mình đến đây có lẽ đã sắp tàn. Anh hoang mang, sợ hãi nghĩ về cái chết ngày một gần hơn.
Hành trình cứu rỗi
Vào một buổi sáng đẹp trời, cô Liên Thành mà anh quen biết mở quán cơm chay, dù mệt mỏi đau đớn, Thanh vẫn cố gắng tới ủng hộ cô ngày khai trương. Vừa ăn Thanh vừa nghe văng vẳng tiếng giảng Pháp của thầy Thích Giác Nhàn trên tivi do quán bật. Từ trước đến nay, Thanh đâu có để ý tới Phật Pháp, vậy mà không hiểu sao hôm nay nghe thầy giảng anh cảm thấy rất hay. Thầy khuyên người ăn chay, tụng kinh, niệm Phật, tránh dữ làm lành. Từng câu từng lời làm tâm trí anh rung động.
Thanh nghĩ:
“Bảo sao ngày trước mình uống thuốc nam mãi mà sức khỏe chẳng có tiến triển gì. Tẩm bổ bằng máu thịt chúng sinh mà đòi bản thân khỏe mạnh thì cũng vô lý thật.”
Trong nội tâm anh đột nhiên có một sự chuyển biến mạnh mẽ, thôi thúc anh cần phải thay đổi. Nghĩ là làm ngay. Thanh về nhà bắt đầu tập ăn chay một tháng 4 ngày rồi từ từ tăng dần lên. Thầy dạy gì anh đều làm cả. Anh đi phóng sinh, lạy Phật, niệm Phật, tụng kinh Vô Lượng Thọ, … chỉ mong sao khỏi bệnh là anh mừng lắm rồi.
Vợ Thanh mở một quán nước nhỏ ở bến xe Hoa Mai, Bà Rịa, nên sau Thanh chuyển sang chạy xe ôm ở bến xe đó. Anh chăm chỉ niệm Phật, vừa chạy xe chở khách, miệng vừa lâm râm niệm Phật cả ngày. Dù cơ thể yếu ớt, Thanh kiên trì lạy Phật 120 lạy mỗi ngày vào buổi sáng sớm. Hôm nào bận quá mới giảm xuống 90 hoặc 60 lạy là thấp nhất. Ban đầu lạy Phật rất khó khăn và đau mỏi, nhưng chỉ mất khoảng thời gian đầu, sau càng lạy anh lại càng khỏe hơn.
-Em ơi, nghe thầy Thích Giác Nhàn giảng hay quá, thôi anh phát nguyện ăn chay trường. – Thanh nói với vợ một cách quả quyết.
Thấy ý chí và sự tinh tấn của chồng, vợ anh dù chẳng biết thế nào nhưng vẫn đồng tình ủng hộ, quyết định ăn chay và đi phóng sinh theo chồng để anh có động lực chữa bệnh.
Kì diệu thay, bệnh tật cũng dần thuyên giảm theo thời gian, sức khỏe của Thanh dần tốt lên mà không cần uống thuốc hay can thiệp điều trị. Sau 2 năm tu tập miệt mài, một hôm Thanh qua bệnh viện Nhiệt Đới khám lại thì được bác sĩ cho biết: con siêu vi B đã nằm im không phát tác. Mấy chục cái u ở tay và bụng cũng tiêu nhỏ lại và biến mất dần. Sự đau đớn cũng giảm đi đáng kể đến 80%. Đặc biệt căn bệnh nhức đầu bay biến từ lúc nào chẳng hay.
Thanh từ viện trở về nhà, trong lòng khấp khởi hạnh phúc, khoe với vợ, với mọi người trong gia đình. Phật Pháp đã giúp gia đình Thanh có một cuộc sống mới. Vợ anh khi trước còn bán tín bán nghi, thì nay niềm tin Phật Pháp trong cô đã trở nên vững chãi. Nhân quả không hề sai chạy, làm việc ác sẽ phải chịu quả báo ác. Nếu Thanh không kịp thời sám hối thay đổi như vậy, thì nỗi thống khổ anh phải chịu đựng sẽ còn khủng khiếp hơn bội phần ở những kiếp sống sau.
Anh Trần Ngọc Thanh chia sẻ lại câu chuyện đời mình
Từ một người đồ tể giết heo phải chịu quả báo bệnh tật, nhờ ánh sáng Phật Pháp, Thanh không những tự cứu được mình, anh còn nhận ra con đường chân chính cho cuộc đời. Thế gian này vốn là một biển khổ, sống chết nối nhau kiếp này sang kiếp khác nếm hết khổ này đến khổ khác, mãi như vậy có ích gì ?
Qua lời Phật dạy, Thanh đã nhìn thấu, nên anh nguyện từ nay cho đến hết kiếp, một lòng tu hành nguyện vãng sinh về thế giới Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà để được giải thoát, mãi mãi an vui. Phật Pháp không chỉ cứu chữa cho thân bệnh, mà còn cứu rỗi linh hồn của Thanh, kiếp này cũng như muôn kiếp về sau.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Trần Ngọc Thanh)
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Nguyễn Vinh Quang, Nguyễn Huy Hoàng )
Trong bộ quần áo xộc xệch, Quang ngáp ngắn ngáp dài, tròng mắt sụp xuống, đưa tay lên gãi gãi hai bên mép, tóp tép cái miệng giống như đang thèm thuồng một thứ gì đó. Nhìn bộ dạng Quang, mẹ anh giật mình, bà tiến lại gần lay lay đôi vai gầy guộc của con, nói trong sợ hãi:
– Trông mày nghi lắm Quang ạ, đừng nói với mẹ là mày dính vào ma túy như thằng anh cả đấy nhé. Thằng anh mày nghiện đã đủ làm tao khốn khổ lắm rồi.
Không thấy Quang nói gì, nhưng mẹ anh nhìn dáng vẻ này thì chắc chắn là nó đã nghiện. Lạ gì chứ! Trông nó khác nào thằng anh nó lúc lên cơn thèm thuốc đâu. Tuy Quang không mở miệng nói ra nhưng sự im lặng đã ngầm trả lời cho nghi vấn của người mẹ. Và chính cái bộ dạng này lại càng khẳng định điều đó thêm lần nữa.
Trời về sẩm tối, người mẹ ngồi sụp xuống góc nhà, ánh mắt thẫn thờ như người vô hồn, tâm can trống rỗng. Bà dường như mơ hồ nhìn thấy tương lai trước mắt thật mịt mù của gia đình mình.
Nhà Quang có ba anh em, Quang sinh năm 1972, tên đầy đủ là Nguyễn Vinh Quang, là con thứ hai. Anh cả thì nghiện hút từ lâu, giờ lại đến lượt Quang, không biết bao giờ thì đến lượt Hoàng- đứa em út nữa. Bố Quang làm thợ cắt tóc, mẹ anh là công nhân nhà máy thảm len. Gia đình họ sống trong một căn nhà nhỏ ở quận Ngô Quyền, Hải Phòng.
Ở cái đất cảng này, bao năm qua nạn hút chích hoành hành, bao thanh niên đang tuổi học tuổi làm rủ rê nối nhau sa vào con đường nghiện ngập. Không khó để bắt gặp những thanh niên vật vờ ngồi gốc cây cột điện. Khắp các con ngõ nhỏ, nhà vắng, rồi công viên ghế đá la liệt những ống kim tiêm bị các “con nghiện” bỏ lại. Người dân ám ảnh đến mức hễ thấy cậu nào gầy gò môi thâm, da tái nhợt, mắt lờ đờ là tránh xa. Còn các bậc phụ huynh thì nơm nớp lo sợ con em mình bị rủ rê hút chích.
Bố mẹ Quang cũng vậy, nhưng vì còn mải kiếm cơm áo gạo tiền khiến họ không thể nào sát sao con cái suốt ngày. Và giờ thì điều ông bà lo nhất cũng đã xảy ra.
Đến năm 1996, sắp xếp được công việc ổn thỏa, mẹ Quang quyết định đưa anh vào Sài Gòn, tham gia chương trình uống thuốc cai nghiện Methadone. Trớ trêu khi trở về, anh nghiện luôn cả thuốc cai mà ma túy thì vẫn không bỏ được.
Hàng ngày, mẹ Quang tích được đồng nào đều bị anh lấy đi đồng nấy. Nếu không để con lấy đi hút chích thì nó cũng không cho gia đình này được yên. Lúc thì đe dọa, khi thì nói dối quanh co, vòng vo, ngọt nhạt, cốt để moi được tiền.
Nhìn mẹ khóc quá nhiều, có những hôm thấy bà sưng húp cả hai mắt, Quang day dứt, cũng nhiều lần muốn bỏ, nhưng bỏ ma túy đâu phải chuyện dễ dàng. Nếu dễ thì đã không có nhiều người phải chết dưới tay nó như vậy.
Ngày tháng trôi đi, rồi cũng đến lượt Hoàng, tên đầy đủ là Nguyễn Huy Hoàng – đứa con trai út cũng nối gót hai anh đi vào con đường nghiện ngập.
Mà có phần khác với các ông anh, Hoàng gan lớn hơn, khi nghề hớt tóc của gia đình không kiếm đủ tiền hút chích, thì cậu gia nhập cùng đám bạn đi cướp giật. Quần thảo khắp hang cùng ngõ hẻm trên địa bàn thành phố, mỗi tối Hoàng cùng đồng bọn cũng cướp giật được vài triệu, đều đem đi hút chích cả.
Hôm đó, Hoàng và một tên khác chở nhau trên chiếc xe máy phân phối lớn, trên đường đi tên đồng bọn nhắm được một “con mồi” ngon liền nói với Hoàng:
– Mày thấy chiếc xe máy kia không? Bà ấy đang đeo túi xách bên hông, tao phóng lên là mày xử gọn nhé.
Hoàng ngước mắt nhìn lên thấy một người phụ nữ đèo đứa bé gái đằng sau, nom đứa bé đó còn nhỏ, chỉ chạc tuổi cháu mình. Hoàng đắn đo giây lát rồi trả lời:
– Đàn bà tay yếu, lại đèo trẻ con, thôi tha cho nó. Tao mà giật một cái thì đảm bảo tai nạn, rồi con bé con kia biết sẽ như thế nào? Nó chỉ bé như đứa cháu tao thôi. Tội nghiệp bỏ mẹ.
– Ơ hay thằng này, mày đi cướp mà mày còn nói chuyện đạo đức nữa à? – tên đồng bọn bực mình đáp trả.
Sau vụ đó hai người cãi nhau một trận to, rồi Hoàng cũng không đi cướp nữa. Anh bỏ học từ năm lớp 7, chơi bời lêu lổng, gia nhập giang hồ, hết cướp giật rồi sau đến làm bảo kê cho một động gái điếm, thậm chí nếu có người thuê, cũng lấn sang đâm thuê chém mướn luôn.
Thế nhưng trong sâu thẳm trái tim một con người hung hãn, đâu đó vẫn còn le lói chút ít ánh sáng của tình người. Anh đôi khi cũng còn biết nghĩ đến cha mẹ. Hồi đi cướp, thi thoảng Hoàng có dư chút tiền, anh nhiều lần chần chừ muốn đưa chúng cho mẹ, nhưng cuối cùng lại không dám, vì biết đó là những đồng tiền bất chính do ăn cướp mà có.
Vào một ngày …
Người ta thấy công an từ đâu ập tới nhà Hoàng, còng tay anh ngay tại chỗ, khiến người mẹ tá hỏa. Bản án 4 năm tù giam tại trại giam Ngọc Lý tỉnh Bắc Giang dành cho tội trộm cướp tài sản làm mẹ Hoàng khóc cạn nước mắt. Bươn chải cuộc sống đã vô cùng mệt mỏi, lại có 3 người con trai đều nghiện ma túy, đứa út đi tù, với người mẹ, địa ngục chính ở nơi này chứ chẳng ở đâu xa.
Những con người ấy, tuy đang ở tận đáy cùng của cuộc đời, nhưng họ đều biết cần phải thay đổi hoàn cảnh, chỉ là họ chưa biết làm thế nào và có làm được hay không? Cuộc chiến cai nghiện ma túy chưa bao giờ đơn giản đối với bất kì một người nghiện nào.
Quang thật lòng muốn bỏ ma túy, ấy vậy mà nó chẳng tha cho anh. Mỗi khi lên cơn thèm thuốc thì mọi lý trí đều tan biến sạch sẽ. Quang ngẫm nghĩ nhiều lần, cuối cùng nghĩ ra cách “lập gia đình” để cai nghiện. Anh tin tưởng trách nhiệm của một người chồng người cha sẽ giúp bản thân có động lực từ bỏ thuốc phiện.
Ngoài cái vẻ lờ đờ của một con nghiện mỗi khi thèm thuốc, những lúc bình thường Quang cũng có nét bảnh trai, lại cộng thêm cái giọng ngọt như mía lùi, Quang không khó để tìm cho mình một người bạn đời.
Quả đúng như anh dự đoán, mới lập gia đình, Quang vô cùng hào hứng phấn khởi, ý chí cai nghiện để xây dựng tổ ấm hạnh phúc cao vun vút. Thế nhưng hôn nhân chỉ giúp anh được một năm, rồi đâu lại vào đấy, ma túy tiếp tục mời gọi anh thành công. Chuỗi ngày khốn khó ập đến tổ ấm nhỏ, vợ Quang làm công việc gội đầu trên chợ Ga kiếm tiền lo cho con, Quang cũng làm hớt tóc kèm thêm nghề tay trái ăn cắp, đánh bạc … nhưng là để kiếm tiền lo thuốc phiện.
Vợ anh suy sụp, xác định chẳng nhờ vả gì được ở người chồng nghiện ngập. Ngoài thời gian đi làm, cô thường lui tới chùa lạy Phật. Giống mẹ chồng, đối với cô lúc này chỉ có Tam Bảo là nơi nương tựa duy nhất. Ngày nào cô cũng công phu tu tập, trì chú hai thời sáng tối hồi hướng cho chồng sớm thoát khỏi ma túy.
Về phần mẹ Quang, trên căn gác xép, mỗi sáng bà đều lên đó, ngồi trước ban thờ tụng kinh niệm Phật hồi hướng công đức cho ba đứa con trai. Dù chúng có bất hiếu thế nào thì chúng vẫn là những đứa con bà đau đớn dứt ruột đẻ ra.
Quang nhìn mẹ mình ngày một già yếu, lưng bắt đầu khòm xuống, da dẻ nhăn nheo, ánh mắt u sầu khắc khổ. Anh thực sự muốn báo hiếu để bù đắp cho bà những năm tháng cuối đời. Nhưng nhìn lại cái thân tàn ma dại này, anh chẳng biết lấy gì để báo hiếu. Nghĩ về tổ ấm nhỏ, Quang tự trách mình đã không làm tốt trách nhiệm người chồng người cha, còn trở thành gánh nặng cho vợ con. Những suy nghĩ ấy cứ quanh quẩn trong đầu, thôi thúc Quang nhất định phải cai nghiện.
Một buổi chiều mùa hè, hai vợ chồng ngồi bên mâm cơm, vợ Quang bật đĩa giảng kinh Vô Lượng Thọ của thầy Thích Giác Nhàn, vừa ăn vừa tranh thủ nghe. Mọi hôm Quang chẳng bao giờ đoái hoài mỗi khi vợ tụng kinh, nghe Pháp. Anh chẳng hiểu và cũng chẳng mảy may quan tâm. Vậy mà lần này chẳng hiểu sao từng lời từng chữ đều lọt vào tai anh, gây ấn tượng vô cùng mạnh mẽ.
“Người niệm Phật sẽ được Phật gia trì. Câu vạn đức hồng danh như là viên minh châu giúp người ngu trở thành kẻ sáng”
Ồ! Câu niệm Phật thật sự vi diệu như thế sao? Quang tò mò, tìm đọc kinh Vô Lượng Thọ. Từng lời kinh như đánh thức tâm hồn Quang. Kể từ hôm đó, anh thường xuyên tụng kinh cùng vợ, đọc thêm các sách Phật Pháp, ngộ ra được nhiều điều từ trước đến nay chưa bao giờ biết tới.
Vậy là Quang bắt đầu niệm Phật mỗi ngày.
– Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô A Di Đà Phật …
Cứ thế Quang niệm Phật từ sáng tới tối, kể cả lúc đạp xe, đi bộ, đi làm… Nhiều khi anh vừa đi đường vừa niệm ra tiếng rất to khiến cả phố ngước nhìn.
Quang bỏ dần thuốc cai nghiện, chỉ dùng câu Phật hiệu làm chỗ nương tựa. Mỗi lần lên cơn thèm thuốc phiện, anh lăn lóc vật vã trên giường, trên sàn, tay vịn chỗ này, bấu chỗ kia, miệng không ngừng niệm Phật để áp đảo cơn nghiện. Nhiều lúc Quang bứt rứt không chịu nổi, muốn chạy ra khỏi phòng để phi đi tìm ma túy, nhưng nhờ nghị lực và ý chí dũng mãnh khiến anh tiếp tục cố gắng niệm Phật.
Nhờ đọc kinh, Quang hiểu thay vì nhớ thuốc phiện, nay ta nhớ Phật, thay vì niệm niệm nghĩ đến thuốc phiện, nay niệm niệm trong tâm là hồng danh Phật. Chỉ đơn giản vậy thôi nhưng không phải ai cũng hiểu, không phải ai cũng tin tưởng. Ấy vậy mà Quang đã làm được.
Sau nhiều lần chiến đấu với cơn nghiện bằng câu niệm Phật chân thành, Quang đã cai nghiện thành công ngoài sức tưởng tượng của tất cả người thân. Cả vợ và mẹ Quang vỡ òa hạnh phúc. Nỗ lực hồi hướng công đức của họ đã giúp Quang sớm kết duyên với Phật Pháp và có được kết quả tốt đẹp như họ đã cầu mong.
Tự bản thân trải nghiệm sự nhiệm màu của Phật Pháp, Quang bắt đầu đi chùa, quyết định ăn chay trường, tham gia các việc Phật sự như trợ niệm cho người lâm chung và nhiều việc khác.
Nhiều năm thấm thoắt trôi qua, người con cả trong nhà đã chết vì ma túy, còn Hoàng, cậu con út đã ra tù, xong vẫn chưa cai nghiện được. Nhiều lần Quang bảo Hoàng niệm Phật, nhưng cậu em vẫn không tin anh mình cai được nhờ tu tập Phật Pháp. Thậm chí mỗi khi thấy anh tụng kinh, Hoàng đều cho rằng anh mình không bình thường.
Tuy vậy, Quang chẳng bỏ cuộc, anh thường xuyên rủ Hoàng đi chùa, khéo léo kể cho em nghe những việc người thật việc thật xảy ra trong quá trình anh đi hộ niệm. Dần dần, Hoàng cũng phát tâm tìm hiểu và thực hành theo anh trai.
Như thường lệ, mẹ Hoàng vẫn miệt mài tụng kinh niệm Phật mỗi buổi sáng. Điều khác lạ là hôm ấy, thay vì đi tìm thuốc phiện, Hoàng lò dò lên ban thờ cùng mẹ. Cậu nằm ở đó vừa vật vã với cơn nghiện, lăn lộn bên này bên kia, vừa nghe mẹ niệm Phật. Trong đầu văng vẳng tiếng niệm Phật không dứt, rồi dần dần ngủ lúc nào chẳng hay.
Thật sao? Một kẻ đang lên cơn nghiện thì làm sao ngủ được ? Đó là chuyện bình thường không thể xảy ra. Ấy thế mà Hoàng đã ngủ được, rồi cơn thèm thuốc cũng từ đó biến mất. Cứ kiên trì mãi như vậy nhiều ngày, cũng khổ sở vật vã vô cùng, nhiều lúc tưởng không kiềm chế nổi, nhưng kết quả cuối cùng cũng giống anh mình. Hoàng đã cai nghiện thành công.
– Niệm Phật vi diệu thật đấy anh! Trước em cứ nghĩ anh nói đùa. Em cứ tưởng cuộc đời mình thế này là nát tươm rồi chứ. Ai ngờ đâu lại có ngày hôm nay. – Hoàng nhìn anh trai, nhiệt thành thổ lộ.
Lúc này, niềm tin Phật Pháp trong Hoàng càng thêm vững chắc, được ươm mầm bằng chính trải nghiệm của bản thân. Chẳng cần anh trai khuyên bảo, tự Hoàng quyết định chuyển sang ăn chay và tham gia vào ban hộ niệm chùa Đỏ.
Hai anh em cai nghiện thành công nhờ niệm Phật
Từ hai “con nghiện” ma túy nhiều năm, nhờ câu “Nam Mô A Di Đà Phật” bất khả tư nghì, hai anh em đã bước ra khỏi cánh cửa tử thần. Bình minh đã hé lộ sau màn đêm tăm tối bao trùm cuộc đời Quang và Hoàng, cùng cả gia đình họ. Niềm tin Phật Pháp của mẹ và vợ Quang nay càng thêm vững chắc. Không ai có thể tin được từ một gia đình tan nát như thế giờ đây trở thành một gia đình Phật tử, ăn chay niệm Phật, lánh dữ làm lành. Họ nguyện sống hết cuộc đời này bằng tâm thế mới, một lòng nguyện cầu vãng sinh Cực Lạc.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Nguyễn Vinh Quang và Nguyễn Huy Hoàng)
Đoan thở một hơi thật sâu, mồ hôi đẫm hai bên tóc mai chưa ráo, lấy đà ngồi dậy. Chẳng hiểu vì sao mấy ngày hôm nay thắt lưng em đau dữ dội, đi đứng nằm ngồi đều đau đớn, phải lấy tay vịn vào chỗ thắt lưng đỡ xương sống, hết cong mình ưỡn ra rồi lòng khòng cúi xuống, vặn vẹo bên này bên kia vẫn thấy vô cùng khó chịu, ê mỏi.
Thấy con gái vận động khó khăn như người già, mẹ Đoan cất tiếng:
– Ai bảo con chơi thể thao nhiều như vậy, nên giờ mới đau thắt lưng. Sau chơi vừa phải thôi nghe chưa.
Ban đầu Đoan cũng tin do mình chơi thể thao quá sức nên bị đau. Nhưng vài ngày sau, lòng bàn chân và các ngón chân, lan dần cả hai bàn chân đều tê bì không rõ nguyên nhân. Em bước từng bước một chậm rãi và đau đớn mới có thể di chuyển được. Đoan hoảng hốt, tại sao trông mình giống một cô bé tật nguyền như thế này?
Cô Huỳnh Thị Anh Dao (Pháp danh Diệu Quang) – dì của Đoan – vừa trở về từ nước Úc xa xôi, thấy cháu mình đang khỏe mạnh tự dưng trông như người tàn phế, ngay cả việc đi vệ sinh cá nhân cũng rất khó khăn. Nhìn những bước đi khập khiễng lết từng chút một của Đoan khiến dì không thể nào ngồi yên một chỗ. Cô nói với chị gái:
– Để em đưa Đoan đi chụp MRI (cộng hưởng từ) để xem con bị làm sao.
Mẹ Đoan thở dài gật đầu nói:
– Ừ chắc phải đưa nó đi chụp thôi. Do chị tiếc tiền nên cứ chần chừ.
Ngay sáng hôm sau, dì Dao gạt hết mọi công chuyện riêng, đưa Đoan qua bệnh viện Hồng Đức chụp chiếu, thì ngã ngửa với kết quả bác sĩ thông báo.
“Bệnh nhân Nguyễn Huỳnh Anh Đoan 19 tuổi ở đường số 12, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Tp. Hồ Chí Minh phát hiện có 4 khối u đóng ổ hoại tử.”
Theo như bác sĩ chuẩn đoán thì Đoan cần thực hiện một ca mổ lấy bướu, nếu để bướu lớn hơn nữa chèn vào dây thần kinh sẽ khiến em bị liệt vĩnh viễn, mất hẳn khả năng đi lại.
Bệnh viện đã kết luận như vậy, gia đình cũng thống nhất để Đoan phẫu thuật. Trong phòng mổ, bác sĩ bất ngờ phát hiện đốt xương sống số 8 và số 10 của Đoan bị mẻ, riêng đốt số 9 bị vỡ hoàn toàn do cục u bướu ăn mòn đốt sống. Do vậy họ phải gắn một cái nẹp kim loại để hỗ trợ xương sống. Còn phần u đã lấy ra được mang đi xét nghiệm.
Trong khi Đoan còn nằm ở phòng hồi sức, bác sĩ nhẹ nhàng gọi mẹ Đoan và dì Dao vào phòng khám nói chuyện riêng. Ngồi đối diện với người nhà bệnh nhân, bác sĩ có chút e ngại đẩy tờ phiếu kết quả xét nghiệm ra trước mặt họ rồi nói:
– Hai cô xem đi, những khối u trong người cháu Đoan là u ác tính. Chính xác nó là ung thư tủy sống, đã sang giai đoạn di căn. Mạng sống của cháu chỉ có thể kéo dài 6 tháng nữa, không thể hơn. Chúng tôi đã bóc tách 4 khối u đó ra khỏi cơ thể Đoan và nẹp xương sống cho cháu thay cho những đốt sống bị vỡ mẻ, hy vọng cháu có thể đi lại được một chút. Nhưng căn bệnh này cuối cùng cũng không thể chữa trị được đâu. Gia đình nên chuẩn bị tinh thần.
Nhìn tờ phiếu kết quả, dì Dao bàng hoàng, còn mẹ của Đoan thì khóc ngất, người bà run rẩy, ngồi không vững, ngỡ ngàng trước hiện thực xảy ra với đứa con gái bé bỏng. Nội dung tờ kết quả ám ảnh tâm trí họ, đánh dấu một chặng đường gian nan vất vả giành giật lại sự sống cho Đoan từ tay thần chết.
Em còn rất trẻ, năm nay đang học lớp 12, chuẩn bị thi đại học. Một tương lai còn đang chờ đón em. Mẹ Đoan nghĩ về con, gục đầu vào vai dì Dao, không ngừng rơi nước mắt. Là một người mẹ, nhẽ nào ngồi không nhìn con mình chết. Nhưng mẹ Đoan yếu đuối, trước “án tử hình” của con gái, mẹ Đoan chỉ biết khóc, đầu óc giờ đã u mê, không nghĩ được gì hết.
– Có cách nào không hả Dao? Chị phải làm sao? – Mẹ Đoan hỏi dì trong vô vọng.
Dì Dao lấy lại bình tĩnh, ngẫm nghĩ một hồi rồi trả lời:
– Không được để cho Đoan biết về bệnh tật của mình. Giờ chị em ta cứ đi tìm bác sỹ giỏi nhất chữa trị cho cháu. Còn nước còn tát. Dù tốn kém bao nhiêu cũng phải cố gắng. Đừng tiếc tiền. Chị cũng phải nhất tâm niệm Phật để hồi hướng công đức cho Đoan tai qua nạn khỏi. Chỉ có Phật Bồ Tát mới cứu được cháu lúc này.
Mặc dù từ trước đến nay ngoài dì Dao, cả nhà Đoan chẳng ai tin theo Phật Pháp. Đối với mẹ Đoan, chỉ có cơm áo gạo tiền mới là những thứ thiết thực, còn tu tập chỉ dành cho các ông già bà cả rảnh rỗi không có việc gì làm. Nhưng trong hoàn cảnh bất lực như hiện tại, thì dù là phương pháp đông tây kim cổ gì, miễn sao có tia hy vọng cứu con, mẹ Đoan cũng chấp nhận hết.
Trở về nhà sau ca phẫu thuật, sức khỏe Đoan yếu đi trông thấy, đi không đi được, ngồi không ngồi được, nằm cũng chẳng yên. Cơ thể em bứt rứt khó chịu như muốn phát điên vì chẳng một tư thế nào khiến em an ổn. Muốn đi lại cần phải có người khiêng em mới di chuyển được. Đoan không biết căn bệnh của mình nguy hiểm đến mức nào mà bản thân lại ra nông nỗi này. Đây có lẽ là sự đau đớn kinh khủng nhất với Đoan trong suốt 19 năm qua.
Tối hôm đó, dì Dao hướng dẫn chị gái lập một ban thờ Quán Thế Âm Bồ Tát ở ngay giữa sân nhà. Dù ngày hay đêm, đèn nhang vẫn thắp liên tục không tắt. Hễ có thời gian là hai chị em bảo nhau ra trước ban thờ trì chú niệm Phật. Mỗi tối hai chị em đều đặn lạy 108 lạy. Tuy mẹ Đoan chưa có sự am hiểu gì nhiều về Phật Pháp, nhưng được dì Dao truyền đạt, nên bà cũng hết lòng làm theo. Bằng tình yêu thương của người mẹ người dì đối với Đoan, họ trì niệm trong sự cung kính và tha thiết.
Ở trong nhà, Đoan nghe lời dì, cố gắng gạt bỏ cơn đau, hổn hển từng hơi, lầm rầm trì niệm từ 3 đến 7 biến chú Đại Bi mỗi tối trước khi đi ngủ. Sức em yếu, được như vậy là đã rất cố gắng rồi.
Một tuần như thế trôi qua, phổi của Đoan bất ngờ bị tràn dịch, không thể làm được việc gì ngoài thở thoi thóp từng hồi. Nhìn Đoan như con cá mắc cạn đang cố hít lấy từng ngụm không khí. Em không thể ăn được, sống tạm qua ngày bằng chút sữa. Đoan hổn hển, nói từng từ ngắt quãng:
– Dì Dao … ơi … cứu con.
Nghe từng từ cháu gái nói, lòng dì quặn thắt đau đớn không kể xiết chẳng khác gì mẹ Đoan. Dì Dao ôm cháu vào lòng, an ủi:
– Con phải nghe lời dì, chịu khó niệm Phật, trì chú Đại Bi. Quán Thế Âm Bồ Tát Ngài sẽ gia hộ cho con.
Dì Dao ban ngày vẫn miệt mài rong ruổi khắp nơi tìm thầy thuốc giỏi, có mối quan hệ nào có thể nhờ vả cô đều tìm đến. Vừa buồn vừa mệt, nhưng nghĩ đến đứa cháu đang nằm chờ chết, cô quyết tâm tìm được người chữa cho cháu. Một hôm, dì Dao chạy qua bệnh viện Việt Pháp nhưng họ từ chối điều trị, chỉ cô qua bệnh viện Thái Lan. Dì lại liên hệ qua Thái Lan trình bày về tình hình của Đoan, gửi các thông tin khám bệnh sang cho họ, chờ câu trả lời của họ trong ba ngày nữa.
Suốt ba ngày đó, dì Dao lo lắng sốt ruột cộng thêm chút hy vọng le lói, cô lui tới chùa, hướng tới ban thờ Quan Âm lạy Bồ Tát thật nhiều và trì chú Đại Bi, dì Dao quỳ sát đất, hướng đôi mắt lên tôn tượng Ngài nói:
“Dù cho chị con, anh rể con, cháu con trong vô lượng kiếp đã tạo tội gì, con xin hồi hướng tất cả những phước lành con làm được cho cháu Đoan được khỏi bệnh. Con xin hai chai nước suối và trái táo trên ban cho Đoan dùng, mong Ngài gia hộ.”
Dì Dao sau đó phát tâm đem 2 tấn gạo biếu tặng cho người nghèo, vừa để giúp họ qua cơn đói, cũng là để hồi hướng công đức cho Đoan.
Tối hôm đó trở về nhà, dì Dao dặn Đoan uống hết hai chai nước suối và ăn táo, hết lòng tin tưởng vào Phật Pháp. Đoan sau khi uống nước và ăn trái táo xong thì một lúc sau thấy người nóng ran lên, toàn thân như lửa đốt hừng hực, cảm giác khó chịu day dứt chỉ muốn chết quách đi cho xong. Đoan đang ngồi trên giường bỗng nhoài người ra khỏi mép giường, nôn thốc nôn tháo, ói ra một đống gì đó dài và bự như miếng thịt gà bị xé, rồi lác đác xung quanh là những hạt gì đó tròn và nhỏ như hột sương sa hạt lựu, có màu sắc rất rõ ràng: màu vàng, xanh nước biển và xanh nhạt.
Mẹ Đoan và dì Dao hết sức ngạc nhiên, hôm nay cháu không hề ăn thịt gà hay sương sa hạt lựu, mà tại sao những thứ cháu nôn ra lại kì lạ như thế? Nôn xong, Đoan ngồi lên nghỉ ngơi, tự nhiên cơ thể tỉnh táo, nhẹ nhàng như chưa hề bị bệnh.
Tới đêm thứ hai, khoảng 8 giờ tối, Đoan nằm yên tĩnh trên giường, bỗng từ đâu một luồng nước dội thẳng vào lưng. Cả tấm lưng em lạnh buốt thấu tận xương tủy. Đoan vội vàng quay ra đằng sau, tưởng mẹ đang hắt nước lên người mình, nhưng hóa ra mẹ cô chẳng làm gì cả. Ô vậy thì cái luồng nước kia là từ đâu ra? Ai đã làm? Và tại sao người em lại không hề bị ướt?
Cả hai mẹ con không thể hiểu nổi điều gì đang xảy ra. Một lúc sau, Đoan đi tiểu tiện, thì một cục máu trông như cục bướu to bằng quả trứng gà ào ra.
Tới đêm thứ ba, dì Dao và mẹ sau khi đọc kinh, đem nước cúng Phật ra xoa lên lưng Đoan. Mỗi lần đưa tay xoa nước lên lưng là Đoan cảm thấy xót như bị ai xát muối lên người. Sang sáng hôm sau, khi mặt trời hé rạng, Đoan tỉnh dậy, thấy bản thân khỏe mạnh, không thoi thóp như mọi ngày. Bản thân dì Dao hết sức tin tưởng, cho rằng những biểu hiện đó đều do sức gia trì của Phật Pháp.
Từ hôm liên hệ với bên Thái Lan, dì Dao lúc nào cũng để điện thoại bên người không rời, chờ cuộc gọi từ phía bệnh viện. Hôm nay đã là ngày thứ ba như được hẹn, dì nhận được cuộc gọi bệnh viện thông báo đưa cháu qua điều trị gấp, họ không hứa trước có thành công hay không, nhưng đối với gia đình đây cũng là một niềm hy vọng.
Sang tới Thái Lan, bệnh viện làm các thủ tục xét nghiệm lại cho Đoan để lên phác đồ điều trị. Lại một lần nữa, kết quả làm gia đình bất ngờ. Thông qua phiên dịch viên, bác sỹ thông báo hiện có 5 khối u trong cơ thể Đoan đang chèn ép phổi khiến cháu khó thở, nhưng chẳng có một tế bào ung thư nào trong người cháu cả, đó chỉ là những khối u lành tính. Thật kì lạ.
Cả gia đình Đoan vỡ òa hạnh phúc khi nghe kết luận. Họ chẳng thấy có gì là kì lạ, họ biết những nỗ lực tu tập, tích lũy công đức hồi hướng cho Đoan đã có kết quả, họ biết Phật Bồ Tát đã gia hộ, và Phật Pháp đã cứu sống Đoan từ tay tử thần.
Vậy là Đoan lên bàn mổ một lần nữa, làm cuộc phẫu thuật lấy khối u nhanh chóng trong vòng hơn 2 tiếng đồng hồ. Trở về nước, Đoan hoàn toàn hồi phục, có thể tập thể thao, bơi lội và sinh hoạt bình thường. Sau một thời gian vật lộn với bệnh tật, Đoan lại trở về với cuộc sống của một cô nữ sinh lớp 12 như các bạn cùng trang lứa.
Mẹ Đoan nhìn dì Dao nói:
– Dao dẫn chị và bé Đoan đi quy y Tam Bảo nhé.
Dì Dao mỉm cười, rơi những giọt nước mắt xúc động, trả lời:
– Tất nhiên rồi. Còn có gần 20 cô chú hàng xóm quanh nhà chứng kiến chuyện bé Đoan, cũng quy y Tam Bảo cả rồi đó chị ạ.
Ánh mắt mẹ Đoan nhìn xa xăm, thổ lộ với em gái:
– Không nhờ có dì, thì bé Đoan chẳng có ngày hôm nay. Không nhờ Phật Pháp thì giờ này chắc chị chẳng thiết sống nữa. Trước kia chị cứ tưởng bệnh tật hiểm nghèo sẽ chẳng bao giờ sờ tới gia đình mình, chị cứ nghĩ Phật Pháp là điều gì đó hư ảo, xa vời, chỉ dành cho những cụ già rảnh rỗi. Hóa ra chị đã quá sai lầm.
Kể từ đó về sau, hai mẹ con Đoan phát tâm ăn chay theo kì, trì chú niệm Phật mỗi ngày, thường xuyên làm các việc Phật sự làm lợi ích cho chúng sinh, một lòng hướng về Phật Pháp tỏ lòng biết ơn vô hạn.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Nguyễn Huỳnh Anh Đoan và Huỳnh Thị Anh Dao trong chương trình Quan Âm Cứu Khổ-Trở Về Từ Cửa Tử Thần)
Thời đại ngày nay, không khó để bắt gặp những cô gái trẻ ăn mặc hở hang thiếu vải, khoe khoang đường cong cơ thể trên đường phố, những hình ảnh mát mẻ kích dục lan tràn khắp các trang mạng xã hội. Rồi nam nữ quan hệ bừa bãi, lấy tình dục để làm món hàng trao đổi, dọn đường cho sự nghiệp tiền tài. Họ cho rằng đó là điều bình thường trong xã hội hiện đại, thể hiện sự phóng khoáng trong suy nghĩ của thế hệ mới.
Liệu rằng lối sống ấy có đem lại điều gì tốt đẹp cho họ ? Câu chuyện về cô gái trẻ Nguyễn Thị Ngọc Nhi sẽ cho chúng ta một góc nhìn chân thật từ người trong cuộc.
Nhi sinh năm 1992. Cô mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống với bà ngoại trong một căn nhà nhỏ bé cũ kĩ ở tỉnh An Giang. Vì chỉ có mình bà là lao động chính, nên kinh tế gia đình rất khó khăn. Thiếu vắng sự dạy dỗ của cha mẹ, lại phải chịu cảnh khổ cực ngay từ khi còn quá nhỏ, khiến một cô bé lớp 9 như Nhi nhìn đời bằng con mắt có phần lệch lạc và u ám.
Ngồi trong gian nhà nhỏ với ánh đèn leo lắt, bà ngoại vòng đôi tay gầy guộc nhăn nheo ôm lấy bờ vai nhỏ nhắn của Nhi, kéo nhẹ cháu tựa vào lòng thủ thỉ:
– Nhi cố gắng học giỏi, sau này đi làm kiếm tiền để tự chăm lo cho bản thân. Sức khỏe bà không còn như trước nữa, chả biết còn ở cạnh cháu được bao lâu.
Nhi tròn xoe mắt, chả hiểu sao hôm nay bà lại nói mấy lời này, nhưng Nhi chỉ là cô bé lớp 9, chẳng suy nghĩ được gì sâu xa, không nhận ra bà ngoại đã già, cũng sẽ tới lúc gần đất xa trời. Cô chỉ nghĩ chắc bà kiếm được ít tiền nên bảo cháu cố gắng kiếm tiền để phụ giúp bà. Thế là Nhi ngửa mặt lên, rướn đôi mày, đáp lại bà bằng cái giọng rất tự tin:
– Nghèo quá như thế này chán quá bà ạ. Bà lao động chân tay vất vả lại kiếm được ít tiền. Bà yên tâm. Cháu xinh đẹp thế này, lo gì không có công việc tốt, kiếm được nhiều tiền.
Bà Ngoại Nhi ngạc nhiên, khẽ nới lỏng vòng tay, nhìn vào đôi mắt của Nhi, rồi lại siết chặt một chút, ôm cô bé vào lòng nói:
– Sao cháu lại nghĩ như thế? Xinh đẹp là tốt, nhưng không phải yếu tố quan trọng nhất. Cháu cứ tập trung học tập cho giỏi, chịu khó học hỏi những điều hay trong cuộc sống. Sau này có tài năng thì làm gì cũng dễ dàng hơn.
Nhi nghe những lời bà nói như gió thoảng qua tai, bởi vì còn đang mải mê kiêu hãnh khi nghĩ về sự xinh đẹp của mình, và cũng bởi đầu óc của một đứa trẻ lớp 9 thực ra cũng chưa suy nghĩ được điều gì hơn. Nó chỉ biết bà vừa nói thế. Đơn giản vậy thôi.
Nhi vốn rất ham chơi, chuyện học hành với cô chỉ là thứ gì đó làm cho có. Cả làng cả xóm đều đi học, ừ thì mình cũng đi học. Chứ trong đầu cô chỉ quanh quẩn có đám bạn lêu lổng, cái nghèo và sự sung sướng âm thầm về vẻ đẹp ngoại hình của bản thân. Tuổi mới lớn mà, chúng đã biết về cơ thể và biết làm điệu. Riêng phần Nhi, tâm sinh lý của cô phát triển có phần lệch lạc hơn đám bạn cùng tuổi, Nhi thường có cảm giác đặc biệt muốn gần gũi với những đứa con trai xung quanh mình.
Ám ảnh vì cảnh nghèo khó, Nhi không thể chấp nhận mình cứ mãi nghèo đói rách nát như thế này. Cô bé cho rằng cần phải thay đổi điều gì đó, cần phải có nhiều tiền hơn. Nhi loay hoay, rồi chợt nghĩ:
“Hay là mình nghỉ học, đi làm kiếm tiền”.
Một suy nghĩ lóe lên trong đầu Nhi và cũng chính từ suy nghĩ đó, cuộc đời Nhi đột ngột chuyển sang một trang mới. Nhi tự ý bỏ học, trốn bà ngoại một mình lên Sài Gòn kiếm việc, mang theo hy vọng đổi đời.
Và thế là, Nhi chính thức “bước vào đời”.
Học vấn thì không có, kiến thức xã hội lại ít ỏi, Nhi hăm hở cho rằng chính sự xinh đẹp này là vốn tự thân sẽ giúp cô “lập nghiệp” trên thành phố. Nhi bắt đầu rong ruổi khắp các con đường tấp nập bon chen tại mảnh đất Sài Gòn, cuối cùng chọn cho mình một quán cà phê ở quận Gò Vấp để “khởi nghiệp” nghề tiếp viên. Quán cà phê chỉ là cái tên gọi cho sang, thực tế nó chính là một cái động điếm, buôn bán mại dâm.
Má mì vừa nhìn thấy Nhi, đưa mắt dạo quanh một vòng từ trên xuống dưới, bằng kinh nghiệm dạn dầy bao năm trong nghề, chỉ đảo mắt một vòng má mì nhận ra ngay Nhi là đứa con gái tiềm năng: mặt mũi xinh xắn, ngoại hình cân đối. Đặc biệt nhất là cái nét ngây ngô chỉ có ở những đứa mới vào nghề, đây chính là cái mà má mì muốn tìm kiếm, giúp động điếm của mình thêm mới mẻ.
Má mì lên tiếng chốt nhanh:
– Ok vào việc luôn đi.
Nghe thấy vậy, Nhi mừng rỡ cảm ơn “bà chủ” đã cho cô cơ hội đổi đời. Công việc của Nhi hàng ngày là “tiếp khách” và cố gắng moi được càng nhiều tiền càng tốt từ những người đàn ông tới đây. Với sự từng trải gần như là con số 0, Nhi ngây thơ cho rằng đây là công việc tốt, chẳng phải lao động cực nhọc, dùng vốn tự thân, vừa kiếm được tiền, lại được thỏa mãn đam mê dâm dục của cô. Thật là một công đôi ba việc.
Lịch trình công việc và cuộc sống của Nhi cứ thế lặp đi lặp lại mỗi ngày: ban sáng cô mò mẫm lên mạng xem phim đồi trụy, vừa để học hỏi “kĩ năng”, tiện thể thỏa mãn thú vui dâm dục nặng nề. Sáng Nhi thực hiện hành vi thủ dâm hai đến ba lần, vậy mà đến tối cô lại đều đều “đi khách” không biết mệt mỏi.
Cứ thế ròng rã bốn tháng trôi qua, Nhi mải mê công việc còn chẳng nhớ ở nhà đang có bà ngoại ngày đêm mong ngóng không biết đứa cháu gái của mình đã mất tăm mất tích ở đâu chẳng thấy về. Ước mơ đổi đời đã kéo Nhi đi mất hút.
Nhi đều đặn “qua tay” không biết bao nhiêu người đàn ông. Và rồi cũng chẳng thể tránh được mãi, Nhi phát hiện mình có bầu với một ông chú 34 tuổi. Suốt thời gian qua, vị khách này thường xuyên đến quán chỉ tìm Nhi mà không tìm ai khác. Hắn đã có vợ và hai cậu con trai. Nhi biết vậy nhưng vẫn có chút rung rinh trước sự quan tâm âu yếm của hắn đối với mình mỗi khi tới đây. Cũng dễ hiểu thôi. Bằng sự từng trải của mình, thật đơn giản để hắn chinh phục tâm hồn non nớt của một cô gái 16 tuổi.
Bốn tuần, năm tuần, rồi sáu tuần trôi qua, khi em bé trong bụng Nhi được sáu tuần tuổi, Nhi không còn thấy người đàn ông này xuất hiện nữa. Kể từ đó, ngày ngày cô đều mong ngóng nhưng kết quả là ông ta đã mất hút thật rồi. Địa chỉ nhà thì đương nhiên cô không biết, nhưng đến cả số điện thoại hắn cũng chưa bao giờ cho cô. Nhi bắt đầu nhận ra mình ngu thật.
Nhi hoang mang, không biết nên làm gì. Cô không dám kể cho má mì biết về cái thai trong bụng. Nhưng lâu ngày thì cũng không giấu được. Bà ta phát hiện ra chửi cô xối xả:
– Sao mày ngu thế ? Sơ hở thế nào mà lại để dính bầu ? Mày có biết cái nghề này kị nhất điều đó hay không ? Những thằng đàn ông tới đây thì có tốt đẹp gì, chúng nó đến chỉ vì thèm của lạ, chứ chúng nó có ngu đâu mà dại dột đâm đầu vào mấy đứa con gái chúng mày hả Nhi. Mày đang nằm mơ bắt con tưởng bở à ? Chúng nó sẽ vì mày mà bỏ vợ bỏ con chắc. Mày là ai trong cái xã hội này ? Tỉnh lại đi.
Nói xong má mì ép cô phá thai nhưng Nhi không chịu, thế là bà ta ra tay đánh Nhi thừa sống thiếu chết. Cứ thế bà nhằm bụng Nhi mà đánh, mà thúc, vì má mì mục đích chính là muốn phá bỏ cái thai đó đi, để Nhi có thể tiếp tục hành nghề kiếm tiền cho cái động điếm của mình.
Cuối cùng Nhi sẩy thai, máu đỏ tươi chảy ra, ướt đẫm chiếc quần đang mặc. Má mì sai người dìu Nhi vào phòng nghỉ ngơi. Cô thoi thóp nằm trên giường đến tận bốn ngày liền, tưởng mình không thể qua khỏi cơn nguy khốn. Ấy vậy mà tình trạng của cô may thay cũng tự lành.
Trong suốt mấy ngày đó, Nhi nghĩ đến lời má mì nói với cô. Ngẫm lại thì bà ấy nói không sai. Đúng là Nhi đang nằm mơ thật, cô tưởng bở thật. Cô tưởng mình rồi sẽ giàu sang, hạnh phúc nhờ công việc này, nhờ kiếm được người đàn ông vì yêu thích cơ thể cô mà đem lòng yêu cô. Thật là một tâm hồn non nớt khờ dại đáng thương.
Sáng sớm, những tia nắng yếu ớt bắt đầu len lỏi qua khung cửa sổ nhỏ bé soi rọi vào chiếc giường nơi Nhi đang nằm. Cô đã đỡ đau hơn, tỉnh táo lại một chút. Nhi thầm nghĩ:
“Phải rồi. Đây không thể là cái nghề giúp mình thoát khổ được. Mình phải bỏ cái nghề này đi thôi.”
Nghĩ là một chuyện, nhưng bỏ thế nào đây. Cá đã tự bơi vào lưới, nay muốn thoát ra đâu phải muốn mà được. Nhi bị chúng lừa kí vào giấy bán thân. Đã thế ở đất Sài Gòn này, cô đâu có rành rẽ thứ gì. Cả ngày chỉ quanh quẩn trong quán, chẳng ra bên ngoài, người thân thích cũng không có. Có đi đâu qua lại cũng do mấy tên bảo kê to cao ở quán chở đi rồi lại chở về. Cơ thể thì yếu ớt do vừa bị sẩy thai. Thân mình như vậy, Nhi đành cắn răng chịu đựng.
Thấm thoắt cũng gần hai năm trôi qua ở trong cái động điếm đó. Hành nghề nhiều, thân thể Nhi ngày một tiều tụy, héo mòn, thần thái tối tăm. Khuôn mặt xinh xắn của cô trở nên vô hồn.
Hễ có điều gì không vừa ý, là chúng lại dùng đòn roi với cô.
– Kêu mệt à ? Mỗi mình mày mệt chắc ? Lo mà vào phục vụ khách đi. Không thì tao cho về chầu Diêm Vương bây giờ.
Nói xong rồi, chúng giơ một chân lên cao đá bụp một phát vào mạng sườn, chúng dùng cùi chỏ tay giáng một đòn mạnh vào vai Nhi. Những tên bảo kê to lớn khỏe mạnh như thế, làm sao cô kháng cự nổi, chỉ có chấp nhận để chúng nó đánh đến khi nào chán thì thôi.
Những trận đòn như vậy dần dà ngày một nhiều, khiến cô bị khủng hoảng nghiêm trọng về tinh thần. Những vết sẹo cũng ngày một chi chít khắp cơ thể. Chẳng những vậy, Nhi cũng chẳng dành dụm được mấy. Làm được 80 ngàn thì má mì lấy mất 70 ngàn rồi còn đâu.
Trong đầu Nhi liên tục đắn đo:
“Tại sao mình vẫn còn ở đây? Đi hay là ở ? Ở đây cũng chết. Thà đi biết đâu còn có cơ hội sống sót.”
Phải đi thôi, Nhi nhận ra chỉ còn cách đó mới còn hy vọng sống. Chúng hung hãn và ranh ma lắm, cô mà trốn không kĩ, kiểu gì chúng cũng lùng sục tìm ra. Để chúng tìm ra thì xác định chỉ có con đường chết.
Niềm hy vọng được tiếp tục sống như một con người tự do bình thường trỗi dậy trong tâm can. Nhi bất chấp mọi nguy hiểm, liều một phen. Thừa lúc mấy tên bảo kê không để ý, cô lẻn ra khỏi cửa. Vừa đảo mắt nhìn xem có ai đuổi theo không, Nhi vừa chạy, hớt hơ hớt hải mãi mới ra được đường lớn, vẫy đại một chiếc xe khách rồi cô leo tọt lên.
Nhi trốn khỏi hẳn đất Sài Gòn, sang tới địa phận tỉnh Bình Dương, chứ không còn dám mon men ở đây nữa. Nhi sợ bọn chúng tìm thấy mình, cô sợ những trận đòn nhừ tử đã ám ảnh cô suốt bao tháng ngày không thể nào quên. Đối với Nhi, hai năm qua đã chôn vùi cả tuổi thanh xuân của mình.
Cô đã trốn thoát thành công khỏi má mì. Giờ đây Nhi được trở lại với cuộc sống tự do, chủ động quyết định mọi thứ, không còn là “nô lệ” trong động mại dâm nữa. Nhi thở phào nhẹ nhõm, nghĩ bụng sẽ chọn một công việc khác tốt hơn để làm lại cuộc đời.
Một công ty may mặc tại Bình Dương đang đăng tuyển công nhân, Nhi lập tức xin vào làm và thuê trọ gần công ty để ở. Vỏn vẹn được ba tháng, vì không chịu nổi công việc vất vả, khổ cực, cô lại khăn gói ra đi nhanh gọn.
Nhi tự nhủ:
“Ngày xưa mình làm tiếp viên cho quán, chịu sự sai bảo của bà chủ. Bao nhiêu tiền kiếm được cũng bị họ thâu tóm hết, còn bị đánh đập đòn roi. Nhưng giờ mình có thể một mình chủ động mọi việc, không còn bị ai kiểm soát nữa.”
Ngựa quen đường cũ. Đối với cô, “đi làm gái” vẫn là một công việc phù hợp. Cô quyết định trở lại con đường cũ, nhưng với một cách thức mới. Nhi không dại “đầu quân” cho một quán cà phê trá hình thêm lần nào nữa, mà tự mình sắp xếp công việc, lên kế hoạch “quảng cáo” bản thân để câu khách.
Tận dụng mạng xã hội phát triển, Nhi lập một tài khoản yahoo để tiện chat chít với cánh mày râu. Cô đi rải số điện thoại của mình ở khắp các trang web đen, thậm chí cô còn khoe khoang cơ thể trực tiếp trên livestream và chat sex. Có khách nào tiếp cận thì cô chụp hình cơ thể mình gửi cho họ, nếu ưng ý thì hẹn nhau ngày giờ. Công việc thường khá dễ dàng và nhanh gọn như vậy.
Khi màn đêm buông xuống, những ngọn đèn cao áp bật sáng lên, là lúc Nhi lên đường phục vụ khách. Nhi chọn những bộ quần áo mát mẻ giật mình. Nào quần soóc ngắn chỉ một gang tay, áo 2 dây khoét sâu tới nửa ngực, áo lót đương nhiên sẽ nằm yên trong tủ, khỏi cần mặc. Có như vậy mới kích thích cánh mày râu thèm thuồng. Rồi Nhi đứng chờ ở điểm hẹn, lên xe của khách đi tới nhà nghỉ, xong việc cô lại lên đường “làm việc” tiếp. Trung bình một đêm Nhi phục vụ tới ba, bốn người.
“Miệt mài” như vậy, rồi hạnh phúc có mỉm cười, tiền bạc có gõ cửa nhà Nhi hay không? Hôm đó, vừa “xong việc”, ra khỏi nhà nghỉ, “đối tác” nói với theo hỏi thăm cô như một lời chào, rồi phóng xe lao đi vun vút:
– Vui chứ cô em?
Vì người này đã là khách thứ 4 trong đêm nay, Nhi chẳng còn sức đâu mà trả lời. Dù sao đó cũng chỉ là câu hỏi cho có nên cô cũng chẳng thiết tha. Thế nhưng, trên quãng đường một mình trở về nhà trọ, trong lòng cô vẫn văng vẳng câu hỏi của anh ta.
Kể từ khi đắm chìm trong nhục dục thân xác mấy năm nay, thân thể Nhi giờ nhìn chẳng khác con ma đói là mấy. Da dẻ xanh rớt, tóc tai thì xác xơ, hai con mắt sâu hoắm đen kịt. Cân nặng sụt từ 50 kg xuống 36 kg. Dần dà khách cũng thưa dần vì chẳng còn khoái lạc gì với cơ thể gầy gò ốm nhách của Nhi nữa. Cái mà cô cho là “vốn tự thân” đã tan biến mất rồi.
Mỗi khi trở về nhà trọ sau khi hành nghề xong, Nhi nằm dài trên giường, khuôn mặt bơ phờ, mệt mỏi, ánh mắt đờ đẫn, hơi thở ngắn và nông, chẳng còn chút sinh lực. Nhi tự vấn trong lòng:
“Mình có vui không nhỉ? Dăm ba đồng tiêu nhoằng cái cũng hết. Sung sướng được tí thì sau đó mệt mỏi muốn chết. Thân thể sức khỏe thì bi đát thế này. Liệu mình có vui không? … Hình như chẳng vui chút nào.”
Thời gian thấm thoắt trôi đi, trong thời gian hành nghề, cô phá thai hơn bốn lần. Lần cuối cùng do sức khỏe quá yếu, bác sỹ không đồng ý để cô phá, vậy là Nhi đành sinh con ra sau đó bỏ luôn đứa con đỏ hỏn trong bệnh viện. Nhi vô cảm chẳng nghĩ đó là một mạng sống, là đứa con cô dứt ruột đẻ ra.
“Miệt mài” như vậy, rốt cuộc hạnh phúc không tới, mà giàu sang cũng chẳng thấy đâu. Chẳng ai thèm để ý yêu thương cô, ngoài mấy tên mày râu hay săm soi cơ thể, vui với nhau vài chục phút rồi biến mất hút chẳng mấy khi gặp lại.
Tưởng bỏ nhà ra đi để thay đổi cuộc đời, để tìm kiếm một cuộc sống sung sướng hơn. Nhưng suốt mấy năm qua rốt cuộc là một cuộc hành trình gian khổ hơn gấp bội. Nhi chợt nhận ra niềm hạnh phúc bình dị trong cái nghèo khó xưa kia khi còn sống với bà ngoại ở quê nhà. Phải rồi, Nhi muốn về nhà, về với bà của Nhi. Cô nhớ bà ngoại. Cô đã ấp ủ dự định đó trong lòng.
Vào một ngày tháng 9 năm 2016, trong một lần đang tắm rửa kỳ cọ cơ thể, Nhi phát hiện có một khối gì đó cứng cứng xuất hiện trong ngực mình. Lại cộng thêm sụt cân nhiều và cơ thể đau nhức thường xuyên. Nhi liền tới bệnh viện khám. Sau khi làm đủ các xét nghiệm, bác sỹ nhìn Nhi ái ngại hỏi:
– Cháu có đi cùng người thân không?
Nhi trả lời:
– Dạ không. Cháu đi một mình. Bác sỹ có gì cứ nói với cháu là được. Cháu không có người thân ở đây.
Bác sỹ nhìn cô gái trẻ với thân thể tiều tụy, lại sống một mình không ai thân thích bên cạnh, trầm ngâm một hồi rồi thở dài nói:
– Nếu vậy tôi nói luôn để cháu rõ. Cháu mắc bệnh giang mai và còn cả ung thư vú nữa. Ung thư tới thời kì 3 rồi. Tình hình không có gì khả quan cả.
Nghe tới đây, bỗng nhiên Nhi bật khóc nức nở ngay trước mặt bác sỹ. Cô cảm thấy số phận mình thật cay đắng. Cô bỏ học, trốn nhà lên thành phố tìm việc những mong cuộc đời sẽ nở hoa, thoát cảnh nghèo đói. Nhưng cuối cùng, cô lại mất tất cả.
Giờ đây đứng trước “án tử hình” đang treo trước mặt, Nhi không còn nghĩ được điều gì. Trên đường trở về từ bệnh viện, Nhi rảo bước ra thẳng hồ Đá ở làng Đại Học để tự kết liễu cuộc đời.
“Đằng nào cũng chết, chết sớm ngày nào đỡ khổ ngày đó. Mình cũng chẳng còn gì để mất cả.”
Nghĩ thế rồi, Nhi gieo mình xuống hồ. Nhưng thế quái nào mà muốn chết cũng không xong. Có mấy em sinh viên đang ở gần đó, thấy có người nhảy xuống liền lập tức lao xuống vớt Nhi lên. Tự tử không thành, Nhi đổi ý, tiếp nhận điều trị tại bệnh viện. Những năm tháng sau đó là những ngày Nhi sống trong bệnh viện với những đợt hóa trị đau đớn mệt mỏi. Cơ thể suy kiệt, tinh thần Nhi cũng suy sụp và đau khổ.
Nằm trên chiếc giường đơn trải ga màu trắng của bệnh viện, xung quanh toàn là dây dợ chằng chịt cùng những ống thuốc treo lơ lửng. Hóa ra cuộc đời cô kết thúc trong một khung cảnh như thế này. Mỗi khi nhắm mắt chìm vào giấc ngủ, Nhi lại thấy những tiếng kêu khóc, la hét, hình ảnh máu me của những đứa bé không còn rõ hình hài. Chúng chính là những đứa bé cô đã phá bỏ trước kia.
Sau tất cả mọi chuyện xảy ra, giờ đây Nhi đã biết mình sai, sai hoàn toàn. Kể từ cái ngày cô bỏ bà một mình ở quê lên thành phố là cô đã trượt dài trong những ngày tháng tăm tối nhất của cuộc đời. Sắc đẹp này đã bị Nhi sử dụng sai mục đích, vì vậy mà nó chẳng giúp cô được điều gì, thậm chí còn khiến cuộc đời cô tan nát như hiện tại. Bà Ngoại cô đã nói đúng. Xinh đẹp cũng tốt, nhưng chẳng phải điều quan trọng nhất. Giờ thì Nhi đã thấm thía rồi.
Cuối đời, Nhi ước nguyện được gặp bà lần cuối. Cô bỏ nhà ra đi bặt vô âm tín đã khoảng 6 năm chưa trở về. Bà năm nay đã 80 tuổi, chắc cũng không được sống an ổn vì đứa cháu gái duy nhất bỏ đi không nói một lời tạm biệt. Nhưng dự định đó, ước nguyện đó liệu có kịp thành hiện thực, thì Nhi cũng không chắc chắn.
Những ngày tháng cuối cùng, cô tìm đến cửa Phật để mong vớt vát lại một chút ánh sáng nào đó cho cuộc đời mình. Duyên lành đưa cô đến chùa Hoằng Pháp, được các thầy chỉ dạy về các Đức Phật, các vị Bồ Tát, về sự tu hành, về niềm vui của Đạo. Nhi hoan hỷ đón nhận và bắt đầu niệm Phật, ăn chay.
Nghe giảng pháp nhiều, Nhi đã nhận ra tội lỗi của mình. Lòng cô không ngớt nỗi ăn năn, day dứt về những năm tháng sa đọa mà chính mình đã bước chân vào. Nhiều lần cô quỳ lạy trước Phật, mắt ngấn lệ mà kể lể, mà sám hối trước đấng Từ Bi. Trong cô có một niềm tin chắc chắn rằng, Đức Phật đang lắng nghe từng lời cô nói, và Ngài sẽ bao dung cho cô, dù cô có tội lỗi nhiều thế nào. Cả một cuộc đời đi hết từ bi kịch này đến thảm kịch khác, đây lại là những giây phút yên bình hiếm hoi của Nhi.
Cũng chẳng còn sống bao lâu trên cõi đời này nữa, Nhi mong muốn làm một điều gì đó tốt đẹp cho những người ở lại. Nhưng cô thì làm gì có gì mà cho ai được. Đời cô bị báo ứng đến nước này, thân tàn ma dại, bệnh tật thoi thóp chỉ còn lại vài hơi tàn thì giúp gì được ai ?
Đúng rồi, chính là nó, chính cái cuộc đời Nhi là một minh chứng rõ ràng hơn hết về quả báo nhãn tiền. Từ những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến quyết định lao vào con đường tà dâm đủ thể loại, nào là ăn mặc hở hang, kích dục nam giới, nào là thủ dâm, bán dâm, phá thai… chỉ mấy năm quả báo bệnh tật, chết chóc đã ập đến, cuộc đời chấm dứt trong bế tắc.
Mà đâu chỉ có vậy, tà dâm là một trong những ác nghiệp lớn, gây ra hệ quả rất nặng nề. Những người tạo tội tà dâm không chỉ phải chịu báo ứng ngay hiện đời, mà còn phải chịu thống khổ khủng khiếp nơi địa ngục, súc sinh và nhiều kiếp sau nữa. Nhi đã lún sâu vào con đường này rồi, giờ nhìn ra đã muộn. Nhưng cô không muốn có thêm ai đi vào vết xe đổ này nữa.
Nhi lấy hết dũng khí, dẹp hết những ái ngại, xấu hổ sang một bên, cô cầm bút và viết lại cuộc đời mình, chẳng giấu diếm gì cả, cô dùng tên thật Nguyễn Thị Ngọc Nhi và kể lại hết mọi tội lỗi, mọi quả báo của mình, chân thật và rõ ràng.
Và khi bạn đọc được câu chuyện này của Phật tử Ngọc Nhi, có lẽ cô không còn trên cõi đời này nữa. Nhưng hi vọng tấm gương cô để lại, sẽ còn mãi để còn cảnh tỉnh cho những ai lầm lạc sớm mau quay đầu tỉnh ngộ.
(Tĩnh Như – dựa theo câu chuyện có thật của Nguyễn Thị Ngọc Nhi- Phật tử chùa Hoằng Pháp)
Sau khi làm đầy đủ các xét nghiệm cần thiết, bác sĩ cầm trên tay tập hồ sơ bệnh án, lặng lẽ đưa cho Thiện Căn, thở dài báo với gia đình:
– Cậu mắc ung thư máu giai đoạn cuối, chỉ còn sống 3 tháng thôi. Gia đình nên chuẩn bị tinh thần.
Một bầu không khí trầm mặc bao trùm tất cả. Ba mẹ Thiện Căn quay sang nhìn cậu mà nước mắt như muốn trào ra, còn chính cậu thì thấy như thế giới tối sầm lại trước mặt mình. Bác sĩ lặng lẽ rời đi để không phải chứng kiến thêm cảnh này, nhưng câu nói của ông thì vẫn còn văng vẳng lại trong tâm trí họ.
Chỉ còn ba tháng, thế là xong. Chỉ mới hơn hai mươi tuổi đầu, bao nhiêu ước mơ với đời còn đang vẫy gọi, bao nhiêu đam mê của tuổi trẻ chưa kịp thỏa chí vẫy vùng… Thế là giờ mọi thứ bay hơi cả, mọi cánh cửa tương lai đóng sầm ngay trước mắt. Cậu suy sụp. Cuộc đời đang thanh xuân phơi phới, cậu chưa kịp làm nên điều gì ý nghĩa, lớn lao, thì thần chết đã rung chuông báo hết giờ.
Cậu sinh ngày 5 tháng 5 năm 1987, là con trai trưởng trong một gia đình làm nghề buôn bán dụng cụ nông nghiệp tại Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang. Năm 2011, cậu có duyên lành được quy y Tam Bảo tại chùa Phước Linh, lấy pháp danh là Thiện Căn.
Cậu hiền lành, hiếu thảo với cha mẹ và thường xuyên giúp đỡ người nghèo. Học xong lớp 12, cậu không học tiếp lên đại học, ở nhà phụ giúp gia đình công việc kinh doanh, trông coi cửa hàng. Mặc dù kinh doanh ngành này lời lãi chẳng nhiều nhặn gì, xong mỗi khi thấy ai nghèo khổ, cậu chẳng những tặng luôn không lấy tiền, mà còn nhiệt tình xắn tay giúp đỡ họ. Ấy nhờ thế mà khách hàng rỉ tai nhau, cảm mến “ông chủ trẻ” tốt bụng mà ngày càng kéo đến ủng hộ nhiều hơn.
Mọi thứ đang trên đà tốt đẹp thì bất ngờ cậu phát hiện mình bị ung thư. Vào tháng 3 năm 2012, như bác sĩ thông báo, cậu chỉ sống được 3 tháng nữa.
Đứng trước cửa tử, Thiện Căn nhiều đêm trằn trọc trong nỗi hoang mang, sợ hãi. Hóa ra sinh mạng con người thật mong manh, bất thình lình thần chết đến gõ cửa, thì bất kể giàu nghèo, sang hèn, thủ tướng hay dân thường đều bất lực như nhau, nào đã có ai thoát được. Nào gia đình, nhà cửa, sự nghiệp và cả một tương lai sáng lạn, cậu tưởng mình có thể nắm giữ tất cả. Nhưng tới giờ phút này, cậu mới nhận ra mọi thứ trên đời bản chất chỉ như xây lâu đài cát, nay còn mai mất, khi cái chết đến sẽ chẳng đem theo được thứ gì.
Trước kia cậu cũng từng nghe người ta nói “cuộc sống vô thường”, nhưng chưa bao giờ nghĩ nhiều về nó. Chỉ khi thần chết gọi tên thì cậu mới chịu ngẫm nhiều về ý nghĩa của từ “vô thường”. Thì ra chẳng phải riêng mình cậu, tất cả mọi người xung quanh cậu, tất cả nhân loại này đều chỉ đang sống một kiếp sống tạm bợ. Ngay từ lúc mới sinh ra đã ấn định là phải chết, chỉ là ai đi trước, ai đi sau mà thôi. Thế nhưng đa số đều sống như là chẳng bao giờ chết vậy, mọi người lo sự nghiệp, lo tương lai, lo sức khỏe, lo kéo dài sự sống… lo đủ thứ trừ việc lo chết rồi sẽ thế nào.
Cha mẹ cậu cũng vậy, họ không đành lòng nhìn con mình cứ vậy mà chết. Còn nước thì còn tát, vậy là họ sắp xếp bán toàn bộ cửa hàng và vườn tược, rời bỏ miền quê thân thương lên cư ngụ tại Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh vừa làm ăn vừa tiện chữa trị cho Thiện Căn.
Trải qua những lần hóa xạ trị, cơ thể cậu đau đớn mệt mỏi, sắc mặt xanh xao, hốc mắt ngày một sâu hõm, gò má mỗi ngày một nhô lên cao hơn. Mỗi bữa cậu chỉ ăn được nửa bát cơm, thi thoảng vừa ăn vào đã nôn thốc nôn tháo.
Ngày qua ngày, vừa đau đớn thể xác, vừa u uất tinh thần, nhiều lần cậu tự vấn lòng mình trong sự bất lực: “Chẳng nhẽ cuộc đời mình lại kết thúc trong u sầu và vô nghĩa như thế này sao?”
Thế rồi, có một tia sáng đã soi chiếu vào cuộc đời u tối ấy, không giúp cậu cứu được tính mạng, nhưng chính là cứu cánh giúp Thiện Căn trải qua những năm tháng cuối đời không hề uổng phí.
Vốn là một Phật tử, Thiện Căn thi thoảng hay lui tới chùa lễ Phật, gặp gỡ và thỉnh an các sư thầy, học hỏi thêm một chút về Phật Pháp. Vào một ngày tháng 4 đẹp trời năm 2012, Thiện Căn có nhân duyên gặp được pháp môn Tịnh Độ, do một vị thầy khuyên cậu niệm Phật cầu vãng sinh Cực Lạc Thế Giới của Đức Phật A Di Đà.
Rồi cậu tìm hiểu thêm, mọi thứ dần vỡ ra, hóa ra chết không phải là hết, mà sẽ tiếp tục tái sinh những kiếp sống khác trong sáu cõi luân hồi. Con người ta chết chỗ này, sinh chỗ kia theo Nhân quả nghiệp báo. Có chỗ sướng, có chỗ khổ, nhưng không có một chỗ nào an lạc, vĩnh cửu như cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà. Mà để được sinh về đó, chỉ cần 3 điều là Tín – Nguyện – Hạnh.
Tín là tin tưởng vững chắc vào Phật A Di Đà, vào pháp môn tu Tịnh Độ để được sinh về cõi của Ngài. Nguyện là thiết tha khởi tâm phát nguyện sinh về Cực Lạc. Hạnh là siêng năng niệm Phật cùng với làm mọi việc phước lành, hồi hướng công đức để được sinh về Cực Lạc.
Chắc có duyên lành từ nhiều đời nhiều kiếp, Thiện Căn gặp được pháp môn Tịnh Độ liền tin tưởng tiếp nhận ngay. Kể từ đó cậu bắt đầu chuỗi ngày ăn chay niệm Phật miên mật. Khi khỏe thì cậu niệm ra tiếng, khi yếu thì cậu niệm thầm trong tâm. Có khi cậu nhốt mình trong phòng để tĩnh tâm hành trì, một câu “Nam Mô A Di Đà Phật! ” cứ thế trôi chảy ngập tràn trong tâm trí.
Ngày ngày đều đặn, cậu quỳ hai gối, đối trước hình Phật A Di Đà, khởi tâm cung kính, phát lời nguyện. Từng câu từng chữ phát ra đều chân thành khẩn thiết:
“Đức Phật A Di Đà từ bi gia hộ cho con-pháp danh Thiện Căn mãn kiếp được vãng sinh Cực Lạc, được biết trước ngày giờ vãng sinh ba ngày để con nói với gia đình con được an lạc”
Cha mẹ Thiện Căn cũng ủng hộ cậu, tuy rằng họ không hiểu tu tập như vậy có được lợi lạc gì hay không, nhưng vì thời gian sống của cậu không còn nhiều nên cậu muốn ăn chay niệm Phật hay làm gì cũng được.
Ấy vậy mà không ngờ, chính sự tinh tấn tu tập và sức gia trì của Phật Pháp đã giúp sức khỏe Thiện Căn tiến triển tốt. Trước cậu ăn nửa bát cơm cũng rất khó khăn, thì nay mỗi bữa cậu ăn được hai bát, có hôm còn thêm cả sữa và trái cây.
Nhiệm màu thay, mỗi khi niệm Phật, Thiện Căn thấy bớt đau rất nhiều, tinh thần ngày một thoải mái, không còn buồn phiền. Sắc mặt cậu hồng hào và tươi tắn hơn hẳn so với khi chưa niệm Phật. Mọi người trong gia đình ai cũng bất ngờ. Ngay cả bác sĩ cũng ngạc nhiên hỏi:
– Con ăn gì mà sao các tế bào ung thư dường như đang ngủ hết cả, không thấy phát tác gì hết.
– Con ăn chay, chỉ ăn bông cải xanh và niệm Phật.- Thiện Căn mỉm cười đáp.
Ánh mắt vị bác sĩ hoang mang, bất ngờ trước câu trả lời của Thiện Căn, họ không thể hiểu nổi tại sao ăn chay, niệm Phật lại có thể thắng được căn bệnh mà nền y khoa họ vẫn cho là tân tiến vượt bậc cũng đã chịu thua.
Năm tháng cứ thế trôi qua, cậu vẫn kiên trì tinh tấn tu tập. Thiện Căn đã thực sự buông bỏ sự tham đắm thế gian để sẵn sàng về cõi Phật. Sức khỏe dần dần tiếp tục khá lên. Số lần đi truyền máu cũng giảm đi so với trước. Nhưng cái đó với cậu không còn quan trọng, cậu dường như không còn để tâm đến chuyện gì ngoài câu Phật hiệu. Tín-nguyện-hạnh của cậu sâu chắc, vững chãi như kiềng ba chân, không thể lay chuyển.
Thời gian trôi qua thấm thoắt cũng được ba năm kể từ ngày bác sĩ tiên lượng Thiện Căn chỉ sống được ba tháng. Ba năm trước, khi biết mình sắp chết, cậu hoang mang sợ hãi, còn nay, cậu không còn lăn tăn gì nữa. Với cậu lúc này, chết không còn là cánh cửa đóng lại mọi thứ. Ngược lại, nó là cánh cửa được mở ra đưa cậu tới một nơi cao cả và ý nghĩa hơn nhiều kiếp sống phù du tạm bợ này.
Những tháng ngày học hỏi giáo lý Phật Pháp, cậu đã thấm thía được nhiều minh triết quý giá. Nhìn lại cuộc đời, cậu đã nhìn thấu những vấn đề mà không phải ai cũng có thể nhìn ra.
Sống một đời người, hầu hết ai cũng dồn tâm huyết lo kiếm thật nhiều tiền, lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái, tìm kiếm danh lợi, mong muốn hưởng thụ thật nhiều, tích lũy cho thật nhiều, có rồi thì muốn có nữa. Rồi tới khi chết, mọi thứ có được cũng biến mất hoàn toàn, trở về con số 0 tròn trĩnh.
Mà thường người ta làm việc thiện thì ít, tạo nghiệp thì nhiều. Nghiệp chướng một đời tích tụ, đến khi chết phải đọa lạc chịu dày vò khốn khổ ở những cõi giới đau khổ như địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ. Nếu sống như vậy, thì kiếp người chẳng qua chỉ là bàn đạp để nhảy vào hố sâu của quả báo thống khổ mà thôi, chứ nào có ý nghĩa gì.
Ngược lại, nếu chúng ta biết tận dụng kiếp người để lo sửa đổi, tu tập, hành thiện, tích lũy công đức nguyện khi hết kiếp này được vãng sinh Cực Lạc thì mới không uổng phí một đời. Vì khi vãng sinh Cực Lạc, nương theo nguyện lực của Phật A Di Đà, chúng ta được thoát luân hồi sinh tử, an vui mãi mãi, tuổi thọ vô lượng, thẳng tiến tu hành cho tới khi thành Phật.
Từ hàng ngàn năm qua, Phật Pháp vẫn cứ mở cửa, kinh sách vẫn còn đó, sẵn lòng dạy bảo, khai mở tri kiến cho mọi người hiểu được điều này. Ấy nhưng có mấy ai lĩnh hội được ? Cửa chùa có thể đông người lui tới, xong chủ yếu để khấn vái xin tài lộc, xin may mắn, xin phù hộ độ trì, xin đủ thứ lặt vặt thế gian. Nhưng lại hiếm người biết đến xin thứ quý giá nhất là kho báu trí tuệ của Phật, lật giở kinh sách, nghiền ngẫm để Phật Pháp soi lối cho cuộc đời biết nên đi đâu về đâu. Thật đáng tiếc.
Mọi người trong gia đình Thiện Căn cũng vậy, mặc dù chứng kiến sự thay đổi thần kì về sức khỏe và tinh thần của con trai, nhưng họ vẫn nửa tin nửa ngờ. Dù cậu cũng có giải thích xong cha mẹ cậu cũng chẳng bận tâm nhiều, chỉ dừng lại ở việc ủng hộ cậu, không phản đối. Đối với họ, cậu khỏe lên là họ mừng lắm rồi, còn lại mọi thứ trong thế giới vô hình… thôi để khi nào chết thì tính.
Nhờ công đức niệm Phật, trong suốt ba năm các tế bào ung thư đã “ngủ quên” để Thiện Căn có thời gian tu tập, tích lũy công đức. Tới đầu tháng 7 (âm lịch) năm 2015, bệnh tình của cậu đột nhiên trở nặng, phải vào bệnh viện theo dõi. Hai tuần sau, có một cục hạch nổi trên cổ làm cậu không thể thở bình thường, cần sự hỗ trợ can thiệp của máy móc.
Các bác sĩ quyết định tiến hành phẫu thuật cắt bỏ hạch. Sau ca mổ, cậu rơi vào trạng thái hôn mê bất tỉnh. Cả gia đình lo lắng không nguôi, đi đi lại lại trong hành lang bệnh viện, nét mặt cha mẹ cậu căng thẳng, sợ rằng con mình vĩnh viễn không tỉnh lại được nữa. Họ chẳng biết phải làm gì, cuối cùng lựa chọn tha thiết niệm Phật, nguyện xin Đức Phật từ bi gia hộ cho con trai.
Ngày 24/7/2015 âm lịch, Thiện Căn tỉnh lại sau ba ngày hôn mê trên giường bệnh. Ngón tay cậu bắt đầu cử động, đôi mắt khẽ mở dần lên, tuy nhiên chân tay còn yếu, chỉ có thể nằm trên giường. Sang ngày hôm sau cậu mới nói chuyện được với người thân.
Cậu khẽ quay đầu sang phía cha mẹ, đưa tay lần lần nắm lấy đôi bàn tay gầy guộc của mẹ, nói một cách chậm rãi:
– Con đã ngủ ba ngày. Trong ba ngày vừa rồi, con đi khắp cảnh địa ngục đầy chết chóc, khóc than, khủng khiếp lắm. Trong ba ngày đó con niệm Phật rất nhiều. Con nghe được Đức Phật A Di Đà nói với con: “Con về đi. Muốn theo đạo pháp của ta, gắng niệm Phật ba ngày nữa theo ta”.
Ba mẹ hãy cố gắng niệm Phật. Thế giới Ta Bà này muôn ngàn cảnh khổ, giàu cũng khổ, nghèo cũng khổ, trong cái vui cũng có nỗi khổ. Còn cảnh giới Tây Phương thì ngược lại, hoàn toàn không có khổ. Mọi người đừng buồn nữa, đừng đau lòng. Con về với Đức Phật là an lạc lắm, không thống khổ như bây giờ. Mọi thứ trên thế gian đều là ảo, là tạp niệm. Đừng tham, sân, si, hãy cố gắng sống tốt và luôn niệm Phật. Duyên phận của chúng ta tới đây thôi, tất cả đều là vô thường. Con có duyên làm con của ba mẹ kiếp này, nay thời hạn đã tận, con phải đi rồi.
Nói xong, Thiện Căn nhờ cha mẹ làm thủ tục cho cậu xuất viện về nhà, cậu không tiếp tục chữa bệnh nữa. Giờ cậu chỉ chuyên tâm niệm Phật và thỉnh mời ban trợ niệm hộ niệm lúc lâm chung cho cậu.
Sáng ngày 8 tháng 9 năm 2015 (nhằm ngày 26 tháng 7 năm 2015 âm lịch), tinh thần Thiện Căn rất tốt, tự mình tắm rửa sạch sẽ, vận bộ đồ lam giản dị, phấn khởi vui mừng nói:
– Con đi theo Phật, ba mẹ nhớ giác ngộ, không sát sanh hại vật nữa nhé. Mọi người gắng niệm Phật, đừng có buồn. Niệm Phật về Tây Phương mới không còn thống khổ!
Trên trần đời này có mấy ai lại phấn khởi để ra đi như thế, chắc chỉ có những người biết chắc chắn mình sẽ vãng sinh mà thôi. Nói xong cậu cùng gia đình ăn bữa cơm cuối.
Sau đó, Thiện Căn đánh răng sạch sẽ, ngồi tĩnh tọa niệm Phật. Một lát sau thì ban trợ niệm tới niệm Phật cùng cậu, khắp nơi trong nhà ngoài ngõ rền vang tiếng niệm Phật không ngừng nghỉ. Đến 1h trưa cùng ngày, Thiện Căn chủ động nằm xuống giường, chắp tay, mỉm cười và niệm Phật đến khi trút hơi thở cuối cùng, từ bỏ cõi hồng trần đầy đau khổ, được Phật A Di Đà tiếp dẫn vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc.
Khi ấy có một hương thơm rất lạ vây quanh khu vực nơi cậu vãng sanh suốt mấy ngày liền. Ai ngửi hương thơm ấy đều cảm thấy tâm được an lạc thư thái.
Hình ảnh Thiện Căn ra đi đầy mãn nguyện và an lành chính là ấn tượng sâu sắc đối với gia đình cậu. Sự đau buồn vơi đi phần nào, lắng đọng lại trong lòng cha mẹ và em gái Thiện Căn chính là lời căn dặn của cậu về cõi Cực Lạc.
Tang lễ của cậu được cử hành thuần theo nghi thức Phật giáo, không có tiếng kèn trống, tiếng nhạc, tiếng khóc than theo tục lệ thường tình. Tất cả thực phẩm dâng cúng hay mời khách trong đám tang đều là đồ chay, không hề có máu thịt chúng sinh. Chẳng những không sát sinh, gia đình còn phóng sinh để hồi hướng thêm công đức cho cậu.
Thay cho tiếng than khóc ảo não là tiếng niệm Phật vang rền không ngừng nghỉ của ban trợ niệm, là hành trang quý giá nhất đưa cậu về cõi Tịnh. Sau 24 giờ trợ niệm không mỏi mệt, mọi người mới bắt đầu tắm rửa và thay quần áo cho thi hài, thấy thân thể cậu mềm mại như đang ngủ, sắc mặt hồng hào, thoại tướng đẹp đẽ vô cùng, không có giống người vừa mới chết.
Tang lễ kết thúc, vào lúc 1h trưa ngày 28 tháng 7 năm 2015 âm lịch, thi hài của cậu được đem đi hỏa táng. Tới 3h chiều, người thân và quý sư tiến hành nhặt tro cốt, bỗng có người thốt lên :
– Ôi! Xá lợi của Thiện Căn. Xá lợi này cả nhà ơi.
Nghe thấy xá lợi, tất cả mọi người ở quanh đó đều ùa đến bên hũ tro cốt để xác minh. Họ nhìn thấy trong đó những viên ngọc nhiều màu sắc: nào viên màu xanh lá, màu trắng sữa, màu đỏ, màu vàng kim rất đẹp. Điều đó khiến gia đình Thiện Căn vô cùng hoan hỷ.
Vậy là sau bao nhiêu cố gắng, bền bỉ, kiên trì, tinh tấn ngày đêm trong suốt ba năm, nay Thiện Căn đã được thành tựu viên mãn. Sau chuỗi dài những kiếp sống luân hồi từ vô thủy, cuối cùng Thiện Căn đã được trở về quê hương Cực Lạc, vĩnh viễn giải thoát an vui, từ đó về sau thẳng tiến tu hành cho tới khi đạt được Phật quả.
Những viên xá lợi cậu để lại làm minh chứng cho đời, được gia đình trân quý, đem về đặt trên bàn thờ một cách trịnh trọng, mỗi ngày đều chiêm ngưỡng và lễ bái.
Lúc đầu xá lợi của cậu có hình thon dài với nhiều màu sắc, nhưng sau một thời gian xá lợi dần chuyển thành hình tròn và to đẹp hơn lúc ban đầu. Càng thờ thì màu sắc xá lợi càng trong và sáng. Màu sắc cũng thay đổi thành màu xanh biếc, màu hồng và màu thủy tinh trong suốt lấp lánh.
Vào một đêm nọ, khi nhà bị mất điện, màn đêm bao phủ khắp không gian, đột nhiên có ánh sáng màu xanh phát ra từ phía ban thờ của Thiện Căn. Người nhà thấy lạ liền tới xem thì mới biết ánh sáng đó chính là từ những viên xá lợi của cậu phát ra. Về sau, gia đình càng thành tâm niệm Phật lạy Phật thì những viên xá lợi lại càng tỏa ánh sáng rực rỡ. Thật là màu nhiệm.
Một tuần sau lễ tang, trong một giấc mơ, em gái Thiện Căn thấy cậu trở về gặp cô, toàn thân cậu phát ra ánh sáng màu vàng ròng, trên thân cậu khoác chiếc áo cũng màu vàng ròng rạng rỡ. Thiện Căn khi đó đang đứng trên một tòa sen tỏa ánh sáng lung linh đẹp đẽ vô cùng, vẻ mặt toát lên sự an nhiên tự tại, miệng khẽ mỉm cười, nhìn về phía em gái mà nói:
– Em cố gắng chăm sóc cha mẹ. Đừng buồn nữa, anh đến “quê nhà” rồi. Cảnh giới Tây Phương Cực Lạc là một nơi hết sức an lạc. Mình phải thành tâm niệm Phật, khẩn thiết niệm Phật mới về được Tịnh Độ. Nơi Đức Phật A Di Đà không có cảnh khổ. Lúc nào cũng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, tới lúc lâm chung sẽ thấy Phật A Di Đà. Gắng niệm Phật và đừng có sân, si, buồn rầu nữa em nhé.
Rồi nguồn ánh sáng vừa rạng rỡ vừa dịu mát ấy từ từ biến mất trong không gian. Khi tỉnh lại, em gái Thiện Căn thấy thân tâm an lạc. Cô chạy vội xuống dưới nhà, lay lay cho cha mẹ tỉnh dậy để kể về giấc mơ của mình.
– Ba mẹ ơi, dậy đi con kể cho nghe, con vừa mơ thấy anh Hai đã vãng sinh rồi. anh đẹp lắm, cha mẹ đừng buồn nữa, nên vui mới phải.
Nghe con gái kể lại toàn bộ giấc mơ, cha mẹ Thiện Căn trong lòng vui mừng khó tả. Nỗi buồn mất con dần được thay thế bằng niềm phấn khởi, vì con trai nay chắc chắn đã được về nơi an lạc, vui sướng gấp vô vàn lần cuộc sống thế gian này.
Kể từ đó, họ tin tưởng hoàn toàn vào cõi Tây Phương và Đức Phật A Di Đà. Như đã hứa với Thiện Căn, cha mẹ cậu từ bỏ sát sinh hại vật, chuyển sang bán cơm chay, sống đời hiền lành lương thiện. Ngày ngày một câu “Nam Mô A Di Đà Phật” tinh tấn niệm quanh năm suốt tháng, cầu vãng sinh Cực Lạc.
Từ một gia đình không biết gì về đạo Phật, không hiểu gì về pháp môn Tịnh Độ, nhờ những thành tựu mình có được, Thiện Căn đã đưa ba mẹ và người em gái của mình về sống an vui trong ánh sáng Phật Pháp.
Là con người, sinh ra trên cuộc đời này, đều phải chịu sinh- già- bệnh- chết, cộng thêm vô vàn nỗi khổ khác không nói hết được. Cuộc hành trình sống của chúng ta chính là liên tục tìm cách thoát khổ và vươn tới hạnh phúc. Thế nhưng do trí tuệ phàm phu nhỏ hẹp nông cạn, nên dù vật lộn mãi vẫn không thoát hẳn khỏi khổ đau, chưa thể tìm thấy đâu là hạnh phúc vĩnh hằng.
Là đấng giác ngộ hoàn toàn, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhìn thấu suốt vũ trụ, vì thương xót đã chỉ dạy cho chúng ta rất nhiều con đường, cách thức, pháp môn để thoát khổ. Pháp môn Tịnh Độ chính là một trong số đó, đặc biệt là pháp môn này rất phù hợp với căn tánh chúng sinh thời mạt pháp hiện nay, dễ tu, dễ thành tựu.
Trên thực tế, từ xưa đến nay đã có rất nhiều trường hợp tu theo Tịnh Độ mà được vãng sinh Cực Lạc, để lại xá lợi cùng nhiều thoại tướng vô cùng thù thắng, là bằng chứng hùng hồn về sự chân thật trong lời dạy của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, cũng như sự tồn tại của Đức Phật A Di Đà cùng cõi Tây Phương Cực Lạc. Một lần nữa câu chuyện của cư sĩ Thiện Căn đã xác quyết điều này, để những ai có duyên với Tịnh Độ càng thêm vững vàng đạo tâm, tinh tấn tu hành để một ngày không xa, đến lượt mình vãng sinh về với Phật.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Diệu Âm Ngọc Duyên)