_Bài học xương máu từ Nepal_
(Tĩnh Như)
Như một lẽ tự nhiên, là con người, ai ai cũng mong cầu hạnh phúc, bình an, thịnh vượng đến với bản thân và gia đình. Đó vốn là một mong ước chính đáng. Thế nhưng, làm thế nào để có được những điều đó, thì mỗi người lại có một niềm tin và sự lựa chọn khác nhau.
Tại đất nước Nepal, từ hơn hai thế kỷ trước, các tín đồ Hindu đã lập ra một nghi lễ tế thần Gadhimai được diễn ra bốn năm một lần tại làng Bariyapur thuộc miền nam Nepal. Theo niềm tin của hàng triệu tín đồ nơi đây, các con vật được đem ra giết hại rồi cúng tế sẽ làm vui lòng các thần linh, nhờ đó các thần linh sẽ ban cho họ phước lành, sự may mắn và một cuộc sống thịnh vượng.
Bất chấp sự phẫn nộ của các tổ chức bảo vệ động vật, cứ mỗi khi lễ hội diễn ra, là hàng trăm ngàn con vật xấu số bị đem ra giết hại một cách tàn nhẫn với một quy mô khiến nhiều người phải giật mình.
Ngày 28-29/11/2014, hàng triệu tín đồ từ Nepal, Ấn Độ, Bangladesh… khắp nơi đã đổ về làng Bariyapur để tham gia tế lễ. Vào ngày diễn ra đầu tiên, tức ngày 28/11, người ta dồn hàng ngàn con trâu đem quây lại trong một cánh đồng rộng lớn. Những tín đồ lăm lăm trên tay những con dao bầu dài đến gần cả mét, có dáng hơi cong được thiết kế theo đúng kiểu để phục vụ cho việc chặt đầu những con trâu được dễ dàng nhanh gọn.
Họ đứng rải rác từng người, hoặc tụm lại 2,3 người cùng thực hiện nghi lễ đồ sát: một chân đưa lên trước, một chân ở đằng sau, hai tay cầm chắc cán dao, hai răng họ bậm vào nhau lấy khí thế. Từ từ hai tay đưa dao vòng qua đầu, sâu xuống phía sau lưng để lấy đà.
Cuối cùng họ gằn giọng, hét lên một tiếng thật to, nhanh chóng hạ một nhát xuống cổ những chú trâu, máu đỏ tươi phun ào ào. Rồi thêm vài nhát nữa là đứt hẳn xương và da thịt, máu bắn lên khắp người đồ tể, tưới đẫm mặt đất, nhuộm cả một cánh đồng rộng lớn thành một màu đỏ thẫm. Đầu trâu rụng khỏi thân, rơi xuống nền đất, hai mắt trợn lên đầy vẻ thảng thốt, kinh hoàng. Tính riêng ngày đầu tiên diễn ra lễ hội, đã có hơn 6000 con trâu và hơn 100.000 động vật khác phải chết dưới nghi lễ “linh thiêng” của các tín đồ. Đúng là một con số gây chấn động tâm trí nhiều người.
Cứ thế, từng nhát dao sắc lẹm kết liễu sinh mạng của các loài trâu, dê… đầy tức tưởi. Hàng loạt xác trâu chết chen chúc nhau nằm la liệt trên khắp cánh đồng rộng lớn, xen lẫn những cái đầu trâu trơ chọi trông thật bi thương. Da và thịt trâu thì các cửa hàng kinh doanh sẽ thu gom về bán.
Còn đầu trâu sẽ được gom và chôn xuống một hố sâu để tế lễ. Các tín đồ ngửa lên trời lầm rầm khấn nguyện, nét mặt hân hoan vì mình đã dâng hiến được lễ vật lên đấng thần linh. Họ vững chắc một niềm tin rằng, với cả núi lễ vật đầu trâu, đầu dê và đủ thứ gia súc khác nằm chất đống ngổn ngang này, hẳn rồi các ngài sẽ ban cho họ những điều may mắn, những thứ tốt lành, hẳn rồi các ngài sẽ hồi đáp cho lòng thành của họ.
Và thế rồi khoảng 5 tháng sau, họ đã nhận được một “lời hồi đáp” !
Ngày 25/4/2015, đất nước Nepal đang yên bình với nhịp sống chậm rãi quen thuộc hàng ngày, bỗng đất trời ầm ầm rung chuyển. Một trận động đất mạnh 7,8 độ richter, được xác định là lớn nhất ở Nepal kể từ năm 1934 trở lại đây, khiến thủ đô Kathmandu và thành phố Pokhara rung lắc dữ dội. Nhà cửa đổ sập, bụi khói mịt mù. Tiếng rầm rầm long trời lở đất như âm thanh của tận thế, lấn át hết cả những tiếng gào thét thất thanh.
Chỉ trong chốc lát nhiều thành phố biến dạng, không còn hình hài như trước nữa, khắp nơi ngổn ngang những khối bê tông. Nepal chìm vào không khí bi thương tang tóc bởi cái chết đột ngột của hàng ngàn người và tiếng khóc than xé lòng của những người ở lại.
Trận động đất mạnh đi kèm với 14 cơn dư chấn, thậm chí còn ảnh hưởng sang cả các nước lân cận như Ấn Độ, Malaysia, Bangladesh và Pakistan. Trong thời gian cùng ngày, hàng loạt trang báo trên khắp thế giới đưa tin về trận động đất lịch sử.
Phải mất nhiều ngày để lực lượng cứu hộ đưa những người may mắn còn sống đang mắc kẹt trong đống đổ nát và thi hài người chết còn đang bị vùi sâu ra ngoài.
Xác người chết nằm la liệt trên những khoảng đất rộng, được che phủ bởi những tấm vải trắng lấm lem màu đất và vết máu đỏ tươi loang lổ. Chốc lát người ta lại nghe thấy tiếng khóc bi ai của những người đi tìm xác người thân. Cả đất nước Nepal dường như “chết lặng” trước thảm cảnh nghiệt ngã này.
Thiệt hại sau trận động đất này thực sự to lớn đối với cả người và của. Chính quyền xác định có khoảng 8000 người thiệt mạng cùng với khoảng 16.000 người bị thương, gồm cả ở Nepal và những người thiệt mạng trên địa phận các nước lân cận. Nhiều con đường tại thủ đô Kathmandu do sức ép của trận động đất bỗng nhiên nứt toác, tạo thành những hố sâu khổng lồ, khiến nhiều người đi đường bị hố sâu “chôn sống”.
Chứng kiến cảnh tượng ngổn ngang, đẫm máu mà trận động đất để lại, nhiều người không khỏi giật mình khi liên hệ với cảnh tượng cuộc thảm sát hơn trăm ngàn con vật trong ngày lễ tế thần chỉ mới cách đó mấy tháng. Đây không phải cái người ta gọi là Nhân quả báo ứng sao ?
Càng ngẫm lại những sự việc đã xảy ra, người ta không khỏi “lạnh xương sống” khi những cảnh tượng giữa hai sự kiện trùng hợp nhau đến kì lạ. Nào những xác trâu nằm la liệt trên cánh đồng, chẳng khác cảnh xác người chết phơi thây trên những khoảng đất rộng lớn. Trước kia, người ta chôn hàng loạt đầu trâu vào hố sâu, thì sau này cũng có hàng loạt người bị chôn sống trong những cái hố do động đất tạo ra. Gieo rắc kinh hoàng cho các loài vật, thì nay con người cũng nhận lại những kinh hoàng từ trời đất.
Bao nhiêu hi vọng của những tín đồ ngày ấy, về những may mắn, thịnh vượng do các đấng thần linh ban phát, nay đã tiêu tan sạch. Sự thật phũ phàng đã đánh thức họ khỏi cơn mê muội. Thực sự thì cũng không hề có vị thần nào hiện ra bảo họ phải giết chóc hiến tế như vậy. Có lẽ mọi chuyện chỉ là niềm tin mà con người tự đặt ra rồi gán cho thần thánh mà thôi.
Thực tế bi thảm đã giáng một đòn mạnh vào niềm tin cố hữu nhiều thế kỉ của hàng triệu tín đồ, khiến nó thực sự lung lay. Họ nhận ra cuộc sống vốn vận hành theo một cách khác, nó tuân theo luật Nhân quả, chứ không phải cứ cầu xin thần linh là muốn gì cũng được. Và rồi họ quyết định thay đổi.
Ba tháng sau khi xảy ra thảm họa thiên tai động đất, vào ngày 28/07/2015, cơ quan đại diện cho các đền thờ tại Nepal chính thức ban hành quyết định chấm dứt nghi lễ tàn sát động vật để tế thần vốn thu hút hàng triệu người tham gia suốt mấy thế kỷ qua.
Đó là dấu hiệu của sự tỉnh ngộ, là hồi chuông thức tỉnh đối với những tín đồ còn đang mê muội tin vào những lý thuyết không có thật, việc sát hại loài vật tế thần thực ra không hề đem lại hạnh phúc cho họ như họ đã tưởng. Như ông Ram Chandra Shah – Chủ tịch Liên hội Đền Thờ Gadhimai đã tuyên bố trong ngày thông báo quyết định này:
“Đã đến lúc cần thay thế việc giết chóc và bạo lực bằng sự cầu nguyện và nghi lễ hòa bình.”
Vũ trụ này vận hành theo quy luật Nhân quả. Gieo nhân thiện được quả lành, gieo nhân ác gặp quả tai ương. Không thể nào có chuyện lấy đau khổ của kẻ khác đổi lấy được hạnh phúc cho bản thân. Động vật cũng là chúng sinh, là loài hữu tình, có tư tưởng, tình cảm, biết đau đớn, biết vui vẻ, biết tham sống sợ chết, chẳng khác con người.
Đi ngược lại Nhân quả, mặc sức gieo rắc tang thương, chết chóc cho muôn loài, sẽ phải nhận lại những Nghiệp quả tang thương, chết chóc. Và đó là nguyên nhân thực sự của các loại thiên tai như động đất, bão lũ, sóng thần, hạn hán v.v… cùng vô số các thảm kịch khác của cuộc sống.
Nhân quả không hề sai chạy. Chúng ta muốn có được hạnh phúc thì cần phải đem lại hạnh phúc cho mọi người, cho mọi loài, chân lý ấy ngàn đời sẽ không bao giờ thay đổi, vì nó là quy luật bất biến của vũ trụ.
(Tĩnh Như)
“Oan gia trái chủ” – một cụm từ đã không còn xa lạ với những người tu học theo Phật, hoặc có nghiên cứu về tâm linh. Cụm từ này nói đến những chúng sinh trong cõi vô hình hoặc hữu hình, đến để hành hạ, báo thù người đã từng gây đau khổ hay hãm hại họ dưới bất kì hình thức nào. Vì sinh tâm oán hận, nay họ tới để “đòi nợ”, bằng cách gây ra những khó khăn trong cuộc sống, xúi bẩy người làm những việc kì quái độc ác, hoặc khiến kẻ thù phải sinh bệnh tật, làm cho cuộc sống của nhiều người trở nên đau đớn, khổ sở cả về thể chất lẫn tinh thần.
Oan gia có hai loại, một là những oan gia đã đầu thai thành người, trực tiếp tới hành hạ “con nợ” thông qua các mối quan hệ trong cuộc sống như cha mẹ – con cái, vợ chồng, đồng nghiệp, người lạ… còn được mọi người gọi là oan gia sống. Hai là những oan gia đang làm vong linh trong vô hình. Với loại thứ hai, vì mắt thường không thể nhìn thấy, nên những trường hợp bị oan gia bám theo hành hạ và hay có những biểu hiện bất thường sẽ bị nhầm lẫn với căn bệnh tâm thần. Chính vì không tìm ra đúng nguyên nhân, nên có nhiều người đã phải tiền mất tật mang mà không giải quyết được vấn đề gì cả.
Hoàn cảnh của Hoàng Thanh Hằng, sống ở quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội chính là một trường hợp như vậy. Người đời thường ví tuổi 18 là độ tuổi đẹp nhất, là tuổi của sự ngây thơ trong sáng, lạc quan yêu đời và cũng là của bao hoài bão ước mơ về tương lai đầy rộng mở đang đón chờ phía trước. Nhưng rất tiếc, đó là tuổi 18 tươi đẹp của ai đó, chứ không phải của Hằng.
Ngay từ năm 18 tuổi, bản thân cô gái trẻ còn đang ngồi trên ghế nhà trường như Hằng đã luôn mang trong mình những cảm xúc tiêu cực vô cớ. Hằng tiếp xúc với cuộc sống hàng ngày bằng sự sợ hãi không hề có lý do.
Những người thân trong gia đình đã quen với hình ảnh một cô gái luôn lo lắng bất an, chân tay run rẩy, ngồi co quắp một góc nhà, quay mặt vào tường, chỉ thi thoảng mới hé đôi mắt nhìn hướng ra bên ngoài rồi lại nhanh chóng cúi gầm mặt xuống, như thể muốn né tránh cả thế giới xung quanh. Thực tình, hoàn cảnh bên ngoài không có gì đặc biệt, nhưng Hằng luôn mang tâm trạng và hành vi lạ lùng như thế.
Cả gia đình chẳng ai hiểu Hằng bị làm sao, mà bản thân cô cũng không biết vì sao mình lại sợ hãi như vậy. Mỗi lần lên cơn sợ hãi là chân tay Hằng quýnh quáng, nhịp tim của cô đập rất nhanh, cứ như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, khiến cơ thể Hằng hết sức mệt mỏi, thậm chí nói chẳng ra hơi.
Rồi những cơn đau đầu liên tiếp hành hạ, cô thường lấy hai tay ôm chặt đầu, lắc qua bên này bên kia, rồi lại ngửa đầu lên, cúi gầm đầu xuống. Hằng cứ quằn quại như thế, nhiều khi tự mình lao đầu vào tường vì không chịu nổi sự hành hạ ác liệt của những cơn đau quái lạ. Người thân cản cô không được, cũng hết hồn, sợ Hằng không kiểm soát được lại tự gây thương tích cho bản thân.
Đi thăm khám ở nhiều phòng khám, bệnh viện, làm biết bao nhiêu loại xét nghiệm, cũng chỉ nhận lại được những lời kết luận chung chung không rõ ràng. Nơi thì nói Hằng bị trầm cảm, chỗ thì bảo cô bị rối loạn thần kinh, tâm thần phân liệt, hoang tưởng, stress, v.v… Người ta cũng kê cho Hằng đủ thứ thuốc, nào thuốc an thần, thuốc bổ não, bổ tim … nhưng uống bao nhiêu, bệnh tình cũng không hề thuyên giảm.
Sau này, cứ nhắc đến đi khám bệnh là Hằng không còn tha thiết nữa. Thời gian cứ thế trôi qua trong sự thống khổ suốt những năm tháng đại học. Cho tới khi ra trường đi làm, mọi người ngờ ngợ đoán bệnh của cô liên quan đến tâm linh nên chỉ dẫn Hằng đi xem bói, tìm tới thầy cúng, cứ thấy người ta kêu ai nổi tiếng thì Hằng đều không ngại ngần tìm tới dù xa xôi đến đâu, trong Nam hay ngoài Bắc. Đến chỗ thầy cúng thì thầy bảo có vong theo. Đến chỗ mấy bà đồng, thì được các bà phán – giống như từng phán cho bao người khác đã đến gặp các bà, rằng “Cô có căn”… Rồi bày ra cúng vái đủ kiểu tốn kém.
Quả thật khi tới một số nơi chữa trị, Hằng cũng thấy tình trạng cải thiện hơn, cơ thể thoạt nhiên nhẹ nhõm như vừa trút được một gánh nặng gì đó ra khỏi người. Nhưng sự chuyển biến chỉ được một thời gian ngắn, xong lại đâu vào đấy, rốt cuộc là vẫn chẳng giải quyết được chứng bệnh kì quái này.
Hằng thật sư bất lực với căn bệnh không tên mà mình đang phải gánh chịu suốt chục năm trời, kể từ khi cô 18 tuổi, thấm thoắt tới nay đã sang tuổi 28. Một thời gian dài nuốt trọn tuổi thanh xuân của Hằng. Đó là nỗi ám ảnh có lẽ suốt cuộc đời cô chẳng thể nào quên được.
Có những lúc Hằng cố gắng tĩnh tâm, thả lỏng, quan sát nội tâm, cô mơ hồ phát hiện ra có gì đó không bình thường trong con người mình. Nó độc lập và có thể tự ý khởi lên những suy nghĩ lệch lạc, kiểm soát thân tâm cô khiến cô mất hết lý trí. Cảm nhận như vậy, nhưng thực tình Hằng cũng không biết phải làm gì vì cô cũng không hiểu gì mấy về vấn đề này.
Một thời gian sau, Hằng biết tới cư sĩ Quang Tử, theo dõi các bài viết chia sẻ về Phật Pháp của anh trên Facebook và chứng kiến nhiều trường hợp khỏi bệnh nhờ Phật Pháp trên đây, trong cô bắt đầu le lói niềm hy vọng, biết đâu đây có thể là cứu cánh của cuộc đời mình. Không bỏ lỡ cơ hội, ngày 20/10/2019, Hằng quyết định chủ động nhắn tin qua Zalo kể lại cho Quang Tử về câu chuyện của mình, mong nhận được lời khuyên bổ ích.
Sau khi nghe câu chuyện Hằng chia sẻ, vị thiện tri thức xác định bệnh của cô là do vong linh các oan gia trái chủ tìm đến báo thù. Nhờ xem các video về chủ đề oan gia trái chủ trên kênh youtube Quang Tử, Hằng đã hiểu ra vấn đề và tự mình xác định được căn nguyên gây ra tình trạng bất thường suốt chục năm qua.
Hằng hiểu rằng do kiếp trước cô đã làm những điều không tốt, gây đau khổ cho các vị oan gia, khiến họ sinh tâm oán hận tìm cô báo thù. Dù gì cũng là do lỗi của mình, nên Hằng không oán trách hay than vãn, mà chấp nhận những quả báo mình phải chịu đựng bấy lâu nay. Giờ đây, cô chỉ muốn các vị ấy nguôi ngoai, buông bỏ hiềm hận, để sớm được siêu thoát về cõi an lành.
Được vị thiện tri thức hướng dẫn cách sám hối theo nghi thức “Sám Hối-Cầu Siêu Oan Gia”, Hằng rất thành tâm thực hiện.
Link của Nghi thức sám hối oan gia:
https://thuvienquangtu.com/sam-hoi-oan-gia-than-chu-phien-am-viet/
Trong suốt hơn một tháng, mỗi ngày Hằng đều sửa soạn một mâm cơm chay, trang phục chỉnh tề, thắp nén hương trước ban thờ, chân thành nói lời ăn năn sám hối với các chư vị oan gia trái chủ, trì chú- niệm Phật hồi hướng cho họ.
Lần đầu tiên thực hiện, sau khi Hằng thỉnh mời các vị oan gia về và sám hối tội lỗi với họ, lập tức trong người Hằng cảm nhận có gì đó vô cùng khó chịu khiến cô không khỏi sợ hãi, nhưng rồi một lúc sau dần dần cảm giác đó trôi qua và tự hết sau khi cô đọc chú Chuẩn Đề.
Thực ra đó là điều khá dễ hiểu. Khi các oan gia được thỉnh mời về, gặp kẻ đã hãm hại mình làm sao không căm tức cho được. Mà đã tức thì phải hành hạ cho bõ ghét, khiến người sám hối khi thì đau chỗ này, lúc lại nhức chỗ khác. Dù vậy, nhưng người sám hối cần kiên trì và chân thành, tiếp tục sám hối- siêu độ oan gia. Dần dần, do sự thành tâm ấy, oan gia cũng sẽ nguôi ngoai và tha thứ, buông bỏ hiềm hận, không báo thù nữa.
Hằng đã y vậy mà làm, cuối cùng đạt được kết quả tốt đẹp. Ngày 24/11/2019, Hằng nhắn tin cho Quang Tử thông báo tình trạng đã hoàn toàn ổn định. Cơ thể không còn mệt mỏi và nặng nề như trước. Cuộc sống của cô sau mười năm khổ sở tối tăm mù mịt cuối cùng đã được mở sang một trang mới tươi sáng hơn, tìm lại được sự bình yên trong cuộc sống.
Từ chính trải nghiệm của mình, Hằng thấm thía về nhân quả và niềm tin về Phật Pháp trong cô tăng trưởng mạnh mẽ. Sau bao ngày tháng vật lộn tìm cách chữa bệnh ở khắp mọi nơi, lành thay, Hằng còn có nhân duyên với Phật Pháp, nương theo Phật Pháp để hóa giải nỗi khổ đau trong đời. Từ trong tận sâu thẳm tâm hồn, Hằng biết ơn Phật Pháp đã soi sáng cuộc đời cô.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Hoàng Thanh Hằng)
Tai nạn giao thông vẫn luôn trực chờ mỗi người trên mọi cung đường. Không ai có thể đảm bảo an toàn 100%, vì luôn có những tình huống bất ngờ xảy ra không sao xử lý được và buộc phải nằm lại mãi mãi ngay cả với những người có bề dày kinh nghiệm lái xe. Ấy thế mà Nhiên đã gặp phải một tình huống như thế ngay trong lần đầu cầm lái…
Tên đầy đủ của cô là Nguyễn Thị Ngọc Nhiên, pháp danh Nguyên Hằng, sinh năm 1992, ở Cam Lâm, Khánh Hòa. Cô lớn lên trong một gia đình Phật tử, từ nhỏ đã theo mẹ tu tập được nhiều năm, và cũng không ít lần gặp được những linh ứng vi diệu nhờ niệm Phật.
Khoảng hơn chục năm trước, hôm đó, hai mẹ con Nhiên sắp xếp công việc, chở nhau về Cam Hòa thăm nhà ngoại trên chiếc xe máy của gia đình. Nhiên khi đó còn chưa biết đi xe, nên người chở là mẹ cô. Chiếc xe Wave bon bon chạy qua một con đường bằng phẳng, một lúc sau thì tới đoạn đường Tân Hải. Khác với những đoạn trước, chỗ này người ta đã rải nhựa đẹp đẽ, dẫn vào con đường trong làng.
Chuyện sẽ chẳng có gì để nói nếu không phải Nhiên tự dưng nổi hứng đòi tập lái xe khi đi đến đoạn đường rải nhựa này. Mà run rủi sao mẹ Nhiên cũng đồng ý ngay lập tức, mặc dù con gái chưa một lần cầm lái. Thế là Nhiên loi choi lên ngồi yên trước, mẹ cô xuống yên sau.
“Lần đầu tiên được ngồi ở vị trí của người lái xe thật là oách.”
Nhiên nghĩ thầm, chỉnh lại lưng cho thẳng và ngay ngắn, hai tay bắt đầu vịn ga, khuôn mặt tỏ vẻ chuyên nghiệp nhưng có phần chậm rãi. Nói là chuyên nghiệp cho oai chứ thực ra mẹ cô đã cài số và đề máy sẵn. Việc của Nhiên chỉ là ngồi lên xe, vặn ga, rồi đi.
Hồi hộp và có phần phấn khích, Nhiên không những tập lái mà còn chở mẹ ở đằng sau, cứ thế xe đi một cách từ từ và chắc chắn.
“À hóa ra lái xe cũng đâu khó lắm đâu”.
Nhiên thầm nhủ trong lòng, cảm thấy sung sướng vì khả năng lái xe mà tự cô cho rằng không hề kém tệ. Thường ngày Nhiên có thói quen niệm Phật mỗi khi ngồi yên sau, nhưng hôm nay vì tập trung vào việc lái xe nên cô quên niệm Phật. Chỉ có mẹ cô ngồi đằng sau vẫn luôn nhắc nhở cô đánh lái và niệm Phật nho nhỏ trong miệng suốt quãng đường.
Nhiên đi chậm rãi, khá vững tay lái trên con đường nhựa bằng phẳng. Khuôn mặt cô tỏ vẻ hết sức thích thú trong vai trò người cầm lái, rồi bỗng nhiên biến sắc bất ngờ. Mắt chữ A, mồm chữ O, Nhiên giật mình khi ngay trước mặt mình là một đoạn đường dốc ngược. Thậm chí nhìn bằng mắt thường, đoạn dốc đó gần như dựng đứng. Chả những dốc như thế, nó còn vừa có độ cua ngoằn nghoèo rất trái khoáy.
Trong giây lát, nhìn thấy người đi xe đạp ngay đằng trước vừa lao xuống với tốc độ nhanh hơn cả một chiếc xe máy mà không cần đạp. Nhiên chợt nhận thấy sự nguy hiểm đáng sợ đang sắp xảy ra với tay lái chập chững của mình.
Lấy hết can đảm, Nhiên cứ thế đưa lái thẳng xuống con dốc dựng đứng đó, lao nhanh vun vút được tới nửa dốc bình yên vô sự. Nhiên lấy lại được chút bình tĩnh so với lúc mới nhìn thấy con dốc, nhưng chưa kịp hoàn hồn thì ôi thôi, cái gì ở trước mắt thế này.
Chưa kịp định hình, mẹ Nhiên từ phía sau hét lên:
– Con ơiiiii, một đàn bò, tránh ra, thắng xe đi connnnn !
Trời ơi, chiếc xe máy đang lao vun vút theo chiều dốc, gặp ngay một đàn bò gần hai mươi con đi ngang đường. Chúng lững thững xuất hiện một cách bất ngờ, mỗi con rẽ một hướng, đi chẳng có hàng lối gì cả. Nhiên dù có phản ứng nhanh cũng không biết tấp xe vào đâu để tránh khỏi những con bò vô tổ chức này.
Mẹ bảo phải thắng xe, đúng rồi, sao Nhiên không nghĩ ra nhỉ. Nhưng mà thắng xe bằng cách nào, cái này thì Nhiên chưa được học, mẹ cũng quên không dạy cho cô khi bắt đầu cầm lái. Tinh thần hai mẹ con bắt đầu hoảng loạn, không kiểm soát được gì nữa. Mẹ Nhiên bất giác niệm Phật rất to và gấp gáp, như thấu tới tận trời xanh:
– A Di Đà Phật! A Di Đà Phật! A Di Đà Phậtttttt !!!
Nhiên khi ấy đã mất bình tĩnh thật sự, mẹ cô càng hét to, cô càng hoảng loạn, bất giác tay cô lại càng vặn ga mạnh hơn. Cho tới khi chỉ còn cách đàn bò chưa đầy hai mét… Rầm một cái! Chiếc xe phóng như bay đâm thẳng vào thân một con bò đang ngơ ngác.
Có lẽ do cơ thể bị chấn động quá mạnh nên hai mẹ con bất tỉnh nhân sự ngay sau đó và chẳng còn biết gì nữa. Cho tới một lúc sau, cũng chẳng rõ là khoảng thời gian bao lâu, hai mẹ con dần tỉnh lại, đầu óc choáng váng, vừa mở mắt thì thấy quang cảnh trước mặt vẫn còn lờ mờ, sầm tối, dần dần mới thấy rõ nét và sáng sủa trở lại.
Nhiên đưa mắt nhìn xung quanh, thấy mình nằm lọt thỏm trong một cái hố cát ở bên bãi đất trống phía trong lề đường. Thật kỳ diệu, nó là cái hố cát duy nhất quanh đây, còn lại khắp xung quanh toàn lổn nhổn những tảng đá chẻ rất to, có cả đá sỏi và cây cỏ đầy gai góc, rồi sực lên cả mùi phân bò lẫn rác rưởi thật là khó ngửi. Nếu đi chân đất lên cũng đau rát chứ đừng nói ngã lên đó chỉ có nát người.
Nếu không phải Nhiên rơi vào cái hố cát này, mà thay vào đó chệch đi chỉ một gang tay thôi, thì có lẽ đã không còn sống mà tỉnh lại như thế này được nữa. Đứng dậy kiểm tra, may mắn làm sao, Nhiên chỉ bị trầy xước một chút ở chỗ cùi chỏ tay không đáng kể.
Thấy Nhiên tỉnh lại, người dân xung quanh chạy lại đỡ cô ngồi dậy.
– Tôi ở đây đã chứng kiến nhiều vụ tai nạn ở con dốc này chỉ vì mấy con bò đó. Chưa thấy ai ngã mà không phải đi cấp cứu cả. Mẹ con nhà này thoát nạn thật là không thể tin được. Tông mạnh kinh khủng như thế mà lại chẳng hề hấn gì. – Một người dân chứng kiến từ đầu đến cuối vừa đỡ cô dậy vừa nói.
Lúc này Nhiên mới hoàn hồn, lập tức đưa mắt khắp bốn phía tìm mẹ. Thật may mắn chẳng khác gì cô, mẹ Nhiên bị hất mạnh nhưng lại rơi trúng vào một đống rơm mềm mại giữa một bãi đất đầy đá sạn gồ gề chẳng kém chỗ Nhiên.
Tất cả mọi người chứng kiến ở đó đều không thể lý giải nổi sự thoát nạn hy hữu này. Với sức tông mạnh và người bị văng đi xa như thế, chỉ có chết chứ sống làm sao được. Vụ tai nạn xảy ra ở giữa đường, nhưng cả hai mẹ con lại bị văng cách xa cả 20 mét chứ không ít, táp vào bãi đất bên trong sâu lề đường, và lại rơi trúng vào bãi cát và đống rơm không hề hấn gì. Đúng là có lý giải thế nào họ cũng không hiểu được sự may mắn quá sức tưởng tượng đó.
Còn đối với mẹ con Nhiên, sau khi đã bình tĩnh trở lại, xâu chuỗi lại sự việc thì cả hai đều hiểu ra, đó không phải là may mắn, mà là nhờ công đức niệm Phật trên cả quãng đường của mẹ và cả quá trình tu tập theo Phật Pháp hàng ngày của hai mẹ con mà thoát nạn. Mẹ Nhiên là người ăn chay trường, tụng kinh, niệm Phật hàng ngày. Bản thân Nhiên cũng rất tinh tấn hành trì Phật Pháp và đã không ít lần thoát chết nhờ niệm Phật. Phật Pháp đã sinh ra Nhiên một lần nữa, thật chẳng sai.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Nguyễn Thị Ngọc Nhiên)
Nhân quả luôn đi liền với nhau, như bóng theo hình, không hề sai sót. Đã gieo nhân, ắt sẽ gặt quả. Đó là điều tất yếu. Ấy thế nhưng Nhân quả thường đến chậm, nên nhiều người không biết sợ, vẫn mặc sức tạo ác. Đến lúc nhận lãnh quả báo, lại lầm tưởng rằng đời bất công, vì đã quên mất cái nhân của nó từ bao giờ chẳng hay.
Tuy nhiên, cũng có những trường hợp Nhân quả diễn tiến nhanh ngay trong một đời chẳng cần chờ tới kiếp sau, giúp cho người trong cuộc tự quán chiếu được sự vận hành của luật Nhân quả vẫn luôn hoạt động, dù bạn có tin hay không.
Câu chuyện có thật của gia đình Thu Thủy sống tại Thuận An, Bình Dương là một minh chứng thực tế cho điều này. Chuyện bắt đầu từ bà ngoại Thủy. Bà vốn là dân xứ Campuchia vượt biên sang Việt Nam, sống ở vùng Đồng Tháp Mười. Nhắc đến bà, có lẽ cả một vùng Đồng Tháp Mười đều đã nghe danh, xong đấy không phải là một danh xưng để con cháu tự hào cho lắm.
Khi mới sang, bà ngoại Thủy mang theo được rất nhiều vàng làm của cải. Số vàng này chính là gia sản giúp bà phất lên nhờ cho vay nặng lãi. Cứ ai cần mua món đồ gì mà không đủ tiền, bà sẽ ứng tiền ra để mua cho họ, đổi lại họ phải trả cho bà với giá cao hơn nhiều mức giá trên thị trường.
Thường những người vay của bà đều ở diện khó khăn, cơm lo từng bữa, nay phải gánh thêm một khoản nợ như tảng đá đè nặng trên vai, mỗi ngày trôi qua đều không được an ổn. Cái nghề này chính là kiếm tiền trên nỗi đau của người khác, khiến những người đã nghèo lại ngày càng chìm đắm vào nợ nần, sống một cuộc đời luôn bất an.
Suốt quãng đời mấy chục năm cho vay nặng lãi, làm sao có thể gặt quả báo tốt đẹp được. Tiền kiếm ra bất chính và dễ dàng, khiến bà sinh tật cờ bạc, có bao nhiêu tiền cũng đốt hết vào đó, cho tới tán gia bại sản mới thôi. Bóc lột tiền của người, nay phải trả lại cho người cũng là lẽ bình thường, chứ có gì là bất công.
Chưa hết! Tiền bạc tiêu tán hết đã đành, cái hành bà thống khổ khi về già chính là sức khỏe cũng chẳng còn. Thân già yếu ớt lại bị liệt nửa người, đi không đi được, đứng chẳng đứng được. Cả ngày nằm trên chiếc gường đơn lụp xụp chờ con cháu xúc từng thìa cơm, thay từng cái áo, ngay cả vệ sinh đại tiểu tiện cũng hoàn toàn không tự làm được điều gì. Sống mà khổ hơn chết, xót xa vô cùng.
Bà ngoại Thủy cả thảy có bốn người con: một bác con trai trưởng và ba người con gái. Trong đó mẹ của Thủy là con gái thứ hai, là người con nghèo nhất nhưng lại có hiếu nhất.
Bác cả và hai cô út rất khá giả nhưng chẳng hề đoái hoài đến người mẹ đã già yếu bệnh tật liệt giường liệt chiếu, đến thăm nom chăm sóc còn chẳng có, nói gì chu cấp tiền bạc cho mẹ chữa trị. Gia đình Thủy tuy nghèo khó nhưng lại tận tình chăm sóc bà từng ly từng tí, rất hiếu thảo, mặc dù tính bà cũng không phải hiền lành dễ chịu, thậm chí khiến ba người con lớn không ai chịu nổi, đều lánh xa mẹ đẻ của mình.
Đau đớn về thể xác, cộng thêm nỗi đau tinh thần giằng xé nội tâm vì bị các con xa lánh bỏ mặc, khiến bà ngoại Thủy thường xuyên cáu kỉnh, khóc lóc.
Nhà Thủy nghèo, chỉ đủ cơm ăn áo mặc qua ngày, không có chút gì dư dả. Mẹ Thủy vẫn hết lòng báo hiếu bà ngoại, ngày đêm vất vả canh chừng chăm sóc mẹ. Có những hôm khi đêm về, đặt mình xuống giường một cái là mẹ Thủy ngủ say như chết vì cơ thể đã thấm mệt, chưa kể nửa đêm mỗi khi bà ngoại trở mình muốn đi vệ sinh, mẹ Thủy phải dậy tận ba bốn lần, khiến giấc ngủ từ lâu đã không được ngon giấc. Mệt mỏi là thế, lại thấy bà thường xuyên khóc lóc, đôi lúc khiến đứa con gái út vì bực mình quá, cả thân tâm đều bức bách. Nhiều lần, mẹ Thủy nhất thời nóng giận, quát to khiến bà ngoại đang liệt nửa người mà còn giật mình thon thót:
– Con mệt lắm rồi mà mẹ cứ khóc mãi. Mẹ đừng khóc nữa được không ?
Mỗi khi thấy không khí gia đình căng thẳng như vậy, ba đứa cháu ngoại, trong đó có Thủy cũng cảm thấy hết sức ngao ngán.
Cho tới ba tháng cuối đời của bà ngoại, chẳng những nằm liệt, bà còn bị hoại tử ở vùng mông phải, bị khoét đi một lỗ to bằng trái bưởi nhìn rất ghê sợ. Ai mà ngờ được người đàn bà “nổi danh” một thời son trẻ ở vùng Đồng Tháp Mười, về già lại phải chịu cảnh sống không còn gì tồi tệ hơn. Đúng là quả báo nhãn tiền.
Do nhà nghèo, mẹ Thủy phải xoay sở vay mượn khắp nơi cho bà ngoại đi viện phẫu thuật, đó là thời điểm năm 2009. May sao cũng gom góp được mỗi nơi một ít. Về phần ba người con còn lại, bác trai cả và hai cô út, dù có tiền của, nhưng chẳng chịu bỏ ra lo cho mẹ được đồng nào. Mẹ Thủy đã sang tận nhà xin các anh chị em cùng góp tiền phẫu thuật cho mẹ qua cơn nguy kịch, nhưng chỉ nhận lại những cái phớt lờ, giả vờ không có xu nào trong túi một cách trơ trẽn. Nếu như bà ngoại biết được, chắc cũng uất ức mà sinh bệnh nặng hơn.
Cuối cùng ca phẫu thuật cũng xong. Nhà Thủy đã nghèo nay càng túng thiếu vì nợ nần. Căn nhà nhỏ tạm bợ với sáu con người ấy đang phải gồng mình lên để sống từng ngày, chẳng biết trước ngày mai sẽ ra sao.
Bà ngoại cần được tẩm bổ sau phẫu thuật, mà vét sạch cửa nhà chỉ còn vài đồng lẻ, mẹ Thủy tính mua ít đồ bổ dưỡng cho bà uống nhưng rồi cũng phải gạt bỏ ý định qua một bên. Đúng là đã nghèo còn mắc cái eo, túng quẫn vô cùng.
Một tuần sau ca mổ, mẹ Thủy nghe hàng xóm xung quanh kháo nhau nhà anh cả trúng sáu tờ vé số độc đắc, trong lòng cô chẳng mảy may tham tiền của anh trai, nhưng vì xót cho mẹ già đang phải nằm một chỗ chờ chết, cô ngậm đắng nuốt cay, lò dò từng bước sang cửa nhà ông anh, khóc lóc, thủ thỉ đôi lời:
– Em hết tiền rồi, giờ mẹ mổ xong còn yếu quá, chả biết sống được bao lâu nữa. Anh có tiền thì cho em xin một chút về mua đồ tẩm bổ cho mẹ, được ngày nào hay ngày đó.
Ai ngờ đâu chưa nói dứt câu, ông anh cả từ chối thẳng thừng, còn đuổi thẳng cổ, không thèm đếm xỉa tới chuyện của mẹ mình, coi cô em gái và mẹ đẻ của mình không khác người dưng nước lã. Đến một chút nể nang cũng không hề có.
Mẹ Thủy bước ra khỏi cửa nhà anh trai, những giọt nước mắt rơi xuống nơi ngực áo, trên khuôn mặt cô đã lộ rõ vẻ mệt mỏi nhiều ngày, bất lực trước mọi thứ trước mắt vì không có tiền. Ừ thì coi như chẳng có gì tẩm bổ cho mẹ, nhưng số thuốc duy trì bác sỹ kê cho không thể dừng được. một vỉ thuốc cũng gần 300 nghìn vẫn phải lo cho đủ.
Thương mẹ, gia đình Thủy lại cố gắng chạy vạy khắp nơi lo thuốc cho bà uống được một tháng, nhưng sau đó thì cùng kiệt thật sự, chỗ vay được mẹ Thủy cũng đã vay cả, tiền chưa trả người ta nên chẳng thể nào vay thêm được nữa.
Hai tháng sau, bà ngoại Thủy ra đi mãi mãi, để lại trong lòng cả gia đình cô một nỗi buồn vô hạn. Lúc lâm chung, Thủy ở bên cạnh bà, cố gắng niệm Phật thật nhiều để trên đường xuống hoàng tuyền, bà cũng được tiêu trừ bớt nghiệp chướng. Âu cũng là một điều an ủi cuối cùng.
Vậy đấy, đó là quả báo nhãn tiền mà bà phải trả ngay trong đời này. Cho vay nặng lãi là một nghề bất thiện, đem lại tiền bạc nhất thời, nhưng chả bao lâu “của thiên lại trả địa”, còn phải gánh thêm những nỗi thống khổ khác: con cái bỏ mặc, sức khỏe không còn, sống lay lắt khổ sở. Đó cũng là bài học cho chúng ta lìa xa những nghề bất thiện, đừng kiếm tiền trên sự khổ nhọc của người khác. Trên đời này không có thành tựu lớn nào lại dễ dàng có được.
Vậy còn về phần những người con của bà thì sao?
Sau khi bà mất, hậu sự cũng là một tay gia đình Thủy lo liệu, ba người con còn lại chỉ thi thoảng qua thắp nén nhang vội rồi tất tả ra về. Hôm 49 ngày, vợ chồng nhà anh cả sang thắp hương, vừa thắp xong thì mẹ Thủy về tới cửa. Thấy vậy, cô con dâu trưởng vội vàng kéo tay áo chồng lôi đi, vừa lôi vừa nói:
– Về, về đi anh ơi, cô ấy về nhà rồi, vớ vẩn nó lại mở mồm vay tiền mình thì mệt.
Vậy là mới thắp xong nén hương, còn chưa kịp vái mẹ được cái nào, hai vợ chồng đứa con nghịch tử đã biến đi mất hút không thấy bóng.
Rồi cái gì đến cũng phải đến. Trên đời này chẳng ai tránh được Nhân quả của chính mình.
Ngày trước, khi mẹ già đang cần tiền mổ gấp, anh con trai không thèm đoái hoài, giả vờ không có tiền, nhưng thực tế là đem tiền đi mua căn nhà mới. Sau này, ông ta lại dính vào cờ bạc đỏ đen y như mẹ mình.
Sau một tháng sang Campuchia chơi bạc, ông thua trắng tay, mất hết tất cả, thậm chí về tới Việt Nam còn phải bán căn nhà mới mua kia để trả nợ. Từ một gia đình khá giả như vậy, chỉ sau một tháng, sạch sẽ không còn đồng nào, phải đi thuê nhà trọ để sống tạm bợ qua ngày. Cuộc sống từ đó lâm vào cảnh khốn đốn.
Vâng, tất nhiên Nhân quả không chỉ dừng ở đó. Ông còn bị dính HIV, căn bệnh thế kỉ mà cả nhân loại kinh sợ. Cơ thể mỗi ngày một tiều tụy, gầy guộc đến đỗi chỉ còn da bọc xương. Da dẻ thì lở loét ngứa ngáy trông thật đáng sợ. Đi đâu người ta cũng xa lánh, hắt hủi ông như cái cách mà ông đã từng hắt hủi mẹ mình.
Nhà không có tiền, viện phí thì lại quá lớn, phải nhờ đến mẹ của Thủy mới có tiền trả. Sau khi từ viện trở về, người anh cả sống với người vợ hai. Ông dở chứng hung bạo, đánh đập vợ không nương tay. Suốt một năm người vợ bị đánh đến đỗi máu me be bét, thâm tím toàn thân. Rồi không bao lâu cô ấy qua đời.
Ông với người vợ trước có với nhau một cô con gái, xong từ lâu không ở với ông mà ở bên nhà ngoại. Sau này họ cũng bán nhà đi nơi khác, khiến ông mất liên lạc với con ruột. Mà bản thân cô con gái cũng đã bỏ mặc bố từ lâu, không nhận ông làm cha. Dù ông có bệnh tật thì nó cũng coi như người dưng nước lã.
Nhân quả nào có sai một tơ hào. Ông đối xử với mẹ mình như thế nào, giờ ông phải gánh chịu hoàn toàn cái cảm giác đó, tuổi già bệnh tật, cô quạnh, tán gia bại sản, chẳng còn lại được gì. Ngày ngày ông đem cái thân bệnh tật ấy đi bán vé số dạo khắp hang cùng ngõ hẻm tìm con, rồi lại nhậu nhẹt, cá độ. Cuộc đời ông lại tiếp tục trượt dài mãi chưa có điểm dừng chân.
Còn hai người con gái út, xưa cũng bỏ mặc mẹ không lo lắng chăm sóc. Kết quả cũng không tốt đẹp gì. Từ những người giàu có, trong vòng hai năm cả hai đều phá sản. Chẳng những thế còn mang theo một đống nợ, không có tiền trả người ta phải trốn chui trốn lủi, dạt sang cả các tỉnh thành khác. Đi tới đâu lại bị chủ nợ tìm tới đó, lại tiếp tục chạy trốn khắp nơi. Cuộc đời từ đây tối tăm mù mịt không còn thấy lối thoát.
Trong kinh Đức Phật đã dạy, bất hiếu là tội rất nặng. Những gì mà ba người con này đang phải chịu đựng chỉ là hoa báo hiện đời, chưa kể tới quả báo họ phải chịu sau khi sang bên kia thế giới. Nếu như không biết sám hối, sửa đổi lỗi lầm, tạo nhiều công đức lớn lao để bù đắp, thì e rằng quả báo đời sau còn thống khổ hơn gấp bội.
Ngược lại với họ là gia đình Thủy. Sau khi bà mất được ba tháng, run rủi thế nào mẹ Thủy lại lượm được một tờ vé số ở chỗ chùa Bà, thuộc khu vực ngã Sáu ở Thuận An. Đem đi so, không thể tin nổi, nó lại là tấm vé số độc đắc, thế là đổi đời. Rồi trong vòng một năm sau đó, gia đình làm ăn phất lên hẳn, xây được một căn nhà và mua được một miếng đất 800 m2. Thật sự là điều trước kia gia đình Thủy chưa bao giờ dám mơ ước.
Sau quãng thời gian dài trật vật vay ngược vay xuôi, tận tình chăm sóc mẹ già bệnh tật, báo hiếu mẹ hết lòng, số phận đã mỉm cười với gia đình Thủy. Cả nhà nay đã thoát được cảnh lao đao, cuộc sống dư giả thoải mái. Đúng là mọi thứ công bằng. Cán cân Nhân quả không bao giờ sai lệch.
Bố mẹ Thủy có ba người con gái, trong đó Thủy là con gái út. Hai người chị học hành giỏi giang, chỉ có Thủy là học kém nhất. Ba đứa con trong nhà đối với họ hàng anh em đều thuộc diện ngoan ngoãn, thế nhưng trái khoáy là bị cái tật hay cãi và đôi khi to tiếng với cha mẹ, làm cha mẹ có lúc phải buồn phiền vì con.
Nhất là người chị thứ hai của Thủy, dù có tài, lại chịu thương, chịu khó, làm được bao nhiêu tiền đều đưa hết cho cha mẹ chi tiêu hàng tháng. Nhưng cô cũng có phần ngang ngược, hay cãi lại cha mẹ nhất nhà.
Phước nghiệp luôn đan xen nhau chi phối đời sống của chúng sinh như vậy đó. Đây cũng chính là cái quả mà từng thành viên trong gia đình Thủy phải hứng chịu tùy theo các nhân đã gieo. Mặc dù xưa kia bố mẹ Thủy rất có hiếu với bà ngoại, nhưng vẫn không tránh được những lúc la mắng bà khi bà đang nằm bệnh. Vì nhân đó, mà nay phải chịu cảnh các con tuy về cơ bản là ngoan ngoãn, nhưng vẫn có những lúc chúng to tiếng cãi lại. Thật không chạy đâu cho thoát khỏi quy luật Nhân quả này được.
Luật Nhân quả là quy luật bao trùm toàn thể vũ trụ. Khắp hư không pháp giới, không nơi nào thoát khỏi bàn tay sắp xếp của Nhân quả nghiệp báo. Nó công bằng và chi tiết từng chân tơ kẽ tóc, không hề sai sót dù chỉ một tơ hào, chính xác đến từng li từng tí.
Chỉ là Nhân quả vừa thầm lặng, vừa phức tạp sâu xa, trí lực con người chúng ta thì cạn cợt kém cỏi, đối với những việc quá chi li phức tạp trong vô hình không sao thấy biết được. Các bậc Thánh nhân trí tuệ siêu việt thấy được Nhân quả vận hành, nên cố gắng răn dạy đạo lý sống thuận theo Nhân quả, cho người đời noi theo mà được hưởng an vui. Xong phàm phu đa số chẳng chịu tin nhận, mặc tình sống ngược với đạo lý, để rồi chuốc lấy cay đắng khổ đau, thật đáng tiếc như chuyện ba người con bất hiếu kể trên.
Ngược lại, may mắn thay cho số ít những người dù chưa đủ trí tuệ tự mình thấu đạt Nhân quả, nhưng biết tin nhận lời Thánh nhân mà sống đúng đạo lý, sớm hay muộn, kiếp này hay kiếp sau rồi thì đều sẽ được hưởng an vui, hạnh phúc.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Võ Thị Thu Thủy)
Là mẹ của hai cô con gái dễ thương thông minh lanh lợi, lần này em bé thứ ba đến với Như Quỳnh hết sức bất ngờ, khiến vợ chồng cô vừa mừng vừa lo. Vì không có kế hoạch mang bầu từ trước, trong suốt thời gian vừa qua Quỳnh vẫn sử dụng thuốc giảm cân để lấy lại vóc dáng thời con gái. Thế nên cô không khỏi lo lắng thuốc có thể gây ảnh hưởng tới em bé trong bụng.
Mọi thứ vẫn ổn cho tới tuần thai thứ 14. Bỗng nhiên Quỳnh bị đau bụng không rõ nguyên nhân. Nó chẳng phải kiểu đau dữ dội, quằn quại, cũng không đau theo từng cơn, cả ngày dù nằm hay ngồi, hai tay cô luôn ôm nhẹ phần bụng dưới, miệng rên rỉ từng tiếng trong cổ họng. Tuy chỉ đau lâm râm, nhưng cơn đau kéo dài liên tục không dứt khiến gia đình nghi có vấn đề bất thường, không thể ngồi yên nữa, tức tốc đưa Quỳnh tới bệnh viện kiểm tra.
Chờ đợi một hồi, cô y tá cầm tờ phiếu nói vọng ra ngoài hành lang:
– Mời sản phụ Nguyễn Lý Như Quỳnh, sinh năm 1985, ở thành phố Biên Hoà, Đồng Nai vào khám.
Quả đúng như dự tính, sau quá trình siêu âm, xét nghiệm, bác sỹ thông báo thai nhi đã bị bóc tách 15%, có dấu hiệu sắp sẩy, cần phải đặt thuốc dưỡng thai ngay. Nghe kết luận, nét mặt Quỳnh bỗng chốc không giấu được vẻ lo lắng. Vậy là những dự đoán từ trước của cô đã trở thành sự thật.
Là một Phật tử, có chút hiểu biết giáo lý cơ bản, tuy không tránh khỏi lo lắng nhưng Quỳnh cũng hết sức bình tĩnh. Không rầu rĩ buồn phiền như những người khác cùng cảnh ngộ, trở về nhà, buổi tối Quỳnh tiếp tục công phu tu tập như cô vẫn duy trì kể từ khi biết mình mới cấn bầu.
Trong suốt khoảng ba tháng vừa rồi, ngày nào cũng vậy, sau khi đã xong hết các công việc, Quỳnh tắm rửa sạch sẽ, sửa soạn trang phục chỉnh tề, cung kính thành tâm trì 7 biến chú đại bi cùng một phẩm kinh Địa Tạng hồi hướng cho thai nhi, sau đó Quỳnh sám hối với oan gia trái chủ rồi mới yên tâm đi ngủ.
Cũng chính ngày Quỳnh nhận kết quả dọa sẩy thai, tối hôm đó, sau khi công phu xong, cơ thể đã thấm mệt, Quỳnh nhanh chóng chìm vào giấc ngủ và mơ thấy một giấc mơ kì lạ.
Trong giấc chiêm bao, Quỳnh rảo bước chậm rãi trên con đường nhỏ dẫn tới ngôi nhà của một vị thầy thuốc. Chưa kịp lên tiếng hỏi, bỗng có một người đàn ông dáng vẻ oai nghi bước ra từ trong căn nhà, đi tới phía cô, cất giọng trầm ấm:
– Để tôi mang con của cô ra ngoài nuôi dưỡng.
Quỳnh hốt hoảng trả lời:
– Con của con mới có mười mấy tuần tuổi sao mà mang ra ngoài dưỡng được?
Quỳnh nhất định không chịu, nhưng vị ấy vẫn một mực quả quyết:
– Tôi làm được…!
Không kịp để Quỳnh phản ứng thêm nữa, vị ấy liền đưa tay xuyên từ ngoài vào trong bụng cô lấy ra một cái bọc dài trong đó có đựng em bé, rồi ông hẹn tới ngày bao nhiêu đó tới lấy con.
Vẫn trong giấc mơ ấy, đến đúng ngày hẹn, Quỳnh tới ngôi nhà tìm vị thầy thuốc. Ông cầm cái bọc dài đó nhét lại vào bụng Quỳnh. Chưa kịp phản ứng gì thì cô tỉnh giấc.
Đối với người khác đây có thể là một giấc mơ lạ lùng, còn với Quỳnh lại không có gì khó hiểu. Cô biết do công phu hành trì Phật Pháp bấy lâu nay mà tấm lòng của cô cảm được tới các Ngài. Kể từ đó, đúng là thai kì của Quỳnh rất ổn định, không hề có vấn đề gì bất thường xảy ra.
Quỳnh đã biết tu tập từ khi mang bầu hai đứa con lớn. Lúc mang bầu đứa đầu lòng, tuy chưa biết đọc kinh, nhưng cô hay nghe các thầy giảng pháp, một tháng ăn chay 10 ngày, đứa bé khi sinh ra rất lanh lợi thông minh. Khi bầu bé thứ hai, mỗi ngày Quỳnh đã biết đọc một phẩm kinh Địa Tạng, trì chú Đại Bi, vậy là đứa thứ hai cũng thông minh sáng dạ y như đứa đầu, đi đâu cũng được mọi người đặc biệt thương yêu, cưng nựng.
Đến đứa thứ ba, sự hành trì của Quỳnh vẫn tinh tấn và chân thành như vậy. Sau khi thời khóa xong, cô không quên hồi hướng công đức tu tập cầu cho mình có một đứa con trai, và được sinh bé vào tháng 6 âm lịch, vì ngày dự sinh của Quỳnh là ngày 27/8/2020 tức mùng 09/07 âm lịch.
Suốt chín tháng bụng mang dạ chửa, tinh tấn tu tập theo Phật Pháp, đến ngày 03/08/2020 tức 14/06 âm lịch, em bé được 36 tuần rưỡi, Quỳnh chuyển dạ sinh một bé trai nặng 2,4 kg. Tuy nhẹ cân, nhưng sức khỏe của bé hoàn toàn tốt. Sau này khi bé được gần hai tháng, số cân đã tăng gấp đôi một cách nhanh chóng, rất bụ bẫm đáng yêu.
Điều đặc biệt nhất là lúc mổ lấy em bé, các bác sỹ, y tá phải thốt lên:
– Ồ! sướng nha, em bé trong bọc điều, bé sau này sướng lắm. Để bác sỹ cắt bọc cho bé thở nha!
Quỳnh còn đang nằm yên trên giường đẻ, nghe bác sĩ nói em bé trong bọc điều, cô chợt xúc động, nhớ lại giấc mơ ngày trước. Lúc bé được vị thầy thuốc ấy lấy ra cũng đang nằm trong bọc và bây giờ bé được sinh ra vẫn nằm nguyên trong bọc. Trong lòng Quỳnh dấy lên niềm cảm ân sâu sắc chẳng thể nói hết tới chư Phật Bồ Tát đã gia hộ cho mẹ con cô.
Phật Pháp nhiệm màu, nếu chúng sinh biết tu tập theo Phật Pháp sẽ có được rất nhiều lợi ích lớn lao trong cuộc sống. Những câu chuyện thực tế đã được chia sẻ và đăng tải rất nhiều, là minh chứng rõ ràng nhất, phá tan mọi nghi hoặc. Nếu chúng ta cứ mãi khăng khăng giữ lấy những quan điểm cố hữu, mà không thử tự mình nghiêm túc nghiên cứu, đọc kinh, hành trì để có những trải nghiệm cho bản thân, chính là đã bỏ lỡ một kho tàng báu vật quý giá nhất trên thế gian này.
Đức Phật thị hiện ở đời, mục đích rốt ráo là chỉ dạy cho chúng sinh con đường giải thoát luân hồi sinh tử, con đường thành Phật độ sinh. Nhưng các Ngài cũng dùng nhiều phương tiện hết sức khéo léo giúp chúng sinh giải quyết tạm thời những đau khổ của đời sống hàng ngày, để lấy sức tu hành cầu giải thoát, có được sự an lạc vĩnh hằng.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Nguyễn Lý Như Quỳnh)
Đêm đã về khuya, căn nhà cổ kính ở số 5 ngõ Phan Chu Trinh, Hà Nội cũng đã chìm vào tĩnh lặng như những căn nhà khác cùng dãy phố. Trong nhà, Xuân cùng mọi người trong gia đình cũng đã yên giấc ngủ say. Bốn bề yên ắng.
Bất chợt Xuân tỉnh giấc. Một cơn đau bụng dữ dội đánh thức cô dậy, nó rất lạ, không rõ là loại đau bụng gì. Cô lăn qua lăn lại, xong vẫn cố giữ yên lặng để mọi người ngủ. Từ ngày về làm dâu nhà này, Xuân chưa gặp tình huống như thế lần nào. Cơn đau cứ tăng dần, càng lúc Xuân càng lăn lộn dữ dội hơn, khiến chồng cô tỉnh giấc, quay sang hỏi tình hình Xuân ra sao. Từ trên giường nhảy xuống, chồng Xuân vội vàng với lấy công tắc bật đèn, rồi quay lại nhìn vợ.
Xuân hai tay ôm bụng, lăn qua lăn lại trên giường, miệng rên lên từng hồi, chẳng nói được lời nào nữa vì quá đau đớn. Mẹ chồng Xuân thấy động tĩnh cũng sốt sắng sang xem.
Bỗng dưng, Xuân cảm giác cơ thể mình rất khác lạ. Cô vẫn tỉnh, vẫn nhận thức được mọi chuyện, nhưng không còn điều khiển được cơ thể nữa. Một thế lực nào đó đã khống chế cơ thể cô, từ từ ngồi dậy, hai chân thõng xuống mép giường, mắt quắc lên đỏ ngầu, toát ra những tia nhìn hung dữ. Rồi cái cơ thể ấy khẽ nhếch môi lên, hai hàm răng nghiến lại, gằn ra từng chữ:
– Tôi về rồi đây…
Chồng Xuân chợt nổi da gà vì ánh mắt và giọng nói của vợ tự nhiên thay đổi lạ lùng, như chẳng phải của vợ mình, thậm chí nó cứ rờn rợn và ma quái kiểu gì rất khó tả. Anh hỏi:
– Em sao vậy ?
Đột nhiên, Xuân chỉ thẳng tay vào mặt chồng và cả mẹ chồng, quát tháo ầm ĩ, kêu la om sòm khiến không gian tĩnh mịch buổi đêm bỗng chốc bị phá tan:
– Tôi căm ghét các người, cả cái gia đình này, ghét từ già đến trẻ. Trông thấy các người, mà khó chịu quá. Còn đứa cháu gái của các người nữa, tôi sẽ cho nó phát điên…
Mẹ chồng Xuân sau một thoáng bất ngờ, liền hiểu ngay ra vấn đề ở đây là gì, vì đây không phải lần đầu tiên. Bà biết Xuân đang bị một vong hồn khác nhập vào. Bà thở dài, quay sang chồng Xuân, hai mẹ con nhìn nhau chẳng nói gì, nhưng dường như họ đã tự ngầm hiểu trong lòng, rồi sởn cả gai ốc.
Sau khi làm náo loạn cả nhà, được một lát, Xuân lại nằm xuống, tự chìm vào giấc ngủ. Một buổi đêm rùng rợn cũng qua đi. Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, nhớ lại chuyện đêm qua, Xuân hớt hải gặp mẹ chồng để giải thích. Xong trái với những gì Xuân nghĩ, mẹ chồng cô lại rất điềm tĩnh. Bà thong thả kể lại một câu chuyện thương tâm cách đây 25 năm về trước.
Hồi đó là năm 1997, giữa ông nội chồng Xuân và con gái – tức là cô chồng Xuân, hai cha con đã xảy ra xích mích với nhau hết sức căng thẳng. Tất cả chỉ vì tranh chấp tài sản nhà cửa.
Cuối cùng, ông nội trong cơn giận dữ, một phút mất đi lý trí đã đổ xăng vào con gái mà châm lửa đốt. Cả cơ thể cô bỗng thoáng chốc biến thành ngọn đuốc cháy bùng dữ dội, dẫn đến cái chết thê thảm của cô chồng Xuân. Ngay sau đó ông cũng uống thuốc tự tử, nhưng may mọi người cấp cứu kịp thời nên ông không chết. Phải đến vài năm sau ông mới qua đời vì tuổi già sức yếu.
Thảm án ấy xảy ra đúng trong căn nhà này, và vong hồn người cô chồng bị chết cháy vẫn thường lẩn khuất trong nhà, gây ra không ít chuyện kỳ quái. Chuyện đêm qua, cũng là một trong số những chuyện kỳ quái như vậy.
Xuân nghe xong thì trong lòng sợ hãi, da gà nổi lên, lông tóc dựng đứng khi nghĩ đến việc bấy lâu nay, cô sống trong một căn nhà ma ám. À mà còn việc bà cô chồng đó, trong lúc quát tháo có nhắc đến “đứa cháu gái” – tức là con gái Xuân, bà ta nói sẽ làm nó bị điên. Nghĩ đến việc này mà Xuân lo lắng suốt mấy ngày trời.
Thời gian trôi đi, mọi thứ cũng dần đi vào quên lãng, không ai còn nhắc đến cái đêm rùng rợn đó nữa. Cho tới một ngày …
Hôm ấy, khi vợ chồng Xuân đang ngồi trong phòng khách, bỗng nghe trong bếp có tiếng đập bát đũa loảng xoảng. Hai vợ chồng chạy vội vào thì đã thấy đồ đạc thau nồi liểng xiểng khắp nơi trên sàn nhà.
Họ thất thần khi nhìn thấy đứa con gái lớn mặt mũi hằm hằm, nghiến răng nghiến lợi, ném hết tất cả những thứ nó vơ được trên mặt bếp ném xuống.
– Trời ơi, con làm cái gì thế này ? – Xuân hoảng sợ nói.
Đáp trả lại, con gái cô hét lên, xổ thẳng vào mặt bố mẹ mình:
– Ông bà cút ra ngoài kia, không tôi đánh cho bây giờ.
Trời ơi, chuyện gì đang xảy ra vậy? Hai vợ chồng Xuân ngã ngửa cả người khi chứng kiến tất cả mọi thứ đang diễn ra. Kì lạ thay, chỉ một hồi sau, con bé lại bình thường trở lại như chẳng hề có gì xảy ra. Có hỏi nó sao lại làm vậy, thì nó chỉ thẫn thờ chẳng nói gì.
Thôi, thế là xong. Chuyện Xuân lo lắng bấy lâu đã thành sự thật, vong hồn bà cô chồng đã “rờ” đến con gái Xuân, như lời bà ấy đã nói. Và rồi kể từ đó, liên tiếp xảy ra những trường hợp tương tự.
Mỗi khi con gái Xuân “lên cơn”, là bé chửi mắng cha mẹ, thậm chí còn xông thẳng vào đánh cha mẹ cho hả dạ. Chưa kể thời gian này bé còn bỏ bê học hành, chẳng thiết tới trường, mặc dù trước kia tình hình học tập của con rất ổn.
Là một người mẹ, Xuân hết sức khổ tâm nhìn bé trở nên điên dại bất thường. Mà khổ, đây không phải như một căn bệnh thể xác bình thường mà đi tìm thuốc chữa, mà nó lại là một vấn đề tâm linh.
May mắn, Xuân vốn bén duyên với Phật Pháp từ tháng 7 âm lịch năm 2020, thường ngày cô hay đọc các bài viết về Phật Pháp trên mạng, lâu dần cũng có chút hiểu biết. Cô hiểu rằng, đối với những vong hồn chết oan như bà cô chồng, vốn đáng thương hơn đáng sợ. Muốn hóa giải được vấn đề, chỉ có cách làm sao giúp cho bà cô chồng được siêu thoát.
Xuân lên chùa, thỉnh các sư cầu siêu cho bà cô chồng. Chính Xuân cũng tụng 7 biến kinh Địa Tạng hồi hướng cầu cho hương hồn cô chồng siêu thoát. Xong mãi vẫn chưa thấy con gái có chuyển biến gì, Xuân chán nản, mọi chuyện lại lâm vào bế tắc.
Một lần Xuân đọc được bài viết “3 BÍ QUYẾT CẦU ĐƯỢC ƯỚC THẤY – BIẾN ƯỚC MƠ THÀNH HIỆN THỰC ” do tác giả Quang Tử đăng trên Facebook, cô chợt lóe lên một tia hi vọng.
Link bài viết:
3 BÍ QUYẾT “CẦU ĐƯỢC ƯỚC THẤY”- BIẾN ƯỚC MƠ THÀNH HIỆN THỰC
Không phải vì cô tìm thấy trong bài viết này một cách thức nào mới mẻ, vì trước đó cô đã biết và áp dụng rồi, mà là bài viết đã giúp cô hiểu ra một điều: cần phải tiếp tục dùng hết tâm huyết để làm công đức thật nhiều, hết mức có thể để hồi hướng, tới khi nào có kết quả mới thôi.
Bởi vì nghiệp chướng nặng nhẹ khác nhau. Có những việc chỉ cần ít phước đã có thể hóa giải, nhưng có những việc cần một lượng phước rất lớn, và cần kiên trì lâu dài mới có thể chuyển hóa được. Nếu chỉ vì chưa thấy kết quả mà bỏ dở giữa chừng, sẽ giống như người trồng cây xoài mà đợi vài tháng không thấy cây ra hoa kết trái, đã vội chán nản bỏ cuộc, không tưới tắm chăm sóc nữa, để mặc cây chết. Thế thì làm sao có ngày hưởng thành quả được ?
Vậy là Xuân quyết tâm tiếp tục công cuộc siêu độ cho bà cô chồng, một cách thành tâm nhất có thể. Xuân kể từ đó bỏ ăn mặn, chuyển sang chay trường, đọc tụng thêm 9 biến kinh Địa Tạng nữa. Thấy vẫn chưa đủ, cô kiên trì chép tay thêm 3 biến kinh Địa Tạng, và mẹ chồng Xuân cũng phát nguyện chép 3 biến kinh Địa Tạng nữa, có bao nhiêu công đức đều hồi hướng cho hương linh cô chồng được tiêu trừ nghiệp chướng, sớm siêu thoát về cõi an lành. Chẳng những thế, Xuân còn khuyên nhủ được các anh chị em, các cháu trong nhà và hàng xóm cùng chép kinh Địa Tạng, tạo thành một phong trào sôi nổi…
Kể từ đó, mọi việc dần chuyển biến tốt lên thấy rõ. Có lẽ nhờ những công đức mọi người hồi hướng cho, cô chồng Xuân đã siêu thoát về một cõi tốt lành nào đó, không còn thấy nhập vào con gái Xuân nữa.
Thế rồi một năm cũng trôi qua, trong nhà không còn phát sinh các hiện tượng kỳ quái nữa. Mọi việc trong gia đình đã ổn định, con gái Xuân đã hoàn toàn bình thường như trước, thậm chí còn thi đỗ vào một trường cấp ba thuộc top đầu Hà Nội.
Chẳng những chuyện gia đình Xuân được hóa giải, mà những người được Xuân hướng dẫn chép kinh cũng đều thấy mọi thứ trong cuộc sống thuận lợi hơn nhiều. Mọi người đều tăng tín tâm với Phật Pháp, với Tam Bảo, còn nhờ Xuân hướng dẫn tụng kinh hàng ngày.
“Chết là hết” – Đó là quan điểm đã ăn sâu, bám chặt trong tâm trí nhiều người. Thế nhưng có biết bao trường hợp thực tế đã xảy ra trên khắp thế giới được ghi nhận, từ châu Á tới châu Âu, từ thời xa xưa cho tới thời hiện đại… hàng loạt bằng chứng rõ ràng về thế giới tâm linh vẫn diễn ra, khẳng định sự tồn tại về sự sống sau cái chết, ấy nhưng mà vẫn luôn rất nhiều người không chịu tin.
Xong mặc kệ là người ta có tin hay không, cõi vô hình vẫn luôn tồn tại và tác động tới cuộc sống con người, thậm chí vì oan oan tương báo mà khiến nhiều gia đình lâm vào hoàn cảnh thống khổ không nói hết.
Thực tế luôn có rất nhiều trường hợp bị vong hồn tác động giống như Xuân và con gái, đang bình thường bỗng dưng thay đổi tính nết, thường lên cơn như thể người điên, lăn lê bò toài, vô cớ đánh đập, chửi mắng người thân trong gia đình, thậm chí bỏ học, bỏ làm, khiến con đường học hành, sự nghiệp bị dở dang.
Người thân thì mất ăn mất ngủ, đưa đi viện khám lại chẳng ra bệnh. Bí quá lại tìm đến thầy bùa, thầy cúng để trấn yểm, gia tăng thù oán với vong hồn, kéo thêm nhiều âm binh về nhà, khiến mọi chuyện phức tạp rối ren hơn nữa, tiền mất tật mang, tiềm ẩn những hậu họa khó lường.
Những trường hợp như thế, cách hoàn hảo nhất chỉ có thể nương theo cách hóa giải của Phật Pháp, kiên trì tạo nhiều công đức mà hồi hướng cầu cho vong hồn siêu thoát, mới giải quyết được vấn đề mà không để lại biến chứng gì, giống như cách Xuân đã làm. Không chỉ vong hồn được lợi ích, siêu thoát an lành, khúc mắc được hóa giải, mà chính những người sống cũng tăng thêm vô lượng công đức cho kiếp này lẫn những kiếp sau.
Vậy là căn nhà số 5 cổ kính trong con ngõ Phan Chu Trinh, sau bao sóng gió, giờ đã bình yên trở lại. Trong lòng Xuân dâng trào niềm cảm ân sâu sắc với Tam Bảo. Các Ngài vì thương chúng sinh đau khổ trầm luân không dứt mà thị hiện ở đời, đem chánh pháp giáo hóa hết thế hệ này đến thế hệ khác, như ngọn đèn soi sáng giữa bóng đêm tăm tối, đưa đường chỉ lối cho chúng sinh biết hướng mà đi.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Hoàng Thị Xuân )
Thời đại hiện nay đang nằm trong giai đoạn mạt pháp, chánh pháp đang dần bị lu mờ, ít được quan tâm, trong khi đủ các loại tà ma ngoại đạo lại ngày một nổi lên như cồn, khiến cho tâm chúng sinh đã sẵn u mê lại càng thêm điên đảo.
Những nhóm tà đạo này nắm bắt được tâm lý tham cầu của mọi người, lấy đó dẫn dụ, để rồi cuối cùng khiến cho bao người thân tàn ma dại, bao gia đình nhà tan cửa nát, xã hội rối ren tán loạn.
Chúng thường dùng thủ đoạn “thả con săn sắt, bắt con cá rô”, chúng đáp ứng cho người ta chút ít mong cầu, rồi sau đó mới thâu tóm hết cả thể xác, tinh thần lẫn tài sản của người bị hại. Chưa kể chúng dùng những phương thức dọa dẫm nhằm áp đảo tinh thần của tín chúng bằng những lời đe dọa mập mập mờ mờ, khiến người bị hại hoang mang khó lường, không có đủ trí lực để phân biệt đúng sai, đành phải nghe theo chúng.
Trang là một người đã trải qua tình cảnh như vậy. Cô tên đầy đủ là Ngô Thị Trang, 31 tuổi, hiện nay đang sinh sống tại phường Dư Hàng, quận Lê Chân, Tp. Hải Phòng. Không chỉ cô mà toàn thể đại gia đình cô cả hai bên nội ngoại, từ người già đến trẻ nhỏ trong nhà đều đang phải gánh chịu hết sức thê thảm.
Tính về tuổi đời, Trang đã ngoài ba mươi có lẻ, thế nhưng tính về sự từng trải, thì cô gái này cũng chả khác thanh niên mới lớn là bao, vẫn ngây ngây thơ thơ, ít có sự va vấp ngoài xã hội. Suốt bao năm tháng “trưởng thành”, Trang chỉ biết ăn và học, ngoài ra chưa phải lăn lội gì mấy với đời. Chính điều này khiến cho cô ấy không thể lường trước được những cạm bẫy và sự nguy hiểm đang được giăng lưới khắp nơi, chỉ trực chờ “ăn tươi nuốt sống” những con mồi béo bở ngây ngô.
Sau khoảng thời gian gặp gỡ tìm hiểu với một người đàn ông đã từng một lần đò, hơn cô mười tuổi, Trang quyết định tiến tới hôn nhân. Giống như bao người, Trang mong muốn có một cuộc hôn nhân ấm êm hạnh phúc, cô cho rằng việc chọn ngày cưới ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ chồng. Nhờ được một người chị thân thiết giới thiệu tới điện của một cô đồng để xem ngày đẹp cử hành hôn lễ, Trang cùng chồng lặn lội tới tìm nhờ cô đồng giúp đỡ.
Nhìn vợ chồng Trang bằng ánh mắt như muốn mê hoặc đối phương, cô đồng cất giọng nói:
– Anh đã từng phá bỏ một đứa con trai. Nên giờ nó đang bám theo anh. Chính nó là đứa đã phá hoại tổ ấm trước của anh, nên anh với người vợ cũ mới bỏ nhau như vậy.
Nghe những lời này, chồng Trang không khỏi hoang mang, mà thực ra cũng chả nhớ rõ ràng điều gì, nhưng lại gật gù cái đầu tỏ vẻ rất tin tưởng sự phán đoán của cô đồng.
– Vợ chồng cô nên thành khẩn tha thiết mà làm một cái lễ, nhỏ thôi, không cần phức tạp cầu kì, để đặt tên cho bé được an ủi. Có thế vợ chồng sau này mới thuận hòa được.
Y như đã hẹn, Trang cùng chồng tới điện cô đồng lần thứ hai để làm lễ đặt tên cho đứa con còn chưa rõ là đứa nào. Thế rồi bỗng nhiên bà đồng thông báo rằng đứa trẻ muốn về lại cái nơi mà chồng Trang trước kia đã có bé.
Thực tình mà nói, anh đâu có nhớ anh có đứa bé này lúc nào, với ai và ở đâu, để mà dẫn về bây giờ. Thấy tâm tư của anh như vậy, cô đồng tỏ vẻ bí ẩn, đưa bàn tay đặt lên trán, vuốt nhẹ lọn tóc vén ra sau tai, nói với hai vợ chồng:
– Yên tâm, có cách cả. Hãy để bé bám lên vai bố.
Vừa nói, vừa nhanh như cắt, cô đồng trẻ lấy ngón tay bôi một thứ nước gì đó rồi chấm thật nhanh vào cổ tay và trán của chồng Trang, khiến anh chẳng kịp phản ứng và coi như đương nhiên chấp nhận.
Sau ngày hôm đó mọi thứ vẫn diễn ra bình thường, không có gì đáng lưu tâm. Lúc ấy Trang đang tận hưởng niềm hạnh phúc, tưởng đâu đã tìm thấy một nửa yêu thương của mình, ai ngờ bi kịch liên tiếp xảy ra, khởi nguồn chỉ từ những chuyện nhỏ, rồi lớn dần lên, dần dà thành ra nhà tan cửa nát khi nào chẳng hay.
Tới lần thứ ba, hai vợ chồng tới điện chính thức chọn ngày đẹp cử hành hôn lễ. Đó là vào ngày 31/07/2020, cái ngày định mệnh khiến cuộc đời Trang mở ra một ngã rẽ mới, tối tăm mịt mùng. Và cũng chính kể từ đó, bắt đầu liên tiếp những sự việc kì lạ bất thường ám ảnh đeo bám cả đại gia đình cô, khiến họ không sống được yên ổn dù chỉ một ngày.
Vốn thật thà và ngây ngô, Trang luôn tin tưởng chồng và nghe theo anh. Chỉ có điều chồng cô đột nhiên thay đổi bất thình lình. Từ một người yêu thương quan tâm Trang, anh trở thành kẻ vô tâm, không hề tin tưởng vợ cũng như mọi người trong nhà, vô duyên vô cớ như chỉ sau một cái “hồ biến” vậy. Điều khó hiểu nữa là cứ có việc gì từ A đến Z, anh đều tới chỗ cô đồng để thưa hỏi nhờ chỉ giúp và tin tưởng tuyệt đối.
Sau khi kết hôn, Trang có bầu, chuẩn bị tới thời kì khai hoa nở nhụy, chồng cô như một thói quen, lại tất tưởi tới điện nhờ cô đồng coi xem việc sinh nở liệu có ổn thỏa?
Cô đồng khoanh chân, ngồi giữa chánh điện, khuôn mặt tỏ vẻ trầm ngâm, nhìn vợ chồng Trang rồi lại suy tư điều gì đó. Cô đồng trẻ lắc lắc cái đầu ra điều không ổn, nói với chồng Trang:
– Muốn sinh nở được thuận lợi, trước hết phải trả nợ đường âm cái đã. Giờ hai vợ chồng sắp xếp lên đền Tranh ở Bắc Giang làm một cái lễ tầm 40 triệu là ổn thỏa.
Anh chồng nghe thấy vậy thì làm theo luôn, chẳng mảy may động tâm suy nghĩ, về nhà lo tiền lên đó theo cô đồng làm lễ. Mà lạ làm sao, kể từ hôm đi cúng cái lễ đắt đỏ đó xong, anh lại ngày càng xa lánh vợ, tránh gặp gỡ cả gia đình nội ngoại hai bên.
Nhất là đỉnh điểm khi Trang lâm bồn, sinh cho anh một bé gái xinh xắn, anh lại càng bỏ mặc vợ con, chỉ tìm cách để tránh xa vợ con không phải gần gũi. Trang lấy làm lạ lắm, nghĩ mãi cũng chẳng nghĩ ra được một lý do nào hợp lý cho sự thay đổi quá đột ngột này.
Phụ nữ sinh đẻ xong như con cua lột vỏ, yếu ớt và nhạy cảm, lại phải chịu cảnh chồng thờ ơ ruồng bỏ như vậy, thật sự đối với Trang như một cú sốc quá sức chịu đựng. Và rồi liên tiếp những sự việc xảy ra, mức độ ngày càng mạnh mẽ hơn.
Một tháng sau sinh, khốn khổ vì bị tắc tia sữa, Trang phải tới viện tiến hành mổ áp xe. Hai lần mổ là hai lần đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần khi chưa một ngày nào chồng chăm sóc cho hai mẹ con, cứ thế bỏ mặc con đói, vợ đói, con khóc, vợ đau … với anh, mẹ con cô còn chẳng bằng người dưng nước lã. Anh vào viện chỉ như một cái xác không hồn, thà chẳng nhìn thấy anh, cô còn đỡ đau lòng hơn.
Trở về nhà, anh cũng luôn tìm lý do để đuổi vợ con đi, hoặc tìm cách để được ra ở riêng. Trong tình cảnh ấy, Trang chỉ muốn phát điên lên, nhưng vì nghĩ còn đứa con đỏ hỏn cần được ấp ủ, chở che, nên cô vẫn gắng gượng.
Có nhiều đêm trằn trọc suy nghĩ, bảo cô chả ra sao khiến chồng chán ghét đã đành, đằng này Trang luôn biết điều, thương yêu chăm sóc gia đình, vậy mà chồng thì cứ ruồng rẫy như thể vợ con cô là thứ anh chỉ trực chờ tống khứ đi cho rảnh. Đúng là chuyện kỳ quái.
Rồi ba tháng trôi qua, sức khỏe cũng đã ổn định hơn, bé cứng cáp hơn một chút, Trang bắt đầu lao vào tìm hiểu điều tra nguyên cớ vì sao chồng cô hành xử như bị ma xui quỷ khiến như vậy.
Sau khi bình tĩnh suy nghĩ, xâu chuỗi lại các dữ kiện đã xảy ra, Trang giật mình phát hiện chính cái ngày vợ chồng cô tới làm lễ đặt tên “con” ở điện cô đồng, chồng Trang đã bị cô đồng yểm âm binh, chính những âm binh này đã “đưa đường chỉ lối” cho chồng Trang liên tục tới tìm cô đồng.
Chẳng những thế, Trang sững sờ cả người khi phát hiện ra, chính hôm vợ chồng cô đi làm lễ hầu đồng hết cả mấy chục triệu đó, cô đồng đã cảm mến chồng Trang, cô ta ghen ngược với Trang, cố tình sử dụng tà thuật để khiến gia đình Trang xào xáo hết cả lên.
Vì bị yểm âm binh, nên chồng Trang đột nhiên sợ ánh sáng, sợ nắng, không dám ra khỏi nhà, tới chốn đông người thì sợ hãi, chốn chui chốn lủi. Mắt anh lúc nào cũng đỏ ngầu, long sòng sọc chẳng khác nào mắt quỷ, mỗi khi đêm về thì hai quầng mắt đen xì lấm la lấm lét như mắt ma. Mỗi lần anh dùng đôi mắt ấy nhìn Trang khiến cô thất thần, hoảng hồn sợ hãi.
Anh tính tình trở nên thất thường, mỗi khi gần gũi vợ là lại lên cơn phát điên. Cứ hôm nào tình hình ổn ổn, hai vợ chồng ở cạnh nhau, thì y rằng đêm đến, đứa con gái mới sinh bị hành hạ. Người hành hạ bé chẳng phải ai xa lạ, lại chính là bố đẻ của bé. Chẳng hiểu cô đồng đã dùng tà thuật, hay điều khiển âm binh thế nào, mà vô hình xui khiến chính bố đẻ tự dưng đánh con, làm bé đau đớn quằn quại vật vã bất thường. Khi anh tỉnh lại, không đánh bé nữa, Trang mới nói chồng thì phát hiện ra chính anh cũng không biết mình vừa đánh con, còn cho rằng Trang nói như vậy đúng là bị điên.
Không những thế, mỗi lần cô bảo chồng mua sắm gì cho con hay đưa tiền cho cô để sắm sửa trong nhà, là y rằng đêm đó bé con lại bị hành hạ thống khổ.
Mỗi lần như vậy, Trang xót xa đau khổ vô cùng mà chẳng biết làm thế nào để hóa giải tình trạng này, cô cầu cứu những người thân quen mong tìm được cách giải quyết nhưng chẳng ai biết để hướng dẫn cho cô.
Rồi âm binh cứ thế lộng hành, xô đẩy mấy lần khiến cả nhà cô gặp phải tai nạn, nhưng may mắn vợ chồng con cái đều không bị thương tích gì đáng kể.
Đau lòng hơn nữa, chính Trang còn bị đổ tội là đã yểm bùa chồng mình khiến anh điên điên khùng khùng, ngày đêm hành động kì quái.
Chưa dừng lại ở đó, mọi chuyện nghiêm trọng tới mức ảnh hưởng đến gia đình hai bên nội ngoại. Mỗi lần Trang đưa con về thăm nhà nội, thì cả gia đình bị âm binh sai sử hành hạ em bé, đuổi mẹ con cô ra khỏi nhà. Kể cả mẹ con cô về thăm nhà ngoại cũng bị tình trạng y chang không khác. Mỗi lần chồng Trang hay người thân hai bên gia đình hành hạ đứa bé, đều nhìn vào mắt bé chằm chằm, rồi bỗng dưng bé bị đau mắt ngay lập tức, khiến đôi tay nhỏ bé của em quờ quờ ôm mặt để dụi như thể bị bụi bay vào mắt vậy.
Bạn bè Trang cũng dần dà né tránh vì mỗi lần tới gần Trang là bạn bè cô cũng bất ngờ nóng tính và nổi điên một cách vô cớ.
Như vậy đó, chỉ vì một ý nghĩ đi xem ngày đẹp, mà khiến cho cả đại gia đình phải chịu cảnh điên dại, tán loạn. Mọi chuyện xảy ra cứ như trong một bộ phim. Chẳng bao giờ Trang nghĩ được những điều này có thể xảy đến với mình. Trang bị dồn vào bước đường cùng, đi đâu cũng không được, làm gì cũng không xong. Gần con thì phải xa chồng, gần chồng thì con bị hành hạ. Thật là oái oăm.
Hiện giờ vợ chồng cô đã ly thân, Trang và em bé tìm thuê một căn nhà khác để ở cho được yên ổn. Bao nhiêu sự việc xảy ra, đã khiến Trang cạn kiệt năng lượng, cô bắt đầu nhận thức được tất cả đều xuất phát từ ác nghiệp của cô mà chiêu cảm ra, cô bắt đầu biết sám hối và tụng chú Đại Bi, cô mong được trả hết nghiệp xấu này, sớm ngày gia đình được bình an đoàn tụ với nhau.
Tuy bén duyên với tà đạo, nhưng bản thân Trang cũng có nhân duyên với chánh Pháp. Trang biết tới và thực hành Nghi thức sám hối oan gia do tác giả Quang Tử biên soạn, kết hợp trì danh hiệu ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát một thời gian, thành khẩn và vô cùng tha thiết.
Tới một hôm, trời tờ mờ sáng, trong giấc mộng, Trang được các Đức Phật, Bồ Tát gia hộ cho biết tiền kiếp của mình. Thấy trong mộng nhưng cảnh tượng và cảm xúc của cô hết sức rõ ràng, chân thật, không hề giống những giấc mơ bình thường khác.
Đó là vào một kiếp xa xưa đã lâu lắm rồi, kiếp đó Trang là phu nhân của một người đàn ông giàu có, làm quan trong vùng. Chồng cô đi đánh giặc xa nhà, nên người phu nhân ở nhà với đám người hầu. Trong đó có một cô hầu gái thân cận nhất với phu nhân, lại đem lòng thầm thương trộm nhớ ông chủ, nên thành ra ghen ghét với phu nhân và đứa con của bà.
Mỗi lần phu nhân đưa con cho cô hầu gái trông là mỗi lần cô hầu lại hại đứa bé phải chịu đau đớn. Nhiều lần biết cô hầu đánh con mình, nhưng vì lòng vị tha bao dung, phu nhân vẫn bỏ qua. Thậm chí có một lần phu nhân nhìn thấy cô hầu cho đứa bé còn đang đỏ hỏn nằm lên đống cát, mặc cho những người khác hất cát vào đầy cả mặt và mắt của em bé chẳng đoái hoài.
Tận mắt trông thấy cảnh tượng nhẫn tâm ấy, lại biết được cô hầu gái thân cận lâu nay đem lòng yêu thương chồng mình, khiến phu nhân không thể chấp nhận được nữa, khởi tâm sân hận cực độ, ngay lập tức giết chết cô hầu gái. Trang trong giấc mơ tiền kiếp cũng nhận ra cô hầu này chính là cô đồng ở kiếp hiện tại.
Tới đó thì Trang tỉnh giấc với một câu trả lời rõ ràng cho tất cả những bi kịch gia đình cô đang phải gánh chịu. Chẳng còn gì là vô lý và bất công ở đây nữa. Gieo nhân nào gặt quả ấy. Nhân quả luôn công bằng như vậy.
Do nhân duyên vợ chồng nhiều kiếp sâu đậm, tới kiếp này vợ chồng Trang lại tiếp nối sợi nhân duyên đó. Cô hầu gái cũng đem theo tâm tư của mình tới kiếp này, tiếp tục thầm thương trộm nhớ chồng Trang, và tiếp tục ghen ghét Trang. Vì Trang đã cam tâm giết hại cô hầu gái, nên kiếp này cô đồng đem theo sự oán hận trong tàng thức, cam tâm dùng tà thuật hãm hãi Trang thống khổ. Nhân quả luân hồi là như thế đó, oan oan tương báo không bao giờ dứt nếu chẳng có ai chịu quay đầu tỉnh ngộ.
Thời mạt pháp này, có một vấn nạn mà từ xưa Đức Phật đã tiên đoán, đó là sự hoành hành của tà đạo. Họ lợi dụng thần thánh, cõi vô hình và tâm niệm tham sân si của chúng sinh để lừa gạt, trục lợi, dẫn dắt con người ta xa rời chánh Pháp, lầm lạc vào tà ma ngoại đạo khi nào chẳng hay.
Rốt cuộc cũng là do tâm tham- sân- si của con người mà chiêu cảm. Như mong nhiều tiền, làm ít mà hưởng thật nhiều, hoặc muốn chiếm hữu tình cảm, cưỡng ép tình ái, hoặc để tranh đoạt, hãm hại nhau, hoặc nhẹ dạ cả tin, nhắm mắt làm theo những xúi giục của người khác trong khi chưa hiểu vấn đề như thế nào .v.v… Nếu trong tâm không có tham- sân- si, thì tà ma không thể tác động gì được tới ta. Vì vậy cần quán sát tâm mình thật kĩ, phát hiện ra và kiểm soát tâm ý không để tham- sân- si có dịp tung hoành, vì khi chúng tung hoành, tức là chúng ta đang “mời gọi” tà ma ngoại đạo có cơ hội tới gần mình hơn.
Kiểm soát tâm ý không phải việc dễ dàng, nhưng chúng ta cần có ý thức cố gắng dần dần, mỗi ngày đều kiểm soát và điều chỉnh ý niệm từ tham sân si chuyển thành từ, bi, hỷ, xả.
Thậm chí ngay cả những đệ tử Phật, vẫn có thể bị lạc đường theo tà pháp không hề hay biết. Thời đại ngày nay, nhiều Phật tử miệng nói tu hành cầu giải thoát, nhưng tâm thực chất lại ham thích những thứ thần thông cảm ứng, cầu tiền tài danh vọng nhiều hơn. Những thứ này thiên ma, tà ma, ngoại đạo cũng có năng lực để thu hút dẫn dụ, khiến chúng ta lầm tưởng là chánh Pháp mà đi theo chúng.
Nếu chúng ta tu hành chỉ có tâm cầu giải thoát, thành Phật độ sinh, thì ngoại đạo không thể nào dẫn dụ được, vì chúng không có năng lực giúp ta giải thoát, chúng chỉ có năng lực giữ ta trong luân hồi lâu hơn mà thôi. Chỉ có chánh Pháp của Phật mới đưa chúng ta ra khỏi vòng quay sinh tử nghiệt ngã, đạt tới giải thoát Niết Bàn an vui. Chúng sinh nói chung và Phật tử nói riêng cần tỉnh táo, để ý tránh xa những “ma lưới” này.
( Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Ngô Thị Trang)
Sinh già bệnh chết là một vòng tròn quái ác lặp đi lặp lại từ trước đến nay chưa bao giờ thay đổi. Cho dù bạn là ai, từ người nghèo cùng khốn khó đến tỷ phú đô la, từ người tàn tật câm ngọng tới nhà khoa học lẫy lừng, cũng chả chạy đâu cho thoát khỏi những nỗi đau khổ muộn phiền vì nó.
Và đương nhiên rồi, với Vân cũng thế. Từ nhỏ tới nay, cô gái với thân hình nhỏ nhắn từ tấm bé đã hay ốm vặt, hầu như lúc nào cũng phải dắt theo người vài viên thuốc, không bệnh này thì bệnh kia, dặt dẹo khó nuôi. Vân hiện nay đang là cô giáo mầm non ở một ngôi trường tại quận Bình Tân, Tp Hồ Chí Minh, nhưng sinh ra và lớn lên ở thôn Chánh Định, xã Cát Chánh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
Vân vẫn nhớ như in cái thời thơ ấu nơi miền quê Bình Định đầy nắng vàng, cát trắng và gió biển thổi lồng lộng. Khi đó cô mới chỉ đâu 5-6 tuổi, cứ mỗi đêm trăng sáng vằng vặc chiếu xuống sáng rỡ cả một khoảng sân vườn, ông bà nội Vân lại trải tấm chiếu cói đơn sơ trên hè ngồi hóng gió. Vân những lúc ấy cũng ti toe chạy ra hóng mát cùng, lăn vào lòng ông bà mà đòi được nghe chuyện cổ tích.
Những câu chuyện cổ tích của bà đã trở thành một phần tuổi thơ của Vân. Cô bé loắt choắt ngày nào thắc mắc về nhân vật ông Bụt, bà Tiên thường hay xuất hiện trong truyện, mới hỏi:
– Khi con đau khổ thì làm sao để kêu ông Bụt và bà Tiên đến giúp mình hả Nội?
Bà của Vân thấy cô cháu gái nhỏ thắc mắc, mới khuyên cháu:
– Con nhớ niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” và “Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát” là được rồi.
Trẻ con thì thường nhớ nhanh và lâu lắm, kể từ câu nói ấy của bà Nội, từ nhỏ Vân đã chăm chỉ niệm Phật. Cứ mỗi khi ba mẹ la mắng, bạn bè trêu chọc, hay buồn phiền bất cứ thứ gì, Vân đều niệm Phật. Câu niệm Phật đã đồng hành cùng Vân từ khi còn là cô bé cho tới lúc dần lớn lên, đi học, đi làm. Tất nhiên chẳng tránh được những lúc ham chơi quên niệm Phật, vì dù sao Vân vẫn còn đang mải mê với bao nhiêu thú vui của thế gian đang hấp dẫn cô ngoài kia.
Nhân lành với Phật Pháp đã bén duyên với Vân từ những ngày thơ bé đó, cô cũng tìm hiểu đôi chút nên hiểu rằng sự ốm yếu mà cô phải chịu suốt bao năm qua là do những ác nghiệp đã tạo ra trong quá khứ từ vô thủy kiếp. Biết vậy nên Vân luôn cố gắng chấp nhận, nhưng tới một ngày cầm kết quả phiếu khám bệnh trên tay, cô vẫn không tránh khỏi hoang mang lo lắng.
Đó là vào tháng 6 năm 2022, bỗng nhiên phần bụng dưới của Vân thường xuyên có dấu hiệu đau nhiều, rong kinh, kinh nguyệt thất thường, thể trạng này khiến cô khá mệt mỏi, ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt thường ngày. Tâm trí chỉ để vào bệnh tật, chẳng lo nghĩ được việc gì khác nữa.
Cho tới buổi sáng ngày 31-07-2022, bụng Vân đau dữ dội bất thường, từng cơn đau cuộn lên dồn dập. Thấy tình hình không ổn, cô vội vàng ra phòng khám đa khoa Thành Công tại địa chỉ số 36 Tây Thạnh, P.Tây Thạnh, Quận Tân phú, TP. Hồ Chí Minh nhờ bác sỹ thăm khám.
Sau khi siêu âm kiểm tra đầy đủ các xét nghiệm cần thiết, Vân nhận tờ phiếu kết quả trên tay, đọc từng dòng chữ rõ ràng:
“Bệnh nhân: Nguyễn Thị Hồng Vân sinh ngày 13-10-1988, địa chỉ: Quận Bình Tân, Tp. Hồ Chí Minh. Kết luận: U Nang Đa Thùy Buồng Trứng Phải, đường kính 31x28mm”.
Tuy đã biết đó là nghiệp của mình, cũng đã quen với thân thể vốn đã sẵn gầy gò ốm yếu, nhưng thực tình mà nói, cô cũng không khỏi hoang mang lo lắng khi biết bệnh. Vân còn trẻ, chưa chồng chưa con, cha mẹ ở quê thì cũng bệnh tật luôn. Vân bắt đầu bi quan mường tượng đến tương lai mù mịt, nào vô sinh, nào u ác tính, rồi nhỡ có mệnh hệ gì thì cha mẹ già không người nương tựa.
Trở về nhà, đêm hôm đó, Vân suy tư rất nhiều. Cô chỉ là một giáo viên mầm non với đồng lương ít ỏi, chi tiêu sinh hoạt hàng tháng là hết sạch, chẳng tiết kiệm được gì, giờ tiền đâu ra mà chữa bệnh. Vân cũng chẳng dám kể với cha mẹ họ hàng ở quê, sợ mọi người lo lắng. Cứ suy nghĩ miên man như vậy, cô bất lực lắm, bật khóc nức nở một mình trong căn phòng trọ thanh vắng.
Như một thói quen từ nhỏ đến giờ, cứ khi nào thấy khổ, Vân lại nhớ đến Phật, Bồ Tát. Lần này cũng vậy, bi quan và tuyệt vọng, lại cô đơn trống trải một mình, Vân vừa khóc vừa khấn nguyện mẹ Quán Thế Âm:
“Giờ con khổ lắm rồi, bệnh tật và những đau khổ trong cuộc sống cứ dày vò thân con. Xin Mẹ hãy cứu lấy con, cho con thoát khỏi cảnh đau khổ này”
Cứ thế âm thầm khấn nguyện, Vân chìm vào giấc ngủ lúc nào chẳng hay. Một đêm cô đơn lạnh lẽo rồi cũng trôi qua, sáng hôm sau bình minh lại ló rạng. Những tia nắng sớm đã len lỏi qua khung cửa sổ tràn vào căn phòng nhỏ bé của Vân. Tỉnh dậy Vân bất giác nhớ ra mấy cuốn sách được một người bạn tặng cho đã lâu, trong đó có cuốn “Bệnh Viện Trả Về, Phật Pháp Cứu Sống” do tác giả Quang Tử biên soạn.
Như người sắp chết đuối vớ được cọc, Vân ngấu nghiến đọc và lập tức thực hành theo nghi thức Sám hối Cầu siêu cho oan gia trái chủ như hướng dẫn trong sách.
*Đường link Nghi thức sám hối oan gia như trong sách :
https://thuvienquangtu.com/sam-hoi-oan-gia-than-chu-phien-am-viet/
Nghi thức cũng đơn giản, chẳng mấy phức tạp, nhưng quan trọng là Vân hết sức chân thành. Mỗi một lần đảnh lễ các Ngài là một lần cung kính. Mỗi một câu niệm Phật là một niệm sám hối thiết tha.
Vân tự cảm thấy mình đã từng thật nhẫn tâm gây bao thống khổ cho các vị oan gia trái chủ, bởi thế nên nay mới phải chịu khổ sở như hiện tại. Cô vì thế mà nguyện đoạn ác tu thiện, mong các vị ấy buông bỏ hiềm hận tha thứ cho mình. Vân dùng hết bổn tâm, tha thiết trong từng câu từng chữ sám hối. Chỉ có tâm chân thành khẩn thiết như vậy mới có thể khiến oan gia động lòng tha thứ.
Cứ như vậy cách một ngày sau, cô lại sám hối theo nghi thức đó thêm một lần nữa.
Vì còn phải đi làm, nên Vân tranh thủ mỗi sáng sớm khi vừa ngủ dậy, cô vệ sinh sạch sẽ, mặc quần áo chỉnh tề, trang nghiêm, ngồi niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” chừng 15-20 phút hồi hướng cho tất cả các chư vị oan gia trái chủ đang ngự trên thân, xin các vị buông bỏ thù hận để cùng Vân niệm Phật. Xong xuôi cô mới đi làm.
Một tuần trôi qua …
Vào ngày 7-8-2022, Vân qua bệnh viện Từ Dũ để thăm khám lại. Cô đưa cho bác sỹ xem kết quả khám cũ với khuôn mặt buồn rầu, không giấu được sự lo lắng.
Bác Sỹ Phượng bình tĩnh, đưa thiết bị siêu âm dò trên khắp khoang bụng một cách kĩ càng và chụp lại các tấm ảnh vùng bụng dưới cùng các thông số kĩ thuật y khoa.
-Chị đã coi kết quả cũ và hồ sơ của em rồi, nhưng siêu âm lần này chị không thấy gì bất thường hết,mọi thứ bình thường và cái u đó rụng rồi em nhé – bác sỹ Phượng nở nụ cười nhẹ nhàng trên khuôn miệng, thông báo kết quả.
Tai Vân như ù đi vì nghe những lời nói ấy. Cô thất thần một lúc mới định tâm, rồi vỡ òa trong niềm hạnh phúc sung sướng. Thực tình Vân định tái khám để tiến hành điều trị, tâm lý cũng đã sẵn sàng cho công cuộc chữa bệnh dài ngày. Ai ngờ đâu bệnh tật đã tan biến rồi. Chẳng những thế, căn bệnh viêm xoang mũi hành hạ vân bao tháng ngày cũng không lý do mà hết từ lúc nào chẳng hay.
Vân xúc động lắm, Đức Phật đã chỉ đường dẫn lối cho Vân con đường thoát khổ, nhờ đó Vân có cơ hội quay đầu, sám hối, tạo công đức để thay đổi cuộc sống của mình.
Đã có biết bao nhiêu trường hợp khỏi bệnh nhờ biết tu tập theo Phật Pháp. Phật Pháp hướng dẫn chúng ta biết tu tập sửa đổi, bỏ ác tu thiện để giải quyết được những khổ đau trong cuộc đời. Thế nhưng đã bao giờ chúng ta tự hỏi “Đau khổ thì triền miên không dứt, khổ này hết, khổ khác lại tới, chẳng nhẽ ta cứ loay hoay mãi để đi giải quyết vô vàn nỗi khổ trong cái vòng tròn bất tận đó sao.”
Thử ngẫm mà xem. Vô sinh thì tu tập rồi cũng có con, con lớn rồi hư hỏng bất hiếu nhờ tu tập cũng giúp hóa giải vấn đề, nghèo khó không công ăn việc làm nhờ tu tập cũng xin được việc, già rồi mắc bệnh cũng nhờ tu tập mà tiêu trừ bệnh tật, thế nhưng hết cảm sốt rồi thì lại đến nhức đầu, hết đau bụng lại đến đau lưng, hết viêm phổi lại đến ung thư v.v. thậm chí chết rồi thì lại sinh ra, sinh ra rồi lại tiếp tục những nỗi khổ không cùng tận đó.
Chúng ta ở đây, trong vòng quay luân hồi này chỉ để giải quyết những nỗi khổ đó. Rốt cuộc vẫn cứ là khổ. Đúng vậy. Cái khổ chẳng bao giờ chấm dứt triệt để nếu như chúng ta còn trong lục đạo luân hồi. Chỉ có ra khỏi lục đạo luân hồi mới là cứu cánh.
Đức Phật thị hiện ở đời cũng là vì mục đích rốt ráo này. Cho nên với người tu tập, cần phải khởi tâm muốn được giải thoát ra khỏi luân hồi sinh tử. Đây mới là mục đích quan trọng. Giải quyết những nỗi khổ trên kia chỉ là phương tiện để chúng ta tiến tới mục đích tối hậu là giải thoát. Các Đức Phật Bồ Tát cũng chỉ mong mỏi chúng sinh được giải thoát sinh tử thì khổ đau mới chấm dứt vĩnh viễn. Xin các Phật tử hãy lưu ý điều quan trọng này.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Nguyễn Thị Hồng Vân)
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Trần Thị Minh Trang)
Nhớ lại quãng thời gian đó, với Trang vẫn là một kí ức không thể nào quên. Năm 2019, vừa bước sang tuổi 26, Trang quyết định lập gia đình với người yêu hơn mình 7 tuổi. Tên đầy đủ của cô là Trần Thị Minh Trang, sinh ra và lớn lên ở đường An Ninh, TP. Huế. Và cũng tại mảnh đất mộng mơ, cổ kính này, cô gặp gỡ, nên duyên với ý chung nhân của mình, là một chàng trai Đăk Lăk đến xứ Huế lập nghiệp. Như lẽ thường, cả hai bên nội ngoại đều chúc phúc cho hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ, và mong ngóng có đứa cháu đích tôn để bế bồng.
Bố mẹ chồng Trang đã già yếu, mẹ chồng lại mắc bệnh nặng, chẳng biết còn sống được bao lâu, nên hai cụ ở quê nhà cứ mong mỏi ngày đêm được nghe các con báo tin vui. Bản thân Trang cũng mong sớm sinh con để tổ ấm được tròn đầy, và cũng là để vui lòng gia đình cha mẹ. Nhìn ông bà trông ngóng đứa cháu nội từng ngày, khiến vợ chồng cô không khỏi sốt ruột.
Thời gian thấm thoắt thoi đưa, hai năm ròng trôi qua, những cặp vợ chồng khác trong họ cưới sau cũng đều sinh con đẻ cái cả rồi, mà vợ chồng Trang vẫn còn “son rỗi”. Mẹ chồng thì ngày một yếu đi, trong lòng vừa thèm được bế cháu vừa lo lắng cho tổ ấm của con trai thiếu vắng tiếng cười con trẻ.
Mặc dù vậy, nhưng mẹ chồng cũng rất tâm lý, chỉ thi thoảng hỏi han tình hình để động viên an ủi, không muốn làm Trang cảm thấy căng thẳng. Chỉ có bố chồng thường xuyên gọi lên thúc giục khiến cô khá áp lực.
Rồi mỗi lần về quê, từ họ hàng tới làng xóm, ai ai cũng hỏi thăm với giọng điệu vừa tò mò vừa chê trách : “Thế sao chưa chịu đẻ?”, “Hai vợ chồng chúng bay định không có con à ?”, “Cha mẹ già yếu hết cả rồi còn không đẻ đi” …
Bao nhiêu câu hỏi, bao nhiêu lời thắc mắc cứ quanh quẩn ám ảnh trong đầu, khiến Trang cảm thấy sợ hãi chẳng dám về quê. Vợ chồng cô nhiều lúc chạnh lòng bởi những tiếng xì xầm, lời ra tiếng vào của mọi người. Trang mong ngóng có con lắm chứ, cô thương cha mẹ già mòn mỏi chờ đợi, nên luôn tìm cách cố gắng sinh sớm, nhưng chả hiểu sao mãi không có được. Thật trớ trêu.
Nhất là mỗi dịp tết đến, nhà nhà quây quần, vui vẻ bao nhiêu thì không khí gia đình Trang lại nặng nề bấy nhiêu. Tết năm 2020, cũng như mọi năm, vợ chồng Trang lên đường về quê chồng ở Đăk Lăk để đoàn viên. Tết năm đó có một người chị thấy cô rầu rĩ buồn phiền nên thương cảm mách cho Trang nương nhờ Phật Pháp để cầu xin một đứa con. Dặn cô hãy thành tâm đứng trước ban thờ Phật niệm Nam Mô A Di Đà Phật và trì chú Đại Bi, xin ngài Quán Thế Âm Bồ Tát gia hộ.
Tuy không phải một Phật tử, chưa từng công phu hành trì Phật Pháp bao giờ, nhưng vì niềm mong mỏi có con quá khẩn thiết, nên Trang cũng thành tâm cố gắng y theo lời người chị mách bảo mà làm theo.
Trang sửa soạn, vận quần áo chỉnh tề trang nghiêm, thắp ba nén hương, cúng đèn nước lên ban thờ Phật, cô thành kính gieo năm vóc sát đất lạy Phật với tâm niệm hy vọng các Ngài từ bi thương xót gia hộ cho mình có một đứa con trai. Sau đó, Trang quỳ trước ban mà niệm Phật liên tục cho tới khi nén hương tàn hết mới thôi. Thực hiện như vậy được khoảng 10 ngày, thì cô bắt đầu trì chú Đại Bi. Mặc dù là lần đầu tiên trì chú nhưng sau một tuần Trang đã thuộc làu làu, cứ thế trì chẳng cần nhìn giấy.
Không những thế, cứ mỗi rằm, mồng một hàng tháng vợ chồng cô đều sắp xếp đi phóng sinh thả cá. Nhìn những chú cá đang chen chúc nhau giãy giụa trong chậu chờ chết, nay được thả tự do về với nước mà trong lòng Trang cảm thấy hoan hỷ vô cùng.
Rồi một năm cũng trôi qua…
Đôi vợ chồng trẻ vẫn miệt mài giúp đỡ người nghèo khó, gắng sức làm nhiều việc thiện lành, và vẫn tinh tấn công phu trì chú Đại Bi, niệm Phật không ngơi nghỉ. Cho đến hôm rằm tháng 4, mẹ đẻ của Trang nằm mơ một giấc mơ kì lạ.
Sáng tỉnh dậy, mẹ cô vội vã kể cho Trang nghe giấc mơ màu nhiệm ấy trong sự phấn khích vui sướng.
– Trang ơi, lạ lắm, đêm qua mẹ nằm mơ thấy Ngài Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, rồi cả Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát nữa. Các Ngài đẹp lắm, hào quang tỏa sáng, ánh sáng ấy vừa dịu dàng vừa rạng rỡ, làm mẹ thấy hạnh phúc ngập tràn con ạ.
– Thật không hả mẹ?
– Ừ, yên mẹ kể tiếp cho nghe. Mẹ thấy Đức Bổn Sư nói với Ngài Quán Thế Âm hãy ban cho con một đứa con, sau đó Ngài Quán Thế Âm bồng một em bé được quấn trong chiếc khăn lông màu trắng mềm mại đem tới đẩy vào tay mẹ, Ngài còn nói với mẹ rằng Ngài ban cho Trang một đứa con.
Nghe tới đây, Trang reo lên sung sướng, chẳng biết thế nào nhưng thấy có cảm ứng như vậy khiến niềm hy vọng trong cô dâng trào mạnh mẽ. Ánh mắt long lanh, Trang hướng nhìn lên bầu trời xa xăm gửi gắm niềm hy vọng lớn lao ấy vào hư không, cô cảm tưởng như mình đã sắp chạm tay được vào ước mơ.
Đúng một tháng sau, cũng nhằm ngày rằm tháng năm âm lịch, Trang cảm thấy trong người có chút gì đó khác thường, cảm giác uể oải, đôi chút mệt mỏi, trong cô như có linh tính mách bảo phải chăng đang có một mầm sống bên trong cơ thể.
Vừa hy vọng vừa lo lắng, chồng đưa Trang tới phòng khám bác sỹ sản khoa. Ngồi chờ ở dãy ghế dành cho các sản phụ, cô nhìn những bà mẹ với chiếc bụng to vượt lên, trông có chút bất tiện nặng nề mệt mỏi. Trông nặng nhọc vậy nhưng đó lại chính là niềm mong ước bấy lâu của Trang.
Sốt ruột chờ đợi mãi mới tới lượt siêu âm của mình. Cô gái thấp thỏm cả ngày hôm nay chỉ chờ đến giây phút này, chờ một câu nói của bác sỹ.
– Chúc mừng nhé, em bé vừa vào tử cung rồi – bác sỹ cười nhẹ thông báo cho Trang tin vui.
“Ôi đúng thật rồi, có con thật rồi.” Chẳng giống những người mẹ khác, khi nghe tin vui thì cười sung sướng, còn Trang vừa thốt lên thì bỗng òa khóc. Các sản phụ khác thấy vậy thì lấy làm lạ lắm. Trang vừa khóc vừa lao ra ngoài phòng chờ thông báo cho chồng cô biết.
À thì hóa ra đó là những giọt nước mắt hạnh phúc, là sự vỡ òa trong sung sướng, đến đỗi phải bật khóc mới giải tỏa được nỗi muộn phiền đã tích tụ suốt mấy năm nay.
Trang về đến nhà thông báo cho cha mẹ, rồi ngay lập tức chạy vù lên phòng thờ quỳ lạy các Ngài. Trang lạy lia lịa, vừa lạy vừa khóc như một đứa trẻ con. Cảm giác này có lẽ chỉ những gia đình hiếm muộn mới hiểu được. Chả phải chỉ có mình Trang bật khóc, mà cả gia đình đều xúc động, mừng vui khôn xiết khóc theo cô.
Cảm ân sâu sắc vì sự gia hộ của chư Phật, Bồ Tát, trong suốt 9 tháng 10 ngày bụng mang dạ chửa, cô vẫn miệt mài tinh tấn ngày đêm trì chú niệm Phật. Trang còn chép kinh Địa Tạng và làm nhiều việc phước thiện khác để hồi hướng công đức cho em bé cho tới lúc “khai hoa nở nhụy”. Đồng thời cũng hồi hướng cầu cho chồng được thăng chức, vì anh làm công nhân điện chiếu sáng vất vả đã lâu, lương lại thấp mà xin mãi vẫn chưa lên được vị trí tốt hơn.
Rồi cuối cùng ngày đó cũng tới, Trang hạ sinh được một cậu bé trai đúng như ý nguyện, khôi ngô tuấn tú, nét mặt hết sức lanh lợi, thông minh. 5 tháng bé đã biết gọi cha gọi mẹ, 11 tháng đã biết đi. Con trai cô đặc biệt nhanh nhẹn và có duyên lành với Tam Bảo từ khi còn rất nhỏ.
Vui hơn nữa, em bé vừa ra đời cũng là lúc chồng Trang nhận được quyết định thăng chức lên vị trí Kỹ thuật, lương cao hơn nhiều. Cả gia đình hân hoan đón niềm vui liên tiếp.
Trang vẫn nhớ như in hồi con trai được 9 tháng tuổi, hai mẹ con bồng bế nhau lên ban công phía ngoài gian thờ Phật để hóng gió. Đi ngang qua gian thờ, bé nhìn thấy tôn tượng Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát, thì liền tự mình bò ra trước ban thờ, ngồi chắp tay lạy Ngài trong sự ngỡ ngàng của mẹ và bà ngoại.
Lúc được 17 tháng, cứ mỗi lần bé thấy tượng Phật là bé chắp tay lạy, miệng bi bô “Phật, Phật”. Mặc dù chẳng ai dạy bé về hình tượng các Ngài, nhưng ngay lần đầu tiên nhìn thấy ảnh Ngài Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Ngài A Di Đà Phật, Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát, Ngài Dược Sư Phật và Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát, bé lập tức nhận ra và nói “Phật Phật” như thể đã biết rõ từ lâu.
Rồi mỗi khi thấy những con vật như kiến gián bò ngang qua, bé đều nói với mọi người trong nhà: “Không được giết. Ạ Phật! Ạ Phật !”.
Nhận được bao nhiêu quả lành sau những tháng ngày nỗ lực tu tập, tạo phước, giờ đây tín tâm của Trang với Tam Bảo tăng trưởng mạnh mẽ, cô tin tưởng lời đức Phật thuyết hoàn toàn là chân thật, không chút vọng ngữ. Trong phẩm Phổ Môn, Phật có dạy: “Nếu có người nữ, giả sử muốn cầu con trai, lễ lạy cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, liền sanh con trai phước đức trí huệ; giả sử muốn cầu con gái, bèn sanh con gái có tướng xinh đẹp, vì trước đã trồng cội phước đức, mọi người đều kính mến…”
Mọi chuyện xảy ra cứ như trong một giấc mơ. Giờ đây khuôn mặt của hai vợ chồng luôn tươi vui hạnh phúc, chả bù cho những năm tháng rầu rĩ ủ dột trước kia. Vợ chồng Trang tới giờ này vẫn không khỏi xúc động mỗi khi nghĩ về sự từ bi vô biên vô lượng của chư Phật, Bồ Tát mở lối cho cuộc đời mình thoát khỏi những bế tắc.
(Tĩnh Như, viết lại từ lời kể của Trần Thị Minh Trang)
(Quang Tử )
Vào thế kỷ 18, khoảng những năm 1750 – 1780 tại vùng Gia Định, nổi lên một nhân vật gian hùng: Võ Thủ Huồng. Ông vốn là một thư lại làm việc tại nha môn huyện Phước Chính, Gia Định, nước Đại Nam dưới triều chúa Nguyễn (nay là Biên Hòa, Việt Nam)
Dù chỉ là một chức thư lại, chuyên quản lý giấy tờ sổ sách, nhưng với một đầu óc sắc sảo, lắm mưu nhiều kế, Thủ Huồng đã dùng nhiều thủ đoạn để thao túng các sự vụ trong nha môn: tham nhũng, đục khoét ngân khố, ăn hối lộ, tẩy trắng thay đen các vụ án, chèn ép bá tánh để chuộc lợi. Ngoài ra, ở bên ngoài Thủ Huồng còn chuyên cho vay nặng lãi, ăn lời cắt cổ.
Trong suốt hai lăm năm làm trong nha môn, ông đã thâu tóm được một lượng tài sản kếch sù, đồng thời cũng đẩy rất nhiều người vào cảnh khốn cùng, quẫn bách.
Có lẽ gây quá nhiều nghiệp chướng, nên gia đạo lắm nỗi muộn phiền, Thủ Huồng mãi không sinh được con nối dõi, đã thế vợ ông còn lâm bệnh mất sớm. Buồn vì chuyện gia đình, Thủ Huồng xin từ chức về tậu ruộng vườn, làm một phú ông trong vùng, sống một đời giàu sang vương giả.
Một hôm, Thủ Huồng nằm mơ thấy mình xuống âm phủ, chứng kiến các cảnh tra tấn khiếp hồn trong các địa ngục. Mỗi nơi một kiểu, mỗi tội thì có một cách hành hình khác nhau, nhưng chung quy đâu đâu cũng toàn là máu me thịt nát xương tan, đau đớn tột cùng. Đang còn bàng hoàng thì Thủ Huồng trông thấy một cái gông vừa lớn vừa nặng nề nhưng để trống. Thủ Huồng tò mò hỏi quỷ sai ở đó:
– Xin hỏi gông này để làm gì, sao còn để trống ?
Quỷ sai cười nhạt mà nói:
– Để chờ một tên đại gian ác là Võ Thủ Huồng, hiện đang sống tại huyện Phước Chính, Gia Định tỉnh, nước Đại Nam. Năm Ất Sửu, hắn ăn đút lót, sửa hai chữ “ngộ sát” thành “cố sát” làm cho mẹ con Thị Nhãn bị kết án tử hình, giúp người anh họ chiếm đoạt gia tài. Việc này Thủ Huồng được mười nén vàng, mười nén bạc, một trăm quan tiền. Cũng trong năm đó hắn làm ông Ngô Lại ở thôn Bình Ca bị hai năm tội đồ chỉ vì trong nhà ông có cái áo vải vàng, để đoạt không của ông ta mười hai mẫu ruộng. Và còn nhiều việc khác nữa.
Thủ Huồng nghe quỷ sai kể vanh vách tội trạng của mình thì tái mặt, sợ đến run cầm cập. Quả nhiên mọi việc mờ ám con người có giấu diếm tới đâu thì dưới âm ty đều ghi chép rõ ràng. Thủ Huồng miệng lắp bắp hỏi quỷ sai:
– Vậy… vậy thì…tên Thủ Huồng ấy… phải làm sao để khi chết đi thoát không phải đeo cái gông này ?
– Đã vay thì phải trả. Phải đem hết những của cải bất nghĩa ấy bố thí đi, lo tu nhân tích đức, may ra sẽ được giảm tội.
Tỉnh dậy, Thủ Huồng toát mồ hôi hột. Bấy lâu ông vốn không tin những chuyện báo ứng, tâm linh quỷ thần gì, nên chẳng từ thủ đoạn, việc ác thẳng tay làm. Nhưng giờ thì khác, cảnh tượng địa ngục khủng khiếp đã gây chấn động tâm can ông, và ông quyết định phải thay đổi.
Kể từ đó dân xứ Gia Định thấy Thủ Huồng khét tiếng gian tham một thời, nay lại nhiệt tình hành thiện tích đức. Vốn là người có đầu óc giỏi tính toán, Thủ Huồng không đơn giản chỉ là bỏ tiền ra bố thí người nghèo như người khác hay làm. Ông thường đi đó đây, quan sát dân tình có nỗi khổ nào, tìm hiểu nguyên nhân rồi lên kế hoạch giúp dân một cách triệt để, tạo dựng lợi ích lâu dài cho cả vùng.
Cầu Thủ Huồng
Nơi nào vì sông ngòi ngăn trở, người dân hai bên bờ đi lại khó khăn, gặp mùa nước lũ còn nguy hiểm tính mạng, thì ông xuất tiền xây cầu cho mọi người đi lại dễ dàng, giao thương thuận lợi.
Nơi nào dân khổ vì mùa màng thất bát do hạn hán, thiếu nước tưới tiêu, ông liền chi tiền thuê người đào vét kênh rạch, từ đó dân quanh vùng khấm khá hẳn lên.
Hiện nay vẫn còn rất nhiều công trình do Thủ Huồng xây dựng vẫn còn tồn tại, như chợ Đồn, cầu Thủ Huồng trên đường gần sông Đồng Nai đi Tân Vạn, hay rạch Thủ Huồng, chạy ngang qua đường Tân Vạn vòng qua quốc lộ 1, gần Biên Hòa. Và nổi tiếng nhất chính là địa danh Nhà Bè.
Thời đó khu vực hai bên bờ sông Đồng Nai, dân cư vẫn còn thưa thớt, rừng cây rậm rạp. Hành khách đi đò dọc qua lại nơi đây buôn bán, làm ăn hay vì các lý do khác rất cực khổ. Mỗi lần dừng chân nấu cơm, đun nước pha trà, phải lên bờ kiếm củi, hoặc vào sâu trong bờ tìm nước sạch, mua gạo, muối … Ngặt nỗi trên bờ thì thường có hổ, bờ sông thì nhiều cá sấu, nên rất nguy hiểm.
Hiểu được cái khổ ấy, Thủ Huồng cho người kết tre làm thành những bè lớn trên sông, trên bè làm cái nhà nhỏ, bên trong chứa sẵn rất nhiều củi, gạo, muối, nước sạch, đồ ăn …Mọi người dừng chân tùy ý lấy dùng thỏa thích, cứ hết Thủ Huồng lại cho tiếp tế thêm.
Kể từ đó, người người truyền tai nhau và việc lưu thông qua lại nơi đây dần tấp nập hơn. Các khách buôn cũng học theo kết bè trên sông để họp chợ, tụ tập buôn bán, có lúc lên đến 20- 30 bè. Và địa danh Nhà Bè hình thành từ đó, tồn tại đến tận ngày nay.
Cứ thế suốt nhiều năm ròng, hễ dân tình có nỗi khổ ở đâu, thì Thủ Huồng chạy đôn chạy đáo lo giải quyết khó khăn ở đó, xuất tiền bao nhiêu cũng không tiếc.
Ban đầu, ông làm vì muốn chuộc tội, mong thoát quả báo nơi địa ngục. Nhưng trong lúc làm, ông lại cảm thấy tâm rất vui, thứ niềm vui mà cảnh giàu sang tột bậc cũng không giúp ông có được. Nhìn dân chúng hò reo, vui sướng, cuộc sống ấm no, thịnh vượng lên mỗi khi ông hoàn thành các công trình phúc lợi, Thủ Huồng thấy rất ấm lòng, nên càng năng nổ hơn, gắng sức chu toàn hơn.
Gia sản có bao nhiêu ông bán gần hết lo trăm việc cho dân, còn bản thân ông thì lại tiêu xài rất tiết kiệm, hạn chế ăn mặc tối đa. Cứ thế nên dần dần, dân quanh vùng đã quên mất một Thủ Huồng khét tiếng gian tham một thời, mà thay vào đó, người ta không ngớt lời làm thơ đặt vè ca tụng ông:
“Ai ơi có đến Nhà Bè,
Nhớ ơn nước ngọt, bè tre Thủ Huồng.”
Một đêm Thủ Huồng lại nằm mộng thấy mình xuống âm phủ, thấy chiếc gông dành sẵn cho mình đã không còn, tội danh của ông đã được xóa sạch. Tỉnh dậy, ông vui mừng khôn siết. Đáng lý ra lúc này ông đã có thể yên tâm mà dừng lại các việc phúc thiện. Nhưng vì đã quen với việc lo cho bá tánh, nên ông vẫn tiếp tục chẳng dừng lại.
Cuối cùng, ông bán hết nhà cửa, ruộng vườn, tài sản, lấy tiền xây một ngôi chùa lớn để dân chúng có nơi thờ kính Tam Bảo, tu học giải thoát. Ngôi chùa ấy tên là chùa Chúc Thọ, hiện vẫn tọa lạc tại xã Hiệp Hòa, Biên Hòa.
Chùa Chúc Thọ
Chính ông cũng dọn vào sống trong chùa, nép mình vào cuộc sống an bần lạc đạo, ăn chay giữ giới, sớm khuya tụng kinh gõ mõ, học hỏi những giáo nghĩa uyên thâm của Phật Pháp cho đến khi tạ thế.
Khi qua đời, có người muốn biết kiếp sau của Thủ Huồng sẽ sinh về đâu, nên dùng bút viết lên lòng bàn tay ông hai chữ “Thủ Huồng”, chữ “Thủ” viết bằng chữ Hán, chữ “Huồng” viết bằng chữ Nôm rồi mới chôn cất.
Không lâu sau, ngày 16/9/1782 tại Tử Cấm Thành, Bắc Kinh, Trung Quốc, hoàng đế Gia Khánh vui mừng đón tin hoàng hậu sinh được thái tử, đặt tên là Miên Ninh. Điều kỳ lạ là ngay lúc lọt lòng, thái tử đã có vết bớt trong lòng bàn tay, không phải là vết bớt bình thường, mà chính xác là hình dạng hai chữ “Thủ Huồng”, với chữ “Thủ” viết bằng chữ Hán, chữ “Huồng” viết bằng chữ Nôm, khiến cho triều đình nhà Thanh lấy làm kỳ lạ.
Từ nhỏ, thái tử đã tỏ rõ phẩm chất đặc biệt, có tài trí thông minh, văn võ song toàn, học rộng hiểu nhiều, chí khí hơn người, được ông nội là Càn Long và vua cha là Gia Khánh đặc biệt yêu quý và kỳ vọng.
Tháng 3/1820, thái tử đăng cơ, trở thành hoàng đế nhà Thanh, hiệu là Đạo Quang. Khi mới lên ngôi, theo thông lệ, vua Đạo Quang cho cử sứ thần đến các nước lân bang, trong đó có Việt Nam. Riêng sứ thần đi Việt Nam ngoài việc củng cố ngoại giao, còn có thêm một nhiệm vụ: tìm tung tích của cái tên Thủ Huồng. Chính là để giải tỏa thắc mắc bao năm nay của vua về vết bớt chữ “Thủ Huồng” trên bàn tay mình.
Quả nhiên, sau nhiều nỗ lực tìm kiếm, sứ thần có được tung tích của Thủ Huồng, và tìm đến chùa Chúc Thọ vùng Gia Định tham quan, hỏi rõ mọi vấn đề liên quan đến Thủ Huồng. Sau đó trở về bẩm báo lại cho vua Đạo Quang. Nghe xong, vua cảm khái không ngớt về sự vi diệu của nhân quả luân hồi. Từ một kẻ gian hùng tội ác ngập trời đáng lý đọa địa ngục, nhờ biết ăn năn sám hối, quay đầu hướng thiện, tích phước hành thiện, không chỉ thoát địa ngục, mà kiếp sau còn thành hoàng đế của Đại Thanh.
Ông liền cho người tạc ba bức tượng Phật Tây Phương Tam Thánh bằng trầm hương, cử sứ giả đem cúng dường chùa Chúc Thọ để thể hiện chút lòng thành (hiện nay ba bức tượng vẫn còn lưu giữ tại chùa)
Vậy thoát địa ngục, lên ngôi vua rồi, phải chăng đây đã là một cái kết viên mãn cho Thủ Huồng ? Không ! Luân hồi là dòng chảy bất tận, không phải như chuyện cổ tích mà dừng lại ở một cái kết có hậu.
Lên ngai vàng được một năm, vua Đạo Quang đem hết những điều tâm huyết ông trăn trở suy xét bấy lâu để ban hành một chính sách, tên là “Ngự chế Thanh sắc hóa lợi dụ”, đại ý có ba điều:
Thứ nhất: chỉ dụ vua tôi trên dưới trong triều, trước vì lợi ích quốc gia, sau là vì thiên hạ, vì bách tính, cần phải trọng nghĩa khinh lợi, không tham tích chứa tài sản. Ông dẫn lời cổ nhân: “Bách tính no đủ, quân vương có thể giàu, nhưng bách tính thiếu thốn, quân vương sao có thể đủ đầy?”
Thứ hai: đình chỉ việc các tỉnh tiến cống. Xưa nay triều đình vốn có lệ các xứ có đặc sản gì hàng năm đều phải đem tiến cống cho hoàng cung. Nhưng xét kỹ, những thứ này đều là mồ hôi, nước mắt của nhân dân, lại thêm vận chuyển đường xá xa xôi, khiến bao dân phu khổ cực, bỏ đi phần nào có thể giảm bớt gánh nặng cho dân phần đó.
Thứ ba: không xây thêm các cung điện, lầu các. Từ các đời tiên đế, việc xây dựng đã tiến hành rất nhiều, cung điện lầu đài nguy nga gì cũng đã hoàn thiện, nên đến đời ông không xây thêm gì nữa, tránh lãng phí quốc khố, tốn kém sưu thuế, lao dịch của dân. Những kẻ đề cử ý kiến xây thêm cung điện sẽ trở thành tội nhân, bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Sau khi được ban hành, “Ngự chế Thanh sắc hóa lợi dụ” được không ngớt lời tán dương của cả triều thần lẫn dân chúng. Không chỉ nói suông, bản thân vua Đạo Quang đã lấy chính mình ra làm gương cho quần thần, đi đầu thực hiện lối sống cần kiệm hết mực, dốc lòng lo cho dân.
Lệ triều cống bị cắt giảm mạnh. Các nghi lễ cung đình xa hoa đều được tối giản hóa. Các món đồ dùng cần mua mới đều bị đổi từ hàng cực phẩm xa xỉ thành đồ bình dân, từ giấy bút, cho đến vật dụng tư trang.
Về ẩm thực, các món ngự thiện cũng được cắt giảm tối đa, giới hạn trong 4 món mặn, 1 món canh. Lâu lâu có thèm món này món kia, nhưng xét thấy giá cả đắt đỏ, nên vua cũng cố nhịn, chỉ rau dưa đạm bạc cho xong bữa.
Y phục mặc lâu ngày bị rách, Đạo Quang cũng không vứt bỏ, mà cho người vá lại. Ông còn hạ lệnh cho hoàng hậu cùng tất cả cung nữ phải học may vá, để tự vá y phục khi bị rách.
Nói chung là trên từ vua, hoàng hậu xuống đến phi tần, hoàng tử, công chúa, cung nữ, thái giám, thị vệ, quan lại… từ to đến nhỏ, mọi thứ chi phí trong cung đều hạ xuống mức thấp nhất có thể, Đạo Quang trở thành vị vua tiết kiệm đệ nhất lịch sử Trung Hoa.
Ấy thế nhưng việc chính trị quốc gia không đơn giản như việc xây dựng các công trình phúc lợi trong kiếp trước, nó khó khăn, phức tạp hơn rất nhiều lần. Dù vua Đạo Quang với quyền lực của đấng quân vương thiên tử, thì một mình ông cũng không thay đổi được tình hình chính trị tụt dốc của nhà Thanh thời bấy giờ.
Quan lại dưới triều Đạo Quang, rất hiếm những người tài đức vì dân vì nước. Ngược lại, đại đa số vốn đã quen thói tham nhũng từ thời Càn Long. Từ trung ương đến địa phương, tham nhũng đã thành một căn bệnh mãn tính, lan rộng khắp triều đình không thể cứu chữa. Đám quan lại trước mặt vua thì giả vờ rách rưới cần kiệm, nhưng sau lưng thì âm thầm tham ô, nhũng nhiễu bóc lột bá tánh, ăn xài hoang phí trên mồ hôi nước mắt của dân, khiến nhiều nơi bùng phát lên các cuộc khởi nghĩa.
Về phía ngoại bang, nhân việc vua Đạo Quang ban hành luật chống thuốc phiện, cấm các thương nhân Anh quốc nhập khẩu thuốc phiện vào Trung Quốc, năm 1840, quân đội Anh đã đem 40 tàu chiến trang bị tối tân đến tấn công như vũ bão.
Vì chênh lệch lực lượng và vũ khí, quân đội nhà Thanh nhanh chóng bị đè bẹp, liên tiếp chịu thất bại nặng nề, bị ép tới đường cùng, buộc phải ngồi vào đàm phán tại Nam Kinh. Kết thúc đàm phán, vua Đạo Quang đành “ngậm đắng nuốt cay” chịu nhượng Hồng Kông cho Anh và bồi thường chiến phí 16 triệu lạng bạc, còn phải chấp nhận cho thương nhân Anh được tự do buôn bán.
Đến năm 1843, thì ngân khố Đại Thanh vỡ lở ra đại án trộm bạc có một không hai trong lịch sử, do một số viên quan coi kho và khố binh thông đồng lấy trộm, vốn bắt đầu từ thời Gia Khánh kéo dài suốt 43 năm mới bị phát giác.
Bằng các thủ thuật tinh vi qua mắt được mọi khâu kiểm tra kĩ càng, như giấu bạc trong hậu môn, sử dụng thùng nước hai đáy, các quan lại coi kho và khố binh đã móc nối nhau, tuồn ra ngoài một số lượng bạc chừng đến 200 tấn.
Vua Đạo Quang khi đến tra án, đã rụng rời khi tận mắt thấy kho bạc chỉ còn lại một cái xác nhà trống rỗng. Ông thống hận khôn siết, chỉ đám quan lại mà mắng:
– Bỗng chốc lại thâm hụt 9.252.000 lạng bạc, quả là chuyện chưa từng thấy trên thế gian. Vận nước đang suy vi mà các ngươi lại thông đồng tác tệ, lòng lang dạ sói phản nước hại dân, thật là quá quắt! Bao nhiêu quan viên thân tín cột trụ triều đình, vậy mà tuyệt không một ai có lương tâm với trọng trách. Trẫm có mắt như mù, thật đã dùng lầm các ngươi rồi!
Suốt 23 năm, vua Đạo Quang với chí hướng ngút trời, đã tận tâm nỗ lực xây dựng một triều đại mà dân chúng ấm no, hạnh phúc, an hưởng thái bình thịnh trị. Thế nhưng liên tiếp những vấn nạn khổng lồ như những gáo nước lạnh dội xuống đầu ông, ngoài thị bị đế quốc Anh đánh bại, chèn ép vô lối, trong thì đám quan lại tham ô đục khoét như những nhát dao đâm sau lưng.
Chính sách thủa ban đầu của ông không thu về được hiệu quả gì rõ ràng, hùng tâm tráng khí của ông bị thực tế phũ phàng mài mòn cho đến khi tắt hẳn. Vua Đạo Quang đành ngậm đắng nuốt cay, bất lực nhìn đất nước trượt dài xuống hố suy vong.
Ông lờ mờ nhận ra mối liên hệ nghiệp quả từ kiếp trước. Nếu như khi làm Thủ Huồng, chính ông cũng đã từng dùng quyền hành của mình mà chén ép bá tánh, thì nay cũng bị đế quốc Anh dùng sức mạnh quân sự chèn ép. Nếu như trước ông cho vay ăn lời cắt cổ, thì nay ông cũng phải trả chiến phí cắt cổ. Nếu như kiếp trước, ông từng tham ô, đục khoét của công, thì nay, ông cũng bị đám quần thần từ quan đến lính đục khoét sau lưng.
Dù ông đã tạo phước, nhờ đó thoát được quả báo chính là vào địa ngục, còn được tái sinh làm vua, thì những dư báo của những nghiệp xấu vẫn còn xót lại, phải trả dai dẳng không cách này thì cách khác. Thế mới thấy, nếu không muốn chịu quả báo khổ đau, thì cách tốt nhất là ngay từ đầu, dứt khoát đừng tạo nghiệp.
Thế sự vô thường, vua thì cũng không thoát khỏi cái quy luật của sinh- lão- bệnh- tử. Năm 1850, ông lâm bệnh nặng rồi băng hà ở tuổi 69 trong nỗi thất vọng, day dứt về những hoài bão không thực hiện được. Sau khi ông mất, vận nước ngày càng suy kiệt, 62 năm sau thì nhà Thanh sụp đổ hoàn toàn dưới thời nắm quyền của con dâu ông là Từ Hy Thái Hậu, Trung Quốc rơi vào thời kỳ nội chiến liên miên.
(Quang Tử)